Kết quả chính đạt được: 3.1 Kết quả điều tra từ 128 HSĐGQT trong hơn 30 năm qua cho thấy: - HS sau khi đoạt giải Olympic quốc tế đều tiếp tục học tập ở bậc đại học, trên đại học trong
Trang 1
BO GIAO DUC VADAO TAO _ VIEN CHIEN LUQC VA CHUONG TRINH GIAO DUC
DAO TAO, BOI DUONG VA SU DUNG |
HỌC SINH ĐOẠT GIẢI OLYMPIC QUỐC TẾ
Trang 2Danh sách những người tham gia thực hiện đề tài
TT Họ và tên Đơn vị công tác Nhiệm vụ
1 Lã Quý Đôn Vụ Công tác HS-SV Chủ nhiệm
2 Nguyễn Thị Quyên | Viện Chiến lược và Chương | Thư ký
trình giáo dục
3 Lê Vân Anh Viện Chiến lược và Chương | Thành viên
trình giáo dục
4 Nguyễn Công Giáp | Học viện Quản lý giáo dục Thành viên
5 Dao Van Vi Viện Chiến lược và Chương | Thành viên
trình giáo dục
6 Vũ Đình Tuý Cục Khảo Thí và Kiểm định | Thành viên
chat long giao duc
7 Pham Dinh Hién Cục Khảo Thí và Kiểm định | Thành viên
chât lượng giáo dục
8 Nguyễn KhắcMinh | Cục Khảo Thí và Kiểm định | Thành viên
chât lượng giáo dục
9 Ngô Văn Hưng Vụ Giáo dục trung học Thành viên
10 Quách Tất Kiên Vụ Giáo dục trung học Thành viên
Đơn vị phối hợp chính
TT Tên đơn vị Nội dung phối hợp
1 Viện Chiến lược và Chương Cung cấp thông tin, hợp tác nghiên cứu, trình Giáo dục đánh giá kết quả đê tài
2 Các sở Giáo dục và Đào tạo Cung cấp thông tin, hợp tác nghiên cứu
3 Một số trường đại học Cung cấp thông tin, hợp tác nghiên cứu
Trang 3
Trang
KET QUA NGHIEN CUU 11
I Cơ sở lý luận của quá trình phát triển năng khiếu, tài năng 11
II Khái quát về học sinh đoạt giải Olympic quốc tế 11
II Kinh nghiệm quốc tế về bồi dưỡng và sử dụng tài năng 22
IV Kinh nghiệm bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ người tài của ông cha| 31
ta
B Nghiên cứu thực trạng 36
I Khái quát về các kỳ thi Olympic quốc tế 36
II Công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ học sinh đoạt| 42
giải Olympic quốc tê
1 Quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước 42
3 Điều tra thực trạng quá trình đảo tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội | 51
ngũ học sinh đoạt giải Olympic quốc tê
3.1 Mục đích, nội dung, phương pháp , đối tượng điều tra 51
3.3 Phan tich két qua diéu tra 67
KET LUAN VA KIEN NGH]I
Trang 4Tom tat két qua nghién ciru Tên đề tài: Đào tạo, bôi dưỡng và sử dụng những học sinh đoạt giải Olympic quốc tế - Thực trạng và kiến nghị
Mã số: B2003-52-45
Chú nhiệm để tài: Lã Quý Đôn
Tel: 0913232426 E-mail: lqdon@)moet.gov.vn
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo đục (nay là
Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục) Bộ Giáo dục và Đảo tạo
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, Vụ Giáo dục trung học, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng
giáo dục
Thời gian thực hiện: 04/2003 đến 04/2005
1 Mục tiêu: Từ những kết quả nghiên cứu lý luận và điều tra thực trạng, đề
xuất những kiến nghị về việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng HSĐGQT một cách
có hiệu quả, để các em có thê trở thành những tài năng của đất nước
2 Nội dung nghiên cứu: Nội dung nghiên cứu bao gồm 2 phần chính: nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực trạng
Nghiên cứu ly luận đề cập đến 2 vấn đề chính: Cơ sở lý luận của quá
trình phát triển năng khiếu, tài năng: Kinh nghiệm quốc tế và kinh nghiệm của
cha ông ta về bồi dưỡng và sử dụng tài năng
- Cơ sở lý luận của quá trình phát triển năng khiếu, tài năng đề cập đến:
Khái niệm năng khiếu và học sinh năng khiếu; Các giai đoạn hình thành và phát triển năng khiếu; Việc bồi dưỡng học sinh năng khiếu và tài năng từ góc
độ tâm lý; Khái quát về những đặc điểm của HSĐGQT
- Đề tài giới thiệu kinh nghiệm quốc tế và kinh nghiệm của cha ông ta về: Phát hiện, tuyến chọn và bồi dưỡng HSNK; Đào tạo và đãi ngộ giáo viên
Trang 5giỏi; Chính sách thu hút những sinh viên du học nước ngoài về nước công tác; Trọng dụng, hậu đãi người tài
Nghiên cứu thực trạng xuất phát từ mô tả khái quát về các kỳ thi
Olympic quốc tế, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước và chính sách
cụ thể về học sinh năng khiếu nói chung và học sinh giỏi đoạt giải quốc gia, quốc tế nói riêng
Phần chính của nghiên cứu thực trạng đưa ra kết quả điều tra thực trạng
quá trình đào tạo, bồi đưỡng và sử dụng đội ngũ HSĐGQT từ 1974 đến nay
Điều tra được tiến hành qua quá trình thu thập thông tin qua sách báo, internet,
phỏng vấn và điều tra bằng phiếu hỏi
Tính đến tháng 8/2006 đã thu thập được đanh sách của 532 HSĐGQT từ
1974 đến nay Trong đó, thu thập được tư liệu của 128 HSĐGQT (27
HSĐGQT năm 2006 hiện đã vào đại học), đặc biệt mô tả 26 HSĐGQT điển, hình (chủ yếu đối với HSĐGQT có nhiều đóng góp trong lĩnh vực nghiên
cứu khoa học)
3 Kết quả chính đạt được:
3.1 Kết quả điều tra từ 128 HSĐGQT trong hơn 30 năm qua cho thấy:
- HS sau khi đoạt giải Olympic quốc tế đều tiếp tục học tập ở bậc đại học, trên đại học trong và nước ngoài;
- Hiện tại, nhiều người có học hàm, học vị cao, là các nhà khoa học đầu
ngành trong và ngoài nước;
- Những học sinh đang đi học hoặc vừa học vừa làm đều có dự định về
ngành học, công việc và tương lai của họ
- HSĐGQT trong hơn 30 năm qua là vốn quý trong "độ tuổi vàng" của
lao động Việt Nam hiện nay
Trang 6Đảng và Nhà nước ta đã có nhiễu chủ trương, chính sách đúng dan trong công tác đào tạo, bôi dưỡng và sử dụng HSĐGQT, thể hiện qua các Văn
kiện của Đảng và Nhà nước
Tuy nhiên, Những chủ trương, chính sách đào tạo đại học, sau đại học
của Đảng và Nhà nước đối với HSĐGQT vẫn còn hạn chế, chưa tạo đủ điều
kiện để HSĐGQT tiếp tục phát triển năng khiếu, trở thành tài năng phục vụ đất
nước
3.2 Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất kiến nghị:
- Với Đảng, Nhà nước: Xây dựng chiến lược quốc gia về phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi đưỡng, sử dụng, đãi ngộ tài năng Tạo môi trường kinh
tế - xã hội thuận lợi cho việc phát triển tài năng
- Với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Sớm xây dựng và thực hiện chương trỉnh quốc gia bồi dưỡng và phát triển tài năng giai đoạn 2008-2010 gồm 9 chương
trình cụ thể với những mục tiêu đã được xác định tháng 9 năm 2007 Sớm có đơn vị chuyên trách về công tác đào tạo, bồi đưỡng học sinh giỏi, trong đó có HSĐGQG
- Với các địa phương và các trường Đại học: Quản lý, đào tạo, bôi
dưỡng tiếp những HSĐGQIT Tạo điều kiện thuận lợi để các em được đào tạo
thạc sĩ, tiến sĩ và tiếp tục nghiên cứu khoa học phát triển tài năng
Trang 7Summary Project Title: Training, fostering and using Olympic prize awarded students - Current state and recommendations
Code number: B2003-52-4
Coordinator: La Quy Don
Tel: 0913232426 E-mail: lqdon@moet.gov.vn Presiding Institution: National Institute for Education Development (its present name: National Institute for Educational strategy and Curriculum development) Ministry of Education and Training
Cooperating agencies and _ individuals: National Institute for Educational strategy and curriculum development, Department of Secondary Education, Department for Examinations and verification of education quality
Duration: from 04/2003 to 04/2005
1 Objective: Based on theoretical research and current state research, the Project gives recommendations on how to train, foster and use effectively Olympic prize awarded students (OPAS), so that they could become talents of
our country
2 Main contents: Research contents include 2 main parts: theoretical
research and research of current state
Theoretical research mentions 2 main issues: Theoretical basis of gifted development process and; international and national experiences in training and using talents
- Theoretical basis of gifted development process identifies such concepts as: gift and gifted student, and presents stages of formation and development of gift, hence viewing the training of gifted students and talents
Trang 8- The Project introduces international and national experiences in: discovering, selecting and training gifted students; training and treating talented teachers; making policies to attract students studying abroad to come back and serve their homeland; well using and treating talents
Research of current state is originated from brief description of International Olympic competitions, viewpoints and guidelines of the State and the Communist Party, and specific policies on gifted students in general and on international/national prize awarded students in particular
The main part of the current state research introduces results obtained from the survey on training, fostering and using international prize awarded students from 1974 up to now The survey has been conducted by collecting information from books and newspapers, internet, interviews and questionnaires
As of August 2006, a list of 532 students who were awarded during the period of 1974 to present was made, among which documentation of 128 international prize awarded students has been collected (27 students awarded international prizes in 2006 are studying in universities), 26 typical students have been detailed (most of them are those who have greatly contributed in scientific researches)
3 Results obtained
3.1 Results obtained by the survey of 128 OPAS show the following:
- After being awarded international Olympic prizes, all students continue studying in universities or go into postgraduate training (many of them are trained abroad);
- At present, many of these students enjoy high academic titles, academic distinctions or being internationally/domestically leading scientists;
- All students who are studying at universities or combining their
Trang 9- Students awarded international prizes over the past 30 years are precious asset in the “golden age” of Vietnamese labor force
Our State and Communist Party have promulgated a lot of good policies and guidelines for training, fostering and using OPAS, shown in many documentation issued by the State and Communist Party
However, the above mentioned policies are still limited, and have not yet created full opportunities for OPAS to develop their gift and become talents of the country
3.2 Recommendations:
- For the State and Party: To develop a national strategy for discovering, selecting, training, fostering, using and treating talents To create an economic- social friendly environment for the gifted developments
- For the Ministry of Education and Training: To build up and implement national programs on fostering and developing talents in 2008-2010 period
including 9 specific programs with the objectives that have been clearly
identified in September 2007 To identify a group that is specialized in training and fostering gifted students including OPAS
- For localities and universities: To continue managing, training and fostering OPAS; to create opportunities for them to pursue postgraduate training and to conduct scientific researches in order to develop their talent
Trang 10PHAN MO DAU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 3 thập niên qua, Việt Nam đã có 563 học sinh tham dự Olympic quốc tế và khu vực về các môn Toán học, Tin học, Vật lý, Hoá học, Sinh học,
trong đó 473 em đã đoạt giải
Đây là những học sinh xuất sắc, là nguồn đào tạo nhân lực có trình độ
cao cho đất nước Những HSĐGQT đều được khen thưởng và vào thắng đại học theo nguyện vọng 1 Sau đó, những học sinh này đi đâu, làm gì, học hành
ra sao, còn chưa được quan tâm
Đề tài này lần theo dấu vết của những học sinh đã đoạt giải Olympic
quốc tế, tìm hiểu thực trạng học tập, làm việc của các em, cách thức sử dụng
và đãi ngộ đối với các em Từ đó, xây dựng những định hướng cho việc đào
tạo, bồi đưỡng và sử dụng có hiệu quả những học sinh đạt giải Olympic quốc
tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất những kiến nghị về việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng một cách
có hiệu quả những HSĐGQIT
3 Phạm vỉ nghiên cứu
Chủ yếu là số HSĐGQT về Toán học, Tin học, Vật lý, Hoá học, Sinh
học, từ 1974 đến nay
4 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tài năng, về việc phát hiện, tuyển
chọn, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ tài năng: về kinh nghiệm quốc tế và kinh
nghiệm của ông cha ta trong việc bồi dưỡng và sử dụng tài năng
Nghiên cứu thực trạng đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng HSĐGQT
Đề xuất những kiến nghị về đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng HSĐGQT
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu tư liệu
5.2 Phương pháp chuyên gia
5.3 Phương pháp điều tra
Trang 11KET QUA NGHIEN CUU
A NGHIEN CUU Li LUAN
I CO SO LY LUAN CUA QUA TRINH PHAT TRIEN NANG
KHIEU, TAI NANG
Năng khiếu và học sinh năng khiêu
Theo cách hiểu truyền thống, năng khiếu được hiểu là hệ thống tiền dé bên trong dựa trên những tư chất bẩm sinh — di truyền được phát triển trong đời sống cá thể, cho con người những năng lực giải quyết với chất lượng cao những yêu cầu đặt ra Theo quan niệm này thì học sinh năng khiếu có hệ số thông
minh cao (IQ >130) và số học sinh năng khiếu thường chỉ chiếm 1% đến 3%
tổng số học sinh
Các nhà Tâm lý học cho rằng năng khiếu là biểu hiện sớm ở trẻ em về một tài năng nào đó khi đứa trẻ chưa tiếp xúc một cách có hệ thống, có tổ chức
trong các lĩnh vực hoạt động tương ứng
Quan niệm về năng khiếu và học sinh năng khiếu trong các tài liệu và công trình nghiên cứu gần đây đã được hiểu rộng hơn, nó không chỉ tập trung
vào một lĩnh vực năng lực cụ thể mà mang tính chất bao quát, bao hàm nhiều
mặt của đời sống con người và đựa trên quan điểm xuất phát là mỗi cá nhân là
sự tổng hoà của các yếu tô di truyền, sở thích, động cơ cá nhân, năng lực vật chất, kinh nghiệm vốn có, môi trường xã hội và nền tảng văn hoá
H Gardner (1983) đựa trên quan điểm tiếp cận về giải quyết vấn đề và hoạt động để đưa ra khái niệm về học sinh năng khiếu: Học sinh năng khiếu là
những em có năng lực vững vàng như biết phân tích, phát hiện các mối quan hệ
phụ thuộc trên cơ sở đó tìm ra con đường tối ưu trong số nhiều cách giải quyết
khác nhau [3, tr.82]
S Renzulli (1993) đưa ra định nghĩa về học sinh năng khiếu bằng cách
dựa trên mô hình "ba vòng tròn giao nhau" Mỗi vòng tròn chứa đựng một
Trang 12tao cao[3, tr.13] Hoc sinh nang khiếu là những em có đồng thời cả ba yếu tố tiêu biểu nêu trên và áp dụng chúng vào những lĩnh vực giá trị tiềm năng của
hoạt động con người :
So dé 1: Ly thuyét "ba vong tron giao nhau "yé hoc sinh ning khiéu
cua S Renzulli
CAO
Học sinh năng khiếu được hiểu theo nhiều cách khác nhau do những
cách tiếp cận riêng biệt mà các tác giả sử dụng khi xây dựng khái niệm về học sinh năng khiếu Tuy nhiên, học sinh năng khiếu đều có hai đặc điểm chung, cơ
bản sau: (1) Học sinh năng khiếu thể hiện mầm mống giá trị năng lực ở mức độ cao (2) Những năng lực đó được thể hiện thông qua những hoạt động giá trị tiềm năng của con người
Tài năng
Tài năng là năng lực đạt thành tích nổi bật trong một lĩnh vực của xã hội như ngôn ngữ, văn chương, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, hội họa, âm nhạc, biểu diễn, kĩ thuật, tạo hình, quản lý tổ chức doanh nghiệp, công nghệ sản xuất V.V
Tài năng là một tổ hợp các năng lực tạo nên tiền đề thuận lợi của hoạt
động có kết quả cao, những thành tích đạt được bởi quá trình hoạt động này
vẫn nằm trong khuôn khổ những thành tựu đã đạt được của xã hội loài người
Trang 13Các tài năng chuyên biệt như tài năng âm nhạc, hội họa thường được hình thành sớm Còn các tài năng toán học, kĩ thuật hay tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh được hình thành muộn hơn
Nhiều người còn phân ra tài năng “thiên bâm”, tài năng “tự thân” Dù là
“thiên bâm” hay “tự thân” thì tài năng cũng chỉ được hình thành trong quá trình hoạt động mà đầu tiên là hoạt động học tập của mỗi người Những người có năng khiếu trở thành nhân tài dễ dàng, nhanh chóng và thuận lợi hơn người
thường Tài năng biểu hiện ở sự thông minh và sáng tạo trong hoạt động nhận
thức khách quan và đối tác đề giải quyết thành công nhiệm vụ đặt ra Thước đo
tài năng là kết quả của hoạt động
Thiên tài
Thiên tài là một tổ hợp đặc biệt các năng lực, nó cho phép con người đạt
được những thành tựu sáng tạo có ý nghĩa lịch sử vô song
Thiên tài là mức độ cao nhất của năng lực Khác với tài năng — kết quả
sáng tạo rất cao nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ trình độ xã hội đã đạt được — thiên tài tạo ra những giá trị mới, mở ra cả một thời kì mới của sự phát triển của từng lĩnh vực hoạt động hay toàn bộ lịch sử loài người Thiên tài bộc lộ ở thành tích kiệt xuất và tính sáng tạo hiếm có, ở sự lĩnh hội sâu sắc và tiếp cận phê
phán các giá trị của loài người đạt được trên từng lĩnh vực cho đến nay và gạt
bỏ chúng nhờ đạt được một giá trị mới xuất phát từ đó nhưng bằng một con đường khác cơ bản Thiên tài không phải là một hiện tượng siêu nhân mà là một biểu hiện tập trung, súc tích của tiềm năng thông minh, sáng tạo của con người với tư cách là một thành viên của xã hội loài người Người thiên tài không đứng ngoài xã hội mà nhận thức, tiếp cận nó một cách tích cực và đóng
góp đặc biệt lớn lao cho sự phát triển của xã hội
Thiên tài không phải do trời phú cho mà nó được hình thành trong quá
trình hoạt động của con người Trong một cơ cấu xã hội thuận lợi, một hoàn
cảnh gia đình thuận lợi, được hưởng một nền giáo dục tốt thì trẻ có năng khiếu
có nhiều cơ hội trở thành tài năng hay thiên tài sau này
Trang 14Phan biét nang khiéu va tai nang
Dựa trên cấu trúc tâm lý của năng khiếu và tài năng, dựa vào phạm vi
của những năng lực tiềm ân và lĩnh vực hoạt động của con người chúng ta có thể phân biệt sự khác nhau giữa năng khiếu và tài năng như sau:
- Câu trúc tâm lý chưa hoàn thiện, ở dạng sơ
khai, mới chỉ xuất hiện những mầm mống
ban đầu của tài năng
- Những thành phần trong cấu trúc tâm lý
mới được hình thành, mới chỉ được phát hiện
bước đầu
- Chưa được củng cố nhiều lần trong thực tế
nên chưa được vững chắc, dễ thay đổi có khi
mất hắn, vì còn thiếu nhiều kỹ năng, kỹ xảo
- Là một cầu trúc tâm lý hoàn thiện của cá
nhân Nó bao gồm tương đối đầy đủ những
thành phần tâm lý khá cần thiết, phù hợp với những yêu cầu tâm lý đặc trưng trong lĩnh vực hoạt động nhất định
- Cấu trúc tâm lý ở mức độ chín muỗi
được khái quát ở mức độ cao
- Được củng cố nhiều lần trong hoạt động
nên bên vững và ôn đinh, và có vai trò nhất
định trong các hoạt động thực tiễn
2 Dựa vào phạm vì của năng lực và lĩnh vực hoạt động
- Các năng lực cầu thành năng khiếu thường
được cụ thể hoá trong quá trình thực hiện
hoạt động hay cách thức mà cá nhân thực
hiện hoạt động
- Có thể được đo những năng lực cấu thành
năng khiếu nhở các bộ công cụ khác nhau
như các bộ trắc nghiệm đã chuẩn hoá
- Bao gồm nhiều đặc điểm cá nhân như: sự
thông tuệ, sự hoà đồng, sự cảm thông, sự sắc
bén trong ngôn ngữ và nhận thức
- Năng khiếu mang tỉnh bẩm sinh, tự nhiên,
tiềm tàng cần được phát hiện
- Tài năng có liên quan chặt chẽ đến sản phẩm của hoạt động
- Tai nang 14 sự hiện thực hoá, và chỉ được
đánh giá và thừa nhận trong bối cảnh cuộc
sống dựa vào các sản phẩm được công nhận
- Tài năng của một cá nhân thường về
những ih vực hoại động con người như:
Toán học, Khoa học, Nghệ thuật, Thể
Trang 15Cac giai doan phat triển năng khiếu và tài năng
Con người nói chung và người tài năng nói riêng, hình thành, phát triển, trưởng
thành, cống hiến cho xã hội, thường trải qua 3 giai đoạn chính: Giai đoạn sinh học; Giai
đoạn học đường; Giai đoạn xã hội
Sơ đồ: Năng khiếu hình thành và phát triển qua các thời kỳ
Sơ sinh Tiền học đường — Học phố thông Học đại học sau ĐH
(0-2t) (3-5t) (6-18t) (19-30t)
Mam méng Năng khiếu Nang khiéu Nang khiéu
nang khiéu bộc lộ được bồi dưỡng được bồi đưỡng đào tạo
ban đầu định hình có cơ hội trở thành tài năng
Giai đoạn sinh học
Năm 1889, Francis Galton là người đầu tiên xác định hệ số tương quan
về gen của các thành viên trong gia đình Hiện nay, người ta đã biết rằng các nhiễm sắc thể của tỉnh trùng và trứng đã mang theo các mã di truyền của bố
mẹ, và chỉ phối đứa trẻ không những trong suốt cuộc đời mà còn chỉ phối cả
các thế hệ kế tiếp sau Một số tính trạng của con người như chiều cao, mạch đập, chất nội tiết, sự phát triển trí tuệ đã được xác định một bước trong
chương trình di truyền bắt đầu từ lúc bào thai hình thành
Để nghiên cứu vấn đề di truyền của tài năng, người ta đã chọn mô hình
trẻ sinh đôi nhằm xác định mức độ di truyền về mặt định tính và về mặt định
lượng ở đứa trẻ Với thai nhỉ của những cặp vợ chồng bình thường sẽ ra đời
một đứa trẻ bình thường Ở mỗi trẻ bình thường có thể do di truyền hoặc đột
biến do tác động của môi trường, đều có năng lực ấp ủ một số năng khiếu, sở trường vẻ một số mặt hoạt động nao đó trong xã hội Chính các yếu tố di truyền
của bố mẹ và sự tác động của môi trường tự nhiên - xã hội và sự thích ứng,
phát triển, trưởng thành của thai nhi trong giai đoạn này đã hình thành và chứa
đựng các mầm mống năng khiếu, tài năng tiềm tàng, ấp ủ ở mỗi con người
Trang 16Giai đoạn học đường
Đây chính là giai đoạn cơ bản nhất để năng khiếu, tài năng hình thành,
phát triển trong cuộc đời của mỗi con người Trong giai đoạn này, mầm méng
ban đầu do di truyền dé lai va do tác động của môi trường sẽ được bộc lộ, phát
triển ở độ tuổi tiền học đường Ở độ tuổi học phổ thông, mam méng nang khiéu
được bồi đưỡng, định hình, trẻ em trở thành học sinh năng khiếu (HSNK) Trong suốt thời gian này, vai trò của môi trường tự nhiên và nhất là vai trò của
môi trường xã hội (vai trò của giáo dục ở gia đình, ở trường học - đặc biệt là
vai trò của thầy giáo giỏi), nơi đứa trẻ ăn ở, sinh sống, học tập, giao tiếp hàng
ngày có tác động cực kỳ quan trọng đến sự phát triển năng khiếu của trẻ Cũng trong thời kỳ này, vấn đề quan trọng không kém là vai trò của chủ thể trong quá trình thích nghi, chủ động, sáng tạo, trong việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo, cũng như trau đồi đạo đức, phẩm chất để hình hành và phát triển nhân
cách ở mỗi con người Hai yếu tố này tạo điều kiện cho mầm mống năng khiếu,
tài năng đi truyền ấp ủ ban đầu được bộc lộ phát triển
Từ 6 tuổi đến 18 tuổi, trẻ em ở độ tuổi học phổ thông Đây là giai đoạn
quan trọng để mầm mồng năng khiếu được bộc lộ phát triển hoặc bị mai một thui chột Qua nghiên cứu người ta thấy các loại năng khiếu về nghệ thuật, ngoại ngữ, toán bộc lộ sớm; các năng khiếu về khoa học tự nhiên, kỹ thuật bộc lộ muộn hơn; các năng khiếu về quản lý, kinh doanh bộc lộ rõ khi con người ở độ tuổi trưởng thành Năng khiếu từng loại lại bộc lộ rõ ở từng thời kỳ,
gọi là thời kỳ dễ cảm nhận Nếu cha mẹ, bạn bè nhất là thầy, cô giáo cảm nhận,
phát hiện ra và nâng đỡ, bồi dưỡng thì ở thời kỳ sau các biểu hiện sẽ bộc lộ và
dé thấy hơn ở thời kỳ trước Nếu các em được phát hiện, bồi dưỡng sớm thì mầm mống năng khiếu được vun trồng, phát triển và dần dần định hình trở
thành học sinh năng khiếu Nhưng nếu cha mẹ, bạn bè và nhất là thầy cô giao
không cảm nhận và không phát hiện được những mầm mống năng khiếu tiềm
ấn trong những suy nghĩ, hành động của trẻ, không nâng đỡ bồi dưỡng, thì
hứng thú của trẻ mất dần, các biểu hiện sau mờ dần và mầm mống năng khiếu
sẽ bị mai một, thui chột
Trang 17Tới cuối bậc phổ thông, các em học sinh thực sự có năng khiếu, ở độ tuổi
17, 18, đã bộc lộ rõ và được học trong các trường, lớp chuyên Nếu các em
được hướng nghiệp vào đại học (hoặc vào đời) phù hợp với năng khiếu, sở
trường của mình, thì các học sinh năng khiếu có nhiều cơ hội để được dao tạo,
bồi dưỡng thành người tài năng Do vậy, một nguyên tắc rất cơ bản là nhà
trường phổ thông phải tiến hành giáo dục toàn diện, để từng học sinh có điều
kiện và cơ hội bộc lộ năng khiếu, sở trường của mình, không bỏ sót bất kỳ một năng khiếu trên một lĩnh vực hoạt động nào, nhằm đáp ứng sự phân công lao
động xã hội
Giai đoạn xã hội
Đây là giai đoạn mà tài năng đã được xác lập, được thể hiện, được sử
dụng trong thực tiễn, mang lại kết quả, cống hiến cụ thể cho xã hội Trong giai đoạn này vai trò của môi trường vĩ mô có ảnh hưởng lớn tới việc xuất hiện các tài năng cũng như tới việc phát triển sức sáng tạo và sự công hiến tài năng của cộng đồng cũng như của mỗi con người
Trong giai đoạn này, tuy vai trò của môi trường vĩ mô rất quan trọng, nhưng vai trò chủ thể của con người tài năng rất lớn Nếu người tài năng thực
sự có bản lĩnh, phát hiện ra các vẫn đề không phù hợp với quy luật khách quan,
họ sẽ trung thực, từng bước đấu tranh, cải tạo môi trường và hoàn cảnh, nhằm công hiến tối đa năng lực trí tuệ sáng tạo của mình
Trong thời kỳ này, những người tài năng thường có tính tích cực, tính độc lập cao Họ lao động say mê sáng tạo, dám quyết đoán, có những giải pháp độc đáo Những đặc điểm đó cũng gắn với một số đặc điểm sinh lý - đi truyền ở mỗi con người, khi con người được hình thành và phát triển trong xã hội
Trong thực tiễn những người có tài năng có quá trình trưởng thành rất khác nhau Có một số nhà khoa học, công nghệ, chính khách, quản lý, lãnh
đạo xuất sắc, trở thành vĩ nhân, do được đào tạo có hệ thống trong nhà
trường Nhưng cũng có một số vĩ nhân nỗi bật lên trong quá trình đấu tranh lý luận, chính trị, vũ trang hoặc trong quá trình lao động sản suất, kinh doanh và
Trang 18Một nghiên cứu kéo dài 35 năm cho thấy để trở thành tài năng thì không
chỉ cần năng khiếu bẩm sinh Đó là sự kết hợp của khả năng nhận thức, cơ hội
học tập, niềm đam mê và sự chăm chỉ Nghiên cứu công bố trên tạp chí Perspectives on Psychological Science ngay 18/12/2006 đã theo dõi 5.000 học
sinh giỏi toán trong suốt cuộc đời của họ, bắt đầu từ tuổi 12 cho thấy sự thành
công được đo bằng:
- Số bằng sáng chế đạt được;
- Chức vụ nắm giữ tại trường đại học;
- Thu nhập, cùng một số yếu tố khác
Nghiên cứu cũng đã cho rằng: " năng khiếu toán học và một số năng
khiếu khác có một ảnh hưởng quan trọng, nhưng cơ hội học tập cùng với sự
quyết tâm đã thúc đẩy ưu thế này một cách sâu sắc", tác giả nghiên cứu David
Lubinski tại Đại học Vanderbilt, Mỹ, nói "Những tài năng này sẽ phát huy hết tác dụng khi nhận được sự hỗ trợ toàn diện và sự ủng hộ của cả giáo viên, cha mẹ và cộng đồng"
Mặc đù các nghiên cứu trước cho rằng không có sự khác biệt mấy giữa
các sinh viên hàng đầu, song Lubinski và cộng sự đã nghiên cứu và kết luận
Người đứng đầu thường có nhiều bằng sáng chế hơn, dễ có bằng tiến sĩ
hơn và có thu nhập cao hơn
Những đứa trẻ có tải bam sinh thường:
- Tiép thu nhanh hon;
i Bao điện tử cửa bao khuyến học và dan tri - Diễn dan Dân trí Việt Nam (22/12/2006 Theo M.T), Vnexpress/Tan Hoa X@
Trang 19- Cần một chương trình học tập đặc biệt dé phù hợp với tốc độ học của chúng nhằm tránh sự nhàm chán và tăng cường khả năng phát triển tối đa
Nhung sau cùng thì trẻ vẫn là những con người bình thường, có điểm mạnh,
điểm yếu, sở thích và cá tính riêng, không nên coi là dạng hoàn hảo tuyệt đối
Tóm lại, để học sinh năng khiếu có thể trở thành tài năng cần có sự gắn
bó chặt chẽ giữa các khâu: phát hiện - tuyển chọn - đào tạo - sử dụng Nếu như
phát hiện và tuyển chọn có thể tìm và lựa chọn đúng học sinh có mầm mống
năng khiếu thì đào tạo góp phần nuôi dưỡng và phát triển năng lực đặc biệt của các em và những giải pháp sử dụng đúng đắn sẽ giúp các em thể hiện năng khiếu và tài năng của mình trong từng công việc và hoạt động nhất định Mặt
khác, kết hợp đồng bộ giữa đào tạo và sử dụng sẽ thu hút và khuyến khích sự
đóng góp tài năng của học sinh năng khiếu và tài năng đối với xã hội
Bồi dưỡng học sinh năng khiếu và tài năng xét từ góc độ Tâm lý học
Mỗi cá nhân đều trải qua thời kỳ học tập để trang bị kiến thức và sau đó
tham gia vào thị trường lao động, có một nghề nghiệp nhất định Kiến thức và năng lực của cá nhân và sự phát triển nghề nghiệp có mỗi quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Học sinh năng khiếu và tài năng không nằm ngoài mối quan hệ này, tuy nhiên các em có nhiều đặc điểm riêng biệt Philip A Perron,” Dai hoc
Wisconsin, My da tién hanh nghiên cứu của mình trong 13 năm về sự phát
triển của học sinh năng khiếu và tài năng từ khi các em còn học tập ở trường trung học đến khi các em có việc làm sau khi tốt nghiệp đại học Công trình này
đã tìm ra những đặc điểm riêng, khá điển hình của nhóm học sinh này trong mối quan hệ giữa học tập và công việc từ đó đưa ra một số chỉ dẫn nhằm kết
hợp hiệu quả giữa đào tạo và sử dụng học sinh năng khiếu và tải năng
Theo Philip A Perron, mỗi cá nhân có khả năng và thiên hướng lựa chọn
một trong sáu loại công việc sau:
Trang 20- _ Nghiên cứu, khám phá (Investigative): Gồm những công việc đòi hỏi sự quan sát, tìm tòi và sáng tạo Một số lĩnh vực liên quan có thể là Vật lý, Sinh học, hoặc nghiên cứu văn hoá, khoa học xã hội
- _ Nghệ thuật (Artistic): Gồm những công việc đòi hỏi sự tự do sáng tạo, sử
dụng những phương thức biểu cảm của con người để sáng tạo ra những
loại hình nghệ thuật
- _ Xã hội (Social): Gồm những công việc yêu cầu khả năng về đào tạo, trợ
giúp, hoặc giảng dạy
- _ Kinh doanh (Enterprising): Gồm những công việc đòi hỏi khả năng điều
hành tổ chức hoặc cá nhân, nhằm đạt mục đích đã đề ra
- Chính thông (Conventional): Gém những công việc đòi hỏi các hoạt động cụ thể theo trình tự về số liệu, dữ liệu hoặc các sự kiện cụ thể
- Thực tiễn (Realistic): gồm những công vệc đòi hỏi khá năng làm việc với công việc kỹ thuật mang tính kỷ luật và tư duy khoa học
Trong thời kỳ chuyển giao từ ghế nhà trường phổ thông (THPT) sang các
trường cao đẳng và đại học, để từ đó tham gia trực tiếp vào thị trường lao động
HS năng khiếu và tài năng thường gặp những khó khăn nhất định Nguyên nhân của vấn đề này trước hết là do sự khác biệt về đặc điểm tâm lý và nhận thức
của HS năng khiếu và tài năng so với những HS khác Sự khác biệt đó là:
- _ Nhận thức khá rõ rệt về bản thân
- - Có nhu cầu mạnh mẽ về sự cải thiện và nâng cao năng lực bản thân
- Có mong muốn rõ rệt gần như mang tính bẩm sinh về việc tạo ra ảnh
hướng nhất định đối với xã hội
- _ Sẵn sàng chấp nhận rủi ro và theo đuổi không mệt mỏi mục đích dé ra;
- _ Xu hướng nghề nghiệp (hoặc kiến thức thuộc một lĩnh vực nghề nghiệp
nhất định) thường biểu hiện khá sớm từ khi ngồi trên ghế nhà trường,
song các em thường không tự nhận thức rõ điều đó
Trang 21-_ Nhận thức rõ, có xu hướng tự lựa chọn hoặc quyết định tương lai bản thân
Những đặc điểm tâm lý này của HS năng khiếu và tài năng vừa là thế mạnh đồng thời là khó khăn và thách thức đối với các em khi đối mặt với vô số
cơ hội lựa chọn nghề nghiệp Với năng lực vượt trội và khả năng nhận thức vốn
có, cơ hội nghề nghiệp của các em là rất lớn, đôi khi các em không thể ra quyết định thật nhanh chóng và chính xác Lúc này, vai trò của cha mẹ và thầy cô
giáo, với tư cách là những người tư vấn sẽ giúp các em định hướng và đưa ra quyết định cuối cùng về nghề nghiệp (hoặc về các trường đại học và chuyên ngành mà các em sẽ theo học sau khi tốt nghiệp trung học) HS năng khiếu và tài năng thường đặt ra cho mình những kỳ vọng lớn lao đồng thời vốn có trách
nhiệm rất lớn đối với xã hội Nếu các nhà giáo dục hiểu đúng và khai thác hiệu
quả đặc điểm tâm lý này của các em thì sẽ khuyến khích được sự đóng góp to lớn của các em đôi với xã hội khi các em tham gia vào thị trường lao động
II KHÁI QUÁT VẺ HỌC SINH ĐOẠT GIẢI OLIMPIC QUỐC TẾ
Đặc điểm của học sinh đoạt giải quốc tế:
1 Tuyệt đại đa số theo học các lớp chuyên, năng khiếu từ các cấp học phổ thông Có năng khiếu, say mê học tập, đạt được thành tích cao trong một
môn học nhất định (Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Tin học, Tiếng Nga)
2 Tiếp thu tốt các đợt bồi đưỡng, tập huấn học sinh giỏi Có tâm lý vững
vàng trong các kỳ thi Vượt qua các đợt thi chọn học sinh giỏi các cấp Đoạt
giải trong các kỳ thí Olympic quốc tế (Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Tin học, Tiếng Nga )
3 Có triển vọng hình thành tài năng trong lĩnh vực chuyên môn tương
ứng với môn học đã đoạt giải Olympic quốc tế
4 Đạt được thành tích trong học tập, nghiên cứu khoa học (đặc biệt trong
lĩnh vực chuyên sâu theo thiên hướng, năng khiếu của mình) và trong các lĩnh
Trang 22Với những đặc điểm này, học sinh (HS) đoạt giải quốc tế (QT) trước hết
là những em yêu thích, từ đó, có thiên hướng, năng khiếu nhất định về một môn học đó ở bậc THPT Những học sinh này không chỉ thể hiện khả năng tiềm tàng
trong các giờ học trên lớp mà đã thể hiện năng khiếu của mình bằng những
thành công nhất định trong các kỳ thi Olympic quốc tế
Trên thực tế, nhiều học sinh đoạt giải quốc tế hiện nay đã có những thành công trên các lĩnh vực khác nhau trong xã hội, đặc biệt là lĩnh vực theo thiên
hướng, năng khiếu của mình, trở thành những tài năng của đất nước
II KINH NGHIỆM QUOC TE VE BOI DUGNG VA SU DUNG
TAI NANG
1 Chi trong phat hién, tuyén chon, dao tạo và bôi dưỡng HSNK
Phát hiện, tuyển chọn, và đào tạo HSNK là những khâu đầu tiên nhằm
tìm ra và chọn đúng những HS có năng khiếu về một hoặc một số lĩnh vực, để
từ đó bồi dưỡng tài năng sau này Giải pháp này được nhiều nước chú trọng,
điển hình là Trung quốc, Hàn quốc, Mỹ Trung quốc chủ trương phát triển
hệ thống trường chuyên, lớp chọn ở các bậc học phố thông và đào tạo sinh viên tài năng ở các trường đại học dựa vào tải trợ của các chương trình hợp tác quốc
tế Thu hút và sử dụng sinh viên và cán bộ giỏi được xem như phương hướng chi đạo xuyên suốt của chiến lược bồi dưỡng nhân tài quốc gia
Giải pháp chiến lược về giáo dục HSNK của Hàn quốc dựa trên quan
điểm cho rằng sự bình quân hoá giáo dục làm cho những em có năng khiếu cùng học chung với học sinh phổ cập bị đồng hoá thành những nhóm đồng nhất
theo cùng một chương trình, một giáo viên làm cho việc phát hiện, đào tạo, bồi
dưỡng năng khiếu ít có hiệu quả Với cách làm cũ phải lên đến bậc cao trung
mới có điều kiện phát hiện được một nhóm nhỏ học sinh năng khiếu Theo
quan điểm đổi mới chiến lược đào tạo nhân tài, trẻ em có năng khiếu được coi
là một bộ phận không thé tach rời của tổng thể tài nguyên trí tuệ phát triển cao của dân tộc Bộ phận này rất cần thiết cho sự phát triển quốc gia Giáo dục
năng khiếu là con đường cần thiết và duy nhất để một dân tộc, quốc gia muốn tăng cường nhanh chóng tiềm năng xây dựng đất nước, phát triển mạnh về khoa
Trang 23học và công nghệ Giáo dục năng khiếu không chỉ đơn thuân là giáo đục một số
cá nhân mà nhằm phát hiện, bồi đưỡng và hoàn thiện cả một bộ phận lớn lớp trẻ có năng lực cao Những giải pháp nhằm phát hiện và đào tạo HSNK hiệu
quá gồm: phát hiện tài năng trẻ ở tất cả các bậc học, khuyến khích các công
trình nghiên cứu đặc biệt về vấn dé học sinh năng khiếu, học sinh tài năng được
lựa chọn dựa trên những chuẩn mực nhất định và đưa vào những chương trình
đặc biệt để phát triển năng lực cá nhân
Các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Đức không tiến hành bồi dưỡng tài
năng ở mọi HS mà phân loại HS theo chất lượng học tập, theo mức độ phát
triển trí tuệ rồi chỉ tiễn hành đảo tạo tài năng ở những HS có trí tuệ cao Trong
khi đó, ở Hoa kỳ, Canada, Nhật Bản và phần nảo ở Thụy Điền lại chủ trương
bồi dưỡng đào tạo tài năng cho đồng loạt tất cá HS, mọi HS ở những nước này đều có quyền lựa chọn cho riêng mình những chương trình học tập phù hợp với
hứng thú và năng lực của mình Trong thực tế thì đa số trẻ em có năng khiếu cao ở Hoa kỳ, Canada, Nhật Bản đang học không phải trong trường phố thông
đặc biệt mà là ở các trường bình thường, đại trà, nhưng không phải theo những
chương trình bắt buộc đồng loạt mà theo những chương trình có tính cá biệt rất
cao bằng sự bổ sung phong phú thêm nhờ hệ thông môn học tự chọn và nhờ nội dung có trình độ đại học Trường đại học ở Hoa kỳ, Canada, Nhật Bản có vai
trò rất quan trọng đối với chất lượng đảo tạo tài năng ở trường phổ thông Trường đại học đưa nội dung đề cao vào trường phổ thông và cấp chứng chỉ các môn để cao cho HS phổ thông tài năng Đại học Tổng hợp Giôn Hopkin, Đại học Tổng hợp Xiracua là những trường đại học điển hình cho những trường
đại học tổng hợp đảo tạo tài năng ở nước Hoa kỳ, họ đã thoả thuận đỡ đầu cho
80 co sở đào tạo tài năng ở các Bang New Mexico, New Jersey, Maxachuxet và Michigan
Theo théng tin cla ECHA, mét tổ chức chuyên nghiên cứu về đào tạo tài
năng thì từ những năm 1960, hệ thống trường chuyên đã ra đời ở Nga với
những môn học như Toán, Khoa học, Ngoại ngữ Năm 1996, chương trình
của Tổng thống mang tên “Trẻ em nước Nga” và “Trẻ em tài năng” bắt đầu
Trang 24hoạt động và chuyên đào tạo những "gà nòi”" giành giải trong các kỳ Olympic
quốc tế Các trường lớp tài năng thường tuyến chọn HS trên 3 tiêu chí: khả
năng học thuật cao hơn so với bạn bè cùng tuổi, sự sáng tạo và những tố chất
đặc biệt khác Để vào các trường lớp này, thông thường HS phải trải qua kỳ thi
tuyển với những môn thi khác nhau tuỳ trường Thậm chí, có trường sử dụng
yêu cầu phỏng vấn trực tiếp nhưng đôi khi là tham gia một trò chơi trí tuệ Chính phủ Nga có những chương trình đào tạo dải hơi dành cho các HS xuất
sắc Toản bộ 6 thí sinh của đoàn Nga tham dự IMO 2007 vừa qua tại VN đều là những tải năng được phát hiện và nuôi dưỡng từ cấp tiểu học
Ở các nước Châu Á ~ Thái Bình Dương, biện pháp đào tạo HS có năng
khiếu cao trong các trường đặc biệt rất được coi trọng Các trường THPT đặc
biệt như vậy được lập ra khá nhiều ở Trung Quốc, Malaysia, Philippine, Hàn
Quốc, Thái Lan và Việt Nam Các trường đặc biệt này không có chương trình
học riêng mà học theo chương trình đại trà của Bộ Giáo dục, các nước như Trung Quốc, Malaysia, Philippine, Thailand có các lớp đặc biệt (lớp chọn) ở trường tiểu học và trung học (THC8)
2 Đào tạo và đãi ngộ giáo viên giỏi
Trung quốc quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ giáo viên giỏi bằng cách ban
hành nhiều chính sách cụ thể hỗ trợ cho giáo viên Một trong số các chính sách
đó là Chính phủ Trung quốc sẽ đảm bảo đầy đủ chỗ ở cho tất cả các giáo viên
Để khuyến khích tài năng và đây mạnh nền giáo dục Trung quốc, từ năm 1991
đến 1996 đã có hơn 1,18 triệu căn hộ, tông diện tích trên 84 triệu m2 được xây
dựng với chi phí khoảng 48 tỉ nhân dân tệ (5,78 tỉ USD) dé cấp cho giáo viên
Kết quả là hiện nay nhà ở của giáo viên Trung quốc tính theo thu nhập bình
quân đã tăng từ 6,6m2 lên 8m2/người Từ năm 1999, hàng năm tuyển chọn 100 giáo viên trẻ dưới 35 tuổi có thành tích đạy học và nghiên cứu khoa học, coi
trọng va 5 nam liền mở rộng chế độ hỗ trợ họ triển khai công tác dạy học và nghiên cứu khoa học
Trang 25Hàn quốc rất quan tâm đến đội ngũ giáo viên đào tạo học sinh năng khiếu
trong đó chủ yếu là tăng cường hiểu biết của giáo viên về chuyên môn và
phương pháp giảng dạy học sinh năng khiếu, phát triển đào tạo tại chức để
nâng cao chất lượng giáo viên và hiểu biết của họ về học sinh năng khiếu Hỗ
trợ đào tạo học sinh năng khiếu: tuyển chọn học sinh giỏi từ các địa phương,
giáo viên được trao nhiều quyền tự chủ hơn trong tuyển chọn và đào tạo học
sinh năng khiếu, các thiết bị và các phương tiện học tập được đầu tư và đa dạng hoá Xây đựng hệ thống trường và chương trình giảng đạy cho học sinh năng khiếu nhằm bảo đảm cho sự phát triển nhanh chóng năng lực của cá nhân học sinh Cân nhắc và lựa chọn cách thức tập trung học sinh năng khiếu vào trường
riêng, lựa chọn hình thức, nội dung và phương pháp dạy học thêm cho học sinh
ngoài giờ lên lớp, mối liên hệ giữa nhà trường với các cơ sở nghiên cứu và các trường đại học Trên cơ sở đó xây dựng điều lệ đặc biệt cho các cơ sở giáo dục
học sinh năng khiếu Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia về nhiều mặt có
liên quan đến giáo dục năng khiếu (ví dụ: tâm lý giáo dục năng khiếu, tâm lý và
lý thuyết chân đoán, đánh giá kết quả giáo đục, phát triển nhân lực, chuyên gia
về chương trình, về phương pháp )
Theo các nhà nhân tài học thì người thây là nhân vật không thế thiếu
trong công tác bồi dưỡng đào tao tài năng Các nhà giáo dục tải năng ở Đức
cho rằng người thầy đào tạo bồi dưỡng tài năng cần có được những năng lực cụ
thê sau:
- _ Năng lực giáo dục nhu cầu và hứng thú trí tuệ ở HS, sinh viên;
-_ Biết cách khuyến khích sự phát triển nhu cầu của HS trong công việc
và trong xã hội;
- _ Năng lực hình thành xúc cảm và trí tưởng tượng bay bỗng ở HS để họ
xây những ước mơ lớn, đưa ra những giả định, giải pháp lớn;
-_ Năng lực giáo dục tính kiên nhẫn và lòng ham muốn hoạt động tỉnh
thần cũng như lao động nghề nghiệp Tài năng thiên bẩm là rất hiếm
hoi, tài năng do tự rèn đúc mới là đa số, nó đòi hỏi phải làm việc căng
Trang 26sau:
thẳng, cần cù, tập trung cao độ Edison đã có lý khi nói “thiên tài là
cần cù”;
Năng lực giáo dục năng lực cộng tác ở HS, sinh viên
Năng lực giáo dục năng lực trí tuệ ở HS, sinh viên
Năng lực tô chức những yêu cầu tăng dần đối với HS, sinh viên; Năng lực gợi mở, hình thành hướng phát triển của từng HS, sinh viên
Người thầy đào tạo tài năng phải có phương pháp phong cách sư phạm
Thây giáo hoạt động như người giúp đỡ, hỗ trợ động viên HS, sinh viên làm sáng tỏ các tri thức, kinh nghiệm mà không đơn thuần là người truyền đạt thông tin, phổ biến kinh nghiệm hay luyện kỹ năng
Thầy giáo chấp nhận những phương pháp dạy như khám phá, thảo luận, hoạt động theo nhóm, nhập vai, hội thảo, nghiên cứu cá nhân
là những phương pháp phù hợp với đặc điểm của HS, sinh viên do đó
đem lại kết quả đào tạo cao hơn cho dù bản thân người thầy tốn nhiều
thời gian và sức lực hơn;
Thầy giáo luôn tim cách đặt ra những nhiêm vụ có tính thử thách, tạo
ra những tình huống vấn đề mà giải quyết nó đòi hỏi điều tra, đánh
giá, phê phán một cách cần thận tỷ mỹ;
Những bài giảng, hướng dẫn của thầy giáo luôn gợi mở những ý kiến
và làm nảy sinh những câu hỏi mới ở HS, sinh viên có năng khiếu cao;
Dùng các phương tiện truyền thông, công nghệ thông tin hiện đại để
mô tá, trình bày các ý kiến, nội dung bài học;
Sử dụng các thí nghiệm, các buổi trình diễn trong giảng dạy hay
luyện tập Tạo cơ hội để HS, sinh viên giải quyết vấn đề đặt ra với kết quả mở;
Trang 27- Khuyén khich ky nang hoc va dé cao phuong phap ty hoc;
- Thay giáo chấp nhận nhiều giải pháp trong giải quyết một vấn đề
Không định hướng tư duy của người học chỉ vào cách giải quyết vấn
đề của thầy, trong khi vẫn đề cao tư duy logic;
-_ Động viên, kích thích tính tò mò phát hiện và tinh thần học hỏi không ngừng đồng thời coi trọng tính trung thực và khách quan trong quan sát thực tiễn;
-_ Tôn trọng lòng tự trọng của HS và giúp đỡ họ giữ gìn lòng tự trọng trong mọi hoàn cảnh
3 Có chính sách thu hút những sinh viên du học nước ngoài VỀ nước công tác
Trung quốc tiếp tục chính sách cử cán bộ đi tham quan học tập nâng cao
trình độ và trao đối học thuật tại các trường đai học hàng đầu ở nước ngoài với chủ đích rõ ràng Khuyến khích cán bộ lưu học sinh về nước phục vụ Cùng với
việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, Chính phủ áp dụng chính sách buộc những người không chịu về nước phải bồi thường tiền học Do đó, tỉ lệ sinh viên du
học trở về nước ngày càng cao trong vòng mười năm gần đây Theo thống kê
sơ bộ, trong 18 năm qua, hơn 270 nghìn sinh viên Trung quốc được ra nước ngoài học tập Cho đến nay 90 nghìn người trong số đó đã về nước nhận công tác Trong số 130 nghìn sinh viên đi học tự túc ở nước ngoài nhưng chỉ có 4
nghìn trong số đó trở về nước Nhưng trong số 44 nghìn người du học theo học bổng của Chính phủ thì có 37 nghìn người đã về nước nhận công tác
Gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều chính sách nhằm tăng
cường thu hút thêm những sinh viên đi du học và cả các chuyên gia đã làm việc lâu năm ở hải ngoại về nước làm việc Tại khu công nghệ cao Trung Quang
Thôn ở ngoại vi Bắc Kinh, những trí thức trở về sẽ được cấp một khoản tiền
tương đương với 10.000 USD nếu muốn mở công ty tại khu công nghệ cao này Các công ty của những người Trung Quốc đi du học trở về cũng được hưởng
ưu đãi, như được bảo đám về tín dụng để vay số tiền một triệu USD từ ngân
Trang 28hàng Đến nay, khoảng 7.000 người đi du học đã quay về để sống và làm việc
tại khu công nghệ này và thành lập ra 3.200 công ty
Chính quyền ở nhiều địa phương của Trung Quốc cũng ra sức cạnh tranh
với nhau để thu hút được nhiều người đi du học trở về với địa phương mình Các thành phố Trung Quốc đã đặt ra nhiều ưu đãi về nhà ở, lương bổng, trường
quốc tế làm chỗ học cho con họ, và các đặc khu đảnh riêng cho những trí thức người Hoa trở về lập công ty tại đó
Trong những năm đầu của thập kỷ 90 (thế kỷ 20), Chính phủ Hàn quốc
đã tiến hành xây dựng nhiều chương trình hành động cụ thể để thực thi chiến
lược về đào tạo tài năng như Sau:
- Trao đỗi các nhà khoa học theo các thoả thuận song phương với các nước
và các tổ chức quốc tế,
- Cử sinh viên đi học tập ở nước ngoài nhằm khai thác những tri thức tiên
tiến về công nghệ và văn hoá của các nước ˆ
- Hỗ trợ các nhà khoa học và sinh viên nước ngoài tham gia nghiên cứu và
học tập trong những hoạt động có liên quan tới khoa Hàn quốc học
- Đây mạnh sự trao đổi học thuật giữa các quốc gia thông qua việc gửi các
giáo sư và các học giả của Hàn quốc ra nước ngoài và mời các học giả nứơc ngoài đến Hàn quốc
Chính phủ Hàn quốc đã trao đổi hợp tác về giáo dục với 58 nước Để thực hiện chủ trương cho đi học tập ở nước ngoài, Chính phủ đã cho phép ngay cả
những học sinh mới tốt nghiệp cao trung được đi du học sau khi đã trải qua một
kỳ thi kiểm tra chất lượng theo chế độ tự trang trải Tính đến năm 1994, có
28.895 sinh viên Hàn quốc học tập ở 51 nước trên thế giới
4 Tin dùng, trọng dụng, hậu đãi người tài
Một trong những nước có chính sách tin dùng những tài năng trẻ là Cộng
hoà liên bang Đức Ở nước này, gần đây nhà nước đặt ra một học hàm mới
“Juniorprofessor” để phong tặng những người trẻ tuổi bảo vệ xuất sắc luận án
Trang 29tiến sĩ chuyên ngành (Ph.D) và giao cho họ lãnh đạo nghiên cứu những chuyên ngành mới mỗi nhọn Sự tin dùng như vậy có ý nghĩa thúc đây, động viên các tài năng trẻ cống hiến cho xã hội
Chính sách “chọn được một thì bổ nhiệm một” của Trung quốc nhằm
chú trọng đào tạo và sử dụng vào những sinh viên và cán bộ giỏi có phẩm chất
lãnh đạo: Theo “Kế hoạch hành động chấn hưng giáo duc thé ky 21 ” thi TQ
cần thực hiện “Công trình nhân tài sáng tạo bậc cao”, tích cực tham gia xây
dựng hệ thống sáng tạo của Nhà nước Trường đại học phải theo sát diễn biến
học thuật quốc tế, trở thành cơ sở sáng tạo tri thức và đào tạo nhân tài sáng tạo
bậc cao Coi trọng bồi dưỡng tỉnh thần đoàn kết, hợp tác, cống hiến của nhân
tài sáng tạo bậc cao Thu hút những người đầu đàn xuất sắc về học thuật, có
khả năng lãnh đạo nhà trường
Trong các ngành học trọng điểm của đại học trên cả nước, đặt ra một loạt cương vị giáo sư đặc cách, công khai thu hút các nhà khoa học trẻ tuổi, trung niên, đặc biệt xuất sắc trong và ngoài nước về đảm nhận các cương vị lãnh đạo trong nhà trường Hàng năm tuyển chọn những luận văn tiến sĩ xuất sắc có trình độ sáng tạo để trao các giải thưởng Đối với các tiến sĩ đoạt giải thưởng và được giữ lại trường công tác, được hỗ trợ liên tục 5 năm liền trong công tác nghiên cứu khoa học và dạy học
Ở Mỹ, ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ II, năm 1954, trong báo cáo
“Về dự trữ tài năng Hoa Kỷ” của chính phủ Liên bang đã đặc biệt nhắn mạnh:
“Sự tiến bộ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, sức mạnh về quân sự, kinh tế của
đất nước phụ thuộc trực tiếp và trước hết vào bộ phận công dân Mỹ làm việc
bằng đầu óc chứ không phải bằng chân tay” Năm 1958, Quốc hội Mỹ đã thông
qua “Đạo luật về giáo dục và phục vụ quốc phòng” Trong điều 1 của luật này
đã ghi: “Không một sinh viên tài năng nào phải bỏ học đại học vì thiếu tiền chỉ
phi cho học tập” Luật đã có những quy định hỗ trợ những sinh viên tai năng
học tập nhằm mục đích để Hoa Kỳ có vị trí dẫn đầu trong khoa học, công nghệ
và quốc phòng
Trang 30Các nước phát triển hàng đầu hiện nay cũng chính là những nước có
chính sách rất tốt đối với tài năng Họ hậu đãi người tài ngay từ khi phát hiện,
trong quá trình đảo tạo cho đến khi trở thành tài năng Đang có không ít quốc gia chào mời nhân tài từ nước khác với những hứa hẹn hậu đãi hấp dẫn Đãi ngộ nhân tài cũng là con đường biện pháp giữ gìn kho báu tải năng của các
quốc gia nhìn xa trông rộng
5 Đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực
Nhật bản là quốc gia đặc biệt quan tâm đến đào tạo theo chủ đích và sử
dụng người tài cho quốc gia Nhật bản chủ trương phát triển giáo dục một cách
thực chất, quan tâm tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, đồng thời tuyển
chọn thi cử nghiêm ngặt, thực hiện chiến lược nhân tài nhập nội trí tuệ, gắn đại
học với yêu cầu phát triển kinh tế và đời sống ở từng địa phương và trên toan
quốc, coi trọng kỹ thuật và nhập nội công nghệ, đồng thời đây mạnh xuất khẩu
các mặt hàng có giá trị cao Nhật bản không chủ trương xây dựng trường, lớp riêng để đào tạo, bồi dưỡng học sinh năng khiếu nhưng đã buộc học sinh Nhật
phải đầu tư, phải phát triển năng khiếu, tài năng của mình thông qua các kì thi,
kiểm tra ở các bậc học phổ thông, và thi tuyển vào các trường đại học mang
tính cạnh tranh cao
Học sinh trung học Nhật bản thi tuyển và được vào các trường đại học có
uy tín này sẽ có cơ hội lựa chọn nghề nghiệp tốt Mặt khác, do các chính sách
khuyến khích của Nhà nước nên nếu có học vấn đại học, mà lại tốt nghiệp từ
các trường đại học lớn có uy tín thì thường được tuyển lựa vào cơ quan Nhà nước, được giữ lại giảng dạy ở các trường đại học, hoặc làm việc trong các
công ty có uy tín nên nền giáo dục phổ thông của Nhật, nhất là từ trung học trở
lên, đã luôn luôn có tính cạnh tranh cao Kết quả kiểm tra bắt buộc với mọi thí
sinh và kết quả học tập ở trường THPT được gửi về trường đại học, cao đẳng
mà thí sinh muốn thi vào Với một số trường đại học có uy tín, thí sinh còn phải
qua một kì thi tuyển do từng trường đại học tổ chức Như vậy các học sinh giỏi
thường đựợc tuyển vào các trường đại học có uy tín của Nhật bản
Trang 31Giáo dục đại học của Nhật bán chú trọng đào tạo các tài năng về khoa
học ứng dụng, thường chỉ cần có trình độ đại học song có vốn kiến thức về
công nghệ ứng dụng bậc cao rộng và chuyên sâu theo thiên hướng, sở trường
của mình Khi tham gia vào thị trường lao động, nơi nhận sẽ có kế hoạch đào
tạo thêm, chuyên sâu hơn phù hợp với phương hướng sản xuất, kinh doanh của công ty Điều đó thường mang lại chất lượng, hiệu quả cao, đáp ứng đúng yêu cầu của nơi sử dụng Chính vì vậy, ngân sách dành cho đào tạo tại chức chiếm
tỉ trọng khá lớn, nhằm hỗ trợ người lao động thường xuyên nâng cao trình độ,
thích ứng nhanh với kĩ thuật, công nghệ mới của các công ty, xí nghiệp ở Nhật Việc đào tạo, bồi dưỡng tại công ty, xí nghiệp ở Nhật đóng vai trò quan trọng trong xã hội Nhật
Chính phủ Nhật đã sớm chủ trương phổ cập giáo dục bắt buộc, từng
bước nâng cao trình độ dân trí cho toàn dân, đồng thời sớm quan tâm đến giáo dục nghề nghiệp, phổ cập giáo dục kỹ thuật, công nghệ
IV KINH NGHIEM BOI DƯỠNG, SU DUNG, DAI NGO NGƯỜI
TAI CUA ONG CHA TA
Quan niệm
- Dân tộc Việt Nam có nhiều người tài, có truyền thống kính trọng người
tài Từ sau ngày Vua Hùng đựng nước, lịch sử Việt Nam đã ghi công nhiều
người tài năng Trong suốt các triều đại lớn (Ngô, Đỉnh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn) và nhất là từ thời Nhà Lý trở đi, tổ tiên ta đã quan tâm tới các khâu
trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân tài Lý Thường Kiệt đã động viên các dân tộc Việt Nam tự hào về truyền thống dân tộc, chăm sóc và đào tạo, bồi dưỡng tài năng để xây dựng và giữ gìn đất nước
- Người tài xuất hiện trên mọi lĩnh vực: Văn (trong đó có văn hoá, giáo dục, pháp luật, ngoại giao, y được ), võ (quốc phòng, an nỉnh ), nghệ thuật
(thủ công mỹ nghệ, hội hoạ, âm nhạc )
Trang 32- Hào kiệt không bao giờ thiếu (Bình Ngô Đại Cáo) Ong cha ta luôn cho
rằng "Nhân tài sinh ra ở mọi nơi, ở tỉnh thành lớn tới các hương thôn nhỏ
hẹp "
- Người tài nằm trong tất cả các tầng lớp xã hội Bia Tiến sĩ (1763) ghỉ:
"Có người là con em nhà hào khanh tuần kiệt, lại có người là con em các gia đình han vi thôn da "°
1 Phát hiện và tuyển chọn người tài
Với quan niệm đúng đắn như trên, ông cha ta đã có nhiều hình thức
phong phú để phát hiện và lựa chọn người tài như:
+ Lựa chọn tài năng đa dạng (văn, võ, ngoại giao, thầy thuốc, nghệ
nhân ) qua các cuộc thi, biểu diễn;
+ Sử dụng hình thức tiến cử, tự tiến cử, kết hợp giữa tự tiến cử và tiến cử;
+ Tuyển dụng người tài thông qua các khoa thi
Kẻ từ khoa thỉ Nho học đầu tiên 1075, Nhà Lý thành lập Quốc Tử Giám (1076) - một kiểu trường đại học quốc lập đầu tiên ở nước ta Bắt đầu từ đây trở
đi, trường lớp dần mở rộng Thời Trần, năm 1253 Trần Thái Tông (1225-1293)
lập Quốc học viện để giảng dạy tứ thư ngũ kinh và giảng võ đường để luyện tập
võ nghệ Triều đình đã cho mở học đường bên Hữu Phủ để tập hợp văn võ 4
phương, cấp cho ăn mặc, để được học tập, đào tạo thành tài Năm 1397, hệ thống trường phát triển, ở Lộ có quan Đốc học, ở Phủ, Châu có quan Giáo thụ
Họ được hưởng bổng lộc, ruộng đất để chăm lo việc học tập cho dân
Thời Nhà Nguyễn, vua Gia Long lập nhà Quốc học Huế và Khuê Văn
Các Năm 1805, cho lập giảng đường, dựng 2 học xá ở 2 bên tả hữu, và cấp
lương bổng cho các giám sinh để họ theo dõi việc học tập ở kinh đô Huế Đáng chú ý là để làm nền, làm hậu thuẫn cho việc đào tạo nhân tài còn có một hệ
3 Con nha giàu như: Lê Lợi, nông dân nghèo như Nguyễn Chích, sĩ phu yêu nước như: Nguyễn Trãi, quý tộc như: Trần Nguyên Hãn,
thương nhân như: Nguyễn Xi, người thiểu số như: Lễ Lai
Trang 33thống trường, lớp tư được khuyến khích mở rộng rãi khắp nơi Việc tổ chức thi
Hương chính là tuyển chọn số học sinh ưu tú của các trường lớp này
Có thể nói việc đào tạo nhân tài bắt đầu có hệ thống từ thời Nhà Lý, và góp phần phát hiện, tuyển chọn, đào tạo được nhiều tài năng cho đất nước
Nhưng trong thực tiễn, rất nhiều tài năng, nhất là tải năng trong quân sự, trong
các ngành nghề truyền thống, không hắn chi do đào tạo bài bản, có hệ thống trong trường học, mà một số khá đông tải năng, được đào tạo theo kiểu đìu dắt,
kèm cặp và được rèn luyện, trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh, lao động
và hoạt động chính trị xã hội
Những tài năng tiêu biểu của đất nước thường đại diện xứng đáng cho
truyền thống dân tộc Việt Nam Dù được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều cách, nhưng những tài năng tiêu biểu thì vừa có tài, vừa có đức, rất sáng tạo và giàu
tính nhân văn Dù nguồn gốc xuất thân thế nào, họ đều có tư tưởng tiến bộ, có
năng lực tổ chức, động viên, phát huy được sức mạnh đông đảo của quần
chúng, tạo nên những kỳ tích và những chiến công hiển hách trong lịch sử dân
tộc
2 Bằi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ tài năng
Trong các khâu phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng tài năng, tổ tiên ta đã
rất quan tâm, đã có nhiều hình thức, biện pháp phong phú Nhưng khâu thành
công nhất, mả do đó, đã mang lại những kỳ tích trong lịch sử là khâu sử dụng
người tài Trong suốt các thời đại, những người lãnh đạo đều hết sức quý trọng những người tải năng Khi đã phát hiện ra, và khi đã tạo dựng được một đội ngũ những người tài giỏi trên các lĩnh vực khác nhau: chính trị, quân sự, kinh
tế, ngoại giao, văn hoá nghệ thuật , ông cha ta đã áp dụng những chính sách, chế độ hết sức rộng rãi, đúng đắn để phát huy năng lực của những người tài năng
Trước hết là bố nhiệm những người tài năng vào những vị trí xã hội phù hợp với học vấn, tài năng của từng người Nguyên tắc thông thường là: có học
vị cao và thi đỗ cao thì được bổ nhiệm trước, được nhận chức cao, và được làm
Trang 34việc ở triều đình; có học vị thấp và thi đỗ thấp thì được bổ nhiệm sau, được làm
quan ở Phủ, huyện
Chế độ đãi ngộ tài năng
Trong suốt các triều đại, tổ tiên ta đã gắn chính sách sử dụng với chính sách bồi dưỡng, đãi ngộ tài năng bằng nhiều hình thức rất phong phú, đa dạng
- Đãi ngộ chu đáo ngay sau khi phát hiện, tuyển chọn người tài: Ngay từ thời Nhà Lý, sau khi thi Hội, thi Đình, các tân trạng nguyên cũng như tiến sĩ đều được nhà vua rất quý trọng và đối xử chu đáo Theo Lê Quý Đôn, thì với
Nhà Lê "Những người đỗ khoa tiến sĩ được triều đình đãi ngộ rất hậu và bổ
nhiệm rat cao”
- Bổ nhiệm những người tài năng vào những vị trí sứng đáng và thường
xuyên “khảo hạch” để bồi dưỡng, đãi ngộ phù hợp Hầu hết những người đỗ
trạng nguyên, tiến sĩ đều được các triều đình trọng dụng, bỗ nhiệm vào những
chức vụ phủ hợp (Thị lang, thượng thư, tễ tướng của triều đình)
- Gắn liền với chính sách bổ nhiệm, sử dụng là chính sách “khảo hạch”
dé sử dụng, bồi dưỡng người tài: Ngay từ thời Nhà Lý, sau khi được bố nhiệm,
các quan lại thường xuyên được khảo sát về nhân cách và khả năng công tác để
có chính sách bồi dưỡng, đãi ngộ thích đáng Đây là cách đánh giá, phân loại
khả năng quan lại, từ đó mà trao chức vụ để sử dụng cho thích hợp Việc đánh
giá khảo sát này không chỉ dựa vào chức danh, học vị qua khoa cử, mả còn căn
cứ vào tài, đức, vào các kết quả đạt được trong thực tiễn Trên thực tế, chính sách này là một trong những biện pháp nhằm tăng cường sức mạnh của bộ máy nhà nước; Kích thích sự bồi đưỡng, rèn luyện về tài năng, đức độ của đội ngũ quan lại nói chung và đội ngũ những người tài năng nói riêng Với hình
thức tuyên chọn qua thi cử, kết hợp với hình thức khảo hạch thường lệ, các đời Nhà Lý, Nhà Trần đã phát huy được đội ngũ những người có tài Như vậy, việc
áp dụng chế độ khảo hạch sau một thời kỳ nhậm chức là một chính sách được
sử dụng hữu hiệu có tác dụng kích thích việc phát huy và cống hiến tài năng,
góp phan lam cho dat nước thịnh vượng
34
Trang 35- Đãi ngộ những người tài giỏi bằng chính sách lương bồng rất hậu Từ thời Nhà Lý về trước, tuy tổ tiên ta rất trọng đụng nhân tài nhưng chính sách
lương bỗng vẫn chưa rõ ràng” Đến thời Nhà Trần, chế độ đãi ngộ quan lại bằng
lương bổng đã thành hệ thống” Thời Lê, hrơng bổng của hàng ngũ quan lại được nhà nước cấp theo tước phẩm cao thấp Thời Nhà Nguyễn, lương bổng
được quy ra tiền và thóc, chế độ lương điền và quân điển, được cấp tuỳ theo chức vụ cao thấp
- Sử dụng chế độ thưởng phạt rất nghiêm minh dé phát huy tài năng
Để động viên, khuyến khích những người tài năng nói riêng, và các quan lại nói chung hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao phó, đồng thời để nghiêm
trị những người lợi dụng địa vị, ức hiếp cấp dưới, bỏ bễ công việc, tham nhũng,
ăn hối lộ, các triều đại đều áp dụng chế độ thưởng, phạt rất nghiêm khắc, trên
tất cả các lĩnh vực: chính trị quân sự, kinh tế, văn hoá, giáo dục, xã
hội " Thưởng phạt, khuyên răn là việc lớn của nhà nước: nếu không thưởng
phạt cho rõ ràng thì người mẫn cán lấy gì mà khuyến khích, người lười biếng lấy gì mà sợ hãi, nếu không nghiêm sẽ dẫn đến kẻ gian ác chậm bị giết, người
không có tội sẽ bị hoạ lây"ế
+ Về chế độ thưởng: Ngoài các chế độ đãi ngộ như đã kẻ trên, ngay từ thời kỳ Lý - Trần, tổ tiên ta đã có nhiều hình thức ban thưởng rất phong phú” Việc phong chức, ban tặng là hình thức được nhiều vương triều sử dụng
Đối với người tài còn có chế độ thưởng và chế độ đãi ngộ đặc biệt trong
nhiều thời đại, các vua chúa đã rất tôn trọng người tài và đã dùng một số chế độ đãi ngộ đặc biệt với những người thực sự có tài năng
+ Về chế độ phạt: song song với chế độ thưởng, nhiều nhà vua đã sử
dụng các hình thức phạt rất nghiêm khắc để quan lại nói chung và người tài năng nói riêng, phải trung thành, thanh liêm, chính trực
` Dưới triều Lý, các quan không có lương bổng, chỉ được Vưa ban thưởng hoặc được giao phó cho dân một vủng để thu thuế ruộng đát ma
tự cung, tự cập
Ÿ Thời Trần Thánh Tông định lệ cắp lương bằng cho các quan bằng tiễn, ban theo thứ bậc
Š Định lệ thưởng phạt đồi với quan lại thời Nguyễn
7 Nam 1051, Ly Thái Tông đã định: " sau mỗi chiến công, những người có tải năng được trọng thưởng, phong chức " Thời Tran quy định: những tướng nào xông lên phá trận giặc, lập kỳ công, hoặc những quan thanh liêm có công trạng được Vua cho ghi chép vào Tập Trung Hưng thực lục để phi lại Thời Lê - Trịnh, chế độ cho người tài tắt phong phú Những người tài giỏi, thẳng thăn, công mính, khi
Trang 36B NGHIEN CUU THUC TRANG
L KHAI QUAT VE CAC KY THI OLYMPIC QUOC TE
Olympic quốc tế dành cho học sinh (HS) trưng học phổ thông ở tất cả
các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, được tổ chức mỗi năm một lần Mục
đích các kỳ thi Olympic quốc tế là:
- Chọn lọc học sinh giỏi quốc tế;
- Trao đổi kinh nghiệm giữa các giáo viên giảng dạy bộ môn
- Giao lưu, tăng cường tình hữu nghị giữa học sinh, giáo viên các nước
tham dự Olympic quốc tế;
Năm 1974 lần đầu tiên Việt Nam tham đự Olympic quốc tế toán học Từ
đó đến nay, tổng số HS Việt Nam tham dự các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế và khu vực là 532 người, trong đó có 484 học sinh dự thi quốc tế Số học sinh đoạt
giải là 442 người, đạt tý lệ 84,7% Trong đó, đoạt huy chương vàng là 99 người, đoạt huy chương bạc là 147 người, đoạt huy chương đồng là 170 người
và đoạt bằng khen là 26 người
Việt Nam đã tham đự các kỳ thi Olympic quốc tế như sau:
- Toán học (tham dự lần đầu vào năm 1974), tính đến nay đã tham dự 30
kỳ thi
- Vật lý (1981), tính đến nay đã tham đự 21 kỳ thi
- Tin học (1989), tính đến nay đã tham dự 18 kỳ thi
- Hoá học (1996), tính đến nay đã tham dự 11 kỳ thi
- Sinh học (1996), tính đến nay đã tham dự 9 kỳ thi
Năm 2006, Việt Nam cử 23 học sinh dự thi Olympic quốc tế các môn
Toán học, Vật lý, Hoá học, Sinh học và Tin học, cử 8 học sinh dy thi Olympic
Vật lý Châu Á Kết quả đã đoạt 27 giải với 4 huy chương vảng, 6 huy chương bạc, 16 huy chương đồng và 1 giải khuyến khích
Trang 37Năm 2007, Việt Nam đăng cai tô chức thi Olympic Toán quốc tế lần thứ
48 cả 6 học sinh đều đoạt giải với 3 huy chương vàng, 3 huy chương bạc
Năm 2008, Việt Nam sẽ đăng cai Olympic Vật lý quốc tế
Ngoài ra, Việt Nam còn tham dự thi Olympic Tiếng Nga từ năm 1981,
Olympic Vật lý khu vực Châu Á Thái Bình Dương từ năm 2000
Dưới đây giới thiệu đôi nét về Olympic quốc tế Toán học, Tin học, Vật
lý va Olympic Vat ly Chau A
Olympic Todn quéc té (International Mathematical Olympiad - IMO) ra
đời năm 1959 do sáng kiến của một nhà giáo Rumani Ban đầu chỉ như kỳ thi
của khu vực Đông Âu với 7 nước tham gia, hiện nay [MO trung bình hàng năm
có khoảng 90 quốc gia tham dự
Việt Nam đã tham gia 30 kỳ IMO, 10 lần lọt vào Top 5 Có 175 HS dự
thi, trong đó có 8 nit Doat 35 HCV, 73 HCB, 51 HCD 8 lần đạt điểm nhất tuyệt đối Kế từ lần đầu thi Olympic Toán quốc tế năm 1974, Việt Nam hầu như chưa lọt khỏi Top 10 Năm 2007, Việt Nam đăng cai IMO với 95 nước
tham dự, đoàn Việt Nam đạt kết quả cao nhất từ trước đến nay
Olympic Tìn học quốc tẾ (International Olympiad in Informatic - IO]) ra
đời năm 1989 do đề nghị của UNESCO IOI Ÿ là một kỳ thi tin học được tổ
chức hàng năm dành cho học sinh trung học (độ tuổi tương đương với học sinh lớp 11 và 12 ở Việt Nam) Kỳ thi đầu tiên có 13 nước tham dự, hiện tại IOI
thường thu hút hơn 70 nước Đến nay, Việt Nam tham gia trọn vẹn cả 17 kỳ
IOI
* Bach khoa toàn thư mở Wikipedia
Trang 38Kỳ thi gồm hai ngày lập trình trên may vi tinh, giải quyết các bài toán về
lĩnh vực thuật toán Học sinh dự thi theo thể thức cá nhân, mỗi nước có thể có
đến bốn thành viên tham gia Học sinh tham dự giải được lựa chọn thông qua
các kỳ thi HS giỏi tin học quốc gia Ví dụ, đội tuyến Việt Nam được lựa chọn dựa trên kết qủa kỳ thi HS giỏi tin học quốc gia thường được tổ chức vào tháng
năm hàng năm
Việt Nam là một trong số 13 nước thường xuyên có mặt tại các cuộc thi
Olympic tin học quốc tế kế từ khi cuộc thi được bắt đầu vào năm 1989.Thí sinh
Việt Nam tại các cuộc thi Olympic tin học đều đạt thành tích cao, Việt Nam thường xuyên đứng trong nhóm mười nước dẫn đầu tại các cuộc thi tin hoc
quốc tế Năm 1999 Việt Nam đứng thứ nhất toàn đoàn trong bảng tổng sắp huy
chương Trên binh diện Đông-Nam Á, Việt Nam được đánh giá là nước có đội tuyển tin học mạnh nhất Các nước Đông-Nam Á khác góp mặt tại Olympic tin
học có: Thái lan, Singapore, Philippines và Indonesia, nhưng không thường
xuyên
Olympic Vật lí quốc té (International Physical Olympiad - IPhO)
IPhO lần thứ nhất được tổ chức năm 1967 tại Ba Lan, với sự tham gia
của 5 nước: Ba Lan, Bungari, Tiệp Khắc, Rumani và Hunggari Đến kỳ thi lần thứ hai tổ chức năm 1968 ở Hunggari có thêm 3 nước nữa tham gia là Liên Xô, Cộng hoà Dân chủ Đức và Nam Tư Số nước và vùng lãnh thổ tham gia
Olympic tăng dẫn Kỳ thi lần thứ 12 tổ chức tại Bungari năm 1981 có 14 nước
tham gia Kỳ thi lần thứ 36 tại Tây Ban Nha có 72 nước và vùng lãnh thổ tham
gia Kỳ thi lần thứ 37 tổ chức tại Singapore có 82 nước và vùng lãnh thổ tham
gia Pháp tham gia từ năm 1972, sau vải năm tạm dừng, trở lại tham gia tiếp từ
năm 2004 Cộng hoà Liên bang Đức tham gia từ 1974, Phần Lan, Thuy Điển từ
1979; Trung quốc và Mỹ từ năm 1986; Peru từ 2005; Nhật, Gióc-đa-ni từ
2006
Lan dau tiên, Việt Nam tham gia IPhO năm 1981 Đây là IPhO lần thứ
12 tổ chức ở Bungari Từ năm 1981 đến nay Việt Nam tham gia khá đều đặn,
Trang 39chỉ có 3 kỳ thi không tham gia là: kỳ thi lần thứ 17 tổ chức ở Anh năm 1986;
kỳ thi lần thứ 20 tổ chức ở Ba Lan năm 1989; kỳ thi lần thứ 22 tổ chức ở Cu Ba
năm 1991
Trong 23 lần tham dự IPhO, Việt Nam có 113 học sinh tham dự, trong
đó có 80 học sinh đoạt giải, với 5 huy chương vàng, 20 huy chương bạc, 38 huy chương đồng và 17 bằng khen Đặc biệt, năm 2002 tại kỳ thi lần thứ 33 ở Indonesia c6é một học sinh Việt Nam (em Đặng Ngọc Dương, học sinh lớp 12
khối chuyên vật lí, ĐHKHTN, ĐHQG Hà Nội) đạt điểm cao nhất của kỳ thi (thủ khoa) Năm 2007, IPhO tổ chức tại Iran, năm 2008 sẽ tô chức tại Việt
Nam
Olympic Vật lí Châu A (Asian Physical Olympiad - APhO)
Olympic Vật lí Châu Á có nguồn gốc từ Olympic Vật lí quốc tế (IPhO)
Năm 1999, tại kì thi Olympic Vật lí quốc tế lần thứ 30 ở Italia, ông
Yohan Surya, trưởng đoàn Indonexia cùng với giáo sư Gorkowski (người Balan), chủ tịch Olympic Vật lí quốc tế đã đưa sáng kiến tổ chức Olympic Vật
li Châu Á và đã được hầu hết các nước Châu Á tham dự Olympic Vật lí quốc tế
(trong đó có Việt Nam) ủng hộ Chương trình thi APhO tương tự chương trình thi IPhO
Trong 7 lần tố chức APhO, Việt Nam có 56 học sinh tham gia, đoạt 41
giải, trong đó có 2 huy chương vàng, 10 huy chương bạc, 16 huy chương đồng,
12 bằng khen Đặc biệt, năm 2001, tại APhO 2001 ở Đài Loan, Bùi Lê Na học sinh THPH Hà Nội-Amxtđam đoạt huy chương vàng và giải đặc biệt về thực nghiệm
Năm 2004, APhO được Việt Nam đăng cai tổ chức tại Hà Nội
Năm 2007, APhO được tổ chức tại Thượng Hải, Trung quốc
Trang 40Nhìn lai_két_ qué 32 nam Việt Nam có học sinh tham gia dự thí Olympic quỐc té:
a) Học sinh Việt Nam đã đạt được kết quả tốt trong các kỳ thi
BANG 1: KET QUA CAC DOAN HOC SINH DU THI OLYMPIC QUOC TE