sở để xuất giải pháp đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của TEĐP đó là các cơ sở pháp lý, cơ sở tiếp cận dựa trên năng lực và nhu cầu của trẻ cũng như các vấn đề liên quan đến tiếp cận cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO ĐỤC
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
GIẢI PHÁP GIÁO DỤC BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC HỌC TẬP CỦA TRẺ EM ĐƯỜNG PHỔ
Trang 2DANH SÁCH NHŨNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 Ths Lé Thị Thuý Hằng, Chủ nhiệm dé tai
2 Ths Ngô Kim Thoa, Thư ký đề tài
3 TS Lé Van Tac, Uy vién
4 Ths Nguyén Xuan Hai, Uy vién
DANH SÁCH ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1 Phòng giáo dục và Đào tạo Quận Đống Đa
2 Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận Hoàn Kiếm
3 Phòng giáo dục và Đào tạo Quận Cầu Giấy
4 Trường Nguyễn Văn Tố, Hà Nội
5 Trường THCS Thái Thịnh, Đống Đa Hà Nội
an Truéng THCS Chuong Duong, Hoan Kiém Ha Noi
~ Uy ban dan s6 gia đình và trẻ em Hà Nội
oo Viện Nghiên cứu Thanh Niên
Trang 3Giáo dục Giáo dục và Đào tạo Giáo viên
Học sinh Lao động - Thương binh và Xã hội Liên hợp quốc
Trang 4MỤC LỤC
Nội dung Tóm tắt kết quả nghiên cứu (Tiếng Việt)
SUMMARY
Phân 1 MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài
5 Tiến độ thực hiện
6 Kinh phí
7 Sản phẩm khoa học của đề tài
Phân 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
1.1 Trẻ em đường phố
1.1.1 Khái nệm
1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý của TEĐP
1.2 Cơ sở pháp lý đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của TEĐP
1.2.1 Quyền được hưởng giáo dục của TEĐP
1.2.2 Thực hiện Công ước quốc tế về Quyền trẻ em
1.2.3 Thực hiện công bằng trong giáo dục
1.2.4 Một số nội dung cụ thể trong các văn bản pháp qui liên quan đến đề tài
1.3 Cơ sở giáo dục và dạy học đảm bảo sự tham gia giáo dục củaTEĐP
1.3.1 Các lĩnh vực tâm lý, vận động, nhận thức và tình cảm xã hội
1.3.2 Giáo dục dựa trên năng lực của TE
1.3.2 Tạo môi trường tham gia các chương trình giáo dục cho TEĐP
1.4 Các mô hình và loại hình giáo duc cho TEDP
Trang 51.5.2 Gia đình
1.5.3 Bản thân trẻ
1.5.4 Nhà trường
Kết luận 1
2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIẾN
2.1 Khảo sát thực trạng giáo dục trẻ em đường phố ở Hà Nội
2.1.1 Các vấn đề chung về khảo sát
2.1.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng
2.2 Kết quả đề xuất và thực nghiệm giải pháp
2 2.1 Đề xuất giải pháp đảm bảo quyền được hưởng giáo dục cho TEĐP
Phụ lục 2: Phiếu dành cho cán bộ quản lý
Phụ lục 3: Phiếu dành cho giáo viên
Phụ lục 2: Đánh giá kết quả lĩnh hội chủ đề
Phụ lục 2: Trưng cầu ý kiến về mức độ cần thiết và khả thi của giải pháp
THUYẾT MINH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
BÁO CÁO TRIỂN KHAI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
Trang 6TÓM TÁT KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU
Tên đề tài: Giải pháp giáo dục bảo đảm quyền được học tập của trẻ em đường phố
Mã số: B2005-80-23
Chủ nhiệm đê tài: Ths Lê Thị Thuý Hằng
Cơ quan chủ trì đê tài: Viện Chiến Lược và Chương trình giáo dục
Thời gian thực hiện: từ tháng 4/2005 đến tháng 10/2006
1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng vấn để giáo dục TEĐP nhằm đề xuất những giải pháp đảm bảo quyền được hưởng giáo dục cho TEĐP
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
1) Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu: Tiếp cận với khái niệm TEĐP, giáo dục và loại hình giáo dục cho TEĐP, quyền được hưởng giáo dục của
TEDP
2) Nghiên cứu thực trạng về TEĐP, các loại hình giáo dục cho TEĐP, việc thực hiện và bảo đảm quyền được hưởng giáo dục cho TEĐP thông qua các loại hình giáo dục đó cũng như ban đầu xác định hiệu quả của các loại hình giáo dục này
đối với TEĐP
3) Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn để xuất giải pháp bảo đảm quyền được hưởng giáo dục cho TEĐP trong thời gian hiện nay
3 Kết quả chính đạt được
Về lý luận:
1) Lầm rõ các cơ sở pháp lý đảm quyên được hưởng giáo dục của TEĐP dựa trên việc
thực hiện Công ước Quốc tế về quyền trẻ em, công bằng trong giáo dục và hướng dẫn
của một số văn bản pháp qui Quốc tế và ViệtNam về vấn để đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của trẻ em
2) Xác định được khái niệm TEĐP và quyên được hưởng giáo dục của TEĐP Đồng thời xác, các nguyên nhân kinh tế —xã hội, vấn đẻ gia đình và chính bản thân trẻ ảnh hưởng và tác động đến cuộc sống trên đường phố của trẻ; các vấn đề về đặc điểm tâm sinh lý của TEĐP và những khả năng, nhu cầu của TEĐP có liên quan đến phát triển nhận thức, nhu cầu được học tập của TEĐP
3) Nghiên cứu các mô hình giáo dục TEĐP hiện đang tồn tại, những hiệu quả và hạn chế từ các mô hình này Nội dung chương 1 định hướng các cơ sở quan trọng làm cơ
Trang 7sở để xuất giải pháp đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của TEĐP đó là các cơ sở pháp lý, cơ sở tiếp cận dựa trên năng lực và nhu cầu của trẻ cũng như các vấn đề liên quan đến tiếp cận cá nhân trong giáo dục và tạo môi trường thuận lợi, thân thiện, khuyến khích TEĐP tham gia vào các hoạt động học tập
Về thực tiễn:
- Vẫn còn nhiều TEĐP ở Hà Nội thất học do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong
đó các vấn đề như : thái độ và nhận thức của nhà trường, cộng đồng và gia đình
chưa đúng đắn với việc đi học của trẻ ; chương trình học tập chưa đáp ứng và gắn
với nhu cầu thiết thực của cuộc sống của trẻ; việc hiện thực hoá chính sách giáo duc cho mọi người, đảm bảo quyền và cơ hội được hưởng giáo dục đối với TEDP trong trường học còn nhiều bất cập ; sự quan tâm và phối hợp của các lực lượng trong xã hội và vấn đề huy động nguồn lực cho giáo dục TEĐP còn hạn chế
- Đề xuất nhóm giải pháp đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của TEĐP bao gồm các giải pháp về 1) Hiện thực hoá văn bản pháp luật về quyên được hưởng giáo dục trong trường học ; 2) Xây dựng một số chỉ đề phát triển kĩ năng sống cho TEDP; 3) Tổ chức dạy học thân thiện, phà hợp với TEDP; 4)Huy động các nguồn lực
xã hội trong giáo dục TEĐP và thực nghiệm sư phạm đã khẳng định các biện
pháp đề xuất là những cơ sở phù hợp trong việc thực hiện đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của TEĐP
Trang 8SUMMARY
Project Title : SOLUTIONS TO ENSURE THE RIGHT TO EDUCATION OF STREET CHILDREN
Code number : B2005-80-23
Coordinator : MA Le Thi Thuy Hang
Implementing Institution: National Institute for Education Strategy and Curriculums-NIESAC
Cooperating Institution(s) :
Duration : From April 2005 to October 2006
1 Objectives : Researching the theoretical basis and realities of education for street children in order to recommend solutions to ensure their right to education
Main contents :
To research on the theoretic basis of education for street children: the access to the concept “street children”, types of education for street
children and the right to education of street children
To research on realities of street children, types of education for street
children and on how to implement and ensure their right to education and initially define effects of these educational types to street children
To give recommendations of solutions that ensure the right to education
To define the concepts of street children and the right to education of
street children and how social-economic reasons, problems of family and their own effect to their street life as well; to define the issues of
Trang 9“eo
physiological characters, abilities and demands of street children which relate to their awareness and needs of education
To research on models in-use of education for street children and their
advantages and disadvantages The first chapter shows the orientation of
important basis to recommend solutions ensuring the right to education of
street children, which are legal basis and access to encourage them to
participate in educational activities based on their capacity and needs and friendly and favourable environments
To recommend the group of solutions ensuring the right of education of
street children such as (1) enhancing information supply about schools, (2) reducing the procedure for entering formal and non-formal schools,
(3) creating some subjects to develop living skills for street children, (4)
teaching based on individual needs and capacity of street children, (5) training and improving teachers
To pedagogic pilot (explorative) and collect experts’ ideas to define the necessary and feasibility of the solutions above in ensuring the right to education of street children
Trang 10Phần 1 MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam trong những năm gần đây
tạo đà nâng cao chất lượng sống cho mọi người Những giá trị xã hội mới xuất biện, con người ngày càng trở nên năng động hơn, lối sống và nhu cầu của người dân cũng trở nên hết sức đa dạng, phong phú Bên cạnh ảnh hưởng tích cực với mỗi cá nhân và
xã hội thì tiến trình phát triển này có tác động đến sự phân hoá giàu-nghèo, sự chênh lệch về kinh tế và văn hoá giữa thành thị và nông thôn, nạn di dân di cư, Điều này ảnh hướng trực tiếp tới lối sống, con đường mưu sinh cũng như những vấn để khác của
xã hội rất cao
"Trình độ học vấn của TEĐP nhìn chung là thấp vì đa số trẻ bỏ học sớm, thất học
và thạm chí một số em mù chữ và tái mù chữ Kết quả điều tra của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, TEĐP từ 6 - 16 tuổi chưa từng được đi học chiếm 4,7%; Bỏ học
ở cấp I: 34%; Bỏ học ở cấp II: 58,7% và tương ứng ở cấp HI: 2,6%?
Theo nguồn của Bộ GD&ĐT năm học 2004-2005 trẻ trong độ tuổi đi học tiểu
học đạt 97,5% và THCS đạt 85% Trong khi đó, điều tra của UBDS GĐ&TE vẻ tình hình được hưởng giáo dục của TEĐP ở Hà Nội trong số 334 em có 56 em (16,77%) chưa được đi học Số lượng tương tự khi điều tra 1671 em tại thành phố Hồ Chí Minh thì có tớ 712 em (42,61% ) chưa đi học Như vậy số lượng TEĐP được đi học so với tỉ
lệ chung là quá thấp
Kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu Thanh niên, Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam về nhu cầu được tiếp tục đi học của TEĐP cho thấy: Trẻ đưới 15 tuổi
có nhu cầu tiếp tục đi học chiếm khoảng 50%, trên 15 tuổi chiếm khoảng 25%
TEĐP là đối tượng giáo dục đặc biệt và nhạy cảm Các em thường không có cơ hội được vui chơi, học tập, chăm sóc, không có một cuộc sống an toàn, được bảo vệ như những trẻ em bình thường khác Báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho mọi người của UNESCO (2005), đê cập đến chất lượng giáo dục và Pháp chế quốc tế về Quyền con người đã chỉ rõ: “tất cả mọi trẻ em đêu có thể phát triển những kỹ năng nhận thức cơ bản nếu được học trong một môi trường học tập thích hợp, đúng với
' Tim Bond A study on street children in Hanoi and an assessment of Unicef’s Street Children’s Project in Hanoi, Thanh hoa & Hung yen.Conducted by The Youth Research Institute, Hanoi 7.2003
Kết quả điều tra trẻ lang thang của trung tâm thông tin, Bộ LĐ-TB-XH, 1998
Trang 11nghĩa của nó, và nếu có những em nào không đạt được như vậy thì ít nhất cũng phần nào bởi tại sự yếu kém của hệ thống gido duc (education system deficiencies)”
Thực hiện các văn bản luật pháp, cam kết quốc tế về chăm sóc, giáo dục và bảo
vệ trẻ em° cũng như đáp ứng nhu cầu học tập của TEĐP, nhiều hình thức chăm sóc, giáo dục TEĐP đã ra đời như: "Nhà tình thương", quận Hai Bà Trưng - Hà Nội, "Hội bạn thiếu nhỉ vào đời sớm", TP Hồ Chí Minh; "Nhà TEĐP", TP Huế; "Mái ấm" TP
Hồ Chí Minh, "Mái ấm 19/5", quan Hoan Kiếm-Hà Nội; các lớp học tình thương, lớp học linh hoạt, loại hình trường vừa học vừa làm, Các mô hình trên đã góp phần nâng cao trình độ học vấn và hướng nghiệp cho một bộ phận TEĐP, giúp các em có thêm kiến thức, kinh nghiệm để cải thiện cuộc sống và định hướng tương lai Tuy nhiên, loại hình này còn lẻ tẻ, thiếu tập trung và không thuộc hệ thống quản lý giáo dục nên còn có những hạn chế đáng kể Đặc biệt việc thu hút TEĐP đến học chưa triệt để, thiếu sự quản lý, theo dõi hỗ trợ và đánh giá nên hầu như chỉ số ít trẻ được đảm bảo một phần quyền được hưởng giáo dục
Khi tình trạng TEĐP vẫn còn tồn tại như một tất yếu thì tình trạng thiếu sự chăm sóc giáo dục, dễ bị dẫn dắt vào con con đường tội phạm, là thách thức lớn, có tác động tới an toàn, văn mỉnh, trật tự và đời sống của các em cũng như mọi thành viên trong xã hội
Nhu cầu về giáo dục chưa được đáp ứng, khả năng học tập bị bỏ rơi không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống hữu ích trong tương lai của các em mà còn ảnh
hưởng tới sự vững chắc và nền móng phát triển ổn định văn minh của xã hội Việc làm
cấp bách hiện nay đó là phát triển nhân cách và định hướng tương lai cho các em thông qua giáo dục Lựa chọn đề tài “Gwử pháp giáo dục đảm bdo quyền được học tập của TEĐP” sẽ góp phần nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn trong giai đoạn này để xây dựng một mô hình hỗ trợ giáo dục hợp lý, bảo đảm những quyên cơ bản, đặc biệt là quyên được giáo dục cho TEĐP
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng vấn đề giáo dục TEĐP nhằm đề xuất những giải pháp đảm bảo quyền được học tập của TEĐP
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài thực hiện những nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể sau:
1) Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn để nghiên cứu: Tiếp cận với khái niệm TEĐP, giáo dục và loại hình giáo dục cho TEĐP, quyền được hưởng giáo dục của TEĐP,
? Báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho mọi người của UNESCO (2005)
* Các văn bản quóc tế và Việt Nam về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em
10
Trang 122) Nghiên cứu thực trạng về TEĐP, các loại hình giáo dục cho TEĐP, việc thực hiện và bảo đảm quyền được hưởng giáo dục cho TEĐP thông qua các loại hình giáo dục đó cũng như ban đầu xác định hiệu quả của các loại hình giáo đục này đối với TEĐP
3) Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn để xuất giải pháp bảo đảm quyên được học tập của TEĐP
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Lựa chọn, tổng hợp các tài liệu có liên quan nhằm mục đích khái quát hoá các vấn đề cơ bản về lý luận làm cơ sở nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp quan sát: Sử dụng mẫu quan sát để tiến hành quan sát, ghi chép hoạt động trong giờ sinh hoạt và kiếm sống, giờ học tập của TEĐP trên lớp nhằm
có được bức tranh cụ thể về thực trạng đời sống làm việc, sinh hoạt va học tập của TEĐP
- Phương pháp điều tra: Sử dụng các mẫu phiếu hỏi các đối tượng trực tiếp có liên quan đến việc bảo đảm quyền cho TEĐP như cán bộ quản lý xã hội, giáo viên, trẻ, thành viên cộng đồng,
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: ở mức độ thăm dò nhằm xác định tính khả thị của các giải pháp
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về việc xác định và lựa chọn những giải pháp khả thi cho việc bảo đảm quyên được hưởng giáo dục cho TEDP
- Phuong pháp thống kê toán học
4 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài
Đê tài chỉ dừng lại ở việc đề xuất các giải pháp giáo dục bảo đảm quyên được học tập của TEĐP trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng giáo dục cho
TEDP tại thành phố Hà Nội
5 Tiến độ thực hiện nghiên cứu
Trang 136 Kinh phí thực hiện đề tài: 45 triệu
7 Sản phẩm khoa học của đề tài
1) Báo cáo khoa học của để tài: f1 Báo cáo tổng quan và f1 Báo cáo tóm tất
2) Bài báo khoa học: 01 bài báo khoa học đăng trên Tạp chí khoa học giáo dục: Vài nét thực trạng về Giáo dục trẻ em đường phố ở Hà Nội, Số 12 tháng 9/2005
3) Kỷ yếu Hội thảo Xây dựng chương trình giáo dục trẻ em đường phố, tháng 10.2006
4) Lược dịch 02 tài liệu tiếng anh làm cơ sở nghiên cứu của đề tài: 1)Working
with street children- Selected from Africa, Asia & Latin America Unesco
publishing; 2) S Hutz, H.Koler Reseaching street children Methodological and Ethical Issues
12
Trang 14
Phân 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CUU
1 KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
phát triển, được bảo vệ và bày tỏ ý kiến
Theo điều 1 Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em do Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 20/11/1989: “Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn, Định nghĩa về tré em theo công
ước quốc tế thể hiện ba nội dung do độ tuổi 18 qui định
© _ Trẻ em là người chưa trưởng thành về tỉnh thần và thể lực;
®© Cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt;
se Từ0 đến 18 tuổi
Xét theo chức năng và trách nhiệm cá nhân về quyền công dân thì trẻ em chưa đưa ra những quyết định chính xác để bầu chọn ra cơ quan lập pháp và các chính sách chỉ phối đời sống của mình Các em không là người lao động, không có fình dục, không làm vợ làm chồng, không làm cha làm mẹ, không hút thuốc, và các em được
có một gia đình, môi trường học tập và vui chơi để phát triển tốt nhất
Theo điều 1 của luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em được Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua tháng 8 năm 1991, sửa đổi tháng 6 năm 2004, qui định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Việc quy định độ tuổi này là dựa trên các yếu tố và đặc điểm của truyền thống dân tộc, những nét riêng biệt của nền
kinh tế và tổ chức xã hội ở nước ta, để từ đó quy định các quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam
1.1.1.2 Khát niệm về TEĐP
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm (1) tré em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; (2) trẻ em khuyết tật, tàn tật; (3) trẻ em là nạn nhân chất độc hoá học; (4) trẻ em nhiễm HIV/AIDS, (5) trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; (6) trẻ em phải làm việc xa gia đình; (7) TEĐP; (8) trẻ em bị xâm hại tình dục; (9) trẻ em nghiện ma tuý; (10) trẻ em vi phạm pháp luật; (i 1) trẻ em du cu’
Ý Luật bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em, 2004
Trang 15Một đặc điểm rõ nhất để xác định về TEĐP đó là các trẻ này không giống với hình ảnh về tuổi thơ theo quan niệm về trẻ em đã xác định Các em sống trên đường
phố, tự xoay sở cuộc sống của bản thân mặc dù không có người lớn Vào những năm đầu thập niên 1980, chương trình của các tổ chức phi chính phủ dành cho TEĐP và thanh niên đường phố đã miêu tả về TEĐP là những con người “trong cảnh ngộ không
có sự bảo vệ, trong nom hoặc hướng dẫn của người lớn,, Quan niệm này đã được phát
triển và mô tả: TEĐP là những trẻ em mà đường phố (hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ
này, tức là những nhà hoang, đất hoang, ) chứ không phải gia đình, đã trở thành nhà thật sự của chúng - một cảnh ngộ trong đó không có sự bắp vệ, trông nom hoặc hướng
dẫn của người lớn
Cũng trong thập niên 1980, Unicef phân biệt khái niệm TEĐP thành 2 nhóm đối tượng: Trẻ em trên đường phố và trẻ em của đường phố
Trẻ em trên đường phố được hiểu là những trẻ em mà nền móng nuôi đưỡng
chúng trong gia đình ngày càng suy yếu đi, khiến chúng phải chia sẻ trách nhiệm để gia đình được sống còn bằng cách làm lụng trên các đường phố và những nơi họp chợ
ở đô thị Đối với những em này, nhà không còn là trung tâm để vui chơi và sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên dẫu hoạt động trên đường phố ban ngày, nhưng hầu hết các em
đêu cố gắng tối đến về nhà và gắn kết mối quan hệ gia đình với bản thân và trách
nhiệm bản thân
Trở em của đường phố là những trẻ em hàng ngày vật lộn đơn độc để sống còn chứ không được gia đình nuôi dưỡng, nâng đỡ Thường được gọi là “bị bỏ rơi,, nhưng cũng có thể chính chúng bỏ gia đình ra đi do chán cảnh bất an, ngán ngẩm sự ngược đãi và bạo hành
Từ kinh nghiệm làm việc với TEĐP ở Hiệp hội Undugu, Fabio Dallape đã phân biệt có ba nhóm TEĐP khác nhau đó là: 1) Trẻ em từ nông thôn đến và không muốn trở về nông thôn nữa; 2) Trẻ sống trong các băng nhóm ở thành thị nhưng vẫn liên lạc với gia đình; 3) Trẻ hoàn toàn đơn độc
Việc phân tách khái niệm TEĐP cũng chỉ được xác định tương đối, bởi lẽ có nhiều trường hợp không thể chỉ định rõ trẻ đó thuộc nhóm trẻ trên đường phố hay của đường phố Ở Việt Nam, nhiều cuộc điều tra khảo sát và bằng những số liệu thu thập được thì TEĐP có thể được phân làm 4 loại: Thứ nhất: Trẻ không có gia đình, không người trông nom, không có nơi nương tựa, các em buộc phải bỏ nhà đi kiếm sống trên đường phố; Thứ hai: Một số em bỏ nhà đi do nhiều nguyên nhân, tụ tập lại thành các nhóm bụi đời sống lay lát trên đường phố, càng ngày càng mất đi sự liên hệ tình cảm thân thiết của gia đình; 7hứ ba: Các em cùng cha mẹ tàn tật, anh chị em, hoặc người cùng quê sống vật vờ, lang thang đường phố làm mọi việc để kiếm ăn như đánh giây, bán kem, nhặt rác, thậm chí ăn xin, dắt gái Những em này ít nhiều có quan hệ với gia đình; Thứ :: Là những em còn gia đình hàng ngày bỏ nhà đi tụ tập với nhóm bạn lang thang, hoặc đi lên thành phố lang thang kiếm việc, tối lại về nhà ngủ, đôi khi có hành vi quậy phá, ít nhiều vi phạm pháp luật
14
Trang 16Trong nghiên cứu xác định: TEĐF là những trổ có mối quan hệ với gia đình lỗng lắo; thời gian chủ yếu dành cho các hoạt động, sinh hoạt của trẻ là ở trên đường phố
và thiếu sự hướng dẪn, giám sát của người lớn Trẻ phải ảương đầu, tự giÃi quyết
những khó khăn, cám dỗ của cuộc sống để đẫm bảo sự sống còn của bẫn thân bằng nhiều cách khác nhau nên bị hạn chế cơ bẫn việc đâm bdo quyển Äược hưởng giáo duc
và các quyển trả em khÁc
1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý của TEĐP
Thể chát: Hầu hết TEĐP trong độ tuổi từ 11 đến 16 (chiếm 53.1%), đây là giai đoạn có những biến đổi vẻ thể chất, những dấu hiệu của tuổi dậy thì cũng diễn ra
mạnh mẽ, các em xác định rõ ràng được sự trưởng thành từng ngày của cơ thể Những thay đổi cơ bản trên làm cho trẻ có cảm giác mình là người lớn một cách có căn cứ và
có nhu cầu muốn được làm người lớn, nhận được sự đối xử như người lớn Đến giai đoạn tuổi thiếu niên, trẻ đạt đến thời kỳ trên con đường đi đến vị trí của mình trong xã
hội, thâm nhập vào đời sống xã hội của người lớn Sự phát triển cơ thể của tuổi dậy thì,
cũng tăng cường thể lực, và có nhu cầu cao về dinh dưỡng Các em có thể làm việc rất hãng say nhưng sức làm việc chưa bền, chưa dẻo dai, dễ bị kiệt sức Trẻ có thể lao động để kiếm tiên và cũng được những người có nhu cầu cần lao động chấp nhận
Cuộc sống đường phố thiếu nhà ở, thức ăn và sự chăm sóc cần thiết nên hầu hết các TEĐP đều rơi vào tình trạng bữa đói, bữa no Đêm ngủ gầm cầu, ghế đá không nơi che chở an toàn; không đáp ứng nhu cầu về thức ăn và dinh dưỡng; ốm đau không được chữa trị kịp thời
Mâu thuẫn giữa nhu cầu cần đủ các điều kiện về chăm sóc đinh dưỡng để đảm bảo cho sự phát triển nhảy vọt của cơ thể ở tuổi dậy thì với những hạn chế cơ hội được đáp ứng nhu cầu đó, vì vậy, một đặc điểm chung nhất ở nhiều TEĐP đó là: 1) Trẻ có sức khoẻ yếu đuối, nhiêu bệnh tật; 2) Tâm vóc gầy gò, nhỏ bé hơn nhiều so với khả năng phát triển về thể lực của bản thân nếu được nuôi dưỡng và chăm sóc y tế đầy đủ
Nhận thức: Đặc biệt ở lứa tuổi mới lớn, TEĐP dang dan tiếp thu những thông tin về cuộc sống, con người thông qua học hỏi và trải nghiệm để có những nhận thức đúng đắn về giá trị và lựa chọn cho mình một cuộc sống độc lập trong tương lai Trẻ thường tò mò để tìm kiếm các câu giải đáp cho bản ngã và thế giới xung quanh mới lạ, đầy biến động và có nhiều kích thích
Phải đối mặt với việc kiếm sống hàng ngày, TEDP thiếu sự quan tâm, giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội, thậm chí có em chưa bao giờ đến trường, vì vậy, các em thiếu kiến thức, kỹ năng học tập cơ bản được cung cấp từ các chương trình giáo đục phổ thông Những gì trẻ học được là từ sự kiện diễn ra hàng ngày và các em
tự rút ra kinh nghiệm cho bản thân mình Việc thiếu hụt cơ hội được tham gia vào các chương trình học tập mang tính chất bài bản, chính khoá ảnh hưởng tới nhận thức của trẻ Các em học cách tư duy theo hướng “trải nghiệm" Kiến thức hợc được thiếu hệ thống, trẻ thường chỉ quan sát những hiện tượng bên ngoài để kết luận vấn đề mà không lý giải theo bản chất của sự kiện Kiến thức trẻ học được có liên quan đến những gì diễn ra trong cuộc sống nơi đường phố Sự hạn chế về phạm vi kiến thức
Trang 17được học hỏi, cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giải quyết các vấn đề và các tình huống khác nhau, điêu đó ảnh hưởng tới việc đánh giá của một số người về TEĐP như những đứa trẻ vô học, bản thân trẻ có cảm giác mình dốt nát, thiếu hiểu biết
Để tồn tại trên đường phố, trẻ phải sớm học cách thích ứng với cuộc sống mưu sinh và tự giải quyết, phán đoán các vấn đề có liên quan đến bản thân Năng lực này đạt được là nhờ trẻ tích luỹ và rút kinh nghiệm từ những sự kiện diễn ra hàng ngày Nhờ đó, TEĐP có thể cạnh tranh, tránh được những đe doa, nguy cơ tới sự sống còn,
an toàn của bản thân Tuy nhiên, trong một môi trường sống phức tạp thì TEĐP cũng gặp nhiều rửi ro đáng kể Do nhận thức ở lứa tuổi của các em chưa chín muồi, còn non nớt, thiếu cơ hội học hành nên các em khó diễn dịch thành công để giải quyết các vấn
dé, tìm cách xử lý hiệu quả nhất Vì vậy, trẻ dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội Đa số các em bị nhiều vướng mắc tâm lý, xúc cảm, tinh cảm, nhận thức sai lệch cân được chỉnh sửa Nhiều trẻ mắc chứng nhiễu tâm hoặc rối loạn hành vi xã hội (hung bạo, bỏ nhà đi, chán đời, thạm chí dễ có nguy cơ làm liều )
TEĐP tự giải quyết các vấn đề để tồn tại nên các kỹ năng sống, kỹ năng tự
phục vụ bản thân được trẻ tích luỹ và thực hiện thành thục Nhưng những kỹ năng giao tiếp, cách sử dụng ngôn ngữ và những hành vi biểu đạt trong quá trình giao tiếp phù
hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội lại hạn chế đáng kể Một số tình huống trẻ thể hiện hàng ngày lại tỏ ra già đặn, không phù hợp với lứa tuổi của mình Cách trẻ bắt chước
kỹ năng giao tiếp thiếu bài bản từ người xung quanh nên thể hiện sự chắp vá, thiếu bài bản và kịch cỡm đôi khi giả tạo
Hành ví: TEĐP có nhiều hành vị bột phát, tính khí thất thường, dễ bị kích
động, đây là biểu hiện của một giai đoạn nhạy cảm trong quá trình phát triển tâm sinh
lý Đặc biệt những hành vi trẻ thể hiện ít phù hợp với chuẩn mực hành vi nói chung,
trẻ thực hiện nhiều hành vi sai lệch và luôn cảnh giác tự vệ Vì vậy, trẻ xuất hiện xu hướng nói dối, giấu diếm khuyết điểm, tự biện hộ cho mình, bao biện thoái thác hành
vi tội lỗi trước mọi người Trẻ có thể xuyên tạc hoặc bóp méo sự thật
Nhiều người cho rằng TEĐP rất bạo lực đến mức không thể kiểm soát được, các em mất hết cảm xúc, không còn biết yêu thương, các em không có đạo đức và không biết vui chơi Mặc dù hàng ngày trẻ sinh sống trên đường phố, những cảnh bạo hành và những mặt trái của xã hội có tác động nhất định tới nhân cách của các em Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu cho thấy mức độ rối loạn nhân cách ở các em thấp hơn so với mức độ mà người ta vẫn nghĩ về TEĐP Cùng trong một trẻ nhưng các
em có thể thể hiện những hành vi trái ngược nhau, đồng thời với hành vi cuồng bạo,
dối trá, sai lệch trẻ sẵn sàng chia sẻ miếng bánh vừa kiếm được cho những em nhỏ tội nghiệp, hoặc thông cảm, giúp đỡ những người bị xã hội coi khinh xua đuổi Các em cũng tôn trọng chữ tín, có trách nhiệm với lời hứa của mình trước những người các em yêu mến, kính trọng Trong đời sống tình cảm của các em cũng có thần tượng và khi
có cơ hội, các em cố gắng thể hiện hành vi của mình giống như thân tượng yêu thích
Tuy nhiên, hành vi trẻ thể hiện vẫn gắn với trải nghiệm cuộc sống đường phố, và giới
hạn mức độ thể hiện và giải quyết ở những phạm vi, lĩnh vực của đời sống khác nhau _ Thái độ, niềm tin: Nhiêu TEDP bị mất niềm tin, dẫn tới hoài nghỉ trước thực tiễn và các mối quan hệ con người Do đó việc thiết lập lòng tin cho các em là vô cùng
16
Trang 18khó khăn, các em thường lảng tránh hoặc chối bỏ những thiện ý Hoạt động của các
em ở ngoài đời rất phức tạp, có nhiều trải nghiệm và vống sống xã hội, có nhiều kinh nghiệm lẩn tránh sự kiểm soát của xã hội Lối sống tạm bợ, qua ngày của trẻ ảnh hưởng trực tiếp tới cách nhìn nhận và định hướng tương lai Các em không tin tưởng và cũng không biết sẽ tiếp tục kéo dài cuộc sống trên đường phố của mình đến khi nào,
và sau này sẽ học gì, làm nghề gì Những giấc mơ về tương lai của các em rất am đạm
Cách TEĐP tự khẳng định mình thường là muốn thoát ly khỏi sự ràng buộc của gia đình, nhà trường Trẻ tự quyết định với cảm giác mình là người có “Đủ lông đủ cánh”, vì thế, trẻ thường che dấu không chia sẻ thông tin với người lớn, đặc biệt là người trong gia đình, cơ hội tương tác gắn bó của trẻ với người thân trong gia đình hạn chế Tuy nhiên TEĐP lại có những tình cảm và gắn bó với nhóm trẻ cùng cảnh ngộ Dường như các trẻ này có những qui định riêng cho cách sống và cách chia sẻ thông tin được các em tuân thủ rất chặt chẽ Trẻ không muốn người khác can thiệp vào hoạt động của mình bằng nhiều cách khác nhau Cụ thể như: Trẻ có tâm trạng lo âu, chán
chường vô vọng, dẫn tới hành vi bất cần; Không nghe lời, bướng bỉnh cãi lại, vô kỷ
luật, ngổ ngáo, xấc xược Những trẻ này thường có tam lý muốn chơi trội, gây ấn tượng, muốn mọi người chú ý, biết đến mình Trẻ thường có cách ăn mặc, đầu tóc lố lăng khác người; thích cười nói thô tục, xuồng xã trước đám đông, thích tự tạo ra trạng thái thần kinh kích động mạnh Một số trẻ khác lại có cách thể hiện cho thấy trẻ có mặc cảm, tự ti, tính cách nhẫn nhục cam chịu Trẻ thu mình, tự rút lui và làm theo cách riêng không chia sẻ Dường như những trẻ này có bí mật riêng của mình và chỉ chia sẻ với nhóm bạn thân cùng cảnh
Tóm lại: Đặt trong bối cảnh của TEĐP, với những đặc điểm lứa tuổi và những ảnh hưởng của mới trường tác động, chúng ta thấy cuộc sống của trẻ có nhiều bất trắc
và biến động Những thiệt thòi hàng ngày trẻ phải đương đầu vượt qua ảnh hưởng
nhiều tới sự phát triển thể chất, tâm lý, tình cảm của trẻ TEĐP muốn yêu thương và
được yêu thương, muốn đảm trách một vai trò nào đó và muốn được đóng góp Nhận thức của TEĐP về bản thân, về thế giới xung quanh và về cách sống đã cho thấy chân dưng đích thực của chúng và sức mạnh nâng đỡ trong con người chúng Chúng có ý
thức về mối đe doa và hiểm nguy nhưng không bị lôi kéo bởi những đc doạ và hiểm nguy ấy” Những trở ngại từ cuộc sống đường phố đã hạn chế cơ hội để TEĐP được
tham gia và hưởng những quyền lợi như những trẻ em khác Đặc biệt môi trường sống
và những tác động của nó có những ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội được hưởng một nền giáo dục có chất lượng đối với các em
1.2 Cơ sở pháp lý đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của TEĐP
1.2.1 Quyên được hưởng giáo dục của TEĐP
Công ước Quốc tế về quyển trẻ em đã đưa ra cách nhìn toàn diện về đảm bảo sự
phát triển của trẻ em, không chỉ về thể chất mà còn vẻ trí tuệ, tình cảm đạo đức và xã
hội Tất cả những quyền của trẻ em tác động đến quá trình này được cơi là thuộc nhóm
quyền được phát triển và thể hiện ở ba khía cạnh chính: Cung cấp dinh dưỡng (phát triển
® Tyler và các tác giả khác, 1992 t 2006 trich Judith Ennw-TEDP va tré em lao động, cẩm nang hoạch định chương trình, NXB chính trị quốc gia, H.1996
Trang 19thể chất), giáo dục (phát triển trí tuệ) và cung cấp các điều kiện vui chơi giải trí, sinh hoạt, văn hoá, nghệ thuật (phát triển về tất cả các lĩnh vực thể chất, trí tuệ, đạo đức, tình cảm
và xã hội) Các quyền được hưởng giáo dục trong điều điều 28 và 29 của công ước đề cập đến: Giáo dục tiểu học phải là bất buộc và miễn phí Trẻ em phải được tạo điều kiện thuận
lợi, dễ dàng để có thể tiếp cận các hình thức giáo dục cao hơn Kỷ luật nhà trường phải
phù hợp với các nguyên tắc của công ước, không được xúc phạm nhân cách của trẻ (điều 28) và Giáo dục phải hướng vào mục đích phát triển nhân cách, trí tué va tài năng của trẻ, nhằm chuẩn bị cho trẻ sống hoà đồng trong xã hội; hiểu, tôn trọng các giá trị đạo đức, quyền con người; có tình thần khoan dung, hoà bình và lòng nhân ái (Điều 297
Những hoạt động đã tổ chức đảm bảo quyền được học tập cho TEĐP như: Hoạt
động tư vấn tại gia đình, cộng đồng, đường phố, nơi công cộng, trường học, mái ấm tình thương, , Hoạt động Cáu lạc bộ TEĐP tại các quận, huyện, phường/xã và hoạt động của các lớp học linh hoạt tại nhà trọ, tại văn phòng, trụ sở phường, phòng học được thuê, mượn trong khu dân cư Thời gian học rất linh hoạt có những lớp học buổi tối, buổi chiều, buổi trưa Những lớp học này đã thu hút trẻ vào học ở bất cứ thời
điểm và lứa tuổi nào
Tuy nhiên, TEĐP hiện vẫn hạn chế cơ hội được hưởng giáo dục Có nhiều lý
do, trong đó có những hạn chế từ các nhà trường đối với sự tham gia của TEĐP đó là: 1) Hình thức tổ chức trong các trường học chưa đảm bảo sự linh hoạt với sự tham gia của TEĐP;
2) Chương trình chưa đảm bảo sự thích ứng và phù hợp với năng lực và nhu cầu học tập của trẻ;
3) Chưa đảm bảo môi trường học tập thân thiện với TEĐP để các em có thể tham gia tích cực, thoải mái và hứng thú;
4) TEĐP hạn chế cơ hội tiếp cận với trường học bởi các yêu cầu về: hộ khẩu, giấy
khai sinh, thủ tục ghi ranh, kinh phí và tiêu chuẩn đầu vào
Những hạn chế trong mô hình trường học hiện nay là rào cản đảm bảo quyền được hưởng giáo dục ở TEĐP Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi xác định:
Đảm bảo Quyển được hưởng giáo duc cla TEP là đáp ứng những yêu cầu cơ bẫn cho
sự tham gia của trẻ trong mỗi trường học tập phù hợp với đặc điểm sinh hoạt, năng
lực và nhu cầu học tập của trẻ một cách năng động, tích cực và thân thiện nhất
1.2.2 Thực hiện Công ước quốc tế về Quyền trể em
Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyển trể em Các cam kết của Việt Nam thực hiện Công ước thể hiện trên 4 vấn đề chính: (1) "Nội luật hoá” Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia; (2) Xây dựng và lồng ghép vấn đẻ bảo đảm quyền trẻ em vào các chương trình, chính sách xã hội; (3) Tiến hành các hoạt động giáo dục, truyền thông
về Quyển trẻ em; (4) Xay dựng bộ máy và cơ chế quản lý, giám sát việc thực hiện các Quyền trẻ em
7 Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, NXB chính trị Quốc Gia, H.1994
18
Trang 20Ngay sau khi phê chuẩn Công ước, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hai đạo luật riêng nhằm mục đích trên, đó là Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em và Luật Phổ cập Giáo dục tiểu học (cùng được ban hành năm 1991) Tiếp theo đó, vấn đề quyên trẻ em đã được xem xét trong quá trình xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung một loạt văn bản pháp luật quan trọng nhất của đất nước, bao gồm Hiến pháp 1992, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Dan sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân & Gia đình Chỉ tính từ 1991 đến nay, đã có hàng trăm văn bản pháp quy được Nhà nước
ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp nội dung của Công ước về quyền trẻ
em Có thể khẳng định, hệ thống pháp luật Việt Nam đã phản ánh đây đủ và chính xác các nguyên tắc và quy định cơ bản của Công ước về quyền trẻ em
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2000 đã xác định nhiều chính sách liên quan đến trẻ em Bên cạnh việc lồng ghép vào các chương trình,
chính sách xã hội chung, Nhà nước còn xác định một số chương trình, chính sách xã
hội đề cập đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong đó có chương trình trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Ngày 11-12-1991, Hội nghị quốc gia đầu tiên về trẻ em được tổ chức tại Hà Nội đã thông qua Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 1991-2000, trong đó xác định 4 lĩnh vực ưu tiên và 7 mục tiêu cơ bản (bao gồm 21 mục tiêu cụ thể) liên quan đến những vấn để chủ yếu của Công ước về quyền trẻ em
Việc xác định và thực hiện thành công những những cam kết, đặc biệt là các mục tiêu của Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em 1991-2000 đã góp phần cải thiện điều kiện sống về mọi mặt của trẻ em Việt Nam, trong đó có trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Nhằm tiếp tục thực hiện cam kết, ngày 27-12-1999, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 34/1999/CT-Ttg ban hành Chương trình hành động quốc gia vì trẻ
em Việt Nam 2001-2010 Về nội dung, nếu như Chương trình hành động giai đoạn 1991-2000 chủ yếu tập trung vào mối quan tâm cấp bách của việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì Chương trình hành động giai đoạn này hướng vào việc bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em từ thời thơ ấu đến lúc trưởng thành, với phạm vi, quy
mô phát triển rộng lớn và những chiến lược mạnh mẽ hơn, trong đó đặc biệt quan tâm đến đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
1.2.3 Thực hiện công bằng trong giáo dục
Tuyên bố Jomtiem năm 1990 về giáo dục cho mọi người chỉ rõ: 1) Mỗi cá nhân đều phải được giáo dục cơ bản Mọi người đêu phải được trang bị kiến thức, kỹ năng, giá trị và những thái độ có khả năng thúc đẩy sự phát triển cá nhân; 2) Giáo dục phải linh hoạt thích hợp và bao quát Giáo dục thay thế đành cho những em không thể đi học chính quy phải tương đồng về mặt chất lượng so với giáo dục chính qui trong các quốc gia; 3) Mọi người phải được học hành, dù là nam hay nữ, dù sống ở đâu và dù ở nhóm xã hội hoặc kinh tế nào chăng nữa; 3) Giáo dục mở rộng tới đối tượng phụ
huynh học sinh và cộng đồng để trẻ em có thể học tập trong một môi trường tích cực; 4) Mọi thành phần xã hội đều phải tham gia vào việc thay đổi hệ thống giáo dục để thực hiện mục tiêu giáo dục cơ bản cho mọi người
Trang 21Hiến pháp Việt Nam năm 1992: "học tập là quyền và nghĩa vụ của công dan" Xây dựng xã hội công bằng, văn minh trong đó trước hết là "Thực hiện công bảng xã bội trong giáo dục, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học hành" là một trong những tư tưởng chỉ đạo của Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo nước ta trong thời
kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Công bằng xã hội nói chung và công bằng giáo dục nói riêng là nguyện vọng của mọi thành viên trong xã hội Đảm bảo sự công bằng trước hết thuộc về trách nhiệm của nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội ở các quốc gia Trong tác phẩm của Jacques Delors” nêu đặc trưng và tính chất cơ bản của công bằng giáo dục trong tương lai, trong đó nhấn mạnh giáo dục là Quyền cơ bản của con người
Đặc trưng cơ bản về sự công bằng xã hội trong giáo dục được thể hiện: 1) Bình đẳng trong các cơ hội học tập; 2) Mọi thành viên trong xã hội đều có quyển lựa chọn hình thức, con đường học tập thích ứng với nguyện vọng, khả năng của bản thân trong suốt cuộc đời; 3) Xoá bỏ mọi sự phân biệt trong giáo dục; Bảo đảm quyền tự do, dân chủ của mọi người dân về giáo dục trong khuôn khổ pháp luật
Định hướng chủ yếu của Nhà nước về thực hiện công bằng trong giáo dục: Củng
cố kết quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Thực hiện phổ cập THCS đến
2010 và phổ cập Trung học đến 2020 Thực hiện chương trình quốc gia giáo dục cơ bản cho mọợi người từ nay đến 2015; Phát triển các loại hình giáo dục bán công, dân lập bằng tỷ lệ đóng góp tài chính cho GD từ những gia đình có thu nhập cao ở thành phố, đô thị đồng thời tăng nguồn đầu tư của nhà nước cho các vùng khó khăn, các đối tượng cần có trợ giúp của nhà nước; Phái triển hệ thống loại hình trường, lớp đảm bảo
cơ hội đến trường cho các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Nghiên cứu và phát triển các loại hình giáo dục hoà nhập trong nhà trường và cộng đồng
1.2.4 Một số nội dung cụ thể trong các văn bản pháp qui liên quan đến đề tài
Những quy định trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam "học tập là quyên
và nghĩa vụ của công dân”, trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trể em, Luật phổ cập giáo dục tiểu học, Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn
2001 -2010 là cơ sở quan trọng để bảo đảm quyền học tập của TEĐP và xây dựng chính sách giáo dục cho đối tượng giáo dục đặc biệt này Cụ thể:
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trở em khẳng định sự bình đẳng về quyền
được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của mọi đối tượng trẻ em (điều 2),
Luật phổ cập giáo dục tiểu học: Quy định chính sách phố cập tiểu học đối với
tất cả trẻ em Việt Nam: "Nhà nước thực hiện chính sách phổ cập giáo dục tiểu học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 5 đối với tất cả trẻ em Việt Nam, trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi" (điêu 1); Chính sách phổ cập giáo dục tiểu học đối với trẻ em khó khăn: " trẻ em có
khó khăn đặc biệt được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cần thiết
để đạt trình độ giáo dục tiểu học" (điều 11)
* Nhà hoạt động chính trị - xã hội nổi tiếng, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Cộng đồng châu Âu về Giáo Dục Cho Ngày Mai
20
Trang 22Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001-2010: đặt
ra mục tiêu: "Đảm bảo 80% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được học hết tiểu học, số còn lại học xong lớp 3 Không còn trẻ bước vào tuổi 15 mù chữ" và quy định chính sách của Nhà nước: "Chính sách giáo dục miễn phí cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn” và "có biện pháp thu hút trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi, TEĐP đã bỏ học trở lại hệ thống giáo dục thông qua chương trình day nghẻ hoặc lớp học không chính quy", "mở các lớp xoá mù chữ và lớp tình thương, lớp linh hoạt cho trẻ em thất học”
Cùng với các văn bản pháp quy nêu trên, năm 1990 Việt Nam ký Tuyên bố Jomiiemt về giáo dục cho mọi người và tháng 4/2000 là một trong 164 nước thành viên phê chuẩn 6 mục tiêu tại Diễn đàn Giáo dục thế giới ở Dakar đã khẳng định hơn nữa chính sách giáo dục cho trẻ em khó khăn Mục tiêu 2 của Diễn đàn xác định: "Bảo đảm đến năm 2010, tất cả mọi trẻ em, nhất là trẻ em gái, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được hoàn thành giáo dục tiểu học bát buộc và miễn phí với chất lượng tốt" 1.3 Cơ sở giáo dục và dạy học đảm bảo sự tham gia giáo dục củaTEĐP
1.3.1 Các lĩnh vực tâm lý, vận động, nhận thức va tinh cdm xã hội
- Lĩnh vực nhạn thức: bao gồm các cách thức chiếm lĩnh liên kết và sử dụng tri thức, các quá trình nắm bắt, phi nhớ, xử lý thông tin, giải quyết vấn đề, học các qui tắc, khái niệm
- Lãnh vực tâm lý vận động: Bao gồm việc làm chủ cơ thể và cử động của chủ thể,
việc học cách phát triển các cử động, các kỹ năng vận động lớn liên kết các cử
động của toàn bộ cơ thể hoặc cơ bắp như chạy, nhảy, bơi và các kỹ năng vận
động nhỏ, tỉnh vi, liên kết cử động chính xác của cơ thể như viết, vẽ, nặn
- Linh vực tình cảm: Gồm các cách thức phản ánh của chủ thể với môi trường, với xã hội,
sự phát triển của thái độ, niềm tin, sở thích, hứng thú và các mối quan hệ xã hội
Lĩnh vực tâm lý- vận động Lĩnh vực nhận thức Lĩnh vực tình cảm
Tháp phân loại các lĩnh vực học của Bloom
(Theo:Se Former pour enseigner P.Pelpel, Dunod, Pari, 1993)
21
Trang 23Các cơ sở lĩnh vực học tập trên đã chỉ ra cơ sở tiếp cận trong thiết kế nội dung day hoc cho TEDP phải đảm bảo sự phát triển đông đều trên cả 3 lĩnh vực đó: chiếm lĩnh và sử dụng tri thức; thể hiện nhân cách của mình bằng thị hiếu, sở thích và thái độ; làm chủ bản thân và môi trường
1.3.2 Giáo dục dựa trên năng lực của TE
Những năm 1960,- 1970,, các quan điểm giáo dục tập trung vào việc điều chỉnh kết cấu lôpích khoa học giữa phương pháp và nội dung môn học của chương trình mà không tính đến sự phù hợp của nó đối với đặc điểm và năng lực HS Kết quả là các chương trình không thúc đẩy hứng thú học tập và khả năng giải quyết nhiệm vụ học tap cha HS” Bài học kinh nghiệm về sự không phù hợp này cũng là cơ sở để các nhà khoa học nghiên cứu các tiếp cận xây dựng chương trình học tập gắn với nhu cầu và năng lực của HS
Trong cuốn Cơ cấu trí khôn, Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn của Howord Gardner’? chi ra được ở mỗi con người có rất nhiều khả năng khác nhau Ông cho rằng
ai cũng có năng lực nhất định và các năng lực đó ở các mức độ khác nhau Ông để xuất 8 dạng năng lực:
Thể thao
Theo quan điểm của Gardner, có thể ứng dụng các khía khía cạnh của trí thông minh
ở mỗi đối tượng HS để phát huy được năng lực, giúp HS học tập hiệu quả nhất đồng
thời phát triển năng lực đó thành những xu hướng học tập, định hướng nghề nghiệp của HS sau này
° Leaning and teaching- Research-Based Methods Donald P Kauchk và Paul D Eggen Third Edition Copyright @1998, 1993, 1989 by Allyn and Bacon
Howard Gardner Cơ cấu trí khôn, Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn Nhà xuất bản Giáo dục, 1995
2
Trang 24Khía cạnh Ví dụ ứng dụng
Trí thông minh ngôn ngữ và tính
hiệu quả: sự nhạy cảm với với các
dạng ngôn ngữ khác nhau
Nhà thơ, phóng viên Phải làm thế nào để giúp học sinh
nói hoặc viết về một ý tưởng/khái niệm?
Trí thông minh logic-toán học: khả
năng lập luận và cấu trúc lại các
khuôn mẫu sắn có
khoa nhà
Nhà học, toán học
Lam thé nao ding số học, logic và
sự phân loại để khuyến khích học sinh định lượng và làm rõ các ý tưởng?
Trí thông minh âm nhạc: sự nhạy
cảm với cao độ, trường độ, và giai
điệu
Nhà nhạc soạn Làm thế nào để giúp học sinh sử
dụng môi trường âm thanh hoặc biến ý tưởng thành các nốt nhạc, giai điệu?
Trí thông minh không gian: Khả
năng nhận thức thế giới thị giác
một cách chính xác và điều chỉnh
thế giới đó một cách sáng tạo theo
nhận thức
điêu nhà
Nhà khắc, hàng hải
Lam thế nào để giúp học sinh hình dung, minh họa, hoặc hình thành khái niệm về các ý tưởng không gian?
Tri thông minh về mặt thao tác,
vận động của cơ thể: khả năng
khéo léo trong sử dụng thao tác cơ
thể một cách hiệu quả và sáng tạo
Vũ
vận viên
công,
động Lam thé nao để học sinh có thể
phát huy các thao tác của toàn cơ
thể, hoặc thực hiện tốt các kỹ năng
thực hành?
Trí thông minh liên cá nhân: sự
nhạy cảm với suy nghĩ và cảm xúc
của người khác
Nhà trị liệu, nhân viên bán hàng
Làm thế nào để giúp học sinh sử
dụng các phương pháp học tập
đồng đẳng, học với bạn khác lứa tuổi, hoặc học hợp tác để phát triển những kỹ năng tương tác?
Trí thông minh nội tại cá nhân: sự
hiểu biết về chính mình Cá nhân tự
nhận thức Làm thế nào để giúp học sinh hiểu
Nghiên cứn của R Dunn và K Dunn (1978, 1987)'' về các phong cách học tập
khác nhau của HS đã chỉ ra những khía cạnh của các phương thức học tập đó là:
- Có những HS sẽ học tốt hơn qua việc nghe hoặc sẽ học tập tốt hơn qua đọc;
- Có những HS cần có sự hỗ trợ để học tập hoặc có khả năng học tập độc lập;
'! Leaning and teaching- Research-Based Methods Donald P Kauchk và Pau] D Eggen Third Edition
Copyright @1998, 1993, 1989 by Allyn and Bacon
Trang 25- Có HS dễ dàng học hơn khi học cá nhân hoặc học trong nhóm;
- HS có thể tự tạo hứng thú, động cơ học tập hoặc cần động viên, khen thưởng từ bên ngoài;
~ HS có thiên hướng học qua quan sát hình ảnh hoặc nghe âm thanh hoặc sử đụng
xúc giác để nhận biết đối tượng;
- HS có phản ứng với các yếu tố môi trường như ánh sáng, nhiệt độ, tiếng ồn, thời gian học của ngày đối với việc học tập
Nghiên cứu của R Dunn và K Dumn đã tóm tắt được các kiểu học tập làm cơ sở
để tạo ra những môi trường học tập khu biệt phù hợp với cá nhân mỗi học sinh; xác định nhóm HS dựa trên phong cách học giống nhau và cách thiết kế môi trường học tập tối ưu cho một lớp học nhất định
Việc nhìn nhận trí thông minh với tính chất đa chiêu (Gardner) và xác nhận phương thức học tập khác nhau (R Dunn và K Dumn) cho thấy các giáo viên cần phải tạo ra môi trường học tập để học sinh có thể phát huy hết khả năng của mình Tạo sự phù hợp giữa môi trường lớp học với các phong cách học tập của học sinh sẽ thúc đẩy quá trình học tập của HS
Theo hướng nghiên cứu này, tác giả Tôn Thân trong nghiên cứu về dạy học theo
định hướng phân hoá '” Nghiên cứu xác định dạy học phân hoá là một quan điểm đòi
hỏi phải tổ chức, tiến hành các hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người học về năng lực, sở thích, nhu câu, các điều kiện học tập nhằm tạo ra những kết quả
học tập tốt nhất và sự phát triển tốt nhất cho từng người học, đảm bảo công bằng trong
giáo dục tức là đảm bảo quyền bình đẳng về cơ hội học tập cho người học
Cũng như trẻ em khác, TEĐP là trẻ em có sự phát triển bình thường về thể chất,
tâm lý, nhận thức Những trải nghiệm của trẻ với môi trường sống trên đường phố cũng tạo cho các em năng lực giải quyết vấn đề, phát triển kỹ năng giao tiếp, tự chăm sóc bản thân, lập kế hoạch hoạt động và khả năng thích ứng với các tình huống của cuộc sống Nhiều TEĐP có khả năng thích nghỉ cao có thể tự đặt ra và đạt được các mục tiêu của mình, tin tưởng vào sự thành đạt, có cảm giác làm chủ được đời sống của mình, và có những kỹ năng liên cá nhân phát triển ở mức cao Trẻ sống tự lập và tự giải quyết các sự kiện, hiện tượng xã hội, điều đó giúp các em có những hiểu biết nhất định về thế giới tự nhiên và con người Một môi trường thích ứng, khuyến khích học tập của trẻ sẽ mang lại sự gắn bó, yêu thích trường lớp và khuyến khích nỗ lực học tập, vươn lên của TEĐP
1.3.2 Tạo môi trường tham gia các chương trình giáo dục cho TEĐP
Nghiên cứu của Richard Hart” về sự tham gia của TEĐP đã đưa ra những nấc
thang tham gia của các em
!2 Tôn Thân Một số giải pháp thực hiện chương tình giáo dục phổ thông theo định hướng phân hoá Mã
số:B2004-80-03
"3 Hart, R, Childrent’s participation: from tokenism ti citizenship, Inndocenti Essays No.4 Florence, Unicef 1992
24
Trang 268 Các quyết định do trẻ tự đưa ra với sự tham gia hợp tác của người lớn
” Mức độ từ 1 đến 3 là các bậc thang chỉ sự không tham gia của trẻ
” Các mức từ 4 đến 8 là cấp độ tham gia của trẻ
Sở dĩ trẻ tham gia vì TEĐP có động cơ thúc đẩy; các em có thể cùng nhau
hoạch định và điều hành những chương trình phức tạp nếu các em cảm thấy những chương trình ấy ít nhiễu là của mình Nếu TEDP không được vạch ra các mục tiêu của chương trình thì khó có thể mong các em bộc lộ khả năng của chúng Tuy nhiên trẻ
em không thể lựa chọn và đưa ra quyết định nếu không biết rõ nội dung và những vấn
đề liên quan để lựa chọn Vai trò của người lớn là tạo điều kiện thuận lợi, môi trường
thúc đẩy TEĐP tham gia và hỗ trợ những cố gắng của trẻ
Việc tạo môi trường để trẻ được tham gia các chương trình giáo dục đòi hỏi:
- Cần có cách nhìn nhận đúng về trẻ Không nên coi TEĐP là những đối tượng để quan tâm, mặc đò các em dễ bị tổn thương nhưng các em có năng lực giải quyết nhiệm vụ, các em cần sự tôn trọng và cơ hội được khẳng định những giá trị đích thực của mình trong trường học
- Thiết kế các chương trình giáo dục phải đảm bảo sự thích nghỉ với lứa tuổi và kinh nghiệm của trẻ Không thể khuyến khích TEĐP tuổi 14 tập đọc bằng sách của trẻ
em 5 tuổi TEĐP cần có những tài liệu được biên soạn thích hợp với sở thích và
những gì trẻ muốn biết Các chủ đề phải gắn liên với nhu cầu và hoạt động sống hàng ngày của trẻ và chương trình học tập gắn kết va trở thành phương tiện quan
trọng để TEĐP cải thiện cuộc sống, thay đổi nhận thức
- Thời khoá biểu phải xem xét đến những giờ giấc trẻ phải làm lụng, vì đó là những hoạt động cần thiết đối với trẻ
- Các chương trình phải gắn kết với sự đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức Trước hết là hình thức giáo dục thoát khỏi sự cứng nhắc của chương trình bằng việc
Trang 27để trẻ tự thiết kế nội dung học tập, tự làm ra những cuốn sách yêu thích bằng hình ảnh, tự trao đổi về những vấn đẻ thắc mắc hoặc khó khăn của bản thân và tìm ra cách giải quyết Giáo viên tạ ra các cơ hội giúp các em giải quyết vấn đề, phát triển
kỹ năng theo một chương trình được đề ra bởi chính trẻ và cuộc sống trẻ
Những hoạt động tạo cơ hội và môi trường thuận lợi để TEĐP được tham gia,
được nói lên nhu cầu học tập của mình và giải quyết nó sẽ khuyến khích TEĐP tích
cực hơn, hiểu được nguyên nhân và bước xuất phát để thay đối tình trạng thất học của
mình Giáo dục làm tăng ý thức quyền con người và nâng cao lòng tự trọng của trẻ 1.4 Các mô hình và hình thức giáo dục TEĐP
Tiếp cận dựa trên bầu không khí văn hoá, Jo Boyden chỉ ra các quan điểm khác nhau về khả năng của trẻ em Nghiên cứu cho thấy ở nhiều quốc gia, trẻ em được coi
là những con người sống lệ thuộc cho đến khi chúng sang tuổi thành niên Nhưng ở nhiều quốc gia khác, người ta mong trẻ em sống hoàn toàn độc lập ngay từ khi còn nhỏ Chẳng hạn ở Anh, luật pháp không cho phép giao phó trẻ sơ sinh cho trẻ vị thành niên (dưới 14 tuổi) chăm sóc Nhưng ở Pêru, có khá đông thiếu niên từ 6 đến 14 tuổi là trụ cột kiếm cơm '“
Judith Ennew cho rằng, cách nhìn nhận về trẻ em của người lớn và xã hội ảnh hưởng trực tiếp tới thái độ và cách ứng xử đối với trẻ em đường phố Nhiêu chương trình đã cố gắng cứu thoát trẻ em thoát khỏi đường phố mà không nghĩ đến những hậu quả cho các em và gia đình các em Các gia đình có thể trong hoàn cảnh đặc biệt rất cần sự cung cấp lợi tức đo các em kiếm được Trẻ đường phố có thể hãnh diện vì công việc của các em làm và đóng góp mà các em mang lại được Hoặc các em cũng có thể
tự hào vì mình nuôi được chính mình Vấn đề về sự giúp đỡ trẻ em đường phố là cân thiết, nhưng sự giúp đỡ phải phù hợp với tâm tư và đời sống của trẻ, bằng không thì sự
giúp đỡ lại càng làm trẻ khổ thêm
Trước hàng loạt các quan điểm khác nhau về cách tiếp cận phát triển các chương
trình hành động cho trẻ em đường phố, các nhà nghiên cứu nhận thấy có 3 trở ngại lớn nhất ảnh hưởng tới sự thành công của chương trình đó là: 1) ý mốn cứu thoát trẻ em ra khỏi đường phố; 2) Sự nóng lòng muốn tìm ra một giải pháp nhanh gọn; 3) Khuynh hướng muốn phân phát tiền của cứu tế thay vì tìm ra phương án giải quyết vấn đề lâu
dài Để khác phục vấn để này, qui tắc chỉ đạo đảm bảo sự thành công đó là: Không
chú trọng đến việc làm sao để chấm dứt trẻ em đường phố, mà nên chú trọng đến việc
mở thêm cho trẻ những con đường để lựa chọn và giúp trẻ tự quyết định
- Trong cuốn The Field Directers` Handbook' rút ra một sự phổ biến ở hâu hết các quốc gia đó là TEĐP hầu như ít tham gia vào việc hoạch định các chương trình hỗ trợ có liên quan đến mình, thậm chí hiếm khi các em được hỏi ý kiến Kết luận được rút ra đó
'* Boyden J, Childhood and the policy makers: a comparative on the globalization of chilldhood, in James, A
& Prout, A (eds), constructing and deconstructing chill®hoo: contemporary issues in the sociological of study B childhood, london, New York, Philadelphia, the Falmer Press,1990
Judith Ennew, Trẻ em đường phố và trẻ em lao động Cẩm nang hoạch định chương trình, Bộ GD&ĐT, Đại học mở ~BC TP Hồ Chí Minh- Khoa Phụ nữ học, 1996
Oxfam, The Field Directers' Handbook: an Oxfam manual for development workers, edited by Brian Partt and Jo Boyden, Oxford, Oxford University Press, 1985
26
Trang 28là: Trẻ em phải ở vị trí ưu tiên hàng đầu trong mọi sáng kiến phát triển cộng đồng bởi lẽ đầu tư cho phúc lợi trẻ em chính là đầu tư cho tương lai của toàn thể cộng đồng
1.4.1 Các mô hình
1.4.1.1 Mô bình Trường trại nuôi dưỡng tập trung
Các cơ sở tập trung thường được chính quyền, tôn giáo, hội từ thiện ta chuộng Giải pháp này có tính chất nhanh gọn vì nó làm “ sạch các đường phố” không còn có trẻ lang thang Reddy17 phát hiện một số TEĐDP được đưa vào cơ sở tập trung không thích các cơ sở như thế này vì làm cho các em giống như những người có tội, bị quản thúc Ngoài ra, TEĐP vì đã quen sống ngoài trời nên luôn đối kháng vớ các cơ sở tập trung khép kín, nghiêm ngặt, do đó thường tìm cách bỏ trốn
Ông Tomas Andino- thuộc chương trình SCF (Quï Nhi đồng Anh)!” cho rằng một trung tâm đặc biệt dành cho TEĐP có thể ngăn cản sự phát triển cộng đồng vì nó tách riêng trẻ ra, cắt đứt những tương tác giữa các em với cộng đồng mà các em sinh sống Trung tâm có thể khiến dân chúng có cái nhìn phân biệt đối với trẻ Nó đem đến cho cộng đồng một giải pháp mà giải pháp đó lại được thực hiện bởi một cơ quan bên
ngoài, học chẳng có dính lứu gì
Các chương trình giáo dục của loại hình trường này thường chỉ giới hạn ở mức cung cấp cho TEĐP những kiến thức và tay nghề cơ bản, tiêu biểu là nghề thợ mộc, quấn đây điện, may, thêu
Các chuyên gia chăm sóc trẻ em nhận thấy rằng cơ sở tập trung dù có nhân hậu đến đâu chăng nữa cũng không phải là giải pháp lý tưởng Trẻ em không có cơ hội học hỏi những kinh nghiệm ứng xử tâm lý xã hội vốn rất cần thiết để làm người lớn sau này Chúng cũng không thể được đối xử như những cá nhân và cũng không thể phát triển đầy đủ những tiểm năng của con người, đặc biệt đã bỏ qua tài tháo vat va tac dụng tương trợ giữa các TEĐP Các cơ sở tập trung cũng không đem lại hiệu quả xứng với công sức bỏ ra vì chỉ có khả năng tiếp nhận một số lượng trẻ em hạn chế và chỉ phí điều hành thường rất cao
1.4.1.2 Giúp TEĐP theo kiểu phí thiết chế
_ Mot số giải pháp, chương trình hành động cho TEĐP được thử nghiệm theo kiểu phi thiết chế (non- institutional) cũng được thực hiện trong những năm 1970, và 1980, Các giải pháp này chú ý tới việc tôn trọng sự tự lập của TEĐP, tôn trọng các kỹ
năng và lắng nghe quan điểm của các em.!8
Phương pháp phi thiết chế này được hình thành ở châu Mỹ La tỉnh Theo đó các giáo dục viên đường phố tiếp xúc và làm bạn với các em, đem đến cho các em một số dịch vụ như cứu thương, chăm sóc sức khoẻ ngay trên đường phố và khuyến khích các
w Reddy, N,Street children of Bangalore asituational analysis, New Delhi, National Labour Instituse, 1992
Judith Ennew, Trẻ em đường phố và trẻ em lao động Cẩm nang hoạch định chương trình, Bộ GD&ĐÐT, Đại học mở -BC TP Hồ Chí Minh- Khoa Phụ nữ học, 1996
Trang 29em đến các cơ sở thường trực dành cho TEĐP để được ăn cơm, tắm giặt, tư vấn, giải trí trên các phương tiện thông tin
Những chương trình này mặc dù chỉ phí thấp hơn các cơ sở khép kín, có khả năng làm việc với số lượng lớn trẻ em Tuy nhiên về cơ bản chương trình vẫn chỉ tập trung vào việc cung cấp dịch vụ và không làm giảm được số TEĐP ở các địa bàn thực hiện chương trình
1.4.1.3 Cung cấp dịch vụ
Mô hình này chú trọng đến việc cung cấp dịch vụ cho TEĐP Chương trình có thể khiến TEĐP luôn chờ đợi sự hỗ trợ và truyền thông tin cho nhau để có nhiều hơn những trẻ em cùng cảnh ngộ được thụ hưởng Kết quả là chính chương trình đã làm hư trẻ vì khiến trẻ có thói quen chỉ biết nhận mà không học hỏi điều gì mới mẻ Trẻ có thể nghĩ ra phương cách kiếm tiền bằng chính hình thức “nghèo đới và rách rưới” Dallape cho rằng: Hãy thận trọng khi xuất hiện như “ ông già Noel” với những món quà đầy ấp trên tay Ở đời chẳng thứ gì được cho không và các em cần phải biết như thế Chúng cảm nghiệm điều ấy từng ngày Đừng đưa trẻ vào thế giới mộng mơ của
ban!?
1.4.2 Các loại hình giáo dục
1.4.2.1 Giáo dục không chính qui
Hoạt động giáo dục của các chương trình được tổ chức vào những lúc trẻ em có thể tham dự được như cuối ngày lao động, cuối tuần và những dịp nghỉ lễ Các lớp học này miễn phí và có thể còn có những dịch vụ khác như cung cấp bữa ăn nhẹ để HS có thể tập trung vào học tập Giáo viên có thể là tự nguyện, thường dựa vào cộng đồng địa phương ở đó
Ở Việt Nam, loại hình giáo dục này phổ biến là các trường bổ túc văn hoá
Hiện nay, đang tồn tại các chương trình Giáo đực không chính qui được Bộ Giáo dục
và Đào tạo ấn hành và áp dụng cho TEĐP đó là: Chương trình xoá mù chữ; Chương trình giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; Chương trình bổ túc tiểu học; Chương trình giáo đục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dan;
Mô hình do nhà nước thành lập, tổ chức và quản lý bao gồm các trung tâm giáo duỡng, trường giáo dục, trại nuôi đưỡng, trại xã hội, trung tâm dạy nghẻ, trường vừa học vừa làm, mái ấm của các ngành, các tỉnh, thành phố
Ngoài ra còn có một số chương trình tự phát do cá nhân, đơn vị tự thiết kế, không được phê duyệt của Bộ Giáo dục và Đào tạo Các chương trình này phần lớn được triển khai dựa theo kinh nghiệm của người tham gia nên thiếu tính hệ thống và hạn chế đáp ứng mục tiêu giáo dục xã hội và nhu cầu người học
Trang 30trường phổ thông nơi trẻ sống lang thang trong thời điểm hiện tại Mục tiêu của các chương trình hướng tới sự công bằng trong giáo dục, không có sự phân biệt với đối tượng người học Cách tiếp cận giáo dục chính qui hiện nay mặc dù mở rộng cơ hội được đến trường của TEĐP, nhưng vẫn chưa giải quyết được sự mâu thuẫn giữa hoàn
cảnh sống của trẻ, độ tuổi, trải nghiệm thực tiễn và nội dung, chương trình, phương
pháp dạy học trong các trường học chính qui Một số trường hợp TEĐP sau khi chuyển từ hệ giáo dục không chính qui sang học ở hệ chính qui, các em cảm thấy không thoải mái vì nhiều lý đo trong đó có sự chênh lệch về độ tuổi, thái độ ứng xử của giáo viên, HS trong trường Vì vậy, vẫn có tình trạng trẻ không thể duy trì quá trình học tập của mình trong trường học, không hứng thú với nội dung và phương pháp dạy học của giáo viên, chưa có được môi trường học tập thân thiện
1.5 Vếu tố ảnh hưởng đến đảm bảo quyền được hưởng giáo dục
1.5.1 Kinh tế - Xã hội
Cùng với những thành tựu trong lĩnh vực kinh tế và xã hội, cuộc sống vật chất
và tình thần của người dân Việt Nam đang ngày càng nâng cao Nhưng bên cạnh đó, tác động của quá trình chuyển đổi nên kinh tế, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng có sự chênh lệnh về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các tầng lớp dân cư Cuộc sống của nhiều gia đình và trẻ em tiếp tục bị nghèo đói đe doạ Trong nên kinh tế 30 ngàn tỷ USD trên toàn cầu thì vẫn còn khoảng 40% trẻ em các nước phát triển — tức có khoảng 600 triệu trẻ em — phải vật lộn sống còn, ăn uống và học hành với 1 đô la mỗi ngày” Trong bối cảnh xã hội phân hoá ngày càng rõ nét, một bộ phận gia đình nghèo đói, có nhiều nguy cơ không được thụ hưởng cơ hội phát triển, trong số đó có trẻ em lang thang kiếm sống ở các thành phố
Trong thời đại thông tin đại chúng với các phương tiện hiện đại, sự cập nhật các luồng thông tin khác nhau từ Internet, băng đĩa, phim ảnh kết hợp với lối sống hiện đại ảnh hưởng trực tiếp tới trẻ em Các em đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, rất dễ bị mất phương hướng trong xác định giá trị, chuẩn mực đạo đức
và tri thức Mặc dù những giá trị truyền thống vẫn được duy trì, song đã có những thay
đổi trong các chuẩn mực đạo đức truyền thống Những vấn đề giá trị con người chủ
yếu được đánh giá về lĩnh vực kinh tế (việc làm và mức thu nhập), những cơ may được phát triển, giá trị cá nhân được để cao (làm việc trước hết vì lợi ích cá nhân và hướng động cơ phát triển vào cá nhân, tính mục đích trong quan hệ giữa người và người được
đề cao ), sự gắn kết cộng đồng, làng xóm, khu vực dân cư ngày càng trở thành yếu tố đứng sau những giá trị trên trong quan niệm của mỗi người Vì vậy, ở lứa tuổi này, các
em dễ bị cám rõ, rời nhà ra thành phố để tìm kiếm và khẳng định một lối sống mà các
em cho là hiện đại
Bên cạnh đó, sự phân công lao động xã hội ngày càng rõ nét; sự chuyên môn hoá cùng với qui luật cung cầu của kinh tế thị trường nảy sinh nhu câu dịch vụ lao động hết sức đa dạng trong mọi tầng lớp nhân dân Có thể kể đến hàng chục, thậm chí hàng trăm dịch vụ làm thuê trong các gia đình, các cơ quan công sở, những dịch vụ
?° Col Bellamy- Giám đốc điều hành UNICEE,1 1/1998
Trang 31bán báo, đánh giầy, trông coi cửa hàng, nhặt phế liệu, bán hàng rong, phục vụ trong
các quán ăn vỉa hè, Đó là chưa kể đến những việc làm có thể dẫn đến vi phạm pháp
luật như đưa hàng cấm, làm môi giới cho hoạt động mại dâm, Tất cả những điều dù được nhận thức đầy đủ hay chưa đầy đủ thì hàng ngày, hàng giờ đều được xã hội chấp nhận và số lượng TEĐP ngày một tăng
TEĐP trong giai đoạn hiện nay dường như là một tôn tại khách quan của mặt trái trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Tất yếu phải có sự điều chỉnh các mối quan hệ xã hội về tất cả các lĩnh vực liên quan như chính sách xã hội, giáo dục, đào tạo, công ăn việc làm và thu nhập
Việc đảm bảo quyên được hưởng giáo dục của TEĐP phải được dựa trên nền
tảng Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (1990) và các văn bản pháp lý
khác về vấn đề bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nói chung cũng như TEĐP nói riêng làm cơ sở thực hiện Đồng thời Sự tham gia của gia đình và cộng đồng là yếu tố quyết định đảm bảo quyên được hưởng giáo dục của trẻ đường phố Nguồn lực chủ yếu để nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em là nhân dân ở từng cơ sở, từng cộng đồng dân cư, từng gia đình
Để phát huy vai trò của cộng đồng, cần nâng cao tính hiệu lực của các văn bản pháp qui đã có và có và tiếp tục thể chế hoá bằng các văn bản pháp qui về việc nâng cao trách nhiệm của gia đình và cộng đồng Các lực lượng trong xã hội tham gia vào xây dựng môi trường thuận lợi cho việc giáo dục TEĐP Đảm bảo một môi trường giáo dục lành mạnh, tích cực và thống nhất tác động giáo dục (cả gia đình, cơ sở giáo dục và xã hội) Đồng thời, các lực lượng tham gia vào quá trình đa dạng hoá các hình thức giáo dục TEĐP bằng cách tổ chức các cơ sở giáo dục thuộc các thành phần kinh
tế các tổ chức xã hội khác nhau nhằm tạo những điều kiện phù hợp nhất cho từng đối
tượng TEĐP tiếp cận với giáo dục và đào tạo nghề Việc lôi cuốn các lực lượng khác nhau tham gia vào tổ chức các loại hình trường lớp giáo dục TEĐP là một nội dung quan trọng của công tác xã hội hoá giáo dục Huy động mợi nguồn lực của xã hội vào công tác giáo dục TEĐP Nguồn lực được huy động gồm nhân lực, vật lực, tài lực tạo điều kiện cho các em có nơi ăn chốn ở, được giáo dục và đào tạo nghề
1.5.2 Gia đình
Gia đình có vai trò quan trọng tới sự phát triển của trẻ Hầu hết các thông tín về TEDP và gia đình TEĐP cho thấy: Số trẻ bị bỏ rơi là rất ít, chủ yếu là các em dân bỏ nhà ra đi Có thể bị ngược đãi hoặc bị bóc lột trong gia đình, có thể đo cha mẹ nát rượu hoặc do trẻ có quan hệ không tốt đẹp với cha mẹ kế Một số em đến từ gia đình
có người mẹ đơn thân, nhưng nhiều em không phải như thế Các em nhận được sự cưng chiều của mọi thành viên trong gia đình đến mức muốn chốn khỏi sự bao bọc để thoát ra đường phố Ngược lại với những trẻ đẩy đủ về vật chất còn có nhóm trẻ nghèo, miếng cơm manh áo và các điều kiện sống còn của các thành viên trong gia đình là một vấn đề lớn, các em phải ra đường kiếm sống và các thành viên trong gia đình được hưởng lợi từ việc làm của các em Một trong những nguy cơ khác dẫn đến TEĐP ngày càng khó có cơ hội được tiếp cận giáo dục và bị đẩy sâu vào các hoạt động trên đường phố đó là sự Hên kết lỏng lẻo trong gia đình, mâu thuẫn giữa các thế hệ trong gia đình
30
Trang 32về giá trị, định hướng giá trị, và trình độ hiểu biết, kỹ năng giáo dục con trẻ của cha
mẹ nghèo nàn, thậm chí phản giáo dục
Những trẻ sống trong gia đình nghèo có nguy cơ thất học cao và không được hưởng quyền học tập, nếu không đảm bảo các yếu tố từ gia đình sẽ làm tăng nguy cơ trẻ em bị gạt ra ngoài xã hội TEĐP thường bỏ học trước khi đi kiếm sống, nguyên nhân một phần là do chỉ phí trực tiếp cho giáo dục quá lớn so với thu nhập của gia đình Theo Báo cáo "Người nghèo nhìn nhận về y tế và giáo dục ở Việt Nam" do CECI thực hiện năm 2001 thì các khoản thu học sinh cấp tiểu học phải đóng khoảng 202.000 đồng/năm, trên thực tế thì cao hơn nhiều Tiền xây dựng trường ở cấp phổ thông CƠ SỞ
và phổ thông trung học còn cao hơn cấp tiểu học từ 2-3 lần và Bap 3 lần tiền học phí Nguồn thu nhập gia đình dành cho chỉ phí giáo dục đều từ các sản phẩm nông nghiệp,
vì vậy, nhiều gia đình nghèo không chịu nổi chỉ phí cho con cái đi học Các điều tra cho thấy tỷ lệ trẻ buộc phải bỏ học để lang thang đường phố hâu hết có lý do từ gia đình (Kinh tế gia đình khó khăn: 56,2%; Bố mẹ chết, ly đị: 9,8%; Ít được quan tâm tới
việc học dẫn tới trẻ chán học, học kém: 31,6%)?' Phần lớn những gia đình này còn
nhận thức chưa đầy đủ về nguy cơ của con mình khi kiếm sống nơi thành phố cũng như không định hướng được tương lai phát triển của con mình Nhiều gia đình vì thấy mối lợi trước mắt từ việc trẻ đi lang thang trên thành phố, kiếm tiền đã khuyến khích
và thậm chí cưỡng ép trẻ tiếp tục cuộc sống đường phố hoặc cũng tìm mọi cách để gia đình lên thành phố mưu sinh
Nhấn mạnh rằng trẻ em phải được sống trong một môi trường gia đình thương yêu, được chơi đùa, được cắp sách đến trường, không phải gánh vác những lo toan và trách nhiệm của người lớn Gia đình là người có trách nhiệm đầu tiên trong việc chăm sóc và đảm bảo các điều kiện để trẻ em được hưởng một nẻn giáo dục bình đẳng Trách nhiệm của các thành viên trong gia đình với việc đảm bảo cơ hội học tập cho trẻ
là tổ chức tốt các năng lực của mình nhằm thực hiện tốt chức năng của người sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ Gia đình luôn phải có mối Hiên kết chặt chẽ với trẻ để khuyến khích, động viên, hỗ trợ và chia sẻ với trẻ khi cần thiết Như vậy, để đảm bảo
cơ hội và quyền được hưởng giáo dục của trẻ đòi hỏi gia đình phải:
- Nhận rõ vai trò của mình trong việc đảm bảo các quyền lợi của con em mình;
- Có trách nhiệm chia sẻ, gắn bó giữa các thành viên với trẻ; Cha mẹ phải trao đổi cởi
mở với trẻ để giải quyết các tâm tư, thắc mắc và tháo gỡ bức xúc của trẻ
- Thu xếp và tổ chức tốt các công việc gia đình để trẻ có điều kiện tham gia vào các hoạt động học tập;
- Khuyến khích, động viên trẻ đi học và hướng dẫn trẻ học tập;
- Kết hợp với tổ chức xã hội và nhà trường trong chăm sóc giáo dục TEĐP
1.5.3 Bản thân trể
Một số điều tra cho thấy, ở trẻ có sự so sánh về các mối quan hệ, sự quan tâm
của mọi người và các điều kiện học tập, sinh hoạt của bản thân với các bạn khác, từ đó
?' Nguyễn Văn Buồm- Báo cáo trẻ lang thang cơ nhõ- Thực trạng và giải pháp- 1995
Trang 33xuất hiện tâm lý chán nản, ganh tị, đua đòi Nhiều em dần chán học, không thích đi
học, bỏ học và cuối cùng thì bỏ hẳn Trẻ cho biết đi lang thang do không thắng nổi
tính hiếu kỳ, bị lôi kéo (53%) Khi đã lên thành phố, những khoản tiên tự kiếm được
trước mắt đã hướng tư duy của trẻ sang hẳn một chiều hướng khác 94% số trẻ không muốn về quê nữa Nhiều trẻ sau khi hồi gia lại tiếp tục lên thành phố kiếm sống mặc
dù biết sẽ phải tiếp tục đối mặt với những nguy hiểm của cuộc sống nơi đô thị
Kết quả nghiên cứu ở Mogadishu” cho thấy, làm TEĐP chỉ là một giai đoạn
trong cuộc đời của một số người, họ giã từ đường phố một khi đã đủ tuổi để gia nhập lực lượng lao động của người lớn Nhưng sự thất học có thể giam hãm họ suốt đời,
không thể kiếm sống bằng những việc gì ngoài lao động đơn giản, lặt vặt
Vấn đề TEĐP được nhìn nhận phải gắn kết với những việc trẻ làm và những hành vi trẻ thể hiện Nhiều quan điểm cho rằng TEĐP là những đối tượng chuyên trộm
cấp, nhưng đây không phải con đường duy nhất để duy trì sự sống còn của các em
Các em có những cơ hội khác để kiếm tiền như rửa xe, bán báo, bán hàng rong, lượm rác, bới rác, đánh giầy, chạy việc, khuôn vác, ăn xin Có nhiều em chỉ chuyên về một việc nào đó thôi, nhưng có những em lại nhảy từ cơ hội này đến cơ hội kia với những công việc thiếu tính ổn định Thường một ngày có thể đổi đến mấy việc Nhiều em ý
thức được những hoạt động phạm pháp và không muốn dính dáng đến những hoạt động này, các em chỉ làm khi bị hoàn cảnh cưỡng ép
Mặc dù TEĐP có thể khẳng định năng lực và giá trị về khả năng học tập của bản thân đạt ở mức cao, nhưng cuộc sống của TEĐP ảnh hưởng trực tiếp tới cơ hội được tiếp cận giáo dục của các em TEĐP phải đứng trước việc có thể phải bỏ học mà chưa
được trang bị những kỹ năng cần thiết để tồn tại trong một xã hội hiện đại Nhóm trẻ
này thường đến trường trong tình trạng ăn không đủ no và thiếu sự quan tâm Các tệ
nạn xã hội và khó khăn kinh tế có thể tạo ra những vấn đề sau về giáo dục: Nghỉ học
nhiều; tỷ lệ bỏ học cao; kết quả học tập kém; hứng thú học tập thấp; kỷ luật kém; không hài lòng và không quan tâm đến nhà trường: ít tham gia vào các hoạt động ngoại khoá; tỷ lệ sử đụng ma tuý cao Nhiều TEĐP có mong muốn được đi học nhưng không có cơ hội được đến trường Trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách, các em cần được đáp ứng đây đủ những nhu câu cơ bản cho sự phát triển hài hoà về
thể chất và tỉnh thần Trên con đường tìm kiếm, phát hiện thế giới, TEĐP do thiếu sự hiểu biết đây đủ nên có nhiều nguy cơ dẫn đến những hành vi nguy hại Vì vậy, yếu tố
giáo dục được xác định có vai trò quan trọng giải quyết các vấn đề của trẻ, đồng thời
tạo ra một môi trường thân thiện, không có sự phân biệt và ở đó các trẻ được sống đúng với tuổi thơ hồn nhiên, biết yêu thương, chia sẻ và có nhiều rnơ ước
Có thể nói, nhu cầu đi học của TEĐP đặt ra những điêu đáng quan tâm Tuy nhiên, với đặc điểm sống trong môi trường thiếu ổn định và chịu nhiều tác động xã hội thì ở TEĐP nhu cầu học luôn là thứ yếu, điều quan trọng hơn đối với số trẻ này vẫn là kiếm tiên Trẻ cũng dành rất ít thời gian để đi học, các em đi làm ban ngày quá mệt,
nên không thể tham gia học tập vào buổi tối Việc học tập ở các trường phổ thông
cũng có những vướng mắc với nhiều lý do, trong đó vấn đề lí lịch, hộ khẩu, giấy khai
2 Judith Ennew, Trẻ em đường phố và trẻ em lao động Cẩm nang hoạch định chương trình, Bộ GD&ĐT, Đại học mở -BC TP Hồ Chí Minh- Khoa Phụ nữ học, 1996
32
Trang 34sinh của trẻ không rõ ràng cũng là một nguyên nhân cản trở như cầu được đi học ở một số trẻ Việc học tập thiếu thường xuyên liên tục tạo ra lỗ hổng kiến thức cũng chưa giải quyết được đối với nhóm trẻ này Các em cần được tham gia vào một môi trường học tập thân thiện, lành mạnh và có cơ hội để phát triển nhất Môi trường giáo dục phải đáp ứng được những nhu cầu của trẻ đồng thời cũng căn cứ vào những đặc
điểm của đời sống sinh hoạt và những điểm mạnh của trẻ để xây dựng một môi trường
học tập tích cực, hiệu quả, thu hút được sự tham gia tích cực nhất của trẻ
Với đặc điểm sinh hoạt của TEĐP rõ ràng đòi hỏi ở trẻ phải có sự nỗ lực lớn để
đảm bảo việc đi học và đi học thường xuyên của mình Dù trẻ học ở trong môi trường học tập nào thì trước hết những vấn đẻ trẻ phải giải quyết được đó là:
- Thấy được sự cần thiết của việc học trong định hướng tương lai và cơ hội nghề nghiệp sau này;
- Xác định những hành vi và chuẩn mực đạo đức phù hợp để rèn luyện và vượt qua những cám rỗ, xô đẩy của cuộc sống xã hội phức tạp, tồn tại nhiều mặt trái;
- Thu xếp thời gian, công việc để tham gia thường xuyên vào các buổi học;
- Kết hợp giữa công việc mưu sinh nơi đường phố và việc học tập tiếp thu và tích
luỹ kiến thức
Các vấn để kể trên cần được cải thiện và cần khuyến khích sự tham gia, tăng tính tự tin và hướng dẫn TEĐP lĩnh hội các kỹ năng học tập, kỹ năng xã hội ; giáo đục
nhận thức và nhu câu được đi học là cơ sở quan trọng có tính bền vững để thúc đẩy
nhanh tiến trình đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của TEĐP
1.5.4 Nhà trường
4 yếu tố cơ bản của quá trình học tập:
- HS tự xây dựng quá trình nhận thức của mình thay vì tiếp nhận từ phía người khác
Việc học tri thức mới dựa vào quá trình hiểu biết trước đó
-_ Việc học được tăng cường bởi các tương tác xã hội
- Những nhiệm vụ học tập đích thực khuyến khích quá trình học tập có ý nghĩa
Trường học là nơi khơi gợi hứng thú, nhu cầu học tập của HS Quan niệm về cách dạy học và cách truyền đạt thông tin của giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của quá trình học tập của HS Cách tiếp cận “truyền đạt? trong dạy học ở một
số giáo viên hiện nay vẫn đang tồn tại cho thấy đường như giáo viên chỉ quan tâm đến kiến thức bài học mà mình cần cưng cấp đến HS mà ít khi chú ý đến hứng thú, nhu cầu học tập của HS
Hậu quả này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến TEĐP khi đến trường không tìm thấy SỰ hứng thú và cần thiết của việc học kiến thức đối với các em Chương trình, tài liệu và khối lượng kiến thức giáo viên “truyền đạt” chưa phù hợp với trình độ tiếp thu của TEĐP
Trang 35Nhà trường cần làm cho việc học của TEĐP được dễ dàng hơn thông ua viéc giúp TEĐP phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề, học cách tư duy để phát hiện, tìm tòi
và kiến tạo kiến thức mới của chính mình, hiểu thực tiễn theo cách của mình
Để đảm bảo một môi trường học tập phù hợp với TEĐP trong trường học, đòi hỏi nhà trường phải đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học bằng cáchtao ra những khác biệt nhất định trong nội dung và phương thức hoạt động dạy học bằng cách thiết
kế và tổ chức dạy học theo hướng khác nhau dựan vào nang lực, hứng thú, nhu cầu học tập của HS; làm cho quá trình và hệ thống day học thích ứng cao hơn với cá nhân người học, với những đặc điểm của nhóm dân cư, nhóm xã hội, nhóm tuổi và bản chất
tự nhiên và xã hội của việc học tập
Nhà trường cũng cần cải thiện môi trường tương tác và thái độ ứng xử phù hợp với TEĐP Những quan niệm về sự ảnh hưởng thành tích học tập của lớp và các bạn khác nếu có TEĐP cùng học tập hoặc là các vấn đề vẻ sự khác biệt điều kiện, cơ hội tham gia và Không có giấy khai sinh, hộ khẩu của TEĐP cần được các trường học
thay đổi quan niệm và có cách nhìn nhận cởi mở hơn để tạo mọi điều kiện cho TEĐP
được tham gia các chương trình học tập
Kết luận 1
Kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận đã xây dựng cơ sở khoa học làm điểm tựa cho
các giải pháp đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của TEĐP đó là :
1 Thực hiện và đảm bảo tỉnh thần Công ước quốc tế về Quyển trẻ em, các văn bản quốc tế và văn bản pháp qui của Việt Nam về thực hiện công bằng trong giáo dục, đảm bảo nền giáo dục có chất lượng cho mọi người
2 Hướng tới một nền giáo dục có chất lượng cũng có nghĩa là giáo đục thực hiện tốt mục tiêu của xã hội và đáp ứng nhu cầu người học Điều đó đòi hỏi giáo dục cần có sự thay đối để phù hợp với mọi đối tượng học sinh, dạy học gắn liên với phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn của từng đối tượng người học ;
3 Các giải pháp cũng cần giải quyết tốt các mối liên hệ giữa TEĐP và môi trường sinh sống, những hoàn cảnh và các mối quan hệ của trẻ Giáo đục không thoát
ly khỏi cộng đồng và đặt TEĐP trong mối liên hệ tự nhiên giữa các thành viên của cộng đồng và bản thân trẻ Tạo cho TEĐP một môi trường học tập, sinh hoạt an toàn và hấp dan để trẻ không né chánh hoặc chốn chạy như những môi trường học tập mang tính quản thúc, tập trung đã có trong lịch sử
4 Các giải pháp cũng cần được xuất phát từ chính nhu cầu và năng lực của TEĐP Trên cơ sở mọi người có sự khác nhau về nhu cầu, hứng thú, khí chất và khác nhau về năng lực và như cầu sự khác biệt về năng lực của mỗi cá nhân tạo nên một bức tranh nhân cách riêng
34
Trang 365, Cơ sở thuyết đa năng lực của Howord Gardner và đặc điểm của TEĐP là căn cứ
để xác định những vấn để liên quan đến đời sống của TEĐP, những yếu tố anh
hưởng đến khả năng và nhu cầu của trẻ khi sống trên đường phố để xác định
các chủ đề thuộc lĩnh vực kiến thức, kỹ năng cần trang bi cho trẻ
6 Giải quyết tốt các vấn để có ảnh hưởng đến cuộc sống của TEĐP Trẻ cần có một môi trường học tập thân thiện, ở đó có sự chia sẻ, hợp tác, hỗ trợ, không phân biệt đối xử và trẻ có cơ hội được nói lên tiếng nói của mình và tham gia tích cực vào các hoạt động trong trường lớp
Cơ sở lý luận của đề tài đã đề cập đến các vấn đề cơ bản :
1) Xác định được khái niệm TEĐP và quyển được hưởng giáo dục của TEĐP Đồng thời xác, các nguyên nhân kinh tế — xã hội, vấn đề gia đình và chính bản thân trẻ ảnh hưởng và tác động đến cuộc sống trên đường phố của trẻ; các vấn đề về đặc điểm tâm sinh lý của TEĐP và những khả năng, nhu cầu của TEĐP có liên quan đến phát triển nhận thức, nhu cầu được học tập của TEĐP
1) Lầm rõ các cơ sở pháp lý đảm quyên được hưởng giáo dục của TEĐP dựa trên việc thực hiện Công ước Quốc tế về quyền trẻ em, công bằng trong giáo dục và hướng dẫn của một số văn bản pháp qui Quốc tế và ViệtNam về vấn để đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của trẻ em
3) Nghiên cứu các mô hình giáo dục TEĐP hiện đang tồn tại, những hiệu quả và hạn chế từ các mô hình này Nội dung chương 1 định hướng các cơ sở quan trọng làm cơ
sở đề xuất giải pháp đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của TEĐP đó là các cơ sở pháp lý, cơ sở tiếp cận dựa trên năng lực và nhu cầu của trẻ cũng như các vấn đề liên quan đến tiếp cận cá nhân trong giáo dục và tạo môi trường thuận lợi, thân thiện, khuyến khích TEĐP tham gia vào các hoạt động học tập
Trang 372 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIẾN
2.1 Khảo sát thực trạng giáo dục TEĐP ở Hà Nội
2.1.1 Các vấn đề chung về khảo sát
a) Mục đích khảo sát:
Tìm hiểu thực trạng giáo dục TEĐP ở thành phố Hà Nội làm cơ sở để để xuất các giải pháp quyền được hưởng giáo dục của TEĐP
b) Nội dung khảo sát:
Đối với TEDP
Tìm hiểu về những công việc và cuộc sống hiện tại; Các tác động cuộc sống
đường phố đến cơ hội đượng hưởng giáo dục của trẻ
Tình trạng học tập và những cản trở, hạn chế của môi trường học tap
Khả năng, nhu cầu, mong muốn của TEĐP đối với việc đi học và môi trường
Đối với giáo viên
Quan điểm và thái độ về đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của TEĐP
Các vấn đề tổ chức giáo dục TEĐP
Những khó khăn, thách thức đối với vấn đẻ tiếp nhận và giáo dục TEDP của giáo viên trong các hoạt động giáo dục ở trường họcvà phối hợp quản lí học sinh tại gia đình và cộng đông trẻ sinh hoạt
Đánh giá vê các yếu tố tác động đến cơ hội được tiếp cận giáo dục phổ thông của TEDP
Đối với cán bộ quản lý:
Thái độ và quan điểm về đảm bảo quyền được hưởng giáo dục của TEĐP
Vấn đề điều chỉnh việc dạy học cho TEĐP về chương trình, nội dung, phương pháp phương tiện, phương pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh
Đánh giá về các yếu tố tác động và điều kiện đảm bảo cơ hội được tiếp cận giáo dục phổ thông của TEĐP
c) Địa bàn khảo sát:
Bốn Quận được lựa chọn để khảo sát quận Hoàn Kiếm, quận Đống Đa và quận
Ba Dinh, quan Cầu Giấy của thành phố Hà Nội
đ) Đối tượng khảo sát:
2 GV tiểu học và THCS (9 GV trường chính quy và 10 GViớp học tình 19
36
Trang 38
thương)
4 Cán bộ quản lý trường tiểu học và THCS va mái ấm 4
5 Cán bộ quản lý Sở GD & ĐT ; Cán bộ Phòng GD & ĐT
6 UBND Quan, UB chăm sóc GĐÐ, TE thành phố; Quận; UBND phường 11
Tổng số 132
e) Phương pháp khảo sát
Dé tai đã sử dụng các phương pháp sau đây khi tiến hành khảo sát :
- _ Sử dụng bộ phiếu hỏi, gồm bộ phiếu hỏi dành cho giáo viên và cán bộ quản lý
- _ Phương pháp trao đổi, phỏng vấn: thực hiện phỏng vấn trực tiếp đối với giáo viên và cán bộ quản lý
- Phương pháp quan sát hoạt động giáo duc TEDP
- Sit dụng bộ phiếu hỏi để lấy ý kiến của TEĐP; phương pháp phỏng vấn, kiểm
nghiệm và ghi chép, thảo luận có sự tham gia của TEĐP, quan sát nhập cuộc,
phỏng vấn sâu một số mẫu điển hình
f) Phương pháp xử lý số liệu thu được từ khảo sát
Để tài sử dụng chương trình SPSS (Statistical Products For Social Services) là phần mềm thống kê chuyên dụng đối với các nghiên cứu khoa học xã hội Số liệu điều tra được sử lý dưới hai hình thức sau:
- Với những câu hỏi yêu cầu lựa chọn một (hay nhiều phương án trả lời): áp dụng cách tính tỉ lệ phần trăm (percentage) giữa các lựa chọn của người trả lời phiếu
trên tổng số người trả lời
Với những câu hỏi có thang đo xác định trước: áp dụng cách tính điểm trung
bình (means) theo qui ước, dựa trên số các lựa chọn của người trả lời phiếu
2.1.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng
2.1.2.1.Về số lượng TEĐP
Hà Nội phải chịu sức ép về dân số cơ học - số người nhập cư vào Hà Nội ngày càng đông, kéo theo trẻ em trong độ tuổi đi học sống lang thang trên đường phố Đến nay Hà Nội vẫn chưa xác định chính thức về số lượng TEĐP Con số thống kê của công an thành phố về TEĐP ở Hà Nội tháng 10 năm 2002 có khoảng 1.600 trẻ Số lượng do Uỷ ban Dan số Gia đình và Trẻ em cung cấp có khoảng 750 TEDP
Một số trẻ thường dễ nhìn thấy như: trẻ nhặt rác, đánh giày, trẻ ăn xin, và những trẻ bán dạo, trẻ bán sách du lịch, kẹo cao su, vé số hoặc kết quả xổ số Ngoài những em này, còn có một số TEĐP khác khó nhìn thấy hơn như: trẻ bán ma túy, trẻ
có liên quan đến hoạt động mại dâm và những trẻ chỉ làm việc về đêm Có nhiều
Trang 39TEĐP thường xuyên đi chuyển địa bàn hoạt động từ nơi này qua nơi khác; Một số trẻ
lại thường xuyên thay đổi nghề kiếm sống
Trong những ngày lễ lớn như Ngày Quốc Khánh hoặc các dịp đại hội lớn như Seagames 22, số lượng TEĐP cũng thay đổi đáng kể Tuy nhiên trong những dịp này, công an thành phố có kế hoạch chặt chẽ hơn trong việc thu gom những TEĐP vào trường trại Trong thời gian diễn ra chiến dịch thu gom, nhiều TEĐP đã lần trốn khỏi khu vực kiếm sống hàng ngày Để đối phó, TEĐP hoặc là ăn mặc chỉnh tê hơn tránh bị
để ý hoặc tạm thời đi chuyển sang các khu vực vùng biên Chính những đặc điểm này
của TEĐP đã tạo nên những trở ngại cho việc xác định số lượng trẻ Theo ý kiến của
CBQLGD Sé/ Phòng GD&ĐT có 14,3% nắm vững về số TEĐP trong độ tuổi không
được đến trường trên địa bàn quản lý của mình; 78,6% trả lời có biết sơ sơ song không
vững; 7,1 % không nắm vững
2.1.2.2 Về cơ cấu độ tuổi và giới
Trong nghiên cứu, chúng tôi chọn mẫu ngẫu nhiên 80 TEĐP dưới 17 tuổi Trong số đó, trẻ thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm (30 em), Đống đa (20 em), Ba Đình
(10 em), Cầu Giấy (10 em)
Bảng 1: Cơ cấu độ tuổi và giới
duoi 8 tuoi 9-11 tuoi 12-13 tuoi 14-15 tuoi 16-17 tuoi
Biểu đô 1: Cơ cấu độ tuổi và giới của TEĐP ở Hà Nội
38
Trang 40Số lượng TEĐP thuộc nhóm trẻ trai nhiều hơn trẻ gái (chiếm hơn 70%), chỉ có khoảng gần 30% TEĐP là trẻ gái Độ tuổi tập trung nhất là 14 đến 15 tuổi (37,2%)
TEĐP chủ yếu ở độ tuổi vị thành niên Số lượng trẻ dưới 8 tuổi là không đáng kể
2.1.2.3 Quê quán và thời gian sống lang thang của trẻ
Trong nhóm 80 trẻ được hỏi, chúng tôi chỉ thu được 62 câu trả lời cho biết quê quán của bản thân Các trẻ khác cố tình lắng tránh câu hỏi này Có nhiều lý do trẻ lắng tránh câu trả lời như: Không muốn cho người cùng quê thấy mình, sợ mọi người liên
hệ về quê buộc em trở về
Thông tin thu được từ các câu trả lời về quê quán cho thấy: Các tỉnh có trẻ di chuyển sống trên đường phố Hà Nội nhiều nhất là tỉnh Thanh Hoá, Nam Định và Hưng Yên
Bảng2: Quê quán của TEĐP Hà Nội
2.1.2.4 Nguyên nhân dân đến tình trạng sống trên đường phố của trẻ
Một số trẻ, đường phố là lối thoát cho những bất hạnh và bạo hành trong gia đình; một số trẻ khác sống trên đường phố để kiếm tiền cho gia đình hoặc để giết thời gian và để giải trí Ngoài ra, còn có nguyên nhân do những giá trị xã hội và gia đình truyền thống bị phá vỡ, trẻ không thích học tập nên lêu lồng ngoài đường phố
Những trẻ làm việc và sống trên đường phố thường không lường trước được rủi
ro của cuộc sống đô thị khi không có sự hướng đẫn cửa người lớn Nhiều trẻ phải chịu
áp lực từ việc kiếm sống hàng ngày Một số trẻ uống rượu hoặc dùng ma túy để quên
đi căng thẳng và trải nghiệm bất hạnh mà chúng gặp phải Một số trẻ được nhóm “ma cô” đào tạo để trở thành trẻ ăn xin chuyên nghiệp Không ít trẻ đã phạm pháp hoặc tham gia vào các băng nhóm phạm pháp