MỤC LỤC A. LỜI MỞ ĐẦU 1 B. NỘI DUNG TIỂU LUẬN 3 I. Định nghĩa Quốc hiệu 3 II. Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 3 III. Ý nghĩa Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 5 1. Mang ý nghĩa chủ quyền quốc gia và chủ quyền lãnh thổ của mình, đặc trưng cho nền văn hóa. 5 2. Thể hiện các yếu tố chính trị cho vùng đất hay cư dân chủ thể của quốc hiệu vào thời kỳ độc lập. 8 3. Trong thời cận và hiện đại, quốc hiệu thường biểu lộ thể chế chính trị hay ước muốn chính trị của quốc gia. 11 IV. Ý nghĩa Quốc hiệu Việt Nam hiện nay 14 1. Về mặt chính trị 14 2. Về mặt bản chất 15 4. Về mặt ngoại giao 17 5. Về tính thẩm mỹ 18 C. KẾT LUẬN 19
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG TIỂU LUẬN 3
I Định nghĩa Quốc hiệu 3
II Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 3
III Ý nghĩa Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 5
1 Mang ý nghĩa chủ quyền quốc gia và chủ quyền lãnh thổ của mình, đặc trưng cho nền văn hóa 5
2 Thể hiện các yếu tố chính trị cho vùng đất hay cư dân chủ thể của quốc hiệu vào thời kỳ độc lập 8
3 Trong thời cận và hiện đại, quốc hiệu thường biểu lộ thể chế chính trị hay ước muốn chính trị của quốc gia 11
IV Ý nghĩa Quốc hiệu Việt Nam hiện nay 14
1 Về mặt chính trị 14
2 Về mặt bản chất 15
4 Về mặt ngoại giao 17
5 Về tính thẩm mỹ 18
C KẾT LUẬN 19
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
Giao tiếp là hoạt động bản chất của vạn vật nhằm sinh tồn Trong xã hội loài người thì hoạt động giao tiếp giúp con người trao đổi thông tin, nhận thức, tư tưởng, tình cảm để bày tỏ mối quan hệ, cách ứng xử, thái độ giữa con người với con người Đối với nền văn minh văn hóa thì không thể thiếu hoạt động giao tiếp nói cách khác không có hoạt động giao tiếp thì không tồn tại nền văn minh văn hóa của loài người Nền văn minh nhân loại, nền văn hóa mỗi dân tộc, mỗi quốc gia được hun đúc qua các thời kỳ lịch sử đã tạo ra sự giao tiếp của con người với thế giới, với vạn vật, với chính mình Hoạt động giao tiếp có thể được thực hiện bằng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhưng dù được dùng bằng phương thức nào thì hoạt động giao tiếp luôn luôn phải được đặt trong bối cảnh nhất định, được thực hiện bởi các nghi thức nhất định để đạt được mục tiêu đặt ra Nhà nước ra đời với những chức năng quyền uy đặc biệt Để thể hiện quyền
uy của mình nhà nước không thể không kiến tạo những hình thức để thể hiện điều đó Những hình thức đó chính là “nghi thức nhà nước’’, nghi thức nhà nước
có thể được hiểu là những phương thức giao tiếp trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung được quy định tại các văn bản pháp luật của Nhà nước theo tập quán truyền thống dân tộc hoặc quốc tế mà các bên tham gia quan hệ thủ tục quản lý nhà nước phải tuân theo Nội dung của nghi thức nhà nước bao gồm những vấn đề liên quan tới tổ chức hội nghị hội họp, tiếp đón khách, kỹ năng giao tiếp của cán bộ công nhân viên chức nhà nước và những vấn đề liên quan đến cách thức thể hiện và sử dụng các biểu tượng quốc gia
Hầu hết mỗi dân tộc mỗi quốc gia trên thế giới từ xa xưa đã lựa chọn cho mình những biểu tượng nhất định và nó thay đổi theo từng thời gian phát triển của quốc gia để phù hợp hơn Những biểu tượng đó có thể là quốc hiệu, quốc kỳ, quốc hoa… Trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước thì quốc hiệu – một biểu tượng Quốc gia Việt Nam gắn bó chặt chẽ với lịch sử Quốc hiệu là một trong những biểu tượng của quốc gia các nước, là tên gọi của mỗi nước, biểu tượng quốc gia để chỉ các yếu tố cấu thành mang chất lượng tượng trưng cho một quốc
Trang 3gia Chính vì là một trong bốn biểu tượng quốc gia Việt Nam: “ Quốc huy, Quốc
kỳ, Quốc ca, Quốc hiệu, Quốc thiều’’ nên quốc hiệu cũng là yếu tố không thể thiếu, mang những đặc điểm của các quốc gia dân tộc, thể hiện chủ quyền và cấu thành nên quốc thể Quốc hiệu Việt Nam là một biểu tượng quốc gia, là yếu tố
để khẳng định vị thế cũng như chủ quyền của một nước, tìm hiểu theo chiều dài lịch sử dựng nước và cứu nước của dân tộc ta
Sau đây là bài tiểu luận của em về “Tìm hiểu ý nghĩa của Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Phân tích ý nghĩa Quốc hiệu Việt Nam hiện nay’’ Trong quá trình làm bài của em không thể thiếu sai sót mong cô bổ sung và góp
ý kiến cho em Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2015
Sinh viên
Ngô Văn Thuận
Trang 4B NỘI DUNG TIỂU LUẬN
I Định nghĩa Quốc hiệu
Quốc hiệu là tên gọi chính thức của một đất nước Quốc hiệu là một biểu tượng của một nước nên không thể thiếu được thể hiện chủ quyền, mang những đặc điểm của quốc gia dân tộc đó Vì vậy Quốc hiệu có nhiều ý nghĩa và vai trò quan trọng như :
- Nó biểu lộ chủ quyền của quốc gia trên vùng lãnh thổ của mình Nó có thể khác với tên địa lý được gắn cho vùng đất hay vùng dân cư
Ví dụ: Chiêm Thành là tên Việt nam gọi người Chàm, tên Giao Chỉ
thường dùng để chỉ người Cổ Việt trong vùng Bắc Việt Nam ngày xưa, nó khác với quốc hiệu Văn Lang thường được gắn cho thời kỳ tiền sử Đó là phương tiện địa lý của quốc hiệu
- Quốc hiệu cũng thường biểu lộ các yếu tố chính trị cho vùng đất hay cư dân chủ thể của quốc hiệu Nó là danh xưng chính thức được dùng trong ngoại giao và bang giao quốc tế
Ví dụ: Cho đến trước năm 1804 Việt Nam luôn luôn có hai quốc hiệu:
một quốc hiệu dùng trong nước như Đại Cồ Việt, Đại Việt nhưng mặt khác người Trung Hoa láng giềng phương Bắc lại gọi là An Nam
- Trong thời cận và hiện đại, quốc hiệu thường biểu lộ thể chế chính trị hay ước muốn chính trị của quốc gia
Ví dụ: Quốc hiệu có thể nhấn mạnh về chế độ chính trị như chế độ xã
hội hay cộng sản như Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hay chế độ cộng hòa như Việt Nam Cộng Hòa Đối Với Việt Nam, chúng ta có đầy đủ những quốc hiệu theo địa lý hay chính trị theo dòng lịch sử vẻ vang của dân tộc
II Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Quốc hiệu Việt Nam có những thay đổi qua từng giai đoạn lịch sử của dân
Trang 5tộc Dưới đây là danh sách Quốc hiệu Việt nam qua từng thời kỳ.
- Năm 2879 trước Tây Lịch: Kinh Dương Vương làm vua nước XÍCH QỦY
- Năm 690-258 trước CN: Vua Hùng Vương đặt tên nước là VĂN LANG
- Năm 257 - 208 trước CN : An Dương Vương chiếm Văn Lang, lập nước
ÂU LẠC đóng đô ở Cổ Loa
- Năm 208- 111 trước CN: Triệu Đà (Zhao Tuo) tướng nhà Tần chiếm Âu Lạc, lập nước NAM VIỆT
- Năm 111 trước CN đến 542 sau CN: Việt Nam bị Trung Hoa đô hộ Việt Nam lúc đó gọi là Giao Châu và được coi như một quận thuộc Trung Hoa, do các thái thú cai quản nên không có quốc hiệu Năm 40-43, Hai bà Trưng lên làm vua nhưng không thấy ghi quốc hiệu
- Năm 542-602: Lý Bôn tự xưng Lý Nam Đế lập nước VẠN XUÂN, đóng
đô ở Long Biên
- Năm 679-938: Nhà Đường lập AN NAM ĐÔ HỘ PHỦ Tên AN NAM có
từ đây
- Năm 938 Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán mở đầu thời kỳ độc lập của nước ta nhưng phảỉ đợi đến năm 968 Đinh Tiên Hoàng dẹp được 12 sứ quân, thống nhất đất nước, mới đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt Năm 972, Trung Hoa chính thức công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập nhưng vẫn phong cho Vua Đinh Tiên Hoàng làm GIAO CHỈ QUẬN VƯƠNG
- Tuy vậy Trung Hoa tiếp tục gọi Đại Cồ Việt là An Nam và coi như là một phiên thuộc Năm 1054, Lý thánh Tông đổi quốc hiệu là ĐẠI VIỆT Năm 1164.Trung Hoa đổi tên GIAO CHỈ thành AN NAM QUỐC và phong cho vua
Lý Anh Tông làm AN NAM QUỐC VƯƠNG
- Năm 1400-1407 Nhà Hồ đặt quốc hiệu là ĐẠI NGU
- Năm 1407-1804 : Quốc hiệu ĐẠI VIỆT được dùng trong nhiều thời kỳ
- Năm 1804: Trung Hoa công nhận quốc hiệu Việt Nam
Trang 6- Năm 1831, Vua Minh Mạng đổi thành ĐẠI NAM.
- 9/3/1945-24/8/1945: Việt Nam
- 2/9/1945- 2/7/1976: Việt Nam DÂN CHỦ CỘNG HÒA
- 8/3/1949- 26-10-1955: QUỐC GIA Việt Nam
- 26-10-1955 đến 30-4-1975: Việt Nam CỘNG HÒA
- 2/7/1976: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
III Ý nghĩa Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Theo phần định nghĩa về quốc hiệu và căn cứ vào quốc hiệu qua các thời kỳ
mà chúng ta có thể chia quốc hiệu mang ba ý nghĩa đặc trưng
1 Mang ý nghĩa chủ quyền quốc gia và chủ quyền lãnh thổ của mình, đặc trưng cho nền văn hóa.
Lịch sử của nhiều quốc gia dân tộc như Trung Quốc, Nhật, Việt, thường bắt đầu bằng những huyền thọai Chính trong những truyện truyền kỳ thần thọai, tuy
có thể do người đời sau sáng tác ra, nhưng đã lưu truyền trong nhiều ngàn năm nên có thể ẩn chứa những dấu vết văn hóa lịch sử.Giống như vậy, quốc hiệu Việt Nam trong thời huyền sử cũng ẩn chứa những dấu vết của nền văn hóa Cổ Việt thời xa xưa và khẳng định chủ quyền của mình
a Quốc hiệu Văn Lang (690-258 TCN)
- Theo những thư tịch cổ sử thì vào đời các vua Hùng, chưa có văn tự rõ
ràng Văn Lang có nghĩa là quốc gia của những người có văn học, chứng tỏ không thua kém dân phương Bắc
- Văn Lang được coi là quốc hiệu đầu tiên cho Việt Nam Quốc gia này có kinh đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ Lãnh thổ gồm khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ Quốc gia này tồn tại cho đến năm 258 TCN
- Ðầu thời kỳ đồ đồng, những bô lạc người Việt sống ở miền Bắc và phía Bắc trung tâm Việt Nam Tính ra có khoảng 15 nhóm Lạc Việt khác nhau sống
Trang 7trên vùng cao nguyên Miền Bắc và miền châu thổ sông Hồng Hà, hơn 12 nhóm
Âu Việt sống nơi miền Ðông Bắc Ðể tiện việc trao đổi buôn bán, phòng chống lụt lội, chống lại kẻ thù Họ có khuynh hướng gom tụ lại thành một nhóm to lớn hơn Trong số những bộ lạc Lạc Việt, Văn Lang là mạnh nhất Những bộ lạc Lạc Việt được gom lại thành một nước lấy tên Văn Lang và người cầm đầu tự xưng là Hùng Vương (các vui Hùng)
- Cách thứ nhất cho rằng: Vì tổ tiên ta có tục xăm mình nên khi lập quốc mới nhân đó mà đặt quốc hiệu là Văn Lang Cơ sở thực tiễn của cách giải thích này nằm ngay trong tính phổ biến của tục xăm mình từng tồn tại trước và cả sau thời Hùng Vương hàng ngàn năm Vì tổ tiên ta có tục xăm mình nên khi lập quốc mới nhân đó mà đặt quốc hiệu là Văn Lang Cơ sở thực tiễn của cách giải thích này nằm ngay trong tính phổ biến của tục xăm mình từng tồn tại trước và cả sau thời Hùng Vương hàng ngàn năm Sách của Trung Quốc gọi nước ta thời Hùng Vương là cũng không ngoài ý nghĩa này
- Cách thứ hai cho rằng: Vì tổ tiên ta có tục nhuộm răng và ăn trầu nên mới
có tên nước là Văn lang Những người chủ trương theo cách này giải thích: hai chữ "tân lang" (nghĩa là cây cau) nói trại ra thành Văn Lang Cơ sở thực tiễn của cách giải thích thứ hai này chính là tính phổ biến và sự trường tồn của tục nhuộm răng và ăn trầu Tuy nhiên, "tân lang" là từ gốc Hán mà từ gốc Hán chỉ mới xuất hiện ở nước ta bắt đầu từ thời Bắc thuộc, tức là sau sự khai sinh của Văn Lang rất nhiều thế kỉ
- Cách thứ ba cho rằng: Văn Lang có nghĩa là cộng đồng người lập nghiệp bên lưu vực những con sông Chỗ dựa chủ yếu của những người chủ trương giải thích theo cách này là kết quả nghiên cứu của ngành Ngữ âm học lịch sử Theo
đó thì: Văn Lang có nghĩa là cộng đồng người lập nghiệp bên lưu vực những con sông Chỗ dựa chủ yếu của những người chủ trương giải thích theo cách này
là kết quả nghiên cứu của ngành Theo đó thì: Văn là người, nhóm người, tộc người, cộng đồng người,… Lang là sông, đồng nghĩa với giang, với xuyên (trong âm Hán - Việt), với khoảng (trong tiếng Lào) và với kông (trong tiếng
Trang 8Ghép lại, Văn Lang có nghĩa là cộng đồng người lập nghiệp bên lưu vực những con sông Lập luận của những người chủ trương giải thích theo cách thứ ba được củng cố thêm bởi kết quả của hàng loạt những cuộc khai quật khảo cổ dọc theo lưu vực sông Hồng và sông Mã
b Quốc hiệu Âu Lạc (257-208 TCN)
- Ðời nhà Thục An Dương Vương Âu Việt đã đuổi được Trung hoa và lấy tên Âu Lạc (năm 208 trước CN)
- Năm 257 TCN, nước Âu Lạc (chữ Hán: 郎郎) được dựng lên, từ liên kết các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán - An Dương Vương Âu Lạc có lãnh thổ bao gồm lãnh thổ của Văn Lang trước đây và một phần Đông nam Quảng Tây (Trung Quốc)
- Khoảng cuối thế kỷ thứ 3 TCN, đầu thế kỷ thứ 2 TCN (năm 208 TCN), Triệu Đà (quận úy Nam Hải-nhà Tần) tung quân đánh chiếm Âu Lạc Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lác bị xóa sổ
- Tên nước Âu Lạc bao gồm hai thành tố Tây Âu và Âu Lạc, phản ánh sự liên kết giữa hai nhóm người Tây Âu và Lạc Việt, lãnh thổ Âu Lac cũng được
xá nhập bởi hai vùng lãnh thổ Văn Lang và Âu Lạc Với quốc hiệu Văn Lang đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam, đây là một đất nước chưa bị các ách đô hộ xâm chiếm, có tên trong lịch sử Thời kỳ của các vị vua Hùng, thời kỳ đầu xây dựng đất nước với khí thế hào hùng của đất Việt sự sinh sôi nảy nở của 100 cái trứng nở thành 100 người con mang sức mạnh tinh thần cũng như thể lực để rồi khai hoang tạo ra các miền trù phú tươi tốt Với quốc hiệu Âu Lạc cũng cho ta liên tưởng nhiều ý nghĩa khác nhau nhưng nếu dịch theo tên quốc hiệu thì “ Lạc
“ là tên một loài chim hoặc cũng có thể hiểu rằng là một loại lúa và “ Âu Lạc” là chỉ nền nông nghiệp cũng như Văn Lang, nền nông nghiệp là chính và là cơ sở hình thành đất nước
Trang 9=>Như vậy ở hai Quốc hiệu của hai nhà nước Văn Lang và Âu Lạc thể hiện đặc trưng cho nền văn hóa lúa nước,là cái nôi của nền văn minh lúa nước, theo tiếng Hán là nông nghiệp Đây được coi là nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam thời sơ khai dựng nước
2 Thể hiện các yếu tố chính trị cho vùng đất hay cư dân chủ thể của quốc hiệu vào thời kỳ độc lập
Sau thời kỳ dựng nước của các Vua Hùng với quốc hiệu “ Văn Lang” và
“Âu Lạc” khi đã có tên trên lãnh thổ lần lượt các thế lực đô hộ phương Bắc bắt đầu xâm chiếm nước ta và dần có những Quốc hiệu mới được hình thành
do các vị tướng đánh giặc và lập nên và cũng đồng thời gắn liền với chế độ chính trị khác nhau nhưng cũng khẳng định được chủ quyền của đất nước tuy vẫn còn sự phụ thuộc chế độ đo hộ, phong kiến
a Quốc hiệu Vạn Xuân (544-602)
- Vạn Xuân (chữ Hán: 萬春) là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời
kỳ độc lập ngắn ngủi khỏi chính quyền trung ương Trung Hoa của nhà Tiền
Lý dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế Quốc hiệu này tồn tại từ năm 544 đến năm 602 thì bị nhà Tùy tiêu diệt
- Bàn về quốc hiệu " Vạn Xuân", Đại Việt Sử kí đã cho rằng " với quốc hiệu mới, người đứng đầu nhà nước Vạn Xuân có ý mong xã tắc được bền vững muôn đời" Lí Bí là người Việt Nam đầu tiên xưng làm hoàng đế, định niên hiệu riêng, đúc tiền riêng, lấy Nam đối chọi Bắc, lấy Việt đối sách với Hoa đã khẳng định ý thức dân tộc, lòng tự tin vững chắc ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển đất nước độc lập và tự chủ Đó là sự ngang nhiên phủ định quyền làm " làm bá chủ toàn thiên hạ" của hoàng đế phương Bắc, vạch
rõ sơn hà, cương vực và là sự khẳng định dứt khoát rằng " nòi giống Việt phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước và nhất quyết giành quyền làm chủ vận mệnh của mình”
b Quốc hiệu Đại Cồ Việt (968-1053)
Trang 10- Nếu Vạn Xuân có thể là quốc hiệu đầu tiên của dân Việt thì Đạị Cồ Việt là quốc hiệu chính thức đầu tiên trong thời kỳ nước ta đã dành được độc lập Sau khi dẹp xong 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua năm 968, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt
- Ý nghĩa quốc hiệu Đại Cồ Việt:
+ "Đại" theo nghĩa chữ Hán là lớn, "Cồ" trong tiếng Việt cổ cũng là lớn.Đinh Tiên Hoàng muốn ghép 2 chữ cả Hán và Việt để khẳng định nước Việt là nước lớn, dù đọc theo ngôn ngữ nào
+ Ý nghĩa này còn được thể hiện ở hai câu đối (vẫn còn trong đền vua Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư): “Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo Hoa Lư
đô thị Hán Trường An” Nghĩa là : “Nước Cồ ngang hàng nhà Tống của nhà Hán”
c Quốc hiệu Đại Việt (1054-1804)
- Năm 1054, nhân điềm lành lớn là việc xuất hiện một ngôi sao sáng chói nhiều ngày mới tắt, nhà Lý liền cho đổi tên nước là Ðại Việt và quốc hiệu Đại Việt được giữ nguyên đến hết thời Trần…
- Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống Minh của Lê Lợi toàn thắng Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt tên nước là Ðại Việt (lãnh thổ nước ta lúc này về phái Nam đã tới Huế)
- Quốc hiệu Ðại Việt được giữ qua suốt thời Hậu Lê (1428-1787) và thời Tây Sơ (1788-1802) Chữ “Đại” được sử dụng trong các quốc hiệu
- Ý nghĩa của quốc hiệu Đại Việt không có gì khác với Quốc hiệu Đại
Cồ Việt Tên Đại Việt được viết trong “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi có viết:
“Vua đầu tiên là Kinh Dương Vương, sinh ra có đức của bậc thánh nhân, được phong sang Việt Nam làm tổ Bách Việt”, nhưng trong Bình Ngô đại cáo ông lại viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hóa đã lâu”, ở thế kỷ XV