1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thực hiện đề tài khảo sát nền đáy các ao ương tôm sú giống khu vực phước hải nha trang, đề xuất biện pháp cải tạo

61 227 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để bóp phần vào việc thử giải quyết một trong những khâu kỹ thuật trong quá .- trình ương chúng tôi đã tiến hành thực hiện để tài; “ Khảo sát sự biến đổi của các loại nền đáy các ao ượng

Trang 1

TRUNG TÂM KHTN &CNQG ỦY BAN NHÂN DÂN TINH KHÁNH HÒA

BAO CAO THUC HIEN DE TAI

“KHAO SAT SU BIEN DOI NEN DAY CAC AO UONG

TOM SU GIONG KHU VUC PHUOC HAI NHA TRANG

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP CAI TAO”

Chủ trì đề tài

PTS TRINH THE HIỂU

Cơ quan thực hiện

Trang 2

MỤC LỤC

Đặt vấn để SH HH HH HH HH HH HH ng reo 3

I- Tổng quan tình hình ương tôm sú giống tại khu vực Phước Hai, Nha Trang 6 H- Pham vi và phương pháp nhgiÊn CỨU 2 Ăn vs ng — 8

IL1- Phạm vi và đặc điểm tự nhiên .¿-c 5c crec 8

IL2- Phương pháp nghiên cứu .cccccccccree mm 11

THL- Kt qua nghién COU occ ccsssssssssecessesesesseseseesessseeseseseansetseasacseesseseesaneneneaces 12

HI.1- Các loại nên đầy ao ương .o-c<c<ccerecercvee 12

HI.2- Sự lắng đọng vật liệu trong quá trình ương . 5 ‹c55<52 15

II.3- Đặc điểm thành phần hóa học trong trẫm tích .- - 5+ 18

III3.1- Thành phân và sự biến đổi các yếu tố hóa học 18 HI.3.2- Mối quan hệ của các yếu tố hóa học và các yếu tố

môi trường động thái aO HH» nà, 25

IV- Thảo luận và để xuất biện pháp cải tạo 752cc csrececsree 34 Nhận xét và kiến nghị . HH ng ngư 38

Trang 3

oF

ĐẶT VẤN ĐỀ

Để phục vụ cho việc phát triển nuôi trồng ven biển cần có định hướng chiến

: lược kế hoạch tổng thể lâu dài và phải có những nghiên cứu đầu tư khoa học và công

nghệ mới, có như vậy mới đảm bảo việc quan lý bảo vệ môi trường bén vững, góp

"phần thúc đẩy qúa trình phát triển kinh tế xã hội vùng ven biển nói riêng và cả nước

nề nhất là các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long ( tập trung vào cuối năm 1993 và

năm 1994)

Mặc dù cho đến nay việc quần lý các trại giống, con giống đã bước đầu đi vào

nề nếp ( đặc biệt tại tỉnh Khánh Hòa ), xong việc quản lý chất lượng mồi trường nuôi

và các yếu tố kỹ thuật đi kèm (mật độ thả, nhu cầu thức ăn, chuẩn đoán tình trạng sức khỏe tôm ương nuôi, các biện pháp xử lý nước, xử lý nễn đáy ao ) còn tùy tiện, chưa có

những biện pháp hữu hiệu và qui trình thống nhất nhằm đảm bảo cho quá trình ương nuôi đạt hiệu quả và năng xuất cao

Việc sản xuất con giống phụ thuộc vào nhiễu yếu tố : chủ quan và khách quan Các yếu tố chủ quan- đặc biệt là khâu kỹ thuật, hiện nay đã và đang từng bước cải tiến

và phổ biến rộng rãi trong phạm vi các trại giống, nhằm chủ động sản xuất cung cấp nguồn giống bước đầu Các yếu tố khách quan- điểu kiện môi trường, sự biến đổi thời tiết dẫn đến thay đổi mùa vụ, giá cả thị trường đầu vào và đầu ra của con giống là

những nguyên nhân cần được xem xét đánh gía đúng Như vậy rõ ràng, khâu sản xuất con giống là cực kỳ quan trọng và với việc xem xết có cơ sở khoa học các điều kiện khách quan sẽ góp phần quyết định hiệu quả cho quá trình ương nuôi sau này Trong

dây chuyển sản xuất con giống công việc thả ương là khâu chuyển tiếp quan trọng không thể thiếu mặc dù hiện nay có một số hộ đang bước đầu thứ nghiệm thả thẳng con giống Paz¡s vào ao nuôi Trong quá trình ương cũng phụ thuộc rất nhiễu vào các

—3—

Trang 4

điều kiện chủ quan và khách quan như đã trình bày ở trên- từ con giống ban đầu ( Po-10

), điều kiện môi trường ương, thời tiết, mùa vụ và đặc biệt là các yếu tố kỹ thuật mà trong đấy khâu xử lý nền đáy ao là một trong những khâu cần thiết và rất quan trọng

Để bóp phần vào việc thử giải quyết một trong những khâu kỹ thuật trong quá - trình ương chúng tôi đã tiến hành thực hiện để tài; “ Khảo sát sự biến đổi của các loại

nền đáy các ao ượng tôm sú giống , để xuất biện pháp cải tạo.”, với điểm trình diễn là

; khu vực ao ương tại vùng thuộc phường Phước Hải thành phố Nha Trang.-: Mục tiêu của

_ để tài là : từ kết quả khảo sát theo dõi tại các điểm khác nhau trong khu vực qua các

đợt ương, để xuất biện pháp cải tạo hợp lý phù hợp với điều kiện cho các loại nền đáy

“khác nhau nhằm góp phần nâng cao năng xuất các ao ương

Để tài do Sở KHCN & MT quản lý, Sở Thủy sản là cơ quan chủ trì và Phong Địa ˆ

Chất-Địa Mạo Viện Hải Dương Học chủ trì thực hiện Để tài thuộc dạng nghiên cứu

ứng dụng do đó sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, rất mong được sự đóng

_ góp xây dựng của các cơ quan hữu quan, các đồng nghiệp và các cá nhân có liên quan

Tham gia thực hiện để tài gồm:

1- PTS-Trịnh Thế Hiếu, chủ trì dé tai Tham gia thực địa, viết báo cáo

2- CN Nguyễn Hữu Sửu, tham gia thực địa, viết báo cáo

3- CN Nguyễn Đình Đàn, tham gia thực địa, viết báo cáo

4- KS Tôn Nữ Mỹ Dư, tham gia phân tích mau

ã- KTV Nguyễn Đức Thọ, tham gia thực địa, can vẽ

6- KTV Lê Quang Thành, tham gia phân tích mẫu cơ học trầm tích

Cùng với sự cộng tác tham gia của các chuyên viên kỹ thuật của Sở Thủy sẵn và Trung Tâm Khuyến Ngư Khánh Hòa

Trong quá trình thực hiện để tài, chúng tôi đã nhận được sự động viên, hợp tác

và những ý kiến đóng góp quí báu của Ban Lãnh đạo Sở, cán bộ kỹ thuật, Phòng Môi trường thuộc Sở KHCN &MTT, Ban Lãnh đạo Sở, các chuyên viên kỹ thuật Phòng Kỹ thuật thuộc Sở Thủy sản, Trung Tâm Khuyến Ngư, Ban Lãnh đạo Viện, các chuyên gia Phòng STMT, Phòng Thủy Địa hóa, Phòng CNNT thuộc Viện Hải Dương Học, các đồng nghiệp thuộc TTTS II và Trường ĐHTS, nhân đây cho phép chúng tôi gửi lời

cám ơa sâu sắc nhất

Trang 5

Báo cáo gồm các nội dung sau:

Đặt vấn để

I- Tổng quan tình hình ương tôm sú giống tại khu vực Nha Trang

II- Phạm vi và phương pháp nghiên cướ

I-I Phạm vi và đặc điểm điểu kiện tự nhiên

II-2 Phương pháp nghiên cứu

II- Kết quả nghiên cứu

HI-1 Các loại nền đáy ao ương

IH-2 Sự lắng đọng vật liệu trong quá trình ương

'II-3 Thành phần hóa học trong trầm tích nên đáy các ao ương `

IH-1.1 Thành phần và sự biến đổi các yếu tố hóa học

IH-2,2 Mối quan hệ giữa các yếu tố hóa học và môi trường động thái ao 1V- Thảo luận và để xuất biện pháp cải tạo :

Nhận xét và kiến nghị

Trang 6

I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH ƯƠNG TÔM SÚ GIỐNG

TẠI KHU VỰC NHA TRANG

Trong những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản ven biển nói chung và

„nghề nuôi tôm sú nói riêng đã trỡ thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều địa phương trong cả nước, trong đấy tỉnh Khánh Hòa là một trong những nơi có

¿bước đột phá hàng đầu Khánh Hòa là nơi đầu tiên trong cả nước thành công trong việc sản xuất giống nhân tạo và phái triển cực mạnh vào đầu những nim 90 đến nay ' "Trong những năm gần đây, hàng năm tỉnh Khánh Hòa đã sản xuất và cung cấp hàng

trăm triệu con giống, không những chỉ cung cấp đầy đủ nhu cầu cho các hộ ương nuôi

thuộc các địa bàn trong tỉnh, mà còn cung cấp cho bầu hết các tỉnh trong phạm vi cả nước từ Quảng Ninh- Hải Phòng cho đến các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long

Trong địa bàn tính Khánh Hòa, việc sản xuất và cung cấp tôm sú giống cho các

nơi chủ yếu tập trung ở địa bàn Nha Trang, chỉ vài năm gần đây mới phái triển ở khu

_ vực Vạn Ninh, Cam Ranh và Ninh Hòa ( Khu vực Hòn Khoi) Nếu đầu những năm 90,

số trại giống ở khu vực Nha Trang chỉ là vài chục, thì hiện nay con số này đã là vài

trầm, diện tích các ao ường từ vài chục đến hàng trăm ha, thì nay đã là hàng vài trăm

ha

Tại khu vực Nha Trang, từ trước năm 1993 các hộ ương nuôi tôm sú đã đạt được nhiều kết quả khả quan với năng suất và lãi suất cao, do đó nghề này đã phát triển cực

mạnh vào những năm sau này Hầu như toàn bộ các bãi bồi ven sông Cửa Bé, các cồn

giữa sông và cả những vùng bãi trên triểu, khu vực đồng muối thuộc các Phường Phước

Hải, Vĩnh Trường, Xã Phước Đồng, Xã Vĩnh Thái đã được khai thác triệt để cải tạo thành các ao ương nuôi Chính do sự phát triển tự phát và hoàn toàn không có qui hoạch, nhiều hộ ương nuôi lại không nắm được kỹ thuật, mà chỉ làm tự phát theo phong

trào cho nên dẫn đến sự tổn thất đáng kể không những đối với môi trường mà nhiều khi còn tự gây thiệt hại đáng kể về kinh tế không chỉ cho chính các hộ ương nuêi mà gây

ảnh hưởng tới cả nền kinh tế chung của tỉnh Chỉ tính trong hai năm 96-97, thiệt hại do

ương tôm bị thua lỗ liên tục của các hộ ương trong các khu vực này lên tới hàng chục tỷ

đồng, và cho đến nay nhiều hộ đã không còn khả năng tiếp tục ương nuôi nữa Một vấn đề ảnh hưởng không nhỏ tới việc ương con giống là sự phụ thuộc hoàn toàn vào

các thị trường tiêu thụ không những chỉ trong phạm vi của tỉnh mà của cả các tỉnh khác

trong cả nước, trong đấy đáng chú ý là các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, tỷ giá _ giữa đầu vào- giá con giống Poo mua vào và giá đầu ra- gid con ging Pig.25 ban ra

không phù hợp và thường xuyên bị biến động theo thời gian (Bảng 1), ty lệ ương do bị

ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau (con giống ban đầu, môi trường, sự thay đổi thời tiết, mùa vụ, ) lại thường chỉ đạt ở mức thấp đến trung bình Riêng đối với thị trường tỉnh Kiên Giang, bắt đầu rừ cuối năm 1997 hầu như không còn tiêu thụ được nữa và có

Trang 7

khả năng không còn do tỉnh đã có kế hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong địa bàn tỉnh này, trong khi đấy thị trường Bến Tre, Sóc Trăng lại sôi động vào đầu năm 98 do

hiện tượng nước mặn lấn sâu vào trong lục địa vùng này tạo điểu kiện thuận lợi cho các

hộ phát triển nghề nuôi tôm thương phẩm Mặt khác hiện nay do nhu cầu của thị

trường từng nơi rong phạm cả nước rất khác nhau, nhiều chủ hàng không còn vận

- chuyển con giống ương nữa, mà chuyển trực tiếp con giống ở dạng Pa , đặc biệt

_ trong thời gian từ cuối năm 1997 đến nay Do có sự biến động mạnh về thị trường nên

sự chênh lệch giá con giống ban đầu quá lớn: giá Pạ.;o và giá Pz.s thường chênh nhau

10/ con, cho nên các chủ ương rất khó nếu như không muốn nói là hầu như không thể _ mua được giống để thả ương Hậu quả là phần lớn các ao ương bị bd trống, và nhiều ao lại đã và đang được cải tạo lại để làm muối hay nuôi cá, cua hay chuyển đổi thành các

ao nuôi tôm thương phẩm (khu vực Đồng muối, Cồn Giữa, bãi bồi ven sông), Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều hộ đang tiếp tục ương và vẫn đạt được những kết quả tốt

(do tỷ lệ ương đạt cao, có nhiễu ao đạt 90- 100% tại khu vực Đìa 3/2, Phước Đồng, Đồng muối, hay do đúng thời điểm mùa vụ bất thường), vào thời gian từ đầu các tháng

2 & 3 hàng năm và đặc biệt vào các tháng đầu năm 1998 Tôm ương vào thời điểm ' đầu năm 1998 hầu như chỉ còn cung cấp cho thị trường tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, một phần cho Cà Mau, Kiên Giang và một vài nơi trong địa bàn thuộc tỉnh Khánh Hòa Theo kết quả điểu tra, từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1998 giá con giống các kích thước khác nhau dao động rất mạnh Trong thời gian tháng I1 giá con giống Ps¡s (dành cho các chủ thả ương tại khu vực Nha Trang) dao động trong khoảng từ 18-28 đ/con; giá con giống Pu;.;s (dành cho các chủ vận chuyển đi nơi khác) dao động trong khoảng 30- 38đ/con Trong khi đấy giá con giống ương kích cỡ 1,2-1,3 cm di CA Mau là 60- 63đ/con; giá đi Bến Tre, Sóc Trăng 1,4-1,6cm đao động trong khoảng 65-75đ/con Vào thời điểm tháng 2 giá con giống các loại tăng khá nhanh theo thời gian từ đầu tháng đến cuối tháng - giá con giống Po.o đao động trong khoảng 30-45đ/con, giá con giống

Pi2.15 (dành cho các hộ vận chuyển đi) dao động trong khoảng 40-55đ/con; giá con

giống ương kích cỡ 1,4-1,6cm là 60-75đ/con Vào nữa đầu tháng 3 giá các loại con giống gàn như không có biến động lớn so với cuối tháng 2 „ bắt đầu từ nữa cuối tháng 3

và trong tháng 4 giá đầu vào và đầu ra điểu giảm đi rõ rệt Giá giống Pạxo giảm còn

21-24đ/con, giá Pạ;.¡s là 29-32đ/con, giá con giống ương là 44-47đ/con.

Trang 8

Bangi: Biến động giá các loại tôm giống vào các thời điểm

H PHAM VIVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ˆ

Id Phạm vị và đặc điển tư nhiên vùng nghiên cứu

Vùng nghiên cứu được xác định trong phạm vi khu vue dia 3/2 và khu vực đìa của Xí nghiệp dịch vụ nuôi trồng Thủy sản thuộc địa phận Phường Phước Hải thành phố Nha Trang (H.1), toàn bộ vùng đìa ở đây được xây dựng và đưa vào xử dụng từ

nhiễu năm nay

Toàn bộ vùng nghiên cứu nằm trong khung cấu trúc nền địa chất vùng Nha Trang Tham gia cấu trúc nền ở đây là các đá gốc trước Đệ Tứ và các lớp phủ trầm tích Đệ Tứ Cấu trúc nền đá gốc bao gồm các đá phun trào hệ tầng Nha Trang và các

thành tạo xâm nhập phức hệ Đèo Cả, Cà Ná Diện tích phân bố của chúng khoảng 70 km? ( Ngô Tuấn Tú, 1996) Địa hình thuộc loại núi cao đến trung bình Cấu trúc lớp

phủ bao gồm: trầm tích cát, cát sdi sạn nguồn gốc sông- biển tuổi Holoxen; trầm tích cát, cất sỏi sạn, sét nguồn gốc tuổi Pleistoxen; trầm tích cát, sét và sét bùn nguồn gốc sông- đầm lầy tuổi Holoxen; trầm tích cát, cát chứa bùn nguồn gốc đeita- fluivi

Đổi với vùng nghiên cứu: phía Tây và Đông Nam là các khối núi đá phun trào axit tuổi Creta; phía Nam được bao bọc bởi khối núi đá granit tuổi sau Creta; phía Bắc

là thành phố Nha Trang được cấu tạo bởi lớp phủ trầm tích Đệ Tứ với bề dày hơn 40 m,

và được hình thành theo kiểu lấp đầy các đầm vụng cổ cửa sông

Trong vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng chủ yếu của sông Tắc, sông Cửa Bé và

các dòng chảy tạm thời, đặc biệt vào mùa mưa lũ Những năm gần đây thường xuyên

xảy ra lũ lụt trong bão hay mưa lớn với sự ảnh hưởng của nước dâng trong bão đã gây

tổn thất đáng kể về kinh tế cũng như môi trường

— 8

Trang 9

[8] cac, điển theo doi thu Dia HTX

Trang 10

Chế độ thủy triều là nhật triều không điều, sự biến động mực nước trung bình

thường dao động trong khoảng 0,5-0,8m, vào các tháng mùa mưa có khi 1,0-1,2m

Các đới cảnh quan: Cách đây hơn 10 năm về trước, toàn bộ khu ao ương nuôi

tôm thuộc Khu vực Đồng Bò (xã Phước Đồng), Đểng muối (xã Vĩnh Thái) và khu vực

nghiên cứu còn là vùng hoang sơ phát triển tự nhiên mang đặc trưng của hệ sinh thái

đầm-vụng cửa sông

Một trong những đới cảnh quan đặc trưng của hệ sinh thái ở đây là hệ sinh thái

` rững ngập mặn, nó không những là nguồn tài nguyên phong phú về lâm sản, mà còn là

"hơi cung cấp mùn bã nuôi đưỡng nhiều hải sản có giá trị cao Sản phẩm phân hủy của

rừng ngập mặn được nước triểu vận chuyển ra các vùng đầm, vụng, cửa sông, ven biển

kế cận thu hút nhiều loài cá, tôm, cua, Rừng ngập mặn còn có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ các bãi bồi, chống xói lở bờ, hạn chế tác hại của bão lũ và xâm nhập mặn

vào vùng nội địa phía trong cũng như ngăn chặn sự nông hóa của đáy đầm, vụng cửa

sông Trøơng những năm gần đây, do sự phát triển quá nhanh về đân số và sức ép kinh

tế, các hệ sinh thái rừng ngập mặn trên cả nước nói chung và trong địa bàn tỉnh Khánh

Hòa nói riêng đã và đang bị phá hủy hàng loạt để lấy đất sản xuất nông nghiệp, làm

đầm môi tôm Diện tích rừng ngập mặn đang bị suy giam nhanh chóng, kéo theo sự suy thoái về tài nguyên và môi trường không những hiện tại mà sẽ đặc biệt nguy hại

trong tương lai,

Trong khu vực quanh vùng nghiên cứu, khu rừng ngập mặn trước đây có diện

tích hàng trăm ha với sự phát triển của các loai cay ban, cay mắm và ít cây đước với

mật độ khá dày Hiện nay hầu như toàn bộ khu rừng ngập mặn ở đây đã không còn

nữa, một vài nơi chỉ còn lại dấu vết do bị chặt phá để xây dựng các ao ương nuôi tôm

R6 rang nguyên nhân chính của sự tàn phá rừng ngập mặn ở đây là do chính con người gây ra, Đây là một tổn thất nghiêm trọng môi trường sinh thái mà hậu quả tai hại chưa

lường hết được

Tương tự như tình trạng của rừng ngập mặn, tất cả các cồn cát giữa sông, các bãi

bồi ven sông và cả các bãi trên triểu ở vùng này điểu đã được khai thác sử dụng triệt

để, phục vụ cho nuôi trồng thủy sản Chính việc phát triển tự phát, sử dụng không có

qui hoạch này sẽ gây nên hậu quả nghiêm trọng theo chiều hướng xấu đi trong quá

trình quản lý, bảo vệ cảnh quan môi trường tiến tới xây dựng kế hoạch phát triển kinh

Trang 11

khác nhau: khu vực mangro, bãi bổi ven sông, khu cao triểu thấp, côn và bãi cát trên

triểu Toàn bộ các ao ương đã được đưa vào khai thác sử dụng lên tục từ nhiễu năm nay Chính do sự khai thác triệt để như vậy, đã dẫn đến sự suy thoái của các nền đáy các ao là điểu tấtyếu Cùng với các nguyên nhân khác cả khách quan và chủ quan ( diéu kién môi trường, con giống, dịch bệnh, các nguyên nhân kỹ thuật, ) thi day

“cling 14 mé6t trong nhiing nguyén nhan (thuéc vé ky thuat) gay 4nh hưởng không nhỏ

tới quá trình sản xuất Do bắt đầu nhận thức được vấn dé này, nên vài năm gần đây

“nhiễu hộ đã tiến hành cải tạo các nền đấy ao ương cho phù hợp với sinh thái VẬt nuôi, mặc dù đang còn theo các phương thức khác nhau, xong chủ yếu là phương pháp lật

"day hay tôn cao nền n day ao

H2 Phượng pháp nghiên cứu

Sau khi tiến hành khảo sát tổng quan vùng nghiên cứu, chúng tôi đã xác định

chọn 10 điểm để theo đối khảo sát thu mau Song do tình hình chung là trong 2 năm

.vừa qua nhiều hộ ương bị thua lỗ nặng do nhiều nguyên nhân khác nhau, hậu quả là rất nhiều hộ không tiếp tục thả ương được nữa do thiếu hụt vốn đầu tr Do đó việc theo đõi khảo sát thu mẫu gặp nhiều khó khăn Vì vậy để thực hiện được kế hoạch để ra

chúng tôi đã phải tiến hành thu mẫu theo khu vực quanh các điểm đã chọn chứ không

thể theo dõi các điểm cố định được như mong muốn Các điểm theo dõi thu mẫu gồm:

Khu I: Gồm các ao xung quanh ao A¡ của XNDVNTTS

Khu II: Gồm các ao xung quanh ao A; của XNDVNTTS

Khu II: Gồm các ao xung quanh ao Da của XNDVNTTS

Khư IV: Gồm các ao xung quanh ao Ô, Trình,

Khu V: Gỗm các ao xung quanh ao Ô Trường

Khu VI: Gồm các ao xung quanh ao Ô Hông

Khu VII: Gồm các ao xung quanh ao Ô Ngọc Biên

Khu VI: Gồm các ao xung quanh ao Ô Cường,

Khu IX : Gồm các ao xung quanh ao Ô Huyên

KhuX: Gồm các ao xung quanh ao Ô Đại

Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa:

Mẫu được thu tại các khu đã chọn theo chu kỳ của mỗi đợt ương: Mẫu lần 1

được thu sau khi ao đã được dọn sạch ( chưa sử lý vôi hay bất kỳ loại hóa chất nào),

mẫu được thu theo tầng hỗn; mẫu lần 2 được thu sau khi đã thả giống được 5-7 ngày hoặc 10-12 ngày; mẫu lần 3 được thu sau khi đã thu hoạch con giống Các mẫu đợt 2

và 3 được thu theo lớp trên mặt và lớp hỗn

Trang 12

Phương pháp phân tích:

- Các chỉ tiêu pH và Eh đất được đo ngay tại hiện trường sau khi thu mẫu xong,

bằng dụng cụ đo pH mét cầm tay và máy đo Eh

- Chỉ tiêu cơ học trầm tích và các chỉ tiêu P¿O;, N tổng số, C hữu cơ, Fe?', Fe”, _ AI”, § sulfua, SO,” trong trầm tích được phân tích tại Phòng Địa chất-Đia Mạo Viện

Hải Dương Học theo qui phạm “ Diéu tra Địa chất biển “ xuất bản năm 1982

" - Các chỉ tiêu Fe?", Fe”, NH¿, NO; , NO;, PO¿2, vật chất lơ lững, oxy hòa tan trong các mẫu nước được phân tích theo tiéu chudn: APHA, 1992

" - Các chỉ tiêu Clorophyl, Pheophytin, trao đổi chất và vi sinh vật trong trầm

tích đáy được phần tích tại Phòng Sinh thái môi trường Viện Hải Dương Học

II KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU

_TH.1: Các loại nên đáy do ương

Như ở phần trên chúng tôi đã để cập tới, trong vùng nghiên cưú bao gồm các khu vực có những đới cảnh quan ban đầu khác nhau như: rừng ngập mặn, bãi bổi ven

sông, bãi triều lầy và các côn, bãi cát trên triều

Phụ thuộc vào sự dao động của mực nước thủy triểu ở đây và hình thái địa hình

ban đầu từng khu vực, các ao được xây dựng có độ sâu đáy ao khác nhau so với bể mặt nguyên sinh của từng đới cảnh quan Cao trình các ao ương điều thuận lợi cho việc cấp

và thay nước, không bị ngập bờ khi triểu cao đặc biệt là trong các tháng mùa mưa,

ngoại trừ bị lũ lụt hay nước dâng trong bão

Như chúng ta đã biết rằng, thành phần vật liệu trầm tích phù hợp nhất để xây

dựng các ao ương là cát bùn, cát chứa bùn hay bùn cát (Nguyễn Anh Tuấn, 1995), vì

chính các kiểu trầm tích này có độ dính tốt, thuận lợi cho việc xây dựng ao, tránh được

sự đò đỉ nước và dễ gây màu tảo trong quá trình ương nuôi Mặt khác chính trạng thái

tự nhiên của trầm tích nên đáy ao sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc cung cấp các chất

dinh dưỡng hòa tan trong ao, nhưng đồng thời cũng lại là nguyên nhân tạo nên các độc

tố trong ao có hại cho tôm ương nuôi

Qua kết quả phân tích, nghiên cứu đặc điểm thành phần các cột mẫu trầm tích thu được tại các vùng nuôi tôm sú trong phạm vi tỉnh Khánh Hòa và từ thực tế sản xuất,

chúng tôi đã xác định được “tầng trầm tích thuận” của nền đáy các ao ương nuôi cho

từng vùng khác nhau “Tầng trầm tích thuận” là tầng trầm tích có thành phần cơ lý phù hợp với vật nuôi và các điều kiện kỹ thuật liên quan, chúng thường có thành phần cơ

— 12

Trang 13

học.là các kiểu trầm tích cất bùn, cát chứa bùn hay bùn cát Đối với vùng Nha Trang: tại khu vực xã Phước Đồng, tầng này thường nằm ở dưới độ sâu 40-60cm (đối với các

ao ương) và 80-120 cm( đối với các ao nuôi tôm thương phẩm) so với bể mặt tự nhiên

của các đới cảnh quan ban đầu; tại khu vực Phước Hải tầng này nằm ở các độ sâu 40:

60 em, có nơi chúng nằm ở độ sâu trên 70-80 cm ( tại các khu vực là côn, bãi cất trên

.triểu)

Như vậy, để có được một ao ương nuôi hoàn chỉnh, quá trình xây dựng, cải tạo :ao là rất công phu Kết qua cửa quá trình này là phải có được ao ương nuôi ổn định, đặc biệt phải tạo được sự ổn định ban đầu cho nên đáy các ao Tính ổn định và thành

` phần cơ học của nền day các ao sẽ thay đổi theo thời gian khai thác sử dụng Để có cơ

66 sọ sánh đánh giá về sự biến đổi này, chúng tôi đã tiến hành thu mẫu phân tích thành

phần cơ học của trâm tích nền đáy các ao tại các khu trong vùng nghiên cứu theo 2 đợt: Đợt 1 mẫu được thu ngay sau khi bắt đầu thực hiện để tài, bao gồm loạt các mẫu- I-1,

11-1, 1H-1, %-1, loạt mẫu này được coi như thành phần cơ học ban đầu của trầm tích

nên đầy các ao; Đợt 2 mẫu được thu sau 3-4 lần thả ương, bao gồm các loạt mẫu: - I-2,

-_ I-2, HI-2, X-2 Kết quả phân tích được trình bày trong bảng 2

Từ các kết quả này cho thấy, do có được những hiểu biết cơ bản về tiêu chuẩn

kỹ thuật, đồng thời qua kinh nghiệm thực tế sản xuất nên hầu hết các hộ khi xây dựng

ao điều tuân thủ theo nguyên tắc của ngành Thủy sắn nói chung và nghề nuôi tôm sú

nói riêng Do các ao được xây dựng tại các khu vực có đới cảnh quan khác nhau n nên có

thành phần vật liệu nền đáy khác nhau

Đối với các khu [, H và II các ao được xây dựng lại từ khu nuôi tôm quảng canh

trước đây và nguyên thủy là khu rừng ngập mặn, có nền đáy ban đầu là bùn cát sau đấy

được cải tạo lại thành nên bùn cát và cát bùn và sau thời gian sử dụng có nâng cấp cải

tạo; nên đáy hiện nay là cát bùn

Các khu IV và V là bãi bồi ven sông được hình thành vào thời gian sau khi toàn

bộ khu rừng ngập mặn phía trong bị khai thác cải tạo thành ao ương, nền đáy của các

ao ương tại hai khu này là cát chứa bùn, hiện nay phần lớn đã chuyển sang nên đáy cát hay cát chứa rất it bùn

Các khu VI, VI và X nguyên là bãi triểu lầy ven sông có cây ngập mặn thưa

thớt với nền đáy ban đầu là cát bùn,bùn cát, hiện nay phần lớn đã chuyển sang nền đáy cát hay cát chứa rất ít bùn

— 3

Trang 14

TV-I - - 2.29 | 15.91 | 32.80 | 31.04-| 930 | 8.66 | 0.25 | 0.299 V-] - - 2.37 | 13.12 | 37.45 | 34.74] 6.63 | 5.69 | 0.26 | 0.084 VI-I | 0.31 | 082 | 5.44 | 18.18 | 31.34 | 22.34] 7.90 | 13.62 | 0.25 | 0.623 VII-I - | 1.09 | 6.15 | 20.10 | 27.42 | 16.77] 5.56 | 22.91 | 0.22 | 0.807 VII-I | 2.04 | 6.91 | 11.98 | 18.16 | 23.10 | 16.57 | 16.47) 4.77 | 0.36 | 0.825 1X-1 - 1.22 | 5.83 | 19.61 | 33.72 | 24.85 | 9.83 | 4.94 | 0.31 | 0.356

X-1 - 0.53 | 6.55 | 28.70 | 26.47] 17.52} 9.63 | 10.60 | 0.29 [0.604

Mẫu thu đợt II

1-2 0.87 2.64 | 6.69 | 21.25 | 36.56 | 23.54 | 3.95 | 4.50 | 0.35 | 0.390 H-2 1.66 2.57 | 7.65 | 16.31 | 28.83 | 26.86 | 7.02 | 9.10 | 0.30 0.585

11-2 - 1.27 | 6.12 | 21.33 |.27.21 | 24.77 | 13.96 | 8.34 | 0.28 | 0.536 IV-2 | 0.78 | 2.24 | 7.41 | 30.26 | 38.96 | 15.14 | 2.48 | 2.35 | 0.42 | 0.138 V-2 - 2.29 | 8.92 | 29.24 | 31.98 | 19.411 545 | 2.68 | 0.39 | 0.333 VỊ-2 0.68 1.05 | 3.73 ; 13.81 | 41.20 | 28.08 | 626 | 5.19 | 0.29 | 0.202 VII-2 - 0.39 | 4.98 | 18.98 | 28.91 | 24.52 | 11.82 | 10.39 | 0.25 | 0.526 VIH-2 - 3.14 | 14.73 | 24.86 | 27.16 | 19.81 | 4.98 | 4.87 | 0.42 | 0.546 IX-2 - 2.29 | 9,82 | 29.24 | 31:08 | 19.41] 5.48 | 2.68 | 0.40 | 0.345 X-2 0.12 | 4.47 | 14.91 | 24.49 | 26.72 | 18.59 | 4.99 | 3.71 | 0.34 | 0.084

— 14

Trang 15

Các khu VIII và IX - nguyên là khu cồn cát, bãi cất trên triểu có thực vật ưa mặn

phát triển thưa thớt, nền đầy ao ban đầu là cát bùn, cát chứa bùn, hiện nay phần lớn các

day ao ở đây đã chuyển sang nên đáy cát hay cát chứa rất ít bùn

Như vây thấy rằng, hầu hết các ao ương trong vùng nghiên cứu điều có nền đáy

ban đầu là phù hợp với sinh thái vật nuôi và đã bị biến đổi thành phần vật liệu theo

- thời gian khai thác sản xuất Từ kết quả trong bảng 2 cho thấy một xu thế chung là tại

hầu hết các ao vật liệu bùn trong trầm tích nền đáy đều giảm đi rõ rệt sau các đợt ương,

‘ "Nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm ( thực ra là mất đi) hàm lượng vật liệu nhỏ mịn

‘trong trầm tích nền đáy là do quá trình dọn tẩy ao để sản xuất Việc khai thác sử dụng quá mức trong quá trình sản xuất đã làm trơ nên đáy ao theo thời gian, gây nên hiện

_ tượng nghèo dần và dẫn tới thiếu hụt nguồn dinh dưỡng trong ao, sự trao đổi giữa đất

và nước kém đi Cùng với thời gian sẵn xuất, nền đáy các ao bị suy thoái và đây sẽ là

một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất sản xuất giảm Để khắc phục những hậu qủa này, đồng thời tạo lập được môi trường sắn xuất bên vững, việc cải tạo nhằm phục hồi nền đáy các ao cho phù hợp với sinh thái vật nuôi là việc làm cẵn thiết và không thể thiếu

HH.2 ŠSự lắng đọng vật liệu trầm tích

Như chúng ta đã biết, tôm có khả năng bơi lội nhưng chúng hầu như lúc nào

cũng tìm kiếm thức ăn đưới đáy ao, vì vậy điều kiện đáy ao có ảnh hưởng rất lớn đến tôm ương nuôi Duy trì một nền đáy ao tốt là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất ương nuôi Do đó một trong những biện pháp tốt trong khâu quản lý ao ương nuôi là phải thường xuyên kiểm tra chất thải lắng tụ trên bé mat day

ao trong quá trình ương nuôi, để xử lý và có biện pháp khắc phục Chất thải lắng tụ trên bể mặt trong thời gian ương nuôi thường mềm hơn so với bể mặt đáy ao ban đầu

và chứa nhiều vật chất hữu cơ và thường có màu đen Những chỗ nhiều vật chất hữu cơ

sẽ sinh ra các chất độc (trong đấy có NH¿, HạS ) chúng sẽ khuyết tán ra khỏi chất tích

tụ và hòa tan vào trong nước trên bể mặt đáy ao gây hại cho đời sống và sự phát triển

của vật nuôi

Hiện nay trong khu vực Nha Trang nói riêng và tại các vùng ương trong tỉnh nói chung ( Cam Ranh, Ninh Hòa, Vạn Ninh), đa số các hộ đang thực hiện gui trình ương

tương tự nhau Sau khi xử lý, cải tạo đáy ao với mục đích loại bỏ những độc chất hay

mầm bệnh còn sót lại trong ao, diệt trừ các loài sinh vật có hại ăn tôm hay cạnh tranh

thức ăn với tôm, mới lấy nước vào ao nhằm tạo môi trường thuận lợi cho thức ăn tự nhiên của tôm phát triển tốt Nước lấy vào các ao thường được lấy trực tiếp từ sông,biển hay từ các lạch sông khi triều cao ; một số hộ lấy nước vào các mương dẫn

— 6

Trang 16

hay ao chứa sau đấy mới mở cống cho nước vào ao Mực nước lấy vào ao thường ở

mức khoảng 30-40 cm và được giữ nguyên 3-4 có khi 4-6 ngày mới thả giếng Thường

thì sau thời gian thả giống 3-4 ngày có khi sau 6-7 ngày ( tùy theo mùa ) mới bắt đầu thay nước, vì vào thời điểm này trong ao đã xuất hiện các chất thải hữu cơ như vỏ xác

sinh vật phù du, chất thải của tôm và cả lượng thức ăn dư thừa

Từ thực tế khi xử dụng qui trình ương như vậy cho thấy rằng, sự lắng tụ vật liệu

trong các ao ương xảy ra theo từng giai đoạn theo thời gian ương và thành phần của các

chất lắng tụ cũng khác nhau

Ở giai đoạn đầu ( từ khi lấy nước vào ao, giữ nước và xử lý nước) : Vật chất lơ lững thường có thành phần chủ yếu là vật liêu vô cơ với kích cỡ khác nhau từ cấp hạt cất đến bùn sét Sau thời gian 1-2 ngày kể từ khi lấy nước vào ao các vật liệu hạt thô

đã hoàn toàn lắng tụ và sau 3-4 ngày hầu hết các vật liệu hạt mịn lắng tụ xuống đáy

ao Nguồn gốc vật liệu chủ yếu là từ nguồn nước được cấp vào ao, sự xói mòn đấy và

bờ ao trong quá trình lấy nước

Giai đoạn hai ( từ khi thả giống ương đến ngày thứ 3-4 hay thậm chí 7 ngày): Vào thời điểm này hàm lượng vật lơ lững trong các ao thấp với thành phần chủ yếu là

vỏ xác động thực vật phù du, phân tôm, lượng thức ăn thừa và một lượng ít vật liệu vô

cơ hại rất mịn Trong các ao bắt đầu có sự lắng tụ lớp màng mỏng mùn hữu cơ, với bể dày khác nhau tại các điểm khác nhau trong ao

Giai đoạn ba (từ sau ngày thứ 3-4 hay 7 ngày đến khi thu hoạch giống ương): Trong giai đoạn này thường có hai trường hợp xảy ra do có phương thức ương khác nhau của các chủ hộ: Trường hợp 1- không thay nước trong suốt thời gian ương và trường hợp 2- thay nước thường xuyên trong gian đoạn này

Đối với trương hợp 1- Vật chất được lắng tụ trên nền đáy ao có thành phần chủ

yếu là vật liệu hữu cơ do vỏ xác động thực vật phù du, chất thải của tôm và lượng thức

ăn dư thừa trong ao Chính trong giai đoạn này đã tạo ra hàm lượng cacbon hữu cơ cao

trong trầm tích ao ương tạo môi trương yếm khí dưới đáy ao và sẽ là một trong những

tác nhân có thể gây ảnh hưởng không tốt tới đời sống và sự phát triển của tôm ương nếu như nó có mức hàm lượng cao hơn ngưỡng cho phép Kết quả phân tích các mẫu nước trong một số ao là hàm lượng vật chất lơ lững trong nước ao dao động trong

khoảng từ 7,5- 24,5 mg/1, mật độ thực vật phù du là 6900 tế bào/lít ( Nguyễn Ngọc

Lâm,1996), mật độ động vật phù du là 148306 con/m? (Nguyén Cho, 1996)

Đối với trương hợp 2- Vật chất lắng tụ trên nền đáy ao có thành phân hỗn hợp của vật liệu hữu cơ và vật liệu vô cơ Nguồn gốc của vật liệu hữu cơ vẫn là vỏ xác của

— i6

Trang 17

các loài động thực vật phù du, chất thải của tôm và phân tôm, nguồn gốc của vật liệu

vô cơ là từ nguồn nước được cung cấp vào ao, do xói mòn bờ và đáy ao Đối với trường hợp này khả năng hình thành lớp mùn hữu cơ vẫn diễn ra xong với bể dày bé hơn so

với trương hợp 1 và như vậy khả năng gây ảnh hưởng xấu trong môi trường đấy các ao

sẽ giảm đi: Kết quả phân tích các mẫu nước trong các ao cho thấy: đối với hàm lượng

„ vật lơ lững trong nước ao thường đao động trong khoảng từ 30,1-34,2 mg/1 đến 46,5-

"59,0 mg/1, mật độ thực vật phù du là 10034 tế bào/lít (Nguyễn Ngọc Lâm, 1996), mật , dộ động vật phù du là 125456 con/m° ( Nguyễn Cho, 1996)

7 Thực tế trong cả hai trường hợp trên tốc độ lắng đọng vật liệu trong các ao

thường diễn ra với tốc độ khá nhanh và có thể đạt từ 0,1-0,2 mm/ngày Kết quả khảo

sát theo dõi cho thấy rằng, đối với các ao chỉ ương trong thời gian từ 12-14 ngày thì trên bể mặt đáy ao thường hình thành lớp mùn hữu cơ màu đen mùi hôi có bể đầy dao

động trong khoảng 0,8-1,2mm; đối với các ao chỉ được thu hoạch sau 18-20 ngày ương hoặc lâu hơn thì bể đầy của lớp mùn hữu cơ này có thể đạt tới Í,4-1,6 mm hoặc lớn

hơn

: Hậu quả của quá trình lắng tụ vật hiệu trong ao là trên nên đáy ao trong mọi trường hợp điều hình thành lớp mùn hữu cơ màu đen mùi hôi tạo lớp yếm khí trên bể

mặt đáy ao Chính trong điều kiện này sẽ là tác nhân thuận lợi cho sự hình thành và là

nơi hoạt động tích cực cửa các độc chất trong ao, chúng sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và quá trình phát triển của tôm ương nuôi Để khắc phục và giữ cho môi trường đáy ao được tốt cần phải chú ý trong quản lý, chăm sóc các ao ương thường xuyên Cụ thể là cẩn phải theo dõi kỹ hoạt động của tôm, kiểm tra các điểu kiện môi

trường và cả lượng thức ăn cho tôm hàng ngày

Riêng trong các tháng mùa mưa, thường xẩy ra sự biến đổi đột ngột của hàm lượng oxy hòa tan trong nước ao do mưa to bất chợt hay liên tục Vì khi mưa, lớp nước ngọt nhẹ hơn tạo nên lớp nước mặt riêng biệt bên trên lớp nước mặn trong ao gây ra hiện tượng phân tầng trong toàn bộ khối nước Chính hiện tượng này đã ngăn cẩn sự trao đổi oxy giữa không khí và lớp nước mặn bên dưới gây nên sự thiếu hụt oxy tức thời

đột ngột trong tầng nước dưới lớp mặt Ngoài ra, khi mưa còn làm rữa trôi bờ và chất

phèn trôi ra từ bờ xuống ao làm giảm độ pH trong nước ao, làm vẫn đục nước ( hàm lượng vật chất lơ lững tăng cao ) trong toàn bộ cột nước Chính từ các tác nhân này là một trong những nguyên nhân gây nên các bệnh cho tôm ương và đôi khi làm cho tôm

chết hàng loạt Để hạn chế và khắc phục một phân tác hại do các tác nhân trên cần

phải thường xuyên tu bổ bờ ao, kè và có mương thoát nước xung quanh ao, đồng thời phải kiểm tra hoạt động của tôm sau khi mưa đặc biệt là sau những cơn mưa đột ngột vì

tôm rất dễ bị xốc và chết hàng loạt

— Ì7T

Trang 18

HIL3 _ Đặc điểm thành phân hóa học trong trầm tích nên đáy ao ương

1HI.3.1 Thành phần và sự biến đổi các yếu tố hóa học

Để đánh giá chất lượng nền đáy các ao ương nuôi, cùng với việc nghiên cứu về

„sự biến đổi của thành phần độ bạt trầm tích trong quá trình ương nuôi, việc xác định

thành phần và sự biển đổi của các yếu tố hóa học trong trầm tích đóng vai trò rất quan

«trong va không thể thiếu vì nó quyết định tính chất của lớp trầm tích tức là điểu kiện

môi trường nên đấy trong toàn bộ quá trình khai thác sản xuất

._ Đặc điểm thành phần và sự biển đổi của các yếu tố hóa học trong trầm tích nền

đáy các ao ương, đặc biệt đối với các yếu tố dễ hòa tan, thay đổi theo thời gian và phụ

thuộc vào nhiều nguyên nhân khác nhau- đặc điểm các kiểu trầm tích, phương pháp cải

tạo đáy ao được phơi khô hay ngập nước, biện pháp cải tạo ( bón vôi hay các hợp chất

khác), thời gian ương nuôi, quá trình lắng tụ vật liệu, Để có thể theo dói diễn thế của

quá trình này, chúng tôi đã tiến hành phân tích một số yếu tố hóa học trong trầm tích của nền đáy các ao ương trong phạm vi khu vực nghiên cứu bao gồm: Cụ, N tổng số,

ĐzO; , và các dạng dễ hòa tan trong môi trường axit yếu AI'*, Fe?', Fe?', SO,2 sulfat, S

tổng sulfua, Riêng đối với độ pH của trầm tích được đo ngay tại hiện trường sau khi

thu mẫu Hàm lượng của các yếu tố hóa học trong trầm tích nền đáy các ao ương khu

vực Phước Hải được trình bày trong bảng 3 Sự biến thiên của chúng trong từng khu và

theo thời gian mỗi đợt ương được trình bày trên các hình từ H.2 đến H.20

Độ pH: Độ pH là một trong những chỉ tiêu đánh giá tính chất của một loại

trầm tích, nhưng chính bản thân nó không thể biểu thị toàn bộ bản chất của một kiểu

trầm tích Bởi vì độ pH là một yếu tố thường xuyên biến đổi theo thời gian ngày đêm, theo mùa Do đó chính nó lại phụ thuộc rất nhiều vào các tác động của điểu kiện môi

trường trong ao tức là môi trường động thái ao Trong môi trường ao ương nuôi pH có

những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tôm ương nuôi và vi sinh vật vì thế việc theo dổi kiểm tra độ pH trong ao là rất cần thiết và có thể khống chế bằng cách thay

nước hoặc bón vôi

Trong khu vực nghiên cứu, độ pH của trầm tích nền đáy các ao thường dao động trong khoảng 6,8-7,4 thuộc dạng axit yếu đến kiểm yếu Sự biến đổi của chúng trong

thời gian ương nuôi không đáng kể thường vào khoảng 0,2-0,4 do thời gian ương

thường chỉ kéo dai 10-12 ngày hay tối đa cũng chỉ 18-20 ngày rất ít khi vượt quá 20 ngày Như vậy thấy rằng, sự biến đổi của độ pH trong trầm tích nền đáy các ao ương ở đây luôn nằm trong khoảng cho phép phù hợp với đời sống và sự phát triển của tôm

wong

— 18

Trang 19

Bảng 3: Thành phần hóa học trầm tích nền đáy các ao ương

— 19

Trang 20

“1-6 7.0 | 0.0924 | 0.1705 | 0.0370 | 0.0654 | 0.3020 | 1.539 | 0.049 | 0.0466 H-4 | 6.8 | 0.0503 | 0.0723 | 0.0512 | 0.0532 | 0.0946 | 0.645 | 0.037 | 0.0390

“ H-5 7.2 | 0.0531 | 0.1268 | 0.0392 | 0.0696 | 0.1243 | 0.961 | 0.042 | 0.0416 H-6 | 740 | 0.0612 | 0.0737 | 0.0774 | 0.1320 | 0.1527 | 0.950 | 0.041 | 0.0532 TH-4 | 7.2 | 0.0369 | 0.0890 | 0.0717 | 0.0458 | 0.1222 | 0.682 | 0.037 | 0.0266

‘TIES 7.4 | 0.0503 | 0.0957 | 0.0593 | 0.0899 | 0.0903 | 0.661 | 0.032 | 0.0520 II-6 | 7.0 | 0.0504 ; 0.1004 | 0.0691 | 01094 | 0.1274 | 0.536 | 0.0184 | 0.0478 IV-4 | 7.0 | 0.0386 | 0.0767 | 0.0261 | 0.1104 | 0.2262 | 0.660 | 0.031 | 0.0550 IV-5 | 7.0 | 0.0577 | 0.0904 | 0.0573 | 0.1048 | 0.2285 | 0.608 | 0.0254 | 0473 IV-6 | 6.9 | 0.0293 | 0.0635 | 0.0223 | 0.0837 | 0.1962 | 0.678 | 0.037 | 0.0680

- MI-4 | 6.9 | 0.0251 | 0.0718 | 0.0139 | 0.0150 | 0.1099 | 0.498 | 0.0373 | 0.0383 VI-5 | 7.0 | 0.0288 | 0.0481 | 0.0123 | 0.0354 | 0.1593 | 0.655 | 0.0226 | 0.0490 VI-6 | 7.0 | 0.0359 | 0.0542 | 0.0071 | 0.0412 | 0.2029 | 0.949 | 0.0315 | 0.0520 VIH-4 | 7.0 {| 0.0359 | 0.0542 | 0071 | 0.0412 | 0.2029 | 0.949 | 0.0320 | 0.0520 VHIL-S | 7.0 | 0.0304 | 0.0494 | 0.0131 | 0.1181 | 0.1835 | 0.843 | 0.0230 | 0.0488 VHIL-6 | 7.0 | 0.0764 | 0.0859 | 0.0194 | 0.0517 | 0.4960 | 1.6025 | 0.0520 | 0.0550 X-4 | 6.9 | 0.0395 | 0.0766 | 0.0195 | 0.0406 | 0.1888 | 0.828 | 0.0240 | 0.0499 X-5 | 7.0 | 0.0495 | 0.1319 | 0.0238 | 0.0543 | 0.1943 | 0.916 | 0.0330 | 0.0460 X-6 | 7.0 | 0.0497 | 0.0556 | 0.0148 | 0.0377 | 0.2890 | 0.907 | 0.0280 | 0.0599

1-7 7.2 | 0.0603 | 0.0681 | 0.1033 | 0.0988 | 0.2138 | 0.599 | 0.0295 | 0.0688 1-8 | 6.9 | 0.0527 | 0.1150 | 0.0752 | 0.0790 | 0.1173 | 0.763 | 0.031 | 0.0516 1-9 7.2 | 0.0390 | 0.1198 | 0.0255 | 0.0622 | 0.0839 | 0.619 | 0.023 | 0.0416 HL-7 | 70 | 0.0947 ¡ 0.4376 | 0.0553 | 0.0506 | 0.3291 | 1.248 | 0.054 | 0.0583 HI-8 | 7.4 | 0.0952 | 0.2840 | 0.0616 | 0.0537 | 0.2500 | 1.063 | 0.036 | 0.0610 IV-7 | 7.1 | 0.0562 | 0.0681 | 0.0233 | 0.1319 | 0.2313 | 0.734 | 0.0298 | 0.0361 IV-8 | 7.0 | 0.0488 | 0.0592 | 0.0348 | 0.1127 | 0.2021 | 0.813 | 0.0368 | 0.0464 VIH-7 | 6.8 | 0.0474 | 0.1119 | 0.0125 | 0.0508 | 0.2632 | 0.7600 | 0.0280 | 0.0533 VHI-8 | 7.0 | 0.0347 | 0.0819 | 0.0320 | 0.0603 | 0.0909 | 0.6140 | 0.0270 | 0.0503 VIH-9 | 7.0 | 0.0848 | 0.1237 | 0.0104 | 0.0534 | 0.6202 | 1.660 | 0.0373 | 0.0330 X-7 | 7.0 | 0.0531 | 0.0843 | 0.0158 | 0.1190 | 0.1819 | 0.545 | 0.0161 | 0.0623 X-8 | 7.1 | 0.0437 | 0.1186 | 0.0191 | 0.0436 | 0.1515 | 0.1015 | 0.0140 | 0.0416 X-9 | 70 | 0.0363 | 0.1122 | 0.0214 | 0.0581 | 0.1663 | 0.916 | 00330 | 0.0573

— 2

Trang 21

af

Chất hữu cơ ( Cục) Cùng với đạm, lân, chất hữu cơ là những chất dinh dưỡng cần thiết cho bất kỳ sinh vật nào sống trong ao Nguồn gốc của các chất dinh dưỡng nói chung và của chất hữu cơ nói riêng được cung cấp bởi nhiều nguồn khác nhau- từ chính bản thân trầm tích nền đáy ao, nguồn thức ăn, nguồn nước cấp vào ao, chất thải của tôm, từ nguôn xử lý đáy ao ( vôi và các hợp chất khác ) Chất hữu cơ ở đây được

„ tính dưới dạng cacbon hữu cơ (C nạ Sự biến đổi mức hàm lượng Cy phụ thuộc chính

vào nguồn cung cấp và thời gian khai thác sử dụng cũng như thời gian trong mỗi đợt

- Wong Nhìn chung hàm lượng Cụ trong trầm tích nên đáy các ao có sự đao động khác

nhau theo từng khu và theo thời gian trong các đợt ương

Tại các khu I, II, HI hàm lượng Cục thường dao động trong khoảng từ 0,490- 1,39% Theo thời gian trong mỗi đợt ương mức hàm lượng của chúng thường chỉ đao động trong khoảng từ 0,1- 0,2% và có xu hướng tăng dân theo thời gian

Tại khu IV và V hàm lượng của chúng dao động trong khoảng từ 0,603- _1,123% và theo thời gian trong mỗi đợt ương cũng chỉ đao động trong khoảng <0,2%

Tại các khu VI, VI và X: hàm lượng Cụ trong trầm tích nên đáy ở đây thường

ở mức nhỏ hơn 1%, riêng ở khu VII có khi đạt tới 1,334% vào cuối đợt ương Sự biến

đổi của mức hàm lượng trong mỗi đợt ương cũng chỉ nằm trong khoảng 0,1-0,2%

Tại các khu VHI và IX: mức hàm lượng cực đại của Cục là 1,660%, cực tiểu là

0,498% Sự biến đổi của mức hàm lượng trong mỗi đợt ương nằm trong khoảng từ 0,2-

0,4%, có khi tới 0,8%

Từ những kết quả phân tích ở trên thấy rằng, trong khu vực nghiên cứu hàm lượng Cục trong trầm tích nến đáy các ao ương nằm trong khoảng mức hàm lượng

trung bình và thay đổi tương đối rõ ràng theo thời gian ương- mức hàm lượng Cục tăng

tuyến tính với thời gian ương và thường không vượt quá 0,4% so với mức hàm lượng

ban đầu, ngoại trừ một vài trường hợp mức biến thiên hàm lượng này tới hơn 0,4% do

thời gian ương bị kéo dài Với mức biến động này và trong điểu kiện thời tiết bình

thường, hoàn toàn phù hợp với sinh thái vật nuôi

Hàm lượng đạm: Đạm trong lớp trầm tích nền đáy các ao được tính dưới dạng

N tổng số Cũng như Cục hàm lượng N tổng số tại các khu khác nhau có mức hàm lượng khác nhau và cũng thay đối theo thời gian

Tại các khu I, II và II mức hàm lượng của nó dao động trong khoảng 0,018- 0,085%, trung bình là 0,038% —

Tại các khu IV và V là 0,025- 0,043%, trung binh 14 0,032%

— ĐI —

Trang 22

Tại các khu VỊ,VII và X là 0,09- 0,44%, trung bình là 0,027%

Tại các khu VHI và IX là 0,023- 0,052%, trung bình là 0,029%

Từ các kết quả phân tích thấy rằng, hàm lượng N tổng số trong các kiểu nền đáy

khác nhau có sự khác biệt tương đối rõ Trong kiểu trầm tích cát bùn có mức hàm

lượng thường cao hơn so với trong trầm tích cát chứa bùn và cát Sự biến động theo

thời gian (trong một đợt ương) cũng khá rõ ràng, hàm lượng N tổng số trong hầu hết các

;đợt ương điều thể hiện xu thế tăng dần theo thời gian ương- thấp ở giai đoạn đầu, tăng dần trong thời gian ương và cao nhất ở thời điểm thu hoạch Xu thế này phù hợp với xu

- tiế của Cụẹ, tức là hàm lượng của chúng thường biến thiên tuyến tính với nhau và điều

tặng dần theo thời gian ương nuôi Đây cũng là một trong những xu thế chung của

ˆ chúng trong tự nhiên

- Hàm lượng lân: Hàm lượng lân được tính dưới dạng P¿Os, và trong mọi trường hợp ở đây chúng điểu có mức hàm lượng trung bình cao hơn so với hầm lượng của Chẹ

và N tổng số và có sự biến động không rõ ràng theo thời gian Mức biến động trung

bình theo thời gian trong mỗi đợt ương thường không quá 0,015%

Tại các khu LIIIII mức hàm lượng của chúng thường dao động trong khoảng

0,026- 0,068%, trung bình là 0,052%

Tại các khu FV va V là 0,036- 0,068%, trung bình là 0,050%,

Tại các khu VI, VII và X là 0,033- 0,062%, trung bình là 0,047%

Tại các khu VIII và IX là 0,033- 0,055%, trung bình là 0,045%

Ham lượng AI”: Trong vùng nghiên cứu sự biến đổi mức hàm lượng của AI? diễn ra khá phức tạp và tại các khu khác nhau có sự biến động khác nhau xong gần như tuân theo một trật tự là cổ xu thế giảm dần theo thời gian của mỗi đợt ượng với mức

biến động trung bình thường là 0,02- 0,04% và cực đại không vượt quá 0,06% Sự biến

đổi theo chiều hướng gidm dần hàm lượng AlÊ* theo thời gian ương nuôi có lẽ do ảnh hưởng của quá trình cải tạo xử lý nên đáy các ao và chính xu thế này là điểu kiện thuận lợi trong quá trình ương nuôi Vì như chúng ta biết rằng, hàm lượng AlÊ* và các chất vi lượng khác ở một mức độ hàm lượng nhất định là rất cần thiết cho đất và sinh vật nói

chung và cho tôm ương nuôi nói riêng, những khi hàm lượng của chúng trong môi

trường trầm tích đáy ao cao và có sự biến đổi đột ngột sẽ trở thành độc chất gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và phát triển của tôm ương nuôi Trong nhiễu trường hợp

chúng là một trong những thủ phạm chính gây nên cái chết hàng loạt của tôm ương

Tại các khu LII và HI hàm lượng của nó dao động trong khoảng 0,0369- 0,1372%, trung bình là 0,0676%

Tại các khu IV và V là 0,293- 0,0589%, trung bình là 0,0450%,

— 22 —

Trang 23

oF

Tại các khu VI,VII va X 14 0,0112- 0,0777%, trung binh 1a 0,0401%

Tại các khu VIII va IX là 0,0251- 0,0848%, trung bình là 0,0435%

Hàm lượng Fe?" và Fe**; Bức tranh biến động chung của hàm lượng Fe?! và Fe** trong trầm tích nền đáy các ao liên tục thay đổi và cực kỳ phức tạp, phụ thuộc vào

„ các yếu tố môi trường động thái trong các ao Chúng ta biết rằng trong quá trình sản xuất ( trong thời gian ương nuôi) ở đáy các ao luôn hình thành tầng yếm khí là điểu

: kiện thuận lợi dé Fe** bị khử thành Fe?* Vì vậy gần như trong mọi trường hợp thì trong

trầm tích nên đáy các ao hàm lượng của Fe”" luôn luôn lớn hơn Fe”*, có khi gấp tới vài

ˆ - "''lần Sự biến thiên hàm lượng Fe”! và Fe** dién ra theo chiéu ngudc nhau, ttc 1A khi

‘ham lượng Fe”" tăng thì hàm lượng Fe” giảm và ngược lại Các kết quả phân tích đã chứng minh cho diễn thé nay

Đối với Fe”' cũng như các chất vi lượng khác có nguồn gốc chủ yếu từ chính trầm tích nền đầy các ao và từ các nguồn khác nhau nữa được bổ xung trong mỗi đợt ương nuôi Trong nhiều trường hợp ở đây có thể thấy một diễn thế chung là: ở giai

_ đoạn đầu khi cải tạo ao thường có mức hàm lượng cao, sau đấy có xu hướng giảm dần vào giữa đầu giai đoạn ương và tăng cao vào thời gian thu hoạch Đối với các ao có

thời gian ương dài ngày thì hàm lượng của chúng tăng cao rất đáng kể và có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của tôm ương nuôi Mức độ biến thiên bàm lượng trung bình của Fe”” trong trầm tích nên đáy ao trong vùng nghiên cứu thường nằm trong khoảng từ 0,05 - 0,2% có khi (đối với các ao ương dài ngày) tới hơn 0,4% -

Hàm lượng Fe?” tại các khu I,ÏI và III dao động trong khoảng 0,0425- 0,4376%, trung bình là 0,1530%

Tại các khu IV và V là 0,0243- 0,0904%, trung bình là 0,0673%

Tại các khu VI,VII và X là 0,0337- 0,1319%, trung bình là 0,0723%

Tại các khu VIII và IX là 0,0481- 0,1237%, trung bình là 0,0754%

Hàm lượng Fe** tại các khu I,IH và II đao động trong khoảng 0,0220- 0,1033%,

trung bình là 0,0515%

"Tại các khu IV và V là 0,0169- 0,1570%, trung bình là 0,0424%

"Tại các khu VI,VII và X là 0,0078- 0,0238%, trung bình là 0,0169%

Tại các khu VHI và IX là 0,0071- 0,0320%, trung bình là 0,0147%

Hàm lượng SOjŸ sulfat và S tổng sulfua: Các hợp phần này được sinh ra từ chính trầm tích nên đáy các ao và các chất thải lắng tụ trong quá trình khai thác sản xuất Hàm lượng của chúng phụ thuộc chủ yếu vào trạng thái chất lượng ban đầu của _ nền đầy ao và tất nhiên là cả môi trường động thái ao trong thời gian sản xuất Sự biến động hàm lượng của các hợp phần này phụ thuộc vào quá trình cải tạo nên đáy ao, qui

— 23

Trang 24

trình và thời gian ương nuôi Các kết quả theo đỏi, phân tích các mẫu thu được cũng thể hiện phần nào bức tranh phân bố chung và mối liên quan của chúng với các yếu tố

môi trường động thái ao ương tại các khu khác nhau trong vùng nghiên cứu

Đối với SO¿` sulfat thường có mức biến động hàm lượng không rõ ràng theo

„ thời gian ương và nằm trong khoảng từ 0,01% đến 0,04% Hàm lượng của chúng trong

các kiểu trầm tích ở từng khu khác nhau có sự khác nhau rõ ràng

Tai các khu I,II và HI hàm lượng của chúng dao động trong khoảng 0,0390-

“6, 1358 %, trung binh 1a 0,0795%

Tại các khu IV và V là 0,0322- 0,1319%, trung bình là 0,0828%

Tại các khu VI, VII và X là 0,0150- 0,1190%, trung bình là 0,0419%,

_ Tại các khu VHI và IX là 0,0150- 0,1181%, trung bình là 0,0506%.,

Đối với S tổng sulfua trong trầm tích nên đáy các ao tại tất cả các khu trong

vùng nghiên cứu điểu có mức hàm lượng thường cao hơn 0,1%, hàm lượng cực đại đạt _tổi 0,6202% Hàm lượng trung bình của chúng tại tất cả các khu trong vùng nghiên cứu dao động trong khoảng từ 0,1808- 0,2608% Biến thiên hàm lượng S tổng sulfua ở đây thay đổi theo thời gian tương đối 1õ rang và phụ thuộc khá nhiều vào sự tăng hay giảm hàm lượng Chục

Tại các khu I,II và HI hàm lượng dao động trong khoảng 0,0839- 0,4566%, trung bình là 0,1909%

Tại các khu IV và V là 0,1402- 0,3353%, trung bùnh là 0,2271%

Tat cdc khu VI,VII va X 1a 0,0753- - 0,3457%, trung bình là 0,1808%

Tại các khu VIIE và IX là 0,0909- 0,6202%, trung bình là 0,2608% Z

Từ những kết quả trên thấy rằng, đặc điểm thành phân và sự biển thiên của hàm lượng các yếu tố hóa học trong trầm tích nên đáy các ao ương ở đây khá phức tạp và phụ thuộc vào nhiễu tác nhân khác nhau, trong đấy chủ yếu là đặc điểm thành phần độ hạt của các kiéu tram tích, nguồn cung cấp và chất thải lắng tụ trong quá trình sản xuất

và trong mỗi đợt ương Hiện nay tại vùng nghiên cứu hầu hết các hộ đều thực hiện một

qui trình ương nuôi gần như tương tự nhau ( không tính thời gian ương nuôi của một vài

ao bị kéo dài đo các điều kiện khách quan) thì có thể thấy rằng, hàm lượng các yếu tố hóa học phụ thuộc chú yếu vào thành phần độ hạt của các kiểu trầm tích của nền đầy

ao ban đầu Tại các khu có trầm tích nền đáy là cát bùn ( các khu II và HI) hàm lượng trung bình của hầu hết các yếu tố hóa học đều cao hơn so với các khu có trầm tích nền đáy là cát hay cát chứa ít bùn Sự biến thiên hàm lượng của phần lớn các yếu

tố hóa học đều chịu tác động khá rõ ràng của thời gian ương nuôi, của môi trường động thái ao và mối quan hệ tương tác giữa chúng với nhau Một đặc điểm chung nữa là

— 24

Trang 25

hàm lượng của các yếu tố hóa học trong thành phần vật chất của trầm tích nên đáy các

ao đều ở mức trung bình đôi khi hơi thấp (trường hợp đối với các chất dinh dưỡng) và tuy chưa ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của tôm ương, nhưng đã thể hiện mức độ tro của nên đáy ao là một trong những tác nhân làm giảm năng suất ao ương

;IH.1.2.2 Mối quan hệ của các yếu tố bóa học và các yếu tố môi trường động thái ao

⁄ Như ở phần trên đã để cập tới sự biến thiên hàm lượng các yếu tố hóa học-trong

tram tích nên đáy các ao ương phụ thuộc vào nhiễu yếu tố khác nhau trong điểu kiện

` môi trường động thái ao và mối quan hệ chặt chế giữa chúng với nhau Sự tăng hay giảm của yếu tố này có thể kéo theo sự tăng hay gỉam của yếu tố khác "Từ kết quả

phân tích cho thấy mối quan hệ mật thiết của các chất dinh đưỡng Cục, N tổng số với S tổng sulfua và giữa PạO; với AI”, Fe?', -

Chúng ta biết rằng các chất dinh dưỡng luôn rất cần thiết cho sự sống và phát

; triển của tôm tương, phiêu sinh vật và các sinh vật khác sống trong ao, tuy nhiên chúng cũng có khả năng trở thành độc chất nếu hàm lượng của chúng vượt quá ngưỡng cho

phép đối với đời sống của các sinh vật nói chung Theo các kết quả phân tích đã được trình bày ở trên thì trong hầu hết các ao ương nuôi điểu thể hiện một diễn thế theo qui luật khá rõ ràng là các hợp phần Cụ, và N tổng số có sự biến đổi tuyển tính với nhau và

theo thời gian rõ ràng Sự tăng hay giấm của hàm lượng Cụ„ và N tổng số đều kéo theo

sự giảm hay tăng của hàm lượng S tổng sulfua

Từ thực tế cho thấy, lượng Cụ¿ trong trầm tích nền đáy các ao được tích tụ từ nhiều nguồn khác nhau: từ chính bản thân nền đáy ao ( yếu tố chủ quan), nguồn thức

ăn cho tôm, nguồn nước cấp, chất thải sinh học , phân bón và các hợp chất khác cung cấp cho ao (yếu tố khách quan) Sự gia tăng hàm lượng do yếu tố chủ quan là bất khả

kháng (theo nghĩa hẹp) nhưng trong thực tế hàm lượng Cụ, chỉ gia tăng đáng kể trong

thời gian ương nuôi Như vậy rõ ràng là các yếu tố khách (mà thực chất là do tác động

của con người) mới là nguyên nhân chính gây nên sự tăng cao hàm lượng Cụ, trong

trầm tích đáy ao Trong thời gian ương nuôi, trong ao luôn diễn ra sự lắng tụ vật liệu với thành phần cơ bản là vật chất hữu cơ phủ trên bề mặt nên đấy ao Bề dày của lớp lắng tụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau và gần như luôn tỷ lệ thuận với thời gian ương nuôi Chính trong điểu kiện này đã tạo nên tầng yếm khí ở nên đáy ao ( môi

trường ở điều kiện khử) là nguyên nhân thúc đẩy nhanh quá trình sulfua hóa vật chất

làm gia tăng hàm lượng S tổng sulfua trong đáy ao, khả năng tạo cho môi trường thay

đổi theo chiều hướng xấu đi Trong trường hợp hàm lượng của chúng tăng cao đột ngột

hay quá mức ngưỡng cho phép sẽ tạo nên môi trường xấu ở đáy ao gây ảnh hưởng đến

đời sống và quá trình phát triển của tôm ương, có khi gây xốc cho tôm và làm cho tôm chết hàng loạt Nhưng như chúng tôi đã để cập tới ở trên, hàm lượng Cụ; và N tổng số

— Ê5_

Trang 26

luôn có tương quan tuyến tính với nhau Sự tăng cao hàm lượng C¡ kếo theo sự gia

tăng hàm lượng N tổng số sẽ tạo cho đáy ao có môi trường thuận lợi Chính mối quan

hệ tương quan thuận của hàm lượng Cụ, và N tổng số thể hiện sự phân giải các vật chất

hữu cơ điễn rả trong môi trường đáy ao khá tốt Quá trình này đã tạo nên nguồn dam

đỉnh đưỡng củng cấp không những chỉ cho chính nền đáy ao mà cho cả tôm ương, đồng _ „thời có tác dụng ngăn cẩn sự gia tăng đột ngột hàm lượng S sulfua trong ao do dư thừa -._ vật chất hữu cơ Như vậy, rõ ràng trong trường hợp này luôn tạo nên môi trường thuận

;lợi trong ao Tại hầu hết các khu trong vùng nghiên cứu sự biến thiên của các yếu tố thường diễn ra theo xu thế này

Mối quan hệ giữa PạO; với AI”? và Fe”*: Chúng ta biết rằng lan (P20s) trong ao

ương nuôi đóng hai vai trò khác nhau- ngoài vai trò chính là chất đinh dưỡng cho tôm, còn có vai trò là một chất đệm làm giảm độ phèn trong ao Từ các kết quả theo dỏi

phân tích thấy rằng, giữa P;O; với AI” và Fe” thường có mối tương quan nghịch, tuy

nhiên trong một vài trương hợp (một vài ao trong một đợt ương) giữa chúng lại có mối

_tương quản thuận Trong trương hợp mối quan hệ của các yếu tố này có mối tương

nghịch với nhau sẽ xây ra 2 trường hợp khác nhau: trường hợp thứ nhất khi hàm lương

PaO; tăng mà hàm lượng AI”” và Fe?" giảm sẽ tạo môi trường tốt trong các ao; trường

hợp thứ hai khi hàm lượng PO; giảm mà hàm lượng AI” và Fe” tăng làm tăng độ

phèn sẽ tạo môi trường không thuận lợi trong ao và là một trong những nguyên nhân

gây ảnh hưởng xấu cho đời sống và sự phát triển của tôm ương Đối với các trường

hợp giữa chúng có mối tương quan thuận với nhau trong quá trình ương thì trong ao

thường có có độ pH ở mức axit yếu và tất nhiên sẽ làm cho tôm ương chậm phát triển

hơn và có khi gây hại cho tôm đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột ( đặc biệt là sau mỗi cơn mưa)

Như vậy thấy rằng, các chất đinh dưỡng có vai trò cực kỳ quan trọng trong các quá trình biến dưỡng trong ao và vì thế việc theo đổi quản lý chúng có hiệu quả là rất cần thiết và không thể thiếu trong mỗi đợt ương nuôi nói riêng và trong toàn bộ quá

trình sản xuất nói chung, nhằm đảm bảo cho môi trường động thái ao luôn thuận lợi

Để góp phần vào việc đánh giá chất lượng môi trường trong các ao ương nuôi, ngoài các hiểu biết về các yếu tế địa chất môi trường đặc biệt là sự biến đổi hàm lượng cũng như mối quan hệ của các yếu tố hóa học trong trầm tích nền đáy ao, cần phải hiểu

và biết được các yếu tố trong môi trường động thái ao Ở đây chúng tôi chỉ để cập tới

một vài yếu tố là: tính chất của nước trong ao, năng suất và vi sinh vật trong trầm tích

đáy ao

Tính chất nước trong các ao: Nước trong ao đóng vai trò vận chuyển oxy cho

tôm và những sinh vật khác trong ao sử dụng, đồng thời cũng chuyên chở nhiều chất

— 2&6

Trang 27

khác trong ao Mặt khác cũng chính nó làm luân chuyển các chất độc được sinh ra từ

các chất lơ lững và các chất líng tụ ở nền đáy ao Chính vì vậy việc quần lý tốt nguồn nước cấp, đặc biệt đối với nước trong các ao ương nuôi, là công việc rất cần thiết và không thể thiếu Làm tốt công việc này sẽ góp phần quan trọng bảo đảm tăng năng suất ương nuôi

Như chúng ta đã biết rằng, nhiệt độ nước và độ mặn là một trong những yếu tố chi phối trực tiếp đến đời sống thủy sinh vật nói chung và cho tôm nói riêng

Nhiệt độ ảnh hưởng đến nhiễu phương diện trong đời sống của tôm như : hô hấp,

” đêu thụ thức ăn, đồng hóa, dị hóa, miễn nhiễm bệnh , từ đó ảnh hưởng đến tốc độ

tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm Bằng thực nghiệm, các nhà nghiên cứu đã xác nhận

được rằng, tôm sú là loài rộng nhiệt, chúng có thể chịu đựng được khoảng nhiệt độ

12°C- 37°C,.trong đó khoảng cực thuận là 28°C- 30°C Trên 30°C, tôm lớn nhanh

nhưng rất dễ mắc bệnh, đặc biệt là bệnh MBV, còn dưới 28°C tôm tăng trưởng lường

đối chậm

Theo các kết quả đo đạc ( Nguyễn Tác An, et AI 1994-1996) tại vùng ương nuôi tôm ở Nha Trang thì chế độ nhiệt trong ao và trong vực nước liễn kể biến đổi theo mùa và có nền nhiệt độ tương đối cao, thường dao động trong khoảng 23,5- 32°C thậm chí có một Vài trường hợp ( trong các ao trong mùa khô vào kỳ triêu thấp) có thể đạt tới

Trong khu vực nghiên cứu độ mặn trong các ao ương nuôi thay đổi đáng kể theo

mùa- mùa khô và mùa mưa Nó phụ thuộc vào sự tương tác của hai khối nước- lục địa

và biển, đồng thời cả mức độ bốc hơi nước trong các ao Trong mùa mưa, độ mặn

thường thay đổi trong khoảng 10-26%, trong mùa khô dao động trong khoảng 26,5- 34,5%„ Thực tế trong quá trình ương nuôi, mức độ ảnh hưởng của độ mặn trực tiếp đối với tôm ương là không lớn, song cần lưu ý sau những cơn mưa lớn bất chợt, liên tục

27

Trang 28

s chất lượng nước trong các ao rất khác nhau và ngay trong cùng một ao nhưng trong mỗi

đợt ương khác nhau cũng khác nhau đáng kể, đặc biệt đối với hàm lượng vật chất lơ

Độ pH nước Trong các thông số môi trường, pH là yếu tố chỉ thị tốt nhất vì bất `.""'Kỳ một sự thay đổi nào dù là nhồ cũng có thể làm thay đổi pH ( dư thừa thức ăn, tảo nd

: hơa, thay đổi nhiệt độ, độ mặn, ) pH giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa hô

hấp và hệ men của cơ thể, do đó chỉ cần pH có một dao động nhỏ cũng làm cho cơ thể rơi vào tình trạng nguy kịch Độ pH được coi là yếu tố quan trọng và đo vậy nó cũng được xem như là một chỉ số có triển vọng chung về hiện trạng sinh thái của các sinh vật trong vực nước Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, chỉ số pll trong các ao ương nuôi từ

6,5-8,5 là an toàn, trong đó phù hợp nhất cho tôm tăng trưởng là 7,5-8,5 ( Trân Minh

_ Anh, 1989, Boyd, 1990, Nguyễn Văn Chung,1992, Tiêu chuẩn Việt Nam, 1995, )

Trong các ao ương nuôi ở khu vực Nha Trang, độ pH thường dao động trong

khoảng 6,8-7,2 tức là từ dạng axit yếu đến kiểm yếu Các giá trị này hoàn toàn nằm

trong khoảng giới hạn cho phép, tất nhiên có những trường hợp tăng giảm đột ngột

trong các ao có thực vật nổi phát triển mạnh đặc biệt là vào mùa khô Đây là vấn để cần phải đặc biệt lưu ý, bởi vì sự biến đổi này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của

tôm ương nuôi

Đối với vật chất lơ lững trong nước của hầu hết các ao trong các đợt ương nuôi

đều có mức hàm lượng luôn nhỏ hơn 50 mg/l, thường dao động trong khoảng 22- 46 mgil, hạn hữu có trường bợp chỉ đạt 7,5- 16,5 mg/l Nhìn tổng quát trên bức tranh

chung thì hàm lượng vật chất lơ lững trong nước các ao diéu nằm trong khoảng giới

hạn cho phép theo tiêu chuẩn ngành Thủy sản Trong trường hợp hàm lượng vật chất

lơ lững trong nước ao thấp là một trong những dấu hiệu biểu hiện sự thiếu nguồn thức

ăn tự nhiên trong ao ( mật độ phiêu sinh vật thấp) khả năng gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của tôm ương nuôi Qua thực tế theo dỏi thấy rằng đối với các ao ương nuôi

có hàm lương vật chất lơ lững quá thấp thường đạt tỷ lệ thu hoạch chỉ 30-50%

Đối với hàm lượng oxy hòa tan có sự khác nhau rất lớn tại các khu khác nhau và

ngay tại một khu (một ao) trong các đợt ương khác nhau cũng rất khác nhau Giá trị hàm lượng cực đại là 8,530 mg/1 và cực tiểu là 3,080 mg/1 Sự biến động hàm lượng này

phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân, song vai trò chính có lẽ do sự phát triển nhanh với

mật độ cao của thực vật phù du trong điều kiện môi trường động thái ao thuận lợi Chính sự phát triển nhanh của chúng đã tiêu tốn phần lớn lượng oxy hòa tan trong

— 26

Trang 29

+

nước, và vào các thời điểm tức thời (thường là vào khoảng thời gian từ 2-6 giờ sáng) sự

thay đổi đột ngột này sẽ gây sốc cho tôm ương nuôi, hậu quả là có khả năng gây chết hàng loạt Để tránh và khắc phục hiện tượng này cần thiết phải theo đổi liên tục màu

nước trong ao (đặc biệt trong thời gian mùa khô), các hoạt động của tôm ương nuôi để

kịp thời xử lý như thay nước hay tạo luồng nước trong ao bằng sục khí hay biện pháp

ˆ - eđ học nhằm điều hòa và tăng cường hàm lượng oxy hòa tan trong nước ao Mặc dù có

._ sự biến động khá lớn, nhưng về tổng thể chung thì hàm lượng oxy hòa tan trong nước

;các ao thường nằm trong khoảng giới hạn > 5 mg/1 và đây cũng là giới hạn phù hợp với tôm ương nuôi

Đối với hàm lượng Fe tổng trong nước tại hầu hết các ao thường có mức hàm lượng cao hơn 0,1 mg/1, hàm lượng thấp nhất là 0,091mg/1, cao nhất là 0,519mg/1 với

' mức đao động trung bình tròng khoảng 0,03-0,1 mg/l Trong đấy hàm lượng Fe”* luôn

cao hơn gấp nhiều lần so với Fe°” Sự tăng cao hàm lượng Fe tổng trong nước phụ thuộc ˆ vào nhiều yếu tố khác nhan, song có Íế chủ yếu vẫn ià ảnh hưởng từ môi trường động

thái ao Tuy có hàm lượng thường cao hơn so với mức chuẩn qui định của ngành thủy sản (tiêu chuẩn của ngành thủy sản: hàm lượng Fe tổng là 0,1mg/) song với mức hàm

lượng này nhưng với sự biến đổi từ từ trong điều kiện thời tiết bình thường thì chưa ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động của tôm ương nuôi

Các muối đình dưỡng hòa tan Các hợp chất nitd vô cơ (NOx,NOx, NH”*) rất

cân cho sự sống của thực vật ( quá trình quang hợp hấp thụ chất đinh đưỡng) Chúng có chung một nguồn gốc và trong những điểu kiện nhất định chúng có thể chuyển hóa các dạng cho nhau Các quá trình sinh hóa, khoáng hóa chất hữu cơ mà kết quả của nó là biến đổi nitơ có trong liên kết các hợp chất hữu cơ làm xuất biện amoni Amoni có thể được thực vật nổi sử dụng khi hết nitrat và nitrit hoặc có thể chính bản thân nó bị oxy hóa để tạo thành nitrit và nitrat Quá trình chuyển hóa từ amoni thành nitrit và nitrat

trong môi trường nước xảy ra dưới tác dụng của vi sinh vật và được gọi là nitro hóa

Các kết quả phân tích cho thấy hàm lượng NO¿ trong nước các ao rất thấp và hầu như chỉ ở dạng vết Điều này thể hiện quá trình tự làm sạch ở đây kém nếu như không muốn nói là hầu như không xảy ra Hàm lượng NO; thay đổi theo không gian

và thời gian khá rõ ràng , mức giá trị hàm lượng lớn nhất đạt tới 1,250 mgz/1, còn nhỏ

nhất là 0,327 mg Đối với Nu có mức giá trị hàm lượng cao nhất là 0,064 mg/1 và thấp nhất là 0,010 mg/1 Sự tăng cao hàm lượng NH¿ trong nước các ao phụ thuộc vào

sự tàn lụi của thực vật nổi, đã phân rã nhanh chóng các hợp chất hữu cơ, đặc biệt là vào mùa khô

_—29_._

Trang 30

" chất lơ | hòa | Fef" | Fe** | NHy* |NO, |NO;- | PO,’-

|" -Eb | 7,0] 46,0 | 5,52 | 0.118 | 0040 |0.064| - | 0.898 | 0.061 | 32.5

of IL | 7,0} 46,3 | 5,45 | 0.232 | 0.044 | 0.025 | 0.005 | 1.250 | 0.122 | 12,6

“T1 |6/8| 46,5 | 6,32 | 0,120 | 0.040 | 0.051} - | 1,057 | 0.140 | 16.7 I-2 |6,8| 30,1 | 5,09 | 0,154 | 0,080 | 0,030} - | 0,531 | 0,077 | 15.2 IV-1 | 7,1] 220 | 3,72 | 0,084 | 0,038 | 0,025] - | 0,487 | 0,118 | 9.1 VI-1 | 7,1 | 22,5 | 4,67 | 0,332 | 0,065 | 0,015] - | 0,894 | 0,037 | 53.5 VI-2 | 6,8} 27,4 | 3,08 | 0,268 | 0,051 | 0,021} - | 0.797 | 0.036 | 49.0 _Vi-1 | 7,0] 24,5 | 4,21 | 0,440 | 0,079 | 0,018) - | 1,062 | 0,036 | 65.3 VIII-1 | 6,8} 36,2 | 6,53 | 0,184 | 0,051 | 0,017] vét | 0,619 | 0,038 | 36.0 VUI-2 | 6,8} 34,2 | 7,10 | 0,130 | vết | 0,012] vét | 1,110 | 0,183 | 13.4 IX-1 | 6,8} 29,1 | 8,53 | 0,114 | 0,032 | 0,059 | 0,006 | 0,902 | 0,078 | 25.6 IX-2 | 7,0] 27,5 | 5,68 | 0,200 | vết | 0,025} - | 1,020 | 0,141 | 16.0 IX-3 | 7,0] 16,5 | 4,32 | 0,230 | 0,136 | 0,020} - | 0,950 | 0,199 | 10.5 X-1 |70| 342 | 7,10 | 0,130 | vét | 0,012} vét | 1,110 | 0,138 | 17.8 X-2 |68| 33.0 | 818 | 0,09 | vết | 0,041] - | 1,210 | 0,202 | 13.2 X-3 | 6,8} 38,2 | 5,00 | 0,096 | 0,052 | 0,010} - | 0,456 | 0,084 | 12.0 X-4 |65] 12,1 | 4,57 | 0,060 | 0,038 | 0,021] - | 0,327 | 0,084 | 8.6 X-5 |66| 7,5 | 4/99 | 0320 | 0/046 |0,028] - | 0,708 | 0,083 | 18.8

Ngoài muối dinh dưỡng nitơ, phosphat cũng giữ vai trò quan trọng trong quá trìni quang hợp tạo sịnh khối của thực vật Chúng là chất dinh dưỡng rất tốt cho rong tảo phái triển Tuy nhiên bản thân phosphat và cả muối dinh dưỡng nitơ cũng là những thành phẩr

có khả năng làm nhiễm bẩn, gây phì hóa vực nước và tất nhiên như vậy sẽ ảnh hưởng không

nhỏ tới vật nuôi Theo kết quả phân tích, hàm lượng phosphat dao động trong khoảng 0,03€ -0,202 mg/l, nitrit có hàm lượng không đáng kể, còn nitrat dao động trong khoảng 0,327-

1,250 mg/ và amoni dao động trong khoảng 0,010- 0,064 mg/l Như vậy thấy rằng, hàm

lượng của các muối dinh dưỡng biến động khá lớn và tỷ lệ N/P thường không nằm trong

giới hạn an toàn ( tỷ sốN /P trung bình cho toàn vùng là 24,2 :1) so với giới hạn an toàn là

— 3O ~

Ngày đăng: 24/03/2018, 02:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w