1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình trường mầm non ngoài công lập

101 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 3,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số văn bản chính của Nhà nước về chính sách khuyến khích phát triển các loại hình Giáo dục mầm non ngoài công lập 15 Tính đặc thù của bậc học mầm non và vấn đề chuyển đổi các loại

Trang 1

BO GIAO DUC VA DAO TAO VIEN CHIEN LUGC VA CHUONG TRÌNH GIÁO DUC

BAO CAO TONG KET DE TAI

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH TRƯỜNG MẦM NON

Trang 2

Danh sách những người tham gia thực hiện để tài

aT Ho va tén Don vị công tác Nhiệm vụ

1 ThS Nguyễn Thị Quyên TT NCCL&PTCTGDMN Chủ nhiệm đẻ tài

2 ` | ThS Lương Thị Bình TTNCCL&PTCTGDMN Thư kỹ đề tài

3 TS Lê Thu Hương TT NCCL&PTCT GDMN Thành viên để tài

4 ThS Nguyén Sinh Thao TT NCCL&PTCT GDMN Thành viên dé tài

5 ThS Phan Thi Ngoc Anh TT NCCL&PTCT GDMN Thành viên đề tài

6 ThS Hoàng Thu Hương TT NCCL&PTCT GDMN Thành viên đề tài

7 ThS Bùi Kim Tuyến: TT NCCL&PTCT GDMN Thành viên đề tài

Đơn vị phối hợp chính

TT | Tên đơn vị trong và ngoài nước Nội dung phối hợp | Họ tên người đại diện

1 | Vu GDMN- Bo GD&DT Cung cấp lài liệu, hợp | Hoàng Thu Hương,

tác nghiên cứu Phan Lan Anh

2 | Gc SGởGD&ĐÐT, các phòng Hợp tác nghiên cứu,

GD&ĐT, các trường MN cung cấp số liệu

Trang 3

IH Chủ trương của Nhà nước về phát triển các loại hình Giáo dục

3 Một số văn bản chính của Nhà nước về chính sách khuyến khích phát

triển các loại hình Giáo dục mầm non ngoài công lập 15

Tính đặc thù của bậc học mầm non và vấn đề chuyển đổi các loại

hình Giáo dục mầm non thực hiện Luật GD 2005 18

Tình hình thực hiện chuyển đổi các loại hình GDMN thực hiện

1 Một số vấn đề mới trong Luật GD 2005 và Nghị Quyết 05/2005/NQ-

CP liên quan đến GDMN 36

chuyển đổi các loại hình GDMN thực hiện Luật GD 2005 39

Trang 4

3 Tình hình chuyển đổi các loại hình GDMN thuc hién Luat GD 2005] 4g

tại một số địa phương khác

4 Một số thời cơ và thách thức trong quá trình chuyển đổi các loại hình | s5

GDMN thực hiện Luật GD 2005

HÌNH GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP

1 | Nhóm giải pháp đối với công tác chỉ đạo chung s9

1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy nhằm phát triển | so

các loại hình GDMN ngoài công lập

2 Tăng cường nhận thức của đội ngũ CBQL các cấp, các ngành về chủ| 60 trương của NN PT các loại hình GDMN NCL thực hiện Luật GD 2005

3 Tổ chức ĐT-BD kiến thức quản lý Nhà nước, chuyên môn và nghiệp | 60

vụ cho cán bộ quản lý và GVMN trong tất cả các loại hình GDMN

4 Chính quyền địa phương phối hợp chặt chẽ với ngành GD tăng cường kiểm | 6] tra, QL chat lượng CS-GD trẻ trong các nhóm/ớp tư thục trên địa bàn

IL]| Nhóm giải pháp về chính sách của Nhà nước tạo điều kiện cho các cơ|_ 61

sở GDMN chuyển đổi loại hình thực hiện Luật GD 2005

1 Chính sách đầu tư CSVC cho chuyển đổi loại hình GDMN 61

2 Chính sách đối với trẻ em lứa tuổi mầm non 62

3 Chính sách đối với đội ngũ cán bộ và GVMN 62

4 Chính sách về khung học phí 64

IH | Nhóm giải pháp về phương án chuyển đổi loại hình GDMN thực | 64

hiện Luật GD 2005

1 Tại địa bàn KT-XH đặc biệt khó khan 64

2 Tại địa bàn KT-XH phát triển trung bình 65

3 Tại địa bàn KT-XH phát triển (Thành phố, thị xã) 66

4 Các cơ sở mầm non đân lập 67

TỶ | Nhóm giải pháp về lộ trình chuyển đổi loại hình GDMN thực hiện | 68

Luật GD 2005

1 Giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010 68

2 Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 69

Trang 5

TOM TAT KET QUA NGHIEN CUU Tên đề tài: Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình trường

mầm non ngoài công lập

Mã số: B2005-80-15

Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Quyên

Tel: 04.8545232 E-mail: nguyenquyen54@ yahoo.com

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục - Bộ GD&ĐT

Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Vụ GDMN- Bộ GD&ĐT; Các Sở GD&ĐT,

các trường mầm non

Thời gian thực hiện: Tháng 4/2005 đến tháng 10/2006

1 Mục tiêu: Đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình Giáo dục mầm non

ngoài công lập thực hiện Luật Giáo dục 2005

2 Nội dung chính: 1) Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài

2) Khảo sát thực trạng phát triển các loại hình GDMN NCL tại một số tỉnh/TP, 3) Đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình GDMN NCL

3 Kết quả chính đạt được:

Nhằm góp phần tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi các loại hình GDMN thực hiện Luật GD 2005 thuận lợi, giữ được sự ổn định và phát triển của ngành đáp ứng nhu

cầu xã hội hiện nay, nhóm nghiên cứu đề xuất "Một số giải pháp phát triển các loại hình

trường mầm non ngoài công lập" thông qua giải pháp về chuyển đổi các loại hình giáo

duc mầm non như sau:

1) Nhóm giải pháp đối với công tác chỉ đạo chung

2) Nhóm giải pháp về chính sách của Nhà nước tạo điều kiện cho các cơ sở GDMN chuyển đổi loại hình GDMN thực hiện Luật GD 2005

3) Nhóm giải pháp về phương án chuyển đổi loại hình GDMN thực hiện Luật GD 2005 4) Nhóm giải pháp về lộ trình chuyển đổi loại hình GDMN thực hiện Luật GD 2005

Trang 6

SUMMARY RESEARCH RESULT

Project title: Studying and putting forward some solutions to develop non- public kindergarten types

Code number: B2005-80-15

Coordinator: MA Nguyen Thi Quyen

Tel: 04.8545232 E-mail: nguyenquyen54@yahoo.com

Implementing Institution: National Institute for Education Strategy and Curriculum Co-operating Institutions: Departement of Pre-school Education, Departements of Education and Training, kindergartens

Duration: From 4/2005 to 10/2006

1 Objectives: Putting forward some solutions to develop non-public kindergarten types according to 2005 Education Law

2 Main contents:

1) Basic theory of project

2) Realities of non-public kindergartens development in some cities/provinces

3) Some solutions to develop non-public kindergarten types

3 Results obtained:

In order to push the converse progress of kindergarten types according to

2005 Education Law smoothly and stably, research group put forward "Some solutions to develop non-public kindergarten types”:

1) Solution group to general guidance works

2) Solution group to government policies to give kindergartens favourable conditions for conversion of type according to 2005 Education Law

3) Solution group of project to converse early childhood education type according to 2005 Education Law

4) Solution group of the road to converse early childhood education type

according to 2005 Education Law

Trang 7

GD GD&DT GDMN GVMN GVMN NBC GVMG GVNT KT-XH UBND

Cán bộ quản lý

Cao đẳng sư phạm

Chăm sóc - giáo dục

Cơ sở mầm non Ngoài công lập Đại học sư phạm

Đào tạo — bồi dưỡng

Giáo dục Giáo dục và đào tạo

Uỷ ban nhân dân

Trang 8

lược của Chính phủ Việt Nam Để thực hiện chiến lược này, trách nhiệm của Chính

phủ Việt Nam là đảm bảo quyền được hưởng giáo dục cho tất cả mọi người, đảm bảo

mọi trẻ em đều được đi học để có kiến thức và kỹ năng cơ sở cần thiết và có thể làm việc có hiệu quả sau khi ra trường Ở cấp học mầm non, điều này được hiểu là bảo đảm điều kiện cho tất cả trẻ em trong độ tuổi được đến trường

Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và là nước thứ nhất ở Châu Á đã ký Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em vào tháng 2/1991 Trong đó những quyền cơ bản của trẻ em là quyền được chăm sóc, quyền được học tập, quyền được vui chơi Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, mức độ trẻ em được hưởng thu GDMN rất chênh lệch giữa

vùng thành thị và vùng nông thôn, giữa các tầng lớp xã hội, giữa các vùng KT-XH

khác nhau, giữa trẻ bình thường và trẻ chậm phát triển, trẻ có gia đình và trẻ vô gia cư, Điều đó thể hiện rõ qua một số vấn dé sau: 1/ Cơ hội trẻ được đến trường lớp mầm non để hưởng thụ GDMN có chất lượng; 2/ Cơ hội trẻ được hưởng sự chăm sóc

nuôi đưỡng, các điều kiện cơ sở vật chất trường lớp, các điều kiện cho trẻ vui chơi để phát triển; 3/ Kiến thức, kỹ năng, thái độ của những người chăm sóc trẻ (cha mẹ và giáo viên), 4/ Những chính sách của cộng đồng và xã hội đảm bảo các quyền của trẻ em, Chính sự thiếu công bằng trong GDMN sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng không kém gì những hiện tượng thiếu công bằng ở những bậc học khác

Do đó, cùng với sự đổi mới kinh tế và các vấn đề xã hội khác, phát triển các loại hình GDMN, đặc biệt là các loại hình GDMN ngoài công lập nhằm tăng cường

phát huy tiêm lực địa phương, huy động sự tham gia của toàn xã hội vào giáo dục là

giải pháp quan trọng nhằm góp phần rút ngắn khoảng cách hưởng thụ GDMN giữa trẻ em các vùng với các điều kiện, môi trường sống khác nhau

Xu thế phát triển GDMN trên thế giới hiện nay, đặc biệt là các nước trong

khu vực Châu Á là đẩy mạnh xã hội hoá GDMN, là phát triển các trường mầm non

Trang 9

ngoài công lập Thực tiễn tại Việt Nam cũng cho thấy, các loại hình mầm non NCL

đã góp phần đáng kể trong việc giảm ngân sách Nhà nước, phát huy vai trò của các lực lượng xã hội, đặc biệt trong việc huy động các nguồn lực khác nhau để phát

triển GDMN

Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 được Chính phủ phê duyệt ngày

28/12/2001, đã dé ra những mục tiêu phấn đấu phát triển GDMN trong cả nước đến

2010, phấn đấu thu hút tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đến trường như sau: Tỷ lệ trẻ em dưới

03 tuổi đến nhà trẻ đạt 18%; tỷ lệ trẻ em từ 3 tuổi đến 5 tuổi đến trường, lớp mẫu giáo

đạt 67%, trong đó tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đến trường, lớp mẫu giáo đạt 95%

Ngày 20/5/2005, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Giáo

dục (sửa đổi), xác định rõ hơn hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động giáo dục

và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước trong quản lý giáo dục, giữa các

tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động GD Luật GD 2005 qui định nhà trường trong

hệ thống GD quốc dân được tổ chức theo 3 loại hình: công lập, dân lập, tư thục (Luật GD 1998 qui định 4 loại hình: công lập, bán công, dân lập, tư thục) Đây là

một thay đối có thể ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp phát triển GDMN, một bậc học đang đi vào ổn định và vừa mới được khởi sắc trong mấy năm gần đây nhờ chủ

trương, chính sách của Nhà nước ta, đặc biệt là sau Quyết định 161/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển GDMN Vì vậy hiện tại các địa phương rất lúng túng trong công tác quản lý chỉ đạo phát triển các cơ sở mầm non NCL theo Luật GD 2005

Nhằm góp phần làm cơ sở cho việc đề ra chủ trương, chính sách phát triển GDMN, chuyển đối và phát triển các loại hình GDMN theo tỉnh thần Luật GD 2005

phù hợp với điều kiện KT-XH của địa phương, góp phần thực hiện Chiến lược phát triển GD 2001-2010, chúng tôi nghiên cứu dé tài “Wghiên cứu đề xuất một số giải

pháp phát triển các loại hình trường mầm non ngoài công lập”

1.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu: Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu có liên quan đến chủ trương của Nhà nước về phát triển GDMN ngoài công lập

1) Đề tài “Nghiên cứu mô hình trường lớp mầm non dân lập tư thục có chất lượng”

Mã số: B96-49-39, thực hiện trong 3 năm từ năm 1996-1999,

Trang 10

- Qua nghiên cứu thực trạng đề tài đã nêu lên ưu thế của trường mầm non tư thục: Sĩ

số trẻ trong 1 lớp ít, giờ giấc giữ trẻ linh hoạt, học phí đóng góp theo thoả thuận, phương thức làm việc của nhà trường mềm dẻo, đáp ứng nhanh chóng những yêu cầu của phụ huynh

- Đề tài cũng đưa ra một số khó khăn, hạn chế của trường mầm non tư thục: Cơ sở

vật chất trường nhóm chật hẹp, chủ yếu là xây đựng cải tạo từ nhà ở nên không đáp

ứng đầy đủ những yêu cầu của GDMN, ít có sân chơi, khó khăn trong việc tuyển chọn những giáo viên có năng lực vì thu nhập không ổn định,

- Đề tài kiến nghị về chế độ chính sách của nhà nước đối với trường mầm non tư

thục: Có chính sách ưu đãi về tín dụng, đất đai, chế độ bảo hiểm XH và bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên đối với GVMN,

2) Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CS-GD trẻ ở

các trường mẫu giáo ngoài công lập” Mã số: B2000-52-46

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chất lượng CS-GD trẻ ở các trường mẫu

giáo ngoài công lập, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CS-

GD trẻ ở các trường mau gido NCL

3) Đề tài nhánh “Xã hội hoá giáo dục mầm non” Mã số: XHHGD-2001(04) (thuộc đề

tài “Cơ sở lý luận và các giải pháp xã hội hoá sự nghiệp GD giai đoạn 2001-2020”- của Văn phòng Chính phủ), đã thực hiện những mục tiêu nghiên cứu:

- Đánh giá thực trạng công tác XHH GDMN và các chính sách khuyến khích XHH GDMN trong giai đoạn hiện nay

- Dua ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất kiến nghị về các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác XHH GDMN trong giai đoạn tới

4) Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu đề xuất mô hình trường mầm non ngoài công lập ở khu vực nông thôn” Mã số: B2002- 52- 21

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về cơ chế quản lý, chính sách đầu tư, cơ sở vật chất, đội ngĩ giáo viên, trong các cơ sở GDMN bán công ở nông thôn đề xuất mô hình

trường mâm non bán công ở khu vực nông thôn phù hợp với địa phương.

Trang 11

Tóm lại, trong thời gian qua đã có những nghiên cứu qui mô toàn quốc về

những chủ trương, chính sách phát triển GDMN nói chung, GDMN ngoài công lập

nói riêng Tuy nhiên, các nghiên cứu đều được thực hiện trước thời điểm có Quyết

định số 161/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/11/2002 về một số chính

sich phát triển GDMN, đẩy mạnh phát triển các trường mầm non NCL, đặc biệt là

trường mầm non bán công Luật giáo dục 2005 có một số quy định được sửa đổi, quan trọng nhất là quy định vẻ các loại hình GD (không còn tồn tại loại hình trường

mầm non bán công), điểu này dẫn đến những biến động vô cùng lớn đối với sự

nghiệp phát triển GDMN trong thời gian tới Vì vậy cần thiết phải có một số nghiên cứu chuyên sâu, riêng biệt về tình hình phát triển GDMN ngoài công lập, về tình

hình thực tế của các địa phương, những thuận lợi, khó khăn trong việc chuyển đổi

các loại hình GDMN theo Luật GD 2005, lộ hình chuyển đổi,.v v, để các cấp lãnh

đạo có những chỉ đạo kịp thời nhằm tạo thế ổn định và phát triển của bậc học mầm non, phù hợp với yêu cầu mới

2 Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình GDMN ngoài công lập thực hiện Luật Giáo dục 2005

3 Phạm vi nghiên cứu: Trong thời gian vừa qua, GDMN đã có bước phát triển nhanh, đặc biệt là các GDMN ngoài công lập bao gồm 3 loại hình: Bán công, dân

lập và tư thục Với việc quy định các loại hình của Luật GD 2005, GDMN ngoài công lập sẽ chỉ còn 2 loại hình: dân lập và tư thục, còn loại hình bán công sẽ không

còn tồn tại nữa Đây chính là vấn đề bức xúc, nan giải nhất của GDMN, làm sao để quá trình chuyển đổi các loại hình GDMN không tạo ra một sự khủng hoảng ảnh

hưởng lớn đến quá trình phát triển GDMN ngoài công lập Nhằm góp phần giải quyết khó khăn trên, đề tài sẽ không chú trọng nghiên cứu các giải pháp phát triển

về số lượng và nâng cao chất lượng các cơ sở mầm non ngoài công lập mà chỉ đi

sâu nghiên cứu thực trạng thực hiện chuyển đổi các loại hình GDMN, những khó

khăn và thuận lợi ở địa phương Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp chuyển đổi các

loại hình GDMN phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, nhằm củng cố và

phát triển các loại hình GDMN theo Luật GD 2005

4 Nội dung nghiên cứu

1) Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài

Trang 12

2) Khảo sát thực trạng phát triển các loại hình GDMN NCL tại một số tỉnh/TP;

3) Đề xuất một số giải pháp phát triển các loại hình GDMN ngoài công lập

5 Phương pháp nghiên cứu

1) Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước

về phát triển GDMN; NC các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài

2) Phương pháp chuyên gia: Tiến hành trong từng giai đoạn của quá trình thực hiện

đề tài, đặc biệt trong giai đoạn hoàn thiện cơ sở lí luận của đề tài, xây dựng phiếu

điều tra, đánh giá kết quả nghiên cứu; để xuất các giải pháp

3) Phương pháp điều tra:

- Đề tài thực hiện điều tra bằng phiếu hỏi tại 25 tỉnh đại điện cho các địa bàn phát

triển KT-XH Phiếu điều tra: Phiếu dành cho CBQL GDMN các cấp (Sở, Phòng,

trường); Phiếu dành cho lãnh đạo địa phương (UBND tỉnh/TP, Sở Nội vụ, Sở Kế

hoach-Dau tu, So Tai chinh-Vat gia)

- Báo cáo của 24 Sở GD&ĐT vẻ tình hình phát triển các loại hình ngoài công lập

thực hiện Luật GD 2005

- Dé tài thực biện Hội thảo tai Ha Noi va toa đầm tại Sở GD&ĐÐT Phú Thọ

4) Phương pháp xử lí các số liệu điều tra

Trang 13

PHAN II - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp

Như vậy, giải pháp phát triển các loại hình GDMN là cách làm, cách giải

quyết, là hoạt động để các loại hình GDMN vận động “đi lên”- phát triển

Trong giai đoạn hiện nay, việc chuyển đổi các loại hình GDMN từ 4 loại hình: Công lập, bán công, dân lập, tư thục sang 3 loại hình theo Luật GD 2005: Công lập, dân lập, tư thục đang là vấn đề bức xúc của địa phương Việc tìm ra giải pháp tháo gỡ

vấn để này là vấn dé thời sự: làm sao chuyển đổi các loại hình GDMN một cách hợp lí

để bậc học mầm non không bị đảo lộn mà vẫn giữ được đà đi lên sau Quyết định số

161/QĐ-TTg Nếu đề ra được một lộ trình và chính sách chuyển đối các loại hình hợp

li cho địa phương, thì không những giữ vững và ổn định được bậc học mà chính điều

đó quyết định sự phát triển của bậc học mầm non trong cả nước

2 Cơ sở ngoài công lập

Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 của Chính phủ quyết định: Cơ

sở ngoài công lập là cơ sở do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc cộng đồng dân cư thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tự đảm bảo kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước và hoạt động theo quy định của pháp luật (GDMN ngoài công lập có: Cơ sở dân lập, tư thục- Theo Luật GD 2005)

3 Các loại hình GĐMN: Theo từ điển tiếng Việt “Loại hình là tập hợp sự vật, hiện tượng có chung những đặc trưng cơ bản nào đó”

Trang 14

Tại Điều 48, Luật GD 2005: Nhà trường trong hệ thống giáo duc quốc dân

được tổ chức theo các loại hình sau đây:

a) Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chỉ thường xuyên;

N

b) Trường dân lập do cộng đồng đân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động (loại hình này hiện nay chỉ có ở bậc học

mầm non và một số ít ở Tiểu học);

Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ quy định chỉ tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật GD 2005 xác định rõ:

- Cơ sở giáo dục đân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động không vì mục đích lợi nhuận Cộng đồng dan cư cấp cơ sở gồm tổ chức và cá nhân tại thôn, bản, ấp, xã, phường, thị trấn

-_ Cơ sở giáo dục đân lập hoạt động trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm về

tài chính, nhân lực và được chính quyên địa phương hỗ trợ

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định cho phép thành lập cơ sở giáo dục dân lập, UBND cấp xã trực tiếp quản lý cơ sở giáo dục dân lập

c) Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức

kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước

4 Các loại đơn vị sự nghiệp (đơn vị sự nghiệp công lập) được giao quyền tự chủ:

Nghị định của Chính phủ số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 “Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm vẻ thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài

chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập”, tại Điều 9 căn cứ vào nguồn thu sự

nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách

nhiệm về tài chính như sau:

1) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chỉ phí hoạt động thường xuyên - gọi tất là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chỉ phí hoạt động

Trang 15

2) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động

thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp - gọi tất là đơn vị sự

nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động

„_ 3) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chỉ phí hoạt động- gọi tất là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chỉ phí hoạt động

Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định cơ sở phân loại các cơ sở công lập tự bao đảm toàn bộ hay một phần chỉ phí hoạt động

Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo qui định trên được ổn định trong thời gian 3 năm, sau thời hạn 3 năm, sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp

Trong thời gian ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp có thay đổi

chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thì cơ quan nhà nước có thẩm quyển xem xét điều chỉnh phân loại lại cho phù hợp

Bậc học mầm non nằm trong Hệ thống GDQD, vì vậy trong quá trình chuyển

đổi các loại hình thực hiện Luật GD 2005, các loại hình GDMN đang tổn tại cũng

có thể được xem xét để chuyển sang loại hình đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ

hay một phần chi phí hoạt động

I VAI TRÒ CỦA CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP

Mọi biện pháp quản lý nguồn lực đối với cơ sở GDMN ngoài công lập chẳng

những đều xuất phát từ sự đảm bảo mục tiêu ban đầu để ra, mà còn được nâng lên

thành lợi ích cho các đối tượng tham gia vào hoạt động của nhà trường, đó là:

- Lợi ích cho trẻ

- Lợi ích cho giáo viên

- Lợi ích cho xã hội

1 Lợi ích cho trẻ

Trong cơ chế thị trường hiện nay, việc đa dạng hoá các loại trường lớp ở các bậc học giúp cha mẹ trẻ có điều kiện lựa chọn trường học cho con em họ Dựa trên

Trang 16

khả năng kinh tế của gia đình và khả năng của trẻ mà chọn trường thích hợp Dù

chọn loại trường nào, họ vẫn có một nguyện vọng chính đáng, nơi đó là chỗ con họ

thật sự được dạy đỗ và chăm sóc chu đáo, có hiệu quả

„- Với mục tiêu góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, các cơ sở GDMN ngoài

công lập đã đặt trẻ em là đối tượng phục vụ Mục tiêu của các cơ sở GDMN ngoài

công lập là vấn đề chất lượng và mọi nỗ lực của nhà trường đều xuất phát từ chất lượng, phù hợp với yêu cầu của cha mẹ trẻ Chính vì vậy sự ra đời của các cơ sở GDMN ngoài công lập đã mang lại lợi ích cho trẻ em và cha mẹ trẻ thể hiện ở chất lượng CS-GD mà các cơ sở GDMN ngoài công lập phấn đấu đạt được

Mặt khác, các cơ sở GDMN NCL ra đời tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong GDMN, bởi lẽ các cơ sở GDMN NCL xuất hiện đã góp phần kích thích sự đầu tư hơn nữa cho chất lượng giáo dục ở các trường mâm non công lập

Vì sự tổn tại và phát triển của nhà trường, các cơ sở GDMN NCL tuyển chọn giáo

viên nhiệt tình, trách nhiệm, có trình độ, giỏi tay nghề và luôn đầu tư cải thiện môi trường học tập, vì thế trẻ em được hưởng môi trường GD ngày càng hoàn thiện hơn

2 Lợi ích cho người dạy

Hiệu trưởng các cơ sở GDMN ngoài công lập, trong quá trình tự cân đối thu

chi, đều chú ý dùng kinh tế làm đòn bẩy để thúc đẩy việc nâng chất lượng chuyên

môn của đội ngũ giáo viên, nhìn từ góc độ thu nhập lương của giáo viên Đội ngũ giáo viên giảng dạy thuộc điện biên chế và hợp đồng cảm thấy yên tâm và ổn định

vì mọi quyên lợi của người lao động đều được đảm bảo như: chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nâng lương hàng năm, đến việc đầu tư kinh phí học tập nâng cao trình độ Mặt khác ở góc độ quản lý, người hiệu trưởng thực hiện vai trò tham mưu, điều tiết kinh phí không để nguồn thu nhập của giáo viên bị ảnh hưởng (hỗ trợ từ ngân sách khi cần thiết)

Trong các cơ sở GDMN ngoài công lập, giáo viên được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ bằng nhiều biện pháp: Từ năng lực chuyên môn (kiến thức và phương pháp giảng dạy) đến lòng yêu nghề, yêu trẻ, sự tận tâm trách nhiệm tất cả

đều không ngừng được nỗ lực, rèn luyện để đảm bảo có được chất lượng CS-GD

trẻ Từ trong khó khăn thử thách rèn luyện đó, người giáo viên cũng đã trưởng thành

thích ứng với môi trường giáo dục và không ngừng cạnh tranh vươn lên để tự hoàn

Trang 17

thiện và khẳng định mình Đây là lợi ích thu nhận được cho người đạy về mặt nhận thức và rèn luyện tay nghề

Về góc độ nhận thức, các cơ sở GDMN ngoài công lập ra đời đã góp phần làm thay đổi tư tưởng quen bao cấp, thiếu tự đầu tư trong chuyên môn của người

giáo viên Do có đội ngũ giáo viên phải luôn vận động để tự khẳng định mình Điều

đó tạo nên những hình ảnh đối trọng, nâng lòng tự trọng nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên không những ở các cơ sở GDMN ngoài công lập mà ở cả trường công lập Đồng thời nhìn từ góc độ quản lý, trên cơ sở hiệu quả hoạt động của các cơ sở GDMN ngoài công lập, ngành giáo dục cũng phải xem xét tổng thể đội ngũ, tiến tới

có chính sách phù hợp để thay dần số giáo viên yếu kém đang tồn tại không ít trong các nhà trường công lập, mà trong suốt thời gian bao cấp ngành giáo dục chưa có biện pháp giải quyết

3 Lợi ích cho xã hội

Sự ra đời của các cơ sở GDMN ngoài công lập đã tạo ra giá trị về mặt nhận thức, góp phần xoá bỏ tư tưởng ý lại, quen bao cấp của người dân trong giáo dục, góp phần hình thành trong cha mẹ trẻ, trong cộng đồng ý thức hợp tác với Nhà nước đầu tư vào sự nghiệp giáo dục thông qua việc chi phí cho giáo dục hoặc đầu tư mở trường Điều này đồng nghĩa với sự đồng tình của người dân và cộng đồng đối với chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục của Đảng và Nhà nước

Việc đa dạng hoá loại trường lớp góp phần tăng số lượng trẻ em đến trường,

đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng

Trong quá trình hoạt động, các cơ sở GDMN ngoài công lập phải không ngừng tu bổ, nâng cấp cơ sở vật chất của nhà trường nhằm thu hút trẻ vào trường ' đồng thời giải quyết điêù kiện nâng chất lượng dạy và học Vì thế cơ sở vật chất của

trường ngày càng được hoàn thiện theo chiều hướng hiện đại Sự phát triển về cơ sở

vật chất của các cơ sở GDMN ngoài công lập đã tác động đến hệ thống trường công lập, tác động đến hệ thống quản lý và chỉ đạo của ngành trong việc nâng trường công lập đạt về chất lượng cả về cơ sở vật chất, góp phần khẳng định được vị thế, vai trò nòng cốt của hệ thống trường công lập

Trong quá trình hình thành và hoạt động, các cơ sở GDMN ngoài công lập

luôn nhận được sự hỗ trợ của các lực lượng xã hội và bằng chính những hoạt động

Trang 18

giáo dục có hiệu quả của mình, các cơ sở GDMN ngoài công lập cũng đã không ngừng bổ sung, nâng cao nhận thức của cha mẹ trẻ, của chính quyền các cấp, các ngành, các giới của xã hội và cộng đồng về giáo dục mầm non và đầu tư phát triển giáo dục mầm non

II CHỦ TRƯƠNG CỦA NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH

GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP

1 Một số cơ sở pháp lý của chủ trương phát triển các loại hình GDMN NCL

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam thông qua năm 1992 nêu rõ cần và có

thể "phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục

khác" Như vậy về thực chất, từ năm 1992, Nhà nước Việt Nam bắt đầu có chủ trương phát triển các trường ngoài công lập, Nhà nước không độc quyền sở hữu hệ thống các trường học mà đã thừa nhận ngoài hệ thống trường công thuộc sở hữu của

Nhà nước còn có hệ thống các trường bán công, dân lập và tư thục

Điều 36 Hiến pháp 1992 nêu rõ: "Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục” đồng thời "khuyến khích các nguồn đầu tư khác" Đây cũng là một thay đổi quan trọng trong bộ luật cơ bản này, thừa nhận cần phải có sự chia sẻ với xã hội về nguồn

lực cho phát triển giáo dục Thay đổi này phán ảnh một thực tế là trong điều kiện

KT-XH mới của Việt Nam, ngân sách nhà nước không đủ khả năng dap ứng các nhu cầu đang tăng lên mạnh mẽ của giáo dục, cần và có thể có sự chia sẻ gánh nặng

giáo dục này bằng các nguồn lực khác trong xã hội Như vậy, giáo dục không còn là

lĩnh vực được nhà nước bao cấp hoàn toàn như trước nữa, mà ở một mức độ nhất

định đã bất đầu chia sẻ trách nhiệm với các thành phần khác trong xã hội

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VHII chỉ rõ "Giữ vai trò nòng cốt

của các trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình giáo dục - đào tạo",

"Phát triển các trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc học như mầm non, trung học "

Điều 12 trong Luật GD 2005 quy định về XHH GD: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức GD; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá

Trang 19

nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD Mọi tổ chức, gia đình và công đân có trách

nhiệm chăm lo sự nghiệp GD, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu GD, xây dựng môi trường GD lành mạnh và an toàn”

._ Trong Điểu 48 của Luật GD 2005 về “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân” điều luật đã làm rõ tính pháp nhân và cho phép đa dạng hoá các loại

trường lớp, gồm 3 loại hình: công lập, dân lập và tư thục

Các Điều luật 93, 94, 97 của Luật GD 2005 quy định cụ thể về trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội, cộng đồng đối với sự nghiệp GD trong đó có

GDMN

Các Điều 101, 104, 105 để cập đến các nguồn đầu tư và chính sách khuyến

khích các nguồn đầu tư cho GD, đồng thời quy định trẻ học là phải đóng học phí để trả lương cho GV, đóng tiền xây đựng cơ sở vật chất và trang bị học liệu

2 Một số vấn đề về xã hội hoá giáo dục

Cũng như những vấn đề kinh tế - xã hội khác, những dấu hiệu đầu tiên của xã

hội hoá trong giáo dục xuất hiện vào những năm đầu của thập kỷ 60 Từ năm học 1960-1961, ngành GD bắt đầu vận động nhân dân đóng học phí từ cấp í đến cấp II theo Chỉ thị của Phủ Thủ Tướng số 169/TTg ngày 3-8-1960 Số tiền thu học phí do dân đóng góp dùng để trả lương cho giáo viên Ngoài ra cộng đồng còn có đóng góp

to lớn trong việc xây dựng, tu bổ trường sở, mua sắm thiết bị cho nhà trường Cũng

từ những năm học này, nhiều trường dân lập mới phát triển ở các địa phương Theo

quy chế, giáo viên dân lập vẫn được hưởng mọi chế độ, chính sách như giáo viên quốc lập, chỉ khác là mọi chỉ phí do ngân sách địa phương đài thọ, có sự hỗ trợ thích đáng của Nhà nước Đội ngũ giáo viên dân lập ngày càng đông, chủ yếu ở cấp

I, cấp II, một số tỉnh giáo viên dân lập chiếm tới 60% tổng số giáo viên

Trong các văn kiện của Đảng từ Đại hội VỊ đến Đại hội IX đã nêu rõ nội dung của chủ trương xã hội hoá sự nghiệp GD&ĐT- một chủ trương lớn của Dang

và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng nền giáo dục quốc dân và được cụ thể hoá

bằng Luật GD và những văn bản dưới luật

Tại Đại hội VII, Đảng ta nhấn mạnh “giáo đục là sự nghiệp của quần chúng,

giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội” Như vậy đối với sự nghiệp GD&ĐT, Đảng đã

Trang 20

khẳng định: phải huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên mọi tầng lớp nhân dân

đóng góp, tham gia phát triển sự nghiệp GD&ĐT dưới sự quản lý của nhà nước

Giáo dục và đào tạo mang lại lợi ích cho quốc gia, cộng đồng và cho cả bản thân người học Đồng thời, nên kinh tế đa thành phần đòi hỏi đa dạng hoá các loại

trường lớp, giáo dục phải đáp ứng nhu cầu đào tạo của các thành phần kinh tế đó Giáo dục sẽ không phát triển nếu chỉ đựa vào ngân sách Nhà nước, vì vậy để duy trì

và phát triển sự nghiệp giáo đục không chỉ trông chờ vào ngân sách của Nhà nước

mà cần được huy động từ xã hội và cá nhân, huy động tối đa các nguồn lực cho giáo dục, nhưng phải đảm bảo tính dân chủ, công khai, công bằng và nhất là phù hợp với từng đối tượng, từng bậc học, hình thức học

Xã hội hoá giáo duc thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chức

nãng quản lý và chỉ đạo Đó là nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan chính

quyền, các ban ngành thuộc bộ máy quản lý Nhà nước từ trung ương đến địa phương, thường gọi là sự phối hợp các ngành, các cấp trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục, nhưng yếu tố quyết định vẫn là sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước

Tuy nhiên, cẩn quán triệt trong nghiên cứu cũng như chỉ đạo hoạt động giáo dục là tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hoá giáo dục không phổi là

một Điều này hết sức quan trọng, nếu không có định hướng rõ ràng về xã hội hoá

thì tự thân hoạt động giáo dục vẫn có tính chất xã hội nhưng không bao giờ đạt tới trình độ xã hội hoá đích thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của chính nó Sự định hướng đó thể hiện ở việc xem xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là tư tưởng chiến lược,

đó là sự tác động mạnh mẽ vào ý thức của xã hội làm thay đổi về nhận thức, về cách làm giáo dục của mọi thành phần trong toàn xã hội

Khái niệm xã hội hoá giáo dục được dùng trong nhiều lĩnh vực, với nhiều ý

nghĩa Ở đây chúng ta hiểu khái niệm xZ hội hoá giáo dục với nghĩa phổ biến nhất

là lôi cuốn toàn xã hội làm giáo dục, tất cả cho giáo dục và giáo dục cho mọi người

Với ý nghĩa đó có thể hiểu xế hội hoá GD như sau:

- Làm cho xã hội nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò có ý nghĩa quyết định của

giáo dục đối với sự phát triển KT-XH của địa phương, của đất nước, thấy rõ được

thực trạng GD của địa phương, nhận thức rõ được trách nhiệm của xã hội đối với GD

Trang 21

- Làm cho giáo dục phù hợp và phục vụ đắc lực cho sự phát triển KT-XH của

địa phương, của đất nước, xác định mục tiêu của giáo dục trước hết phải xuất phát

từ mục tiêu phát triển KT-XH

._~ Xã hội hoá giáo đục là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp

nhân đân, tạo ra nhiều nguồn lực để làm giáo đục, mở ra con đường làm giáo dục

không chỉ thuần tuý ở trong nhà trường mà phải kết hợp các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình, xã hội để tạo ra môi trường giáo dục tốt nhất, thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục Đồng thời toàn đân, toàn xã hội có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động GD góp phần nâng cao chất lượng và phát triển sự nghiệp GD

- Xã hội hoá giáo dục là sự đa dạng hoá các hình thức giáo dục, các loại

trường lớp, mở rộng các cơ hội học tập và tham gia chủ động, bình đẳng vào sự

nghiệp phát triển giáo dục

- Đa đạng hoá các nguồn nhân lực đầu tư cho giáo dục là một nội dung xã hội

hoá sự nghiệp giáo dục rất quan trọng, trực tiếp giải quyết mâu thuẫn lớn bao trùm nhiều lĩnh vực của giáo dục và là mâu thuẫn kéo dài của giáo dục, đó là mâu thuẫn

giữa yêu cầu của phát triển nhanh mạnh của giáo dục và khả năng, điều kiện để làm giáo dục trước hết là hạn chế về kinh phí

Từ cách hiểu như trên cho thấy, xã hội hoá sự nghiệp giáo dục phải được đặt

ở tầm phương thức tức là phương pháp, cách thức với nghĩa rộng là giải pháp quan

trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển KT-XH

của đất nước Nó là tư tưởng mang tầm chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước

Công bằng ở đây phải hiểu cả về mặt hưởng thụ lẫn sự cống hiến, đóng góp cho

GD, cho xd héi theo khả năng thực tế của người dân, của từng địa phương và của cả cộng đồng

Hiểu như thế càng cho thấy xế hội hoá không có nghĩa là giảm nhẹ mà là tăng

cường chức năng quản lý của Nhà nước, và từ đây đặt ra vấn đề đòi hỏi Nhà nước phải đổi mới cơ chế quản lý theo hướng dân chủ hoá bằng hệ thống chính sách, văn bản pháp quy phù hợp đảm bảo cho GD phát triển theo đúng định hướng XHCN

Chủ trương của Đảng về các loại hình giáo dục ngoài công lập rõ ràng đã thổi luồng gió mới vào giáo dục và đào tạo Da dạng hoá các loại hình giáo dục, đa dạng

Trang 22

hoá các hình thức đào tạo ở từng bậc học và khu vực theo chủ trương của trung ương và thành phố, nhưng phải củng cố, nảng cao chất lượng các trường công

lập để giữ vai trò nòng cốt Đồng thời có định hướng tỉ lệ phát triển các loại hình

theo từng khu vực

S

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống GDQD, được Luật GD

qui định về mục tiêu, nội dung, phương pháp CS-GD, nhưng lại chưa mang tính bất buộc Do đó, kết quả phát triển GDMN ở địa phương và chất lượng thực hiện các

hoạt động GD trong các cơ sở GDMN phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành động của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương, của cộng đồng xã hội, của cha mẹ trẻ về vai trò của GDMN đối với sự phát triển nguồn nhân lực Đồng thời còn phụ thuộc vào tình hình phát triển KT-XH của chính địa phương đó Vì vậy, quán triệt đúng đắn chủ trương XHH GD nói chung, XHH

GDMN nói riêng là vấn đề sống còn để tiếp tục phát triển GDMN đáp ứng yêu cầu

mới của bậc học

3 Một số văn bản chính của Nhà nước về chính sách khuyến khích phát triển

các loại hình GDMN ngoài công lập

Trong những năm vừa qua Nhà nước ta có nhiều văn bản nhằm thúc đẩy việc

thực hiện chủ trương XHH hoạt động GD nói chung, GDMN nói riêng Cụ thể là:

3.1 Chỉ thị số 18I2001ICT-TTg của Thủ tướng chính phủ: Ngày 27/8/2001 Thủ

tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg về một số biện pháp cấp bách xây

đựng đội ngũ nhà giáo của Hệ thống GDQD, nhằm giải quyết những bức xúc của bậc học mầm non, trong phần về xây dựng đội ngũ GVMN Chỉ thị đã nêu rõ:

- Về chế độ tuyển dụng: GVMN ngoài biên chế được ký hợp đồng lao động Phân chỉ tiêu biên chế GVMN cho các vùng có KT-XH đặc biệt khó khăn, vùng núi cao, hải đảo; chuyển dịch chỉ tiêu biên chế GVMN ở những nơi có điều kiện KT-

XH phat triển (Thành phố, thị xã, thị trấn, khu công nghiệp, ) để bổ sung cho vùng

có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, vùng núi cao, hải đảo và vùng nông thôn

- Về hương và các chế độ khác: GVMN ngoài biên chế được hưởng lương và

các chế độ khác như GVMN trong biên chế Nhà nước; ngân sách Nhà nước sẽ hỗ

trợ để đảm bảo lương của GVMN hợp đồng ở vùng nông thôn không thấp hơn mức

lương tối thiểu do Nhà nước qui định

Trang 23

3.2 Quyét dinh sé 39/2001/QD-BGD&DT ciia Bé truéng B6 GD&DT: Ngay 28/8/2001 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã cd Quyét dinh sé 39/2001/QD-BGD&DT vé

việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của các trường ngoài công lập

»_ Điều 2 của Quyết định ghi rõ :

- Trường ngoài công lập được hưởng các chính sách khuyến khích về cơ sở

vật chất, đất đai; về thuế, phí, lệ phí, tín dụng, bảo hiểm, khen thưởng và phong tặng

đanh hiệu theo quy định của Chính phủ

- Trường ngoài công lập bình đẳng với trường công lập về nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường, của giáo viên, nhân viên, học sinh,

3.3 Quyết định số 45/2001/QĐ-BGD&ĐTcủa Bộ trưởng Bộ GD&ĐT: Ngày

26/12/2001 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã có Quyết định số 45/2001/QĐ-BGD&ĐT về việc công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001-2005

Quyết định này đã thu hút sự quan tâm của lãnh đạo chính quyền các cấp đối với tất cả các cơ sở mầm non, tạo nên hoạt động thi đua sôi nổi, tích cực giữa các tỉnh và giữa các trường trong việc đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở vật chất và nâng

cao chất lượng công tác của đội ngũ CBQL, GVMN Theo báo cáo của 64 tỉnh

thành phố, tính đến tháng 3/2006 đã có trên 700 trường MN được công nhận đạt

chuẩn quốc gia, chiếm khoảng 9% tổng số trường của toàn quốc

3.4 Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Ngày 15/11/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách

phát triển GDMN Đây là “chìa khoá” thể hiện quyết sách mang tính định hướng

chiến lược cho sự phát triển GDMN bước vào thế kỷ XXI của Nhà nước ta

Quyết định 161/2002/QĐ-TTg đã đưa ra định hướng phát triển các loại hình GDMN đến năm 2010 như sau:

- Cơ sở GDMN công lập được xây dựng chủ yếu ở các xã có điều kiện KT-

XH đặc biệt khó khăn ở miền núi, biên giới, vùng sâu vùng xa

- Cơ sở GDMN bán công được xây dựng chủ yếu ở vùng nông thôn và ở địa

bàn có mức sống thấp của thành phố, thị xã, thị trấn

Trang 24

- Khuyén khich viéc thanh lập trường, lớp MN đân lập, tư thục ở thành phố,

thị xã, thị trấn, khu công nghiệp và những nơi có điều kiện KT-XH phát triển

- Thực hiện chuyển các trường, lớp mầm non công lập ở địa bàn KT-XH phát

triển, thành phố, thị xã, thị trấn và khu công nghiệp sang hoạt động theo mô hình

ngoài công lập hoặc mô hình đơn vị sự nghiệp có thu theo quy định của nhà nước

3.5 Thông tư Liên tịch số 05/2003/TTLTIBGD&ĐT-BNV-BTC: Ngày 24/02/2003, 3 Bộ (Bộ GD&ĐT, Bộ Tài Chính, Bộ Nội Vụ) đã ban hành Thông tr Liên tịch số 05/2003/TTLT/BGD&ĐT-BNV-BTC hướng dẫn thực hiện Quyết định 161/QĐ-TTg Day

chính là sự vào cuộc, sự hội tụ trách nhiệm của các Bộ, ngành đối với GDMN

3.6 Văn bẩn số 2150/2004IGD&ĐT-BHXH: Ngày 22/03/2004 Bộ GD&ĐT có văn bản số 2150/2004/GD&ĐT-BHXH hướng dẫn thực hiện BHXH, BHYT đối với ngươi lao động thuộc các cơ sở GDMN nhằm đảm bảo quyền lợi tối đa của người

lao động trong khi chờ đợi Nhà nước có chính sách thống nhất về chế độ đối với GVMN Văn bản này đã góp phần ổn định tư tưởng của cán bộ, GVMN đang làm việc tại các cơ sở GDMN ngoài công lập, tạo sự yên tâm phấn đấu nâng cao chất lượng hoạt động CS-GD trẻ trong các cơ sở GDMN

3.7 Nghị quyết của Chính phủ số 05I2005INQ-CP, ngày 1814/2005 về đẩy mạnh

xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao

Đánh giá tình hình thực hiện xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá

và thể dục thể thao trong những năm qua, Chính phủ đã nêu rõ những kết quả quan

trọng, đồng thời cũng chỉ rõ những mặt còn hạn chế, cụ thể là: 1/Mức độ phát triển

xã hội hoá không đồng đều giữa các vùng miền và giữa các tỉnh, thành phố, địa

phương có điều kiện KT-XH như nhau.2/Cơ chế chính sách chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu đồng bộ Các lực lượng xã hội chưa được tổ chức và phối hợp tốt để chủ động, tích cực tham gia vào quá trình xã hội hoá.3/Các cơ sở công lập vẫn áp dụng cơ chế quản lý như các cơ quan hành chính nên đã không phát huy được tính năng động, tự chủ và trách nhiệm Các cơ sở ngoài công lập chưa nhiều, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu

Nguyên nhân của những hạn chế trên: 1/Do nhận thức còn chưa đầy đủ về

XHH, xem XHH chỉ là biện pháp huy động sự đóng góp của nhân dân trong điều

kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp (nên những nơi kinh tế còn nghèo thì không

Trang 25

chú ý đến XHH) Tư tưởng và thói quen bao cấp vẫn còn khá nặng nề.2/Trong chính sách XHH, chưa quy định rành mạch về sở hữu của các cơ sở ngoài công lập (bán công, dân lập), chưa phân định rõ sự khác biệt giữa các hoạt động có bản chất lợi nhuận và phi lợi nhuận trong các cơ sở giáo dục, giữa phúc lợi cho người dân và

việc bao cấp cho các cơ sở công lập

3.8 Nghị định của Chính phủ số 53/2006INĐ-CP ngày 25/5/2006 về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sử cung ứng dịch vụ ngoài công lập

Nghị định đã để cập tới các chính sách khuyến khích nhằm đẩy mạnh phát triển các loại hình ngoài công lập, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho các trường lớp

mầm non ngoài công lập phát triển:

- Các chính sách tạo điều kiện về cơ sở vất chất và đất đai: Các cơ sở ngoài công lập được thuê đài hạn với giá ưu đãi cơ sở hạ tầng, nhà cửa; được giao đất để xay dung các công trình hoạt động theo các hình thức: 1/ Giao đất không thu tiền sử dụng đất; 2/ Giao đất miễn thu tiền sử đụng đất; 3/ Cho thuê đất và miễn tiền thuê đất;

- Các chính sách miễn giảm về thuế, phí, lệ phí cho các trường ngoài công lập

và cho người đầu tư, khuyến khích các nguồn thu để phát triển GD

- Cơ sở ngoài công lập đầu tư các đự án hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và

y tế được hưởng các loại hình ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước theo quy định của phát luật

- Đối với những khoản thu phí, lệ phí Nhà nước không quy định mức thu, cơ

sở ngoài công lập được tự quyết định

IV TINH DAC THU CUA BAC HOC MAM NON VA VAN DE CHUYEN

ĐỔI CÁC LOẠI HÌNH GDMN THỰC HIEN LUAT GD 2005

* Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GOMN là bậc học đầu tiên có vị tri quan trọng, tuy nhiên đây lại là một bậc học không bắt buộc, vì vậy đã gặp rất nhiều khó

khăn khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có định hướng XHCN

Mặc dù thời gian gần đây, Nhà nước đã quan tâm phát triển GDMN, nhưng nhìn

chung trong nhiều vấn đẻ, đặc biệt là vấn đề phát triển các loại hình cũng chưa tính đến tính đặc thù của bậc học mầm non

Trang 26

* Nước ta là một nước nông nghiệp với trên 80% đân số sống ở nông thôn, do đó các

cơ sở GDMN ở nông thôn chiếm một số lượng khá lớn, chủ yếu là các trường ngoài

công lập Mặc dù có sự phát triển và ổn định trong suốt thập kỷ qua, nhưng người làm nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam vẫn còn phải đương đầu với sự nghèo đói,

thu nhập thấp Đất nông nghiệp theo đầu người bị co hẹp vì tốc độ đô thị hoá và nhu cầu xây dựng, đất thổ canh biến thành thổ cư, lao động ở nông thôn ngày càng dư thừa Từ khi thực hiện khoán, kinh tế tập thể thu hẹp, đa số địa phương ở nông thôn ngân sách thu không đủ chỉ vì thế không có nguồn để tu sửa trường lớp MN, trả công cho các cô giáo và hỗ trợ bữa ăn cho các cháu ở nhà trẻ-mẫu giáo Trong khi học sinh Tiểu học đến trường không phải đóng học phí vì nằm trong ngân sách hỗ trợ của nhà nước nhằm phổ cập giáo dục Tiểu học, thì ở bậc học mầm non các gia đình phải đóng góp toàn bộ kinh phí trả lương cho các cô giáo, tiền xây dựng tu sửa trường lớp, đóng góp cho các bữa ăn của con em Vì vậy, một mặt tình trạng thiếu kinh phí triển miên dẫn đến điều kiện cơ sở vật chất trường lớp thiếu thốn, nghèo nàn, xuống cấp không

có kinh phí XD, nâng cấp; thu nhập của GVMN nông thôn không ổn định, đời sống gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến tỉnh thần và chất lượng công tác CS-GD trẻ Mặt

khác, nẩy sinh hiện tượng so sánh giữa 2 bậc học và phụ huynh không muốn cho con đến trường mầm non, một số còn khai thêm tuổi cho con đi học lớp 1 mà không qua mẫu giáo, dò điều này ảnh hưởng đến sức khoẻ và chất lượng học tập của các cháu

* Khác với các bậc học khác, các cơ sở GDMN phần lớn đều là ngoài công lập, theo

sự phân cấp quản lý hiện nay phái chịu sự quản lý và phụ thuộc vào nhiễu cơ quan khác nhau: kinh phí hoạt động phụ thuộc vào đóng góp của phụ huynh; chuyên môn chịu sự quản lý của ngành GD; nhân sự, cơ sở vật chất phụ thuộc chính quyền địa

phương Đặc biệt, các cơ sở GDMN có nhiều điểm lẻ, manh mún, điều này gây nhiều

khó khăn cho việc đầu tư cơ sở vật chất và phân biên chế, quản lý đội ngũ: xây dung tập trung thì trẻ không có điều kiện đi học (trẻ phải đi lại xa, không an toàn); chia nhỏ thì ít cháu, thiếu kinh phí trả lương cho cô, thiếu kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, khó khăn trong quản lý

Vì vậy, nếu không có cơ chế đảm bảo sự phối hợp có hiệu quả giữa chính quyền, các ban ngành địa phương, các cơ quan giáo dục và các cơ sở MN, đồng thời Nhà nước không có cơ chế đầu tư thoả đáng theo vùng miền thì GDMN không thể phát triển được

Trang 27

* M6 hinh hoat dong cia cdc co s6 GDMN @ Viét nam va trén thế giới đều cho thấy rằng GDMN gắn chặt với các sinh hoạt của cộng đồng, cân sự tham gia và phối hợp của các tổ chức xã hội, gia đình và cộng đồng Đồng thời phát triển GDMN đòi hỏi sự tham

gia của liên ngành Giáo dục, Y tế, UBDS-GĐ-TE, Hội phụ nữ, .Trong đó Giáo dục là

đẩù mối liên kết các ngành khác nhằm thực hiện có hiệu quả công tác CS-GD trẻ, còn

các tổ chức xã hội khác có vai trò, trách nhiệm tham gia tích cực vào công tác CS-GD

trẻ Nhưng do phân cấp quản lý nên hầu như toàn bộ kinh phí của các cơ sở GDMN tại các địa phương đều do UBND xã/phường quản lý và điều phối, các cơ sở GDMN không được quyền quản lý kinh phí Điều này thường gây khó khăn cho các cơ sở MN trong

việc tổ chức thực hiện các hoạt động và đễ nấy sinh cơ chế “xin-cho”

Như vậy, đối với hoạt động CS-GD trẻ thì cơ sở mầm non có tính chất mở nhiều hơn, nhưng công tác quản lý cơ sở MN lại có tính chất đóng Vì vậy cần tăng

cường tính tự chủ cho các cơ sở mầm non, giao cho các cơ sở chịu trách nhiệm

chính về thu chỉ theo dự toán được phê duyệt từ kho bạc nhà nước đưới sự kiểm soát

của ngành tài chính và giáo dục

* Tính đặc thù của bậc học mầm nơn còn thể hiện rõ ở chỗ: GDMN phát triển mang đậm

tính phong trào, nhưng đời sống người dân còn nhiều khó khăn, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng khó khăn Nếu Nhà nước không đâu tư cơ sở vật chất và hỗ trợ một phần kinh phí hoạt

động, mà khoán trắng cho dan thi các cơ sở mầm non sẽ không có cơ hội phát triển, bởi vì:

Nếu trường thu học phí ở mức cao thì dân không có tiền đóng góp và sẽ không cho con đi học, nhưng nếu thu học phí và tiên xây đựng ở mức thấp thì không thể đảm bảo được cơ sở

vật chất, trang thiết bị để nâng cao chất lượng CS-GD trẻ Đây là một thực tế, điều này cần được các cấp lãnh đạo tính đến để có những chính sách (về hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở

vật chất, về khung học phí, về chế độ đối với cán bộ giáo viên, ) phù hợp, đảm bảo cho

GDMN có thể phát triển sau chuyển đổi các loại hình thực hiện Luật GD 2005

Tóm lại: GDMN là bậc học không bắt buộc và mang tính xã hội cao, nhưng trong thời

gian này Nhà nước chưa thể thực hiện triệt để XHH được mà phải có giai đoạn quá độ,

chuẩn bị điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng CS-

GD trẻ cho các cơ sở GDMN, đặc biệt ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa Việc giải quyết những vấn đẻ bất cập vẻ chế độ chính sách đối với GVMN trong biên chế và GVMN ngoài biên chế, về loại hình phát triển GDMN trong Luật GD 2005

không đồng nhất với QÐ 161 —TTg, cần có những văn bản hướng dẫn cụ thể

Trang 28

B CƠ SỞ THUC TIEN

1 XU THẾ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP Ở MỘT

SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Xu thế chung trong phát triển nền giáo dục thế giới là đa dạng hoá các loại

hình trường lớp không những về trình độ đào tạo mà cả về nguồn đầu tư Điều đáng nói ở đây là không chỉ ở những nước nghèo, chậm phát triển, mà ngày cả ở những

nước giàu cũng đều đặt vấn đề huy động các lực lượng xã hội tham gia xây dựng

giáo dục, phải làm giáo dục cộng đồng để phát triển Họ không những đã dành một

nguồn đầu tư thích đáng từ ngân sách nhà nước mà còn tìm cách xã hội hoá các nguồn đầu tư cho phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo

1 Trung Quốc

Chính phủ đã khẳng định, giáo dục trẻ 3-6 tuổi là bậc giáo dục quốc gia

đầu tiên và chủ trương xã hội hoá GDMN cũng đã hình thành từ rất sớm

Nhà nước đã huy động mọi nguồn lực, mọi tổ chức khác nhau tham gia vào phát triển GDMN, ở cả nông thôn lẫn thành thị Việc đào tạo giáo viên là trách nhiệm

của Vụ Cao học và Vụ Giáo dục trung học thuộc Bộ Giáo dục Có 4 bậc đào tạo là:

Trung học cấp 1; Trung học cấp 2; Cao đẳng hoặc đại học; Sau đại học

Với nhu cầu ngày càng tăng, GDMN ở Trung Quốc đã hình thành những

loại hình sau:

- _ Trường mầm non được cơ quan GD, Nhà nước hoặc Viện nghiên cứu đỡ đầu -_ Trường mầm non đo các nhà máy, quân đội, thành lập và quản lý -_ Trường mầm non do tư nhân thành lập

Các hình thức phục vụ cũng rất đa dạng, có thể nội trú, bán trú, nửa ngày hoặc trường hoạt động theo mùa, vụ

Các loại hình trên đều phải thực hiện các quy định của Bộ Giáo dục về đề dùng, tài liệu, tổ chức bộ máy và các hoạt động trong trường mẫu giáo Ví dụ: Trẻ 3-4 tuổi, mỗi lớp từ 20- 25 trẻ; Trẻ 4-5 tuổi, mỗi lớp từ 25- 30 trẻ; Trẻ 5-6 tuổi, mỗi

lớp từ 30- 35 trẻ Đối với lớp mầm non cả ngày, mỗi lớp có 2 giáo viên và 1 bảo

Trang 29

mẫu; Lớp nội trú, có 4 nhân viên trong 1 lớp (2 giáo viên, 2 bảo mẫu) Trường nội

trú có nhân viên chăm sóc trẻ buổi tối, nhân viên giặt quần áo, y tá chăm sóc trẻ

ốm Quy chế còn quy định rõ chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ

2 Thái Lan

Nhà nước Thái Lan không quy định nhà trẻ mẫu giáo nằm trong hệ thống

phổ cập GD, áo đó Nhà nước chỉ tổ chức một số cơ sở GDMN, phần còn lại các tổ

chức, tư nhân tự tổ chức, quản lý

Bộ Giáo dục Thái Lan đã thành lập trường mẫu giáo công lập đầu tiên tại BangKok và một vài thành phố khác vào năm 1940 Hiện nay, Thái Lan có 3 loại hình GDMN:

- Trường mẫu giáo học 2 năm, đành cho trẻ từ 4-6 tuổi Chỉ có một số

trường tư thục là nhận trẻ từ 3- 6 tuổi

-_ Trường MG 1 năm dành cho trẻ 5 tuổi để chuẩn bị cho trẻ vào học tiểu học

- Trung tâm giáo dục không chính quy và các trung tâm khác như: Trung tâm phát triển trẻ em; Trung tâm nuôi dưỡng trẻ em; Trung tâm chăm sóc trẻ em

hàng ngày Những trung tâm này nhận trẻ từ sơ sinh đến 7 tuổi

Ở trường công lập, nội dung hoạt động được quy định chặt chế với yêu cầu cao hơn so với các trường tư thục

Vì GDMN không bất buộc nên sự phân bổ ngân sách không đáp ứng đủ nhu cầu: Nhà nước cung cấp một phần (khoảng 30%), còn lại do khu vực tư nhân (cha mẹ, các hội, các nhà tổ chức) Ở trường mẫu giáo công, chủ yếu ở đô thị, chính phủ chỉ xây dựng nhà cửa, trang thiết bị, hương GV và các chỉ phí khác Ở các trung tâm phát triển trẻ khu vực nông thôn, Chính phủ cung cấp ngân sách cho trang thiết

bị và lương cho GV, cha mẹ trả các chỉ phí khác Mức đóng góp tuỳ theo chất lượng từng trường

Ở các vùng đặc biệt khó khăn, các địch vụ GDMN thường được các tổ chức

phi Chính phủ tài trợ gần như hoàn toàn Các trường mầm non tư thục trong những điều kiện nhất định đều được Nhà nước hỗ trợ định kỳ tính trên đầu trẻ

Trang 30

Trong hệ thống trường học công lập có các trường mẫu giáo điểm hoạt động như mô hình thực hành tốt nhất chương trình CS-GD trẻ, là nơi đào tạo có chất

lượng và được phụ huynh đánh giá rất cao, trở thành sự lựa chọn số một Hiện nay mỗi tỉnh của Thái Lan đều có 1 trường mẫu giáo điểm

3 Indonexia, Philipin

Luật hệ thống GD quốc dân Indonexia công nhận GDMN là giai đoạn tiền

đề cho hệ thống giáo dục cơ bản Ở các nước này Luật GD nhấn mạnh trách nhiệm của cha mẹ phải đảm bảo cho trẻ có cơ hội được học tập Gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN nhằm thực hiện Công ước Quốc tế về

Quyền trẻ em Ở đây GDMN đều được tổ chức cả ở hệ chính quy và không chính quy: Trung tâm chăm sóc trẻ, trường mầm non, trường mẫu giáo, chương trình cho

các bố mẹ Các cơ sở dịch vụ này được sự quản lý, hỗ trợ từ các Bộ: Bộ Giaó dục,

Bộ Y tế, Bộ Phúc lợi XH

Về chính sách tài chính: nguồn kinh phí hoạt động các cơ sở địch vụ GDMN

do Chính phủ, chính quyền địa phương chịu trách nhiệm một phần; cha mẹ trả tiền

ăn cho trẻ và đóng góp một phần chỉ phí Ở các vùng đặc biệt khó khăn, các dịch vụ

GDMN thường được các tổ chức phi Chính phủ tài trợ gần như hoàn toàn

4 Thuy Điển

“Dich vu CS-GDMN” bao gồm: Các trường mầm non, các dịch vụ chăm sóc trẻ

gia đình, Trung tâm vui chơi giải trí, các trường mầm non mở (dịch vụ miễn phí cho

những phụ huynh thất nghiệp) Cơ sở GDMN được Nhà nước tài trợ hoàn toàn dưới sự quản lý của Bộ Giáo đục và Khoa học: 80% yêu cầu tài chính của các trường do địa

phương đáp ứng, nguồn tài chính này chủ yếu từ nguồn thuế của địa phương; 20% nguồn tài chính còn lại do Chính phủ cung cấp chủ yếu nhằm hỗ trợ các địa phương có nguồn taì chính ít hơn nhằm giải quyết những vấn đề về công bằng

Những năm 90, trường mầm non bán công được thành lập, nhưng không được thu học phí cao Theo qui định, học phí cha mẹ phải trả không quá 3% tổng thu nhập của cha mẹ trẻ; trường mầm non là trường tự nguyện, trẻ 5 tuổi có thể theo học không mất tiền (3 tiếng/ngày), trường mầm non do chính quyền địa phương quản lý

Trang 31

Những quy định chung về GD được nêu ra trong các đạo luật GD do Quốc hội phê chuẩn Đạo luật GD đề ra mục tiêu chung cho tất cả các bậc học và định

hướng chung để các trường định hình các hoạt động của họ Đạo luật GD nhấn

mạnh các trường được cấp địa phường quản lý song phải tuân thủ những tiêu chuẩn

tương đương áp dụng trên phạm vi toàn quốc Chương trình chung do Chính phủ

xây dựng quy định nhiệm vụ và những kiến thức mà nhà trường cần đạt được từ đó

các nhà quản lý GD địa phương sẽ tiến hành lựa chọn những lĩnh vực ưu tiên và nội dung GD phù hợp với đặc điểm và điều kiện của các trường khác nhau Chính phủ đưa ra những hướng dẫn chung và yêu cầu các nhà quản lý GD địa phương xác định những nguồn lực cần thiết, số lượng trường cần có cho địa phương, và địa điểm xây đựng trường cũng như cơ cấu cán bộ của nhà trường

5 New Zealand

Các cơ sở GDMN do cộng đồng hoặc do các tổ chức tư nhân thành lập,

Chính phủ tài trợ cho tất cả các loại hình với điều kiện tiên quyết là cơ sở GDMN

đó phải đáp ứng được các chuẩn do Bộ Giaó dục đưa ra Theo nguyên tắc, Chính phủ tài trợ 50% chi phí hoạt động của các cơ sở GDMN không phân biệt cơ sở công

lập, dân lập hay tư thục Phần còn lại do cha mẹ đóng góp Các gia đình có khó

khăn hoặc có con tuổi MN bị khuyết tật có thể làm đơn xin miễn đóng góp thông

qua Vụ phúc lợi của Chính phủ

Trang 32

Chính phủ liên bang không đứng ra trực tiếp tổ chức mà chỉ giữ vai trò người tài trợ cho các dịch vụ chăm sóc trẻ Chẳng hạn, với trung tâm chăm sóc trẻ cả ngày, Chính phủ sẽ hỗ trợ một phần để xây dựng nhà cửa, mua sắm trang

thiết bị, đồng thời trợ cấp cho mỗi đầu trẻ một khoản tiền nhất định, và thống nhất trong toàn Liên bang Trẻ dưới 3 tuổi được trợ cấp gấp rưỡi trẻ trên 3 tuổi

Nếu trung tâm hoạt động 10 giờ/ngày thì sẽ được hưởng thêm một khoản trợ cấp nhỏ Chính quyền Bang bù thêm kinh phí sao cho cân bằng thu- chỉ Các nhóm trẻ gia đình cũng được Nhà nước hỗ trợ một phần vốn để hoạt động

Có thể nói, các loại hình giáo dục mầm non ở Ôxtrayria đều là những tổ chức phi lợi nhuận Cả những nhóm trẻ gia đình cũng chỉ lấy công làm lãi

Giáo viên đa số có trình độ trung cấp, một số ít có trình độ đại học

Tiền học phí gửi trẻ nhìn chung rất cao so với thu nhập trung bình của gia đình Đối với những địch vụ có chất lượng tốt, tiền học phí có thể gấp rưỡi tháng lương thấp của một người lao động

Toàn liên bang có khoảng 2/3 số trẻ trong độ tuổi được gửi vào các loại hình trường

Tóm lại: Qua phân tích tình hình GDMN ở một số nước ta nhận thấy rằng:

1) Chính phủ các nước đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác GDMN,

nhằm chuẩn bị tốt về mọi mặt cho trẻ vào Tiểu học và tạo cơ hội cho cha mẹ tham

gia lao động và các hoạt động XH, góp phần tạo công bằng trong GD và phân công

lại thu nhập

2) Hầu hết ở các nước đều chú trọng đến XHH GDMN, Chính phủ không trực tiếp

tổ chức, quản lý các cơ sở GDMN mà có sự phân cấp rõ ràng giao trách nhiệm cho

các tổ chức Nhà nước, chính quyền địa phương, tư nhân tổ chức quản lý, Chính phủ

có thể đóng vai trò tư vấn thêm về quản lý, chuyên môn GDMN có sự tham gia của liên ngành: Giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội và gia đình, trong đó giáo dục là cơ quan chủ quản

3) Các nguồn kinh phí cho GDMN từ 3 nguồn:

- Nhà nước hỗ trợ một phần, ưu tiên khu vực khó khăn

- Từ tập thể doanh nghiệp, tư nhân

Trang 33

- Từ đóng góp của cha me

Kinh phí cho giáo dục mầm non được chia sẻ bởi từng cấp chính quyền địa phương Việc đóng góp có sự khác nhau giữa các nước và giữa các vùng trong một nước

4) Nhiều nước đầu tư trên đầu trẻ trong các dich vụ GDMN không phân biệt loại hình trường công lập, dân lập hay tư thục với điều kiện các trường phải đáp ứng được các chuẩn do Bộ GD&ĐT đưa ra (Thái Lan, Thuy Điển, New Zealand,

Ôxtraylia)

5) Đầu tư của Nhà nước, kết hợp các nguồn khác (từ các tổ chức phi Chính phủ) tập

trung cho vùng nghèo, vùng khó khăn nhằm rút ngắn khoảng cách giàu ~ nghèo Tất

cả những điều này đều thể hiện rõ chính sách đảm bảo sự công bằng cho mọi trẻ em

II TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH GIÁO DỤC MẦM NON

NGOAI CONG LAP GIAI DOAN 2001-2005

1 Các loại hình giáo đục mầm non giai đoạn 2001-2005

Trong giai đoạn này các cơ sở GDMN theo quy định của Luật GD 1998 tại Điều 44, xác định 4 loại hình: Công lập, bán công, dân lập, tư thục

1.1 Cơ sở giáo dục công lập: "Cơ sở giáo dục công lập do Nhà nước thành lập, bổ

nhiệm cân bộ quản lí và giao chỉ tiêu biên chế; Nhà nước quản lí, đâu tư về cơ sở

vật chất, cấp kinh phí cho các nhiệm vụ chỉ thường xuyên”,

Loại hình này được Nhà nước bao cấp toàn bộ về cơ sở vật chất, được cấp kinh phí hàng năm tính trên đầu trẻ Các phòng GD&ĐT quận!huyện trực tiếp quản

lý chuyên môn, quản lý đội ngũ cán bộ giáo viên,

Tuy nhiên, trên thực tế ngân sách của Nhà nước chi cho các cơ sở mầm non

công lập cũng chỉ mới đáp ứng khoảng 50% nhu cầu chỉ thiết yếu Loại hình này

tuy ít, hiện nay chiếm tỷ lệ từ 30-35% trong mạng lưới GDMN, nhưng giữ vai trò

nòng cốt trong các loại hình GDMN

Trong thời kỳ bao cấp, loại hình này cũng đặc biệt phát triển trong các cơ

quan, xí nghiệp Từ năm 1987, thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị

1- Luật GD 1998

Trang 34

trường, cơ chế khoán ruộng đến từng gia đình và cũng từ đó khả năng bao cấp của Nhà nước cho loại hình này cũng hạn chế Theo Quyết định số 161/2002/QĐÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/11/2002 về một số chính sách phát triển GDMN,

để giảm bớt gánh nặng kinh phí của Nhà nước đầu tư cho khối trường công lập troàg đó có mầm non công lập, Nhà nước không chủ trương phát triển mạnh loại

hình công lập ở khu vực thành phố, thị xã, thị trấn mà ở những khu vực này một số trường công lập sẽ chuyển sang bán công Ngược lại, ở miền núi, vùng sâu Nhà

nước sẽ hỗ trợ phát triển loại hình công lập

1.2 Cơ sở GD bán công: " Cơ sở giáo dục bán công do Nhà nước thành lập trên cơ

sở huy động các tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế cùng đầu tư xây

dựng cơ sở vật chất'?, theo các phương thức: thành lập mới; chuyển toàn bộ hoặc một phần từ đơn vị công lập, dân lập (nông thôn) để cùng đầu tư xây dựng CSVC, quản lý, điều hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật

Loại trường này do nhà nước đâu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị

cơ bản ban đâu, trả lương cho biên chế bộ khung Còn kinh phí chỉ trả lương cho đội ngũ giáo viên và công nhân viên, kinh phí tu bổ, sửa chữa trường lớp hàng năm, kinh phí cho hoạt động chuyên môn cũng như ngoại khoá đều do nguồn kinh phí thu

bằng tiên học phí, tiên đóng góp xây dựng trường từ phụ huynh chỉ trả và các nguồn

kinh phí khác do nhà trường huy động được Các phòng GD&ĐT quận huyện trực tiếp quản lý chuyên môn, quản lý đội ngũ cán bộ giáo viên

Theo tỉnh thân của Nghị định số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/8/1999 về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong các lĩnh vực GD, y tế, văn hoá, thể thao và Quyết định số 39/QĐÐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng

Bộ GD&ĐT ngày 28/8/2001 vẻ Quy chế tổ chức và hoạt động của các trường ngoài

công lập, loại hình bán công là loại hình ngoài công lập Loại hình này mới xuất

hiện trong một số năm gần đây và trước đây cũng chỉ tập trung chủ yếu ở thành phố

lớn, nơi tập trung đông dân cư và có điều kiện kinh tế phát triển Cơ sở mầm non

bán công ra đời thực chất nhằm huy động sức đóng góp của nhân dân với mục đích giảm nhẹ một phần cho ngân sách Nhà nước trong định mức để dành cho các hoạt động khác của GD và điều hoà kinh phí giữa các vùng thuận lợi và khó khăn Sự

2 ~ Luật GD 1998

Trang 35

duy trì va phát triển của loại hình này đòi hỏi các cơ sở mầm non phải thực sự có chất lượng cao mới thu hút được trẻ vào học

Trên thực tế, tại các thành phố và thị xã các cơ sở mầm non bán công hiện nay bao

gồm cơ sở bán công thành lập mới và cơ sở bán công chuyển từ công lập sang Riêng đối

với khu vực nông thôn, loại hình bán công chủ yếu được chuyển đổi từ loại hình dân

lập đo hợp tác xã nông nghiệp trước đây thành lập và quản lý Hiện nay chuyển sang UBND xã trực tiếp quản lý về mặt hành chính, cân đối các nguồn kinh phí (học phí,

ngân sách hỗ trợ, ) đầu tư xây dựng và chỉ kinh phí tổ chức hoạt động của nhà

trường (hiện nay một số địa phương chưa chuyển kịp trường MN nông thôn sang bán công nên vẫn không phân định rõ loại cơ sở mầm non nông thôn là bán công hay dân lập)

Tuy nhiên, tồn tại sự khác biệt trong chính sách đối với cơ sở bán công từ các

nguồn khác nhau chuyển sang: các cơ sở mầm non nông thôn sau chuyển đổi sang

bán công thì mỗi cơ sở chỉ được 4 biên chế hưởng lương từ nhà nước (Hiệu trưởng, Hiệu phó và 2 giáo viên nòng cốt), còn lại là cơ sở tự lo từ nguồn học phí rất hạn hẹp và luôn thất thu Còn các cơ sở công lập chuyển sang bán công (chủ yếu ở vùng thành thị) thì phần lớn cán bộ và giáo viên là biên chế nhà nước và vẫn tiếp tục được

hưởng lương từ ngân sách nhà nước Điều này đã tạo nên sự bất bình đẳng trong

chính sách giữa các GVMN trong cùng một loại hình

1.3 Cơ sở GD dân lập: " Cơ sở giáo dục dân lập do các tổ chức xã hội, xã hội-

nghề nghiệp, kinh tế xin pháp thành lập và đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước °,

Các cơ sở mâm non dân lập do một tổ chức kinh tế hoặc xã hội tổ chức điều

hành, đầu tư cơ sở vật chất, trả tiên công và chỉ cho các hoạt động thường xuyên Phòng GD&ĐT quận huyện quản lý về đội ngũ cán bộ giáo viên và chuyên môn

Thực tế tồn tại cơ sở mâm non dân lập do cơ quanlxí nghiệp tổ chức, đầu tư

và quản lý; cơ sở mâm non hiệp quản do cơ quanlxí nghiệp phối hợp với ngành GD

tổ chức, ngành GD ra quyết định thành lập, quản lý về chuyên môn, chỉ lương cho một số cán bộ giáo viên của ngành công tác tại cơ sở, còn cơ quan/xí nghiệp đầu tư

cơ sở vật chất, trang thiết bị, quản lý về sinh hoạt đoàn thể của cán bộ giáo viên và

Trang 36

chỉ trả lương cho một số cán bộ giáo viên mà cơ quan tuyển dụng; cơ sở mâm non nông thôn với cơ chế hoạt động chưa hoàn thiện, vốn là cơ sở thuộc điện 4 không: trường hoạt động nhưng không có quyết định thành lập trường, không có con đấu,

không có tài khoản riêng, không có kế toán thủ quữ Các cơ sở mâm non nông thôn không được hưởng định mức chỉ thường xuyên theo đầu trẻ như khu vực công lập

Hiện nay thu nhập của người nông dân còn thấp nên việc đóng góp học phí, kinh phí xây dựng sửa chữa cho nhà trường còn nhiều hạn chế Phương thức gửi con cũng

da dang: theo mùa vụ, theo buổi bán trú như nội thành, trẻ tự mang đồ ăn, hoặc ăn

tại trường tuỳ theo khả năng và nhu cầu của nhà trường và gia đình UBND xã trực

tiếp quản lý về mặt hành chính, cân đối các nguồn kinh phí (học phí, ngân sách hỗ trợ, ) đầu tư xây đựng và chỉ kinh phí tổ chức hoạt động của cơ sở

1.4 Cơ sở GD tư thục: " Cơ sở giáo dục tư thục do cá nhân hay một nhóm cá nhân

4

xin phép thành lập và tự đầu tu"

Tại chương L, điều 1 - “Qui chế trường, lớp mầm non tư thục” khẳng định:

"Trường, lớp mầm non tư thục là một loại hình giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do tư nhân được cấp có thẩm quyền cho phép thành lập và hoạt động theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo và pháp luật của Nhà nước, để thu hút số trẻ trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo

nhằm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục chuẩn bị cho trẻ vào trường tiểu học, góp phần

cùng Nhà nước chăm lo sự nghiệp giáo dục, đáp ứng yêu cầu xã hội" Loại hình tư thục trong GDMN bao gồm nhóm trẻ gia đình và trường lớp mầm non tư thục

Các cơ sở mâm non tư thục theo qui định do tư nhân/một nhóm tư nhân tổ

chức điêu hành, đâu tư cơ sở vật chất, trả tiên công và chỉ cho các hoạt động thường xuyên Phòng GD&ĐT quận huyện chủ yếu giám sát về chuyên môn

Trên thực tế ngành GD một số địa phương vì nhiều nguyên nhân thời gian qua chưa giám sát chặt chẽ về chuyên môn, chưa tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ

giáo viên bồi đưỡng thường xuyên

Trong mấy năm gần đây mạng lưới các cơ sở GDMN tư thục phát triển mạnh đặc biệt là các thành phố lớn, thực tế cho thấy hầu hết các cơ sở đủ tiêu chuẩn được cấp

3, 4— Luật GD 1998

Trang 37

giấy phép đều hoạt động tương đối ổn định, tuân thủ quy định quản lý của chính quyền

và ngành, tạo được uy tín cho phụ huynh Tuy nhiên vẫn còn một số địa phương loại

hình tư thục vẫn còn nhiều bất cập: nhiều cơ sở ở lẫn trong khu dân cư rất khó quản lý,

diện tích nhỏ hẹp, thiếu sân chơi, thiếu cơ sở vật chất, lớp học không đúng tiêu chuẩn, chế độ cho GV không ổn định, (tại Hà Nội có khoảng 70% các nhóm, lớp lẻ tư thục khong đủ tiêu chuẩn, khó quản lý); thời gian gần đây có một số trường mầm non tư thục do tư nhân người nước ngoài hoặc người Việt nam hợp tác với người nước ngoài

tổ chức, đây là loại hình mới chỉ có ở các thành phố lớn, Nhà nước Việt nam quản lý

về mặt pháp lý, thủ tục, còn về chuyên môn ngành GD chưa giám sát được

Một số địa phương không phát triển được loại hình tư thục: Theo số liệu điều tra trong 24 tỉnh/TP còn ít nhất 5 tỉnh chưa có cơ sở tư thục nào (Hà Giang, Nam Định, Ninh Bình, Bình Dương và Cà Mau) Nguyên nhân chính là do điều kiện KT-XH còn nhiều khó khăn, người dân chưa có nhu cầu hoặc có nhu cầu nhưng không có khả năng đóng góp kinh phí; chưa có cá nhân hay nhóm cá nhân nào mạnh dạn đứng ra đầu tư xây dựng trường/lớp

2 Qui mô phát triển các loại hình GDMN ngoài công lập giai đoạn 2001-2005

Trong những năm gần đây Bộ GD&ĐÐT đã chủ trương đẩy mạnh xã hội hoá

giáo dục, đa dạng hoá các loại trường lớp, đồng thời đa dạng hoá các nguồn lực đầu

tư cho GDMN Những quan điểm chỉ đạo đúng đắn đó đã góp phần tạo ra những

chuyển biến vẻ chất lượng GDMN trong thời gian qua và hơn bao giờ hết, đáp ứng với yêu cầu về con người trong xã hội tương lai Trong điều kiện KT-XH nước ta ngân sách Nhà nước có hạn thì chủ trương của Nhà nước cho phép mở trường, lớp

MN ngoài công lập là phù hợp tình hình thực tế, đấp ứng yêu cầu xã hội, tận dụng

khai thác được nguồn lực tiểm tàng trong nhân dân để đẩy mạnh phát triển GDMN,

đồng thời tạo cơ hội bình đẳng cho mọi trẻ em lứa tuổi MN được đến trường

Chủ trương của Nhà nước đa dạng hoá các loại hình GDMN đã góp phần hình thành một hệ thống GDMN ngoài công lập Việc quy hoạch mạng lưới và chuyển đổi loại hình theo Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg được tiến hành hầu hết

ở các địa phương Tuy nhiên mức độ, số lượng và cách thức thực hiện của mỗi tỉnh

có sự khác nhau do cách vận dụng Thông tư 05/TTLT của từng địa phương Các

tỉnh đã chú ý đến lộ trình chuyển đổi đi kèm một số quy định mang tính nội bộ về

tài chính, chuyển từ đân lập sang công lập (vùng đặc biệt biệt khó khăn, vùng sâu)

Trang 38

để không tái trở lại “xã trắng” về GDMN, chuyển từ công lập sang bán công tại vùng KT-XH phát triển ở khu vực thành phố, thị xã

Thực tế cho thấy, Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

và Quyết định số 45/2001/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ngày 26/12/2001 về việc công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001-

2005 đã thu hút sự quan tâm của lãnh đạo chính quyền các cấp đối với tất cả các loại hình mầm non, tạo nên hoạt động thi đua sôi nổi, tích cực giữa các tỉnh và giữa các trường trong việc đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng công tác của đội ngũ CBQL, GVMN Đây là vấn để quyết định sự phát triển vượt bậc của bậc học mầm non trong mấy năm gần đây, "Chính quyền nhiều xã, thị

trấn đẩy mạnh đầu tư cho GDMN, vì vậy cần phải nắm lấy thời cơ này để GDMN

tiếp tục phát triển, tạo điều kiện cho trẻ mầm non được CS-GD tốt hơn nữa, tuy nhiên phải thể hiện rõ chủ trương này trong các văn bản của Nhà nước là có sự đầu

tự của ngân sách Nhà nước cho GDMN thì các địa phương sẽ đầu tư" (ý kiến phát

biểu của Phó Chủ tịch UBND huyện Lâm Thao-Phú Thọ)”

Bảng 1: Các loại hình GDMN năm học 2004-2005

Công lập | Ngoài công Các loại hình ngoài công lập

lập Bán công Dân lập | Tư thục

chiếm tỷ trọng cao: 74,9% tổng số trẻ đi nhà trẻ và 55,2% tổng số trẻ di mẫu giáo

Theo bảng 1, trong 3 loại hình mầm non ngoài công lập thì loại hình bán công là phát triển nhất (chiếm 82,05%) Trong điều kiện KT-XH của nước ta hiện

nay, trường bán công là một mô hình phù hợp với GDMN trên nhiều địa bàn cả nước, cả ở thành thị và vùng nông thôn rộng lớn; là mô hình đang được địa phương

* - Toạđàm tại Sở GS&ĐT Phú Thọ, ngày 24/4/2006

Trang 39

đánh giá cao Vì loại hình này được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất ban đầu, việc

duy trì hoạt động có kinh phí thu từ phụ huynh, các nguồn hợp pháp khác, ngân sách nhà nước cấp bù trong trường hợp nguồn thu không đủ trả lương cho cán bộ giáo viên và một

số chỉ phí hành chính khác (theo qui định của Thông tư Liên bộ số 05/TTLT/BGD&ĐT-

BNV-BTC) Chính sách đó hoàn toàn phù hợp với tình hình KT-XH của các địa phương

trong giai đoạn hiện nay, nhờ đó số lượng các cơ sở ngoài công lập tăng nhanh; lôi cuốn

sự tham gia của các lực lượng xã hội, ban ngành hỗ trợ thực hiện mục tiêu GDMN, tạo

nên một “bước chuyển” mạnh mẽ của GDMN cả về cơ sở vật chất và chất lượng CS-GD trẻ Loại hình này đã tạo điều kiện thu hút trẻ đến trường, giảm sức ép cho các cơ sở công lập, giảm bới gánh nặng cho ngân sách nhà nước

Ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, nhiều cơ sở mầm non công lập đã chuyển sang bán công, trong đó có cả những cơ sở bán công có cơ sở vật chất, trang thiết bị tốt, thu hút được nhiều trẻ, là những cơ sở thực hiện nhiệm vụ trọng điểm về chuyên môn, đóng vai trò nòng cốt về chất lượng, đã và đang phát huy tác dụng to lớn trong công tác CS-GD trẻ

Biểu đồ 1 Tỷ lệ các loại hình GDMN ngoài công lập năm học 2004-2005

32

Trang 40

Nhận xét: Đối với bậc học mầm non, cho đến thời điểm cuối năm 2005, loại hình

mầm non bán công vẫn là loại hình ngoài công lập có tính ưu việt, bởi lẽ nó vừa phù

hợp với chủ trương của Nhà nước là đa dạng hoá các loại hình; vừa quán triệt tinh

thần xã hội hoá giáo đục; vừa đảm bảo tính tự chủ, nhà trường có thể phần nào tự quyết định chất lượng của chính mình; đồng thời nó là mô hình có tính khả thi đối

với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước ta hiện nay Do đó thời gian qua số lượng các cơ sở mầm non bán công đã tăng nhanh, ngày càng đáp ứng được nhu cầu của

các bậc phụ huynh có con tuổi mầm non

Việc chuyển đổi các loại hình mầm non, đặc biệt là chuyển các cơ sở bán

công sang các loại hình khác, sẽ tác động lớn đến tiến trình phát triển bậc học mầm

non Vì vậy không thể thực hiện vội vã, mà phải chuẩn bị chính sách, cơ sở vật chất

đảm bao cho su chin mudi khi triển khai thực hiện chủ trương này của Nhà nước

3 Một số bất cập của GDMN ngoài công lập

» Tuy số lượng trẻ MN được huy động ra lớp ngày càng tăng, nhưng tỷ trọng trẻ của một trong những loại hình ngoài công lập — trường lớp dân lập và tư thục là rất thấp:

đến cuối năm học 2004-2005 mới đạt 27,6% tổng số trẻ nhà trẻ và 14% tổng số trẻ mẫu giáo ra lớp

+ Khoảng cách GDMN ở nông thôn (nơi chủ yếu tồn tại các cơ sở ngoài công lập)

và thành thị, giữa các vùng miền khác nhau vẫn còn cách xa Số trẻ em miền núi,

vùng sâu do khó khăn nhiều mặt, cơ hội đến trường bị hạn chế, GDMN tại nhiều xã còn trong tình trạng rất yếu kém

» Cơ sở mầm non nông thôn: Sau khi có Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách phát triển GDMN, tại một số địa phương đã chuyển các cơ sở mầm non nông thôn hoạt động theo mô hình bán công, từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức theo luật định Nhưng tại một số địa phương vẫn chưa chuyển kịp các cơ sở này thành cơ sở bán công, có nghĩa là cho đến nay khi Luật GD 2005 có hiệu lực thì các cơ sở mâm non nông thôn tại một số địa phương với cơ chế hoạt động chưa hoàn thiện vẫn còn chưa có tên gọi đúng như

qui định trong Luật và chúng vẫn hoạt động không giống loại hình nào trong 3 loại

hình được phép tôn tại hiện nay (công lập, đân lập, tư thục- Luật GD 2005)

Ngày đăng: 24/03/2018, 03:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w