1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu cơ sở lý LUẬN và THỰC TIỄN đảm BẢOAN NINH LƯƠNG THỰC TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH cơ cấu KINH tế làm GIẢM DIỆN TÍCH đất RUỘNG lúa

82 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 2,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương I: Tổng quan về an ninh lương thực Những quan điểm chung về an ninh lương thực Đảm bảo tiếp cận lương thực Chương II: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và việc chu

Trang 1

BO TAI NGUYEN VA MÔI TRƯỜNG TRUNG TAM DIEU TRA QUY HOACH DAT DAI

BAO CAO KET QUA DE TAI ; NGHIEN CUU KHOA HOC VA CONG NGHE CAP BO

Tên đề tài: " Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn đảm bảo an ninh

lương thực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

làm giảm diện tích đất ruộng lúa"

Chủ nhiệm đề tài: 7S Nguyên Đức Minh

HÀ NỘI, THÁNG 9 NĂM 2004

Trang 2

BO TAI NGUYEN VA MOI TRUONG RUNG TAM DIEU TRA QUY HOACH DAT DAI

BAO CAO KET QUA DE TAI

NGHIEN CUU KHOA HOC VA CONG NGHE CAP BO

Tên đề tài: "Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiến đảm bảo an ninh

lương thực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

làm giảm diện tích đất ruộng lúa"

Hà Nội, ngày “6 tháng 44 năm 2004 Hà Nội, ngày 29 tháng ⁄4 năm 2004

KT GIAM DOC TRUNG TAM DIEU TRA QUY HOACH DAT DAI

a |

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

KT VỤ TRƯỞNG VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 3

DANH SACH NHUNG NGUOI THUC HIEN

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Đức Minh

Danh sách những người thực hiện chính:

chuyên môn Ninh Minh Phương Thạc sỹ QLĐĐ_ | Trung tâm Điều tra Quy hoạch

đất đai Nguyễn Ngọc Hà Kỹ sư Thuỷ sản | Viện Chiến lược phát triển

Phạm Đình Tá Cử nhân Kinh tế | Viện Chiến lược phát triển

Nguyễn Thành Tân Kỹ sư Kinh tế Trung tâm Điều tra Quy hoạch

đất đai

Tôn Tích Lan Giao Kỹ sư QLDD Trung tâm Điều tra Quy hoạch

đất đai Nguyễn Danh Hùng K¥ su QLDD | Vụ Kế hoạch tài chính

Trang 4

Chương I: Tổng quan về an ninh lương thực

Những quan điểm chung về an ninh lương thực

Đảm bảo tiếp cận lương thực

Chương II: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

và việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp nói chung và

đất ruộng lúa nước nói riêng sang mục đích phi nông nghiệp

Tầm nhìn dài hạn về sử dụng đất đai cả nước

Triển vọng phát triển kinh tế, xã hội

Tầm nhìn dài hạn về sử dụng quỹ đất (năm 2020)

Đất chưa sử dụng và khả năng dùng vào nông lâm nghiệp

Dat lam nghiép

Đất đô thị và khu dân cư nông thôn

Trang 5

Quy hoạch đến năm 2010

Chương II: Chuyển mục đích sử dụng đất ruộng lúa trong

phạm vi nông, lâm, ngư nghiệp và vấn đề an ninh lương thực

Thực trạng tiêu thụ lúa gạo

Tiêu dùng trong nước

Vấn đề xuất khẩu gạo

Hiệu quả sử dụng đất ruộng lúa

Hiệu quả sản xuất lúa gạo

Hiệu quả sử dụng đất ruộng lúa vào các mục đích sử dụng khác

trong nội bộ nhóm đất nông nghiệp

Dự báo khả năng sản xuất lúa

Dự báo về năng suất lúa

Dự báo về diện tích đất ruộng lúa và hệ số sử dụng đất

Dự báo khả năng sản xuất lúa

Dự báo nhu cầu lương thực và khả năng cho phép chuyển mục đích

sử dụng đất ruộng lúa trong nội bộ nhóm đất nông nghiệp

Trang 6

PHAN MO DAU

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành

phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân

cư, xây đựng kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng

Đất đai luôn là vấn đề lớn mà các nhà nước đều quan tâm, trong đó có vấn

để sử dụng đất đai nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Vấn đề an ninh lương thực luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta coi đây là một nhiệm vụ chiến lược, sau nhiều thập kỷ nỗ lực giải quyết bằng các biện pháp mở rộng đất nông nghiệp, tăng vụ nhằm tăng diện tích gieo trồng, tăng năng suất bằng sử dụng giống mới, thủy lợi hoá v.v Đến nay chúng ta từ một nước thiếu lương

thực phải nhập khẩu đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Tuy nhiên hiện nay chúng ta đang đứng trước một thực tế, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo quy luật sẽ lấy vào đất ruộng lúa Mặt khác, những thành

tựu trong sản xuất lương thực đã tạo tiền để để nông nghiệp chuyển sang sản

xuất hàng hoá, đa dạng hoá sản xuất và tuân theo quy luật của nên kinh tế thị trường, đất ruộng lúa sẽ được nông dân sử dụng sao cho có hiệu quả kinh tế cao nhất Quá trình này hiện nay nhiều nơi diễn ra một cách tự phát và thực tế hiện nay vấn để đảm bảo an ninh lương thực trong điều kiện phải giảm đất nông nghiệp phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chủ động giảm diện

tích đất ruộng lúa phục vụ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa có đề tài

nào nghiên cứu

Trong quá trình công nghiệp hoá nước nào cũng phải chuyển một phần đất nông nghiệp để chuyển địch cơ cấu kinh tế tuy nhiên điều kiện tự nhiên và kinh

tế - xã hội của các nước khác nhau do vậy về vấn đề này chỉ áp dụng cho từng nước cụ thể

Xuất phát từ nhu cầu thực tế đặt ra đề tài với tiêu đề: “Mghiên cứu cơ sở

lý luận và thực tiên đảm bảo an nình lương thực trong quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế làm giảm diện tích đất ruộng lúa”

- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

+ Dự báo được diện tích đất ruộng lúa phải chuyển mục đích sử dụng

(chuyển sang đất chuyên dùng, đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn) phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

+ Để xuất đất ruộng lúa tối thiểu phải bảo vệ để đảm bảo an ninh lương thực và diện tích đất ruộng lúa có thể chuyển mục đích sản xuất phục vụ chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

Trang 7

- Nội dung nghiên cứu của đề tài:

+ Tổng quan về an ninh lương thực

+ Sản xuất lương thực và an ninh lương thực của nước ta

+ Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp nói chung và đất ruộng lúa nói riêng sang mục

đích sử dụng khác

+ Chuyển mục đích sử dụng đất ruộng lúa trong phạm vi nông, lâm, ngư

nghiệp và vấn đề an ninh lương thực quốc gia

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã áp dụng

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Trong vấn đề an ninh lương thực đề tài

giới hạn phạm vi nghiên cứu tập trung vào đất ruộng lúa nhằm mục tiêu đủ lương

thực để cung cấp và khái niệm lương thực cụ thể là lương thực có hạt (đối với

nước fa là thóc và ngô)

Đề tài có kết cấu gồm:

Phần mở đầu

Chương 1: Tổng quan về an ninh lương thực

Chương 2: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và việc chuyển mục đích sử đụng đất nông nghiệp nói chung và đất ruộng lúa nói riêng sang mục đích sử dụng khác

Chương 3: Chuyển mục đích sử dụng đất ruộng lúa trong phạm vi nông, lâm, ngư nghiệp và vấn đề an ninh lương thực quốc gia

Phần kết luận và kiến nghị

Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để vận dụng trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất cả nước, các vùng và các địa phương khi chuyển mục đích sử dụng đất ruộng lúa phục vụ chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nhưng vẫn đảm bảo an ninh lương thực và là tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy tại các trường đại học về quản lý đất đai

Trang 8

CHUONG I:

TONG QUAN VE AN NINH LUGNG THUC

I NHUNG QUAN DIEM CHUNG VE AN NINH LUONG THUC

Bao đảm an ninh lương thực là một nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vu chiến

lược trong chính sách ổn định và phát triển của đất nước

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới và sự nỗ lực to lớn của nhân dân, hàng

chục năm nay nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, sản

xuất lương thực có tốc độ phát triển khá nhanh, tương đối vững chắc và là một

trong những thắng lợi nhất trong phát triển kinh tế những năm qua Nhờ đó đã giải quyết cơ bản vấn đề ăn của toàn xã hội, có lương thực dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định tình hình kinh tế - xã hội, tạo ra khả năng mới chuyển nên nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, theo hướng đa dạng hoá chú ý đến hiệu quả sản xuất và hiệu quả sử dụng đất

An ninh lương thực có nghĩa là “đảm bảo cho mọi người ở mọi lúc, mọi nơi có đủ lương thực cơ bản mà họ cần cho cuộc sống sức khoẻ, đủ năng lượng

và đinh dưỡng cần thiết”

Quan niệm an ninh lương thực bao gồm 3 yếu tố:

- Tính sẵn có (đủ lương thực để cung cấp)

- Tính ổn định cung ứng

- Tính tiếp cận (bảo đảm cho mọi người có khả năng mua lương thực) Trước hết khái niệm lương thực bao gồm: lương thực (gạo, ngô, khoai, sắn, các chất bột khác) và các loại thực phẩm: cá, thịt, trứng, sữa, các loại đậu, lạc, vừng, các loại rau, quả, các đồ uống Song, ở Việt Nam ta hiện nay, lương

thực còn đang là thành phần chủ yếu trong bữa ăn của nhân dân; trước hết phải bảo đảm cho nhân dân “có đủ cơm ăn”, không bị đói, đồng thời tạo điều kiện để tăng các đồ ăn có dinh dưỡng cao hơn: thịt, cá, trứng, sữa, rau, quả, cây có dầu, nói cách khác bảo đảm có đủ gluxit, lipit, protit hợp lý - bảo đảm yêu cầu dinh dưỡng tốt hơn trong bữa ăn của nhân đân ta Trước hết là có đủ ăn và phấn đấu

để có bữa ăn ngon hơn Hơn nữa từ lương thực sẽ tạo cơ sở để các thành phần

khác như gia tăng sản xuất chăn nuôi, rau quả cho nên nếu hiểu an ninh lương

Trang 9

thực, trước hết là có đủ lúa, gạo, các chất bột cũng là thực tế và rất cần thiết Tất nhiên không nên hiểu an ninh lương thực đồng nghĩa với chỉ đủ lúa gạo và các chất bột

1 Tính sẵn có: bao gồm tự sản xuất lương thực thực phẩm, hoặc sản xuất sản phẩm khác để trao đổi (hoặc xuất khẩu) lấy lương thực thực phẩm, bảo đâm

có đủ số lượng và chất lượng cần thiết đáp ứng yêu cầu của dân cư trong nước Đây là yêu cầu quan trọng nhất cần có để thực hiện yêu cầu an ninh lương thực của mỗi quốc gia

Về mục tiêu này cần đánh giá nhu cầu lương thực của nhân dân cần đáp ứng Cần xem xét trên phạm vi cả nước và khu vực về cân đối cung cầu lương

thực, xem xét mức lương thực trung bình theo dau người trong mối tương quan với các nhu cầu về năng lượng và đạm của nhân dân, mức sản xuất lương thực,

sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp để xuất khẩu, sự thay đổi trong sản

xuất và trong thương mại các cấp cũng cần được xem xét, không phải theo quan

điểm tự cấp tự túc mà theo quan điểm mới mới tự giải quyết được lương thực

+ Để đảm bảo vững chắc cho an ninh lương thực thế giới một cách thường

xuyên, cần phải theo dõi có hệ thống các chính sách sản xuất Sự phân tích và tác

động không chỉ dựa vào tình trạng cung cầu kịp thời mà còn xem xét chiều hướng

phát triển và những chính sách chung có tầm cỡ quốc gia và thế giới

+ Những chính sách lương thực được thực hiện trước đây và làn sóng kỹ

thuật được thâm nhập với những người sản xuất lương thực, dẫn đến một sự hạ giá lương thực ở thị trường thế giới Tuy điều này còn có ảnh hưởng, nhưng với

nhu cầu tiêu dùng lương thực đang phát triển mạnh hơn tốc độ phát triển sản xuất nên dự kiến có thể thời gian tới việc nhập khẩu lương thực theo mức dự báo

sẽ chịu giá đất hơn trước Hai yếu tố có thể tác động cho nhận xét trên là sự tăng

giá thành sản xuất để xuất khẩu và sự tăng sức ép đối với giá từ mọi nguồn tài

nguyên và môi trường Trong những hoàn cảnh như vậy, những tác động thực tế

đối với an ninh lương thực thế giới còn lớn và sự phân chia gánh nặng này ở tầm thế giới còn khó khăn nhiều hơn so với trước

+ Sự tăng cường tiềm năng sản xuất ngũ cốc đối với các nước có thu nhập

thấp và thiếu lương thực đòi hỏi một sự quan tâm đặc biệt Không phải do những

lý do kỹ thuật mà phần lớn các nước này không thể tự giải quyết được nhu cầu

phát triển của cuộc sống Lý do phức tạp hơn mà người ta mới nhận thấy cách

Trang 10

đây một số năm Những vấn để không thể giải quyết được dễ dàng hay nhanh

chóng đã xuất hiện càng ngày càng rõ ràng, như làm sao nâng cao mức sống của các hộ nông dân nhỏ và của những người có đất đai, khí hậu không thuận lợi

hoặc ở những vị trí cách biệt? Làm sao mà bảo đảm được giá khuyến khích nông đân sản xuất mà không ảnh hưởng đến đời sống dân nghèo thành thị? Làm sao nuôi được số dân thành thị ngày càng tăng nhanh chóng mà nguồn lương thực

thường chủ yếu giải quyết bằng nhập khẩu lúa mỳ? Làm sao mà phát triển vốn cho nông dân khi ngân sách đã hết ?

+ Để giải quyết an ninh lương thực, ngay từ đầu người ta đã tập trung chính vào ngũ cốc, đó là lương thực cơ bản, nhưng trong tương lai cần phải tiếp cận rộng hơn và chú ý thêm cả những vấn đề sản xuất rau, củ, sữa, thịt, thuỷ sản,

gia cầm và những thức ăn khác

+ Việc tự túc tự cấp hoàn toàn lương thực không phải là mục tiêu để theo

đuổi đối với các nước không có điều kiện khí hậu nông nghiệp thích hợp Tính chất của khí hậu và đất đai cũng như những điều kiện chính trị và kinh tế là

những yếu tố giúp xác định mức độ tự giải quyết được lương thực thực phẩm bằng nhiều loại cây trồng và gia súc Mặc dầu sự phát triển nông nghiệp ở các

nước đang vượt qua những trở ngại ngày càng lớn, nhiều nước thấy cần phải tiếp tục nhập một phần lương thực cần thiết hơn là cố gắng tự giải quyết lương thực

cho nước mình, với điều kiện có khả năng tài chính để nhập

2 Tính ổn định cung ứng

Do điều kiện kinh tế - xã hội và địa bàn sản xuất tiêu dùng khác nhau; hơn

nữa trong điều kiện sản xuất hàng hoá, vận hành theo cơ chế thị trường, do đó để lương thực thực phẩm đến được với người tiêu dùng đồi hỏi phải giải quyết tốt các khâu lưu thông, vận chuyển, chế biến, bảo quản Nói cách khác là bảo đảm cho các đồng lương thực, thực phẩm được lưu thông thông suốt từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng thường xuyên và ổn định Làm được điều này chính là thực

hiện ổn định cung cấp (cung ứng) lương thực

On định việc cung cấp lương thực:

Là khả năng giải quyết các giao động về cung cấp lương thực trong năm,

và khi có yêu cầu khẩn cấp để bảo đảm cung cấp lương thực cho những vùng thường thiếu Với hoàn cảnh của nước ta cứ khoảng trong 4 năm thì có l năm nông nghiệp Việt Nam phải chịu các điều kiện khí hậu không thuận lợi thêm vào

Trang 11

khả năng sản xuất lương thực không đồng đều ở các vùng, nguồn dự trữ lương thực bị thiếu khả năng cung cấp không đủ làm cho giá lương thực dao động và

de doa an ninh lương thực của nhóm người có thu nhập thấp, trong suốt thời

kỳ thiếu lương thực

+ Nhìn chung việc ổn định cung cấp còn nhằm cho cả những năm tiếp

theo, vì sự không ổn định năm này đè nặng lên những năm khác do những lý do như sau:

- Chu kỳ biến động của cung và cầu trên thị trường thế giới về sản phẩm

lương thực

- Sự mở rộng diện tích trồng trọt ở những vùng đất mới

- Những chính sách nông nghiệp của nhiều nước

- Sự đao động về năng suất ngày càng tăng

- Những khó khăn trong dự trữ nên không bảo đảm được những trữ lượng cần thiết

- Việc giải quyết xây dựng những kho dự trữ cần thiết cho từng quốc.gia, khu vực và thế giới là những hoạt động thiết yếu cho an ninh lương thực thế giới

+ Những ý kiến đang được nêu ra và bàn cãi ở các vòng đàm phán Urugoay của các nước G7 trong đó có việc xoá bỏ hàng rào thuế quan vốn đang

rất chặt chẽ để bảo vệ sản xuất lương thực trong nước để tiến tới thả nổi thị trường lương thực, sẽ có thể dẫn đến những đảo ngược hoàn toàn thị trường lương thực cả về sản xuất, tiêu thụ và giá cả làm ảnh hưởng rất lớn đến việc lưu

thông lương thực trong cả các nước sản xuất, xuất khẩu cũng như tiêu thụ và

nhập khẩu lương thực, làm mất ổn định cung cấp lương thực trong phạm vi thế

giới và các khu vực

+ Những khủng hoảng về lương thực trong tương lai có thể trong phạm vi mỗi nước hay từng khu vực; những năm gần đây đã tác động đặc biệt ở Châu Phi

nhưng ở những vùng khác cũng chưa an ninh Những sự khủng hoảng tái diễn ở

những nước không giải quyết được sản xuất ngũ cốc hay ở những nước thường bị

thiên tai là những mối lo

+ Ở nhiều nước vấn đề khủng hoảng lương thực là do thiếu cơ sở hạ tầng

cho thương nghiệp, vận tải và bảo quản; kinh nghiệm cho thấy ở Châu Phi do

khó khăn trong thương mại vận chuyển mà có vùng thừa, có vùng rất thiếu; Hơn

Trang 12

nữa không có hệ thống bảo quản, nhiều nước không thực hiện được những dự trữ cần thiết cho những năm thiếu thốn Trong nhiều nước đang phát triển, việc cải

tiến hệ thống thương mại và hạ tầng cơ sở có thể điều chỉnh, tránh được những

sự khủng hoảng từ năm này sang năm khác Hơn nữa lương thực thừa không

dùng hết thường làm hạ giá sản phẩm và làm cho nông dân thiếu hào hứng để sử dụng các biện pháp tăng năng suất, cải tiến cơ sở vật chất kỹ thuật; cần tạo khả

năng tiêu thụ

+ Việc thực hiện các chính sách cần thiết, có thể phát triển sự ổn định

cung cấp với nguồn trong nước, nhưng sự trợ giúp lương thực còn có vị trí rất

quan trọng để đáp ứng yêu cầu khẩn cấp của các nước đang phát triển Vì vậy

cần phải tìm cầu nối giữa những trợ giúp khẩn cấp và việc thực hiện các mục tiêu

của an ninh lương thực một cách đài hạn

3 Tính tiếp cận: Có sẵn lương thực thực phẩm, tổ chức lưu thông cung ứng ổn định, nhưng như vậy chưa đủ để đảm bảo an ninh lương thực đối với mọi

người, ở mọi thời điểm Mục tiêu cuối cùng của an ninh lương thực là “Bảo đảm

cho mọi người, ở mọi thời gian đều có được đủ lương thực thực phẩm cần thiết cho một cuộc sống lành mạnh” Đương nhiên mức độ an ninh theo ý niệm trên ở

mỗi quốc gia, mỗi vùng kinh tế, mỗi nhóm dân cư cũng khác nhau, nhưng cơ bản

là đảm bảo cho mọi người không bị đói, không bị suy dinh dưỡng

Việc tiếp cận cung cấp lương thực:

Kinh nghiệm cho thấy rằng việc tăng sản lượng lương thực và ổn định việc cung cấp lương thực có thể phát triển, nhưng không thể bảo đảm an ninh lương

thực cho người nghèo Việc tăng sản lượng nông nghiệp nói chung có làm giảm

đói nghèo ở nông thôn nhưng không phải luôn luôn như vậy và không phải cho

Nói chung ở vùng nông thôn nếu các hộ nông dân có điều kiện đất đai,

những cơ sở vật chất và những nguồn phục vụ sản xuất khác như tín dụng, sức

kéo, giống, phân bón thì họ mới có lợi khi nông nghiệp phát triển

Ở các vùng thành thị khi sự phân phối bao cấp không còn nữa thì các gia đình có đủ lương thực hay không là tuỳ thuộc vào thu nhập

Việc tạo điều kiện cho nhân dân tăng thu nhập bằng cách tham gia các hoạt động kinh tế là một trong những việc cần quan tâm lớn

Trang 13

+ Nói chung không có sự bảo đảm an ninh lương thực vững chắc khi vấn

đề tiếp cận của các gia đình về lương thực chưa được giải quyết

Cần quan tâm thích đáng việc bảo đảm sản xuất lương thực để đáp ứng người tiêu dùng mà không thừa ế Về chiến lược phải có chính sách bảo đảm một

sự phát triển cân đối, một sự phân phối công bằng về lợi tức cũng như sự hạ thấp

số người nghèo khổ Sự phát triển của các hộ nông dân nhỏ nhờ sự phân phối tốt

tài nguyên, nhất là đất đai, vốn tín dụng, phương tiện sản xuất, kỹ thuật thích hợp Cần phát huy mọi khả năng tối đa để tạo công ăn việc làm cho người lao động nông thôn không có đất đai; quan tâm thích đáng việc phát triển công nghiệp ở nông thôn nhất là loại đòi hỏi nhiều lao động; việc phát triển các chường trình công cộng ở nông thôn, cũng góp phần giải quyết lao động

Những biện pháp chính sách đặc biệt tác động vào sự nghèo khổ thành thị đều

rất quan trọng

+ Với những hoạt động ngắn hạn, có thể thực hiện về tiếp cận lương thực

như: những chương trình thù lao lương thực, thực phẩm theo công việc, sự bảo

đảm phân phối của nhà nước những sản phẩm chính như lương thực, dầu mỡ, đường với giá và định lượng qui định, bảo đảm đủ đinh dưỡng và sức khoẻ; việc mở các cửa hàng giá hạ hợp tác với tư thương trong lưu thông; chương trình

lương thực thực phẩm có chất lượng; những chương trình giải quyết bữa ăn trưa

không mất tiền cho học sinh phổ thông; và hàng loạt vấn để khác như những phương thức phân phối (cho không, giá hạ, phân loại đối tượng ), những chương trình cứu trợ người nghèo tuỳ theo khả năng tài chính nhà nước và hoàn cảnh của từng nước

+ Thực hiện chính sách lương thực đối với tầng lớp quá nghèo trong cộng

đồng, rất tốn kém, nhất là khi phải bao cấp lớn Đó là một gánh nặng cho nhà

nước Trong những năm gần đây, một số nước đã thực hiện; như vậy việc giải

quyết mục tiêu trợ giúp để có đủ lương thực là rất cần thiết Việc nghiên cứu để thực thi các mục tiêu xã hội, chính sách cung ứng lương thực thực phẩm có thể

kích thích việc sản xuất trong nước Muốn vậy cần xác định cụ thể đối tượng, thu

hẹp lại và không để tên tại những đối tượng thật sự không có yêu cầu

+ Những chính sách lương thực có thể đạt kết quả khi tuân theo 3 nguyên

tắc: được tài trợ, có sự điều hành của nhà nước và phù hợp với mục tiêu và những chính sách xã hội của mỗi nước và sau cùng là không có biểu hiện tiêu cực đối với sản xuất lương thực trong nước.

Trang 14

I THỰ TRẠNG VỀ AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA NƯỚC TA THỜI GIAN QUA

1 Đủ lương thực để cung cấp

Việt Nam có 75% dân số sống ở nông thôn, sản xuất lương thực là chủ đạo, chiếm tỷ trọng 63,9% trong tổng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt, trong khẩu phần ăn của người Việt Nam gạo vẫn giữ vai trò chủ yếu (chiếm 66% tổng giá trị năng lượng tính được từ lương thực, thực phẩm dùng trong khẩu phần ăn ở Việt

Nam năm 2002) nên vấn đề sản xuất lúa gạo trong an ninh lương thực trở nên cực

kỳ quan trọng

Lúa là cây lương thực được trồng chủ yếu ở Việt Nam, người Việt Nam đã

có tập quán, kinh nghiệm trồng lúa từ thời Hùng Vương dựng nước ở phía Bắc

(đồng bằng sông Hồng) và từ thế kỷ 17 khi nhà Nguyễn tiến vào khai thác vùng đồng bằng ven biển miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long; Trong cơ cấu bữa

ăn của người Việt Nam bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước: đó là một cơ cấu ăn thiên về thực vật Và trong thực vật thì lúa gạo là thành phần đứng đầu bảng Quê hương của cây lúa là vùng Đông Nam Á thấp ẩm, trong khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam là nơi cây lúa phát triển từ rất sớm Từ phương Nam, cây lúa đã thâm nhập dần lên vùng sông Hoàng Hà là nơi chỉ quen trồng đậu, mạch Cây lúa lại có nhiều loại: nếp, tẻ, mùa, chiêm Trong

số các loại lúa, khi xưa, người Việt cổ dùng lúa nếp là chính, trong lúa tẻ thì lúa

mùa là chính Cây lúa cần nhiều nước nên ban đầu, chỉ có một vụ lúa vào mùa

mưa (Hè - Thu) gọi là lúa mùa (4 mùa trong năm - mùa trồng lúa - lúa mùa - mùa

màng) Về sau có thêm loại lúa có khả năng chịu hạn vào mùa khô (Đông - Xuân) gọi là lúa chiêm Lúa chiêm xuất xứ từ vùng Chiêm Thành nên có câu thành ngữ

"Chiêm nam, mùa Bắc" Đến đời Tống, nhà cầm quyền Trung Hoa còn sai sứ đem châu báu sang An Nam đổi lấy lúa Chiêm mang về sử dụng

Năm 1942, với diện tích 4,7 triệu ha, năng suất 1,27 tấn/ha, sản lượng 6 triệu tấn, bình quân đầu người ở nước ta đạt 272 kg thóc/năm

Giáo sư Đỗ Ánh cho biết Việt Nam đã là nước xuất khẩu gạo từ rất lâu:

Năm 1880 - xuất 300.000 tấn, năm 1929 - xuất 1,9 triệu tấn, năm 1940 - xuất 1,5

triệu tấn; Có được lượng gạo để xuất khẩu này là do các tỉnh phía Nam, dân số ít,

bình quân lương thực đầu người cao như: Sóc Trăng 1.300 kg; Bạc Liêu, Rạch

Trang 15

Giá 1.000 kg; Long Xuyên 950 kg; Trà Vinh 870 kg; Gò Công 860 kg; Cần Tho

810 kg

Sau cách mạng tháng Tám, năng suất lúa đạt 1,6 - 1,7 tấn/ha vào những

năm 1947 - 1952 Năm 1957 hoàn thành cải cách ruộng đất, ở miền Bắc năng

suất lúa tăng từ 1,8 tấn/ha năm 1957 lên 2,28 tấn/ha năm 1959; nhưng đến năm

1960 thì năng suất lúa tụt dần Năm 1987 năng suất lúa đạt 2,7 tấn/ha Nhìn

chung trên toàn quốc sau 28 năm (1959 - 1987) mỗi ha lúa chỉ tăng 420 kg thóc,

nhiều nơi không đủ thóc phải sống dựa vào cây màu: Lai Châu màu chiếm 40%, Sơn La: 46%, Mù Căng Chải trong 200 kg lương thực/người thì ngô, sắn đã chiếm 70% Cao Bằng hàng năm thiếu 800 tấn gạo, Bắc Thái năm 1990 thiếu 2 vạn tấn gạo Hậu quả là: từ năm 1976 - 1980: phải nhập 5,6 triệu tấn gạo; 1981 -

1985 phải nhập 1,5 triệu tấn gạo; 1986 - 1988 hàng năm phải nhập hàng chục vạn tấn gạo Năm 1988 vận chuyển 30 vạn tấn gạo từ miền Nam ra miền Bắc đã

VỊ đến năm 2000, diện tích và sản lượng lúa tăng liên tục hàng năm với tốc độ

bình quân mỗi năm 2,45% về diện tích và 5,5% về sản lượng, không có năm nào giảm; nhưng từ 2001 đến 2003 sản xuất lúa đã xuất hiện xu hướng khác: điện tích giảm, sản lượng tăng không đáng kể hoặc không tăng Đây là nét mới trong sản xuất nông nghiệp khác hẳn các năm trước đó

Tóm lại, 60 năm qua sản xuất lúa của Việt Nam đã có bước phát triển tích cực, trước năm 1989 Việt Nam còn là nước nhập khẩu gạo, thì nay đã là nước xuất khẩu gạo Sản xuất lương thực nuôi được số dân tăng gấp 3,2 lần so với năm 1945 Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc tăng sản lượng nông nghiệp và cung cấp lương thực kể từ khi công cuộc cải cách

kinh tế được bắt đầu vào cuối những năm 80

Trang 16

Có thể nói, đối với Việt Nam an ninh lương thực là phải có đủ và dư

thừa thóc gạo Muốn vậy phải giữ được quỹ đất lúa xấp xỉ như hiện nay khoảng trên dưới 4 triệu ha, đồng thời tăng cường đầu tư cho thuỷ lợi, giống

mới, phòng trừ sâu bệnh, tăng cường phân bón, thâm canh tăng vụ và tăng

năng suất là hướng chính

Thành tựu nổi bật nhất về phát triển nông nghiệp trong những năm qua là

đã giải quyết cơ bản được vấn đề lương thực cho toàn xã hội, không những đủ

ăn, có lương thực dự trữ quốc gia, phát triển chăn nuôi mà mỗi năm còn xuất khẩu được trên dưới 3 triệu tấn gạo Năng suất lúa tăng 2,8%/năm; sản lượng

bình quân đạt 29,4 triệu tấn/năm

Lượng cung cấp gạo trong nước tăng trong thập kỷ 90 đã có ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh lương thực của Việt Nam Sản lượng lúa bình quân tăng từ

370 kg/người năm 1997 lên 419 kg/người năm 2000, sau đó giảm xuống 406 kg/người năm 2001, năm 2002 đạt 432 kg/người và năm 2003 là 429 kg/người

Năm 2003, hai vùng lúa trọng điểm của cả nước đều đạt được năng

suất và sản lượng cao:

- Vùng đồng bằng sông Hồng diện tích gieo trồng lúa cả năm là 1.044.400

ha, năng suất 48,6 tạ/ha, sản lượng đạt 5.074.800 tấn

- Vùng đồng bằng sông Cửu Long, diện tích gieo trồng lúa cả năm là

3.472.800 ha, năng suất 40,2 ta/ha, sản lượng đạt 13.964.500 tấn, chiếm tỷ trọng 50,51% sản lượng thóc của cả nước

Tính đến nay đã có 9 tỉnh đạt sản lượng lương thực hàng năm trên Ì triệu

tấn là: Thái Bình, Thanh Hoá, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Cần

Thơ, Sóc Trăng và Kiên Giang, trong đó tỉnh An Giang có sản lượng lương thực cao nhất nước, đạt trên 2 triệu tấn Những vùng trọng điểm lương thực

của cả nước vẫn giữ được sự ổn định và tăng trưởng cao nhờ các biện pháp

thâm canh tăng năng suất, thuỷ lợi, đưa giống mới và các tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất

Cơ cấu mùa vụ đã được nhiều địa phương bố trí lại để tránh né các biến động bất lợi về thời tiết (chủ yếu là hạn hán, lũ lụt) và tăng vụ như: mở rộng vụ

hè thu ở các tỉnh Bắc Trung bộ, sắp xếp lại chế độ canh tác 3 vụ lúa ở các tỉnh phía Bắc vùng Nam Trung bộ, mở rộng điện tích lúa mùa sớm để tăng vụ đông ở

Trang 17

các tỉnh miền Bắc, tiếp tục chuyển vụ lúa nổi năng suất thấp bấp bênh thành 2 vu lúa Đông - Xuân và Hè - Thu d6 năng suất cao và ổn định ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long

2 Sự ổn định cung cấp lương thực

Xét vẻ sản xuất để bảo đậm an ninh lương thực, có thé dé nhận thấy rằng: trong nửa cuối thế ký 20, nói chung hàng năm sản lượng nông nghiệp của thế giới tăng nhanh hơn mức tăng tủa dân số thế giới Sang thế kỷ 2I, với việc các

quốc gia tăng cường thực hiện chính sách dân số, chắc rằng mức tăng hàng năm của dân số thế giới sẽ tiếp tục

tăng trưởng hàng năm của sản

mà còn được nâng cao

Hầu hết các quốc gia trên

để ổn định việc cung cấp lương

ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt

cũng không nằm ngoài quy luật

Việt Nam là một nước nô

triển, sản lượng hàng năm tăng

không đồng đều ở các vùng, s

khu công nghiệp tập trung đông

ở Việt Nam vẫn mang tính thời

và kỳ giáp hạt giữa tháng Ba vì

giảm, trong khi đó nhờ các công nghệ cao, mức

lượng nông nghiệp chẳng những được giữ vững,

thế giới đều có tổ chức và chính sách lương thực

thực cho toàn xã hội, vì đó là nhu cầu thiết yếu, lộng kinh tế, chính trị của đất nước Việt Nam

trên

ng nghiệp, sản xuất lương thực đang trên đà phát

nhưng chưa thực sự vững chắc, kết quả đạt được

ï nhân khẩu phi nông nghiệp ở thành thị và các , cũng cấp gạo và các sản phẩm lương thực khác

vụ Giá lương thực tăng trong các tháng giáp Tết

\ tháng Năm, và giảm xuống trong kỳ thu hoạch chính giữa tháng Chín và tháng Mười Mội Giá lương thực trong quý I thường cao hơn các quý cuối năm kho

động nhiều hơn so với thành ph

chế thị trường cần chú ý để khắc

nhiều năm qua đã góp phần làm |

Tình hình ổn định cung

Trước năm 1989, Việt N

quản lý thu mua và phân phối

nông nghiệp điều hoà phan phé

kết hợp với phân phối theo lao

quân đội, cán bộ công nhân vié

ñng 15% Giá lương thực ở Hà Nội thường biến

6 H6 Chí Minh đó là những nhược điểm của cơ

phục Tuy nhiên sản lượng gạo tăng ổn định trong

bình ổn giá và lượng lương thực cung cấp

cấp lương thực ở Việt Nam thời gian qua:

am thực hiện chính sách Nhà nước thống nhất ương thực Ở nông thôn, các hợp tac x4 (HTX)

¡ lương thực cho nông dân theo nhu cầu cơ bản động Ở thành thị, Nhà nước bán lương thực cho

n chức và người dân phi nông nghiệp khác theo chỉ tiêu kế hoạch, với giá quy định Ngành lương thực được tổ chức thống nhất từ

Trung ương tới địa phương thed cơ chế bao cấp đã đảm bảo ổn định lương thực 12

Trang 18

cho xã hội, không xẩy ra nạn đói Nhưng việc duy trì quá lâu chính sách này đã

dẫn đến hậu quả: do bị thu mua với giá thấp, người nông dân không phấn khởi

nên không có động lực thúc đẩy sản xuất, vào kỳ giáp hạt xảy ra tình hình thiếu

lương thực ở một số vùng nông thôn; ở thành thị người tiêu dùng lương thực phải

sử dụng gạo ở thị trường tự đo với giá cao gấp nhiều lần so với giá Nhà nước bán

ra, thêm nữa Nhà nước thường xuyên phải bù lễ cho ngành lương thực vì giá

"bao cấp" thấp hơn rất nhiều so với giá thành

Sau khi xoá bỏ cơ chế quản lý mang nặng tính hành chính, cơ chế mới về

kinh doanh lương thực đã từng bước hình thành, từ năm 1989 đến nay việc cung

cấp lương thực ở Việt Nam đã ngày càng ổn định và phù hợp với cơ chế thị trường Trên phạm vi cả nước, thị trường lương thực với nhiều thành phần kinh tế

tham gia đã được hình thành, cùng bình đẳng và cạnh tranh với nhau Nhà nước

có 2 Tổng công ty kinh doanh lương thực, đồng thời trên địa bàn cả nước có

hàng nghìn doanh nghiệp tư nhân và hàng vạn người buôn bán nhỏ hoạt động

trong lĩnh vực kinh doanh lương thực - thực phẩm Mạng lưới chợ nông thôn và

thành thị được phát triển rộng khắp trong cả nước, đã trực tiếp hỗ trợ người sản xuất và tiêu dùng Tuy nhiên sự phân bố mạng lưới chợ chưa hợp lý, chủ yếu tập trung ở các vùng đông dân, kinh tế phát triển Vùng núi, vùng sâu, vùng xa

mạng lưới chợ còn rất thưa thớt Hệ thống thương mại lương thực đã góp phần mua hét théc hang hoá của nông dân với giá có lợi cho người sản xuất và đáp

ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng đa dạng, nhất là đối với vùng sâu, vùng

xa, vùng đặc biệt khó khăn thường xẩy ra thiên tai

Quản lý lưu thông lương thực:

An ninh lương thực là mối quan tâm số một và đòi hỏi hàng đầu của loài người đối với ngành sản xuất nông nghiệp Đầu thế kỷ 21, nếu lấy sản lượng lương thực, thực phẩm của thế giới chia bình quân cho dân số toàn cầu, thì mỗi người hàng ngày nhận được hơn 3.000 kcalo, tức là một mức dinh dưỡng còn

hơn cả no đủ, vậy mà thực tế hiện nay, do sự phân phối bất công nên gần một tỷ người trên thế giới vẫn thiếu ăn, hàng trăm triệu người bị đói ở hầu hết vùng

nông thôn các nước đang phát triển mà Châu Phi là khu vực điển hình

Phân phối lương thực, thực phẩm là vấn đề lớn và nan giải, không thể có

ảo tưởng dựa vào tình đoàn kết quốc tế, lòng nhân đạo, hoặc sự hảo tâm của con

người để thường xuyên cứ mỗi mùa vụ lại viện trợ lương thực, thực phẩm từ nơi

thừa đến nơi thiếu Cách duy nhất là các nước đang thiếu thốn phải phấn đấu

Trang 19

vươn lên, và các nước phát triển phải giúp đỡ để các nước thiếu thốn tự bảo đảm

an ninh lương thực của mình, một phần bằng tăng sản lượng lương thực, một phần nữa bằng xuất khẩu sản phẩm mà mình có thế mạnh để đổi lấy lương thực

Đông thời, các nước đang phát triển và các lực lượng tiến bộ cần đấu tranh chống mọi sự bất công trong thương mại lương thực

Trong phạm vi từng quốc gia, có trường hợp tính chung cả nước thì an ninh lương thực được bảo đảm, nhưng do sự phân phối không đều, nên có lúc

một số vùng và một bộ phận dân cư có thể bị thiếu hoặc bị đe doa thiếu lương thực Như vậy, an ninh lương thực cho mọi người chỉ có thể được bảo đảm nhờ thành công của công cuộc xoá đói giảm nghèo một cách đồng bộ, triệt để và bền vững

Bình quân lương thực đầu người ở các vùng rất khác nhau nên cần thiết có

sự lưu thông lương thực từ nơi thừa đến nơi thiếu, tuy vậy cần phân biệt hai khu vực nông thôn và thành thị vì có đặc điểm tiêu dùng lương thực khác nhau Ở

khu vực nông thôn, vùng thừa lương thực có tình trạng trong vụ thu hoạch rộ,

nông dân cần bán lương thực để chi dùng, lượng lương thực hàng hoá nhiều, Nhà nước nếu không có chính sách tập trung mua một khối lượng lớn lương thực hàng hoá của nông dân thì sẽ làm cho giá thóc hạ, thiệt hại đến người sản xuất

Còn ở vùng thiếu lương thực, do điều kiện lao động, trình độ tham canh khác

nhau và do sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, mặt khác, trong cơ chế thị trường tạo ra sự phân hoá giàu nghèo nên dẫn đến tình trạng bên cạnh số được

no đủ, vẫn có nhiều hộ sản xuất không đủ lương thực tiêu dùng ở khu vực thành thị là nơi tập trung dân cư không sản xuất nông nghiệp nên có nhu cầu lớn về

lương thực Trường hợp lượng lương thực ở thị trường thấp, cung không đủ cầu thì

giá lương thực tăng lên, nếu Nhà nước không có chính sách bình ổn giá cả lương thực thì người tiêu dùng sẽ phải chịu những chi phí lớn cho việc mua lương thực, gây nên tình trạng bất ổn định trong hoạt động kinh tế, xã hội

Lương thực tiêu dùng trong nước và xuất khẩu cũng có mối liên quan chặt chế với nhau, nếu xuất khẩu quá mức thì giá lương thực trong nước lập tức bị biến động mạnh và bất lợi

Dự trữ quốc gia về lương thực:

Dự trữ quốc gia về lương thực nhằm góp phần bảo đảm an ninh lương thực

với mục tiêu ổn định cung cấp lương thực cho đất nước khi xẩy ra sự cố bất lợi

Lương thực dữ trữ quốc gia chủ yếu là thóc, gạo Hiện tại lương thực được bảo

Trang 20

quản với tổng tích lượng là 605.430 tấn kho Năm 2002 số lượng lương thực quy

thóc dự trữ khoảng 490 ngàn tấn, trong đó thóc chiếm 80% và gạo chiếm khoảng 20% Đề đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước cần thiết phải đưa mức dự trữ lên

1 triệu tấn đến 1,5 triệu tấn thóc, tăng gấp 2 đến 3 lần so với hiện nay

3 Đảm bảo tiếp cận lương thực

Đảm bảo cho mọi người dân đều có điều kiện và khả năng tiếp nhận được

lương thực không có khó khăn gì đối với khu vực thành thị, nhưng lại rất khó khăn với rất nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng cao, miền núi Điều này liên quan đến thu nhập của người dân Cần nâng cao mức thu nhập cho mỗi người

dân trong cộng đồng để ai cũng có khả năng mua được lương thực cho nhu cầu

tiêu dùng của mình một cách dễ dàng và thuận lợi Tức là có điều kiện kinh tế để tiếp cận lương thực, đảm bảo cho mọi người, mọi nơi, mọi lúc đểu có thể mua được số lương thực họ cần, hay nói cách khác là mọi gia đình đều có thể tự mua lấy lương thực hoặc thông qua sản xuất tự túc

Sự sẵn có lương thực và ổn định cung cấp lương thực, chưa đủ để bảo đảm

an ninh lương thực cho mọi người ở mọi nơi, mọi lúc Ở cấp quốc gia, lương thực

cơ bản đã đủ để đáp ứng nhu cầu trung bình hàng ngày tính theo đầu người Nhưng trong thực tế, khi một số gia đình sẽ thừa lương thực để cung cấp đủ calo

thì vẫn còn nhiều gia đình khác, do thiếu khả năng sản xuất, thu nhập và sức mua kém nên không đủ lương thực theo nhu cầu của năng lượng sinh học Một khía cạnh khác của vấn đề này là ở cấp hộ gia đình, an ninh lương thực không chỉ có

nghĩa là cung cấp đủ lương thực cơ bản mà còn phải đủ cả về nhu cầu đạm, năng lượng, vitamin để tránh tình trạng suy đinh đưỡng

Nhà nước đã có những chương trình phát triển các ngành sản xuất khác

trong nông nghiệp nhằm giải quyết việc làm, tạo ra sản phẩm hàng hoá, nâng cao

thu nhập của nhân dân các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Đây chính là tiền

đề cho việc giải quyết vấn đề dinh dưỡng Chúng ta đã và đang đầu tư xây dung các cơ sở chế biến quy mô lớn, hiện đại ở các vùng nguyên liệu tập trung nhằm tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn, chất lượng cao, đồng thời khuyến khích phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm quy mô nhỏ ở các vùng

nông thôn Thực hiện tốt những chương trình này sẽ tạo việc làm cho lao động tại chỗ, qua chế biến và sơ chế sẽ giữ được chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả

kinh tế và giá trị đinh đưỡng của thực phẩm Thêm nữa sẽ thu hút hàng triệu lao

động chưa có việc làm ở cả nông thôn và thành thị, tăng thêm thu nhập của nhân

Trang 21

dân bằng lao động của mình để có khả năng kinh tế tiếp cận lương thực mà họ

cần, nói cách khác là tăng sức mua cho các hộ nghèo Đây đang là quá trình

chuyển địch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp theo hướng hiệu quả kinh tế, sức mua của nhân dân sẽ được nâng lên từng bước, đặc biệt dân cư nông thôn có

điều kiện kinh tế để tiếp cận lương thực thực phẩm, cải thiện và nâng cao mức định dưỡng

Theo điều tra của Tổng cục Thống kê thì số hộ nghèo theo chuẩn quốc tế

(2.100 kcal/ngày/người) cho thấy năm 1993 có 58% dân số sống trong nghèo đói thì năm 2002 chỉ còn 29% Như vậy số lượng dân số sống dưới ngưỡng nghèo đã

giảm một nửa trong vòng chưa day mot thập kỷ

Nhận xét: Tổng quan tài liệu nghiên cứu về sử dụng đất ruộng lúa đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam cho thấy:

- Ở quy mô toàn quốc an ninh lương thực được đảm bảo, thậm chí có thể

du dat lương thực để dự phòng và xuất khẩu; nhưng nếu xem xét ở nhiều vùng, nhiều địa phương thì sẽ thấy có nhiều vùng, nhiều nơi chưa đảm bảo hoàn toàn

về an ninh về lương thực, ít ra là cũng vào một thời điểm nào đó Tuy Việt Nam

hiện nay nói chung được coi là có an ninh lương thực, nhưng vẫn còn địa phương chưa thực sự an ninh, hoặc một địa phương cụ thể nào đó được coi là có an ninh lương thực thì vẫn còn những lúc nào đó có thể bị thiếu hụt nhất thời

- Dân số tăng nhanh cũng là một tác nhân quan trọng gây mất an ninh lương thực Theo thống kê gần đây cho thấy dân số vẫn tăng nhanh và chưa có dấu hiệu giảm Ba năm gần đây, tốc độ tăng tự nhiên của dân số cả nước vẫn

xoay quanh 1,8% Sự bùng nổ dân số vẫn là nguy cơ tiềm ẩn của nhiều vùng

- Thị trường lương thực thực phẩm trong nước mới được tự do hoá trong

thời gian gần đây, mục tiêu ổn định thị trường lương thực là bảo đảm cung cấp

đủ lương thực ở mọi vùng, mọi lúc trong cả nước với giá cả ổn định Mặt khác, việc tiêu thụ sản phẩm lương thực ở các vùng sản xuất tập trung cũng đang là vấn

dé lớn cần tập trung giải quyết nhằm bảo đảm sự ổn định của thị trường, khuyến khích sản xuất phát triển Những đột biến trong lưu thông phân phối ở Việt Nam

do các nhân tố kinh tế quyết định nhiều hơn là do các điểu kiện tự nhiên Lễ

thông thường, các điều kiện thời tiết có ảnh hưởng tới sản xuất của đất nước,

nhưng những tác động này chỉ mang tính cục bộ và những vụ mùa thất bát nếu

Trang 22

xảy ra thì không lan rộng do đất nước có địa thế trải dài từ Bắc vào Nam và các điều kiện sản xuất khác nhau ở các vùng sinh thái nông nghiệp

Để mọi người đều có thể tiếp cận được lương thực Việt Nam đã thực hiện

nhiều chương trình xoá đói giảm nghèo và đạt những kết quả khả quan được thế

giới đánh giá tích cực Theo chuẩn nghèo của Bộ Lao động Thương binh và xã hội năm 2000 cả nước có 2, triệu hộ nghèo (14,5% tổng số hộ), năm 2003 giảm

xuống còn 1,6 triệu hộ (chiếm 9,5% tổng số hộ)

- Quá trình công nghiệp hoá nếu không sớm có quy hoạch toàn diện về đất đai, nếu không biết khai thác sử dụng hợp lý thì diện tích đất nông nghiệp bị giảm tại các vùng đồng bằng đất tốt và gây nên nguy cơ cho an ninh lương thực Bên cạnh việc giảm diện tích đất canh tác, độ màu mỡ của đất cũng suy giảm do

ô nhiễm chất thải từ công nghiệp hoặc chế độ canh tác thiếu khoa học gây ra Việt Nam mới chỉ đang ở trong giai đoạn bắt đầu của quá trình công nghiệp hoá,

hiện đại hoá, công nghiệp hoá và xây dựng chưa phát triển nhưng quỹ đất sản xuất nông nghiệp đã bị giảm đi nhanh chóng (vùng núi và trung du Bắc bộ giảm

88.300 ha, vùng Bắc Trung bộ, trung du và miền núi Bắc bộ giảm 33.000 ha mà

không còn quỹ đất để bù đắp), tình hình có thể sẽ xấu hơn trong những năm tới

khi mà công nghiệp và xây dựng phát triển ô ạt

Trang 23

CHUONG II:

QUA TRINH CONG NGHIEP HOA, HIEN DAI HOA DAT NUGC

VÀ VIỆC CHUYỂN MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP NÓI CHUNG VÀ ĐẤT RUỘNG LÚA NƯỚC NÓI RIÊNG SANG

MỤC ĐÍCH PHI NÔNG NGHIỆP

L TAM NHIN DAI HAN VE SUDUNG ĐẤT ĐẠI CẢ NƯỚC

1 Trién vong phat trién kinh té, x4 hoi

Hội nghị Trung ương 7 khoá VI đề ra chủ trương công nghiệp hoá, hiện

đại hoá nhằm: “Cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất -

kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sẵn xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tỉnh thần cao, quốc

phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn mình °

(Nghị quyết Trung ương 7, khod VII)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đề ra đường lối kinh tế của Đảng ta là: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, xây dựng nên kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; t4 tiêu phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đông thời tranh thủ nguồn lực

bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả

và bên vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tỉnh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công

bằng xã hội, bảo vệ vò cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh"

(Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khoá VHHI tại Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ IX của Đảng)

Đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Khi hoàn

thành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Việt Nam trở thành một nước công nghiệp

mới với một nền kinh tế thị trường năng động và hiệu quả có sự quản lý hiệu lực của Nhà nước theo định hướng XHƠN, một xã hội tự khẳng định vững chắc bằng

Trang 24

nguồn lực phát triển nội sinh, có trình độ tương hợp và liên kết hhoà nhập về

kinh tế và công nghệ, giao lưu rộng về văn hoá, thông tin và phát triển xã hội với

khu vực chung quanh và thế giới Về cơ bản đạt được mục tiêu dân giàu nước

mạnh, xã hội công bằng, văn minh và có thế bước đầu đứng vào hàng ngũ các

nước phát triển Những mục tiêu cơ bản sẽ đạt là:

+ GDP bình quân đầu người tăng ít nhất gấp 2 lần so với năm 2010, tích

luỹ nội bộ nên kinh tế đạt 30 - 35% GNP

+ Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chiếm khoảng 5 - 10% Công nghiệp

và địch vụ chiếm khoảng 90 - 95% GDP Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ

trọng lớn (70 - 80% giá trị sản lượng công nghiệp) Kim ngạch xuất khẩu chiếm

30% GDP Cân bằng và tiến tới bội thu trong cán cân thanh toán quốc tế

+ Tỷ trọng lao động công nghiệp khoảng 30 - 40% lao động trong nền

kinh tế Khoảng 50% dân số vẫn sống ở nông thôn, song chỉ khoảng 25 - 30%

làm nông nghiệp và kiêm thêm nghề khác

+ Đô thị hoá đạt mức trung bình (khoảng 50%), không hình thành những

“siêu đô thị”

+ Tỷ lệ tăng dân số khoảng 1% năm Tuổi thọ trung bình đạt tới 75 Dân

số khi định hình khoảng 123 triệu người (năm 2020: 97 triệu người)

2 Tâm nhìn dài hạn về sử dụng quỹ đất (năm 2020)

Triển vọng sử dụng quỹ đất nước ta được phác thảo đựa vào các căn cứ sau:

- Cân bằng sinh thái và môi trường

- Đã hoàn thành công nghiệp hoá (khoảng năm 2020)

- Đảm bảo an ninh lương thực

~ Dân số khoảng 97 triệu người

- Tỷ lệ dân số đô thị đạt khoảng 45 - 50%

Khi đó lãnh thổ nước ta được sử dụng như sau:

Trang 25

Định hướng sử dụng các loại đất đến năm 2020:

(triệu ha) (%) (triệu ha) (%)

Trong đó đất lúa nước 4,3 13,1 3,8 - 4,0 11,9

| + Đất trồng cây lâu năm 2,3 7,0 3,0 9,1

3 Đất chưa sử dụng và khả năng dùng vào nông lâm nghiệp

Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá hiện còn 10.027,26 ngàn ha (số liệu

năm 2000), trong đó đất chưa sử dụng có thể đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp

8.663,3 ngàn ha như sau:

Trang 26

- Đất bằng chưa sử dụng:

+ Đất cồn cát, bãi cát:

+ Đất bãi bồi ven sông suối:

+ Đất bãi bôi ven biển:

+ Đất bằng chưa sử dụng khác:

- Đất đồi núi chưa sử dụng:

+ Đất có có, lau lách:

+ Đất có có xen cây làm bụi:

+ Đất có cây làm bụi xen cây thân gỗ rải rác:

+ Đất xói mòn trơ sôi đá:

- Đất có mặt nước chưa sử dụng:

+ Áo, hồ, thùng đào thùng đấu (5 ha):

+ Hồ, đâm, phá, (trên 5 ha):

- Đất chưa sử dụng khác:

589,4 ngàn ha

103,7 ngàn ha

42,4 ngàn ha 76,5 ngàn ha 364,8 ngàn ha 7.699,4 ngàn ha 1.785,B ngàn ha 2.771,5 ngàn ha 2.989,6 ngàn ha 152,5 ngàn ha

148,6 ngàn ha

60,9 ngan ha

87,7 ngan ha 225,9 ngan ha

Trong đó có 46 loại đất thuộc 13 nhóm đất mà chủ yếu là:

- Đất đỏ vàng 6.281,5 ngàn ha

- Đất mùn vàng đỏ trên núi 1.231,0 ngàn ha

- Đất xám bạc màu 241,6 ngàn ha

- Đất xói mòn trơ sỏi đá 234,9 ngàn ha

- Bãi cát cồn cát và đất cát biển 152,0 ngàn ha

Trang 27

< 15! có 1.802,4 ngàn ha

150 - 25° có 2.083,8 ngàn ha

> 25° có 4.382,6 ngàn ha

Đất chưa sử dụng bao gồm 836.674 khoảnh, trong đó 769.489 khoảnh

(92% tổng số khoảnh) có diện tích mỗi khoảnh dưới 20 ha; 67.185 khoảnh (8% tổng số khoảnh) có điện tích mỗi khoảnh lớn hơn 20 ha chiếm 76% diện tích đất chưa sử dụng

Trong tổng số 8.663,3 ngàn ha đất chưa sử dụng có 2.347,2 ngàn ha Nhà nước đã giao đất nhưng chưa sử dụng và 455,2 ngàn ha tự bao chiếm nhưng chưa

sử dụng Đặc điểm này của đất chưa sử dụng gây trở ngại rất lớn cho các dự án

lấy vào đất chưa sử dụng

Định hướng sử dụng tổng quát:

Năm 2000 nước ta còn 9,28 triệu ha đất chưa sử dụng, trong đó đất bằng chưa sử dụng 0,59 triệu ha, đất đổi núi chưa sử dụng 7,7 triệu ha, đất có mặt nước chưa sử dụng 0,15 triệu ha, núi đá không có rừng cây 0,62 triệu ha, đất chưa sử đụng khác 0,22 triệu ha Đất chưa sử dụng có thể đưa vào sử dụng cho mục đích

nông nghiệp 8,66 triệu ha, bao gồm đất trồng lúa nước 98 nghìn ha, đất trồng cây

hàng năm khác 252 nghìn ha, đất trồng cây lâu năm 562 nghìn ha, đất trồng cỏ 144

nghìn ha, đất nuôi trồng thuỷ sản 91 nghìn ha, đất phát triển lâm nghiệp 7 triệu ha

Hiện trạng đất chưa sử dụng năm 2000 và khả năng đưa vào sử dụng:

Khả năng đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng (đơn vị: nghìn ha) Đất chưa sử di AI chưa sự dụng Tén: Tron 5 Tréng | Tréng Tréng yet La Dat chua tính theo các vùng cộng § ngắn y lúa 4 cây lâu | có ‘ thuy | nghiép 5 mr | sử dụng “

nước năm chăn 3 còn lại ngày 1 sản

Tây Nguyên 9830| 52,8 18.4| 188,0 §,0 23| 583,4 130,1 Đông Nam bộ 94,5 6,7 8,5 13,2 0,0 9,6 42,8 13,7 Đồng bằng sông Cửu Long 140/0] 15,7 48,0 4,0 0,0 16,6 51,2 4,5

Trang 28

Như vậy, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước có thê chủ

động chuyển một phần đất nông nghiệp có vị trí thích hợp vào mục đích phát triển kết cấu hạ tầng: tuy nhiên đối với đất trồng lúa nước có năng suất cao, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng cần hết sức hạn chế việc chuyên sang mục đích khác

Khi chuyển đất chưa sử dụng sang sử dụng vào mục đích nông nghiệp, cần chú ý đến thực trạng hiện nay là:

- Trong tông số 8,66 triệu ha đất chưa sử dụng có khả năng sử dụng vào mục đích nông nghiệp bao gồm 2,69 triệu ha Nhà nước đã giao cho chủ cụ thể

nhưng chưa sử dụng; 0,57 triệu ha tự bao chiếm nhưng chưa sử dụng; 2,29 triệu

ha đã được sử dụng nhưng nay đang bỏ hoang (chủ yếu là đất nương rẫy luân canh của đồng bào các dân tộc thiêu số); tông diện tích 3 dạng đất này là 5,55

triệu ha

- Diện tích đất chưa sử dụng của cả nước tập trung chủ yếu ở các địa bàn dân cư thưa thớt, đất đai xấu, kết cấu hạ tầng thấp kém, trong đó miền núi và Trung du Bắc Bộ 50%, Bắc Trung Bộ 19%, Duyên hải Nam Trung Bộ 17% và

Đất có khả năng nông nghiệp 1.147,0 ngàn ha:

- Ruộng lúa nước 98,1 ngàn ha

(Đồng bằng sông Cửu Long 48,0 ngàn ha, Tây Nguyên 18,4 ngàn ha, Trung du miền núi Bắc bộ 12,8 ngàn ha, Đông Nam bộ 8,5 ngàn ha )

- Cây hàng năm 252,5 ngàn ha

(Duyên hải Nam Trung bộ 71,0 ngàn ha, Trung du miễn núi Bắc bộ 55,4

ngàn ha, Tây Nguyên 52,8 ngàn ha, Duyên hải Bắc Trung bộ 43,9 ngàn ha, đồng

bằng sông Cửu Long 15,7 ngàn ha )

- Cây đài ngày 561,5 ngàn ha

(Tây Nguyên 188 ngàn ha, Trung du miền núi Bắc bộ 169,7 ngàn ha,

Duyên hải Nam Trung bộ 99,0 ngàn ha, Duyên hải Bắc Trung bộ 76,5 ngàn ha )

- Đồng cỏ 144,1 ngàn ha

- Nuôi trồng thuỷ sản 90,8 ngàn ha

- Đất phát triển lâm nghiệp 6.443,3 ngàn ha (có 539,7 ngàn ha nông lâm

kết hợp)

Trang 29

4 Dat nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp phát triển trực tiếp nâng cao thu nhập và mức sống của cả nước, điều này có ý nghĩa to lớn về kinh tế, xã hội và chính trị Sản xuất

nông nghiệp đi vào chuyên canh kết hợp với kinh doanh tổng hợp nhằm đạt giá trị cao nhất trên một đơn vị điện tích Thâm canh tăng vụ là chính và mở thêm diện tích ở những nơi có điều kiện Tăng sản lượng lương thực đủ nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu Tăng nhanh tỷ trọng cây công nghiệp, cây thực phẩm và chăn nuôi Hình thành một số vùng chuyên canh cây công nghiệp và

chăn nuôi kèm theo công nghiệp chế biến dành cho thị trường ngoài nước Đầu

tư mạnh và thuỷ lợi dé ổn định điều kiện tưới tiêu cho phần lớn diện tích canh tác, tạo cơ sở cho tăng vụ và thâm canh Bằng các biện pháp kinh tế và pháp chế nghiêm ngặt, hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đất trồng lúa sang mục

đích khác

Theo các kết quả đánh giá có thể khai hoang thêm 1 triệu ha cho nông nghiệp, trong đó: khoảng 0,35 triệu ha cây ngắn ngày và 0,6 triệu ha cây đài ngày nhưng hàng năm cũng phải chuyển mục đích sử dụng ít nhất 2 vạn ha đất trồng trọt sang mục đích khác do vậy đất nông nghiệp sẽ tăng rất chậm, đặc biệt

là đất lúa sẽ không tăng Xét về lâu dài quỹ đất nông nghiệp của ta có thể có khoảng 10 triệu ha (hiện có khoảng 9,3 triệu ha) có thể sử dụng như sau:

Diện tích đất nông nghiệp: khoảng 10 triệu ha

- Đất canh tác hàng năm: 6,0 - 6,5 triệu ha

- Đất cây lâu năm: 3,0 triệu ha

- Đất cỏ và mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: 0,8 - 1,0 triệu ha

5, Dat lam nghiệp

Tái tạo vốn rừng là nhiệm vụ chiến lược của đất nước trong vài thập kỷ tới,

do vậy nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng và đất rừng Đẩy nhanh việc trồng và khoanh nuôi rừng, phủ xanh và sử dụng đất trống đồi

núi trọc gắn liên với định canh định cư, ổn định đời sống của các dân tộc Mọi

đất rừng đều có người làm chủ trực tiếp, kể cả rừng kinh tế, rừng phòng hộ và

các khu bảo tồn thiên nhiên Kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp, gắn với công

nghiệp khai thác và chế biến kinh doanh tổng hợp đất rừng Hình thành 3 loại

Trang 30

rừng, trên cơ sở định rõ mục đích sử dụng với biện pháp đầu tư và khai thác có hiệu quả

Dự kiến điện tích lâm phần quốc gia ổn định như sau:

Tổng diện tích rừng: 18,6 triệu ha

+ Rừng phòng hộ: 6,0 triệu ha

+ Rừng đặc dụng: 3,0 triệu ha

+ Rừng sản xuất: 9,6 triệu ha

6 Đất đô thị và khu dân cư nông thôn

Dự báo dân số nước ta vẫn tiếp tục tăng, đến năm 2020 dân số khoảng

97 - 100 triệu người, với sự nghiệp công nghiệp hoá, xu thế đô thị hoá diễn ra

mạnh mẽ Đô thị và khu dân cư nông thôn phát triển, mở rộng sẽ lấy thêm đất là

tất yếu khách quan Thực tế phát triển của nhiều nước cũng như qua tính toán cho

thấy đô thị hoá sẽ tốn ít đất ở hơn so với không đô thị hoá Vấn đề cốt lõi là giảm

tỷ lệ tăng dân số, hơn nữa đô thị hoá sẽ làm giảm tốc độ tăng dân số

Quá trình phát triển đô thị sẽ diễn ra trong nhiều thập kỷ theo hướng tạo nên sự cân đối hài hoà, hợp lý giữa các thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ trong mối quan hệ hữu cơ với các vùng nông thôn rộng lớn

của hầu hết các ngành kinh tế (trừ nông lâm nghiệp) có đặc điểm gắn liền với sự phát triển của các ngành kinh tế nên phần lớn déu lấy vào đất đang sử dụng (chủ

yếu là đất nông nghiệp) Đất chuyên dùng gia tăng là tất yếu khách quan, tuy nhiên hầu như toàn bộ các chính sách đất đai liên quan đến đất chuyên dùng

chậm được điều chỉnh, xem xét lại theo quan điểm tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả

Trang 31

Chỉ tiêu đất chuyên dùng theo đầu người của Việt Nam vào loại thấp, trong giai

đoạn tới cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đất chuyên dùng sẽ gia tăng

Trong đất chuyên dùng nhiều loại được phân bố theo tuyến, theo các địa điểm khó xê dịch (đất thuỷ lợi, đất đường giao thông, đất khai thác khoảng

sản ) Đối với các loại này sử dụng đất cần theo hướng tiết kiệm với các định

mức sử dụng hợp lý, nhưng cũng có nhiều loại đất trong phân bố sử dụng cần

phải cân nhắc lựa chọn:

- Đối với đất giao thông: Cải tạo nâng cấp, xây dựng mới các tuyến đường giao thông có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong việc hình thành một cấu trúc hạ

tầng hấp dẫn đầu tư, lao động và hình thành các khu dân cư đô thị,

Qua tính toán cho thấy xây dựng những tuyến đường giao thông mới không chạy qua các khu vực dân cư đỡ tốn kém hơn là những trường hợp nâng

cấp, cải tạo, mở rộng do phải đền bù rất lớn

Từ quan điểm này, quy hoạch sử dụng đất giao thông phải đặc biệt coi trọng tới triển vọng lâu đài Thực tế cho thấy hiện nay dân cư đang bám theo các trục lộ để sinh sống Điều này phù hợp với trước mắt nhưng nhìn về lâu dài có

thể sẽ đoán trước được nhiều bất hợp lý xây ra

Cần có chủ trương nghiêm cấm giao cấp đất sát hai bên trục lộ quốc gia

mà nên hình thành những đường xương cá để bố trí các công trình xây đựng

công nghiệp cũng như khu dân cư

- Đối với đất xây dựng các khu cụm công nghiệp: Các khu cụm công nghiệp luôn là hạt nhân hình thành các đô thị trong các trường hợp lấy vào đất lúa cần cân nhắc đầy đủ Cần rà xét lại định mức sử dụng đất của các khu, cụm công nghiệp, cách đây 30 năm bình quân một lao động cổng nghiệp chiếm 60 - 70 m?, hiện nay

tinh ra vin 60 - 70m2/ lao động công nghiệp và gần như toàn bộ các nhà máy, xí

nghiệp liên doanh với nước ngoài đều xây dựng nhà xưởng | ting

Il QUY HOẠCH SỬDỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2010

Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2001 - 2010 được

thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: Đến năm 2010 sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã đi vào thời kỳ phát triển cao để

bắt đầu vào thời kỳ hoàn thiện; Năm 2010 GDP tăng lên ít nhất gấp đôi năm 2000;

Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp là 16 - 17%, công nghiệp 40 - 41%, dịch vụ

Trang 32

42 - 43%; Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 50% Dan số khoảng 89 - 90 triệu người (từ kết quả tổng kiểm kê dân số năm 1999, dự báo dân số mới về dân số

đến năm 2010 chỉ còn 86 - 87 triệu người), tốc độ tăng dân số đến năm 2010 còn

Năm 2000 Năm 2010 thời kỳ 2001 - 2010

Diện tích | Cơ cấu | Diện tích | Cơ cấu | Diện tích | Cơ cấu Tổng diện tích tự nhiên 329241 | 100,0) 32.9241| 100,00 0,0 0,00

Trang 33

1.1 Đất nông nghiệp

Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam đến năm 2010 là:

- Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường

và điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao

động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn Đưa nhanh tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình

độ công nghệ và về thu nhập trên một đơn vị điện tích; tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm Mở rộng thị trường tiêu thụ

nông sẵn trong và ngoài nước, tăng đáng kể thị phần của các nông sản chủ lực trên

thị trường thế giới

- Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Điều chỉnh quy hoạch sản xuất lương thực phù hợp với nhu cầu và khả năng tiêu thụ, tăng năng suất đi đôi với nâng cấp chất lượng Bảo đảm an ninh lương thực trong mọi tình huống Xây dựng các vùng sản xuất tập trung lúa hàng hoá và ngô làm thức ăn chăn nuôi; tận dụng điều kiện thích hợp của các địa bàn

khác để sản xuất lương thực có hiệu quả Nâng cao giá trị và hiệu quả xuất khẩu

gạo Có chính sách bảo đảm lợi ích của người sản xuất lương thực

Phát triển theo quy hoạch và chú trọng đầu tư thâm canh các vùng cây công nghiệp như cà phê, cao su, chè, điều, hạt tiêu, đừa, dâu tầm, bông, mía, lạc, thuốc lá , hình thành các vùng rau, hoa, quả có giá trị cao gắn với phát triển cơ

sở bảo quản, chế biến

Phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm; mở rộng phương pháp nuôi công nghiệp gắn với chế biến sản phẩm; tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp

Phát huy lợi thế về thuỷ sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn

lên hàng đầu trong khu vực Phát triển mạnh nuôi, trồng thuỷ sản nước ngọi,

nước lợ và nước mặn, nhất là nuôi tôm, theo phương pháp tiến bộ, hiệu quả và

bên vững môi trường

Chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác

Đến năm 2010 tỷ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 50%, từng bước tăng quỹ

Trang 34

đất canh tác cho mỗi lao động nông nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn

Những chỉ tiêu chủ yếu:

- Giá trị g1a tăng nông nghiệp: 4,0 - 4,5%

- Sản lượng lương thực có hạt: 40 triệu tấn

- Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP: 16 - 17%

- Tỷ trọng ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp: 25%

- Đất trồng cây lâu năm: 2.656.900 ha

- Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: 558.700 ha

(Ngoài ra còn có 539.700 ha đất nông lâm kết hợp)

So với năm 2000 đất nông nghiệp sẽ tăng là 569.300 ha Trong thời kỳ

2001 - 2010 diện tích khai hoang đưa vào sản xuất nông nghiệp là 1.015.800 ha

và cũng trong thời kỳ này đất nông nghiệp chuyển sang mục đích sử dụng khác

là 446.500 ha

1.2 Đất lâm nghiệp có rừng

“Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, nâng độ che phủ của rừng lên 43%

Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài theo hướng xã hội hoá

lâm nghiệp, có chính sách bảo đảm cho người làm rừng sống được bằng nghề

rừng Kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và có chính sách hỗ trợ để định canh,

Trang 35

định cư, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi Ngăn chặn nạn đốt, phá rừng Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế, tạo nguồn gỗ trụ mỏ, nguyên liệu cho công nghiệp bột giấy, công nghiệp chế biến gỗ và làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu; nắng cao giá trị sản phẩm rừng”

(Nghị quyết Đại hội Dang IX)

Bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng hiện có 11.574.400 ha (rừng tập trung

10.915.600 ha) bao gồm 9.774.500 ha rừng tự nhiên và 1.800.500 ha rừng trồng đặc biệt là rừng phòng hộ, vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên Trồng

thêm 5 triệu ha rừng theo Nghị quyết số 08/1997/QH10 của Quốc hội khoá X

(kỳ họp thứ 2)

Thời kỳ 2001 - 2010 thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng là nhiệm vụ chiến lược trọng tâm của ngành lâm nghiệp, trong đó: Trồng rừng mới 3,5 triệu ha; Khoanh nuôi phục hồi rừng 1,5 triệu ha

Sử dụng tiết kiệm và hợp lý tài nguyên rừng trên cơ sở áp dụng công nghệ mới, sử dụng thiết bị tiên tiến, tạo ra sản phẩm có giá trị cao để tiêu dùng trong

nước và xuất khẩu Phấn đấu nâng mức tinh chế gỗ, sản xuất ván nhân tạo, sản

xuất giấy và bột giấy Chú trọng phát triển mạnh trồng cây trong nhân dân để tự túc gỗ củi và một phần gỗ gia dụng

Đưa 4.000.000 hộ nông dân vào kinh doanh nghề rừng theo phương thức

nông lâm kết hợp gắn với công tác định cư vùng đồng bào dân tộc ít người Phấn đấu đến 2010 có khoảng 6 - 8 triệu lao động tham gia sản xuất lâm nghiệp

Quy hoạch sử dụng đất theo 3 loại rừng:

~- Rừng đặc dụng: Có 107 khu với khoảng 2 triệu ha, trong đó 1 triệu ha là khu đệm

Nhiệm vụ chủ yếu của rừng đặc dụng là bảo tồn nguồn gien động thực vật quý hiếm, phục vụ nghiên cứu khoa học và tham quan du lịch Từng khu rừng sẽ

được chia thành ba phân khu: khu bảo vệ nghiêm ngặt, khu phục hồi sinh thái và

vùng đệm, để có chính sách thích hợp Khu bảo vệ nghiêm ngặt và khu phục hồi sinh thái thuộc quyền sở hữu Nhà nước và được ngân sách đầu tư toàn bộ Khu vùng đệm thực hiện việc giao đất, giao rừng cho hộ để sản xuất lâm nông nghiệp

và được hưởng chính sách đầu tư của Nhà nước

Trang 36

- Ritng phòng hộ: Khoảng 6 triệu ha, làm nhiệm vụ bảo vệ nguồn nước,

bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu và bảo vệ môi trường sinh thái Biện pháp chủ yếu là bảo vệ diện tích rừng hiện có, khoanh nuôi bảo vệ những diện tích có khả năng tái sinh nhanh Diện tích đổi trọc sẽ được trồng theo phương thức lâm - nông kết hợp tạo ra nhiều tầng và cây phòng hộ phải

là cây có chu kỳ sinh trưởng dài, có tán che phủ lớn

- Rừng sản xuất Khoảng 8 triệu ha, chủ yếu là để kinh doanh lâm sản kết hợp với bảo vệ môi trường Khi trồng rừng phải tính toán kỹ để chọn loại cây có năng suất cao, hiệu quả thu hồi vốn nhanh và gắn vùng trồng rừng với nhà máy

chế biến Khẩn trương thực hiện việc giao đất, giao và khoán rừng cho các thành

phần kinh tế, huy động được nhiều nguồn vốn như vốn tín dụng đầu tư, gọi vốn

nước ngoài theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc cho vay, huy động vốn của dân

Nguyên liệu cho công nghiệp sẽ được bố trí chủ yếu ở rừng sản xuất

- Đất ươm cây giống: 1.100 ha

được chia ra như sau:

43% Sau 1 chu kỳ rừng nếu cân có thể đưa 500.000 - 1.000.000 ha rừng sản

Trang 37

xuất có độ đốc thấp sang sử dụng vào nông nghiệp theo phương thức nông lâm kết hợp

2 Nhóm đất phi nông nghiệp

Nhóm đất phí nông nghiệp gồm 3 tiểu nhóm: Đất ở; đất chuyên dùng; đất song, SUỐI

Thời kỳ 2001 - 2010 vốn đầu tư toàn xã hội tăng với tốc độ 6 - 8%/năm

(vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2001 - 2005 tăng gấp 1,5 lần giai đoạn 1996 -

2000) do vậy nhóm đất phi nông nghiệp đến năm 2010 tăng 672.000 ha so với năm 2000, riêng đất chuyên ding tang 631.500 ha

Thời kỳ 1991 - 2000, đặc biệt giai đoạn 1996 - 2000, đã đầu tư mạnh vào

các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng; mặt khác còn gần 120.000 ha tuy đã được thống kê vào đất chuyên dùng nhưng thực tế chưa sử dụng (đất khu công nghiệp hiện nay mới lấp đầy 45% điện tích; nhiều công trình giao thông, thủy lợi điện tích đã được thống kê ở thời điểm năm 2000 nhưng hiện nay vẫn đang thi công - công trình gối đầu ) Nếu tính cả diện tích này, thời kỳ 2001 - 2010 diện tích đất chuyên dùng sẽ tắng 751.500 ha Ngoài ra, trong thời gian tới phải đặc biệt chú trọng đến các giải pháp nâng cao hiệu quả

(Diện tích đất quốc phòng, an ninh tổng số: 301.800 ha)

+ Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp: 227.300 ha

Trang 38

nhiên, từ nay đến năm 2010 dân số nông thôn vẫn tiếp tục tăng tại vùng Trung

du miền Núi, vùng Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung bộ, còn các vùng khác dân số nông thôn đều giảm so với năm 2000

Dân số nông thôn năm 2010 sẽ giảm so với năm 2000 là 1.195.393 người Trong số 7 vùng của cả nước, các vùng Trung du miền núi, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên tăng tuyệt đối là 889.294 người Các vùng đồng bằng

sông Hồng, Bắc Trung bộ, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long sẽ giảm

2.302.459 người

Dự kiến ở tất cả các vùng sẽ bố trí thêm diện tích đất cho các thị tứ, các

khu đân cư bám theo trục lộ với hoạt động dịch vụ là chủ yếu Tại các vùng có

đân cư nông thôn giảm, đất khu dân cư nông thôn đã hình thành về cơ bản sẽ được giữ nguyên Tại các vùng có dân cư nông thôn tăng sẽ cần phải bố trí thêm đất cho dân cư nông thôn với hoạt động nông nghiệp là chính

Đất ở nông thôn tăng thêm được tính theo định mức hiện hành tại các địa phương đã ban hành Trong báo cáo này tính bình quân đầu người cả nước là 120m2/người Duy trì định mức này sau khi trừ đi các khu dân cư nông thôn được nhập vào các đô thị (đo phát triển, mở rộng và hình thành các đô thị mới), đất khu dân cư nông thôn đến năm 2010 là 1.906.971 ha trong đó đất ở nông thôn là 936.036 ha, tăng thêm 16.375 ha so với năm 2000

2.1.2 Đất ở đô thị

Đến năm 2010 nước ta có khoảng 86,5 triệu người, tỷ lệ dân số đô thị đạt mức 31 - 33% (theo quan điểm hiện nay) hoặc ở mức xấp xi 40% (theo quan điểm phát triển nông thôn mới có tính tới dân số sống Ở các vùng ven đô, thị tứ sinh hoạt theo kiểu thành thị) trong khi mức trung bình của các nước đang phát

triển hiện nay là 36%

Trang 39

* Quan điểm phát triển do thị:

Nhằm phục vụ mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,

giữ vững phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo

vệ môi trường sinh thái, việc hình thành và phát triển các đô thị cả nước phải:

- Phù hợp với sự phân bố và trình độ của lực lượng sản xuất cả nước, tập trung xây dựng cơ sở kinh tế kỹ thuật vững chắc làm động lực phát triển cho

từng đô thị

- Bố trí hợp lý các đô thị lớn, trung bình và nhỏ, tạo ra sự phát triển cân đối giữa các vùng lãnh thổ, kết hợp đẩy mạnh đô thị hoá nông thôn và xây dựng

nông thôn mới

- Có cơ sở hạ tầng đồng bộ với trình độ thích hợp hoặc hiện đại, tuỳ thuộc vào yêu cầu khai thác và sử dụng các khu vực trong đô thị

- Phát triển ổn định, bền vững và trường tồn, trên cơ sở tổ chức hợp lý môi

sinh và bảo vệ môi trường

- Kết hợp cải tạo với xây đựng mới, coi trọng giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống đân tộc với việc áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới để

tiến lên hiện đại

- Cũng cố an ninh, quốc phòng và an ninh xã hội

- Huy động mọi nguồn vốn để cải tạo và xây dựng đô thị nhưng phải coi trọng việc gìn giữ trật tự kỷ cương, tăng cường kiểm soát sự phát triển đô thị theo đúng quy hoạch và pháp luật

* Mục tiêu phát triển đô thị:

Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị cả nước, có cơ sở hạ tầng

kinh tế, xã hội và kỹ thuật hiện đại, môi trường đô thị trong sạch, được phân bố và

phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước, đảm bảo cho mỗi đô thị theo vị trí và chức năng của mình, phát huy được đầy đủ các thế mạnh, góp phần thực biện tốt hai

nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc

* Định hướng phát triển đô thị:

Định hướng tổ chức không gian hệ thống các đô thị cả nước

Xây đựng và phân bố đồng đều các đô thị trung tâm trên địa bàn cả nước

Trang 40

Trên cơ sở hệ thống đô thị hiện nay, bố trí sắp xếp lại kết hợp với việc mở

rộng mạng lưới đô thị trên các vùng lãnh thổ, xây dựng và phân bố đồng đều các

đô thị trung tâm trên địa bàn cả nước gồm 6 cấp sau đây: Đô thị loại đặc biệt; đô

thị loại I, II, IH, TV và V

s Các đô thị trung tâm cấp quốc gia

Chủ yếu là các đô thị loại đặc biệt, các thành phố loại I trực thuộc sự quản

lý của trung ương giữ vai trò là cực tăng trưởng chủ đạo, thúc đẩy sự phát triển

kinh tế xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước theo hướng công nghiệp

hoá, hiện đại hoá, tạo ra thế phát triển cân bằng trên 3 miền Bắc - Trung - Nam,

khẳng định vị trí và vai trò của nước ta trong khu vực và trên thế giới

Các đô thị trung tâm cấp quốc gia gồm: Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí

Minh, thành phố Hải Phòng, thành phố Đà Nắng và thành phố Huế, đều là đô thị

hạt nhân của các vùng kinh tế trọng điểm nước ta

* Các đô thị trung tâm cấp vùng liên tỉnh

Chủ yếu là các thành phố loại H và một số thành phố loại II, được hình thành một cách khách quan, chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử, nó được xác định bởi vị trí quan trọng và có chức năng kinh tế then chốt đối với nhiều đô thị hoặc một vùng lãnh thổ rộng lớn về các mặt kinh tế, chính trị, an ninh - quốc phòng, dịch vụ, du lịch, dân tộc, truyền thống và giao thông liên lạc

Ngoài các đô thị vừa là trung tâm cấp quốc gia, vừa là đô thị trung tâm cấp

vùng, các thành phố - trung tâm cấp vùng còn lại gồm các thành phố là: Cần

Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Mê Thuột, Nha Trang, Vinh, Nam Định, Thái

Nguyên, Việt Trì, Hạ Long và thị xã Hoà Bình

® Các đô thị trung tâm cấp tỉnh

Bao gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng là trung tâm hành chính - chính trị (tỉnh ly), kinh tế, văn hoá, du lịch - dịch vụ, đào tạo, nghiên cứu khoa học

và là đầu mối giao thông, giao lưu của toàn tỉnh, có vị trí quan trọng về mặt an ninh, quốc phòng

Mỗi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải có ít nhất một đô thị

trung tâm, trong đó đã có 5 thành phố vừa là đô thị trung tâm cấp quốc gia, vừa

là đô thị trung tâm cấp tỉnh, 11 đô thị là trung tam cấp vùng, đồng thời cũng là

Ngày đăng: 24/03/2018, 03:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w