1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp tăng cường giáo dục kỹ năng sống ở trung tâm học tập cộng đồng

105 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 3,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ - Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận, nghiên cứu thực trạng triển khai GDKNS ở TTHTCĐ, những bài học kinh nghiệm ở trong và ngoài nước

Trang 1

BO GIAO DUC VA DAO TAO VIÊN CHIẾN LƯỢC VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC

BAO CAO TONG KET ĐỀ Tài

MOT SO GIAI PHAP TANG CUONG GIAO DUC KI NANG SONG 6 TRUNG TAM HOC TAP CỘNG ĐỒNG

Mã số: B2005- 80- 28

Chủ nhiệm đề tài: TH.S BẾ HỒNG HẠNH

Thời gian thực hiện: 4/ 2005- 12/ 2006

Hà Nội, 2067

Trang 2

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỂ TÀI

VÀ ĐƠN VỊ THAM GIA PHỐI HỢP CHÍNH

1 Những người tham gia thực hiện đề tài

1.1 Thạc sĩ Bế Hồng Hạnh Chủ nhiệm đề tài

1.2 Thạc sĩ Vũ Thị Minh Hằng Thư kí khoa học

1.3 Thạc sĩ Đào Duy Thụ Nghiên cứu viên chính

1.4 Thạc sĩ Nguyễn Mai Hà Nghiên cứu viên chính

1.5 Cử nhan Nguyễn Văn Anh Nghiên cứu viên chính

2 Đơn vị phối hợp chính

2.1 Vụ Giáo dục Thường xuyên- Bộ Giáo dục và Đào tạo

2.2 Trung tâm NC KH về Chiến lược và Chương trình giáo dục

2.3 Sở Giáo dục và đào tạo một số tỉnh và thành phố:

Trang 3

MUC LUC

Trang

PHAN 1 MO DAU Tén dé tai

2 Lý do chọn để tài và lịch sử vấn để nghiên cứu 10

4 Đối tượng nghiên cứu 12

5 Phạm vi nghiên cứu 12

7 Phương pháp nghiên cứu 13

9 Kinh phí thực hiện đề tài 15

PHẦN 2 KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 16

I Mot số khái niệm, quan niệm liên quan 16

Il Xu thé phat triển GDKNS trong GDKCQ của một số nước trong 28

khu vực

IH Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về GDKNS nói chung và 39

GDKNS trong GDKCQ nói riêng

B THỤC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG Ở TRUNG TÂM 4l HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG HIỆN NAY

I Một số kết quả của GDKNS ở TTHTCĐ hiện nay 41

II Những thuận lợi khi tổ chức thực hiện GDKNS ở TTHTCĐ hiện 45

nay

HH Những khó khăn, hạn chế khi tổ chức thực hiện GDKNS ở 47 TTHTCĐ hiện nay và một số nguyên nhân

1 Nhận thức của cán bộ, giáo viên về GDKNS 47

2 Nội dung, chương trình học tập GDKNS 48

4 Phương pháp dạy học trong GDKNS 50

5 Tai liệu học tập GDKNS SI

6 Công tác quản lí, chỉ đạo GDKNS 52

8 Cơ sở vật chất, trang thiết bi 55

Trang 4

9 Nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế

IV Những biện pháp chủ yếu các tỉnh đã thực hiện để đẩy mạnh

GDKNS ở TTHTCĐ -

C MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GDKNS Ở TTHTCĐ

I Những căn cứ đề xuất giải pháp

I Một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

1 Giải pháp nâng cao nhận thức về tầm qưãn trọng, sự cần thiết của GDKNS và nâng cao vai trò, trách nhiệm của các ban ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc thực hiện GDKNS ở TTHTCĐ

2 Giải pháp về tăng cường công tác quản lí, chỉ đạo việc tổ chức thực

hiện GDKNS

3 Đổi mới và đa dạng hóa chương trình, nội dung, hình thức GDKNS

4 Nâng cao năng lực cho dội ngũ CB, GV/HDV tham gia GDKNS

5 Tăng cường khai thác, sử dụng và phát triển tài liệu GDKNS

6 Đổi mới kiểm tra, đánh giá hiệu quả GDKNS

7 Giải pháp về xã hội hóa giáo dục- tăng cường sự phối hợp, tham gia

của các ban ngành, đoàn thể cho GDKNS

8 Giải pháp về xây dựng, bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách,

cơ sở vật chất cho TTHTCĐ để phát triển GDKNS

II Kết quả trưng cầu ý kiến CBQLGD và GV về các giải pháp tăng

Trang 5

Cộng đồng

Dạy học

Giáo dục cho mọi ngời

Giáo dục chính quy Giáo dục không chính quy Giáo dục Kĩ năng sống Giáo dục người lớn Giáo dục thường xuyên Giáo viên

Hướng dẫn viên Học tập

Học tập suốt đời

Học viên

Kĩ năng sống

Phương pháp dạy học Trung học chuyên nghiệp

Trung tâm học tập cộng đồng

Xã hội học tập Xoá mù chữ

Trang 6

TOM TAT KET QUA NGHIEN CUU

Tên đề tài: Một số giải pháp tăng cường giáo dục kĩ năng sống

ở Trung tâm học tập cộng đồng

Mã số: B 2005- 80- 28

Chủ nhiệm đề tài: Bế Hồng Hạnh

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục ~

Cơ quan và cá nhân phối hợp: Vụ Giáo dục Thường xuyên, Bộ Giáo dục và sở

Giáo dục và Đào tạo các tỉnh và thành phố: Hà Nội, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Thái Bình, Sóc Trăng, Quãng Ngãi

Thời gian thực hiện: Từ tháng 4 năm 2005 đến tháng 12 năm 2006

1 Mục tiêu: Đề xuất một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

2 Nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận: tìm hiểu một số khái niệm liên quan đến đề tài, nghiên cứu xu thế phát triển GDKNS trong GDKCQ của một số nước trong khu vực, Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về GDKNS nói chung và GDKNS

trong GDKCQ nói riêng

- Tổ chức tìm hiểu thực trạng GDKNS ở TTHTCĐ hiện nay và xác định một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

3 Kết quả nghiên cứu:

3.1 Về nghiên cứu lý luận:

- Đề tài đã làm rõ các khái niệm, quan niệm có liên quan như: KNS, GDKNS, TTHTCD, GDTX, GDKCQ,

- Đề tài đã nghiên cứu xu thế phát triển GDKNS trong GDKCQ của một số nước

trong khu vực như: Thái Lan, Ấn độ, Nepal, Philpin, Bhutant, Indonesia,

Kazacstan, Lào, Nigêria, Philipin, Uzebêkistant; một số giải pháp và bài học kinh nghiệm nhằm tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

- Tìm hiểu chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về GDKNS trong

GDKCQ

3.2 Về nghiên cứu thực trạng:

- Dé tìm hiểu thực trạng GDKNS ở TTHTCĐ, nhóm đề tài đã tiến hành điều tra,

khảo sát thực trạng GDKNS tại các tỉnh, thành phố : Lào Cai, Vĩnh Phúc, Ninh

Bình, Thái Bình, Hà nội và trưng cầu ý kiến của CB quản lí và GV/HDV của 13 tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Quảng Ngãi; đã trưng cầu ý kiến của 210 CB quản lí của sở Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm GDTX tỉnh,

huyện và GV/HDV của TTHTCPĐ ; đã trưng cầu ý kiến của 180 học viên của các

5

Trang 7

lớp học ở TTHTCĐ Đồng thời tiến hành nghiên cứu thực trạng GDKNS ở TTHTCPĐ thông qua hồi cứu tư liệu của Hội nghị sơ kết 5 năm xây dựng và phát

triển TTHTCĐ (1999- 2004) của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Báo cáo Thực trạng

về nguồn lực của Giáo dục thường xuyên, của Viện Chiến lược và Chương trình

Giáo dục, 3/2006, báo cáo năm của các địa phương gửi về vụ chủ quản, Vụ

GDTX

- Đề tài đã tìm hiểu một số kết quả GDKNS ở TTHTCPĐ hiện nay

- Đề tài đã phân tích những thuận lợi, khó khăn và những nguyên nhân trong quá

trình triển khai GDKNS ở TTHTCĐ

3.3 Đề xuất một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

- Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận, nghiên cứu thực trạng triển khai GDKNS ở

TTHTCĐ, những bài học kinh nghiệm ở trong và ngoài nước ở khu vực về triển

khai GDKNS ở TTHTCĐ, đề tài đề xuất 8 giải pháp:

e© Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức về GDKNS và nâng cao vai trò, trách nhiệm của các ban ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc thực hiện GDKNS ở TTHTCĐ

e_ Tăng cường công tác quản lí, chỉ đạo việc thực hiện GDKNS

e_ Đổi mới và đa dạng hóa chương trình, nội dung, hình thức GDKNS

e _ Nâng cao năng lực cho đội ngũ CB, GV/HDV tham gia GDKNS

e_ Tăng cường khai thác sử dụng và phát triển tài lieu GDKNS

e _ Đổi mới kiểm tra, đánh giá hiệu quả GDKNS

se Xãhội hóa giáo dục, tăng cường sự phối hợp, tham gia của các ban ngành,

về mặt lí luận cơ bản cũng như ứng dụng triển khai

Trang 8

SUMMARY OF THE RESEARCH RESULTS

Title of the project: : Solutions to develop life- skills education

in community learning centers

- Department of Continuing Education- MOET

- Department of Education and Training in Hanoi, Lao Cai, Vinh Phuc,

Ninh Binh, Thai Binh, Soc Trang, and Quang Ngai

Duration: from April 2005 to December 2006

1 Objective: To suggest some solutions to develop life- skills education in

community learning centers

2 Main content:

- To research theoretical background: to explore some concepts relating to the subject, trends of life- skills education in Non formal education in some countries in the region; Policy of the Communist Party and State on life- skills education in general and life- skills education in non- formal education in particular

- To conduct survey on the current situation of life- skills education in community learning centers and to suggest some solutions to develop life- skills education in community learning centers

3 Research results:

3.1 In terms of theoretical research:

- In this project, we have clarified concerning concepts such as life- skills, life- skills education, community learning center, continuing education, non- formal

education

- We have studied trends of life- skills education in non- formal education in some countries in the region: Thailand, India, Nepal, Indonesia, Lao, Philippine, especially some strategies and experiences to develop life- skills education in community learning centers

- We have studied the Communist Party and the government’s policies on life- skills education in non formal education

3.2 In terms of current situation:

Trang 9

- We have conducted surveys on current situation of life- skill education in community learning centers in Lao Cai, Vinh Phuc, Ninh Binh, Thai Binh and

Ha Noi We have interviewed 210 officers working in department of education and training, continuing education centers at provincial and district levels as well

as teachers and facilitators in community learning centers Besides, 180 learners have also interviewed We have studied materials on real situation of life- skills

education in community learning centers (from 1999 to 2004) by the MOET and

the report on the current situation of capacity’s continuing education in Vietnam

by the National Institute for Education and Strategy and annual reports written

by locals

- The project has explored some results of life- skills implementation in

community learning centers

- The project presents analysis of advantages, challenges and causes in carrying out life- skills education in community learning centers

3.3 Some strategies to develop life- skill education in community learning

centers

- Based on argumentative research, the real situation of life- skills education in

community learning centers, home and foreign learnt- lessons on conducting life

- Skills education in community learning centers, we have suggested 8 strategies:

e Raising awareness on life- skills education as well as the role and

responsibility of associations, branches, social organizations in conducting life- skills education in community learning centers

e Strengthening monitoring and management and life-skills education

e Renewing and diversifying programmes, contents and styles of life- skills education

¢ Building capacity for teachers, facilitators who involved in life- skills education

* Improving collection and development of life- skills education materials

e Renewing assessment and evaluation on effectiveness of life- skills education

® Socializing education and strengthening co-ordination of branches,

associations

¢ Developing, adjusting, and complimenting mechanism, policy, physical infrastructure for community learning centers to develop life- skills education

Trang 10

The analyzed data from comments has indicated that these solutions have been highly appreciated and feasible The project also makes conclusion and suggestions to the MOET about the need to study this issue more deeply with

larger scale in terms of theory and practice

Trang 11

2 Ly do chon dé tài và lịch sử vấn đề nghiên cứu

Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay đem đến những cơ hội, vận hội

mới nhưng cũng đặt ra không ít những thách thức, những cạnh tranh quyết liệt,

những đồi hỏi, yêu cầu mới cho từng cộng đồng, quốc gia, dân tộc Để đáp ứng

những đòi hỏi, yêu cầu mới của thời đại, của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, giáo dục Việt Nam phải đào tạo tạo được một đội ngũ lao động mới, chất lượng cao Đó là những người lao động năng động, sáng tạo, có năng lực hành động có hiệu quả, có năng lực thích ứng cao với những thay đổi nhanh chóng trong cuộc

sống, trong xã hội và trong sản xuất, có năng lực hợp tác, có năng lực tự học, học

thường xuyên, học suốt đời và đặc biệt là có năng lực giải quyết vấn để như

NQTƯ 4 (khóa VI), NQTƯ 2 (khóa VI), NQTƯ 6 (khóa IX) đã nêu

Do đó, giáo dục cho người lao động hiện nay phải bao gồm một quá trình học để không những xóa mù chữ mà còn phát triển những kĩ năng cần thiết cho lao động, sản xuất, cho cuộc sống, phát triển khả năng suy luận, thể hiện hành vi tích cực, phát triển sáng tạo, khả năng linh hoạt và thích ứng Vì vậy, GDKNS cho người lao động đã ngày càng trở nên quan trọng trong thời đại ngày nay Nhận thức được tâm quan trọng của GDKNS, Đảng và Nhà nước chủ

trương tăng cơ hội/mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tất cả các chương

trình giáo dục GDKCQ, trong đó có chương trình GDKNS Mục tiêu 2 của

GDKCQ trong Kế hoạch GDCMN từ 2003-2015 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tháng 7/2003 đã khẳng định “Bảo đảm rằng tất cả người lớn, đặc biệt phụ

nữ và các nhóm thiệt thời, được tiếp cận với các chương trình GDKNS có chất lượng ” Chiến lược phát triển giáo dục 2001 — 2010 đặt mục tiêu cho GDKCQ

từ nay đến 2010 là : “Phát triển GDKCQ như là một hình thức huy động tiềm

năng của cộng đồng để xây dựng XHHT, tạo cơ hội cho mọi người, ở mọi trình

độ, mọi lứa tuổi, mọi nơi có thể học tập suốt đời phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực Tạo cơ hội cho đông đảo người lao động được tiếp tục học tập, được đào tạo lại,

10

Trang 12

được bôi dưỡng ngắn hạn, định kì và thường xuyên theo các chương trình giáo

dục, các chương trình kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu nâng cao năng

suất lao động, tăng thu nhập hoặc chuyển đổi nghề nghiệp”

GDKNS ngày càng được quan tâm ở các nước trên thế giới và trong khu vực Mục tiêu 3 của Chương trình Hành động Daka về GDCMN đã kêu gọi các

nước cam kết: “Đảm bảo cho tất cả trẻ em, các vị thành niên và người lớn Äược tiếp cận với chương trình kĩ năng sống phù hợp thông qua giáo dục chính quy và

giáo dục không chính quy”

Mạng lưới TTHTCĐ xã, phường được thành lập với mục đích chủ yếu là cung cấp GDKNS cho mọi người dân ở cộng đồng Tính đến nay, đã có trên

7000 TTHTCĐ được thành lập ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước

GDKNS là một trong những mục tiêu, nội dung quan trọng của các TTHTCĐ

Các TTHTCĐ chỉ có thể tồn tại và phát triển bên vững khi GDKNS được coi trọng và tổ chức thực hiện có hiệu quả GDKNS có vai trò rất quan trọng đối với

sự phát triển bền vững của cộng đồng Phát triển bền vững là sự cân đối, hài hòa

giữa phát triển kinh tế, phát triển văn hóa xã hội và bảo vệ môi trường Một cộng đồng chỉ phát triển kinh tế mà môi trường bị ô nhiễm, nhiều người bị bệnh tật suy dinh dưỡng, nhiều tệ nạn xã hội thì không thể phát triển bền vững được GDKNS còn có vai trò quan trọng đối với từng người dân ở cộng đồng Bởi hiện

nay, người dân không chỉ có nhu cầu học chữ, học văn hóa hay học nghề Người

dân không chỉ có nhu cầu xóa đói, giảm nghèo mà còn muốn nâng cao chất lượng cuộc sống, muốn làm giàu Người dân không thể nâng cao chất lượng cuộc

sống và làm giàu nếu thiếu các kĩ năng cẩn thiết Tuy nhiên, do nhiều nguyên

nhân việc triển khai GDKNS ở TTHTCPĐ hiện nay còn nhiều hạn chế về quy mô

và chất lượng

Những năm gần đây, Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu và triển khai thực

hiện GDKNS trong GDCQ và GDKCOQ như: Chương trình “Giáo dục KNS trong giáo dục sức khỏe cho học sinh” (Vụ Thể chất, Bộ GD-ĐT, năm 1998); chương trình thực nghiệm “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS cho học sinh THCS” (Bộ GD-ĐT và UNICEE, năm 2003); chương trình “Giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khóa trong nhà trường” (Bộ GD-ĐT và UNFPA, năm 2005);

Qua các chương trình trên cho thấy, hiện nay việc thực hiện GDKNS ở Việt Nam chủ yếu theo cách tiếp cận đơn lẻ, riêng rẽ các kĩ năng chung, kĩ năng

cụ thể, kĩ năng biết chữ chứ chưa tích hợp cả ba loại kĩ năng vào một chương trình GDKNS

H

Trang 13

Mat khác, các chương trình này mới chỉ khái quát thực trạng và định hướng chung về phát triển GDKNS trong GDCQ và GDKCQ, chưa có những

nghiên cứu cụ thể về thực trạng và hiệu quả triển khai GDKNS ở các TTHTCĐ

Vì vậy, việc xác định thực trạng GDKNS ở TTHTCĐ để tìm ra các giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCD là hết sức cần thiết và cấp bách

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

4 Đối tượng nghiên cứu

Giải pháp tăng cường giáo dục kĩ năng sống ở TTHTCĐ

5 Pham vi, giới hạn nghiên cứu của đề tài

TTHTCD là cơ sở giáo dục đa chức năng, thực hiện nhiều hoạt động giáo

dục khác nhau như: Xoá mù chữ, Sau xoá mù chữ, Bổ túc văn hoá, GDKNS, thông tin tư vấn, phát triển cộng đồng Tuy nhiên, trong giới hạn, phạm vị của

mình, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCD

6 Nội dung nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận:

- Một số khái niệm liên quan (KNS, GDKNS, TTHTCĐ, GDTX,

GDKCQ)

- Xu thé phát triển GDKNS trong GDKCQ ở một số nước trong khu vực

-_ Chủ trương của Đảng và Nhà nước về GDKNS nói chung và GDKNS

trong GDKCQ nói riêng

6.2.Thực trạng GDKNS ở TTHTCPĐ hiện nay

- _ Một số kết quả của GDKNS 6 TTHTCD hiện nay

- _ Những thuận lợi khi tổ chức thực hiện GDKNS ở TTHTCD hiện nay

- Những khó khăn, hạn chế khi tổ chức thực hiện GDKNS ở TTHTCĐ và một số nguyên nhân

- - Những biện pháp chủ yếu các tỉnh đã thực hiện để đẩy mạnh GDKNS ở

TTHTCD

6.3 Một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

- Những căn cứ đề xuất giải pháp

~ Một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

- Kết quả trưng cầu ý kiến CBQLGD và GV về giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

12

Trang 14

7 Phương pháp nghiên cứu

Trong qua trình nghiên cứu, nhóm để tài đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu tư liệu/ hồi cứu tư liệu

7.2 Phương pháp điều tra

7.3 Phương pháp chuyên gia

Š Quá trình triển khai nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu được chia thành các giai đoạn sau:

8.1 Từ tháng 4/2005 đến tháng 6/2005: nghiên cứu cơ sở lý luận

Mục đích của việc nghiên cứu này giúp để tài có thêm cơ sở lý luận để nghiên cứu những giải pháp nhằm tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

Để đạt được mục đích trên, từ tháng 4/2005 đến tháng 6/2005 đề tài đã:

e Nghiên cứu một số khái niệm liên quan đến đề tài như KNS, GDKNS, TTHTCĐ, GDTX, GDKCQ,

e Nghiên cứu xu thế phát triển giáo dục kĩ năng sống trong Giáo dục không chính quy của một số nước trong khu vực

e Nghiên cứu những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về Giáo dục kĩ

năng sống nói chung và Giáo dục kĩ năng sống trong giáo dục không

chính quy nói riêng

§.2 Từ tháng 7/2005 đến tháng 12/2005: Điều tra thực trạng giáo dục kĩ

năng sống ở Trung tâm học tập cộng đồng hiện nay và viết báo cáo

Mục đích điều tra, khảo sát: nhằm tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở

TTHTCĐ hiện nay

Nội dung điều tra, khảo sát:

e _ Thực trạng GDKNS ở TTHTCPĐ hiện nay

e Những thuận lợi khi tổ chức thực hiện GDKNS ở TTHTCĐ

e© Những khó khăn, hạn chế khi tổ chức thực hiện GDKNS ở TTHTCĐ hiện nay và một số nguyên nhân

e Những biện pháp chủ yếu các tỉnh đã thực hiện để đẩy mạnh GDKNS ở

TTHTCPĐ và bài học kinh nghiệm

Để đạt được mục đích trên, từ tháng 7/ 2005 đến tháng 11/ 2005 đề tài đã tiến

hành điều tra, khảo sát thực trạng GDKNS tại Tỉnh Lào Cai, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Thái Bình, Sóc Trăng, Quãng Ngãi, Hà Nội và 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Đồng thời tiến hành nghiên cứu thực trạng GDKNS của một số tỉnh thông qua hồi cứu báo cáo, tư liệu

13

Trang 15

Đối tượng điều tra, khảo sát:

Cán bộ lãnh đạo của một số sở GD- ĐT

Cán bộ quản lý giáo dục của các phòng GD- ĐT, TTGDTX tỉnh, huyện

e Lãnh đạo đảng, chính quyền cơ sở, đại diện các ban ngành của xã, Ban giám đốc TTHTCĐ

e GV, HDV ởcác TYHTCD -

e HV hién đang theo học các lớp ở TTHTCĐ

Phương pháp điều tra, khảo sát:

Điều tra bằng “phiếu trưng cầu ý kiến"

Toạ đàm

Quan sát, dự giờ thăm lớp

Nghiên cứu văn bản (các kế hoạch hoạt động, báo cáo tổng kết của một số TTHTCD và các bài soạn giảng của các GV/ HDV cộng đồng )

Kết quả điều tra:

e Đã điều tra, khảo sát tại các tỉnh Hà Nội, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Ninh Bình,Thái Bình, Sóc Trăng, Quấng Ngãi

e_ Đã tiến hành toa dim voi Can bộ lãnh đạo của một số sở GD- ĐT, cán bộ quản lý giáo dục của các phòng GD- ĐT, TTGDTX tỉnh, huyện, lãnh đạo

đảng, chính quyền cơ sở, đại diện các ban ngành của xã, Ban giám đốc TTHTCĐ và một số GV, HDV ở các TTHTCĐ

© Điều tra bằng phiếu được 210 người (bao gồm cán bộ quản lý và chỉ đạo GDTX, ban quan ly TTHTCD và các giáo viên, hướng dẫn viên)

e Điều tra bằng phiếu được 180 học viên tham gia lớp học chuyên để ở

TTHTCD

8.3 Từ tháng 1 đến thang 5/2006: Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

Trong hoạt động này, nhóm đề tài đã tổ chức nhiều buổi sinh hoạt khoa học để:

®© Thảo luận tình hình GDKNS ở một số nước trong khu vực, từ đó liên hệ đến GDKNS ở Việt Nam

© Phân tích, đánh giá kết quả điều tra thực trạng GDKNS ở TTHTCPĐ tại các

tỉnh Hà Nội, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Ninh Bình,Thái Bình, Sóc Trăng,

Quãng Ngãi

e© Thảo luận những căn cứ để xác định những giải pháp nhằm tăng cường

GDKNS ở TTHTCĐ

14

Trang 16

e Thảo luận, để xuất một số giải pháp nhằm tăng cường GDKNS ở

TTHTCĐ

8.4 Tháng 6/2006: Tổ chức hội thảo về: “Một số giải pháp tăng cường GDKNS 6 TTHTCD”

Mục đích Hội thảo nhằm thảo luận một số vấn đề sau:

e Quan niệm GDKNS trong và ngoài nước

e Xu thé gido dục KNS ở trong và ngoài nước

e Thực trạng GDKNS hiện nay ở TTHTCĐ (những thuận lợi, khó khăn và

nguyên nhân trong việc triển khai GDKNS ở TTHTCĐ)

e© Một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ

Hội thảo đã nghe nhiều báo cáo tham luận của các nhà khoa học, các nhà

quản lý chỉ đạo của sở GD- ĐT của một số tỉnh

Hội thảo đã thống nhất được những nhóm giải pháp chủ yếu để tăng cường

GDKNS ở TTHTCĐ

8.5 Từ tháng 7 đến tháng 12/2006: Hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu và viết

báo cáo tổng kết đề tài

9 Kinh phí thực hiện: Tổng số kinh phí đề tài nhận được trong 2 năm là

45.000.000đ (Bốn năm triệu đông chẵn)

10 Sản phẩm khoa học của đề tài

10.1 Kỷ yếu Hội thảo về: “ Một số giải pháp tăng cường giáo dục kĩ năng sống

10.2 Báo cáo kết quả điều tra, khảo sát thuc trang GDKNS hién nay 6 TTHTCD 10.3 Một bài báo đăng trong Tạp chí Khoa học giáo dục

10.4: Báo cáo tổng kết đề tài

10.5 Báo cáo tóm tắt dé tài

15

Trang 17

PHAN 2 KET QUA NGHIEN CUU

A.Cơ sở lí luận của dé tài

1 Một số khái niệm, quan niệm có liên quan

1 Quan niệm về kĩ năng sống

Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến từ năm 1996 qua một số dự

án và thực sự được phát triển rộng rãi trong những năm gần đây Tuy nhiên, hiện

còn có nhiều quan niệm rộng, hẹp khác nhau

1.1 Quan niệm:

Quan niệm hẹp cho rằng KNS chỉ liên quan đến lĩnh vực thu nhập, lĩnh vực sức khoẻ (đinh dưỡng, vệ sinh, phòng chống bệnh tật ) và chỉ cần cho một

số nhóm đối tượng thiệt thòi, yếu thế trong xã hội Song cùng với sự phát triển

của đời sống xã hội quan niệm về KNS được hiểu rộng hơn, đẩy đủ hơn Con người không chỉ cần các KNS liên quan tới tăng thu nhập và sức khoẻ, mà còn cần nhiêu KNS sống khác nữa mới có thể thích ứng và tồn tại trong xã hội ngày nay

Có thể nói rằng, hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về KNS

Chẳng hạn:

KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng của mình và

có thể tham gia vào cuộc sống hàng ngày

KNS là những hành vi làm cho cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các vấn đề và thách thức của cuộc sống

KNS là những năng lực đáp ứng và những hành vi tích cực giúp cá nhân có

thể giải quyết có hiệu quả những vấn đề và thách thức của cuộc sống hàng ngày

(Tổ chức y tế thế giới)

KNS là những kĩ năng tâm lí xã hội liên quan đến tri thức, những giá trị và những thái độ Bốn trụ cột trong giáo dục là một cách tiếp cận kĩ năng sống Đó

chính là sự kết hợp các kĩ năng tâm lí xã hội (học để biết là KNS liên quan đến

tri thức; học để tự khẳng định là KNS liên quan đến giá tri; hoc dé cùng chung sống là KNS liên quan đến thái độ) với kĩ năng tâm vận động, học để làm liên quan đến kĩ năng thực hành (UNESCO, 2003)

Trong GDKCQ, KNS là năng lực để có hành vỉ tích cực và thích ứng

của con người trước những nhu cầu, thách thức và thực tế của cuộc sống

hàng ngày, cũng như năng lực thay đổi, nâng cao chất lượng cuộc sống

(UNESCO, 2003)

16

Trang 18

Như vậy, quan niệm KNS là những kĩ năng mang tâm lí xã hội giúp giải

quyết có hiệu quả những tình huống trong cuộc sống v.v có nội hàm hẹp hơn, nhưng là những kĩ năng phức tạp hơn, đòi hỏi sự tổng hợp các yếu tố kiến thức,

thái độ và hành vi Quan niệm này được vận dụng phổ biến trong giáo dục chính quy Còn quan niệm cho rằng KNS là năng lực để thực hiện đầy đủ các chức

năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày có nội hàm rộng hơn vì nó bao gồm

cả những kĩ năng cơ bản, Kĩ năng chung và kĩ năng cụ thể Đây chính là điểm

riêng trong quan niệm về KNS trong GDKCQ Nó là cơ sở đẫn đến điểm riêng

trong cách phân loại về KNS trong GDKCQ Quan niệm KNS trong đề tài này

cũng được hiểu theo nghĩa rộng như vậy

Tuy các định nghĩa được diễn đạt khác nhau, nhưng nhìn chung các quan

niệm hiện nay đều thể hiện một điểm chung cốt lõi, đó là, KNS vừa mang tính cá

nhân vừa mang tính xã hội KNS mang tính cá nhân vì đó là năng lực của cá nhân KNS còn mang tính xã hội vì trong mỗi một giai đoạn phát triển của lịch

sử xã hội, ở mỗi vùng miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có những KNS thích hợp KNS không chỉ để giải quyết những vấn đề tệ nạn xã hội, cũng không chỉ là những năng lực/hành vi đáp ứng/thích nghi, giải quyết những yêu cầu của cuộc

sống hàng ngày mà nó có thể làm thay đổi, nâng cao chất lượng cuộc sống của

con người

1.2 Phân loại:

Về cách phân loại KNS hiện cũng rất đa dạng, phong phú, tuỳ theo mục đích, theo tiêu chí khác nhau:

* C6 thé chia các KNS thành 2 nhóm chủ yếu: KNS cốt lõi và KNS trong từng

lĩnh vực của đời sống con người (sức khoẻ, tăng thu nhập, đời sống gia đình,

xã hội, giới, môi trường v.v ) KNS cốt lõi lại có 3 loại chủ yếu:

- Kỹ năng nhận thức (tư duy phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề, nhận thức

hậu quả, ra quyết định v.v )

- Kỹ năng liên quan tới cảm xúc (ý thức trách nhiệm, cam kết, kiểm chế,

kiểm soát được cảm xúc, tự giác, tự điều chỉnh v.v )

- Kỹ năng xã hội hay kỹ năng tương tác (Kỹ năng làm việc trong nhóm, kỹ

năng liên kết, phối hợp, kỹ năng thương thuyết/đàm phán, kỹ năng giao tiếp,

kỹ năng lắng nghe, thông cảm v.v )

s Trong tài liệu về giáo dục KNS hợp tác với UNICEF (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Thể chất, 1998) đã giới thiệu một cách phân loại, trong đó KNS được phân thành 3 nhóm:

17

Trang 19

- Kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, gồm có: Kĩ năng tự nhận thức;

Lồng tự trọng; Sự kiên định; Đương đầu với cảm xúc; đương đầu với căng

thẳng

- Những Kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm: Kĩ năng quan

hệ/tương tác liên nhân cách; Sự cảm thông; đứng vững trước áp lực tiêu cực

của bạn bè hoặc của người khác; Thương lượng; Giao tiếp có hiệu quả

- Các kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả, bao gồm các kĩ năng: Tư duy phê phán; tư duy sáng tạo; Ra quyết định; Giải quyết vấn đề

se Dựa trên cách phân loại từ lĩnh vực sức khỏe, UNESCO đưa ra cách phân loại

sau (UNESCO Hà Nội, 2003):

- Những KNS chung được phân thành 3 nhóm:

+ Kĩ năng nhận thức bao gồm các kĩ năng cụ thể như: Tư duy phê phán,

giải quyết vấn đẻ, nhận thức hậu quả, ra quyết định, khả năng sáng tạo, tự nhận thức về bản thân, đặt mục tiêu, xác định giá trị v.v

+ Kĩ năng đương đầu với xúc cảm, bao gồm động cơ, ý thức trách nhiệm,

cam kết, kiểm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và tự điều chỉnh v.v

+ Kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác, bao gồm kĩ năng giao tiếp; tính quyết đoán; kĩ năng thương thuyết/từ chối, lắng nghe tích cực, hợp tác, sự thông cảm, nhận biết sự thiện cảm của người khác v.v

Cách phân loại KNS chung này, cho thấy KNS chung bao gồm cả những thành tố: trí tuệ, tâm lí- xã hội và thực tiễn

- Những KNS trong từng vấn đề cụ thể, có những KNS đối với từng vấn đề cụ thể

như sau:

+ Vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng

+ Các vấn đề về giới, giới tính và sức khỏe sinh sản

+ Ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS

+ Sử dụng rượu, thuốc lá và ma túy

+ Ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro

+ Hòa bình và giải quyết xung đột

+ Gia đình và cộng đồng

+ Giáo dục công dân

+ Bảo vệ thiên nhiên và môi trường

+ Văn hóa

+ Ngôn ngữ

+ Công nghệ

18

Trang 20

Theo đó, bên cạnh những KNS cốt lõi, những KNS chung thì còn có

những KNS trong từng lĩnh vực của đời sống con người

e Citing theo UNESCO, KNS 4p dung trong GDTX/GDKCQ (Hoi thao Day mạnh giáo dục ki năng sống trong GDKCQ, tháng 12 năm 2003, tai Bali, Indonesia) có thể được phân thành 3 loại, kĩ năng cơ bản, kĩ năng chung va ki

năng cụ thể:

- Kỹ năng cơ bản: Là những kĩ näñpg tối thiểu cần thiết mà mỗi người cần phải

có thì mới có thể tồn tại được (Kĩ năng đọc, viết, tính toán, kĩ năng sử dụng vi tính, kĩ năng sử dụng ngoại ngữ.v.v )

- Kỹ năng chung: Là những kĩ năng chung cần thiết cho tất cả mọi người, mọi hoàn cảnh, mọi địa phương (Kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy phê

phán, kĩ năng làm việc tập thể, hợp tác, đàm phán, giao tiếp v.v )

- Kỹ năng cụ thể: Là kĩ năng cần thiết trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó, ở

một địa phương cụ thể, ở một thời điểm cụ thể nào đó, trong lĩnh vực nào đó

của đời sống con người (Sức khoẻ, tăng thu nhập, đời sống gia đình, giới, môi

trường v.v )

Tất nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối Trong thực tế, 3 loại kĩ năng này không thể tách rời nhau, có liên quan chặt chẽ hỗ trợ lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất Trong thời đại ngày nay, muốn thành công một

nghề nào đó, người lao động không chỉ cần có kỹ năng thành thạo về một nghề

đó (ví dụ kĩ năng chăn nuôi lợn), mà rất cần các kĩ năng chung khác như kĩ năng nấm bắt được nhu cầu thị trường, kĩ năng kinh doanh, kĩ năng huy động vốn, kĩ

năng quảng cáo v.v để có được các kĩ năng chung đó, không thể không biết

đọc, viết, tính toán Một số công việc còn đòi hỏi cả kĩ năng sử dụng vi tính,

ngoại ngữ v.v Vì vậy, khi thiết kế, xây dựng bất kỳ một chương trình GDKNS

nào cần phải chú ý cả 3 loại KNS Muốn GDKNS có chất lượng, hiệu quả thực

sự phải chú ý đầy đủ tới 3 loại KNS này Có như vậy, GDKNS mới có thể thực sự

giúp người học giải quyết có hiệu quả những vấn đề và thách thức trong cuộc sống cũng như trong công việc của mình

Như vậy, các quan niệm về KNS trên cho thấy: KNS được hiểu theo các nghĩa hẹp và rộng khác nhau, và các yếu tố hợp phần của KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy cũng khác so với lĩnh vực GDTX/GDKCQ, nhưng đều có điểm chung Các KNS nhằm giúp con người chuyển dịch kiến thức-“cái chúng ta

đã biết” và thái độ, giá trị- “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành

động thực tế- “làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây

dựng ‘

19

Trang 21

2 Quan niệm về giáo đục kĩ năng sống trong Giáo dục thường xuyên/Giáo

dục không chính quy

GDKNS không phải là một cái gì đó hoàn toàn mới Về thực chất,

GDKNS đã được quan tâm từ lâu trong GDKCQ, dưới nhiều tên gọi khác nhau như giáo dục hành dụng/giáo dục chức năng, giáo dục chuyên đề, giáo đục tang thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống v.v hay cụ thể hơn giáo dục môi

trường, giáo dục dân số, giáo dục sức khoẻ GDKNS là giáo dục cách sốñg tích

cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi

những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá

trị, thái độ và kĩ năng thích hợp

Ngay từ khi mới thành lập nước, ngành Bình dân học vụ (BDHV) đã quan

tâm tới GDKNS cho nhân dân Trong thư gửi cán bộ giáo viên BDHV nhân quốc

khánh 2/9/48, Bác Hồ đã kêu gọi: “Vùng nào đã hết nạn mù chữ, thì các bạn thi

đua để tiến lên một bước nữa, bằng cách dạy cho đồng bào:

1 Thường thức vệ sinh, để dân bớt đau ốm

2 Thường thức khoa học, để bớt mê tín nhắm

3 Bốn phép tính để làm ăn có ngăn nắp

4 Lịch sử và địa dư nước ta (vấn tết bằng thơ ca) để nâng cao lòng yêu

nước

5 Đạo đức công dân, để thành người công dân đúng đắn

Trong thời gian qua, GDKNS đã được tích hợp trong tất cả các chương trình của GDKCQ từ XMC, sau XMC, Bổ túc văn hoá hoặc được dạy theo các

chuyên đề, chương trình riêng như chương trình đáp ứng nhu cầu người học,

chương trình giáo dục tăng thu nhập, chương trình giáo dục nâng cao chất lượng cuộc sống v.v ví dụ:

- Chương trình XMC có 32 chủ đề thuộc 4 lĩnh vực nội đung hành dụng, chương trình Sau XMC có 48 chủ để thuộc 6 lĩnh vực nội dung hành dụng như:

Đời sống gia đình, Kinh tế thu nhập, Bảo vệ sức khoẻ, ý thức công dân, Kỹ thuật

sản xuất nông nghiệp, Môi trường v.v Kiến thức hành dụng không chỉ được coi

là phương tiện để giúp người học học chữ hứng thú hơn, hiệu quả hơn, mà còn là mục tiêu quan trọng của các chương trình XMC và sau XMC hiện nay

- Đặc biệt, GDKNS còn được thực hiện chủ yếu thông qua các chương

trình giáo dục theo chuyên để/chương trình giáo dục không cấp lớp/chương trình

Giáo dục đáp ứng nhu cầu người học Đây là các chương trình trong GDKCQ giàu tiềm năng GDKNS nhất vì nó hoàn toàn được xây dựng dựa trên nhu cầu của người học ở từng địa phương

20

Trang 22

Từ khi hệ thống mạng lưới TTHTCĐ cấp xã/phường hình thành và phát

triển rộng khắp thì GDKNS ngày càng được quan tâm hơn và đã đạt được một số kết quả bước đầu

3 Trung tâm học tập cộng đồng

TTHTCD theo quan niệm của ƯNESCO khu vực là cơ sở giáo dục không

chính quy của một làng /xã hay phường, thường do cộng đồng thành lập và quản

lí nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển

cộng đồng thông qua việc tạo cơ hội học tập suốt đời của người dân trong cộng

đồng

«e Về bản chất TTHTCĐ là tổ chức giáo dục không chính quy của cộng đồng,

do cộng đồng và vì cộng đồng TTHTCĐ (cơ sở GDKCQ) và nhà trường phổ

thông (cơ sở GDCQ) ở các nước trong khu vực đều có chức năng giáo dục,

nhưng mỗi tổ chức đều có đặc điểm riêng của nó TTHTCĐ khác với nhà trường chính quy ở chỗ:

- Do cộng đồng thành lập

- Ban quản lí, đội ngũ GV/HDV là những người tình nguyện

- Không chặt chẽ về mặt thời gian (người học có thể tham gia học bất ki

lúc nào, học thường xuyên, học suốt đời, không bị giới hạn về độ tuổi)

- Phục vụ cho mọi người, mọi độ tuổi, mọi giới

- Không định hướng bằng cấp (người học không nhằm đạt được bằng cấp

mà học để cập nhật, nâng cao kiến thức, kĩ năng phục vụ sản xuất, nâng

cao chất lượng cuộc sống, phát triển cộng đồng)

- Chương trình và hoạt động linh hoạt đáp ứng kịp thời các nhu cầu của cộng đồng (ngoài việc thực hiện một số chương trình của quốc gia, thì chủ yếu TT thực hiện chương trình đáp ứng yêu cầu người học là chương trình

do cộng đồng tự xây dựng)

- Đa dạng, tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế- xã hội của từng cộng đồng

® Mục đích của các TTHTCPĐ là:

- Tạo cơ hội học tập suốt đời thực sự và có hiệu quả cho tất cả mọi người

- Xây dựng cơ sở hạ tầng của GDTX nhằm tạo điều kiện cho những người

mới biết chữ củng cố, nâng cao và vận dụng những kiến thức đã học để nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển cộng đồng

© Các TTHTCĐ đều có chức năng chung, tuy nhiên tùy từng bối cảnh kinh tế,

văn hóa, xã hội cụ thể của từng cộng đồng, trong từng thời điểm cụ thể mà

21

Trang 23

tập trung hoặc ưu tiên cho các chức năng này hay khác Về cơ bản, các TTHTCĐ ở các nước trong khu vực thực hiện 4 nhóm chức năng chính:

- Chức năng giáo dục và huấn luyện

- Chức năng thông tin, tư vấn

- Chức năng phát triển cộng đồng

- Chức năng liên kết, phối hợp

e _ Các TTHTCP trong khu vực đều đóng vai trò như là:

- Một trung tâm học tập suốt đời cho tất cả mọi người dân trong cộng

đồng

- Một trung tâm huấn luyện, đạy nghề

- Một trung tầm thư viện, đọc sách của làng, xã

- Một địa điểm hội họp của cộng đồng

- Một trung tâm văn hóa, thể thao của cộng đồng

e_ Nội dung hoạt động chủ yếu của các TIHTCĐ là:

- Tổ chức các lớp XMC, Sau XMC để củng cố kĩ năng biết chữ và tính toán

- Mỡ các lớp BTVH cho thanh niên có nhu cầu

- Tổ chức đọc sách báo hoặc cho mượn như thư viện, phòng đọc sách

- Tổ chức học tập những vấn đề chung của cộng đồng như chăn nuôi, bảo

vệ sức khỏe v.v , huấn luyện nghề cho thanh niên, hướng dẫn các các hoạt động tăng thu nhập v.v

- Phổ biến thông tin

- Tổ chức truyền thông qua đài, tỉ vi

- Tổ chức các hoạt động giải trí, văn hóa, thể thao v.v

Trên đây là mô hình TTHTCĐ trong tương lai mà Việt Nam phải hướng tới Với đặc điểm, điều kiện thực tế của Việt Nam thì trong giai đoạn đầu hình

thành và phát triển TIHTCPĐ, người dân và cộng đồng không thể tự đứng ra

thành lập và chăm lo phát triển TTHTCĐ được mà cân phải có sự hỗ trợ về mặt

tài chính của Chính phủ bằng ngân sách Nhà nước Sau đó, TTHTCĐ mới

chuyển dần sang cộng đồng tự quản, tự thu chi Tức là, TTHTCĐ ở Việt Nam sẽ

trải qua ba giai đoạn phát triển: Giai đoạn đầu đầu là của Nhà nước và nhân dân,

sau đó là của nhân dân với Nhà nước, cuối cùng mới hoàn toàn là của dân

Với nhiệm vụ, chức năng như vậy, hiện nay TTHTCĐ đang là mô hình giáo dục hữu hiệu để thực hiện GDKNS, nâng cao dân trí, phát triển cộng đồng của một số nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam Từ khi bắt đầu được thí điểm (năm 1998) và nhân rộng (năm 2000) đến nay Việt Nam đã có trên 7000

22

Trang 24

TTHTCĐ (đạt tỉ lệ gần 70%) và phấn đấu đến năm 2010 (theo Mục tiêu của Dé

án “Xây dựng xã hội học tập”, số 112/2005/QĐ-TTG, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ngày 18 tháng 5 năm 2005) sẽ có “rên 80% các xã, phường, thị trấn

trong cả nước xây dựng được Trung tâm học tập cộng đồng” và đến 2015 sẽ có 100% xã, phường, thị trấn có TTHTCĐ theo Kế hoạch hành động quốc gia Giáo

dục cho Mọi người, 2003-2015

#lơn nữa, mô hình TTHTCĐ đã được chính thức hóa bằng Luật Giáo dục

năm 2005 với tư cách là cơ sở của GDTX Theo Điều 46, Luật Giáo dục năm

2005, “TTHTCĐ được tổ chức tại xế, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp

xZ)” Điều này, chứng tô TTHTCĐ ở Việt Nam đã được thể chế hóa và đang

được Đảng và Nhà nước bước đầu quan tâm

Việc phát triển TTHTCĐ sẽ tạo một điều kiện vô cùng thuận lợi cho

GDKNS ở cộng đồng TTHTCĐ là địa điểm học tập KNS thuận lợi nhất, là đầu mối tổ chức GDKNS tốt nhất cho người dân Mặt khác, GDKNS chính là mục

tiêu, là nội dung quan trọng của các hoạt động của TTHTCĐ

4 Giải pháp tăng cường GDKNS ở Trung tâm học tập cộng đồng

Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân, năm 2000:

- “Giải pháp” nghĩa là cách giải quyết một vấn đề khó khăn

- “Tăng cường ”nghĩa là làm cho mạnh hơn lên

Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia,

năm 2005: ‘

- “Giải pháp” nghĩa là cách giải quyết một vấn đề

- “Tăng cường” nghĩa là làm cho tăng thêm về số lượng, về khả năng

Tương tự 2 cuốn từ điển trên, từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ, năm

1997 cũng giải thích :

~- “Giải pháp” nghĩa là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó

- “Tang cường” nghĩa là làm cho nhiều thêm, mạnh thêm

Do đó, cụm từ “Giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ” theo quan

niệm của nhóm để tài nghĩa là những phương pháp làm nhiều thêm về quy mô,

số lượng và mạnh thêm về hiệu quả, chất lượng GDKNS ở TTHTCĐ

Thực tế của TTHTCĐ xã, phường Việt Nam hiện nay cho thấy việc triển khai GDKNS 6 TTHTCD còn nhiều hạn chế về quy mô và chất lượng Do vậy,

để tăng cường GDKNS, nhóm để tài cho rằng TTHTCĐ cần có những giải pháp

để khắc phục những hạn chế, khó khăn hiện nay của GDKNS để từ đó GDKNS ở

23

Trang 25

TTHTCĐ sẽ phát triển hơn cả về quy mô và chất lượng Đó là những hạn chế,

~ Đội ngũ GV/HDV tham gia GDKNS

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ GDKNS

5 Giáo dục thường xuyên

Hiện nay thuật ngữ Giáo dục người lớn (Adult Education), Giáo dục không chính qui (Non formal Education), Gido duc thudng xuyén (Continuing Education) được dùng ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực với nghĩa

tương đương hoặc giống nhau

Theo UNESCOt, “GDTX là một khái niệm rộng lớn, bao gồm tất cả các

cơ hội học tập cho mọi người có mong muốn hoặc cần có sau XMC cơ bản và

giáo dục tiểu học”

Ở Việt Nam, nhiều thuật ngữ đã được sử dụng như “Bình dân học vụ”, “Bổ

túc văn hoá”, “Giáo dục bổ túc”, “Giáo dục thường xuyên” và theo Luật Giáo dục 1998 “Giáo dục không chính qui” được dùng thay cho “Giáo dục thường xuyên” Và gần đây nhất, trong Luật Giáo dục 2005, thuật ngữ “Giáo dục thường xuyên” lại được sử dụng thay cho “Giáo dục không chính qui” Theo Điều 4, Luật Giáo dục, 2005, GDTX là một trong hai bộ phận cấu thành hệ

thống giáo dục quốc dân: “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy

và giáo dục thường xuyên” và “ Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm

vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu

biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghỉ với đời sống xã hội ”

Việc sử dụng thuật ngữ khác nhau này phản ánh được sự tiến triển trong quan niệm về GDTX ở Việt Nam và xu thế hoà nhập với các nước trong khu vực Quan niệm về GDTX ngày càng được mở rộng, từ chỗ chỉ quan tâm tới XMC,

BTVH, nay đã quan tâm tới nhiều loại hình học tập khác nhau của nhân dân lao động

24

Trang 26

6 Giáo dục không chính qui

Hiện nay, quan niệm vẻ giáo dục ngày càng được mở rộng, giáo dục theo

được hiểu nghĩa rộng bao gồm cả GDCQ và GDKCQ, bao gồm cả giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường Giáo dục đang diễn ra không chỉ trong nhà

trường, cho một độ tuổi nhất định mà khắp mọi nơi, cho tất cả mọi người, mọi độ tuổi, suốt cuộc đời Với nhiều chương trình, nội dung và hình thức học tập khác nhau

Biểu đồ 1: Quan niệm rộng và hẹp về giáo dục

GDCQ

——

GDKCQ

Quan niệm hẹp về giáo dục Quan niệm rộng về giáo dục

Do đó, GDKCQ đã, đang và ngày càng có vai trò quan trọng trong việc

thực hiện công bằng trong giáo dục, trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho từng địa phương, từng quốc gia Ngày nay, trong bối cảnh của

“Giáo dục suốt đời”, “Giáo dục cho mọi người” và xây dựng “Xã hội học tập”,

GDKCCQ lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Vì vậy, GDKCQ hiện nay là xu thế

phát triển tất yếu ở các nước trên thế giới và trong khu vực

Về khái niệm, hiện nay GDKCQ ở các nước trên thế giới và trong khu vực còn được sử dụng tương đương với các thuật ngữ khác nhau và với nghĩa rộng, hẹp khác nhau Một số nước sử dụng các thuật ngữ khác nhau như “Giáo dục người lớn” (Adult Education), “Giáo dục thường xuyên” (Continuing Education),

“Giáo dục ngoài nhà trường” (Oui-of-school Education) hoặc “Giáo dục cộng đồng” (Community Edueation) với nghĩa tương đương với “GDKCQ”

Mặc dù sự phát triển GDKCQ hiện nay ở mỗi nước còn rất khác nhau về

mức độ song nhìn chung, GDKCQ (cùng với GDCQ) đều đã được coi là những

bộ phận quan trọng, cần thiết của bất kì hệ thống giáo dục quốc dân nào theo

quan niệm rộng về giáo đục

25

Trang 27

Quan niệm về GDKCQ ngày càng được mở rộng Trước đây, GDKCQ chỉ

dành cho đối tượng là người lớn và thanh thiếu niên chưa bao giờ đến trường

hoặc bỏ học GDCQ Ngày nay, trong bối cảnh “Giáo đục thường xuyên”, “Giáo dục suốt đời”, “Giáo dục cho mợi người”, “Xã hội học tập” đối tượng của GDKCQ theo nghia rộng là tất cả mọi người mọi độ tuổi, mọi nghề nghiệp, mọi

trình độ, kể cả những người có trình độ văn hoá cao Tuy nhiên, đối tượng của

GDKCQ theo nghĩa hẹp vẫn là những người mù chữ, thất học, người có trình độ

văn hoá thấp, chưa đạt trình độ phổ cập, những người có trình độ văn hoá hạn

chế ở cộng đồng có nhu cầu học thêm để nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình và xã hội

A - Biểu đồ 2: Đối tượng của GDCQ và GDKCQ

Số người học/Số dân trong độ tuổi

Đối tượng của GDKCQ theo nghĩa rộng

Đối tượng của GDCQ

26

Trang 28

Chức năng của GDKCQ ngày càng được mở rộng GDKCQ không chỉ có

chức năng thay thế, tiếp nối, mà còn có chức năng bổ sung, hoàn thiện

Nhiệm vụ của GDKCQ là cung ứng các cơ hội học tập cho mọi người ở

mọi trình độ, phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu rất đa dạng về nâng cao trình độ,

mở rộng hiểu biết, cập nhật kiến thức, chuyển đổi nghề nghiệp, của người học,

đáp ứng yêu cầu phái triển kinh tế và xã hội, khoa học và công nghệ, văn học và nghệ thuật

Nội dung, chương trình của GDKCQ rất đa dạng, mềm dẻo, linh hoại

không chỉ là chương trình Xóa mù chữ và Giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, chương trình giáo dục tương đương mà còn là các chương trình giáo dục hành dụng, các chương trình giáo dục đáp ứng GDKNS nhằm thỏa mãn những nhu cầu học tập đa dạng của mọi người, trong những giai đoạn khác nhau của cuộc

đời

Ở Việt Nam, GDKCQ được dùng chính thức lần đầu tiên trong Luật Giáo dục 1998 Theo điều 40, mục 5 của Luật Giáo dục, 1998: “Giáo dục không chính quy là phương thức giáo dục giúp mọi người vừa làm, vừa học, học liên tục, suốt

đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn,

chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện cuộc sống, tìm việc làm và thích nghỉ với đời

sống xã hội ”

Trong Luật Giáo dục năm 2005, GDKCQ được gọi là GDTX Trước đó ngành học này được gọi dưới nhiều tên khác nhau như “Bình dân học vụ”, “Bổ túc văn hoá”,.“Giáo dục bổ túc” v.v Mặc dù có sự thay đổi tên gọi là GDTX như vậy, song hiện nay GDKCQ đã được coi là một bộ phận giáo dục quan trọng

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ GDKCQ còn được hiểu theo

nghĩa rộng hẹp khác nhan Theo nghĩa rộng, GDKCQ bao gồm tất cả các chương trình giáo dục cho các đối tượng ngoài nhà trường, từ XMC, sau XMC, BTVH cho đến cao đẳng, đại học tại chức và các chương trình giáo dục không cấp lớp,

giáo dục chuyên đề nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi người dân

trong cộng đồng Như vậy, GDKCQ theo nghĩa rộng bao gồm các chương trình giáo dục do Bộ Giáo dục- Đào tạo triển khai và các chương trình giáo dục, truyền thông của tất cả các lực lượng trong xã hội, của các ban, ngành, đoàn thể,

dự án, của các phương tiện thông tin đại chúng

Theo nghĩa hẹp, “GDKCQ” chỉ bao gồm các chương trình giáo dục do Bộ

Giáo dục và đào tạo quản lí chỉ đạo, cụ thể là Vụ Giáo dục thường xuyên (XMC, sau XMC, BTVH, ngoại ngữ, tin học, và các chương trình giáo dục không cấp

27

Trang 29

lớp, giáo dục chuyên đề đáp ứng nhu cầu của người học ở cộng đồng Còn việc

học không chính quy ở bậc học cao hơn như trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học tại chức không phải là chức năng, nhiệm vụ của của Vụ Giáo dục thường xuyên GDKCQ trong đề tài này cũng được hiểu theo nghĩa hẹp như vậy

II Xu thế phát triển giáo dục kĩ năng sống trong Giáo dục không chính quy

của một số nước trong khu vực

1 Điểm lại một số sự kiện chính trong khu vực về giáo dục kĩ năng sống

trong Giáo dục chính quy

Thời đại ngày nay đòi hỏi con người phải năng động, sáng tạo, phải có

năng lực hành động có hiệu quả, có năng lực giải quyết vấn đề, có năng lực thích

ứng cao, phải biết giao tiếp, biết hợp tác, phải học thường xuyên, học suốt đời Mặt khác, ngày nay con người không chỉ cần có những kiến thức sách vở, mà còn cần phải có những kỹ năng sống cần thiết để đương đầu với nhiều áp lực,

cạnh tranh trong công việc, trong cuộc sống gia đình và xã hội, để thoát khỏi đói nghèo, để có cuộc sống ngày càng chất lượng hơn Vì vậy, GDKNS không chỉ

cần thiết và cấp bách đối với những người thiệt thồi trong xã hội (người nghèo,

người dân tộc, phụ nữ và trẻ em gái, người thất học, người yếu thế trong xã hội ), mà cần cho tất cả mọi người, mọi độ tuổi, mọi nghề nghiệp, mọi trình độ

GDKNS còn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của cộng đồng

Phát triển bền vững là sự phát triển cân đối, hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát

triển văn hoá xã hội và bảo vệ môi trường Vì vậy, GDKNS là một trong những

mục tiêu, nội dung giáo dục quan trọng của GDCQ và cả GDKCQ ở các nước trong khu vực

Tháng 12 năm 2003, tại Bali- Inđonesia đã diễn ra hội thảo về “GDKNS trong GDKCQ” do UNESCO tổ chức, với sự tham gia của 15 nước (Ấn Độ, Bhutant, Indônêsia, Kazacstan, Lào, Thái Lan, Nepal, Nigéria, Philipin, Uzebékistant, Srilanka, Mongolia, Viét Nam va Trung Quốc) Hội thảo đã đề cập

đến một số vấn đề cơ bản của GDKNS trong GDKCQ, đó là: khái niệm KNS, về

đối tượng, chương trình GDKNS và cách tổ chức thực hiện, lực lượng tham gia

GDKNS và điều hành, đánh giá

Tháng 6 năm 2004, dưới sự chủ trì của UNESCO khu vực, tại Bắc Kinh, Trung Quốc đã diễn ra Hội thảo “Tổng kết thí điểm GDKNS trong GDKCQ” voi

sự tham gia của 1O nước (Ấn Độ, Bhutant, Indônêsia, Kazacstan, Lào, Nigêria,

Philpin, Uzebêkistant, Việt Nam và Trung Quốc) Để thúc đẩy việc học tập

KNS trong GDKCQ, các thành tố của học tập KNS đã được Hội thảo bàn tới là:

28

Trang 30

người học, nội dung học, tài liệu học, phương pháp và hình thức tổ chức đào

tạo/học tập, điều hành và đánh giá việc học, tổ chức và tiến hành mạng lưới phối

/kết hợp

Hai sự kiện quan trọng này đã làm sáng tỏ những vấn để cơ bản, quan trọng của GDKNS, đã góp phần thúc đẩy sự phát triển GDKNS trong GDKCQ ở

các nước trong khu vực lên một tầm cao mới trong việc định hướng phát triển và

cách thức triển khai thực hiện ~

2 Quan niệm về giáo dục kĩ năng sống của một số nước trong khu vực

2.1 Một số quan niệm về kĩ năng sống

Có thể thấy một số điểm khác biệt trong quan niệm KNS của các nước

vùng châu Á- Thái Bình Dương, những điểm khác biệt trong nội hàm của KNS

chủ yếu là do hoàn cảnh cụ thể, riêng biệt của từng quốc gia, ví du:

© Indonesia: Indônesia quan niệm KNS có nghĩa rộng hơn Kĩ năng nghề nghiệp

Người thất nghiệp hay người về hưu cũng cần có KNS, người đang đi làm hay đang đi học cũng cần KNS vì họ cũng có những vấn đề phải đối phó Trong GDKCQ, KNS là những kĩ năng, kiến thức và thái độ giúp cho người học sống được một cách độc lập ‘

Do đó, GDKNS trong GDKCQ ở Inđônêsia, rập trung vào phái triển kĩ năng

nghề, kĩ năng sẵn xuất , kĩ năng doanh nghiệp để tạo thu nhập

© Thái Lan: Quan niệm rằng KNS là một thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội

và xã hội, để cho một cá nhân đương đầu với tất cả các loại tình huống hàng

ngày một cách có hiệu quả và người đó sẵn sàng thích hợp với hoàn cảnh

tương lai, ví dụ như chăm sóc sức khoẻ, HIV/AIDS, ma tuý, môi trường, đạo đức, để cho con người có thể sống hạnh phúc trong xã hội Nói một cách

đơn giản KNS là khả năng của một cá nhân có thể giải quyết những vấn đề

trong đời sống hàng ngày nhằm sống an toàn và hạnh phúc

© Ấn độ: KNSlà những khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tỉnh thần và

năng lực của con người KNS được sử dụng khi có những sự kiện xã hội và

thể chất, những ảnh hưởng xã hội đến hành vi và đến quyền và trách nhiệm của cá nhân

© Nepal: cho rằng KNS gần như là một chiến lược để đối phó hay là những kĩ

năng cần thiết để tồn tại

® _ Phiipin: KNS là những năng lực thích nghỉ và tính tích cực của hành vi giúp cho cá nhân có thể đối phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày

29

Trang 31

¢ Bhutant: KNS là những Kĩ năng nào góp phần phát triển xã hội, kinh tế, chính

trị, văn hoá và tinh thần và trao quyền cho cá nhân trong cuộc sống hàng ngày của họ và làm xoá bỏ nghèo khổ cuối cùng dẫn đến phẩm cách và một

cuộc sống hạnh phúc trong xã hội

Mặc dù có nhiêu điểm khác biệt như vậy, song về cơ bản các quan niệm về KNS

của các nước này có những điểm chung:

Điểm chung là quan niệm về KNS của các nước đều dựa trên quan niệm

của WHO và UNICEF và UNESCO về các kĩ năng chung mà con người cần có

để tồn tại và thích ứng với cuộc sống có nhiều thách thức Cá nhân con người có thể tồn tại và có một cuộc sống hạnh phúc phải có những khả năng xử lý mối

quan hệ với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và quan hệ với bản thân

Các nước trong khu vực cũng đã thống nhất quan niệm về mục tiêu KNS trong GDKCQ 1a: KNS nhằm nâng cao tiểm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, thay đổi và tình huống của cuộc

sống hàng ngày, cũng như để tạo ra đổi thay để nâng cao chất lượng cuộc sống

Theo đó, GDKNS cần hướng vào nhu cầu của người dân, để cho mọi người đều được học những gì họ cần, để họ có thể tồn tại, thích ứng với hoàn cảnh xã hội và

tự nhiên, để tồn tại trong hiện tại, tương lai và để sống hạnh phúc

2.2 Mục đích chính và mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống:

Quan niệm về mục đích và mục tiêu của GDKNS của các nước trong khu vực cũng khá thống nhất, cụ thể:

Mục đích: mục đích chính của GDKNS trong GDKCQ là nhằm cung cấp văn hoá hành dụng cơ bản kết hợp với các loại KNS da dang để hình thành nhận

thức về các lĩnh vực khác nhau và nâng cao kiến thức và kĩ năng nhằm thảy đổi

niềm tin và năng lực hành động của người học để có một cuộc sống lành mạnh

và hạnh phúc trong xã hội

Mục tiêu: kết thúc khoá học chữ, người học không chỉ có khả năng đọc và

viết ứng dụng bằng ngôn ngữ chính thống mà còn có thể làm các phép tính đơn

giản bao gồm cộng trừ nhân chia Họ cũng cần có khả năng thực hành những

KNS sống đa dạng khác về sức khoẻ, nông nghiệp, môi trường, dân số, kế hoạch hoá gia đình, bệnh lây qua đường tình dục/AIDS, kiểm soát dịch bệnh, văn hoá

Trang 32

nhiều hon và có nhiều kiến thức hơn về những KNS liên quan đến sức khoẻ,

nông nghiệp, môi trường, hơn những HS học xong bậc tiểu học ở trường phổ

thông

Những kết quả mong đợi sau khi học chương trình là:

1 Người học được trang bị những kí năng đọc và viết ứng dung, ki nang tính toán

2 Nang cao kiến thức và quan niệm của người học về những KNS đa

dang liên quan đến sức khoẻ, vệ sinh, nông nghiệp, môi trường,

HIV/AIDS, kế hoạch sinh đẻ,

3 Thay đổi niềm tin, thái độ và hành vi về các lĩnh vực: vệ sinh, trồng

trọt, giáo dục

2.3 Đối tượng của giáo dục kĩ năng sống

Có thể thấy các nước có sự thống nhất cao về đối tượng học tập KNS trong

GDKCQ, đó là: Tất cả mọi người, mọi lứa tuổi song tập trung ưu tiên những nhóm người yếu thế, thiệt thòi, có hoàn cảnh đặc biệt, những người lao động có trình độ học vấn hạn chế, phụ nữ và trẻ em, người dân tộc thiểu số, cụ thể như:

- Trẻ em lứa tuổi từ tuổi mẫu giáo (từ 3 tuổi), trẻ không đến trường (từ 6 tuổi), trẻ bỏ học, trẻ mồ côi, trẻ em đường phố, trẻ em bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, bởi HIV/AIDS

- VỊ thành niên không đến trường, vị thành niên bị đi tò, thanh niên thất nghiệp ,

Trang 33

- Tù nhân

- Người nghiện ma tuý

- Người nhiễm AIDS

- Người nhập cư

- Tăng lữ ở làng

2.4 Chương trình giáo dục kĩ năng sống

e Về chương trình:

Do khái niệm về KNS phù hợp với hoàn cảnh của từng nước, nên chương

trình GDKNS trong GDKCQ cũng rất đa dạng, giữa các nước và có những điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt Tuỳ theo mỗi nước mà chương trình tập trung vào những nội dung khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu người học Nhưng nhìn chung các nước trong khu vực có một số kiểu/ loại chương trình với nội dung như sau:

- Những chương trình với những vấn đề xã hội của thời đại nhưng có liên quan

trực tiếp đến địa phương liên quan đến thể chất và tính thần như: HTV/AIDS/

bệnh lây qua tình dục/ ma tuý, an toàn thực phẩm, rèn luyện thể lực, môi trường, ngăn ngừa giận dữ và cách nghỉ ngơi, giải trí (Thái lan, Ấn độ, Lào, Philipine, Mongolia, Bhutant, Nepal)

- Những chương trình giúp cá nhân có thể kiếm sống, tạo thu nhập nâng cao địa

vị kinh tế: dạy nghề, dạy kĩ năng tự tổ chức doanh nghiệp, kĩ năng quản lý, tin học (Srilanka, Lào, Indonesia, Ấn độ, Bhutan, Mongolia)

- Những chương trình dạy chữ/học vấn: dạy đọc, viết và làm toán, địa lý, lịch sử,

cuộc sống gia đình, .( Ấn độ, Nepal, Philipine)

e_ Về thiết kế chương trình/tài liệu GDKNS trong GDKCQ:

Chương trình/ài liệu GDKNS của các nước trong khu vực cũng được xây

dựng rất đa dạng về hình thức, có thể:

32

Trang 34

Lồng ghép vào chương trình dạy chữ/học vấn ở tất cả các môn học và mức

độ chương trình Ví dụ, lồng phép dạy KNS vào các chương trình dạy chữ cơ bản

để xoá mù chữ Bên cạnh dạy chữ/ học vấn, chú ý hành dụng có kết hợp dạy ki

năng làm nông nghiệp, bảo tồn môi trường, sức khoẻ, HIV/AIDS,

Hoặc dạy các chuyên để tập trung theo từng vấn đề cần thiết cho người học, ví dụ: tạo thu nhập, môi trường, ma tuý, kĩ năng nghề cơ sở, kĩ nãng kinh

doanh, ~

Song về cơ bản, các nước trong khu vực đang thiết kế chương trình

GDKNS theo 2 kiểu sau:

- Tách biệt các KNS chung (như ra quyết định, giao tiếp, .) với các kĩ năng

nghề

- Xây dựng chương trình/ hoạt động dựa trên cơ sở khái niệm KNS Nghĩa là

một chương trình giáo dục hình thành ở người học 4 yếu tố: học để hiểu biết,

để có những kĩ năng của nhân cách, để làm và để sống cùng nhau

Phương hướng thứ hai này đã được nhất trí tại hội thảo Bali, Indonesia và

trở thành phương hướng chung về GDKNS cho các nước trong khu vực, đó là:

trong một chương trình GDKNS, ba thành tố chính của KNS cần đạt được trong

một chỉnh thể, thống nhất, gắn bó với nhau và không thể tách rời Ba thành tố

chính của KNS là: kĩ năng cơ bản (3 R: đọc- reading, viết-writing, ghi chép/báo

cáo -repoting), kĩ năng chung (giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, .) và kĩ năng

cụ thể (tạo thu nhập, sức khoẻ, giới )

Có thể có các loại chương trình sau:

- Chương trình dạy chữ cơ sở: đây là loại chương trình 1 năm để xoá mù chữ Khoá học bao gồm dạy chữ kết hợp với tất cả các KNS như : làm nông nghiệp, bảo tồn môi trường, sức khoẻ, vệ sinh, HIV/AIDS, bệnh lây qua đường tình dục,

kế hoạch hoá gia đình, giáo dục dân số

- Chương trình sau học chữ: Đó là khóa học 9 tháng để nâng cao văn hoá và kĩ

năng và để GDKNS cần thiết Khoá học này bao gồm 3 module có tên là kĩ năng

văn hoá, kĩ năng sống và giáo dục giá trị Từng module có 3 chủ đề và mỗi chủ

đề được chia thành những chủ điểm nhỏ

- Chương trình tự học: đây là mức độ cuối cùng của chương trình đạy chữ Khi

đó, người học được tạo cơ hội để tiếp tục học tập và tiếp cận với việc đào tạo kĩ năng cơ sở cần thiết

Như vậy, mặc dù có một số điểm khác biệt nhưng các nước trong khu vực

đã thống nhất những vấn đề lí luận cơ bản về KNS và GDKNS như: Quan niệm

về KNS, GDKNS; mục đích chính và mục tiêu, chương trình, đối tượng của

33

Trang 35

GDKNS Những khác biệt xuất phát từ hoàn cảnh của mỗi nước đã thể hiện sự đa dạng, phong phú của KNS và GDKNS, song chính sự thống nhất những vấn đề lí

luận cơ bản về GDKNS của các nước trong khu vực đã tạo nền tảng vững chắc,

thúc đẩy việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện GDKNS ở mỗi nước

3 Các biện pháp tăng cường GDKNS trong GDKCQ_ của một số nước

trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (Ấn Độ, Bhutant, Indonesia, Kazacstan, Lao, Nigéria, Philipin, Uzebékistant, Việt Nam và Trung Quốc)

Để thúc đẩy việc học tập KNS, hướng tới nâng cao chất lượng GDKNS

trong GDKCQ, một số nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương đã phân

tích từng thành tố của quá trình học tập KNS là: học viên, nội dung, tài liệu, phương pháp, hình thức tổ chức, đánh giá, mạng lưới, kinh phí và xác định một

số biện pháp để tăng cường GDKNS trong GDKCQ như sau:

3.1 Phân loại đối tượng giáo dục kĩ năng sống

Học viên GDKCQ có đặc điểm rất đa dang, vi vậy, để xây dựng bất kỳ nội dung học tập KNS nào, cần phải:

- Xác định những nhóm học viên có đặc điểm, điều kiện tương tự tạo điều kiện

cho họ tham gia học một chương trình nào đó Tuy nhiên, cũng cần xác định những điểm riêng biệt của từng nhóm nhỏ học viên ngay trong một nhóm học viên của một chương trình để có thể biên soạn những loại tài liệu học tập khác nhau phù hợp cho từng nhóm học viên khác nhau

- Xác định nhóm liên quan đến việc học tập KNS của học viên và tìm hiểu nhu

cầu của nhóm liên quan (ví dụ: những người bao tiêu sản phẩm, người sử dụng

sản phẩm, người chủ thuê nhân công, người lãnh đạo cộng đồng, các thành viên trong gia đình học viên ) Các chương trình học tập cần phải phù hợp với từng

khu vực và nhóm có liên quan đến việc học tập KNS và chú trọng việc thảo luận,

trao đổi, tham quan thực tế

3.2 Phát triển nội dung GDKNS

Để có thể phát triển nội dung GDKN§S có chất lượng, đa dạng, đáp ứng

nhu cầu đặc thù của người học, cần coi trọng những biện pháp sau:

- Nội dung học tập được xây dựng bởi một tiểu ban gồm những chuyên gia từ những ban ngành có liên quan Tiểu ban này sẽ phân tích những thông tin, đữ

liệu đã điều tra để xây dựng nội dung học tập cần thiết

- Xác định nhu cầu học tập cụ thể của người học, tiến hành điều tra /đánh giá

nhu cầu của người dân tại cộng đồng bằng điều tra/phỏng vấn/bảng câu hỏi,

34

Trang 36

Việc đánh giá nhu câu cũng cần tìm hiểu cả những kiến thức và kĩ năng người

học đã có và cần đánh giá xem việc học tập KNS mới có thể làm nâng cao hay

khai thác kĩ năng và kiến thức đã có của người học ở mức độ nào

- Khi xây dựng nội dung học tập phải xem xét những chương trình, nội dung học

ở những thời kỳ trước để tránh sự trùng lặp, hoặc quá cao so với khả năng của

học viên

3.3 Phát triển tài liệu giáo đục kĩ năng sống

Những biện pháp để phát triển tài liệu GDKNS có chất lượng là:

- Thành lập một đội ngũ tác giả biên soạn tài liệu từ các ngành có liên quan Khi

biên soạn tài liệu học tập KNS cần chú ý lồng ghép cả ba loại KNS: kĩ năng cơ

bản, kĩ năng cụ thể và kĩ năng chung vào trong một tài liệu học tập

- Định hướng rõ ràng cho các tác giả biên soạn tài liệu về mục đích, phạm vi

` giáo dục của tài liệu cũng như thời gian hoàn thành tài liệu

- Tiến hành đo đầu vào, thử nghiệm tài liệu và sau đó phải xem xét, đánh giá lại tính phù hợp của nội dung tài liệu Nội dung tài liệu phải phù hợp với từng vùng,

từng cộng đồng Vì vậy, tài liệu cần được ngữ cảnh hoá, sử dụng ngôn ngữ rõ

ràng, đơn giản, ngôn ngữ địa phương, thành ngữ và hình ảnh địa phương Chú ý tận dụng biên tập, chỉnh sửa những tài liệu đang có để đưa vào học tập KNS

- Tài liệu cần có hình, tranh minh hoạ, chú ý vấn đề giới, những kĩ thuật truyền thông để tài liệu gần gũi, dễ sử dụng với người học

- Cuối cùng hoàn thiện tài liệu và tiến hành sản xuất các tài liệu in hoặc tài liệu nghe nhìn

3.4 Lựa chọn phương pháp giáo dục kĩ năng sống

Khi tiến hành lựa cho phương pháp GDKNS cần quan tâm đến một số vấn

đề, đó là:

- Sẽ hướng dẫn dạy học những nội dung gì? dạy cho ai, ai dạy? bằng phương pháp nào? Vì vậy, trước hết cần tiến hành đánh giá nhu cầu của cả người dạy và

người học Bước đầu tiên là xây đựng nội dung, công cụ đánh giá nhu cầu Sử

dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn và đánh giá có sự tham gia của người của dân

- Tìm hiểu kiến thức/nguồn lực của cộng đồng Ban quản lí dự án/chương trình, khám phá/phân tích những kĩ năng cụ thể, mức độ kiến thức/Kĩ năng của học

viên Khi đã nắm rõ nhu cầu đào tạo, tiến hành tập huấn hướng dẫn viên

35

Trang 37

- Các phương pháp GDKNS gồm: các bài soạn, thảo luận nhóm, tham quan, trình

diễn, thực hành, đóng vai, trò chơi và các phương tiện thông tín

- Khi tiến hành GDKNS; cần lồng ghép KNS vào việc học tập cũng như lồng

ghép 3 loại kĩ năng sống trong một chương trình giáo dục Không được chỉ chú ý đến kĩ năng cụ thể hay kĩ năng cơ bản mà không chú ý kĩ năng chung và ngược lại Hướng dẫn viên có thể dùng những ví dụ cụ thể có lồng ghép kĩ năng cơ bản

và kĩ năng chung (ví dụ: vấn đề môi trường được lồng ghép kĩ năng cơ bản và kĩ

năng giao tiếp) Do đó, hướng dẫn viên cần được đào tạo/tập huấn để có thể xác

định những kĩ năng chủ chốt cho từng chủ dé học tập

Một ví dụ cụ thể về lông ghép ba loại KNS vào một nội dung học: trong

chương trình xoá mù của lớp học về tạo thu nhập, người học được học đọc, viết

và làm tính Trong chương trình tạo thu nhập, họ được học về làm các món ăn Đồng thời họ cũng được học tính toán như làm thế nào để đong đo các nguyên

liệu dùng để chế biến món ăn, tính toán chỉ phí cho các nguyên liệu này để có thể tính toán toàn bộ chỉ phí để chế được món ăn đó Tiếp đó, họ được học về kĩ năng tiếp cận thị trường như Kĩ năng giao tiếp, làm thế nào để bán được món ăn,

thuyết phục người tiêu đùng mua món ăn và phát triển lòng tự tin, tự trọng trong

của bản thân học viên

Để có thể lồng ghép ba loại KNS vào một vấn đề học tập nào đó, phải xác

định những kĩ năng người học đang có và những kĩ năng định cung cấp thông

qua chương trình Sau đó, lựa chọn những kĩ năng mới cần đạt được và quyết định những phương án đào tạo linh hoạt Đặt kế hoạch cẩn thận để có thể lựa

chọn các kĩ năng chung và kĩ năng cơ bản

3.5 Đa dạng hóa hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống

Trang 38

- Sử dụng một cách tối ưu những nguồn lực của địa phương (lực lượng tham gia,

tài liệu và chuyên gia của địa phương)

- Thành lập trung tâm nguồn lực của địa phương ở mức độ huyện/tỉnh để nâng cao việc đào tạo kĩ thuật và nghề cho những nhóm có nhu cầu

- Khi thực hiện GDKNS cần phối hợp giữa các chương trình khác nhau, kết quả của chương trình thí điểm cần được kết nối với các chương trình khác sau này 3.6 Tổ chức đánh giá kết quả giáo dục kĩ năng sống theo định kì:

Việc đánh giá là những công việc cần thiết để bảo đảm chất lượng của các

thành tố khác trong học tập KNS Cần chú ý thực hiện những yêu cầu sau:

- Thành lập một ban đánh giá Đánh giá theo thời gian (trong quá trình tiến hành chương trình, kết thúc chương trình và sau khi kết thúc chương trình), đánh giá

về tài chính, viết báo cáo đánh giá

- Xây dựng bộ công cụ đánh giá với các chỉ số, công cụ và phương tiện Cần phải tiến hành các chuyến đi khảo sát, thảo luận trực tiếp

- Việc xây dựng bộ công cụ đánh giá do các chuyên gia và nên thử nghiệm bộ

công cụ, xây dựng chuẩn để đánh giá và tổ chức tập huấn sử dựng bộ công cụ

- Đánh giá được tổ chức từ hai phía:

Đánh giá nội bộ: do cán bộ dự án và các chuyên gia

Đánh giá từ bên ngoài: được tiến hành bởi các nhóm có liên quan

- Tổ chức cuộc họp giữa các nhóm có liên quan để có kết luận cuối cùng về vấn

đẻ được đánh giá

- Trong quá trình đánh giá cần sử dụng phương pháp quan sát và tự đánh giá

- Việc đánh giá bao gồm đánh giá nhu cầu, nguồn lực để có thể xây dựng một

cách hiệu quả-quan hệ đối tác và mạng lưới làm việc

- Dữ liệu thu được từ đánh giá cần được đặt xem xét Kĩ và phổ biến rộng rãi từ địa phương tới trung ương

- Kết quả của đánh giá được thể hiện dưới nhiêu hình thức khác nhau (báo cáo viết trong khi họp ở cộng đồng, tài liệu để thảo luận, tờ rơi, máy chiếu, )

3.7 Huy động sự phối hợp, cộng tác

Cần coi hệ thống mạng lưới là cách thức/con đường và sự cộng tác là kết

quả Sự cộng tác/phối hợp có thể được hình thành thông qua một mạng lưới hữu

37

Trang 39

hiệu Để phù hợp với hoàn cảnh của địa phương, mạng lưới nên có nhiều mức độ

như:

Mức độ cộng đồng: để đảm bảo quá trình cùng tham gia của mạng lưới

một cách tốt nhất ở các TTHTCĐ, mức độ này có thể bao gồm những người có liên quan trong sự phát triển của TTHTCPĐ, ý kiến của lãnh đạo các ban ngành

địa phương, đại diện của người dan cộng đồng và của nhóm phụ nữ

Mức độ tỉnh/huyện : cần chú ý lôi cuốn sự tham gia vào mạng lưới của các

tổ chức chính phủ và phi chính phủ và huy động sự đóng góp về cơ sở hạ tầng của họ để có thể xây dựng hệ thống quản lý bằng công nghệ thông tin và cung cấp thông tin phản hồi tới những nhóm có liên quan ở mọi mức độ

Mức độ trung ương hay mức độ cao nhất :

ơ` Thiết lập một tiểu ban cấp quốc gia bao gồm các tổ chức chính

phủ, phi chính phủ và tổ chức nghiên cứu

o Đặt những điều khoản tham chiếu để trên cơ sở đó nghiên cứu

_ tác động của việc học tập KNS

o_ Quy định rõ vai trò và trách nhiệm của từng thành viên, tổ chức

o_ Có những cuộc họp thường kỳ ở mọi lĩnh vực, đặc biệt ở mức độ

thấp

o_ Cần có một người chịu trách nhiệm chính trong mạng lưới

3.8 Huy động các nguồn tài chính

Có thể huy động kinh phí từ các nhóm có liên quan như: các tổ chức chính

phủ, phi chính phủ, các nhà tài trợ và lãnh đạo địa phương

Từ những kinh nghiệm thực hiện GDKNS của một số nước trong khu vực

đã trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra được bài học bổ ích: Để nâng cao chất

lượng học tập KNS trong GDKCQ cần phải chú ý nâng cao chất lượng tất cả các thành tố của quá trình GDKNS Trong đó, cần chú ý kết hợp chặt chẽ ba thành phần của KNS vào nội dung chương trình, tài liệu của quá trình học tập một chủ đề/vấn đề cụ thể; phương pháp, hình thức tổ chức học tập cần linh hoạt, đa dạng: chú ý huy động sự tham gia của tất cả các nhóm có liên quan vào quá trình xây

dựng nội dung chương trình, tài liệu, hướng dẫn học tập, đánh giá hiệu quả

GDKNS; xây dựng mạng lưới phối hợp thực hiện GDKNS ở cả ba mức độ: từ cở

sở cộng đồng đến huyện, tỉnh và trung ương, trên cơ sở phân cấp vai trò, trách nhiệm của từng mức độ,

38

Trang 40

II Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về Giáo dục kĩ năng sống nói chung và Giáo dục kĩ năng sống trong giáo dục không chính quy nói riêng

Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng GDKNS, coi KNS là một trong những tiêu chí quan trọng của chất lượng

giáo dục Chủ trương đó được thể hiện ở nhiều văn bản quan trọng sau :

e Chién lược phát triển kinh tế- xã hội, Nghị quyết về đổi mới giáo dục

e©_ Kế hoạch hành động quốc gia Giáo đục cho Mọi người (GDCMN) 2003-2015 e_ Chiến lược phát triển giáo dục 2001 — 2010 đặt mục tiêu cho GDKCQ từ nay

đến 2010

e_ Luật giáo duc 2005

e Dé dn Xay-dung x4 hdi hoc tap giai doan 2005-2010

e- Một số chỉ thị của chính phủ, của bộ GD-ĐT

Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam đã đặt ra mục đích : Cần

có những thay đổi cụ thể trong giáo dục (Báo cáo Chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IX Báo Nhân dân, ngày 21/4/2001) Mục đích này có ý nghĩa như một tầm nhìn được áp dụng cho tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương

Nhiệm vụ đổi mới giáo dục liên tục được đề cập trong các nghị quyết của

Đảng : Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục- đào tạo, khắc phục lối truyền

thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học v.v (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8) và Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IX (4-2001) : Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn điện, đối mới nội dung,

phương pháp đạy học

Với quan điểm đó, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương lớn về

GD- ĐT, trong đó có chủ trương về GDKNS trong GDKCQ được thể hiện qua:

Kế hoạch hành động quốc gia Giáo dục cho Mọi người (GDCMN) 2003-2015;

Chiến lược phát triển giáo dục 2001 — 2010

Trong các văn bản này, mục tiêu của GDKNS trong GDTX đã được khẳng

định rõ: Nhóm mục tiêu 4 : Giáo dục thường xuyên

Mục tiêu 2 : “Bảo đảm rằng tất cả người lớn, đặc biệt phụ nữ và các nhóm thiệt thòi, đều được tiếp cận miễn phí với các chương trình xóa mù chữ và sau xóa mù chữ có chất lượng, các chương trình đào tạo có chất lượng và ở mức phù

hợp với điều kiện kinh tế về kĩ năng sống cũng như các cơ hội học tập suốt đời” Mục tiêu 3 : Nâng cao chất lượng, sự phù hợp và kết quả của tất cả các chương trình giáo dục thường xuyên (các chương trình bổ túc tiểu học và THCS, các chương trình xóa mù chữ, sau xóa mù chữ và kĩ năng sống) cho thanh thiếu

39

Ngày đăng: 24/03/2018, 03:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w