Từ tình hình thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu để tài “Khảo sát tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện nosocomial infection tại các bệnh viện đa khoa thuộc Sở Y tế Khánh Hòa” với mục
Trang 1Cơ quan quần lý : SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ KHÁNH HÒA
Cơ quan chủ trì : SỞ Y TẾ KHÁNH HÒA
Cơ quan thực biện: BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH KHÁNH HÒA
Chủ nhiệm đề tài : BSCKII NGUYEN VAN XANG
Khánh Hòa 2006
Trang 2UBND TỈNH KHÁNH HÒA
SỞ KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO ĐỀ TÀI CẤP TỈNH
TINH TRANG NHIEM TRUNG BENH VIEN |
TAI CAC BENH VIEN DA KHOA
THUỘC SỞ Y TẾ KHÁNH HÒA
Sở,V tế + |
TRUS SIAM ads
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 BSCKII NGUYỄN VĂN XÁNG
DƯƠNG NỮ TƯỜNG VY
NGUYỄN THỊ THUẬN
NGUYEN THI MINH NGUYET
PGD BV BVKH BVKH BVKH BVCR BVVN BVKH BVKH BVKH BVKH
Chủ nhiệm đề tài Thành viên NC Thành viên NC Thành viên NC Thành viên NC Thành viên NC Thành viên NC Thanh vién NC Thanh vién NC Thanh vién NC
Trang 4MỤC LỤC
Mé dau
Chuong I : Tong quan tài liệu
1 Lịch sử phát 1 triển hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện ”
2 Tình hình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện trên thế giới
3 Tình hình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tại Việt Nam
4 Tình hình thực hiện quy chế CNKBV trong ngành y tế tỉnh Khánh Hòa Chương II : Đối tượng, phương pháp và vật liệu nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu
4 Vật liệu nghiên cứu
5 Tiến trình nghiên cứu
Chương III : Kết quả nghiên cứu và bàn luận
1 Kết quả chung
2 Tỷ lệ và loại nhiễm khuẩn
3 Tac nhan gay ] NKBYV và mức độ nhạy cam kháng sinh
Kết luận Khuyến nghị
1 Kết luận
2 Khuyến nghị
3 Những hạn chế của đề tài
Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1 : Tiêu chuẩn chẳn đoán nhiễm khuẩn bệnh viện
1 NKBV đường hô hấp dưới (viêm phổi)
2 Nhiễm khuẩn máu
2.1 Nhiễm trùng máu lâm sàng
212 Nhiễm khuẩn máu có kết quả phân lập vi sinh
2.3 Nhiễm khuẩn động tĩnh mạch liên quan đặt catheter
3 Nhiễm khuẳn,bệnh viện đường niệu
3.1 NKBV đường tiết niệu có triệu chứng
3.2 Nhiễm trùng đường tiết niệu có vi khuẩn trong nước tiểu
4 Nhiễm khuẩn bệnh viện đường tiêu hóa
5 Nhiễm khuẩn vết mỗ
5.1 Nhiễm trùng vết mỗ nông
5.2 Nhiễm trùng vết mỗ sâu
5.3 Nhiễm trùng vết mô tại cơ quan hoặc khoang cơ thể
6.1 Nhiễm khuẩn da
6.2 Nhiễm trùng mô mềm
6.3 Nhiễm trùng vết loét do nằm bao gồm nhiễm trùng sâu và nông
4
Trang 5Phụ lục 2
Hệ thông tổ chức chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện Khánh Hòa
Chức năng nhiệm vụ
1 Giảm đốc bệnh viện -
2 Hội đồng chống nhiễm khuẩn bệnh viện
3 Các hội đồng tham vấn của bệnh viện
4 Khoa chống nhiễm khuẩn bệnh viện
5 Cac phòng chức năng
6 Các khoa cận lâm sàng
7 Các khoa lâm sàng
§ Mạng lưới chống nhiễm khuẩn
Phụ lục 3 Phiếu điều tra
Phụ lục 4 : Tài liệu tập huấn chống nhiễm khuẩn BV cho cán bộ y tế
A Hướng dẫn vệ sinh tay tại các cơ sở y tế
1 Ching vi khuan trên da bình thường
B Phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mô sau phẫu thuật cần lưu ý
1 Chuẩn bị da vùng phẫu thuật không đúng
2 Biện pháp phòng ngừa
3 Tiền phẫu
4 Trong lúc phẫu thuật
5 Kỹ thuật vô trùng và phẫu thuật
6 Săn sóc hậu phẫu
Trang 6CDC: Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ
(Centers for Disease control and prevention USA)
CNKBV: Chéng nhiém khuẩn Bệnh viện
CNK: Chống nhiễm khuẩn
CB: Cán bộ
CM: Chuyên môn
CLS: Cận lâm sàng
KSNK: Kiểm soát nhiễm khuẩn
KSNKBV: Kiểm soát nhiễm khuẩn Bệnh viện
KHKT: Khoa học kỹ thuật
NV: Nhân viên
NKBV: Nhiễm khuẩn Bệnh viện
HD: Hi dong
HĐCNKBV; Hội đồng chống nhiễm khuẩn Bệnh viện
HIV: Human Immunodificency virus
ICU: Đơn vị chăm sóc đặc biệt (Intersive care Unite)
Trang 7MỞ ĐẦU
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) đã được biết đến từ lâu nhưng đến năm
1991 Larson và cộng sự mới đưa ra một định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu đồng thuận, theo đó NKBV là những nhiễm khuẩn có nguồn gốc từ môi trường bệnh viện (hoặc những cơ sở có hoạt động như bệnh viện) Nhiễm khuẩn bệnh
viện xảy ra sau 48 giờ từ khi một người tiếp xúc với môi trường bệnh viện đối
với các bệnh nhân không mổ, 1 đến 3 tháng đối với các bệnh nhân có mổ, và sau 1-2 năm đối với các bệnh nhân ghép tạng [22] Qua nhiều hội nghị khác nhau, định nghĩa này có thay đổi đôi chút và ngày nay nhiễu nhà nghiên cứu thống nhất tóm tắt “NKBV là nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian nằm viện Những nhiễm khuẩn này xuất hiện ít nhất 48 giờ sau khi bệnh nhân vào viện và không hiện diện cũng như không ở trong giai đoạn ủ bệnh vào lúc nhập viện Đối với bệnh nhỉ sơ sinh NKBV có thể xuất hiện 72 giờ sau sinh (sau khi đã loại
trừ nhiễm khuẩn mắc phải trong bào thai), đối với nhiễm khuẩn vết mổ có thể
sau 1 tháng, và đối với các phẫu thuật có cấy ghép có thể sau 1 nim
[14,15,19,25]
Đây là vấn để nóng bồng hiện nay vì số người mắc phải ngày càng nhiễu,
dễ lây lan, đôi khi gây thành dịch NKBV, diéu trị khó khăn (vì đa số vi khuẩn:
kháng nhiều kháng sinh), tỷ lệ tử vong cao và gây tốn kém rất nhiều cho ngân sách quốc gia [12,14,26] Theo thống kê của Hệ thống Quốc gia về giám sát NKBV (National Nosocomial Infection surveillance systems—NNISS) thudc Trung tâm Kiểm soát bệnh Hoa Ky (Centers For Disease Control — CDC)
NKBV xay ra trén 5-15% bénh nhân nhập viện [15,18] Tùy theo loại bệnh, tỷ lệ
này cao hơn ở những bệnh nhân phẫu thuật cũng như bệnh nhân tại khoa Hồi sức
tích cực (Intensive Care unit - ICU) NKBV cũng làm gia tăng thời gian nằm
viện (trung bình từ 4 — 8 ngày/ 1 bệnh nhân), tăng chỉ phí cho một người bệnh nằm điều trị bị NKBV từ 1.000 - 8.000 USD, và là nguyên nhân gây ra 19.000
ca tử vong và tiêu tốn 45 tỷ USD mỗi năm ở Mỹ [15,17] Một lo ngại khác là các
tác nhân gây bệnh phổ biến nhất liên quan đến hơn 50% NKBV đều kháng với
Trang 8những kháng sinh hàng đầu hiện nay [24,26]
Kiểm soát NKBV là vấn để còn khá mới mẻ ở nước ta Chúng ta chưa có thống kê, báo cáo nào nêu đầy đủ những tốn kém, tai hại mà NKBV gây ra Thật sự những thiệt hại này rất lớn, không những về kinh tế mà còn sinh mạng con người, gây ra một gánh nặng cho gia đình và xã hội [12,13] Cũng còn có rất
ít những điều tra xác định tỷ lệ NKBV hiện hành tại mỗi đơn vị y tế để làm cơ
sở cho việc giám sát vấn để NKBV, để ra các biện pháp khống chế và hạ thấp
tỷ lệ NKBV, hạn chế xảy ra dịch
Từ tình hình thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu để tài “Khảo sát tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện (nosocomial infection) tại các bệnh viện đa khoa thuộc Sở Y tế Khánh Hòa” với mục tiêu:
* Mục tiêu chung :
- Đánh giá tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) tại Bệnh viện đa khoa tỉnh và 5 bệnh viện huyện (Diên Khánh, Cam Ranh, Vạn Ninh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn)
- Để xuất các mô hình và giải pháp cho công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện tại các bệnh viện đa khoa
* Mục tiêu chuyên biệt :
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Lịch sử phát triển hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện:
Kiểm soát NKBV dường như đã bắt đầu từ những năm 1840 khi
Semmelweils và Nightingale đưa thực hành vệ sinh vào áp dụng trong bệnh viện Tuy nhiên mãi đến những năm 1950, sau các vụ dịch về tụ cầu vàng ở
Bắc Mỹ và Anh Quốc, Hiệp hội các bệnh viện Hoa Kỳ mới bắt đầu khởi xướng những chương trình kiểm soát NKBV Và cho đến năm 1970, người điều dưỡng đầu tiên trên thế giới về kiểm soát NKBV mới được phân công nhiệm vụ Sau hơn 30 năm, những chương trình kiểm soát NKBV đã được tiến hành rất khẩn trương tại các bệnh viện ở các nước phát triển [15,23,24,25]
Vấn để thực hành kiểm soát NKBV khác nhau tuỳ theo mỗi nước Kiểm soát NKBV nổi bật nhất ở Hoa Kỳ Liên tiếp các hiệp hội có liên quan đến chống nhiễm khuẩn ra đời, như Hiệp hội những chuyên gia kiểm soát NKBV va dich té hoc (APIC), Hội đồng cố vấn về thực hành kiểm soát NKBV (HICPAC), Trung tâm Kiểm soát bệnh Hoa Kỳ (CDC) Tâm quan, trọng của kiểm soát NKBV được xem như là một điều kiện để đánh giá chất
lượng bệnh viện Còn tại châu Á, năm 1998, Hiệp hội chống nhiễm khuẩn châu Á - Thái Bình Dương đã được thành lập Qua hiệp hội này người ta cũng ghi nhận các cơ sở hạ tầng và nhân sự toàn thời gian cho chống nhiễm khuẩn
đã bắt đầu được thành lập [18]
Tại các nước đang phát triển, vấn để kiểm soát NKBV gần như vẫn còn ở giai đoạn đầu mới hình thành và chưa có sự đồng bộ Với nguồn lực còn hạn chế và với nhu cầu cần nâng cao kỹ thuật y khoa, kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện chưa được coi trọng ở những nước này Tủy nhiên, trước tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện và kháng kháng sinh ngày cầng nghiêm trọng, trong thực trạng quá tải và nguồn lực còn hạn chế của các bệnh viện, chương
Trang 10`
trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện thật ra lại hết sức cần thiết
Nhận thức được thực trạng này, tại Việt Nam, quy chế của Bộ Y tế về thành lập khoa Chống nhiễm khuẩn đã được ban hành và thực hiện từ 1997 ở toàn bộ các bệnh viện So với các khoa khác, khoa Chống nhiễm khuẩn đang còn ở giai đoạn đầu mới hình thành và vẫn chưa có sự thống nhất giữa các
bệnh viện trong cơ cấu khoa [14,15]
2 Tình hình NKBV và kiểm soát NKBYV trên thế giới:
Lịch sử của kiểm soát nhiễm khuẩn đã đặt cơ sở cho sự phát triển
những nguyên lý hiện hành của chúng ta về phòng chống NKBV (Annette
Sohn) Người đầu tiên chứng minh tâm quan trọng của kiểm soát nhiễm khuẩn là một bác sĩ người Hungary làm việc ở Áo, BS Ignart Semmelweis, vào thập niên 1840 đã luận ra rằng sốt hậu sản gây ra bởi sự nhiễm khuẩn
của đường sinh dục từ tay của các bác sĩ đã mổ tử thi trước khi đỡ đẻ Vào
thời điểm đó, các bác sĩ tin rằng nhiễm khuẩn được gây ra bởi các dịch xấu
(bad humors) hoặc do một tác nhân chưa được biết đến trong không khí Họ
đã không hiểu vai trò của vi khuẩn trong nhiễm khuẩn Vì thế họ đã không biết rằng việc rửa tay sau khi tiếp xúc với một áp xe nhiễm khuẩn và trước lúc đỡ sanh là cần thiết Sau những quan sát và giám sát cẩn thận về các ; nhiễm khuẩn, BS Semmelweis đã thực hiện việc can thiệp kiểm soát nhiễm khuẩn có hệ thống lẫn đầu tiên Ông ta đã chỉ thị cho tất cả các bác sĩ và sinh viên y khoa bÍ những người đã mổ xác chết phải rửa tay trước khi đỡ để cho
sản phụ Kết quả của việc này làm giảm rõ rệt tỷ lệ nhiễm khuẩn và tỷ lệ tử vong cho các sản phụ Các kết quả của ông ta tiếp tục là một trong những chứng mỉnh quan trọng cho thấy việc kiểm soát nhiễm khuẩn ngăn ngừa được
sự mắc bệnh và tử vong như thế nào BS Joseph Lister, vào thập niên 1860,
là người đưa ra giả thiết rằng vi khuẩn là nguyên nhân của các nhiễm khuẩn ˆ
vết thương, và việc diệt vi khuẩn bằng thuốc sát khuẩn có thể ngăn ngừa
được những nhiễm khuẩn đó
Các số liệu quốc gia ở Mỹ về nhiễm khuẩn bệnh viện được thu thập bởi
Trang 11hệ thống giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện toàn quốc cho thấy rằng tỷ lệ nhiễm khuẩn gia tăng khi cường độ chăm sóc gia tăng Nghiên cứu SENIC (Study on the Efficacy of Nosocomial Infection Control) diễn ra từ năm 1974 đến năm 1983 tại Mỹ đã chứng mình 1/3 các nhiễm khuẩn bệnh viện có thể phòng ngừa được Điều đó có nghĩa là 1⁄3 các nhiễm khuẩn, 1/3 các trường hợp tử vong có thể được cứu, và 1/3 của 4,5 tỷ USD được tiết kiệm [17] Thật
đổ khó có thể so sánh trực tiếp mức phí tổn chăm sóc sức khoẻ ở Mỹ với các nước khác vì chỉ phí y tế ở Mỹ cao hơn ở nhiều nước khác, do đó có lẽ sẽ dễ thấy hơn khi nhìn vào thời gian nằm viện vượt trội do nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra Ví dụ đối với các ca có nhiễm khuẩn niệu bệnh viện thời gian nằm viện tăng thêm 7,4 ngày (so với các ca không bị NKBV), chúng ta có thể thấy rằng nhiễm khuẩn bệnh viện làm tiêu tốn thời gian và tiền bạc trong việc mất đi lực lượng sản xuất của xã hội và một số tiêu tốn cho chi phí năm viện rất lớn
Theo nhiều nghiên cứu, tỷ lệ NKBV cao nhất được phát hiện trong các
Khoa chăm sóc đặc biệt, khoa nhỉ, khoa bỏng, khoa chấn thương, và một số ít ngành phẫu thuật khác [10,12,13,22] Các tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện thường gap nhat 1a Staphylococcus aureus va cdc ching Staphylococcus
có men coagulase 4m tinh (coagulase-negative Staphylococcj) đối với nhiễm khuẩn đường máu và nhiễm khuẩn vết mổ Sự phân bố các tác nhân gây bệnh có hơi khác biệt đối với các bệnh nhân trong khoa săn sóc đặc biệt: Enterococci cỗ khuynh hướng phân bố rộng hơn trong môi trường này [21,23]
Nhiều báo cáo cũng cho thấy tỷ lệ NKBV trong các bệnh viện tại Mỹ
1998 là 15% [25], tại Anh (1980) là 9,2%, tại Đan Mạch (1979) là 12,1%, tại
Pháp (1990) là 7,5% [26] Mặc dâu đã có những đầu tư khổng lỗ cùng nhiều tiến bộ về tổ chức, trang bị, nghiên cứu áp dụng nhiều biện pháp phòng
chống, nhiễm khuẩn bệnh viện đang có chiều hướng ngày càng gia tăng và
trở nên phức tạp hơn
Trang 12Giám sát NKBV là một phần quan trọng khác của kiểm soát nhiễm khuẩn Giám sát là điều tra phát hiện ra nhiễm khuẩn bệnh viện và tính ra tỷ
lệ NKBV hiện hành (prevalence), có thể sử dụng như là mức chuẩn để so sánh với kết quả của những lần giám sát sau, từ đó có thể đánh.giá kết quả
của các biện pháp can thiệp cũng như hiệu quả của công tác chống nhiễm
khuẩn của đơn vị và phát hiện dịch NKBV
Cơ sở cuối cùng của kiểm soát NKBV là sự để kháng kháng sinh Thực tế
để kháng kháng sinh tự nó không phải là cơ sở cho kiểm soát nhiễm khuẩn, nhưng sự phát triển của nó đã tạo ra một tâm quan trọng mới về kiểm soát
NKBV Hội dịch tễ học chăm sóc sức khoẻ (SHEA) và Hiệp hội bệnh nhiễm khuẩn của Mỹ (DSA) đã xuất bản sách hướng dẫn việc dùng kháng sinh hợp
lý, có viết: “việc sử dụng kháng sinh thích hợp, bao gồm chọn lựa, liểu, và thời gian điều trị thích hợp, cũng như kiểm soát việc sử dụng kháng sinh, sẽ ngăn ngừa hoặc làm chậm sự xuất hiện kháng thuốc của vi khuẩn” {25]
Tại Châu Á , mức độ phát triển thực hành chống NKBV giữa các quốc gia rất khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế cũng như chính sách y tế của mỗi nước, song nhìn chung quá trình thực hành CNKBV đang phát triển mạnh
mẽ và chủ động ở rất nhiều nước trong khu vực như: Singapore, Hồng Kông
Mục tiêu hiện nay của Hiệp hội chống nhiễm khuẩn khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương là triển khai chương trình chống NKBV tại tất cả các nước Châu
A [12,13] +
3 Tình hình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tại Việt Nam:
Từ năm 1997 sau khi quy chế chống nhiễm khuẩn được ban hành, nhiễu
hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn đã được đưa vào các cơ sở y tế Ban chỉ
đạo công tác chống nhiễm khuẩn đã được thành lập ở các cơ sở y tế trong toàn quốc Các quy chế chống: nhiễm khuẩn bệnh viện, quy chế công tác
khoa Chống nhiễm khuẩn cũng dẫn dẫn được xây dựng Bộ Y tế Việt Nam
cũng đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, hội nghị, hội thảo trên toàn quốc với sự
hổ trợ của CDC Mỹ, nhiều chuyến tham quan học tập trong nước và nước
Trang 13ngoài cho các cán bộ làm công tác chống nhiễm khuẩn
Để từng bước triển khai công tác chống NKBV trên toàn quốc, Bộ Y tế
đã xây dựng quy chế chống nhiễm khuẩn giai đoạn 1997 - 2004, ban hành nhiều văn bản nhằm tiến hành thực hiện quy chế đó:
- — Quy chế CNKBV và quy chế công tác khoa CNK thuộc quy chế bệnh viện (1997)
BV, tiếp theo là chỉ thị 06/BYT-CT năm 2003
- Quyết đinh 934/2001/BYT-QD ngày 28-3-2001 về ban hành 7 bộ
tiêu chuẩn kiểm tra công tác CNK và chăm sóc người bệnh
- Quyết định 1040/2003/BYT-QĐ ngày 1-4-2003 về ban hành “tài
Một số công trình nghiên cứu của một số bệnh viện trên toàn quốc về nhiễm khuẩn bệnh viện đã được thực hiện vào những năm từ 1993 đến 2006 cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện ở các địa phương thay đổi từ 8% - 20%
trong đó có một số gây thành dịch [1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13]
Chống nhiễm khuẩn nên là một tiếp cận theo hướng đội ngũ đa chức năng Một đội ngũ tốt mang lại kết quả cao cho công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện Công tác này phải được tuyên truyền đến mọi thành viên y tế, từ
người đầu bếp chuẩn bị thức ăn cho bệnh nhân, những phẫu thuật viên thực
hiện các cuộc mổ, các điều dưỡng thực hiện thay băng, đến nhân viên vệ
sinh làm sạch khoa phòng Đội ngũ điều phối và hợp tác với nhân viên vệ sinh, điểu dưỡng, bác sĩ, phòng xét nghiệm, khoa dược, thanh trùng, khoa' phẫu thuật để thực hiện những chủ trương cúa lãnh đạo đối với những vấn
để liên quan đến NKBV [9]
Tại nước ta, một điều tra trên 12 bệnh viện trong toàn quốc năm 2003
Trang 14cho thấy nhiễm khuẩn vết mổ chiếm tỷ lệ cao nhất, kế đến là viêm phổi bệnh viện NKBV thường gặp nhất ở những đơn vị săn sóc đặc biệt, ở khoa ngoại, bổng, ung thư và huyết học Một số nghiên cứu NKBV đã được tiến hành tại các đơn vị riêng lẻ như BV Chợ Rẫy, BV Bach Mai, BV-Nhi Đồng, kết quả cho thấy tỷ lệ NKBV khá cao (8-20%) Tuy nhiên đó cũng chỉ là những nghiên cứu cục bộ tại từng đơn vị nhằm phục vụ cho các chủ trương ngắn hạn của đơn vị mình {4,5,6,7,8,9,10,11,12,13]
Các nghiên cứu cũng cho thấy nhiễm khuẩn bệnh viện làm tăng kinh phí điều trị Cùng với sự xuất hiện một số bệnh gây ra bởi những vi sinh vật
kháng thuốc, hoặc bởi những tác nhân gây bệnh mới, nhiễm khuẩn bệnh viện
vẫn còn là vấn để nan giải ngay cả ở các nước tiên tiến, với tỉ lệ chung khá
cao [9]
Theo các tài liệu của Bộ Y tế: tại Việt Nam, trước đây thực hành chống NKBV đã có từ lâu nhưng chưa thực sự được hệ thống hóa lại thành một lĩnh vực có tính chất chuyên khoa, mà nằm tắn mạn trong một số quy chế chuyên môn Cho đến năm 1997 Bộ Y tế chính thức đưa quy chế chống nhiễm khuẩn vào quy chế bệnh viện và xây dựng khoa Chống nhiễm khuẩn (CNK) trong
hệ thống tổ chức của bệnh viện, từ đó thực hành chống NKBV đã thực sự được các bệnh viện quan tâm Trên thế giới có rất nhiều mô hình quản lý bệnh viện trong đó bao gồm cả lĩnh vực chống NKBV, các mô hình ấy hiện nay không còn ở bước đi ban đầu như ở Việt Nam cho nên Việt Nam phải tự tìm ra cho mình một mô hình thích hợp với điểu kiện chuyên môn, kinh tế, chính trị và xã hội của Việt Nam Chống NKBV là một trong những chương trình thiết yếu trong quần lý đồng bộ chất lượng bệnh viện, đồng thời là một
chương trình quản lý liên tục về chất lượng chuyên môn của bệnh viện, đòi hỏi sự tham gia của mọi cán bộ trong bệnh viện Bệnh viện cần thiết lập hệ thống tổ chức, có mục tiêu, có theo dõi giám sát các giai đoạn hoạt động và
có kế hoạch đánh giá (evaluation) các bước, và có tổng kết hàng năm [12]
Trang 154 Tình hình thực hiện quy chế CNKBV trong ngành y tế tỉnh Khánh Hòa:
Sở Y tế Khánh Hòa có quyết định thành lập khoa CNK Bệnh viện tỉnh
Khánh Hòa vào tháng 11-1999 Đến tháng 3-2000 BGĐ bệnh viện đa khoa
tỉnh Khánh Hòa đã ban hành quy định “Hệ thống tổ chức chống nhiễm khuẩn
bệnh viện” và thành lập Ban CNK Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa với 7 thành
viên do Phó GÐ phụ trách chuyên môn làm trưởng ban, Trưởng khoa CNK làm phó ban cùng với các đại diện của các khoa (phụ lục 2) Qua để xuất của Ban CNK, tháng 5-2000 Giám đốc Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa đã ra quyết định thành lập “Mạng lưới CNKBV” gồm 58 thành viên nằm rãi rác ở các khoa, phòng nhằm giúp Ban CNK thực hiện tốt công tác giám sát, phát hiện NKBV và để xuất các biện pháp phòng chống NKBV Ban CNK Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa đã được tham dự 6 đợt tập huấn do Bộ Y tế tổ chức với sự tài trợ của tổ chức JICA Nhật Bản và sự giúp đỡ về chuyên môn của tổ chức CDC (Mỹ)
Cho đến nay tại các bệnh viện đa khoa huyện trong tỉnh Khánh Hòa chưa xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới chống nhiễm khuẩn bệnh viện, các hoạt động chống nhiễm khuẩn bệnh viện chưa được tiến hành thường xuyên
Trang 16CHUONG II
DOI TUGNG, PHUONG PHAP VA VAT LIEU NGHIEN CUU
1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Tất cả bệnh nhân nội trú đang điều trị tại các bệnh viện vào thời điểm điều tra
- Môi trường bệnh viện tại thời điểm nghiên cứu: bàn tay nhân viên,
dịch tiết, không khí, máu, mú, nước tiểu
- Tiêu chí loại trừ: Những bệnh nhân nặng (có nguy cơ tử vong gần),
mắc các bệnh mạn tính (như lao, ung thư) hoặc có suy giảm miễn dịch (như HIV ) Những bệnh nhân mới nhập viện thời gian dưới 48 giờ
2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa và các bệnh viện đa khoa huyện Diên Khánh, Cam Ranh, Vạn Ninh, Khánh Vĩnh và Khánh Sơn
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6-2005 đến tháng 12-2006 Thực hiện 2
đợt: đợt Í vào tháng 10 năm 2005, đợt 2 vào tháng 5 năm 2006
- Thời gian điều tra: các bệnh viện huyện mỗi bệnh viện 2 lần trước và sau khi áp dụng biện pháp can thiệp 6 tháng Tại mỗi bệnh viện, mỗi lần tiến hành điều tra trong 1 ngày Riêng tại Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa, do đông bệnh nhân nến được chia làm 3 khối: Khối Ngoại-GMHS, khối Nội-Nhi- Nhiễm, và khối các khoa lâm sàng còn lại Tại mỗi khối tiến trình điểu ra cũng như trên
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả, kỹ thuật điểu tra cắt ngang có phân tích và điều tra có can thiệp
- Chẩn đoán NKBV: dựa vào bộ tiêu chuẩn chẩn đoán NKBV của Bộ Y
tế (phụ lục 1)
- Phương pháp điểu tra: Chẩn đoán NKBV được dựa vào triệu chứng
Trang 17lâm sầng, xét nghiệm (nuôi cấy vi khuẩn, kháng sinh đổ), và nghiên cứu bệnh án Nhóm giám sát gồm các thành viên của nhóm nghiên cứu, nhân
viên khoa Chống nhiễm khuẩn Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa, và các bác sĩ của đơn vị được điều tra cử tham gia giám sát, sau khi được tập huấn
- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 11.5 Đánh giá sự khác biệt giữa các tỷ lệ bằng test X” Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
4 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU:
- Phiếu điều tra theo mẫu của Bộ Y tế (phụ lục 3)
- Dụng cụ và môi trường cấy vi khuẩn đo Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa cung cấp
- Các tài liệu tập huấn do Ban Chống nhiễm nhuẩn Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa soạn dựa theo tài liệu tập huấn của Bộ Y tế, được thông qua BGPĐ bệnh viện
- Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn bệnh viện (dựa theo tiêu chuẩn của
CDC, 1996)
5 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU:
Đến các bệnh viện:
- Thực hiện 2 đợt: đợt 1 vào tháng 10/2005, đợt 2 vào tháng 5/2006 Mỗi
đợt: tại Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa khảo sát 3 cụm (phân chia như trên), mỗi cụm trong 1 nếày Tại các bệnh viện huyện, mỗi bệnh viện trong 1 ngày
- Tập huấn cho toàn nhóm và các cộng tác viên về định nghĩa, cách tiếp cận và phát hiện nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn bệnh viện, phương pháp lấy mẫu nghiên cứu, thu thập dữ liệu, lập phiếu điểu tra theo đúng quy định đã
để ra trong đê cương
-Lấy mẫu bệnh phẩm, nuôi cấy xác định tác nhân gây nhiễm và làm kháng sinh đổ, xác định mức độ để kháng của vi khuẩn
-Tập huấn cho các đơn vị kiến thức CNK, NKBV, tổ chức và điều hành
mạng lưới CNK (xin xem phụ lục 4)
Trang 18-Cỡ mẫu: Tại cùng một thời điểm, khảo sát /ố? cả bệnh nhân hiện đang nằm điều trị tại bệnh viện Tổng số giường bệnh của 6 bệnh viện được khảo sát là: 1030, tỷ lệ NKBV tại các bệnh viện đã được khảo sát tại Việt Nam là
§-20%, như vậy dự kiến số bệnh nhân có thể bị NKBV trong cùng một thời điểm tại 6 bệnh viện trên là khoảng 140 bệnh nhân Tổng số bệnh phẩm nuôi
cấy dự kiến là 2816 (chỉ tiết như tại trang 11 của để cương) Tại mỗi bệnh viện, số bệnh phẩm nuôi cấy từng loại (n) sẽ được xác định theo công thức:
N Tổng số bệnh phẩm nuôi cấy mỗi loại x Số giường tại bv điều tra
© Tay phẫu thuật viên, điều dưỡng viên, hộ lý
© Dụng cụ phẫu thuật, thử thuật, dụng cụ phục vụ điều trị: bộ thay băng, dụng cụ phẫu thuật
¢ Không khí phòng mổ, phòng sinh, phòng thủ thuật, phòng chăm sóc đặc biệt ˆ Ghi đây đủ vào các phiếu điều tra theo mẫu của BYT (xin xem phụ lục3)
#
Trang 19
Chúng tôi đã khảo sát mỗi bệnh viện 2 đợt, đợt I vào tháng 10 -2005, đợt
II vào tháng 5 - 2006 Tại mỗi đợt, các bệnh viện huyện được khảo sát trong một ngày (từ 8 giờ đến 16 giờ) Riêng Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa, vì đông bệnh nhân nên chúng tôi chia làm 3 cụm, khảo sát mỗi cụm trong Í ngày
CHƯƠNG IH
KET QUA NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
1 KET QUA CHUNG
Bảng 1: Kết quả theo giới tính của bệnh nhân bị NKBV trong 2 đợt khảo sát:
Số bệnh nhân bị NKBV nam cao gấp đôi nữ trong cả 2 đợt
Bảng 2: Phân tích theo số bệnh nhân mắc bệnh mãn tính:
bị NKBV trong cả 2 đợt kiểm tra
13
Trang 20Bảng 3: Phân tích theo nhóm tuổi:
2 TỶ LỆ VÀ LOẠI NHIỄM KHUẢN BỆNH VIỆN:
Bảng 4: Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại các bệnh viện đa khoa thuộc Sở Y
tế Khánh Hòa:
Ghi chi: n: bệnh nhân bị nhiễm khuẩn bệnh viện
BN: Số bệnh nhân được khảo sát
So sánh tình hình NKBV giữa 2 đợt khảo sát tại các bệnh viện chúng tôi thấy sự khác biệt về tỷ lệ NKBY trong 2 đợt điều tra tại các bệnh viện đa khoa trong tỉnh Khánh Hòa không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05), cụ thể như sau (bảng 4):
Trang 21- Tại Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa tỷ lệ NKBV đợt sau cao hơn đợt trước, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Là đơn vị có khoa Chống nhiễm khuẩn đã được hình thành và hoạt động đều đặn từ 10 năm nay Nguyên nhân có lẽ do đợt khảo sát sau trùng vào mùa hè, là thời gian thời tiết oi bức thường có gia tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn trong năm, nhất là nhiễm khuẩn hô hấp và cùng lúc bệnh viện đang trong thời gian sửa chữa nên vấn
để vệ sinh môi trường bị ảnh hưởng tạo điều kiện thuận lợi để nhiễm khuẩn trong bệnh viện lây lan dễ dàng hơn Mặc dầu vậy nhưng tỷ lệ NKBV vẫn thấp hơn ở các bệnh viện huyện trong cùng thời kỳ
trường bệnh viện Cần can thiệp mạnh mẽ và toàn diện hơn như tổ chức bộ phận
chống nhiễm khuẫn, áp dụng quy trình giám sát thường xuyên, định kỳ, tổ chức lại các khâu tiệt khuẩn dụng cụ y tế, vệ sinh môi trường đúng quy cách, rửa tay ‘ bắt buộc trước và sau thủ thuật, trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, sử dụng các hóa chất diệt khuẩn đúng quy định, xử lý nước và rác thải y tế theo đúng quy định của Bộ Y tế Thực hiện các công việc đó cần một khoản kinh phí lớn và một sự quyết tâm của lãnh đạo ngành và lãnh đạo các bệnh viện, khi đã nhận thấy những nguy cơ và những tổn phí lớn lao do NKBV mang lại
Qua kết quả này chúng tôi nhận thấy biện pháp can thiệp không đẳng
bộ chưa thực sự mang lại hiệu quả trong chống nhiễm khuẩn bệnh viện, chúng ta cần áp áp dụng đúng đều và đủ các quy định và qui trình chống nhiễm khuẩn bệnh viện mới mong có được kết quả khả quan và các nghiên cứu can thiệp có qui mô lớn mới đưa ra các kết quả xác đáng như mong đợi
Trang 22Kết quả điều tra tại thời điểm tháng 5-2006 (đợt ID cho thấy tỷ lệ NKBV chung tại 6 bệnh viện đa khoa thuộc Sở Y tế Khánh Hòa là 13,9%, trong đó tỷ lệ NKBV tại bệnh viện tỉnh thấp nhất 12,7%, tại các bệnh viện
huyện tỷ lệ cao hơn: Bệnh viện Khánh Sơn: 13,5%, Bệnh viện Cam Ranh: 15,5%, Bệnh viện Khánh Vĩnh: 16%, Bệnh viện Vạn Ninh: 17%, Bệnh viện
Tham khảo kết quả điểu tra của một số bệnh viện trong nước: Bệnh viện Nam Định: 4,6% [12], Bệnh viện Kiên Giang: 5,5% [13], Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội: 6,8% [2], Bệnh viện Bến Tre: 8,2% [13], Bệnh viện Chợ Rẫy: 10,8% [4,6], Bệnh viện E: 5,1% [11], Bệnh viện phụ sản Hà Nội: 2,5%
[12], Bénh viện Nhi Đồng I: 5,6% [5], Bệnh viện Việt Đức: 7,3%, Saint Paul
(2003): 6,4% [12], Bệnh viện Hữu Nghị VN-Thụy Điển: 6,6% [7], tại các bệnh viện đa khoa thuộc Sở Y tế Hà Nội (2006): 10%, Bệnh viện Đông Anh
(Hà Nội): 17%, Bệnh viện Saint Paul (2006): 11,6%, Bệnh viện Thanh Nhàn:
6,9%, Bệnh viện Bắc Thăng Long: 6,1% [12] và của quốc tế như kết quả điều tra tại 153 bệnh viện ở Anh: 9%, điều tra tại 14 nước trên thế giới của WHO có kết quả tỷ lệ NKBV trung bình là 8,4% [24] Chúng tôi thấy các kết quả có khác biệt nhau rất lớn từ đơn vị này đến đơn vị khác Phải chăng do NKBV là một tình trạng không ổn định, thường xuyên có sự đấu tranh giữa một bên là khuynh hướng tự nhiên mỗi ngày một gia tăng của tình trang NKBV, các hoạt động y tế ngày một phát triển, số bệnh nhân nằm viện càng
đông và với thời gian mà bệnh viện được sử dụng với một bên là cố gắng của con người tìm cách hạ thấp tỷ lệ NKBV bằng những phương pháp khoa học, và sự hiểu biết ngày một sâu rộng hơn về nguy cơ này? Vì vậy tại nơi nào, vào thời điểm nào đơn vị làm tốt công tác chống nhiễm khuẩn thì tỷ lệ NKBV sẽ giảm, ngược lại tỷ lệ NKBV sẽ gia tăng Ngoài ra đối với những
bệnh viện có tỷ lệ NKBV quá thấp như Bệnh viện Nam Định: 4,6%, Bệnh viện Kiên Giang: 5,5%, Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội: 6,8%, Bệnh viện E: 5,1%, Bệnh viện phụ sản Hà Nội: 2,5%, Bệnh viện Nhi Đồng I: 5,6%, chúng
tôi không rõ là họ có áp dụng “bộ tiêu chuẩn kiểm tra công tác CNK và chăm sóc người bệnh” theo Quyết định 934/2001/BYT-QĐ do Bộ Y tế ban
Trang 23hành ngày 28-3-2001 hay không? Theo các diéu tra gần đây tại nhiều bệnh viện như Bệnh viện Chợ Rẫy (2006) có tỷ lệ NKBV là 10,8% [10], các bệnh viện đa khoa thuộc Sở Y tế Hà Nội (2006) là 10% [12], Bệnh viện Đông Anh (Hà Nội): 17%, Bệnh viện Saint Paul (2006): 11,6% thì rõ ràng là tỷ lệ NKBV tại các bệnh viện ở Việt Nam còn cao, cần phải quyết tâm và kiên trì
triển khai mạnh mẽ hơn nữa các quy định về giám sát NKBV của Bộ Y tế mới
có thể cải thiện được tình hình NKBV trong tương lai
Qua khảo sát chúng tôi đã phát hiện 278 bệnh nhân có đủ các tiêu chí
chẩn đoán là nhiễm khuẩn bệnh viện theo quy định (đợt đầu 132 bn, đợt sau
146 bn), phân tích như sau:
Bảng 5: Các loại NKBV phát hiện tại 6 bệnh viện đa khoa thuộc Sở Y tế Khánh Hòa :
f Nhiễm khuẩn tiết niệu
E Nhiễm khuẩn da, mô mềm
RÑ Nhiễm khuẩn máu
Trang 24Bang 6: Phân loại NKBV phát hiện tại 6 BV da khoa thuộc sở Y Tế
BV Tỉnh | BV Cam | BV Diên | BV Vạn BV Khanh BV Khánh TC
Ranh Khánh Ninh Vĩnh Sơn
n % n % n % n % n n * n
Viêm phổi | 57 | 37 | 16 | 32,7 | 9 | 32,7 | 7 | 368] 6 | 33,3 3 30 | 98 | 35,2
NK vétmé | 33 | 21,4 | 10 | 20,4) 6 | 21,4] 4 21 4 22,2 1 10 58 | 20,8
NK Niệu 30 | 19,5 | 11 | 22⁄4 | 6 | 21,4 | 4 21 4 22,2 3 30 58 | 20,8 NKda mô | 19 | 123 | 9 ¡ 16, 4 1143 | 3 158 | 3 16,7 4 40 4i | 14,7
NK mau 15] 98; 4 | 82 | 2 | 10,7| £ | 54 1 5,6 0 9 23 | 8,2
TC 154 49 28 ig 18 10 287
Kết quả khảo sát tại các bệnh viện đa khoa thuộc Sở Y tế Khánh Hòa
cho thấy các NKBV mắc phải thường gặp, theo thứ tự:
Nhiễm khuẩn tiết niệu 20,8%
Nhiễm khuẩn vết mổ 20,8%
- So sánh với kết quả điều tra năm 2001 của Phạm Đức Mục thành viên nghiên cứu chống nhiễm khuẩn Bộ Y tế thì viêm phổi 41%, nhiễm trùng da và mô
mềm 12,2%, nghiên cứu của Sở Y tế Hà Nội trên 5 bệnh viện [12] có kết quả: viêm phổi 36,5%, da và mô mềm 3,7%, Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu tại đơn-*j chăm sóc đặc biệt (CỤ Bệnh viện Nhi Đồng ]) thấy nhiễm khuẩn máu chiếm tỷ lệ cao nhất 8,5% [5], Võ Công Đồng và cs (BV Nhi Đồng II) [13]: Phẫu thuật tiêu hóa: 39,4%, nhiễm trùng sơ sinh: 15,2%, bệnh
hô hấp: 15,2%, theo Phạm Lê Tuấn và cs (Sở Y tế Hà Nội) [12]: nhiễm _ khuẩn hô hấp: 36,5%, nhiễm khuẩn vết mổ: 29,9%, nhiễm khuẩn tiêu hóa: 19,6%, nhiễm khuẩn tiết niệu: 3,7%, nhiễm khuẩn da và mô mém: 3,7% Theo Haley và cs nhiễm khuẩn máu chiếm tỷ lệ cao nhất 29,2% trong lô nghiên cứu [20] Tuy nhiên do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu của các tác giả đều khác nhau (bệnh nhân ở khoa Ngoại, Hồi sức cấp cứu, bệnh viện
Trang 25Nhi, bệnh viện Phụ Sản, một hoặc nhiều bệnh viện đa khoa ) nên tần suất mắc NKBV của các bệnh ở mỗi nơi có khác nhau Nhưng nhìn chung những can thiệp y khoa càng sâu trên bệnh nhân thì càng làm cho tỷ lệ NKBV cao
hơn (như phẫu thuật, đặt nội khí quản, đặt thông tiểu, các thủ, thuật xâm lấn
khác) Điều này cũng cho thấy là công tác vô khuẩn khi làm thủ thuật, phẫu thuật tại các bệnh viện chưa đảm bảo đúng tiêu chuẩn quy định
3 TÁC NHÂN GÂY NKBV VÀ MỨC ĐỘ NHẠY CẢM KHÁNG SINH: Qua nuôi cấy 1112 mẫu bệnh phẫm và các chủng loại vi khuẩn gây NKBV phân lập được, kết quả như sau:
Bảng 7: Các chủng loại vi khuẩn trên bệnh phẩm các bệnh nhân được
xác định là bị NKBV
Trang 26
Ghi chú:
TC: Staphylococcus aureus, EP: Staphycoccus epidermidis, PS: Pseudomonas aeruginosa, PT: Proteus spp, Ki: Klebsiella spp, CO: Escherichia coli, EN: Enterobacter spp, Ha: Haemophilus influenzae, ST: Streptococcus pneumoniae,
Al: Alkaligenes spp, Cl: Citrobacter spp, AC: Acinetobacter spp , ~
Qua nuôi cấy chúng tôi xác định được tỷ lệ các chủng loại vi khuẩn phân lập được trong bệnh phẩm các bệnh nhân đã được xác định là có NKBV như sau:
aeruginosa 15,1%; kEscherichia coli 9%; Alkaligenes spp 8,3%; Streptococcus
pneumoniae "1,9%; Enterobacter spp 7,5%; Haemophilus influenzae 6,8% va Klebsiella spp 5%
Theo Lê Thị Anh Thư và Trương Văn Việt (BVCR-2006), các vi khuẩn
thường gặp trong NKBV tại bệnh viện Chợ Rẫy theo thứ tự Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus, Klebsiella ssp, Acinetobacter ssp,
Enterobacter spp, Escherichia coli ‘[10] Theo Ng6 Thi Quynh Hoa, cdc vi
khuẩn thường gặp trong NKBV tai bệnh viện Chợ Rẫy (2003) bao gồm Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter spp [6], theo
TS Võ Công Đồng (bệnh viện Nhi Déng H - 2001): Klebsiella ssp 26,3%,
Trang 27Pseudomonas aeruginosa 21,1% [131, theo GS Văn Tần (Bệnh viện Bình Dân
- 2000): Escherichia coli 26%, Enterobacter spp 13%, %; Proteus spp 1%, Staphylococcus aureus 6% [13], theo Ngô Minh Thị, (Bệnh viện Nhi Trung Ương - 2006): Klebsiella ssp 37%, Pseudomonas aeruginosa 30% [9] Theo Jeffey và cs tác nhân chính gây viêm phổi trong NKBV là Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus [21]
Trong 8 chủng loại vi khuẩn gây NKBV gặp nhiều nhất trong nghiên cứu này chúng tôi đặc biệt lưu ý đến Staphylococcus aureus Qua tham khảo các tài liệu trong nước cũng như nước ngoài chúng tôi thấy đây là một trong những tác nhân thường gặp nhất trong NKBV Sự phát triển của vi khuẩn nầy gây khó khăn trong điều trị và kiểm soát dịch vì sự xuất hiện các chủng Staphylococcus aureus da khang khang sinh ngày càng nhiều Các nghiên cứu
của CDC cho thấy tại 10 nước châu Âu (1992) tỷ lệ vi khuẩn này kháng hầu
hết các kháng sinh là 60%, tại Hàn quốc (1996) là 83,7% [18,24] tại bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) tỷ lệ này là 88,2% [2] Bên cạnh đó cũng cần lưu ý đến vi khuẩn Staphylococcus epidermidis, là một trong 8 chủng gặp nhiều
nhất trong nghiên cứu này, tỷ lệ 5,6%), vì đã có nhiều thông báo rằng vi khuẩn này đang có xu hướng gia tăng gây NKBV và tỷ lệ kháng nhiều kháng sinh ngày càng cao [ 14]
Chúng tôi cũng nhận thấy kết quả của hâu hết các mẫu nuôi cấy đều
có ty 18 nhiém Staphylococcus aureus cao nhat: TY 16 nhiém Staphylococcus aureus trong các mẫu máu và nước tiểu cũng rất cao (51,2% và 31% - bảng 3a) là một biểu hiện rất đáng ngại vì vấy khuẩn máu và vấy khuẩn niệu do
Staphylococcus aureus là một nhiễm khuẩn rất nặng, khó điều trị và có tỷ lệ
tử vong cao, nó cũng phần nào cho thấy vấn để vô khuẩn trong tiêm truyền
và thực hành các thủ thuật tại các bệnh viện được khảo sát rất đáng lo ngại
Trang 28Bảng 8§: Các chủng loại vi khuẩn bắt gặp tại môi trường các bệnh viện
Trang 29
PT
TC
40 Biểu đỗ 2:
Tỷ lệ 6 loại vi khuẩn thường gặp nhất phát hiện trong các mẫu nuôi cấy môi
trường bệnh viện TC: Staphylococcus aureus, PT: Proteus spp, : EN: Enterobacter spp, CO: Escherichia coli, Cl: Citrobacter spp, EP: Staphycoccus epidermidis
Các chủng loại vi khuẩn phân lập được trong các mẫu lấy từ môi trường các bệnh viện có kết quả như sau (bảng 8):
Trang 30Streptococcus pneumoniae 0%
Theo bang 8, ty 16 nhiém Staphylococcus aureus trong cdc mau khéng khí tại môi trường bệnh viện và trên các dụng cụ được tiệt trùng bằng hóa chất rất cao (33,9% và 22,2%) là rất đáng lo ngại vì gây ra tình trạng dễ lây lan loại vi khuẩn khó trị này trong bệnh viện Trong khi đó trên các dụng cụ được tiệt trùng bing autoclave cé ty 16 nhiém Staphylococcus aureus thap (8,5%) cho thấy nên tăng cường sử đụng autoclave để tiệt trùng dụng cụ Đây
là phương pháp cổ điển nhưng rất có hiệu quả và ít tốn kém Nên hạn chế sử dụng phương pháp tiệt trùng bằng hóa chất, và nếu cần sử dụng thì phải thực
hiện đúng quy trình và đúng chỉ định, đúng hóa chất cần thiết Tay nhân viên
có tỷ lệ nhiễm Sfaphylococcus qureus rất thấp (7,3%) cho thấy các nhân viên
y tế đã thực hiện tốt quy trình rửa tay trướcvà sau thủ thuật Nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho thấy rửa tay trước và sau thủ thuật (cho tất cả mọi
người có tham gia) là biện pháp rẻ tiền, để thực hiện mà đem lại hiệu quả rất
cao trong công tác phòng chống NKBV [12,14,15] _
Trang 31Bảng 9- Các chủng loại vi khuẩn phân lập được tại các bệnh viện đa khoa thuộc Sở Y tế Khánh Hòa qua 2 đợt khảo sát:
Trang 32
Kết quả khảo sát trong đợt II cho thấy trong các chúng vi khuẩn phân lập được 6 bệnh viện đa khoa thuộc sở y tế Khánh Hòa chúng tôi nhận thấy Staphylococcus aureus chiém ty 1é cao nhat (bang 9), trong d6 bénh viện tỉnh Khánh Hòa có tỷ lệ 26,1%, Bệnh viện Cam Ranh: 25,3%, Bệnh viện Diên
Khánh: 27,1%, Bệnh viện Vạn Ninh: 25,2%, Bệnh viện Khánh Vĩnh: 24,7%,
Bệnh viện Khánh Sơn: 25% Đối với các vi khuẩn khác, tỷ lệ NKBV tại các bệnh viện đa khoa cũng tương đương nhau Tình hình như vậy là do các bệnh viện đa khoa thuộc sở y tế Khánh Hòa được khảo sát trong đợt này đều có mô hình tổ chức gần giống nhau, mô hình bệnh tật cũng gần giống nhau Điều này cũng cho thay su phat trién cla NKBV do Staphylococcus aureus (bang 7, bang 9) cần phải được quan tâm của cả ngành y tế tỉnh Khánh Hòa, cần có những biện pháp đối phó cụ thể để khống chế nó và không để lan ra thành dịch vì đây là loại vi khuẩn
đa kháng kháng sinh đã được CDC thông báo từ lâu
Bảng 10: Kết quả nuôi cấy không khí ở các vị trí:
Trang 33
18>
@EN GHA