1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng được niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

114 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 5,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN THỊ THANH TÂM NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM LUẬN VĂN TH

Trang 1

TRẦN THỊ THANH TÂM

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 2

TRẦN THỊ THANH TÂM

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tá g ả luận văn

Trần T ị T n Tâm

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 12

1.1 TỔNG QUAN VỀ NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG 12

1.1.1 Khái niệm vốn lưu động 12

1.1.2 Phân loại vốn lưu động 12

1.1.3 Vai trò của vốn lưu động 14

1.1.4 Nhu cầu vốn lưu động 15

1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 17

1.2.1 Doanh thu 18

1.2.2 Khả năng sinh lời của doanh nghiệp 19

1.2.3 Hiệu quả quản l vốn lưu động 21

1.2.4 Quy mô của doanh nghiệp 24

1.2.5 Đòn bẩy tài chính 25

1.2.6 Đánh giá của nhà đầu tư 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM 32

Trang 5

2.2.2 Khả năng sinh lời 39

2.2.3 Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt 39

2.2.4 Đòn bẩy tài chính 40

2.2.5 Quy mô doanh nghiệp 41

2.2.6 Đánh giá của nhà đầu tư 41

2.3 ĐO LƯỜNG BIẾN NGHIÊN CỨU 42

2.4 CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU 44

2.5 XỬ LÝ DỮ LIỆU 45

2.5.1 Phân tích tương quan 45

2.5.2 Phân tích độ phù hợp của mô hình 46

2.5.3 Lựa chọn biến cho mô hình 47

2.5.4 Kiểm tra giả định liên hệ tuyến tính 47

2.5.5 Kiểm tra giả định phương sai của sai số không đổi 47

2.5.6 Kiểm tra giả định phân phối chuẩn của phần dư 47

2.5.7 Kiểm tra giả định không xảy ra hiện tượng tự tương quan 48

2.5.8 Kiểm tra giả định không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến 48

2.6 MÔ HÌNH HỒI QUY TỔNG THỂ 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ DỰ KIẾN CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 51

3.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 54

3.2.1 Kiểm định giả thiết về phân phối chuẩn của các biến trong mô hình hồi quy 54

Trang 6

3.3 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG 67 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69

CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 70

4.1 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG 70 4.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 74

4.2.1 Nâng cao khả năng sinh lời nhằm giảm nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp 75

4.2.2 Rút ngắn chu kỳ chuyển hóa tiền mặt nhằm giảm áp lực nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp 76 4.2 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI 78 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 80

KẾT LUẬN 81 PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản s o)

Trang 7

bảng Tên bảng Trang

1.1 Bảng tóm tắt cách đo lường nhu cầu vốn lưu động

(WCR) của các công trình nghiên cứu trên thế giới 29

3.1 Mô tả thống kê nhu cầu vốn lưu động của các doanh

nghiệp từng nhóm ngành giai đoạn 2014-201 51 3.2 Mô tả thống kê các biến cho toàn bộ mẫu nghiên cứu 52

3.3 Giá trị trung bình của các biến qua từng năm quan sát

3.4 Ma trận tương quan của các biến trong mô hình 56 3.5 Hệ số độ phù hợp R2 của mô hình hồi quy bội (Lần 1) 58

của các biến đối với nhu cầu vốn lưu động của doanh

nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng

68

Trang 8

4.1

Bảng tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng và chiều hướng tác

động của các biến đến nhu cầu vốn lưu động của doanh

nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng so với các nghiên cứu

trước đây tại Việt Nam

73

4.2 Bảng tóm tắt chu kỳ chuyển hóa hàng tồn kho, chu kỳ thu

Trang 9

n Tên n Trang

2.1 Biểu đồ thể hiện tỷ trọng vốn hóa của ngành hàng tiêu

2.2 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ tăng trưởng doanh thu ngành hàng

2.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ gia tăng tài sản ngành hàng tiêu

3.1 Biểu đồ phân phối chuẩn của biến phụ thuộc 35

3.2 Đồ thị phân tán giữa các phần dư và giá trị dự đoán

Kiểm tra giả định phương sai của sai số không đổi 64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tín ấp t ết ủ đề tà

Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều cần vốn để duy trì hoạt động hằng ngày cũng như phát triển sản xuất Vốn là điều kiện, là cơ sở vật chất cần thiết giúp cho doanh nghiệp có thể tiến hành các kế hoạch đầu tư và các phương án kinh doanh của mình Một trong những bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh là vốn lưu động, nó là yếu tố bắt đầu và kết thúc của quá trình sản xuất kinh doanh

Trong cơ chế thị trường hiện nay, để có thể tồn tại và phát triển, tìm được một chỗ đứng vững chắc trên thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải quan tâm đến vấn đề tạo lập và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn của mình Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình hình tài chính

vĩ mô trong nước có những diễn biến xấu đã khiến tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp rơi vào tình thế khó khăn Doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh khiến cho nguồn vốn tự tài trợ không đủ, buộc doanh nghiệp phải vay nợ từ bên ngoài trong khi chi phí lãi vay giai đoạn này rất cao Vì vậy, nhiều doanh nghiệp tập trung tăng cường khả năng quản trị vốn lưu động để tăng cường dòng tiền hoạt động nhằm tận dụng nguồn vốn đầu tư nội sinh cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Do vậy xác định đúng nhu cầu vốn lưu động và quản trị nó đóng vai trò hết sức hữu ích đối với doanh nghiệp Việc nắm rõ những nhân tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động sẽ giúp doanh nghiệp có sự điều tiết vốn hợp l hơn, giảm thiểu những khó khăn như hiện nay

Trong những năm gần đây có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện về

đề tài vốn lưu động Các nghiên cứu quốc tế cho thấy có rất nhiều nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, tuy nhiên chiều hướng tác

Trang 11

động của một số nhân tố chính lại không có sự đồng nhất giữa các nghiên cứu được thực hiện tại các quốc gia khác nhau, những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu vốn lưu động có khả năng thay đổi theo đặc thù của nền kinh tế

mà doanh nghiệp đang hoạt động Hơn nữa, các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu tập trung ở các quốc gia tương đối phát triển, chỉ có một vài nghiên cứu được thực hiện ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, môi trường kinh doanh cũng như tình hình vĩ mô ở các nước này không hoàn toàn đồng nhất với Việt Nam Vì thế việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp Việt Nam là rất cần thiết Việc xác định được các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động cũng như mức độ tác động của từng nhân tố sẽ giúp các doanh nghiệp có một bức tranh chính xác hơn về nhu cầu vốn lưu động cũng như giúp dự báo nhu cầu vốn lưu động trong kỳ tới Dựa theo đó, doanh nghiệp có thể lên kế hoạch vay nợ ngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động Điều này sẽ giúp nâng cao tính chủ động trong công tác quản l tài chính, tiết kiệm được chi phí đi vay cũng như góp phần đảm bảo một cấu trúc tài chính lành mạnh; giúp nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp và góp phần tạo cơ sở cho việc tăng trưởng trong tương lai Các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy rằng mỗi nhóm ngành có những nhân tố ảnh hưởng khác nhau và chiều hướng ảnh hưởng của từng nhân tố đối với từng nhóm ngành riêng cũng không giống nhau Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động theo từng nhóm ngành

cụ thể tại Việt Nam là thực sự cần thiết Có thể dựa trên các phân tích sâu hơn

về đặc điểm của ngành để giải thích được rõ hơn mức độ cũng như chiều hướng tác động của các nhân tố, giúp doanh nghiệp của mỗi nhóm ngành có những hướng đi và chính sách cụ thể, phù hợp hơn

Ngành hàng tiêu dùng là ngành sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu phục vụ cho nhu cầu ăn uống và nhu cầu sử dụng, tiêu dùng hằng ngày của con người Tại Việt Nam, ngành sản xuất hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng rất

Trang 12

lớn trong các nhóm ngành, đang được đánh giá là có nhiều lợi thế và tiềm năng phát triển Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, sự cạnh tranh giữa các công ty trong và ngoài nước ngày càng trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết Các sản phẩm tiêu dùng của Việt Nam phải cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế cũng đặt ra những thách thức lớn, đòi hỏi các doanh nghiệp trong thị trường phải đẩy mạnh phát triển, nâng cao chất lượng và đa dạng mặt hàng Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải

có lượng vốn lưu động đủ lớn để giải quyết nhu cầu kinh doanh của mình Việc nắm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động để đưa ra các quyết định phù hợp trong việc lên kế hoạch tìm nguồn tài trợ hợp l cho nhu cầu vốn lưu động là hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nước ta để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập tốt với nền kinh tế thế giới Đặc biệt, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu thực nghiệm

về các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng được thực hiện tại Việt Nam Do vậy, tác giả đã tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Ng ên ứu á n ân tố ản ưởng đến n u ầu vốn lưu động ủ á o n ng ệp sản xuất àng t êu ùng đượ n êm yết trên t ị trường ứng oán V ệt N m”

2 Mụ t êu ng ên ứu

- Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Thông qua kết quả nghiên cứu lý giải các đặc tính riêng biệt trong nhu cầu vốn lưu động đối với nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng (nếu có); từ đó

có thể đưa ra các hàm chính sách đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và đóng góp một số khuyến nghị cho việc mở rộng nghiên cứu liên quan đến đề tài này

Trang 13

trong tương lai

3 Đố tượng và p ạm v ng ên ứu

Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng được niêm yết trên sàn thành phố

Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn Hà Nội (HNX)

- Phạm vi về mặt thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn 2014-2016

4 P ương p áp ng ên ứu

Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các Báo cáo tài chính (theo năm) đã được kiểm toán cho giai đoạn nghiên cứu (2014-2016) của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng được niêm yết trên sàn HOSE

và sàn HNX

Phương pháp phân tích, xử l số liệu: Trên cơ sở dữ liệu đã thu thập, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để tiến hành phân tích, xử l Đầu tiên đưa ra các thống kê mô tả cần thiết đối với các biến được nghiên cứu Sau đó tác giả tiến hành phân tích định lượng, kiểm định sự tương quan giữa các biến để kết luận các biến được đưa vào mô hình Cuối cùng sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để ước lượng mô hình đã chọn, kiểm định nghĩa của mô hình

và các biến trong mô hình

5 Bố ụ đề tà

Chương 1: Cơ sở l luận về nhu cầu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 14

Chương 4: Hàm chính sách

6 Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu

Trong những năm gần đây đã có các nghiên cứu về đề tài vốn lưu động được thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới Để có cơ sở mở rộng và làm căn cứ vận dụng, nghiên cứu đề tài này tại Việt Nam, tác giả đã tập hợp những nghiên cứu có liên quan trên thế giới và trong nước, dựa vào các nghiên cứu trước để phân tích, dự đoán những nhân tố chính có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

6.1 Các nghiên cứu quốc tế

Nghiên cứu của Hawawini và cộng sự (1986) được thực hiện trên 1181 công ty thuộc 36 ngành khác nhau tại Mỹ trong giai đoạn 1960 - 1979 [11] đã cho thấy nhu cầu vốn lưu động của từng ngành là rất khác nhau, nó phản ánh bản chất của từng ngành và tương đối ổn định theo thời gian

Chiou và cộng sự (2006) thu thập dữ liệu tại sàn giao dịch chứng khoán Đài Loan của 19.180 doanh nghiệp, trong thời kỳ 1996-2004 [8] Nghiên cứu

đã phát hiện ra rằng hệ số nợ và dòng tiền hoạt động có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động và các hệ số khác như chỉ số kinh doanh, đặc điểm ngành, tăng trưởng doanh thu và quy mô doanh nghiệp không có tác động đến nhu

cầu vốn lưu động

Theo nghiên cứu của Nazir và Afza (2009) tại Pakistan [14], tác giả bài viết đã khẳng định nhu cầu vốn lưu động rất quan trọng và nếu không được quản l thích hợp sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nghiên cứu này được thực hiện trên 132 công ty sản xuất thuộc 14 nhóm ngành khác nhau đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi (KSE) trong giai đoạn 2004-2007 và đã đưa ra được kết quả rằng: Chu kỳ hoạt động, đòn bẩy tài chính, ROA và chỉ số Tobin’s Q là những nhân tố nội tại có ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu vốn lưu động của doanh

Trang 15

nghiệp Tác giả đã tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa Nhu cầu vốn lưu động với Chu kỳ hoạt động, Tobin’s Q, Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, và ngành công nghiệp mà công ty đang hoạt động (mức độ yếu); và mối quan hệ nghịch chiều giữa Nhu cầu vốn lưu động với Đòn bẩy tài chính Các tác giả không tìm thấy mối quan hệ đáng kể về mặt thống kê giữa Nhu cầu vốn lưu động với Dòng tiền hoạt động, Sự biến động doanh thu và Quy mô của công

ty Bên cạnh đó, các tác giả còn chỉ ra rằng mức độ hoạt động kinh tế không

có tác động đáng kể lên nhu cầu vốn lưu động

Nghiên cứu của Hill và cộng sự (2010) sử dụng một mẫu nghiên cứu gồm 3.343 công ty, tạo thành 20.710 quan sát trong giai đoạn từ năm 1996 đến 2006 [13] Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ nguồn của COMPUSAT, một đơn vị chủ yếu của Công ty dịch vụ tài chính Standard & Poor’s (S&P) Các kết quả trong bài nghiên cứu chỉ ra rằng: Nhu cầu vốn lưu động có mối quan

hệ nghịch chiều với Tăng trưởng doanh thu và Mức độ biến động của doanh thu; Nhu cầu vốn lưu động có quan hệ thuận chiều với Dòng tiền hoạt động

và Quy mô công ty Các tác giả không có nhiều cơ sở để kết luận mối quan hệ thuận chiều giữa Nhu cầu vốn lưu động và Tỷ lệ lợi nhuận gộp

Năm 2011, Amarjit Gill đã thực hiện nghiên cứu của mình tại Canada nhằm phát hiện các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp tại thị trường này [10] Nghiên cứu chỉ tập trung trên hai nhóm ngành chính là nhóm ngành sản xuất và nhóm ngành dịch vụ của 166 doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Toronto (Canada) trong giai đoạn 2008-2010 Ở nghiên cứu này, tác giả cũng sử dụng các biến độc lập và phụ thuộc giống như nghiên cứu của Nazir và Afza (2009) tại Pakistan [14], nhưng sử dụng thêm biến quốc tế hoá để phản ánh doanh nghiệp nào là doanh nghiệp đa quốc gia thay cho biến tốc độ tăng trưởng Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động ở Canada là chu kỳ hoạt động, tỷ suất sinh

Trang 16

lời trên tài sản, sự quốc tế hóa của công ty, tăng trưởng doanh thu và quy mô công ty Tác giả đã tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa nhu cầu vốn lưu động và chu kỳ hoạt động, tỷ suất sinh lời trên tài sản, sự quốc tế hóa của công ty, và đòn bẩy tài chính (mức độ yếu); mối quan hệ nghịch chiều giữa nhu cầu vốn lưu động và tăng trưởng doanh thu, quy mô công ty, và giá trị Tobin’s Q (mức độ yếu) Tác giả đã đưa ra một vài kết luận đối lập với nghiên cứu trên và l giải cho sự khác biệt này là do mỗi quốc gia có chính sách hoạt động cũng như tình hình kinh tế - chính trị không giống nhau

Vào năm 2012, Akinlo đã tiến hành nghiên cứu nhằm khám phá ra những nhân tố gây ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp tại Nigeria dựa trên dữ liệu được thu thập của 15 nhóm ngành khác nhau cho giai đoạn kinh tế 1997-2007 [6] Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Chu kỳ hoạt động, tăng trưởng doanh thu và quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều với nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp tại Nigeria

Một nghiên cứu nữa được thực hiện bởi Suleiman và Rasha tại Palestine vào năm 2012 [18] nhằm tìm ra những nhân tố có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp thuộc nhóm ngành công nghiệp Kết quả của nghiên cứu cho thấy: dòng tiền hoạt động, tỷ suất sinh lời trên tài sản và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có mối quan hệ cùng chiều với nhu cầu vốn lưu động; đòn bẩy tài chính và quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ ngược chiều với nhu cầu vốn lưu động Ngoài ra, các nhân tố đại diện cho hoạt động kinh tế như lãi suất

và chỉ số tăng trưởng kinh tế GDP lại không gây ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Kết luận của nghiên cứu đã khuyến khích các doanh nghiệp nhóm ngành này nên điều chỉnh nhu cầu vốn lưu động của mình dựa trên tổng tài sản, đòn bẩy tài chính, dòng tiền hoạt động, tỷ suất sinh lời trên tài sản và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt

Tại khu vực Đông Nam Á cũng có nhiều nghiên cứu tiêu biểu, điển hình là

Trang 17

nghiên cứu của Shaista Wasiuzzaman và Veeri Chttiar Arumugam vào năm 2013 [16] Mục tiêu của bài nghiên cứu là hiểu được những yếu tố quyết định đến

sự đầu tư vào vốn lưu động của các doanh nghiệp phi tài chính tại Malaysia Nghiên cứu lựa chọn 12 yếu tố quyết định đến đầu tư vốn lưu động và tiến hành kiểm định 12 giả thuyết được đưa ra: đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu, thông tin bất đối xứng, quy mô của doanh nghiệp, tài sản hữu hình, biến động doanh thu, thời gian hoạt động của doanh nghiệp, khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu, dòng tiền hoạt động, số lượng ban giám đốc, tỷ trọng giám đốc độc lập trong tổng số giám đốc, điều kiện kinh tế (GDP) Kết quả của nghiên cứu cho thấy: dòng tiền hoạt động, tăng trưởng doanh thu, hiệu quả hoạt động có mối quan hệ cùng chiều với nhu cầu vốn lưu động; tài sản hữu hình, biến động doanh thu, đòn bẩy tài chính, thời gian hoạt động của doanh nghiệp

và điều kiện kinh tế có mối quan hệ ngược chiều với nhu cầu vốn lưu động Nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa các yếu tố còn lại với nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

6.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Lô Ngọc Thùy Anh (2011) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các công ty sản xuất trong lĩnh vực nguyên vật liệu tại Việt Nam [1] Tác giả đã tìm thấy một số nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy: chu kỳ chuyển hóa tiền mặt, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, đòn bẩy tài chính và ngành nghề mà doanh nghiệp đang hoạt động có quan hệ cùng chiều với nhu cầu vốn lưu động; quy mô doanh nghiệp có quan hệ ngược chiều với nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ có nghĩa về mặt thống kê giữa nhu cầu vốn lưu động và các biến độc lập khác trong mô hình

Vào năm 2015, Mai Đăng Pháp đã thực hiện nghiên cứu nhằm tìm ra

Trang 18

các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam [3] Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp, dòng tiền hoạt động và chu kỳ hoán chuyển tiền mặt là các nhân tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, cụ thể: quy mô doanh nghiệp, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có mối quan hệ ngược chiều với nhu cầu vốn lưu động; chu kỳ chuyển hóa tiền mặt có mối quan hệ thuận chiều với nhu cầu vốn lưu động Bên cạnh đó các nhân tố vĩ mô như tổng sản lượng, lạm phát và lãi suất vay ngắn hạn không có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Lê Nguyễn Phương Thảo (2015) về các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam [5] Nghiên cứu được thực hiện trên 293 doanh nghiệp thuộc 8 nhóm ngành, đó là: khai khoáng; sản xuất và phân phối điện, khí đốt; xây dựng; bất động sản; sản xuất; thương mại; vận tải kho bãi và công nghệ - truyền thông Kết quả nghiên cứu cho thấy biến động doanh thu và khả năng sinh lời của doanh nghiệp có mối quan

hệ ngược chiều với nhu cầu vốn lưu động; trong khi đó, chu kỳ chuyển hoá tiền mặt của doanh nghiệp lại có mối quan hệ cùng chiều Tác giả không tìm thấy mối quan hệ có nghĩa thống kê giữa các nhân tố: đòn bẩy tài chính, quy

mô của doanh nghiệp và sự đánh giá của nhà đầu tư về doanh nghiệp với nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu trên từng nhóm ngành cũng đã chỉ ra được các nhân tố có tác động đến nhu cầu vốn lưu động đối với mỗi nhóm ngành Tuy nhiên chiều hướng tác động của các nhân tố không có sự tương đồng với nhau bởi sự khác nhau trong đặc điểm hoạt động của mỗi nhóm ngành Ngoài ra, kết quả nghiên cứu chưa l giải được rõ ràng l do tại sao các nhân tố lại có chiều hướng tác động như vậy trên từng nhóm ngành cụ thể

Trang 19

Từ các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, tác giả nhận thấy có rất nhiều nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Tuy nhiên chiều hướng tác động của một số nhân tố chính lại không có sự đồng nhất giữa các nghiên cứu được thực hiện tại các quốc gia khác nhau Tại Việt Nam thì kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mỗi nhóm ngành có những nhân tố ảnh hưởng khác nhau và chiều hướng ảnh hưởng của từng nhân tố đối với từng nhóm ngành riêng cũng không giống nhau Cho nên để đề ra được những giải pháp tối thiểu hoá nhu cầu vốn lưu động chung cho doanh nghiệp là khá khó khăn Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động theo từng nhóm ngành cụ thể tại Việt Nam là thực sự cần thiết Có thể dựa trên các phân tích sâu hơn về đặc điểm của ngành để giải thích được rõ hơn mức độ cũng như chiều hướng tác động của các nhân tố, giúp doanh nghiệp của mỗi nhóm ngành có những hướng đi và chính sách cụ thể, phù hợp hơn

Ngành hàng tiêu dùng chiếm một tỷ lệ vốn hóa khá lớn so với các ngành hàng khác trên thị trường chứng khoán Việt Nam và được đánh giá có khả năng tăng trưởng rất lớn trong tương lai Bên cạnh đó các sản phẩm tiêu dùng của Việt Nam phải cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế cũng đặt ra những thách thức lớn, đòi hỏi các doanh nghiệp trong thị trường phải đẩy mạnh phát triển, nâng cao chất lượng và đa dạng mặt hàng Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có lượng vốn lưu động đủ lớn để giải quyết nhu cầu kinh doanh của mình Chính vì vậy, nắm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động để đưa ra các quyết định phù hợp trong việc lên kế hoạch tìm nguồn tài trợ hợp l cho nhu cầu vốn lưu động là hết sức quan trọng, giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh Tại Việt Nam, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Nghiên cứu

Trang 20

của tác giả sẽ tham khảo các nghiên cứu đi trước trên thế giới để có thể đưa ra

mô hình, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất tiêu dùng được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Thông qua bài nghiên cứu, tác giả hi vọng có thể l giải được các đặc tính riêng biệt trong nhu cầu vốn lưu động đối với nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng; từ đó có thể đưa ra các hàm chính sách đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng tại Việt Nam

Trang 21

Theo Weston và Brigham (1997): “Vốn lưu động là những khoản đầu

tư của doanh nghiệp vào tài sản ngắn hạn” [19] Như vậy, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp đã đầu tư, bao gồm: tiền và những khoản tương đương tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và những tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm

1.1.2 P ân loạ vốn lưu động

Để quản l , sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, cần thiết phải phân loại vốn lưu động Phân loại vốn lưu động là việc phân chia vốn lưu động ra thành từng loại theo những tiêu thức nhất định Thông thường vốn lưu động được phân loại như sau:

a Phân loại theo hình thái biểu hiện

Theo cách phân loại này vốn lưu động có thể chia thành bốn loại [2]:

- Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán,…

- Vốn đầu tư tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn như đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn, các khoản trích lập dự phòng đầu tư ngắn hạn và đầu tư ngắn hạn khác

- Các khoản phải thu: là số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hoá, dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau

- Vốn vật tư, hàng hoá: là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng

Trang 22

hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, bán thành phẩm…

Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét, đánh giá khả năng hoạt động của doanh nghiệp

b Phân loại theo vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh

Theo cách phân loại này vốn lưu động bao gồm [2]:

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ, sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền, các khoản vốn để đầu tư ngắn hạn, các khoản thế chấp,

k quỹ ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng…)

Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất

c Phân loại theo quan hệ sở hữu về vốn

Tài sản lưu động được tài trợ bởi hai nguồn vốn đó là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ Theo cách phân loại này có thể chia vốn lưu động thành hai loại [2]:

- Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt số vốn này

- Các khoản nợ: là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát

Trang 23

hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán Doanh nghiệp chỉ

có quyền sử dụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định

Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ Từ đó các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảm bảo an toàn tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.1.3 Vai trò ủ vốn lưu động

Vốn lưu động của doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau

và được phân bổ ở tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh như mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Để quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, doanh nghiệp cần phải có đủ vốn lưu động cũng như có một sự bố trí hợp l lượng vốn lưu động ở từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh

Vốn lưu động còn là yếu tố nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp có lượng vốn lưu động thích hợp sẽ giúp duy trì khả năng thanh toán được nợ nhờ tạo được quá trình sản xuất liên tục, đồng thời giúp doanh nghiệp nâng cao lợi thế cạnh tranh, nhận được nhiều lợi thế chiết khấu

từ nhà cung cấp, tăng xếp hạng tín dụng và gia tăng sự tin tường từ nhà đầu

tư Ngoài ra, trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể gặp phải những rủi ro, hư hỏng, mất mát vật tư, biến động giá cả Nếu quy mô vốn lưu động của doanh nghiệp đủ lớn và hợp l sẽ giúp họ có thể khai thác được những thuận lợi từ thị trường như tăng nhu cầu mua hàng của mình với số lượng lớn khi giá thấp và nắm giữ hàng tồn kho của mình đến khi giá cao hơn, từ đó có thể chủ động quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tuy nhiên có quá nhiều vốn lưu động cũng gây ra không ít những nguy hiểm cho doanh nghiệp, bởi vốn đi liền với chi phí sử dụng vốn, doanh

Trang 24

nghiệp phải trả một mức chi phí sử dụng vốn cao như chi phí cơ hội khi không sử dụng hiệu quả nguồn vốn này, do vậy ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp Vốn lưu động nhiều cũng có thể do việc tích luỹ hàng tồn kho lớn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý, bảo quản, mất cắp và thất thoát hàng Ngoài ra xu hướng tích luỹ hàng tồn kho nhằm tạo ra lợi nhuận từ việc đầu cơ sẽ gặp trở ngại khi phải đối phó với tương lai không đúng như dự đoán của doanh nghiệp Hoặc nếu duy trì nhiều vốn lưu động trong khoản phải thu, hàm ý mở rộng chính sách bán hàng sẽ làm tăng nguy cơ nợ xấu, ảnh hưởng bất lợi đến khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp

Chính vì vậy doanh nghiệp cần phải xác định được nhu cầu vốn lưu động trong từng thời kỳ để đảm bảo đủ được lượng vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh

1.1.4 N u ầu vốn lưu động

Ở những tài liệu, công trình nghiên cứu trước đây trên thế giới, các tác giả sử dụng cụm từ “working capital requirement” để thể hiện nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp [10], [13], [14], [17] Nó diễn tả lượng vốn lưu động tối thiểu cần thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục

Các yếu tố thuộc vốn lưu động có mối lên hệ với chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn, các khoản phải thu có liên quan trực tiếp đến doanh thu bán hàng của doanh nghiệp Doanh thu bán hàng càng tăng thì các khoản phải thu càng lớn và ngược lại Hơn nữa, chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp cũng có tác động đến doanh thu, điều

đó càng làm mối quan hệ này thể hiện rõ hơn Đồng thời, cũng trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động tiêu thụ gia tăng yêu cầu doanh nghiệp tăng dự trữ hàng tồn kho và hoạt động cung ứng sẽ làm tăng các khoản

Trang 25

nợ và tín dụng từ nhà cung cấp Ngoài ra, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn phải tính đến các khoản phải thu khác (thuế GTGT được khấu trừ, phải thu nội bộ, tạm ứng nhà cung cấp,…) và các phải trả ngắn hạn khác (nợ lương, nợ BHXH, phải trả nội bộ,…)

Do những nhân tố tác động qua lại lẫn nhau như vậy, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp phát sinh nhu cầu về

dự trữ hàng tồn kho và các khoản phải thu nhưng đồng thời những tài sản này cũng được tài trợ một phần bởi các khoản nợ [4]

Phần chênh lệch giữa chúng thể hiện nhu cầu tài trợ cho các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và được gọi là nhu cầu vốn lưu động

Nhu cầu vốn lưu động (Working Capital Requirement) được xác định bằng chênh lệch giữa tài sản lưu động và nguồn vốn tức thì có liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hawawini và cộng sự (1986) cho rằng: một thước đo nhu cầu vốn lưu động tốt phải bao gồm các thành phần có liên quan chặt chẽ tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Một số thành phần của nhu cầu vốn lưu động

có rất ít hoặc không có mối liên quan lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ như tiền và tương đương tiền hoặc các khoản nợ vay ngắn hạn có thể là hệ quả của các quyết định tài chính đơn thuần thay vì liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp

Dựa vào lập luận trên, Hawawini và cộng sự (1986) đã đề nghị một thước đo nhu cầu vốn lưu động như sau:

N u ầu vốn lưu động Tà sản ng n ạn (tr vốn bằng t ền) – Nợ

ng n ạn trong thanh toán (không tính nợ v y ngân àng) [11]

Một cách tính nhu cầu vốn lưu động khác được đề xuất bởi Hill và cộng sự (2010):

Trang 26

N u ầu vốn lưu động (G á trị á oản p ả t u t uần+ G á trị hàng tồn o t uần) - Cá oản p ả trả trong thanh toán [13]

Việc dự báo chính xác nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp rất cần thiết cho công tác quản trị tài chính của các nhà quản trị, giúp doanh nghiệp giảm thiểu được rủi ro phá sản do bị mất cân bằng tài chính trong ngắn hạn, đồng thời giúp nhà quản trị tận dụng được nhiều cơ hội đầu tư có lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp Để dự báo chính xác nhu cầu vốn lưu động, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động là rất quan trọng

1.2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

Vốn lưu động có tác động đến khả năng sinh lời và rủi ro của doanh nghiệp, do đó cũng ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp [17] Việc xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động cũng như mức độ tác động của từng nhân tố sẽ giúp các doanh nghiệp giúp dự báo nhu cầu vốn lưu động, dựa theo đó, doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch tìm nguồn tài trợ hợp l cho nhu cầu vốn lưu động của mình Điều này sẽ giúp nâng cao tính chủ động trong công tác quản l tài chính, tiết kiệm được chi phí đi vay cũng như góp phần đảm bảo một cấu trúc tài chính lành mạnh, giúp cải thiện tính thanh khoản và nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp

Các kết quả thực nghiệm trình bày tại phần tổng quan tài liệu đã tổng hợp được các nhân tố chính có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp có thể được phân vào hai nhóm chính đó là nhóm các nhân tố nội sinh

và nhóm các nhân tố vĩ mô

Căn cứ vào đặc điểm riêng của ngóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng và điều kiện chung của nền kinh tế tại Việt Nam, ở đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các nhân tố bên trong nội bộ doanh nghiệp mà tác giả cho

Trang 27

là sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp mà không đề cập đến các yếu tố khách quan, mang tính bên ngoài như là yếu tố môi trường ngành, yếu tố môi trường kinh tế quốc dân, yếu tố môi trường quốc tế,…

1.2.1 Doanh thu

Doanh thu là toàn bộ các khoản tiền mà doanh nghiệp thu được từ các hoạt động kinh doanh trong một kỳ nhất định Doanh thu là nguồn tài chính thường xuyên, quan trọng nhất để doanh nghiệp trang trải mọi chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục

Do tác động qua lại lẫn nhau, một sự tăng trưởng trong doanh thu của doanh nghiệp sẽ kéo theo sự tăng trưởng trong tài sản lưu động như hàng tồn kho, phải thu khách hàng… cũng như tăng trưởng trong các khoản phải trả như phải trả người bán, phải trả nội bộ… Theo đó, tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp có tác động trực tiếp đến nhu cầu vốn lưu động Chẳng hạn khi kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp thường đầu tư nhiều vào hàng tồn kho làm tăng các khoản phải trả người bán và mở rộng các khoản phải thu vì doanh thu thường tăng trong giai đoạn Hành động này làm tăng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Nghiên cứu của Akinlo (2012), Shaista và Veeri (2013) đã khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa doanh thu của doanh nghiệp và nhu cầu vốn lưu động [6], [16]

Tuy nhiên, trong quá trình kinh doanh, không phải lúc nào doanh thu của doanh nghiệp cũng tăng hoặc lúc nào cũng giảm Khi nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp gia tăng, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với chi phí đầu tư sản xuất, các khoản phải thu…; lúc này biến động doanh thu gây ra ảnh hưởng thuận chiều lên nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Nhưng khi nhu cầu giảm đột ngột, doanh nghiệp vẫn phải duy trì nhu cầu vốn cao để quá trình sản xuất không bị gián đoạn, đồng thời các

Trang 28

chi phí như chi phí sản xuất, nhân công vẫn được thanh toán đầy đủ khi đến hạn; lúc này biến động doanh thu gây ra ảnh hưởng ngược chiều lên nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Ngoài ra, đối với một số doanh nghiệp có tỷ

lệ tăng trưởng doanh thu cao có thể sẽ thắt chặt chính sách tín dụng khi họ đạt được mức tăng trưởng doanh thu theo kế hoạch Hành động này làm giảm nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Nghiên cứu của Hill và cộng sự (2010), Amarjit Gill (2011) cũng đã kết luận rằng giữa tăng trưởng doanh thu và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp vẫn có thể có mối tương quan ngược chiều với nhau [13], [10]

1.2.2 K ả năng s n lờ ủ o n ng ệp

Khả năng sinh lời của doanh nghiệp là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ Khả năng sinh lời đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Như vậy, khả năng sinh lời của doanh nghiệp thể hiện hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được trong kỳ kinh doanh Trên góc độ này, hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp tái đầu tư và mở rộng sản xuất Doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực của mình, nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp Nhờ đó, doanh nghiệp sẽ giảm bớt áp lực trong quyết định đầu tư của mình, đồng thời các nhà quản trị càng có nhiều động lực để tăng cường đầu tư, sản xuất nhằm tối đa hoá lợi nhuận đạt được cho doanh nghiệp Vì vậy khiến cho nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp cần được gia tăng Gill (2011); Suleiman và Rasha (2013) nghiên cứu trên những mẫu khác nhau và cũng có cùng kết luận như vậy

Khả năng sinh lời của doanh nghiệp thường được đo lường qua các chỉ

Trang 29

tiêu sau:

- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

(ROS) = Lợi nhuận ròng

Doanh thu thuần

Tỷ suất này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu nhằm cho biết rằng mỗi đồng doanh thu thu về tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao nghĩa là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có lãi và khả năng kiểm soát chi phí có hiệu quả

- Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA)

ROA = Lợi nhuận trước thuế

x100%

Tổng tài sản bình quân

Hệ số này cho biết một đồng tài sản doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Đây là chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lời của doanh nghiệp so với tài sản của nó Tỷ số này phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề kinh doanh, vì vậy thích hợp để nhà quản trị phân tích

so sánh chỉ số này với bình quân toàn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ

- Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)

ROE = Lợi nhuận sau thuế

x100%

Vốn chủ sở hữu bình quân

Tỷ số này cho biết hiệu quả của doanh nghiệp trong việc tạo ra thu nhập cho các cổ đông ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của doanh nghiệp nào

Đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp bằng tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) thường được các nhà nghiên cứu lựa chọn để nghiên cứu nhân

Trang 30

tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp bởi nó chỉ đến hiệu quả trong việc khai thác toàn bộ tài sản của doanh nghiệp Tuy nhiên, theo phân tích Dupont, tỷ số ROA của doanh nghiệp được cấu thành từ tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản Vì vậy, tỷ số ROA của một doanh nghiệp cao chưa thể kết luận được doanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả bởi nó có thể là kết quả của việc doanh nghiệp đang thu hẹp quy mô hoặc thanh l bớt tài sản của mình

Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ (ROE) càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng càng có hiệu quả đồng vốn của cổ đông, nghĩa là doanh nghiệp đã cân đối một cách hài hoà giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Cũng như tỷ số lợi nhuận trên tài sản, tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp Tuỳ vào mức độ chấp nhận rủi ro mà doanh nghiệp sẽ lựa chọn quy mô vay thích hợp Khi có vốn vay, tỷ suất tự tài trợ của doanh nghiệp giảm làm cho ROE lớn hơn nhiều so với ROA do tác động của đòn bẩy nợ Nếu ROE lớn hơn ROA thì có nghĩa là đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp đã có tác dụng tích cực, nghĩa là doanh nghiệp đã thành công trong việc huy động vốn của cổ đông để kiếm lợi nhuận với tỷ suất cao hơn tỷ suất tiền lãi mà doanh nghiệp phải trả cho cổ đông

Trường hợp doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đó đang điều phối hoạt động kinh doanh tốt, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

1.2.3 H ệu quả quản l vốn lưu động

Trong cùng một ngành, doanh nghiệp nào có hiệu quả quản l vốn lưu động tốt hơn sẽ có nhu cầu vốn lưu động thấp hơn Hiệu quả quản l vốn lưu động cao sẽ giúp tăng tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, qua đó giải phóng

Trang 31

vốn bị giam trong tài sản lưu động, giúp giảm nhu cầu về vốn lưu động

Một thước đo được sử dụng để đo lường hiệu quả quản l vốn lưu động là chu kỳ chuyển hóa tiền mặt Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt đo lường khoảng thời gian từ lúc doanh nghiệp chi tiền mặt ra để thanh toán cho nhà cung cấp cho đến khi doanh nghiệp nhận được tiền mặt từ người mua trong một chu kỳ kinh doanh Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt được xác định:

C u ỳ uyển ó t ền mặt Kỳ uyển ó tồn o + Kỳ t u

t ền b n quân – Kỳ p ả trả ngườ bán b n quân

Chu kỳ chuyển hoá tiền mặt chịu ảnh hưởng của chu kỳ chuyển hóa hàng tồn kho, chu kỳ khoản phải thu, chu kỳ khoản phải trả, nó là thước đo rủi ro thanh khoản kéo theo bởi sự tăng trưởng và được nhiều nghiên cứu sử dụng để phân tích nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Chính vì vậy, xác định thời gian đồng tiền biểu hiện dưới các hình thái hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả sẽ giúp doanh nghiệp tính toán được chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của doanh nghiệp mình Doanh nghiệp

có thể rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt bằng cách rút ngắn chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho và chu kỳ thanh toán bình quân hoặc kéo dài chu

kỳ thanh toán bình quân

- Chu kỳ chuyển hoá hàng tồn kho: là thời gian bình quân cần thiết để chuyển hoá nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng và bán cho người tiêu dùng Đây là thước đo thể hiện tính thanh khoản của hàng tồn kho Chỉ số nàyở mức thấp nghĩa là doanh nghiệp hoạt động khá tốt và ngược lại

Chu kỳ chuyển

hoá hàng tồn kho =

365 x Giá trị hàng tồn kho bình quân

(ngày) Giá vốn hàng bán

- Kỳ thu tiền bình quân: là khoản thời gian để chuyển khoản phải thu thành tiền mặt, nghĩa là thời gian cần thiết để thu tiền từ khách hàng kể từ thời điểm ghi hoá đơn Chu kỳ này phụ thuộc chủ yếu vào chính sách bán chịu và

Trang 32

việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp Do vậy, nó thường được sử dụng

để đánh giá tính hiệu quả của các khoản tín dụng và chính sách thu tiền của doanh nghiệp Chu kỳ này quá dài thì dễ dẫn đến tình trạng nợ khó đòi, gây nguy hiểm cho tính an toàn tài chính của doanh nghiệp

Kỳ thu tiền

bình quân =

365 x Khoản phải thu bình quân

(ngày) Doanh thu bán hàng + Thuế GTGT đầu ra

- Kỳ thanh toán bình quân: là độ dài thời gian từ khi mua nguyên vật liệu đến khi thanh toán cho nhà cung cấp Chỉ số này thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người bán, chu kỳ này dài nghĩa là doanh nghiệp có quan hệ tốt với nhà cung cấp và có khả năng kéo giãn thời gian phải trả tiền

và ngược lại Tuy nhiên chu kỳ này quá dài cũng là dấu hiệu của sự thiếu hụt vốn đầu tư dài hạn hoặc khả năng quản l tài sản lưu động kém, làm gia tăng khoản phải trả cho nhà cung cấp, gia tăng hạn mức thấu chi tại ngân hàng Nguyên tắc chung là kỳ thanh toán bình quân phải ngắn hơn kỳ thu tiền bình quân

Kỳ thanh toán

bình quân =

365 x Khoản phải trả người bán bình quân

(ngày) Giá trị hàng mua trong kỳ + Thuế GTGT

đầu vào

- Về nguyên tắc, cơ sở số liệu chuẩn để xác định kỳ thanh toán bình quân là tổng tiền hàng mua chịu trong kỳ Tuy nhiên số liệu về tổng tiền hàng mua chịu không có trên các báo cáo tài chính mà chỉ trong nội bộ doanh nghiệp mới xác định được, nên đối với các đối tượng bên ngoài có thể sử dụng số liệu giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hoặc cũng có thể sử dụng giá trị hàng mua trong kỳ (giá vốn hàng bán + hàng tồn kho cuối kỳ - hàng tồn kho đầu kỳ)

Một doanh nghiệp quản l vốn lưu động càng hiệu quả thì chu kỳ chuyển hóa tiền mặt càng nhỏ Điều này chứng tỏ vốn lưu động quay vòng

Trang 33

nhanh hơn, giúp giảm nhu cầu vốn lưu động nếu các yếu tố khác không đổi Nghiên cứu của Suleiman M Abbadi và Rasha T.Abbadi (2012) đã đưa ra kết luận về mối tương quan cùng chiều giữa chu kỳ chuyển hoá tiền mặt với nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp [18]

1.2.4 Quy mô ủ o n ng ệp

Quy mô doanh nghiệp chính là thước đo thể hiện độ lớn của doanh nghiệp, nó được biểu hiện ở quy mô tài sản, tổng doanh thu, vốn chủ sở hữu hay nguồn nhân lực… Đối với các doanh nghiệp quy mô càng lớn, chi phí đầu

tư cho hoạt động kinh doanh hằng ngày càng nhiều, vì vậy, nhu cầu vốn lưu động nhằm đáp ứng khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong ngắn hạn theo đó cũng cần phải gia tăng tương xứng với độ lớn của quy mô

Hill (2010), Brennan và Hughes (1991), Chiou và cộng sự (2006) đều cho rằng các doanh nghiệp quy mô lớn dễ dàng trong tiếp cận thị trường hơn

so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ Do đó nhu cầu hàng hoá hay khả năng tiếp cận khách hàng sẽ tăng cao, nghĩa là doanh nghiệp có đủ khả năng để mở rộng các khoản phải thu và tăng dự trữ hàng tồn kho Thêm vào đó, các doanh nghiệp lớn thường có xu hướng đa dạng hóa các loại hình sản xuất để nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như lợi nhuận cho doanh nghiệp Chính vì vậy kéo theo nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp lớn cũng cần được nâng cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ Nghiên cứu của Akinlo (2012) đã chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp có tương quan dương có nghĩa thống kê với nhu cầu vốn lưu động

Mặt khác, các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi về uy tín, thương hiệu nên có khả năng kéo dài các khoản tín dụng thương mại từ nhà cung cấp Nghiên cứu của Zariyawati (2010), Gill (2011), Shaista

& Veeri (2013) đã đưa ra kết quả quy mô của doanh nghiệp tác động ngược chiều đến nhu cầu vốn lưu động

Trang 34

1.2.5 Đòn bẩy tà ín

Đòn bẩy tài chính là khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp giữa nợ phải trả

và vốn chủ sở hữu trong việc điều hành chính sách tài chính của doanh nghiệp

Nó thể hiện việc sử dụng các nguồn vốn có chi phí cố định trong nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên mỗi cổ phần của doanh nghiệp [2] Đòn bẩy tài chính thể hiện mức độ doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn bên ngoài đồng thời cũng thường được sử dụng để đo lường rủi ro tài chính của doanh nghiệp Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính được thể hiện ở hệ số nợ Đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu

và ngược lại Như vậy đòn bẩy tài chính cho thấy mức độ được tài trợ của doanh nghiệp bằng nguồn tài trợ bên ngoài

Chiou và cộng sự (2006) dựa trên thuyết “Trật tự phân hạng” tranh luận rằng các doanh nghiệp sẽ ưu tiên tài trợ bằng nguồn tài chính nội bộ nhằm giảm việc giám sát và hạn chế khi huy động thêm vốn từ cổ đông hoặc các tổ chức tín dụng Bởi các nhà quản trị bao giờ cũng có thông tin về giá trị doanh nghiệp tốt hơn các nhà đầu tư bên ngoài, sự bất cân xứng thông tin này dẫn tới chi phí huy động vốn bên ngoài sẽ cao Chính vì vậy, theo thuyết này, doanh nghiệp có hệ số nợ cao nghĩa là doanh nghiệp bị hạn chế nguồn tài chính, lúc này doanh nghiệp sẽ chú tâm nhiều hơn vào công tác quản trị vốn lưu động nhằm hạn chế lượng vốn bị ứ đọng trong hàng tồn kho và các khoản phải thu Vì vậy nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp thường có xu hướng giảm [9] Mối quan hệ ngược chiều giữa đòn bẩy tài chính và nhu cầu vốn lưu động được khẳng định bởi các nghiên cứu trước đây như: [15], [18], [12], [14], [6]

Mục tiêu của việc sử dụng đòn bẩy tài chính là nhằm làm gia tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu, tuy nhiên, việc sử dụng đòn bẩy

Trang 35

tài chính quá cao có thể như con dao hai lưỡi bởi nếu doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, lúc này phần lợi nhuận sinh ra có thể không đủ để bù đắp chi phí lãi vay Điều này dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp, vì vậy cùng với gia tăng nợ, các nhà quản trị cũng sẽ tích cực đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, điều này dẫn đến nhu cầu vốn lưu động gia tăng Nghiên cứu của Gill (2011) đưa ra kết luận mối tương quan cùng chiều giữa đòn bẩy tài chính và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Ngoài ra, do sự khác nhau về chính sách vay nợ của mỗi nước, có những nước yêu cầu phải duy trì một mức thanh khoản nhất định để đảm bảo khả năng hoàn trả đầy đủ nghĩa vụ nợ Điều này nghĩa là doanh nghiệp có vay nợ càng nhiều thì yêu cầu về thanh khoản của doanh nghiệp đó càng cao, kéo theo đó doanh nghiệp sẽ gia tăng nhu cầu vốn lưu động của mình để đảm bảo được khả năng thanh toán trong quá trình hoạt động kinh doanh

Trang 36

chỉ số Tobin’Q của doanh nghiệp

Để đo lường sự kỳ vọng của nhà đầu tư, các nhà quản trị thường sử dụng các hệ số đo lường giá trị thị trường nhằm đánh giá mức độ sẵn lòng góp vốn của nhà đầu tư

- Chỉ số P/E

P/E = Giá thị trường của cổ phiếu (P)

Thu nhập của mỗi cổ phiếu (EPS) Chỉ số P/E cho thấy nhà đầu tư sẽ sẵn sàng trả bao nhiêu cho mỗi đồng thu nhập, nó thể hiện thị giá của doanh nghiệp trên thị trường Nếu chỉ số P/E cao thì điều đó nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai, cổ phiếu có rủi ro thấp, nhà đầu tư kỳ vọng cao vào tốc độ tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp và ngược lại

Chỉ số P/E thường dựa trên số liệu của doanh nghiệp trong vòng một năm, lợi nhuận của doanh nghiệp có thể lên cao, xuống thấp bất thường nên chỉ số P/E cũng có thể thay đổi bất thường giữa các năm Do vậy, nhà đầu tư không nên chỉ dựa vào duy nhất P/E trong một năm khi ra quyết định đầu tư

mà còn xem xét cả P/E trong nhiều năm trước, đồng thời cũng so sánh với tốc

độ tăng trưởng lợi nhuận và thu nhập dự kiến của doanh nghiệp

- Chỉ số M/B

M/B = Giá thị trường của cổ phiếu

Mệnh giá cổ phiếu Chỉ số M/B thể hiện mức độ kỳ vọng của công chúng vào khả năng tạo

ra tiền trong tương lai của doanh nghiệp Chỉ số M/B thể hiện lợi nhuận mà một đồng tiền thực tạo sẽ phải gánh cho M/B đồng kỳ vọng

- Tobin’s Q

Chỉ số Tobin’s Q được đề xuất bởi nhà kinh tế lừng danh James Tobin vào năm 1969, đo lường cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp James định

Trang 37

nghĩa Q là thị giá của một doanh nghiệp trên chi phí thay thế vốn của doanh nghiệp đó

Tobin’s Q = Giá trị sổ sách của tổng nợ + Giá trị thị trường của vốn CSH

Giá trị sổ sách của tổng tài sản Nếu hệ số Q cao (lớn hơn 1), tức là nhà đầu tư đánh giá doanh nghiệp

đó có triển vọng phát triển, hay nói cách khác, việc huy động thêm vốn sẽ rẻ hơn do thị giá của doanh nghiệp khá cao so với chi phí huy động thêm vốn Các doanh nghiệp có chỉ số Q cao thường là doanh nghiệp hấp dẫn nhà đầu tư

và có năng lực cạnh tranh tốt Chỉ số Tobin’s Q được lựa chọn để thể hiện sự đánh giá của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp bởi nó thể hiện được đầy đủ mối quan tâm của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp, đó là khả năng sinh lời,

cơ hội tăng trưởng ổn định và khả năng thanh khoản Chỉ số Tobin’s Q thể hiện niềm tin của thị trường đối với tương lai của doanh nghiệp Chỉ số M/B tương tự chỉ số Tobin’s Q nhưng không tính trên tổng tài sản mà chỉ so sánh giá thị trường và giá sổ sách của vốn chủ sở hữu, do đó nghiên cứu chỉ số Tobin’s Q sẽ cho kết quả toàn diện hơn

Kết quả của các nghiên cứu trước cho thấy chiều hướng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp có sự khác nhau giữa mỗi nhóm ngành, mỗi quốc qua và được đo lường bằng nhiều thang đo khác nhau Cách đo lường nhu cầu vốn lưu động, các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động và hướng tác động của từng nhân tố đến nhu cầu vốn lưu động trong các công trình nghiên cứu trước được tác giả trình bày tóm tắt ở Bảng 1.1 và 1.2 dưới đây

Trang 38

Bảng 1.1 Bảng tóm tắt cách đo lường nhu cầu vốn lưu động (WCR) của

các công trình nghiên cứu trên thế giới

Nazir và Afza (2009) WCR_TA = [(Tiền & các khoản tương đương tiền

+ Các khoản đầu tư ngắn hạn + Hàng tồn kho + Các khoản phải thu) - (Các khoản phải trả và Các

khoản phải trả khác)]/Tổng tài sản Gill (2011)

Hill (2010)

WCR= (Giá trị các khoản phải thu + Giá trị hàng tồn kho) - Giá trị các khoản phải trả trong thanh

toán Suleiman và Rasha

(2012)

WCR = (Tài sản lưu động - Nợ ngắn hạn)/Tổng

tài sản

Bảng 1.2 Bảng tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng, cách đo lường và chiều

hướng tác động của các công trình nghiên cứu trên thế giới

Hướng tác động

GROWTH = (Doanh thu năm nay

- Doanh thu năm trước)/ Doanh

thu năm trước)

Nazir và Afza (2009) Hill (2010) - Gill (2011)

Akinlo (2012) + Saista và Arumugam

Trang 39

N ân tố Cách tính Tá g ả

Hướng tác động

Khả năng

sinh lời

ROA

Nazir và Afza (2009) + Gill (2011) + Suleiman và Rasha

GPM = Tỷ suất lợi nhuận gộp = Lợi nhuận gộp/Doanh thu thuần =

(Doanh thu thuần - Giá vốn hàng

bán)/Doanh thu thuần

Hill và cộng sự (2010)

Chu kỳ

chuyển

hóa tiền

mặt

CCC = (Chu kỳ thu tiền bình quân

+ Chu kỳ chuyển hóa hàng tồn kho)

- Chu kỳ thanh toán bình quân

Nazir và Afza (2009) + Gill (2011)

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1, tác giả đã trình bày một số nội dung cơ bản về vốn lưu động và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Tác giả cũng đã chỉ rõ được tầm quan trọng của vốn lưu động đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu ra và l giải sự tác động của một vài nhân tố chính có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

để làm cơ sở lựa chọn biến trong Chương 2

Dựa trên các nhân tố được tổng hợp từ các công trình nghiên cứu trên thế giới kết hợp với nền tảng l thuyết, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa những nhân tố tác động và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp để làm căn cứ giúp đưa ra những giả thuyết về chiều hướng tác động của mỗi nhân tố trong chương sau

Ngày đăng: 23/03/2018, 22:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lô Ngọc Thuỳ Anh (2011), Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các công ty sản xuất trong lĩnh vực nguyên vật liệu, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các công ty sản xuất trong lĩnh vực nguyên vật liệu
Tác giả: Lô Ngọc Thuỳ Anh
Năm: 2011
[2] Nguyễn Hoà Nhân (2013), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hoà Nhân
Năm: 2013
[3] Mai Đăng Pháp (2015), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh, Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Mai Đăng Pháp
Năm: 2015
[4] Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên (2009), Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp 2, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp 2
Tác giả: Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên
Năm: 2009
[5] Lê Nguyễn Phương Thảo (2015), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Quản trị Kinh doanh, Đại học Kinh tế - Đại học Đà NẵngTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Lê Nguyễn Phương Thảo
Năm: 2015
[7] Brennan, M. & Hughes, P. (1991), “Stock prices and the supply of information”, Journal of Finance, Vol.46, pp 1665-1691 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stock prices and the supply of information”, "Journal of Finance
Tác giả: Brennan, M. & Hughes, P
Năm: 1991
[8] Chiou, J-R, Cheng, L & Wu, H-W (2006), “The determinants of working capital managememt”, Journal of American Academy of Business, Vol.10, No.1, pp 149-155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The determinants of working capital managememt”, "Journal of American Academy of Business
Tác giả: Chiou, J-R, Cheng, L & Wu, H-W
Năm: 2006
[9] Ebrahim Manoori Datin Dr. Joriah Muhammad (2012), “Determinants of working capital management: Case of Singapore firms”, Research Journal of Fiance and Accounting, Vol 3, No.11, pp 15-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of working capital management: Case of Singapore firms”, "Research Journal of Fiance and Accounting
Tác giả: Ebrahim Manoori Datin Dr. Joriah Muhammad
Năm: 2012
[10] Gill (2011), “Factors that influence working capital requirements in Canada”, Economics and Finance Review, Vol.1, No.3, pp 30-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors that influence working capital requirements in Canada”, "Economics and Finance Review
Tác giả: Gill
Năm: 2011
[11] Hawawini, Viallet and Vora (1986) “Industry influence on corporate working capital decisions”, Sloan Managemenet Review, Vol.27, No.4, pp 15-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Industry influence on corporate working capital decisions”, "Sloan Managemenet Review
[12] Mathuva, DM (2009), “Influence of working capital management components on corporate profitability: A survey on Kenyan listed firms”, Research Journal of Business Management, Vol.3, pp1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence of working capital management components on corporate profitability: A survey on Kenyan listed firms”, "Research Journal of Business Management
Tác giả: Mathuva, DM
Năm: 2009
[13] Matthew D. Hill (2010), “Net Operating Working capital Behavioor: A First Look”, Financial Management, Vol.39, No.2, pp 783-805 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Net Operating Working capital Behavioor: A First Look”, "Financial Management
Tác giả: Matthew D. Hill
Năm: 2010
[14] Nazir and Afza (2009), “Working capital requirements and the determining factors in Pakistan”, Journal of Applied Finance, Vol.15, No.4, pp 28-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working capital requirements and the determining factors in Pakistan”, "Journal of Applied Finance
Tác giả: Nazir and Afza
Năm: 2009
[15] Raheman, A & Nasr, M (2007), “Working capital management and profitability – Case of Pakistani firms”, International Review of Business Research papers, Vol.3, No.1, pp 279-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working capital management and profitability – Case of Pakistani firms”, "International Review of Business Research papers
Tác giả: Raheman, A & Nasr, M
Năm: 2007
[16]Shaista Wasiuzzaman and Veeri Chettiar Arumugam (2013), “Determinants of working capital investment: A study of Malaysian Public listed firms”, AABFJ, Vol 7, No.2,pp 49-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of working capital investment: A study of Malaysian Public listed firms”, "AABFJ
Tác giả: Shaista Wasiuzzaman and Veeri Chettiar Arumugam
Năm: 2013
[17] Smith, K. V. (1973), “State of the art of working capital management”, Financial Management, vol. 2, no. 3, pp. 50–55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: State of the art of working capital management”, "Financial Management
Tác giả: Smith, K. V
Năm: 1973
[18] Suleiman M. Abbadi and Rasha T. Abbabi (2012), “The determinants of working capital requirements in Palestinian Industrial Corporations”, International Journal of Economics and Finance Sách, tạp chí
Tiêu đề: The determinants of working capital requirements in Palestinian Industrial Corporations”
Tác giả: Suleiman M. Abbadi and Rasha T. Abbabi
Năm: 2012
[19] Weston, J. & Brigham, E. (1981), Managerial finance, 7 th edition. Dryden Press, Hinsdale, IL Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managerial finance
Tác giả: Weston, J. & Brigham, E
Năm: 1981
[20] Zariyawati, M. A., Taufiq, H., Annuar, M. N. & Sazali, A. (2010), “Determinants of working capital Management: Evidence from Malaysia”, in Financial Theory and Engineering: Proceedings of the 2010 Internatioanl Conference, Dubai, UAE, 18-20 June 2010, IEEE Computer Society press, pp190-194.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of working capital Management: Evidence from Malaysia”, "in Financial Theory and Engineering: Proceedings of the 2010 Internatioanl Conference, Dubai, UAE
Tác giả: Zariyawati, M. A., Taufiq, H., Annuar, M. N. & Sazali, A
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w