Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo, đặc biệt là ảnh hưởng của nó tới mô hình quân chủ chuyên chế điển hình dưới thời Hậu Lê vào quản lý xã hội, trên cơ sở đó
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Trần Nguyên Việt
Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Hùng Hậu
Phản biện 2: PGS.TS Đặng Thị Lan
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Thị Thọ
Luận án đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội vào hồi … giờ … phút, ngày … tháng … năm …
CÓ THỂ TÌM HIỂU LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN:
Thư viện Quốc gia
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thứ nhất, Tư tưởng chủ đạo của Nho giáo là chính trị - đạo đức vì
Nho giáo chủ trương Đức trị Để thi hành đường lối Đức trị thì phải thực
hiện Nhân, Lễ, Chính danh “Lễ trị” là biện pháp chặt chẽ nhất để thực
hiện Đức trị Bởi vậy, về mặt lý luận, việc nghiên cứu tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo sẽ góp phần làm sâu sắc hơn nội dung tư tưởng Đức trị mà Khổng Tử đề xuất
Thứ hai, “Lễ” của Nho giáo được du nhập vào nước ta từ những
năm đầu công nguyên, ban đầu nhằm phục vụ cho mục đích đô hộ và đồng hóa nhân dân ta của các thế lực phong kiến phương Bắc Trong suốt thời
kỳ Bắc thuộc, nó đã đáp ứng được nhu cầu của giai cấp phong kiến nên dần trở thành một thứ lễ giáo chính thống trong lịch sử Sau khi giành được độc lập, tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo tuy không được các triều đại phong kiến Việt Nam ở thế kỷ X (Ngô, Đinh, Tiền Lê) chú trọng, nhưng từ thời Lý, nó đã dần chiếm lĩnh vị trí quản lý nhà nước và trở thành công cụ quyền lực của Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập Tuy nhiên, tư tưởng “Lễ trị” trong thời kỳ này chưa thực sự chiếm vị trí độc tôn trong xã hội Phải đến thế kỷ
XV, khi vương triều Lê Sơ được thành lập thì tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo mới thực sự trở thành hệ tư tưởng chính thống, xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Đây cũng là vương triều đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam xác nhận vai trò và vị thế của “Lễ” trong đường lối trị nước
Thứ ba, Đường lối trị nước của nhà Hậu Lê là Đức trị kết hợp với Pháp
trị, trong đó đạo đức là chủ đạo, còn pháp luật là bổ trợ Sự pháp luật hóa các điển lễ, các hành vi ứng xử của con người là hệ quả của sự kết hợp đức - pháp
Do đó, tư tưởng “Lễ trị” thời Hậu Lê tuy được xem là một trong những biểu hiện của đường lối Đức trị, song nội hàm của nó vẫn không phải hoàn toàn trùng hợp với Đức trị mà Khổng Tử đề xuất
Thứ tư, Tư tưởng “Lễ” và “Lễ trị” của Nho giáo đã có ảnh hưởng
rất sâu đậm trong đời sống tư tưởng, chính trị, xã hội và văn hóa của dân
Trang 4tộc ta, là công cụ đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội phong kiến, đồng thời góp phần xây dựng nền văn hóa dân tộc Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu
tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo, đặc biệt là ảnh hưởng của nó tới mô hình quân chủ chuyên chế điển hình dưới thời Hậu Lê vào quản lý xã hội, trên
cơ sở đó rút ra các bài học có giá trị phục vụ yêu cầu phát triển đất nước hiện nay, theo chúng tôi, rõ ràng là cần thiết, đồng thời có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn cấp bách
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, nghiên cứu sinh chọn
vấn đề: “Tư tưởng Lễ trị của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến đường lối trị nước thời Hậu Lê” làm đề tài luận án tiến sĩ Triết học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích:
Trên cơ sở phân tích, trình bày cơ sở hình thành, nội dung tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo Trung Quốc, luận án làm rõ ảnh hưởng của tư tưởng đó đến đường lối trị nước thời Hậu Lê và ý nghĩa hiện thời của nó
- Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án tập trung làm rõ những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
+ Trình bày cơ sở hình thành và nội dung cơ bản trong tư tưởng “Lễ trị”
của Nho giáo Trung Quốc
+ Trình bày ảnh hưởng của tư tưởng Lễ trị đến đường lối trị nước thời Hậu Lê
+ Chỉ ra những giá trị và hạn chế của tư tưởng “Lễ trị” trong đường lối trị nước thời Hậu Lê dưới ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị”, từ
đó làm rõ ý nghĩa của tư tưởng Lễ trị đối với các triều đại phong kiến về sau cũng như rút ra bài học lịch sử đối với xã hội ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng:
Luận án tập trung nghiên cứu tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến đường lối trị nước thời Hậu Lê
Trang 5+ Tìm hiểu quan niệm về “Lễ” và “Lễ trị” trong các tác phẩm kinh điển của Nho giáo, chủ yếu trong Nho giáo sơ kỳ
+ Phân tích những biểu hiện của tư tưởng “Lễ trị” trong đường lối trị nước thời Hậu Lê gồm giai đoạn Lê Sơ, nhà Mạc và Lê Trung hưng
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về chính trị và đạo đức, lối sống
- Đề tài chủ yếu dùng các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội như phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp trên cơ sở kết hợp các phương pháp liên ngành triết học, sử học, đạo đức học, chính trị học
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Làm rõ các điều kiện, tiền đề cho sự hình thành tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo
- Làm sáng tỏ nội dung cơ bản trong tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo
- Làm rõ ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” đối với đường lối trị nước thời Hậu Lê
- Chỉ ra được giá trị và hạn chế của tư tưởng “Lễ trị”, từ đó làm rõ ý nghĩa của nó đối với các triều đại phong kiến về sau cũng như việc rút ra bài học lịch sử đối xã hội ta hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần vào việc tìm hiểu tư tưởng “Lễ trị” - một nội dung cơ bản trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, từ đó chỉ ra ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế của nó đến đường lối trị nước ở thời Hậu Lê
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy triết học, chính trị, đạo đức nói chung và Nho giáo nói riêng ở các trường Đại học, Cao đẳng chuyên và không chuyên triết học
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Trang 6Chương 2 Cơ sở hình thành và nội dung tư tưởng Lễ trị của Nho giáo Trung Quốc
Chương 3 Ảnh hưởng của tư tưởng Lễ trị đến đường lối trị nước thời Hậu Lê
Chương 4 Giá trị, hạn chế của đường lối trị nước thời Hậu Lê dưới ảnh hưởng của tư tưởng Lễ trị và ý nghĩa hiện thời của nó
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN 1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở hình thành và nội dung tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo Trung Quốc
Các công trình thuộc hướng nghiên cứu này tuy đi sâu vào việc luận giải cơ sở hình thành, nội dung của Nho giáo, song ở mức độ nhất định đều đề
cập đến tư tưởng “Lễ” và “Lễ trị” của học thuyết này Trong số các công trình
tiêu biểu cả về nội dung lẫn thời điểm xuất hiện của chúng, phải kể đến các
công trình nghiên cứu “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu, “Khổng giáo phê bình tiểu luận” Đào Duy Anh, “Lịch
sử tư tưởng chính trị Trung Quốc” của Lã Trấn Vũ, “Tư tưởng phương Đông - gợi những điểm nhìn tham chiếu” của Cao Xuân Huy, “Khổng Tử”,
“Mạnh Tử”, “Tuân Tử”, “Đại cương triết học Trung Quốc” của Nguyễn Hiến Lê, “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm, “Bàn về đạo Nho” của
Nguyễn Khắc Viện…
Nhìn chung, những cuốn sách trên đây là những công trình khá bổ ích cho những ai quan tâm và nghiên cứu Nho giáo Song cũng do lập trường, mục đích của những người nghiên cứu Nho giáo ít nhiều có sự khác nhau, chính vì thế mà những công trình trên vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu tư tưởng “Lễ trị” với tư cách là tư tưởng trị nước để từ đó làm
rõ ảnh hưởng của nó ở mức nào, giai đoạn lịch sử cụ thể nào của nước ta Điều đó là vấn đề đặt ra để chúng tôi sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu và làm sáng
tỏ trong luận án của mình
Trang 71.2 Những công trình nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” đến đường lối trị nước thời Hậu Lê
Nhóm công trình này đi sâu nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam như một yếu tố quan trọng hình thành nên các giá trị đạo đức, tinh thần của con người Việt Nam xưa và nay Trong nhóm các công trình này cũng
có sự phân tích ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ” và “Lễ Trị” ở Việt Nam trong xã hội phong kiến, điển hình dưới thời Hậu Lê Liên quan đến vấn
đề này có các công trình: “Nho giáo tại Việt Nam” do Lê Sĩ Thắng chủ biên, “Đại học và Trung dung Nho giáo”, “Nho giáo xưa và nay”, “Nho giáo
và đạo đức”, “Nho giáo và gia đình”, “Đức trị và pháp trị trong Nho giáo”,
“Nho giáo và sự phát triển ở Việt Nam”… của tác giả Vũ Khiêu, “Một số vấn
đề về Nho giáo Việt Nam” do Phan Đại Doãn chủ biên, “Nho giáo với văn hóa Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy Ngoài các công trình kể trên còn có
các luận văn, luận án tiến sỹ cũng đề cập đến một số khía cạnh của Nho giáo về con người, đạo đức, về tư tưởng chính trị và sự ảnh hưởng của nó
ở Việt Nam như luận án “Vấn đề con người trong Nho học sơ kỳ của Nguyễn Tài Thư, luận án “Quan niệm của Nho giáo về các mối quan hệ xã hội Ảnh hưởng và ý nghĩa của nó đối với xã hội ta hiện nay”, của Nguyễn Văn Bình, luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Thanh Bình với đề tài “Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và sự thể hiện của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX)” …
Những công trình trên tuy đã đề cập đến vai trò của “Lễ” trên lĩnh vực chính trị nhưng chưa đi sâu khai thác nó như là một vấn đề độc lập, chưa phân tích sâu sắc sự ảnh hưởng của nó lên đường lối trị nước của các triều đại phong kiến Việt Nam Song những tài liệu trên đã cung cấp tư liệu giúp nghiên cứu sinh hiểu sâu thêm về đường lối “Lễ trị” của Nho giáo, từ đó là cơ sở để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu sâu hơn ở khía cạnh này
1.3 Những công trình nghiên cứu về giá trị và hạn chế của đường lối trị nước thời Hậu Lê dưới ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị”
Trang 8Ở Việt Nam từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu
về triều đại Hậu Lê Tuy nhiên, do mục đích và phạm vi nghiên cứu khác nhau nên các công trình chỉ mới tập trung vào một lĩnh vực nhất định, thậm chí một khía cạnh nổi bật của triều đại này, hoặc một vị hoàng đế cụ thể…chứ chưa tập trung đi sâu tìm hiểu sự ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” đến đường lối trị nước của cả triều đại này Vì vậy, để tìm hiểu ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế của tư tưởng “Lễ trị” trong đường lối trị nước thời Hậu Lê chúng tôi đã dựa trên một số bộ sử lớn của dân tộc, đây
là nguồn tư liệu chính, được quan tâm hàng đầu và được xem là tài liệu
gốc của luận án như: Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt sử thông giám cương mục, Luật Hồng Đức… Ngoài
ra luận án còn kế thừa một số công trình nghiên cứu về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội quân chủ Việt nam nói chung và thời kỳ Hậu Lê
nói riêng Như cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, “Lịch sử Việt Nam - từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX”, “Hệ tư tưởng Lê” của tác giả Nguyễn Duy Hinh, cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” tập 1, do Nguyễn
Tài Thư chủ biên Những công trình nghiên cứu đi trước về triều đại Hậu
Lê là nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng tôi hoàn thành luận án của mình
Tiểu kết chương 1
Kế thừa thành quả trong những công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu làm rõ những vấn đề sau:
Thứ nhất, Luận án nghiên cứu tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo, do
đó việc làm rõ cơ sở hình thành hình thành và những nội dung cơ bản của
“Lễ trị” là hết sức cần thiết
Thứ hai, Luận án làm rõ ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” đến
đường lối trị nước thời Hậu Lê, chủ yếu ở các khía cạnh tu dưỡng đạo đức của người cầm quyền, trong lĩnh vực giáo hóa, thi hành chính sách an dân, xây dựng và thực thi pháp luật
Trang 9Thứ ba, Luận án làm rõ những giá trị và hạn chế của đường lối trị
nước thời Hậu Lê dưới ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị”, từ đó rút ra bài học lịch sử cho sự nghiệp quản lý xã hội ở nước ta hiện nay
Chương 2
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG LỄ TRỊ CỦA
NHO GIÁO TRUNG QUỐC 2.1 Những điều kiện và tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng
“Lễ trị” của Nho giáo
2.1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội
Về kinh tế: Thời kỳ Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc chuyển từ
thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Những phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại sự phát triển mạnh mẽ cho nền sản xuất nông nghiệp Hệ thống thủy lợi phát triển, nhờ đó diện tích đất đai canh tác được mở rộng Kỹ thuật trồng trọt được cải tiến cũng làm cho năng suất lao động trong lĩnh vực này không ngừng tăng lên Vì vậy, việc chia lại ruộng đất (do căn cứ vào đất tốt hay xấu) trở nên không cần thiết Công xã đã giao hẳn đất cho từng hộ gia đình cày cấy trong thời hạn lâu dài Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã, chế độ tư hữu về ruộng đất ra đời
Về chính trị - xã hội: Sự phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh tế
đã làm cho tình hình chính trị - xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ có nhiều chuyển biến hết sức căn bản và lớn lao Chế độ nô lệ đang dần dần tan rã
và chế độ phong kiến đang hình thành Tình trạng mất đất, mất dân (sự suy yếu về kinh tế) đã làm cho giai cấp quý tộc nhà Chu suy yếu về địa vị chính trị Ngôi thiên tử của nhà Chu chỉ còn là hình thức Trật tự lễ nghĩa của nhà Chu không còn được tôn trọng như trước Những nghi lễ chặt chẽ tôn nghiêm trước đây đã từng góp phần bảo vệ chế độ tông pháp nhà Chu, đến lúc này không còn được coi trọng Việc “tang viếng, tế lễ, chúc mừng”
đã trở thành một nghi thức ngoại giao chứ không còn là lễ nghĩa và trật tự
xã hội nữa
2.1.2 Tiền đề tư tưởng
Trang 10Sự ra đời tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo không chỉ nảy sinh từ điều kiện thực tiễn mà còn bắt nguồn từ đời sống tư tưởng (tôn giáo, chính trị, đạo đức) của Trung Quốc từ trước đến bấy giờ, đặc biệt dưới thời nhà Chu
Về tôn giáo, nhà Chu đề cao tư tưởng “kính trời”, “thờ thượng
đế”, “hợp mệnh trời”, “trời và người hợp nhất” Nhà Chu cho rằng, Trời (Thượng Đế) là lực lượng có nhân cách, có ý chí và có uy quyền tuyệt đối Chính vì vậy, nhà Chu cho rằng, vì nhà Ân không biết “Mệnh trời” để ra sức làm cho “hợp Mệnh trời”, do vậy Thượng đế đã trừng phạt và để cho nhà Chu thay thế nhà Ân cai trị dân Điều đó cho thấy tư tưởng tôn giáo đã
bị chính trị hóa, phản ánh tư tưởng của giai tầng thống trị lúc bấy giờ, phản ánh nền chuyên chính quý tộc thị tộc
Về chính trị, tư tưởng chính trị chủ yếu của giai cấp quý tộc nhà
Chu là “Nhận dân”, “Hưởng dân” và “Trị dân” Nhà Chu đã khéo léo che phủ tư tưởng chính trị của họ bằng một lớp sơn mang đam mầu sắc tôn giáo Mọi chính sách của nhà Chu đều được giải thích là “vâng Mệnh trời”
Về đạo đức, tư tưởng đạo đức nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu
làm nòng cốt Hiếu là thờ phụng tổ tiên, phải nhớ công lao của tổ tiên mà giữ gìn phép tắc của tổ tiên để lại Đây là một quan niệm duy tâm thần bí được luận chứng từ mục đích chính trị nhằm củng cố địa vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu
Tuy nhiên, đến thời Khổng Tử, cùng với sự suy vong của nhà Chu, tư tưởng “kính Trời” xưa nay vốn có sức mạnh chi phối cao nhất bắt đầu có sự “lung lay” Sự tín ngưỡng của mọi người đối với “Trời” đã bắt đầu có sự hoài nghi và thất vọng, thậm chí oán trách Do vậy, để khắc phục tình trạng rối loạn xã hội, đưa xã hội vào thế ổn định và phát triển, Nho giáo một mặt, thừa nhận và sử dụng sức mạnh của thần quyền; mặt khác, sớm tìm ra một công cụ một phương pháp cai trị mới để thay thế và
bổ sung Vì muốn giữ trật tự nội bộ giai cấp thống trị, họ mới hệ thống hóa
Trang 11tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo phải kể đến sự suy yếu của thế lực thần quyền trong lòng nhân dân
2.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo Trung Quốc
2.2.1 Khái niệm “Lễ” và “Lễ trị” của Nho giáo
Khi khảo sát Tứ Thư, Ngũ Kinh chúng tôi thấy “Lễ” và sự chuyển hóa
thành thành “Lễ trị” thể hiện dưới ba hình thức cơ bản như sau:
Thứ nhất, Lễ nghi tế tự trở thành “Lễ trị” trong trường hợp tế trời
do vua làm chủ tế
Thứ hai, “Lễ” là chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử của con
người trong xã hội, trở thành “Lễ trị” trong thực hiện Chính danh
Thứ ba, “Lễ” biểu hiện dưới dạng hình luật, tức là biện pháp để
duy trì trật tự xã hội, hoàn toàn mang tính “Lễ trị”
2.2.2 Vấn đề tu dưỡng đạo đức của người cầm quyền trong tư tưởng
“Lễ trị”
2.2.2.1 Những phẩm chất đạo đức cần có của người cầm quyền
Để thực thi đường lối “Lễ trị” Nho giáo đặt ra vấn đề cần có mẫu người cầm quyền thích hợp, đó là mẫu người quân tử: có phẩm chất đạo đức cao đẹp, biết
lễ nghĩa và trọng lễ, biết mệnh trời, có năng lực tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ
Phẩm chất của người cầm quyền: Nhân, Lễ, Nghĩa, trí, tín, dũng
2.2.2.2 Con đường tu dưỡng đạo đức của người cầm quyền
Thứ nhất, người cầm quyền phải tu thân
Thứ hai, người cầm quyền phải học
Thứ ba, người cầm quyền phải trọng “Lễ”, biết “Lễ”
Thứ tư, người cầm quyền phải gương mẫu, yêu dân, giữ được lòng
tin của dân
2.2.3 Chính sách giáo hóa và an dân trong tư tưởng “Lễ trị”
2.2.3.1 Chính sách giáo dục, giáo hóa
Thứ nhất, vai trò của giáo hóa đối với việc thay đổi “tính người”
Trang 12Thứ hai, đối tượng giáo hóa của Nho giáo hoàn toàn mở rộng cho
tất cả mọi người, còn gọi là “hữu giáo vô loại”
Thứ ba, mục đích của giáo hóa là nhằm duy trì xã hội có “Lễ” theo khuôn mẫu của nhà Chu
Thứ tư, nội dung giáo hóa là phổ biến những nguyên tắc, những
chuẩn mực đạo đức và lễ giáo đạo Nho
Thứ năm, cách thức giáo hóa chủ yếu là làm gương và dạy dỗ 2.2.3.2 Chính sách an dân
Thứ nhất, Chủ trương làm cho dân đông, dân giàu
Thứ hai, để thi hành “Lễ trị” người cầm quyền cũng cần tiết kiệm
sức dân, sai khiến dân đúng lúc, giảm bớt tô thuế, nhẹ hình phạt
Thứ ba, để thi hành “Lễ trị” nhà cầm quyền phải coi trọng dân Thứ tư, Chủ trương phân phối bình quân
“Lễ trị” là một trong những biện pháp chặt chẽ, hiệu quả nhất để thực hiện Đức trị
Từ khi ra đời, “Lễ trị” đã được các triều đại phong kiến Trung Quốc sử dụng kết hợp với các đường lối khác trong việc trị nước Thoạt nghe “Lễ trị” như một hình thức quản lý xã hội mang tính tự giác, tự nguyện không mang tính cưỡng bức, bạo lực, mọi người cứ theo đó mà làm đừng có xâm phạm tới người khác Việc chấp hành lễ một cách tự giác như là trách nhiệm của mỗi thành viên trong xã hội Song về thực chất, “Lễ trị” là nền chuyên chính của giai cấp thống trị đối với nhân dân
Trang 13“Lễ trị” là một công cụ hết sức đắc lực trong việc trị nước, việc chấp hành lễ giáo trong từng gia đình là điều kiện tốt để thực hiện “Lễ” của từng quốc gia Cho nên “Lễ” của Nho giáo có tác dụng củng cố trật tự phong kiến ngay từ gia đình, tế bào xã hội đến phạm vi rộng lớn hơn là quốc gia và cả thiên hạ
Chương 3 ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG LỄ TRỊ ĐẾN ĐƯỜNG LỐI TRỊ
NƯỚC THỜI HẬU LÊ 3.1 Những điều kiện tiền đề cho sự ảnh hưởng của tư tưởng Lễ trị đến đường lối trị nước thời Hậu Lê
3.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Với nền nông nghiệp lúa nước, khung tổ chức lao động chính, cũng
là tế bào xã hội là các tiểu gia đình phụ quyền Bởi vì, hầu hết ruộng đất dù là ruộng công của làng xã hay ruộng của địa chủ đều được sử dụng trong khuôn khổ sản xuất lấy gia đình làm đơn vị Trong mỗi gia đình không chỉ có quan
hệ hôn nhân, huyết thống, mà còn có cả quan hệ sở hữu, phân phối sản phẩm, phân công lao động cho đến những quan hệ tinh thần Tất cả những quan hệ trên đều cần đến chứng tỏ vai trò của người gia trưởng và tôn ti, trật tự của gia đình Nho giáo được suy tôn phù hợp với việc củng cố trật tự gia đình hay dòng họ (gia tộc) là tiểu gia đình mở rộng Đó chính là cơ sở để tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo dễ thâm nhập vào cuộc sống, bởi vì nó đã góp phần củng cố
uy quyền của người gia trưởng và tôn ti trật tự trong gia đình
3.1.2 Tiền đề chính trị
Ngay sau cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược kéo dài 10 năm giành thắng lợi, Lê Lợi (tức Lê Thái Tổ) lên ngôi vua, vương triều Lê được thiết lập, thì vấn đề cấp thiết đặt ra đối với các vị vua đầu triều Lê là
cần củng cố và xây dựng lại vương triều ngày càng vững mạnh Điều này
đòi hỏi Nhà nước phong kiến Việt Nam một mặt phải tiếp thu những kinh nghiệm và nguyên tắc trong việc tổ chức bộ máy Nhà nước của các triều đại phong kiến tập quyền phương Bắc và mặt khác, sử dụng tư tưởng “Lễ trị”