+ Chỉ ra những giá trị và hạn chế của tư tưởng “Lễ trị” trong đường lối trị nước thời Hậu Lê, từ đó làm rõ ý nghĩa của tư tưởng Lễ trị đối với các triều đại phong kiến về sau cũng như rú
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THỦY
TƯ TƯỞNG LỄ TRỊ CỦA NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐƯỜNG LỐI TRỊ NƯỚC
THỜI HẬU LÊ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Nguyên Việt
Hà Nội, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã sử dụng trong luận án là trung thực Những kết luận của luận án chưa có công trình khoa học nào công bố
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Thị Thủy
Trang 4Chương 2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG LỄ TRỊ CỦA NHO GIÁO TRUNG QUỐC 23
2.1 Những điều kiện và tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo 23 2.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo 28 Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG LỄ TRỊ ĐẾN ĐƯỜNG LỐI TRỊ NƯỚC THỜI HẬU LÊ 67
3.1 Những nhân tố ảnh hưởng của tư tưởng Lễ trị đến đường lối trị nước thời Hậu
Lê 67 3.2 Ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” trong việc tu dưỡng đạo đức của nhà vua và tầng lớp quan lại thời Hậu Lê 77 3.3 Ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” trong chủ trương giáo hóa dân và chính sách
an dân của nhà Hậu Lê 88 3.4 Ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” trong việc xây dựng và ban hành pháp luật 101 Tiểu kết chương 3 110
LỐI TRỊ NƯỚC THỜI HẬU LÊ DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG LỄ TRỊ 112
Trang 54.1 Những giá trị, hạn chế của đường lối trị nước thời Hậu Lê dưới ảnh hưởng của tư tưởng
“Lễ trị” 112 4.2 Ý nghĩa hiện thời của đường lối trị nước thời Hậu Lê dưới ảnh hưởng của tư tưởng Lễ trị 132 Tiểu kết chương 4 143
KẾT LUẬN 145 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 148 TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức do Khổng Tử sáng lập, ra đời vào khoảng thế kỷ VI TCN Học thuyết này gắn bó mật thiết với các vấn đề về tổ chức nhà nước và quản lý xã hội dưới thời phong kiến Với bản chất chính trị và sự tham chính của giai cấp phong kiến, từ thời nhà Hán đến cách mạng Tân Hợi (1911), Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng thống trị của xã hội Trung Quốc
Tư tưởng chủ đạo của Nho giáo là chính trị - đạo đức, bởi “Nho giáo chủ trương Đức trị, nghĩa là lấy đạo đức để răn dạy con người, từ đó ổn định xã hội, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân” [55, tr.9] Tuy nhiên, “đạo đức chỉ có sức mạnh bền vững khi được củng cố bằng những nghi thức và bằng những quy tắc trong đời sống <…> Thái độ của bề tôi đối với vua, của con cái đối với cha mẹ, của vợ đối với chồng đều được xác định rành rọt Lễ trị là biện pháp chặt chẽ nhất để thực hiện Đức trị” [55, tr.21-22]
“Lễ” của Nho giáo được du nhập vào nước ta từ những năm đầu công nguyên, nhằm phục vụ cho mục đích đô hộ và đồng hóa nhân dân ta của các thế lực phong kiến phương Bắc Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, nó đã đáp ứng được nhu cầu của giai cấp phong kiến nên dần trở thành một thứ lễ giáo chính thống trong lịch sử Sau khi giành được độc lập, tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo tuy không được các triều đại phong kiến Việt Nam ở thế kỷ X (Ngô, Đinh, Tiền Lê) chú trọng, nhưng từ thời Lý, nó đã dần chiếm lĩnh vị trí quản lý nhà nước và trở thành công cụ quyền lực của Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập Tuy nhiên, tư tưởng “Lễ trị” trong thời kỳ này chưa thực sự chiếm vị trí độc tôn trong xã hội Phải đến thế kỷ XV, khi vương triều Lê Sơ được thành lập thì tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo mới thực sự trở thành hệ tư tưởng chính thống, xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Đây cũng là vương triều đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam xác nhận vai trò và vị thế của “Lễ” trong đường lối trị nước Đường lối trị nước của nhà Hậu Lê là đức trị kết hợp với pháp trị, trong đó đạo đức là chủ đạo, còn pháp luật là bổ trợ Sự pháp luật hóa các điển lễ, các hành vi ứng xử của con người là hệ quả của sự kết hợp “đức - pháp” Do đó, tư tưởng “Lễ trị” thời Hậu
Trang 7Lê tuy được xem là một trong những biểu hiện của đường lối Đức trị, song nội hàm của
nó vẫn không phải hoàn toàn trùng hợp với Đức trị mà Khổng Tử đề xuất
Tư tưởng “Lễ” và “Lễ trị” của Nho giáo đã có ảnh hưởng rất sâu đậm trong đời sống chính trị, xã hội và văn hóa của dân tộc ta, là công cụ đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội phong kiến, đồng thời góp phần xây dựng nền văn hóa dân tộc Do
đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo, đặc biệt là ảnh hưởng của nó tới mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế điển hình dưới thời Hậu
Lê vào quản lý xã hội, trên cơ sở đó rút ra các bài học có giá trị phục vụ yêu cầu phát triển đất nước hiện nay, theo chúng tôi, rõ ràng là cần thiết, đồng thời có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
Ngày nay, tuy cơ sở xã hội cho sự tồn tại của tư tưởng “Lễ trị” không còn, nhưng những tàn dư của “Lễ”, những quy tắc ứng xử, chuẩn mực, lễ nghĩa của Nho gia…vẫn còn im đậm trong tâm thức của nhiều người Ảnh hưởng của “Lễ” trong đạo đức, phong tục tập quán, tâm lý xã hội…ở nước ta vẫn còn Bên cạnh
đó, khi đời sống văn hóa, đạo đức mới chưa hoàn thiện, nhiều hiện tượng đạo đức tiêu cực trong quan hệ cha con, anh em, vợ chồng… đang nảy sinh hàng ngày trong cuộc sống Vì vậy, trong sự nghiệp xây dựng đổi mới đất nước ta hiện nay đòi hỏi phải phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế, ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực của chúng
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, nghiên cứu sinh chọn vấn
đề: “Tư tưởng Lễ trị của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến đường lối trị nước
thời Hậu Lê” làm đề tài luận án tiến sĩ Triết học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích:
Trên cơ sở phân tích, trình bày cơ sở hình thành, nội dung tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo Trung Quốc, luận án làm rõ ảnh hưởng của tư tưởng Lễ trị đến đường lối trị nước thời Hậu Lê và ý nghĩa hiện thời của nó
- Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án tập trung làm rõ những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Trang 8+ Trình bày cơ sở hình thành và nội dung cơ bản trong tư tưởng “Lễ trị”
của Nho giáo
+ Trình bày ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” đến đường lối trị nước thời Hậu Lê
+ Chỉ ra những giá trị và hạn chế của tư tưởng “Lễ trị” trong đường lối trị nước thời Hậu Lê, từ đó làm rõ ý nghĩa của tư tưởng Lễ trị đối với các triều đại phong kiến về sau cũng như rút ra bài học lịch sử đối với xã hội ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
+ Phân tích những biểu hiện của tư tưởng “Lễ trị” trong đường lối trị nước thời Hậu
Lê gồm giai đoạn Lê Sơ, nhà Mạc và Lê Trung hưng
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về chính trị và đạo đức, lối sống
- Đề tài chủ yếu dùng các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội như phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp trên cơ sở kết hợp các phương pháp liên ngành triết học, sử học, đạo đức học, chính trị học
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Làm rõ các điều kiện, tiền đề cho sự ra đời tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo
- Làm sáng tỏ nội dung cơ bản trong tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo
- Làm sáng tỏ ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” đối với đường lối trị nước thời Hậu Lê
- Chỉ ra được giá trị và hạn chế của tư tưởng “Lễ trị”, từ đó làm rõ ý nghĩa của
nó đối với các triều đại phong kiến về sau cũng như việc rút ra bài học lịch sử đối xã hội ta hiện nay
Trang 96 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần vào việc tìm hiểu tư tưởng “Lễ trị” - một nội dung cơ bản trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, từ đó chỉ ra ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế của nó đến đường lối trị nước ở thời Hậu Lê
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy triết học, chính trị, đạo đức nói chung và Nho giáo nói riêng ở các trường Đại học, Cao đẳng chuyên và không chuyên triết học
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2 Cơ sở hình thành và nội dung tư tưởng Lễ trị của Nho giáo Trung Quốc
Chương 3 Ảnh hưởng của tư tưởng Lễ trị đến đường lối trị nước thời Hậu Lê Chương 4 Giá trị, hạn chế của và ý nghĩa hiện thời của đường lối trị nước thời Hậu Lê dưới ảnh hưởng của tư tưởng Lễ trị
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
XX đến nay Do đó liên quan đến vấn đề này từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu theo những phương diện khác nhau Để tiện theo dõi và khảo cứu, chúng tôi phân định thành một số nhóm các vấn đề cơ bản sau đây:
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở hình thành và nội dung
tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo Trung Quốc
Các công trình thuộc hướng nghiên cứu này tuy đi sâu vào việc luận giải cơ sở hình thành, nội dung của Nho giáo, song ở mức độ nhất định đều đề cập đến tư tưởng
“Lễ” và “Lễ trị” của học thuyết này Trong số các công trình tiêu biểu cả về nội dung
lẫn thời điểm xuất hiện của chúng, phải kể đến các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim, Phan Bội Châu, Đào Duy Anh, Quang Đạm, Lã Trấn Vũ, Cao Xuân Huy, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Khắc Viện… Các tác giả đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phân tích, trình bày một số nội dung cơ bản của phạm trù “Lễ”, đồng thời nhấn mạnh những yếu tố tích cực và nêu được vai trò của nó đối với đời sống tinh thần
xã hội
Trước hết, đó là cuốn “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, được in lần đầu tại Hà
Nội vào những năm 30 của thế kỷ XX Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày, phân tích những tư tưởng cơ bản của Nho giáo trong quá trình hình thành và phát triển của
Trang 11nó Khi đánh giá về Nho giáo, tác giả đã đề cao những nhân tố tích cực của Nho giáo, cho rằng đạo đức Nho giáo có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hoàn thiện đạo đức cho con người và ổn định trật tự, kỷ cương của xã hội Đặc biệt, khi bàn về phạm trù “Lễ”, tác giả đã viết: “Chữ lễ trước tiên dùng để nói cách thờ thần cho được phúc, tức là chỉ có nghĩa cúng tế, thuộc về đường tông giáo mà thôi Sau dùng rộng ra, nói gồm cả những quy củ mà phong tục và tập quán của nhân quần xã hội
đã thừa nhận…Sau cùng chữ lễ lại có nghĩa thật rộng nói gồm cả cái quyền bính của vua và cách tiết chế sự hành vi của nhân chúng” [59, tr.137-138] Không chỉ khái quát được nội dung cơ bản của “Lễ”, tác giả còn chỉ ra được tác dụng của “Lễ”
Theo ông, tác dụng của “Lễ” có thể chia ra làm 4 chủ đích như sau: Thứ nhất, là để
“hàm dưỡng tính tình” [59, tr.138]; Thứ hai, là để “giữ những tình cảm cho thích
hợp đạo trung” [59, tr.140] Nghĩa là, dùng “Lễ” để tiết chế hành vi của con người
ta cho có chừng mực, để lúc nào cũng phù hợp với đạo trung; Thứ ba, là dùng “Lễ”
để phân định phải trái, tình thân sơ và trật tự trên dưới cho phân minh; Thứ tư, là
dùng “Lễ” để “tiết chế cái thường tình của người ta” [59, tr.143], để người ta ngày càng tránh xa điều tội, gần với điều thiện Tuy tác giả đã khái quát được nội dung cơ bản của “Lễ” và chỉ ra vai trò của nó, song việc xem xét “Lễ” như một phạm trù của đường lối trị nước, tức là “Lễ trị”, thì chưa được tác giả làm rõ
Tiếp đó, phải kể đến cuốn “Khổng giáo phê bình tiểu luận” của Đào Duy
Anh, Nhà xuất bản Quan Hải Tùng Thư, Huế, năm 1939 Theo ông, để đánh giá đúng Nho giáo, cần phải có thái độ khách quan, toàn diện, khoa học, không nên đề cao Nho giáo quá mức, cho rằng đó là một “học thuyết bất di, bất dịch”, cũng không nên phê phán Nho giáo là “vạn ác chi đoan” Từ cách tiếp cận như vậy, tác giả đã
khẳng định, các nhà nho đều chủ trương dùng lễ nhạc để cai trị: “Khổng giáo lại
chủ trương cả nhạc và lễ <…> Nhạc cũng có quan hệ về chính trị như lễ…, cho nên
lễ nhạc thường đi đôi với nhau Nhưng mỗi bên có một hiệu dụng riêng: lễ là cốt ở
sự trung kính, để giữ trật tự phân minh ở ngoài xã hội, mà nhạc thì cốt ở cảm thương, để điều hòa tâm tính người ta ở bên trong, hai cái dung hòa với nhau thì mới hoàn toàn, cho nên Khổng Tử cho rằng chính trị bằng lễ nhạc là chính trị lý tưởng” [1, tr.67-68] Tuy tác giả đã có trình bày về sự ảnh hưởng của Nho giáo đến Việt Nam, song tác giả cũng chưa phân tích cụ thể ở một giai đoạn lịch sử nào
Trang 12Vào những năm 30 của thế kỷ XX, Sào Nam Phan Bội Châu cũng khởi thảo
cuốn “Khổng học đăng”, được xuất bản lần đầu tiên tại Huế vào năm 1957 Tác giả
đã phân tích quá trình phát triển và những tư tưởng cơ bản của Nho giáo Ông cũng đặc biệt đề cao những giá trị của Nho giáo và coi đạo đức Nho giáo có vai trò cực
kỳ to lớn đối với việc làm chính trị Khi luận giải tư tưởng chính trị của Khổng Tử, tác giả phân tích như sau: “Phương pháp trị dân ở một nước, chỉ theo ở đường ngọn, không bằng theo ở đường gốc “Ngọn” là gì? Là Pháp luật “Gốc” là gì? Là giáo hóa Pháp luật không phải là không hiệu lực, nhưng hiệu lực chỉ ở trong một lúc; tất phải vun trồng ở nơi cội gốc bằng giáo hóa thời hiệu lực mới được lâu xa <…> Nhà chính trị muốn cho công hiệu xa lớn, có chi bằng chú trọng vào đường giáo dục: một phương diện lấy đạo đức giữa tâm thân mà mở mang bày vẽ cho nó, lại một phương diện lấy văn hóa lễ nghĩa mà dắt đưa nó vào khuôn trật tự…” [13, tr.77] Mặc dù đã nhấn mạnh công hiệu của “Lễ” trong việc làm chính trị, song do mục đích nghiên cứu của tác phẩm nên tác giả chỉ dừng lại ở việc trình bày những tư tưởng cơ bản của Nho giáo mà chưa đi sâu phân tích khái niệm “Lễ” và “Lễ trị”, chưa chỉ ra được sự ảnh hưởng của nó tới chế độ quân chủ Việt Nam, điển hình là dưới thời Hậu Lê Tuy nhiên, đó cũng là cơ sở để chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu theo hướng này
Tác giả Lã Trấn Vũ trong cuốn “Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc”
(Trần Văn Tấn dịch, Nhà xuất bản Sự Thật, năm 1964), đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, của giai cấp công nhân để nghiên cứu, giải thích các học thuyết triết học Trung Quốc Trong cuốn sách này đã có sự phân tích, so sánh những quan điểm, chủ trương của những nhà lý luận và hoạt động chính trị từng thời đại; phân tích những mâu thuẫn nội tại giữa cái mới và cũ, giữa cái bị trị với thống trị
ở Trung Quốc Khi trình bày về học thuyết chính trị của Khổng Tử, tác giả đã đề cập tới các thuyết chính danh, “Lễ trị”, “đức” và “hình”… Bàn về “Lễ”, tác giả nhận định: ““Lễ” mà Khổng Tử nói tới, không những là một thứ nguyên tắc về chính trị, một văn bản về nghi tiết, mà còn là một thứ chế độ Trong các tầng lớp do chế độ đẳng cấp tạo nên thì có một loại thước đo để phân biệt họ, do đó mà có
“danh” để đặt ra đạo nghĩa, đạo nghĩa để đặt ra “Lễ” Đó là nguồn gốc của cái gọi là dùng “lễ để cai trị”” [134, tr.92] Tác giả cũng đã bước đầu có sự phân tích, so sánh
Trang 13và chỉ ra sự kế tục trong tư tưởng “Lễ trị” ở ba nhà sáng lập Nho giáo sơ kỳ Khi phân tích khái niệm “Lễ” và “Pháp” của Tuân Tử, tác giả cho rằng “Lễ” của Tuân
Tử về cơ bản vẫn giống như Khổng, Mạnh nhưng có phần cụ thể hơn Đối các với luận điểm của Tuân Tử (Lễ tức là cái phận lớn của pháp luật vậy; pháp luật mà không được thi hành là do người trên phạm pháp) tác giả nhấn mạnh: “Lý luận ấy là nhịp cầu cho sự quá độ từ chủ nghĩa “cai trị bằng lễ” của Khổng Mạnh đến chủ nghĩa “cai trị bằng pháp luật” của Hàn Phi, Lý Tư”[134, tr.270-271] Tuy nhiên, trong tác phẩm này tác giả mới chỉ dừng lại ở tư tưởng “Lễ trị” của ba nhà sáng lập Nho giáo, chưa trình bày thành hệ thống quan điểm mà mới chỉ dưới dạng những nhận định, quan điểm đơn lẻ
Cuốn “Tư tưởng phương Đông - gợi những điểm nhìn tham chiếu”, của tác
giả Cao Xuân Huy, Nhà xuất bản Văn học, năm 1995, là tập hợp những bài giảng về triết học phương Đông được trình bày tại Viện Văn học từ năm 1962 -1963 Trong phần III của cuốn sách (Đề cương bài giảng triết học cổ đại Trung Quốc), tác giả đã tập trung nghiên cứu về tư tưởng triết học của Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử Khi trình bày về tư tưởng chính trị và nhân sinh quan của Khổng Tử, tác giả cũng
đề cập đến phạm trù “Lễ”, mối quan hệ của nó với các phạm trù khác Theo tác giả
““Lễ” là cái phạm trù tôn giáo cơ bản, làm công cụ cho sự thống trị của quý tộc, thị tộc <…> “Lễ là để phân biệt quý tiện” cho nên Khổng Tử chủ trương lễ trị mà phản đối pháp trị, vì pháp luật không phân biệt quý tiện” [46, tr.404]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê cũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu
về lịch sử triết học Trung Quốc nói chung và Nho giáo nói riêng, trong đó phải kể tới
các tác phẩm: “Khổng Tử”, “Mạnh Tử”, “Tuân Tử”, “Đại cương triết học Trung
Quốc” Trong cuốn “Khổng Tử”, Nguyễn Hiến Lê đã trình bày những nội dung cơ
bản trong triết học của Khổng Tử như: vấn đề con người, tư tưởng chính trị, chính sách trị dân, đạo làm người Khi trình bày về tư tưởng chính trị và chính sách trị dân ông cũng dành một phần để bàn về tư tưởng “Đức trị”, “Lễ trị” Không chỉ khái quát nội dung cơ bản của “Lễ”, tác giả còn chỉ ra được tác dụng của “Lễ”: “Dù tích cực, hay tiêu cực, lễ cùng có mục đích tập cho ta “khắc kỷ” để tu thân Dân tộc nào trọng lễ thì cũng trọng sự khắc kỷ, và hễ khắc kỷ thì tinh thần hi sinh cao mà nước
dễ hùng cường, như dân tộc Nhật trước thế chiến vừa rồi” [66, tr.173] Trong cuốn
Trang 14“Mạnh Tử”, Nguyễn Hiến Lê trình bày tư tưởng chính trị và tư tưởng kinh tế của
Mạnh Tử Trong đó, tác giả đã đề cập đến chính sách trọng hiền, vai trò của dân, chủ trương “dưỡng dân” “giáo dân”, chủ trương hạn chế chiến tranh của Mạnh Tử
Trong cuốn “Tuân Tử”, Nguyễn Hiến Lê viết riêng một chương “Bàn về chính trị”
(chương X) Trong đó, tác giả đã trình bày những nội dung cơ bản trong chủ trương
chính trị của Tuân Tử, thể hiện tập trung ở các phần Vương chính, Lễ trị, Phú quốc,
Cường binh, những nội dung này thể hiện rõ nét chính sách của Tuân Tử nhằm xây
dựng một quốc gia thịnh trị
Bộ sách “Khổng Tử”, “Mạnh Tử”, “Tuân Tử” (bản thảo được hoàn thành vào
năm 1978) của Nguyễn Hiến Lê là những công trình nghiên cứu hệ thống và công phu, trong đó tác giả đã trình bày khá đầy đủ những nội dung cơ bản của Nho giáo sơ kỳ Tư tưởng “Lễ trị” cũng đã được trình bày trong chủ trương chính trị của các nhà tư tưởng đó Đặc biệt, các tác phẩm trên của Nguyễn Hiến Lê cũng đã bước đầu có sự
so sánh, đánh giá sự kế thừa, phát triển trong tư tưởng “Lễ trị” từ Khổng Tử, Mạnh
Tử đến Tuân Tử
Trong cuốn “Đại cương triết học Trung Quốc” của Giản Chi và Nguyễn Hiến
Lê, Quyển 1 và Quyển 2, xuất bản năm 1992, các tác giả đã nói về nhân sinh quan của
Khổng Tử, đi sâu vào phân tích các khái niệm: Nhân, Trí, Dũng, Lễ, Trung, Hiếu,
Đễ…Về phạm trù “Lễ”, tác giả cho rằng: Khổng Tử dùng chữ “Lễ” theo nghĩa rộng,
bao quát cả những việc thích hợp và lẽ phải, coi lễ với nghĩa là một Các tác giả chủ yếu bàn về “Lễ” trong quan niệm của Khổng Tử và Tuân Tử mà ít đề cập đến sự vận động, phát triển của nó trong các giai đoạn lịch sử về sau, bởi lẽ họ cho rằng các giai đoạn sau này của Nho gia ít bàn đến “Lễ”
Mặc dù chủ yếu đề cập đến “Lễ” từ góc độ lịch sử tư tưởng, thiên về trình bày, mô tả, giải thích kinh điển, nhưng các công trình nghiên cứu trên cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc tiếp tục đi sâu, làm rõ hơn nội dung của “Lễ” trong học thuyết Nho giáo, đặc biệt xem xét nghiên cứu về “Lễ” với tư cách là một đường lối trị nước
Khác với thái độ cực đoan về Nho giáo, hoặc sùng bái, ca ngợi, muốn làm
sống lại Nho giáo, cuốn “Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện, xuất bản năm
1993, đã đề cập đến cả hai mặt tích cực và tiêu cực của Nho giáo Nói về những
Trang 15điều tâm đắc của mình khi nghiên cứu, tìm hiểu Nho giáo, Nguyễn Khắc Viện đã đánh giá cao tính “vừa phải” (không thái quá) trong đạo làm người của Nho giáo và vấn đề “xử thế” (xử thế trong mọi tình huống, đối với người này, người khác, với bề trên, kẻ dưới ) của Nho giáo Ông viết: “Mỗi lời nói, mỗi hành động của người quân tử phải làm theo đúng lễ: Đây là nét đặc biệt của học thuyết Nho giáo Có lễ
để kính thờ cha mẹ, để đối xử giữa vợ chồng, giữa anh chị em, lễ trong quan hệ với bạn bè, với người dưới và người trên, lễ độ với vua Có lễ để biểu thị sự vui, giận,
để tang, ăn uống, và cả khi ngủ…” [128, tr.23] Điều đó cho thấy, trong cuốn sách này tác giả chủ yếu đề cập đến “Lễ” ở khía cạnh văn hóa, đạo đức, chưa phân tích
“Lễ” ở khía cạnh chính trị một cách chuyên biệt
Trong cuốn “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm, xuất bản năm 1994, tác
giả cho rằng, sức sống dai dẳng của Nho giáo chủ yếu ở chữ “Lễ”: “Mặc dù các văn miếu và các nền tư văn không còn phảng phất chút khói hương nào, Nho giáo vẫn còn sống bằng chữ lễ trong đầu óc và trong nền văn hóa con người ở nhiều nơi” [32, tr.148] Theo tác giả, điều nguy hiểm của “Lễ” là ở chỗ, nó như một cái lưới bủa ra rất rộng và xiết lại rất chặt, nó là xiềng xích trói buộc, kìm hãm sự vươn lên của con người Đề cập đến “Lễ” trên phương diện chính trị, tác giả khẳng định: “Lễ còn là một công cụ chính trị mạnh mẽ và là vũ khí của một phương pháp trị nước trị dân đắc lực lâu đời mà Nho giáo đã cống hiến cho bao nhiêu thời đại đế vương Phương pháp ấy là phương pháp lễ trị” [32, tr.149] Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu phân tích nội dung của đường lối “Lễ trị”, chưa làm rõ sự ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” tới đường lối trị nước của các triều đại phong kiến Việt Nam
Tác phẩm “Nho gia với Trung Quốc ngày nay” của Vi Chính Thông, Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1996 (sách dịch theo nguyên bản tiếng Trung, nhà xuất bản Nhân dân Thượng Hải, năm 1990) Tác giả đã tập trung phân tích một
số nội dung cơ bản trong tư tưởng của Nho gia và ảnh hưởng của nó đối với xã hội, con người Trung Quốc truyền thống cũng như hiện tại dưới cái nhìn phản biện Khi trình bày về tư tưởng chính trị của Nho gia, tác giả cho rằng: “Ngày nay, chúng ta vẫn coi trọng mặt tích cực của tư tưởng chính trị Nho gia Chúng ta coi trọng nhưng không phải như những người sùng bái truyền thống, nói tới cái gì cũng bảo xưa kia
đã có rồi <…> Điều chúng ta cần suy nghĩ là làm như thế nào để những tư tưởng
Trang 16vẫn còn giá trị, mà trước đây bị các nhà nho lãng quên, nay được phát hiện dưới ánh sáng của học thuật hiện đại”[105, tr.189]
Trong cuốn “Khổng Tử” của tác giả Lý Tường Hải (Nguyễn Quốc Thái dịch từ
nguyên bản Trung văn, nhà xuất bản Tứ Xuyên, Trung Quốc, năm 1995), đã dành phần lớn nội dung tác phẩm trình bày về tư tưởng triết học Khổng Tử và ảnh hưởng của nó đến xã hội Trung Quốc Trong đó, tác giả đã có những nhận định xác đáng về tư tưởng
“Lễ trị” của Khổng Tử: “Lấy lễ trị quốc thành ra cương lĩnh cơ bản của Khổng Tử liên
quan đến an bang trị quốc Song tư tưởng lấy lễ trị quốc của Khổng Tử không giống như ở một số học giả đã nêu, là lấy đức trị đối lập với pháp trị Thực ra trong hành vi chính trị thực tế chúng hỗ trợ cho nhau, trên một ý nghĩa nhất định, tư tưởng an bang trị quốc của Khổng Tử được coi là lấy lễ làm vành lưới, lấy phép tắc làm phụ trợ” [43, tr.130-131]
Trong cuốn “Nho giáo Trung Quốc”, xuất bản năm 2005, do Nguyễn Tôn
Nhan biên soạn, đã giới thiệu khái quát quá trình phát triển cũng như nội dung của Nho giáo qua các thời kỳ (từ trước thời Tần cho đến thời kỳ Nho giáo ngưng kết vào thời Minh và Thanh) Khi trình bày về nội dung tư tưởng triết học của Khổng Tử, tác giả cho rằng: “Dùng lễ trị nước là truyền thống đời Chu, cũng là ý kiến phổ biến của các chính trị gia thời Xuân Thu” [85, tr.173] Nguyễn Tôn Nhan chủ yếu phân tích phạm trù “Lễ” ở phương diện tế lễ, song theo tác giả, tế lễ cũng là hành vi chính trị quan trọng: “Lễ nghi tế thần là tế lễ, mà tế lễ không chỉ đơn giản là tế cáo hay cầu nguyện được ban phúc mà là bản thân tế lễ đã là một hành vi chính trị quan trọng, một loại
lễ quan trọng nhất trong việc trị nước Khổng Tử chủ trương dùng “Lễ” trị nước, trước tiên cũng là tế lễ.” [85, tr.181] Tác phẩm cũng có trình bày sự vận động, phát triển của “Lễ” qua các thời kỳ Tuy nhiên, như trên đã nói, trong tác phẩm, tác giả chỉ mới chỉ khai thác “Lễ” ở phương diện tế lễ chưa đi sâu phân tích “Lễ” trong trong lĩnh vực chính trị như một đường lối trị nước
Nhìn chung, những cuốn sách trên đây là những công trình khá bổ ích cho những ai quan tâm và nghiên cứu Nho giáo Song cũng do lập trường, mục đích của những người nghiên cứu Nho giáo ít nhiều có sự khác nhau, chính vì thế mà những công trình trên vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu tư tưởng “Lễ trị” với tư cách là tư tưởng trị nước để từ đó làm rõ ảnh hưởng của nó ở mức nào, giai đoạn lịch sử cụ thể
Trang 17nào của nước ta Điều đó là vấn đề đặt ra để chúng tôi sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu và làm sáng tỏ trong luận án của mình
1.2 Những công trình nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” đến đường lối trị nước thời Hậu Lê
Nhóm công trình này đi sâu nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam như một yếu tố quan trọng hình thành nên các giá trị đạo đức, tinh thần của con người Việt Nam xưa và nay Trong nhóm các công trình này cũng có sự phân tích ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ” và “Lễ Trị” ở Việt Nam trong xã hội phong kiến, điển hình dưới thời Hậu Lê Liên quan đến vấn đề này có tác giả: Lê Sĩ Thắng, Nguyễn Đăng Duy,
Vũ Khiêu, Nguyễn Tài Thư, Phan Đại Doãn… Bên cạnh việc phê phán những ảnh hưởng tiêu cực trong tư tưởng “Lễ” của Nho giáo, nhiều tác giả còn đặt ra vấn đề kế thừa và phát triển những giá trị tích cực của nó nhằm khắc phục những mặt tiêu cực, góp phần xây dựng đạo đức mới ở nước ta hiện nay
Vào các năm 1973 và 1978, trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu lịch
sử tư tưởng Việt Nam, viện Triết học đã tổ chức hai cuộc hội thảo với đề tài “Nho
giáo trong lịch sử và tàn dư của nó trong xã hội Việt Nam” Cuốn “Nho giáo tại
Việt Nam”, do Lê Sĩ Thắng chủ biên, xuất bản năm 1994, là tập hợp các bài viết của
các nhà nghiên cứu trong các cuộc hội thảo trên Khi nghiên cứu Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến Việt Nam trong lịch sử và hiện tại, các tác giả đã đề cập đến cả những mặt tích cực và tiêu cực trong tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo Cụ thể:
Trong bài viết: “Góp phần phê phán lễ giáo phong kiến” của tác giả Hà Thúc
Minh, đã phân tích về quá trình du nhập và hình thành của lễ giáo, thực chất của
“Lễ” và tàn dư của nó Theo tác giả, ở nhà Hậu Lê, đặc biệt là triều Lê Thánh Tông,
lễ giáo được đặt lên hàng đầu, trở thành tiêu chuẩn của mọi thước đo trong xã hội, mọi cử chỉ hành vi con người nhất cử nhất động đều được lấy lễ giáo để soi rọi và
cứ như vậy, lễ giáo ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong xã hội phong kiến: “Lễ giáo ngày càng củng cố được quyền uy Lễ giáo không những chỉ ở trong lĩnh vực đạo đức mà còn được luật pháp công nhận và bảo hộ Từ luật Hồng Đức đến luật Gia Long pháp luật làm hậu thuẫn mạnh mẽ cho lễ giáo và lễ giáo cũng tiếp nối cho những nơi mà luật pháp không với tay đến được” [103, tr.360] Từ chỗ chỉ ra những mặt tiêu cực của “Lễ”, tác giả lưu ý đến việc cần phải khắc phục tàn dư của lễ giáo
Trang 18để góp phần khắc phục những hiện tượng không tốt trong xã hội, từ đó, xây dựng một nếp sống lành mạnh, khoa học
Đặc biệt, trong bài viết: “Vị trí của Nho giáo thời kỳ cực thịnh của chế độ
phong kiến Việt Nam” của Nguyễn Đức Sự Tác giả đã lý giải về cơ sở giúp cho
Nho giáo chiếm được vị trí độc tôn, các phạm trù đạo đức Nho giáo thâm nhập vào đời sống con người Việt Nam trong thời kỳ cực thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam Về sự phát triển của tư tưởng “Lễ” trong giai đoạn này, tác giả viết: “Triều đình phong kiến và cả một đội ngũ quan liêu Nho sĩ đã tìm mọi cách làm cho Nho gia thâm nhập vào quần chúng bằng giáo dục và pháp luật, bằng khen thưởng và trừng phạt Nhà vua đã ban ra không biết bao nhiêu những hứa điều, những bài cáo
dụ và những quy định về nghi lễ để phổ biến Nho giáo vào tận thôn xóm” [103, tr.432] Cũng trong bài viết này tác giả còn đề cập đến những tác dụng tích cực và tiêu cực của Nho giáo trong xã hội Việt Nam ở thế kỷ XV - thời kỳ cực thịnh của Nho giáo
Vào thập niên 90 của thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Vũ Khiêu cũng có nhiều công
trình nghiên cứu về Nho giáo như: “Đại học và Trung dung Nho giáo”, “Nho giáo xưa
và nay”, “Nho giáo và đạo đức”, “Nho giáo và gia đình”, “Đức trị và pháp trị trong Nho giáo”, “Nho giáo và sự phát triển ở Việt Nam”…
Trong cuốn “Nho giáo và đạo đức”, xuất bản năm 1995, tác giả Vũ Khiêu
cho rằng, khi đánh giá lại Nho giáo không chỉ một chiều đề cao quá mức tư tưởng đạo đức của học thuyết này mà bỏ quên mặt tiêu cực của nó trong giáo dục ràng buộc con người vào những nghi lễ hà khắc Nho giáo luôn luôn lấy khuôn mẫu của người đời xưa giáo dục đời nay: “Theo lịch nhà Hạ, đi xe nhà Ân, mang mũ niệm nhà Chu, dùng nhạc Thiều của vua Vũ Nho giáo khuyên răn con người ta bảo thủ
và an phận; Đạo đức Nho giáo đối lập với tinh thần bình đẳng và dân chủ giữa người với người; Nho giáo đem Đức trị đối lập với Pháp trị…” [53, tr.8] Từ nhận định đó, tác giả chỉ rõ: trước những mạnh yếu của đạo đức Nho giáo, chúng ta có thể tiếp thu những gì để phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước Nhân, Nghĩa, Lễ, Tín…nếu được tước bỏ đi những yếu tố tiêu cực vẫn đầy sức thuyết phục Cuốn sách
có ý nghĩa tham khảo khá quan trọng đối với những người nghiên cứu về tư tưởng đạo đức và “Lễ” của Nho giáo Song cuốn sách mới dừng lại ở việc nêu lên những câu trích
Trang 19của Nho giáo về “Lễ” chứ chưa có sự phân tích, đánh giá, bình luận sâu sắc hơn về những câu trích đó
Trong cuốn“Đức trị và pháp trị trong Nho giáo”, xuất bản năm 1995, tác giả
Vũ Khiêu đã nhấn mạnh quan điểm của Nho giáo về vai trò của “Lễ” trong lĩnh vực chính trị: “Dùng lễ thì việc gì cũng thi hành được” [55, tr.55] Tuy nhiên theo tác giả tư tưởng “Lễ trị” cũng có những hạn chế của nó: “Chế độ đức trị còn sản sinh ra đông đảo phần tử đạo đức giả, những kẻ kiếm ăn trong “nghề đạo đức”, những kẻ
bề ngoài nói điều nhân nghĩa, nhưng bên trong đầy rẫy những tật xấu < > Thực hành đức trị, giai cấp phong kiến đã đưa lợi ích và trật tự xã hội của nó thành những quy tắc đạo đức chung của mọi người Bởi vậy sức mạnh của Nho giáo là suốt mấy ngàn năm lịch sử, nó đã duy trì xã hội phương Đông trong một trạng thái trì trệ và bảo thủ bằng cái gọi là đạo đức” [55, tr.22-23]
Cuốn “Nho giáo và sự phát triển ở Việt Nam”, của tác giả Vũ Khiêu, xuất
bản năm 1997, bao gồm ba phần Phần 1: Nho giáo trong lịch sử - sự ra đời và phát triển; Phần 2: Việc đánh giá lại Khổng Tử và những bài học vận dụng Nho giáo ở thời đại ta hiện nay; Phần 3: Nho giáo trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam ngày nay Khi đánh giá về mặt hạn chế của tư tưởng “Lễ trị” tác giả viết: “Lễ trị là biện pháp chặt chẽ nhất để thực hiện đức trị Vi phạm những nguyên tắc gọi là lễ ấy đều
bị gia đình lên án, xã hội xỉ vả, nhà nước trừng trị Không cần kể ra đây những bất công mà người lao động, người phụ nữ phải gánh chịu dưới ách đức trị và lễ trị này” [57, tr.124]
Mặc dù có đề cập đến vấn đề dùng “Lễ” để cai trị của nhà Hậu Lê, nhưng các công trình trên của Vũ Khiêu dường như chưa đi sâu làm rõ biểu hiện của tư tưởng
“Lễ trị” dưới thời Hậu Lê và ở đây tác giả cũng chủ yếu bàn đến triều đại Lê Sơ, chưa tìm hiểu sự vận động biến đổi của tư tưởng “Lễ” ở giai đoạn cực thịnh cho đến thời kỳ suy thoái của triều đại này
Năm 1998, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách “Một số vấn
đề về Nho giáo Việt Nam” do Phan Đại Doãn chủ biên Trong cuốn sách này, các tác giả
đã phân tích rõ những nét cơ bản của tiến trình xác lập vị thế và những thành tựu của Nho giáo Việt Nam trong chặng đường lịch sử từ thế kỷ XV đến thế XX, mà đỉnh cao của nó là thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) Đây là thời kỳ Nho giáo Việt Nam chiếm vị
Trang 20trí độc tôn trong sự thịnh trị của chế độ quân chủ chuyên chế ở nước ta Tuy nhiên, cuốn sách chủ yếu đề cập tới vấn đề văn hóa, giáo dục, khoa cử, chứ chưa nghiên cứu về vai trò của tư tưởng chính trị của Nho giáo
Cuốn “Nho giáo với văn hóa Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy, Nhà xuất
bản Hà Nội, năm 1998 Đây là công trình nghiên cứu Nho giáo trên nhiều phương diện, từ đó làm rõ sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam… Đặc biệt, trong Chương 6: “Nho giáo với văn hóa chính trị”, tác giả đã trình bày khái quát nội dung tư tưởng chính trị của Nho giáo, từ đó rút ra nhận xét và phân tích sự ảnh hưởng của nó đối với văn hóa chính trị trong lịch sử Việt Nam Tác giả cho rằng: “Nho giáo dựa vào Lễ Lễ là một trong năm tiêu chuẩn đạo đức, song đứng về
tư tưởng chính trị, lễ là phương tiện để vận hành chính trị” [31, tr.229] Đồng thời tác giả cũng khẳng định Nho giáo chiếm vị trí tuyệt đối trong đời sống tư tưởng và văn hóa tinh thần từ đầu thế kỷ XV trở đi, tư tưởng chính trị của Nho giáo cũng có ảnh hưởng sâu sắc tới đường lối trị nước của các vị vua triều Lê
Hội thảo “Nho giáo ở Việt Nam”, do Viện nghiên cứu Hán Nôm và Viện
Harvard - Yenching (Mỹ) phối hợp tổ chức trong hai ngày 17 và 18 tháng 12 năm
2004 Nội dung các tham luận trình bày trong Hội thảo được chia thành ba phần: Phần 1: Quá trình du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam; Phần 2: Thư tịch Hán Nôm Việt Nam về Nho giáo; Phần 3: Ảnh hưởng của Nho giáo trong đời
sống xã hội Việt Nam thời phong kiến Trong đó đáng chú ý là các bài viết:“Vai trò
của Nhà nước trong quá trình Nho giáo hóa xã hội thời Lê”, của Trần Thị Kim
Anh; “Nội dung Nho học và văn sách thi Đình thời Lê Sơ và cuối Nguyễn” của Đinh Thanh Hiếu; “Luật pháp thời Lê dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo” của
Nguyễn Ngọc Thuận… Các bài viết trên hầu hết đều khẳng định rằng, Nho giáo và
tư tưởng “Lễ trị” của nó giữ một vị trí khá quan trọng trong đời sống tinh thần của
xã hội Việt Nam thời Hậu Lê
Ngoài các công trình kể trên còn có các luận văn, luận án tiến sỹ cũng đề cập đến một số khía cạnh của Nho giáo về con người, đạo đức, về tư tưởng chính
trị…và sự ảnh hưởng của nó ở Việt Nam như luận án “Vấn đề con người trong Nho
học sơ kỳ của Nguyễn Tài Thư”; luận án “Ảnh hưởng của Nho giáo đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống” của Trần Thị Hồng Thuý; luận án “Một số
Trang 21nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo Việt Nam thời Trần” của Vũ Văn Vinh;
luận án “Quan niệm của Nho giáo nguyên thuỷ về con người qua các quan hệ: thân
- nhà - nước - thiên hạ” của Trần Đình Thảo; luận án “Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Nguyễn Thị Nga; luận án “Quan niệm của Nho giáo về các mối quan hệ xã hội Ảnh hưởng và ý nghĩa của nó đối với
xã hội ta hiện nay”, của Nguyễn Văn Bình…
Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Thanh Bình với đề tài “Học thuyết
chính trị xã hội của Nho giáo và sự thể hiện của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX)”, bảo vệ tại Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 2005 Luận án đã
phân tích Nho giáo với tính cách là học thuyết chính trị - xã hội Tác giả đã bàn đến những vấn đề cơ bản của Nho giáo như con người, vai trò của con người, xã hội lý tưởng, đồng thời cũng đề cập đến nhân, lễ, chính danh, đến những chuẩn mực đạo đức từ góc độ chính trị - xã hội Từ đó tác giả đề cập đến sự thể hiện của các tư tưởng ấy dưới chế độ phong kiến ở Việt Nam
Luận án tiến sĩ triết học của Phan Mạnh Toàn với đề tài “Ảnh hưởng của
nhân, lễ trong Nho giáo đối với đời sống đạo đức ở Việt Nam hiện nay”, bảo vệ
năm 2011, tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Luận án đã nghiên cứu những nội dung cơ bản của nhân, lễ trong Nho giáo, phân tích sự ảnh hưởng và đề xuất phương hướng cùng một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế tiêu cực đối với đời sống tư tưởng ở nước ta hiện nay Tuy tác giả đã có sự phân tích nội dung của “Lễ” trong Nho giáo Trung Quốc và Nho giáo Việt Nam, song do mục đích nghiên cứu nên tác giả chủ yếu tập trung khai thác phạm trù “Lễ” ở khía cạnh đạo đức, trong mối quan hệ với phạm trù
“Nhân” mà chưa đi sâu khai thác “Lễ” trong lĩnh vực chính trị
Những luận văn, luận án trên mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của “Lễ”
và ảnh hưởng của nó lên đời sống tinh thần, xã hội, con người Việt Nam Tuy đã đề cập đến vai trò của “Lễ” trên lĩnh vực chính trị nhưng chưa đi sâu khai thác nó như
là một vấn đề độc lập, chưa phân tích sâu sắc sự ảnh hưởng của nó lên đường lối trị nước của các triều đại phong kiến Việt Nam Song những tài liệu trên đã cung cấp
Trang 22tư liệu giúp nghiên cứu sinh hiểu sâu thêm về đường lối “Lễ trị” của Nho giáo, từ
đó là cơ sở để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu sâu hơn ở khía cạnh này
1.3 Những công trình nghiên cứu về giá trị và hạn chế của đường lối trị nước thời Hậu Lê dưới ảnh hưởng tư tưởng “Lễ trị”
Ở Việt Nam từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về triều đại Hậu Lê Tuy nhiên, do mục đích và phạm vi nghiên cứu khác nhau nên các công trình chỉ mới tập trung vào một lĩnh vực nhất định, thậm chí một khía cạnh nổi bật của triều đại này, hoặc một vị hoàng đế cụ thể…chứ chưa tập trung đi sâu tìm hiểu
sự ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” đến đường lối trị nước của cả triều đại này Vì vậy, để tìm hiểu ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế của tư tưởng “Lễ trị” trong đường lối trị nước thời Hậu Lê chúng tôi đã dựa trên một số bộ sử lớn của dân tộc, đây là nguồn tư liệu chính, được quan tâm hàng đầu và được xem là tài liệu gốc của
luận án như: Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí,
Luật Hồng Đức… Ngoài ra luận án còn kế thừa một số công trình nghiên cứu về
lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội quân chủ Việt Nam nói chung và thời kỳ Hậu Lê nói riêng Những công trình nghiên cứu đi trước về triều đại Hậu Lê là nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng tôi hoàn thành luận án của mình
Cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, xuất bản lần đầu vào năm
1919 Trong công trình này khi đề cập đến nhà Hậu Lê, Trần Trọng Kim đã đưa ra nhận xét như sau: “Nhà Lê, trong khoảng 100 năm buổi đầu, nước mình cũng có thể gọi là thịnh trị, nhất là những năm Quang Thuận (1460 - 1469) và Hồng Đức (1470
- 1497), thì sự văn trị và võ công đã là rực rỡ lắm” [60, tr.10] Nói về đường lối cai trị của nhà Hậu Lê, Trần Trọng Kim cho rằng đó là sự kết hợp giữa “văn trị và võ công” Đặc biệt, ông đánh giá cao những ảnh hưởng tích cực của tư tưởng “Lễ trị”
trong đường lối trị nước của triều đại này Tuy nhiên, công trình “Việt Nam sử
lược” của Trần Trọng Kim chủ yếu tập trung vào hai vị vua tiêu biểu của nhà Lê là
Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông mà chưa phản ánh được tư tưởng trị nước của cả triều đại này với tư cách là một hệ thống, nghĩa là chưa làm rõ được nguyên nhân sâu xa của sự suy vong của triều đại này từ Lê Uy Mục về sau, cho nên những hạn chế trong đường lối trị nước thời kỳ này không được tác giả đề cập đến một cách cụ thể
Trang 23Tác giả Đào Duy Anh trong cuốn “Lịch sử Việt Nam - từ nguồn gốc đến thế
kỷ XIX”, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1955, khi phân tích trạng thái xã hội và văn
hóa thời Hậu Lê thì cho rằng: “Để duy trì trật tự xã hội, nhà vua dựa vào đạo đức Nho gia và lấy danh nghĩa bảo tồn “thuần phong mỹ tục” cấm nhân dân không được chơi bời phóng đãng và xa xỉ Lê Lợi ra lệnh nghiêm cấm việc đánh cờ bạc và tụ tập
ăn uống, xử tội cờ bạc thì chặt tay, tội rượu chè thì phạt trượng Tư Thành dặn quan
Lễ bộ để ý bắt nhân dân phải giữ gìn phong tục tốt Nghỉ lại ban ra 24 huấn điều cho nhân dân thường ngâm đọc để noi theo mà chuộng cần kiệm, trọng luân thường [4, tr.305] Trong cuốn sách, tác giả cũng khẳng định nhà Hậu Lê đề cao Nho giáo, sử dụng Nho giáo làm chuẩn mực để xây dựng chế độ xã hội, làm công cụ để trị nước, nhà Lê đã gắn bó quyền lợi giai cấp của mình với lợi ích của dân tộc Các vua Lê rất chú ý đến việc xây dựng hệ thống điển chế pháp luật, kết hợp chặt chẽ giữa lễ và pháp Nhà nước đưa lễ vào luật, luật và lễ hỗ trợ nhau tạo ra một xã hội hướng Nho
Trong bài viết “Hệ tư tưởng Lê” của tác giả Nguyễn Duy Hinh, đăng trên tạp
chí Nghiên cứu lịch sử, số 6, năm 1986, tác giả đã nghiên cứu về nhà Lê trong tiến trình phát triển của nó và ông đã chia triều đại này thành hai giai đoạn hợp - phân (giai đoạn Lê Sơ tác giả gọi là Hợp, giai đoạn Lê Trung Hưng tác giả gọi là phân) Khi phân tích về hệ tư tưởng của nhà Lê, Nguyễn Duy Hinh cho rằng, đặc điểm hệ
tư tưởng Nho giáo thời Lê là Nho giáo hàm chứa những yếu tố tư tưởng của Nho giáo Khổng, Mạnh với những lý luận về Nhân Nghĩa, Pháp và Dân chứ không phải
là Nho giáo Khổng Tử với Lễ, Nhạc, Chính Danh Vì vậy, theo ông, Nho giáo được lấy làm hệ tư tưởng của nhà Lê là Nho giáo mang tư tưởng cá nhân với các nho gia
đã thoát khỏi tư tưởng tông pháp rất chặt chẽ của Khổng giáo Đây là bài viết ở mức
độ nhất định mang tính nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng, nhưng ở khuôn khổ của một bài báo, tác giả không thể đề cập đến những tư tưởng của các nhà nho tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và các nhà nho khác của nhà Lê
Năm 1993, cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” tập 1, do Nguyễn Tài Thư chủ
biên được xuất bản Sách gồm 6 phần 23 chương, bàn về tư tưởng từ thời tiền sử và thời sơ sử đến cuối thể kỷ XVIII ở Việt Nam Trong chương IV: Lê Thánh Tông, thế giới quan và tư tưởng chính trị - xã hội, tác giả đã có nhận xét về đường lối trị nước của Lê Thánh Tông, cho rằng, “Đóng góp quan trọng của Lê Thánh Tông là
Trang 24xây dựng một đường lối trị nước có thể đáp ứng được đòi hỏi của phát triển xã hội lúc bấy giờ Đó là đường lối trị nước kiểu “văn trị” hay nói cách khác là “lễ trị” hay
“đức trị”” [112, tr.303] Như vậy, ở công trình nghiên cứu này chúng ta thấy các tác giả đã chú trọng nghiên cứu thời trị vì của vua Lê Thánh Tông và đưa ra những nhận xét khá chính xác về tư tưởng chính trị xã hội của ông vua này Tuy nhiên, trong công trình này các tác giả mới chỉ tập trung vào phân tích một triều đại Lê Thánh Tông mà bỏ qua các triều đại trước và sau đó, do đó sẽ không phác họa được bức tranh tư tưởng tổng thể về triều đại Hậu Lê
Ngoài ra, trong các nghiên cứu về tư tưởng chính trị, đường lối trị nước thời Hậu Lê còn có các luận văn, luận án có đền cập đến một vài giai đoạn hoặc một số
vị vua tiêu biểu của thời kỳ này Trong đó, phải kể đến luận án tiến sĩ triết học của
Nguyễn Hoài Văn với đề tài: “Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê
Thánh Tông đến Minh mệnh” bảo vệ năm 2001, tại trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân Văn, Hà Nội Tác giả đã dựng lại một bức tranh tổng thể về lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, đặc biệt tập trung trình bày hai thời kỳ phát triển điển hình của chế độ quân chủ Nho giáo Việt Nam: Lê Thánh Tông và Minh Mệnh Trong luận án này, tác giả đã khẳng định Lê Thánh Tông đề cao Nho giáo, đã có sự kết hợp giữa lễ và pháp trong đường lối cai trị: “Thể chế chính trị thời Lê Thánh Tông được xác lập với hệ thống chính trị tuyệt đối của hệ tư tưởng Nho giáo trong đời sống xã hội; ở sự tôn vinh giáo dục khoa cử Nho học, thông qua đó mà tuyển chọn và đào tạo đội ngũ quan lại các cấp, thực hiện chuyển giao quyền lực từ quý tộc sang quan liêu nho sĩ; ở sự tăng cường và hữu hiệu hóa quyền lực của bộ máy Nhà nước; ở hệ thống pháp luật được ban bố,… ở việc “nho giáo hóa” và “luật hóa” hầu hết các quan hệ xã hội” [125, tr.106] Tác giả cho rằng đường lối chung này vẫn nằm trong khuôn khổ “Lễ trị” chứ không phải pháp trị
Ngoài các công trình kể trên thì nghiên cứu về nhà Lê còn có các công trình
nghiên cứu về bộ “Quốc triều hình luật” Trong đó phải kể đến cuốn sách “Quốc
triều hình luật lịch sử hình thành, nội dung và giá trị” của Lê Thị Sơn (chủ biên),
xuất bản năm 2004 Ở công trình này các tác giả đã cố gắng lý giải, làm rõ thêm vấn
đề về sự hình thành nhà nước, cách thức cai trị, kinh tế - xã hội… Đặc biệt, trong
cuốn sách này có bài: “Tư tưởng đức trị và pháp trị trong Quốc triều hình luật” của
Trang 25Vũ Thị Nga Khi phân tích tư tưởng đức trị của Nho gia được thể hiện trong bộ luật này tác giả cho rằng: “Quốc triều hình luật đã thể hiện tư tưởng kính thiên, ái dân của Nho gia; quy định trách nhiệm cụ thể của từng quan lại đối với vua, với đồng liêu và với dân; thể chế hóa lễ trị để cai trị, giáo hóa dân chúng và trừng phạt các hành vi xâm hại lễ nghi; đề ra những biện pháp trừng phạt nặng để uấn nắn quan lại
và dân chúng tuân thủ pháp luật” [96, tr.79]
Bài viết “Mấy vấn đề về Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ XVI và XVII” của
Nguyễn Đức Sự trên Tạp chí Triết học, số 9, năm 2006 Tác giả cho rằng, thế kỷ XVI và XVII là thời kỳ đầy biến động của xã hội Việt Nam Chiến tranh xảy ra liên miên giữa các tập đoàn phong kiến, từ cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc cho đến Trịnh - Nguyễn, làm đảo lộn đời sống xã hội Nho giáo, mặc dù trước đó có ảnh hưởng rất lớn ở Việt Nam nhưng lúc này, đã bộc lộ những hạn chế, dần mất vị trí của mình, tạo điều kiện cho sự phát triển Phật giáo, Đạo giáo Tuy nhiên, suốt từ thời Mạc cho đến Lê Trung Hưng, Phật giáo, Đạo giáo hay bất cứ một tôn giáo nào khác cũng vẫn không thay thế được Nho giáo ở cương vị của một đạo trị nước, một học thuyết về quản lý xã hội Điều đó lý giải cho sự tồn tại của Nho giáo trong xã hội phong kiến
ở nước ta thời Hậu Lê
Nhân kỷ niệm 15 năm thành lập Viện Chính trị học (12 - 1992 đến 12 -
2007), nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn sách “Sự phát triển của tư
tưởng chính trị từ thế kỷ X đến thế kỷ XV” của tập thể tác giả Viện Chính trị học do
Tiến sĩ Nguyễn Hoài Văn làm chủ biên Cuốn sách được biên soạn trên cơ sở tổng quan và xuất bản dưới dạng kỷ yếu của đề tài khoa học cấp Bộ cùng tên, kết cấu thành 3 chương Đặc biệt, trong chương ba: Sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng chính trị Việt Nam thời Lê Sơ (thế kỷ XV), các tác giả khẳng định rằng, “dưới thời
Lê Sơ, tư tưởng chính trị Việt Nam đã đạt được bước phát triển mới, cao hơn thời
kỳ trước” [126, tr.101] Khi trình bày tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông, tác giả nhận xét: “Ông được xem là nhà tư tưởng chính trị triệt để theo Nho giáo Tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông là sự kết hợp giữa đức trị, lễ trị của Nho giáo với tư tưởng pháp trị của phái Pháp gia trên lập trường yêu nước và một tinh thần dân tộc sâu sắc” [126, tr.111]
Trang 26Luận án tiến sĩ triết học “Tư tưởng về đường lối trị nước thời Lê Sơ và ý
nghĩa hiện thời của nó” của tác giả Ngô Văn Hưởng, bảo vệ năm 2014, tại Hà Nội
Trong công trình này tác giả cũng khẳng định đường lối trị nước thời Lê Sơ là kết hợp giữa đức trị và pháp trị, trong đó đức là chủ, pháp là bổ Nội dung đức trị thời
kỳ này đã được thể chế hóa bằng pháp luật Luận án khẳng định triều đại Lê Sơ là triều đại đầu tiên trong lịch sử Việt Nam độc tôn Nho giáo Tuy nhiên, do phạm vi của luận án chỉ tập trung làm rõ đường lối trị nước ở triều đại Lê Sơ nên tác giả chưa làm rõ cầu nối giữa Nho và Pháp để hình thành nên tổ hợp đức trị và pháp trị
là “Lễ” Bởi vậy, vai trò, vị trí của “Lễ trị” ở đây lại chưa được phân tích một cách thấu đáo Do đó, theo chúng tôi, cần tham khảo thêm tư tưởng của Tuân Tử, người khẳng định trị nước ắt phải kết hợp giữa Lễ và Pháp, tức là “Lễ pháp kiêm trị”
Trên đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung luận án Bên cạnh đó còn có một số bài viết, sách tham khảo liên quan một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài luận án, nhưng do khuôn khổ của luận án chúng tôi không
có điều kiện đề cập nhiều hơn
Tiểu kết chương 1
Qua các công trình trên cho thấy, tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và xoay quanh Tuy nhiên, do phục vụ cho các mục đích nghiên cứu cụ thể nên tư tưởng “Lễ trị” mới chỉ được nghiên cứu lồng ghép với những nội dung khác mà chưa được đặt thành vấn đề mang tính độc lập
Các công trình nghiên cứu trên cũng đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của phạm trù “Lễ”, đồng thời chỉ ra những tác dụng của nó trong đời sống xã hội Tuy nhiên, các công trình đó chủ yếu khai thác nội hàm của “Lễ” ở lĩnh vực đạo đức,
mà chưa đi sâu phân tích “Lễ” trên lĩnh vực chính trị để làm rõ “Lễ” vừa là mục đích, vừa là phương pháp trong đường lối trị nước của các triều đại phong kiến
Một vấn đề khác đáng lưu ý là việc khai thác, kế thừa những giá trị và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của “Lễ” cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Mặc dù vậy, việc nghiên cứu tư tưởng “Lễ trị” và ảnh hưởng của nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể nào đó, chẳng hạn điển hình dưới triều đại Hậu Lê để từ đó
Trang 27rút ra các bài học lịch sử phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay…thì chưa một công trình nào đề cập một cách có hệ thống và chuyên sâu Tuy nhiên, những công trình của các nhà khoa học đi trước là kết quả của sự nghiên cứu công phu, nghiêm túc và rất đáng trân trọng Nó là nguồn tài liệu cung cấp cho chúng tôi những gợi ý bổ ích, hoặc tạo đà để chúng tôi đi sâu hơn vào lĩnh vực tìm tòi những khía cạnh còn bỏ ngỏ, nhờ đó rút ngắn được “chặng đường” khó khăn trong việc giải quyết các nhiệm vụ của luận án
Kế thừa thành quả trong những công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu làm rõ những vấn đề sau:
Thứ nhất, Luận án nghiên cứu tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo, do đó việc
làm rõ cơ sở hình thành và những nội dung cơ bản của “Lễ trị” là hết sức cần thiết
Thứ hai, Luận án làm rõ ảnh hưởng của tư tưởng “Lễ trị” đến đường lối trị
nước thời Hậu Lê, chủ yếu ở các khía cạnh tu dưỡng đạo đức của người cầm quyền, trong lĩnh vực giáo hóa và thi hành chính sách an dân
Thứ ba, Luận án làm rõ những giá trị và hạn chế của tư tưởng “Lễ trị” trong
đường lối trị nước thời Hậu Lê, từ đó rút ra bài học lịch sử cho sự nghiệp quản lý xã hội ở nước ta hiện nay
Trang 28Chương 2
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG LỄ TRỊ CỦA NHO
GIÁO TRUNG QUỐC
“Lễ trị” là một trong những nội dung cơ bản nhất trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo Trong tư tưởng của Khổng Tử (551 - 479 Tr.CN) - người sáng lập trường phái Nho gia, “Lễ” vừa là phương tiện, vừa là mục đích của đường lối Đức trị Trong tư tưởng Nhân chính của Mạnh Tử (372 - 289 Tr.CN) - người được mệnh danh
là á thánh của Nho gia, “Lễ” đóng vai trò thiết định các mối quan hệ kinh tế, chính trị
và đạo đức, nhờ có nó mà dân biết kính phục nhà cầm quyền từ đáy lòng, đồng thời đảm bảo cho đường lối chính trị nhân nghĩa được khẳng định Trong tư tưởng của Tuân
Tử (313 - 238 Tr.CN), “Lễ” đóng vai trò chủ đạo trong đường lối trị nước của nhà cầm quyền, tác dụng của nó ở việc kiềm chế tính tranh chấp cái lợi trong đời sống của con người, giúp con người nhận thức được tính đương nhiên của đẳng cấp xã hội cũng như
vị thế của mình trong hệ thống đẳng cấp đó nhằm ổn định trật tự xã hội Để thực hiện được điều đó, “Lễ” cần có sự kết hợp với pháp luật, hình thành nên tư tưởng trị nước
“Lễ pháp kiêm trị” Rõ ràng, “Lễ” không chỉ là yếu tố không thể tách rời của tư tưởng Đức trị, mà còn được xác định như một chủ trương, đường lối trị nước mang tính độc lập tương đối với Đức trị, gọi là “Lễ trị”
2.1 Những điều kiện và tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo
2.1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội
Nho giáo ra đời khoảng thế kỷ VI (TCN) Đây là thời kỳ xã hội Trung Quốc diễn ra những biến đổi sâu sắc trên tất cả các phương diện, các lĩnh vực của đời sống xã hội Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, quá trình phát sinh và phát triển của tư tưởng triết học Nho giáo gắn liền với sự biến đổi của điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội lúc bấy giờ
Về kinh tế: Thời kỳ Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc chuyển từ thời đại
đồ đồng sang thời đại đồ sắt Những phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại sự phát triển mạnh mẽ cho nền sản xuất nông nghiệp Hệ thống thủy lợi phát triển, nhờ đó diện tích đất đai canh tác được mở rộng Kỹ thuật trồng trọt được cải tiến cũng làm cho năng suất lao động trong lĩnh vực này không
Trang 29ngừng tăng lên Vì vậy, việc chia lại ruộng đất (do căn cứ vào đất tốt hay xấu) trở nên không cần thiết Công xã đã giao hẳn đất cho từng hộ gia đình cày cấy trong thời hạn lâu dài Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã, chế độ tư hữu về ruộng đất ra đời
Các ngành thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng phát triển hơn trước Trong xã hội hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực, nhiều người đã kết giao với chư hầu và công khanh đại phu, gây nhiều ảnh hưởng đối với chính trị đương thời Từ sự phát triển của thương nghiệp cũng làm cho cơ cấu giai cấp của xã hội Trung Quốc thời kỳ này có nhiều biến đổi Trong xã hội dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ
Về chính trị - xã hội: Sự phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh tế đã làm cho
tình hình chính trị - xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ có nhiều chuyển biến hết sức căn bản và lớn lao Chế độ nô lệ đang dần dần tan rã và chế độ phong kiến đang hình thành Nếu như trước đây, vào đầu nhà Chu “Đất đai, thần dân dưới gầm trời này không đâu không phải là của vua” [135, tr.25], thì đến lúc này, quyền sở hữu tối cao về ruộng đất và dân đó đã bị giai cấp địa chủ mới lên chủ tâm chiếm dụng Tình trạng mất đất, mất dân (sự suy yếu về kinh tế) đã làm cho giai cấp quý tộc nhà Chu suy yếu về địa vị chính trị Ngôi thiên tử của nhà Chu chỉ còn là hình thức Trật tự
lễ nghĩa của nhà Chu không còn được tôn trọng như trước Các nước chư hầu của nhà Chu không chịu phục tùng mệnh lệnh của thiên tử, không chịu cống nạp, thậm chí còn dùng vũ lực thôn tính lẫn nhau, gây ra chiến tranh nhằm giành quyền bá chủ thiên hạ Tình trạng đó càng làm cho xã hội thêm rối loạn, trật tự, kỷ cương từ trong gia đình đến ngoài xã hội bị băng hoại, lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi Đó là sự “tiếm ngôi việt vị, chư hầu chiếm dụng lễ nghĩa của Thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ của chư hầu <…>, cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra” [16, tr.35] Những nghi lễ chặt chẽ tôn nghiêm trước đây đã từng góp phần bảo vệ chế độ tông pháp nhà Chu, đến lúc này không còn được coi trọng Việc “tang viếng, tế lễ, chúc mừng” đã trở thành một nghi thức ngoại giao chứ không còn là lễ nghĩa và trật tự xã hội nữa
Thực trạng xã hội đầy biến động đó đã đặt ra một vấn đề lý luận và thực tiễn cần giải quyết là: “Cách tổ chức và quản lý xã hội theo mô hình nhà Chu không còn
Trang 30thích hợp nữa Vậy cần phải làm thế nào để thiết lập lại trật tự, kỷ cương xã hội, và điều quan trọng hơn là đưa xã hội vào thế ổn định để phát triển” [8, tr.13-14] Nhu cầu của thời đại đã tạo thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy các bậc tài trí quan tâm lý giải và tìm các phương pháp giải quyết vấn đề của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ Tình trạng đó đã làm xuất hiện hàng loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái triết học lớn Mặc dù thành phần xuất thân của tầng lớp này rất đa dạng, phức tạp, nhưng nhìn chung họ đều đại diện cho lợi ích của các tập đoàn xã hội khác nhau, vừa kế thừa, vừa đấu tranh với nhau hết sức quyết liệt, tạo ra không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại Lịch sử gọi đó là thời kỳ:
“Bách gia tranh minh” (trăm nhà tranh luận), “Bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy) Sự ra đời của Nho giáo trong bối cảnh xã hội như vậy nên Khổng Tử, người sáng lập Nho gia đã chủ trương dùng đạo đức để cảm hóa con người và thực hiện mục tiêu cấp bách đương thời là thiết lập trật tự, kỷ cương xã hội Đông Chu đang loạn lạc Trong quá trình tìm tòi, suy ngẫm và xây dựng hệ thống tư tưởng chính trị
- đạo đức, ông luôn hướng về lịch sử để vận dụng kinh nghiệm của các vua thánh đời trước (pháp tiên vương) và xác nhận rằng, Lễ thời kỳ đầu Tây Chu là tốt đẹp Vì vậy, ông tuyên bố không chút ngần ngại rằng: “Ngô học Chu lễ, kim dụng chi, Ngô tòng Chu” [44, tr.161]
2.1.2 Tiền đề tư tưởng
Sự ra đời tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo không chỉ nảy sinh từ điều kiện thực tiễn mà còn bắt nguồn từ đời sống tư tưởng (tôn giáo, chính trị, đạo đức) của Trung Quốc từ trước đến bấy giờ, đặc biệt dưới thời nhà Chu
Về tôn giáo, nhà Chu đề cao tư tưởng “kính trời”, “thờ thượng đế”, “hợp
mệnh trời”, “trời và người hợp nhất” Nhà Chu cho rằng, Trời (Thượng Đế) là lực lượng có nhân cách, có ý chí và có uy quyền tuyệt đối Chính vì vậy, nhà Chu khẳng định, vì nhà Ân không biết “Mệnh trời” để ra sức làm cho “hợp Mệnh trời”,
do vậy Thượng đế đã trừng phạt và để cho nhà Chu thay thế nhà Ân cai trị dân Điều đó cho thấy tư tưởng tôn giáo đã bị chính trị hóa, phản ánh tư tưởng của giai tầng thống trị lúc bấy giờ, phản ánh nền chuyên chính quý tộc thị tộc
Về chính trị, tư tưởng chính trị chủ yếu của giai cấp quý tộc nhà Chu là
“Nhận dân”, “Hưởng dân” và “Trị dân” Nhà Chu đã khéo léo che phủ tư tưởng
Trang 31chính trị của họ bằng một lớp sơn mang đam mầu sắc tôn giáo Mọi chính sách của nhà Chu đều được giải thích là “vâng Mệnh trời” Họ khẳng định rằng, vì nhà Chu biết làm theo “Mệnh trời” mà được “Nhận dân” từ tay nhà Ân để “Hưởng dân” và
“Trị dân” suốt đời; nếu kẻ nào chống lại “mệnh trời”, thì sẽ bị nhà Chu với tư cách chủ thể vâng mệnh trời trừng phạt, chém giết Vua nhà Chu là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất và mọi người trong xã hội đều là thần dân của nhà vua; vua là Thiên tử (con trời) được quyền thay trời thống trị thiên hạ, cai trị dân,v.v
Về đạo đức, tư tưởng đạo đức nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu làm nòng cốt
Từ quan niệm chính trị - tôn giáo về “trời và người hợp nhất”, nhà Chu đi đến chỗ khẳng định rằng, vì các bậc tiên vương nhà Chu có đức mà được sánh cùng với thượng đế, được thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân…, cho nên các vua đời sau phải biết kính cái Đức đó, phải biết bồi dưỡng nó để cho con cháu được hưởng nước, hưởng dân lâu dài Hiếu là thờ phụng tổ tiên, phải nhớ công lao của tổ tiên mà giữ gìn phép tắc của tổ tiên để lại Đây là một quan niệm duy tâm thần bí được luận chứng từ mục đích chính trị nhằm củng cố địa vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu
Các nhà Nho đã tiếp nhận vào học thuyết chính trị - đạo đức của mình những
tư tưởng tôn giáo, chính trị, đạo đức nói trên của nhà Chu, về thực chất cũng chính
là sự tiếp nhận một phương thức chính trị mà giai cấp thống trị của các triều đại trước đây đã thực hiện là sử dụng thần quyền để củng cố và thực hiện vương quyền (tất nhiên không chấp nhận sự lấn át của thần quyền đối với vương quyền) trong việc cai trị
Tuy nhiên, đến thời Khổng Tử, cùng với sự suy vong của nhà Chu, tư tưởng
“kính Trời” xưa nay vốn có sức mạnh chi phối cao nhất bắt đầu có sự “lung lay” Sự tín ngưỡng của mọi người đối với “Trời” đã bắt đầu có sự hoài nghi và thất vọng, thậm chí oán trách Điều đó được phản ánh rất rõ nét trong Kinh Thi Nho giáo với
tư cách là một học thuyết triết học xã hội không thể không phản ánh đời sống hiện thực của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ Do vậy, để khắc phục tình trạng rối loạn xã hội, đưa xã hội vào thế ổn định và phát triển, Nho giáo một mặt, thừa nhận và sử dụng sức mạnh của thần quyền; mặt khác, sớm tìm ra một công cụ một phương pháp cai trị mới để thay thế và bổ sung Vì muốn giữ trật tự nội bộ giai cấp thống trị, họ mới hệ thống hóa nên cái gọi là “Lễ”
Trang 32Như vậy, một trong những nguyên nhân cho sự ra đời tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo phải kể đến sự suy yếu của thế lực thần quyền trong lòng nhân dân Từ những buổi đầu các quốc gia, dân tộc được hình thành và lớn mạnh, giai cấp thống trị đã ý thức sâu sắc về vai trò của nhân dân trong việc củng cố thế lực, vương quyền của họ Trên vâng mệnh trời, dưới hợp ý dân, vua được xem là Thiên tử (con trời) thay trời hành đạo Nhờ phổ biến được quyền năng của thế lực vô hình, nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc đã sử dụng thần quyền vào việc cai trị cũng như đi chinh phạt các nước khác Chẳng hạn như, trong thời đại nhà Chu, thần quyền không chỉ được vận dụng để chống lại nhà Ân, nó còn được phát huy tác dụng trong việc cai trị, đưa triều đại nhà Chu tới sự phát triển bền vững, lâu dài Tuy nhiên, như một tất yếu trong lịch sử nhận thức nhân loại, nhà Chu đã không thể ngăn chặn được cơn suy yếu của triều đại mình và tạo cơ hội để nhân dân bừng tỉnh về những giá trị mang tính ngộ nhận về một thế lực không tồn tại “Trời”, “Thượng đế”,
“Thiên tử” bấy giờ chỉ còn là những hư danh Và chính thức bước vào cuối thời Xuân Thu, nhà Chu đã thực sự trở nên lúng túng, bế tắc trong mọi “nỗ lực” củng cố niềm tin của nhân dân Đây chính là thời điểm tất yếu để cho sự ra đời một công cụ, một phương pháp cai trị mới
Nho giáo ra đời với những quy tắc đạo đức cụ thể, chặt chẽ với từng đối tượng và trong từng mối quan hệ: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, thầy - trò, anh -
em, bằng hữu Điều đó cho thấy, Nho giáo đặc biệt đề cao đạo đức, coi đạo đức là công cụ, là phương thức cai trị, quản lý xã hội có hiệu quả nhất Học thuyết này không chỉ chủ trương dùng đạo đức để cảm hóa con người mà còn xác định cụ thể hơn cái phương tiện được cho là hữu hiệu nhất trong đường lối trị nước là “Lễ” Nói như vậy không có nghĩa Nho giáo là học thuyết đầu tiên chủ trương sử dụng lễ trong việc trị nước, trước đó Chu Công đã chế tác ra “Lễ” nhằm mục đích cai trị Vấn đề ở chỗ học thuyết này nâng “Lễ” lên tầm cỡ nền tảng tư tưởng cho đường lối trị nước Đức trị, vì thế ngoài những khái niệm “Nhân trị”, “Nhân chính”, chúng ta còn gặp khái niệm “Lễ trị”
Sự tồn tại của Nho giáo hơn 2000 năm qua chứng tỏ những giá trị đạo đức
mà học thuyết này đề ra đã hòa hợp với lòng dân và thể chế cai trị Nho giáo biến đạo đức của học thuyết mình trở thành công cụ đắc lực, đưa nhân dân vào trật tự,
Trang 33biến “loạn” thành “trị” Qua thời gian, học thuyết đạo đức của Nho giáo ngày càng được bổ sung và hoàn thiện đề phù hợp với yêu cầu mỗi thời đại Tính phù hợp và chặt chẽ đó đã khiến Nho giáo trở thành học thuyết chính trị - đạo đức bền vững bậc nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến
2.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng “Lễ trị” của Nho giáo
2.2.1 Khái niệm “Lễ” và “Lễ trị” của Nho giáo
Trước Khổng Tử, trong sách cổ Trung Hoa đã nói khá nhiều đến “Lễ” Ban đầu “Lễ” chưa phải là một phạm trù đạo đức mà chỉ có ý nghĩa là cúng tế thần linh Đến thời Tây Chu, Chu Công đã chế tác ra “Lễ” với rất nhiều nghi thức, nhằm mục đích xác lập các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự đẳng cấp của xã hội nhà Chu Vì thế nội dung của “Lễ” đã chuyển từ tế lễ (tôn giáo) sang chính trị - đạo đức, và trở thành công cụ thống trị của giai cấp quý tộc nhà Chu Do đó, “Lễ đó đã được lan rộng tới tận các vua chư hầu, quan đại phu, quan sĩ, cùng là thường dân” [44, tr.119] Sau này cũng vì mục đích bảo vệ chế độ “tông pháp” nhà Chu và để ổn định trật tự xã hội mà Khổng Tử đã sửa sang và khôi phục lại lễ nhà Chu
Trong Tứ Thư, Ngũ Kinh khái niệm “Lễ” được bàn đến rất nhiều Tuy nhiên,
“Lễ” không chỉ có một ý nghĩa duy nhất Các nhà nho đề cập đến “lễ” với nhiều nội dung hết sức phong phú Đồng thời trong quá trình diễn tiến của Nho giáo, khái niệm “Lễ” đã có sự biến đổi Song, tựu chung lại các nhà nho đề cập đến “Lễ” với
ba nội dung cơ bản như sau: Thứ nhất, “Lễ” là lễ nghi tế tự (tức tế lễ); Thứ hai,
“Lễ” là những nghi thức, quy tắc ứng xử mang tính đạo đức; Thứ ba, “Lễ” là công
cụ để trị nước an dân, là biện pháp để duy trì trật tự xã hội Mặc dù đề cập đến “Lễ”
ở khía cạnh nào thì mục đích chính của các nhà nho cũng là dùng “lễ” để duy trì một xã hội có trật tự trên dưới phân minh Nhấn mạnh hiệu dụng của “Lễ” trên lĩnh vực chính trị Khổng tử đã nói rằng: “tề chi dĩ lễ” (muốn xã hội có trật tự thì phải giữ lễ) [44, tr.215], hoặc “vi quốc dĩ lễ” (làm việc nước phải giữ lễ) [44, tr.467]
Khi khảo sát Tứ Thư, Ngũ Kinh chúng tôi thấy “Lễ” và sự chuyển hóa thành
thành “Lễ trị” thể hiện dưới ba hình thức cơ bản như sau:
Thứ nhất, Lễ nghi tế tự trở thành “Lễ trị” trong trường hợp tế trời do vua
làm chủ tế
Trang 34Trong lịch sử văn hóa phương Đông, nghi thức tế Trời, tế thần, thờ cúng tổ tiên đã có từ lâu đời, nó phản ánh tín ngưỡng và lòng biết ơn của con người đối với các thần linh và tổ tiên Nghi thức đó bao gồm những quy định về nghi thức, trật tự,
đồ tế lễ, cách thức tế lễ (hành lễ), thậm chí cả về đối tượng được lựa chọn để làm chủ tế và bồi tế…Tuy nhiên, trong tư tưởng triết học Nho giáo tế lễ còn thể hiện một số nội dung cơ bản như sau:
Một là, tế lễ không chỉ là hình thức bên ngoài, mà phải xuất phát từ sự thành
kính khi tiến hành việc thờ trời, thần linh và tổ tiên
Các nhà nho đều cho rằng, kính thiên phải thực hiện việc tế lễ Lễ bái là việc mang ý nghĩa tôn giáo với những nghi thức có tính hình thức như tế lễ phải có lễ vật, hương hoa, khấn vái Tuy nhiên, cái mà Khổng Tử theo đuổi ở đây không phải
là hình thức biểu hiện của “Lễ”, mà chính là cái chứa đựng đằng sau những nghi thức ấy: “Nói về lễ đâu chỉ có ngọc và lụa Nói về nhạc đâu chỉ có chuông và trống” (Lễ vân, lễ vân, ngọc, bạch vân hồ tai? Nhạc vân, nhạc vân, chung cổ vân hồ tai?) [44, tr.625]
Tế lễ không chỉ đơn giản là tế cáo hay cầu nguyện để được ban phúc, mà còn được xem một loại nghi lễ quan trọng nhất, thậm chí liên quan đến việc trị nước, cho nên điều tiên quyết là phải có thái độ kính cẩn, chân thành khi tế lễ Khổng Tử muốn thông qua tế lễ để thể hiện tấm lòng, tình cảm của người đang sống, của thế
hệ sau đối với những người đã khuất như ông bà, cha mẹ, tổ tiên, quỷ thần… Vì vậy, “Tế tổ tiên coi như tổ tiên đang có mặt, tế thần coi như thần đang có mặt” (Tế như tại, tế thần như thần tại) [44, tr.249] Thái độ đó là thật sự xuất phát từ lòng thành chứ không phải ở hình thức bên ngoài Bởi lẽ, gốc của lễ cốt ở “lòng thành”, cũng như việc ma chay “cốt ở lòng thương xót”: “Lễ cốt ở lòng thành, nếu lại xa xỉ, chẳng thà kiệm ước Việc tang cốt ở lòng thương xót, nếu lại sửa sang quá đáng, chẳng thà giữ nét mặt buồn rầu lại hay hơn” (Lễ, dữ kỳ xa dã, ninh kiệm Tang, dữ
kỳ dị dã, ninh thích) [44, tr.239-240]
Tiếp nối tư tưởng của Khổng Tử trong việc tế lễ, Tuân Tử cũng coi tế tự là một việc hợp lẽ, không nên thiếu Việc tế lễ mà Tuân Tử đề cập ở đây là tế trời đất, tổ tiên, vua và thầy Theo ông: “Tế tự là tỏ cái lòng thương nhớ, hâm mộ, cái lòng trung tín kính ái rất mực, là nghi thức giãi bày lòng trung thành cung kính một cách trang
Trang 35trọng nhất Không phải bậc thánh nhân thì không hiểu được ý nghĩa đó” (Tế giả, chí ý
tư mộ chi tình dã, trung tín, ái kính chi chí dã Cẩu phi thánh nhân, mặc chi năng trị dã) [15, tr.30] Về điều này Tăng Tử cũng cho rằng nhà cầm quyền nếu noi gương hiếu kính với cha mẹ, kính trọng tổ tiên thì người dân sẽ chịu cảm hóa, trở nên thuần hậu: “Thận trọng trong tang tế cha mẹ và tế tự tổ tiên thì đức của dân sẽ thuần hậu” (Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu) [15, tr.30] Nho giáo coi việc tế lễ như một hành vi thiêng liêng, nếu trong tế lễ có thái độ nghiêm túc, kính cẩn thì đó là một hành vi của con người đức độ, nhân nghĩa, của bậc thánh nhân Nếu trong tế lễ thái
độ không nghiêm túc là con người không có nhân đức coi như bỏ đi không xét đến làm gì Khổng Tử nói: “Ở địa vị trên mà chẳng có lòng khoan dung, hành lễ chẳng kính, có tang cha mẹ chẳng lòng thương xót, những hạng người như thế ta biết lấy gì
để xem xét” (Cư thượng bất khoan, vi lễ bất kính, lâm tang bất ai, ngô hà di quan chi tại?) [44, tr.265] Chính vì ý nghĩa đó mà Nho giáo quan tâm đến thái độ của mỗi người trong thực hành tế lễ
Hai là, tế lễ không chỉ là một hoạt động tôn giáo mà còn là một hành vi
chính trị quan trọng, một loại lễ quan trọng nhất trong việc trị nước Vì vậy, tế lễ phải phù hợp với danh phận, địa vị, phải đúng nghi thức…., thể hiện sự phân biệt đẳng cấp
Tế lễ trong tư tưởng của Nho giáo không chỉ là một hành vi tôn giáo mà còn
là một hoạt động chính trị quan trọng Bản thân Khổng Tử dùng “Lễ” trị nước trước tiên cũng xuất phát từ tế lễ Bởi vì “Hiểu rõ lễ giao, lễ xã, biết được ý nghĩa của các
lễ Đế và Thường, thì việc trị nước dễ dàng như coi vào lòng bàn tay vậy” [44, tr.123] Vì vậy, Khổng Tử còn chú trọng tới cả nghi thức, nghĩa vụ, bổn phận của mỗi con người khi tế lễ Điều đó có nghĩa là, khi tế lễ phải đúng danh phận của mình (tức phải chính danh) Danh vị khác nhau thì tế lễ cũng phải khác nhau Nho giáo quy định cả về nghi thức tế lễ, đồ tế lễ, trật tự, cách thức tế lễ, đối tượng làm chủ tế, bồi tế cũng phải theo danh phận Phải làm đúng theo những quy định được đặt ra cho từng đối tượng trong xã hội Nếu ai vi phạm sẽ là người thất lễ, tiếm lễ, tiếm quyền Khổng Tử từng nói đến Quý Thị là người dùng vũ “Bát dật”, tức vũ của triều đình, trong khi đó vị thế của ông ta chỉ được phép dùng lễ “Tứ dật”, tương xứng với chức quan đại phu nước Lỗ Khổng Tử coi hành vi đó của Quý Thị là trái,
Trang 36là tiếm lễ, làm càn Ông cho rằng Quý Thị làm được việc đó thì những việc khác, kể
cả những việc trong triều đình ông ta cũng có thể làm càn được [44, tr.237] Khổng
Tử còn lấy một vài ví dụ khác để dẫn ra hành động tiếm lễ, phạm lễ của Quý Thị mà chúng tôi thấy cần phải đề cập thêm ở đây Chẳng hạn: núi Thái Sơn cao nhất nước
Lỗ, việc tế thần núi này là công việc của vua nước Lỗ Nhưng Quý thị chỉ là một quan đại phu nước Lỗ vậy mà ông ta dám tế thần núi Thái Sơn [44, tr.242] Rõ ràng, trong Nho giáo mối quan hệ giữa con người với trời, đất, núi, sông, với quỷ thần cũng có sự quy định rành mạch Họ không cho phép ai cũng được cúng tế trời, đất, quỷ thần như nhau Thực ra, sự quy định quyền hạn trong việc tế lễ nó chỉ là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của bản chất bên trong, đó là chế độ phân biệt đẳng cấp trong xã hội phong kiến đương thời vốn được thể hiện trên mọi mặt của đời sống con người Nó không chỉ biểu hiện về sự thích hợp với địa vị xã hội của con người
đó, mà nó còn liên quan đến một loạt qui định trong mọi sinh hoạt của cuộc sống đời thường, từ trang phục, phương tiện đi lại, chế độ kẻ hầu người hạ…đến vô vàn hoạt động khác của con người Nói cách khác, sự phân định quyền và nghĩa vụ của từng đối tượng cụ thể trong lĩnh vực tế lễ, theo chúng tôi, là sự phản ánh mục đích của giai cấp thống trị nhằm duy trì xã hội có đẳng cấp phân biệt Ở khía cạnh này tế lễ có nội dung chính trị, đó cũng chính là sự chuyển hóa từ “Lễ” thành “Lễ trị”
Ngoài nội dung trên, tế lễ còn có mục đích xây dựng cho con người một tình cảm tốt đẹp, một sự kính trọng biết ơn những người quá cố, những thần linh đã có nhiều ơn nghĩa với mình Đây là thể hiện một nhân sinh quan giàu tính nhân bản của Khổng Tử Chẳng hạn, trong những điều quy định của việc tế lễ, tang ma, còn
có cả thời gian để tang và cử tang Nho giáo quy định khi cha mẹ mất, con phải chịu tang ba năm Trong ba năm ấy, người chịu tang không được tham gia bất cứ cuộc vui nào, không nghe nhạc, không uống rượu, không ăn ngon, mặc đẹp Dù là cương vị nào cũng phải chịu quy định như vậy, kể cả việc quan cũng phải về chịu tang cha mẹ Đây là ba năm sầu muộn nghiêm khắc với bản thân, rộng lượng với kẻ dưới, cung kính với người trên, làm như vậy là để tỏ lòng thành kính với cha mẹ, người đã sinh thành mình: “Phép để tang một năm áp dụng (từ thường dân) cho đến hàng đại phu Để tang ba năm áp dụng (từ chư hầu) cho tới bậc thiên tử Để tang cha mẹ thì như nhau (tức là ba năm) không kể sang, hèn” [44, tr.119]
Trang 37Tuy nhiên, trên thực tế và cũng là tâm thế của Khổng Tử, chúng ta thấy ông không chú ý nhiều đến “Lễ” với ý nghĩa là tế thần thánh, mặc dù tương truyền từ nhỏ ông rất ham mê tế lễ Phương diện mà Khổng Tử quan tâm và đề cập nhiều trong học thuyết của mình là con người và các quan hệ xã hội của nó chứ không phải là những vấn đề mang tính dị đoan (loạn, lực, thần) Đối với quỷ thần, Khổng
Tử yêu cầu phải “biết sợ mà tránh xa”, đồng thời nên quan tâm đến việc người nhiều hơn
Thứ hai, “Lễ” là chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử của con người trong xã hội, trở thành “Lễ trị” trong thực hiện Chính danh
“Lễ” là khái niệm đạo đức cơ bản của con người phong kiến Trong “Luận Ngữ” không phải ngẫu nhiên mà nó được xếp thứ hai, sau “Nhân” trong hệ thống các khái niệm đạo đức cơ bản: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, liêm… “Lễ” cũng là cơ
sở của Trung và Hiếu, có chỗ nó còn bao trùm toàn bộ các khái niệm đạo đức của Khổng Tử Nó được xem như là tiêu chuẩn để người ta tu thân, sửa mình, là cơ sở
để con người xác định cách thức ăn ở, đối xử, là chỗ dựa để người ta có thái độ và nghĩa vụ cần thiết trong các mối quan hệ xã hội Khổng Tử đã xem “lễ” như một chuẩn mực để con người tư duy và hành động cho phải đạo Mục đích cơ bản của Khổng Tử là xây dựng nên mẫu người cầm quyền có phẩm chất đạo đức nhân nghĩa, trong đó Nhân là bao trùm: “Người mà không có lòng nhân, dùng lễ sao được? Người mà không có lòng nhân, dùng nhạc sao được? (Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?) [44, tr.239] Và theo nguyên tắc, khi ở nhà cầm quyền hội tụ đầy đủ các yếu tố cơ bản của Nhân thì lúc đó mới có thể “lấy
lễ để sai khiến bề tôi”, nhờ đó mới được “bề tôi lấy trung mà thờ vua” Qua đó cho thấy, tư tưởng của Khổng Tử về mối quan hệ giữa nhà cầm quyền và bề tôi không phải là sự áp đặt một chiều từ trên xuống, mà mang tính hai chiều, hay nói cách khác, là mối quan hệ có điều kiện
Mỗi người có một vị trí xã hội khác nhau, có những quan hệ xã hội khác nhau, do đó ở họ phải có cách ứng xử theo những yêu cầu khác nhau Cho nên, trong xã hội mọi người phải hiểu và xử lễ theo đúng danh phận của mình Nho giáo
đã đặt ra những quy định, những quy tắc trong quan hệ ứng xử giữa người với người Bề tôi thì trung với vua, con cái phải có hiếu với cha mẹ, chồng vợ có nghĩa
Trang 38với nhau, anh em phải trên kính dưới nhường, bạn bè phải giữ được lòng tin Những quy tắc này là bất di bất dịch mà ai cũng phải tuân theo “Lễ” thể hiện thành thái độ,
ý thức nếp sống giữ gìn, tôn trọng lễ nghi, kỷ cương và trật tự ấy Khổng Tử yêu cầu, từ vua cho đến dân phải rèn luyện và thực hiện theo lễ
Trật tự, kỷ cương ấy được thiết lập từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội Trước tiên là trong gia đình, tế bào của xã hội, trong đó mối quan hệ được Nho giáo chú trọng nhất là mối quan hệ với cha mẹ Người ta thường hiểu, người có hiếu là người phải nuôi dưỡng phụng sự cha mẹ cho đúng với đạo làm con “Sinh sự chi lễ”, nhưng sự nuôi dưỡng, phụng sự đó phải có lòng thành kính mới thể hiện đúng
sự hiếu thảo của con cái với cha mẹ, nếu thiếu sự thành kính thì Khổng Tử và Mạnh
Tử đều coi sự nuôi dưỡng đó giống như nuôi khuyển mã Bởi vậy, Khổng Tử cho rằng, một khi đức hiếu với cha mẹ được thể hiện thì dẫu có phải ăn gạo xấu, uống nước lã, phận làm con vẫn phải phụng dưỡng cho cha mẹ được vui vẻ Trên cơ sở chuẩn mực đạo đức đó mà người ta phải điều chỉnh hành vi xử thế của mình sao cho phù hợp Khổng Tử thường nhắc nhở rằng: “Lúc cha mẹ còn sống, lấy lễ mà thờ kính; lúc cha mẹ qua đời, lấy lễ mà chôn cất, lấy lễ mà tế tự” [44, tr.218]
Mặt khác, theo quan niệm của Khổng Tử thì đạo nhân có gốc là hiếu và kính, mà hiếu kính lại được khởi đầu từ cha mẹ, do đó trong tư tưởng giáo dục đạo đức, Khổng Tử luôn lấy hiếu, đễ làm trọng Nho giáo coi xã hội như một gia đình thu nhỏ Gia đình có hoà thuận, êm ấm thì xã hội mới phát triển Những cộng đồng như họ, làng, nước, thế giới cho cả đến vũ trụ cũng được coi như một gia đình, tức là với các quan hệ cha con,
vợ chồng, anh em, có trên có dưới Cách cư xử đúng chức năng như vậy làm cho gia đình thuận hoà, êm ấm Theo Nho giáo, việc áp dụng nguyên tắc như vậy trong quan hệ
xã hội cũng như trong quan hệ giữa người cầm quyền với thần dân suy cho cùng, là xây dựng một xã hội có trật tự từ trong gia đình cho đến toàn thiên hạ Nguyên tắc đó chỉ có thể là lễ, khi mỗi cá nhân con người biết “khắc kỷ phục lễ”
“Lễ” của Nho giáo trở thành thước đo, đánh giá phẩm hạnh con người Sự giáo dục con người theo lễ đã tạo thành một dư luận xã hội rộng lớn, biết quý trọng người có lễ và khinh ghét người vô lễ “Lễ” không dừng lại ở lý thuyết, ở những lời giáo huấn mà đã đi vào lương tâm của con người Từ lương tâm đã dẫn đến hành động đến mức trong các triều đại phong kiến xưa, nhiều người thà chết chứ không bỏ
Trang 39lễ Nhờ tin và làm theo lễ mà các mô hình xã hội dựa trên nền tảng đạo đức Nho giáo giữ được sự yên ổn trong gia đình và trật tự ngoài xã hội dưới chế độ phong kiến
ti của cuộc sống chung trong cộng xã hội và cả lối cư xử hàng ngày Với nghĩa này
lễ là cơ sở của xã hội có tổ chức bảo đảm cho phân định trên dưới rõ ràng, không bị xáo trộn, đồng thời ngăn ngừa những hành vi và tình cảm cá nhân thái quá
“Lễ” được áp dụng đã xác lập nên những giá trị nhân văn cao đẹp: từ đạo trung với vua đến đạo hiếu với cha mẹ; từ phẩm chất của chính nhân quân tử đến chân đạo đức của người phụ nữ; từ lòng thành kính tổ tiên đến trách nhiệm tiếp nối đáp đền của con cháu Những kẻ không tuân theo những “tam cương”, “ngũ thường” đều được xếp vào hạng “bất đạo”, đi ngược với những luân thường đạo lý nhà Nho đều nhận lấy sự khinh bỉ, phán xét, dè bỉu của người đời “Lễ” được cụ thể thành những giáo huấn kỉ cương, nghi thức, phép tắc và ăn sâu vào gốc rễ tư tưởng nhân dân, trở thành vũ khí cai trị mang sức mạnh vô hình của nhà nước phong kiến “Lễ” đến thời Hán được Đổng Trọng Thư (179 - 104 TrCN) luận chứng như một đức trong Ngũ thường (năm chuẩn mực đạo đức bất di bất dịch của con người gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), theo đó Lễ góp phần vào việc thực hiện một cách hiệu quả trong mối quan hệ “tam cương” (vua - tôi; cha - con; chồng - vợ) Như vậy, “Lễ” là
cơ sở, là công cụ chính trị, một phương pháp trị nước, trị dân hiệu quả và khá bền vững của các triều đại phong kiến lấy Nho giáo làm bệ đỡ hệ tư tưởng Đó cũng là một trong những phương án chuyển dịch khái niệm từ “Lễ” sang “Lễ trị”
Có thể nói, Nho giáo coi “Lễ” là mực thước góp phần điều chỉnh cuộc sống hàng ngày của con người trong việc giao tiếp xã hội cũng như các việc liên quan đến hôn nhân, tang tế, v.v “Lễ” còn là phương tiện để Khổng Tử giáo dục cách thức ứng xử văn hóa của con người từ trong gia đình ra ngoài xã hội Những điều xảy ra trong cuộc sống thường nhật mà trái “Lễ” đều được Khổng Tử xác nhận đó
là trái với văn hóa, thuần phong mỹ tục Do đó Khổng Tử yêu cầu: “Những điều trái
lễ chớ nên để mắt nhìn tới, điều trái lễ chớ để vào tai, điều trái lễ chớ nói tới, điều trái lễ chớ động tới” (Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động) [44, tr.272] Qua đó cho thấy, để con người ứng xử có văn hóa trong xã hội, trước hết bản thân nó phải kiềm chế, khắc phục lòng tư dục nẩy sinh do sự tác động của
Trang 40ngoại cảnh Điều này gần gũi với tư tưởng quả dục của Phật giáo khi xem xét sự tác động của lục trần tới lục căn của con người
Thứ ba, “Lễ” biểu hiện dưới dạng hình luật, tức là biện pháp để duy trì trật
tự xã hội, hoàn toàn mang tính “Lễ trị”
Trong tác phẩm “Luận ngữ”, Khổng Tử có dùng khái niệm “Lễ” để chỉ luật
lệ của quốc gia, triều đại, chế độ chính trị của đất nước Ông cho rằng, mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi triều đại khác nhau đều có tập quán riêng, luật lệ riêng và truyền thống văn hóa riêng Thời gian trôi đi, các triều đại kế tiếp nhau trong sự phát triển, nếu kể chi tiết thì quả thật khó để biết hết được, nhưng việc chính trị, lễ nghi thì đời nào cũng thế, vẫn phải tuân theo những phép tắc như nhau Do đó, “Lễ” luôn được
bổ sung, phát triển và đời sau vẫn phải tiếp thu, kế thừa, học tập đời trước: “Nhà Ân theo lễ của nhà Hạ, có thêm bớt nhưng ta vẫn biết được Nhà Chu nương theo lễ của nhà Ân, có thêm bớt nhưng vẫn biết được Hoặc giả có triều đại nào kế tiếp nhà Chu, dẫu trăm đời sau cũng có thể biết được vậy” (Âu nhân ư Hạ lễ, sở tổn ích khả tri dã Chu nhân ư Ân lễ, sở tổn ích khả tri dã Kỳ hoặc kế Chu giả, tuy bách thế khả tri dã) [44, tr.234-235] Cũng mang hàm ý chỉ luật lệ quốc gia, truyền thống dân tộc
Ở một đoạn khác Khổng Tử còn nói rõ: “Ta muốn bàn về lễ của nhà Hạ, lễ nước Kỷ chẳng đủ khảo chứng Ta muốn học về lễ của nhà Ân, nước Tống còn đó (nhưng đã suy đồi) Ta muốn học về lễ của nhà Chu, lễ ấy hiện nay đang áp dụng ta theo nhà Chu vậy” (Ngô thuyết Hạ lễ, Kỷ bất túc trưng dã Ngô học Ân lễ, hữu Tống tồn yên Ngô học Chu lễ, kim dụng chi, ngô tùng Chu) [44, tr.161-162]
“Lễ” ở đây vừa là công cụ, vừa là phương pháp chính trị trong việc trị nước,
an dân Nếu Khổng Tử xem “Lễ” là biện pháp cơ bản để thực thi đường lối Đức trị, Mạnh Tử coi Lễ chỉ có “tác dụng làm cho nhân nghĩa thêm tốt đẹp” [15, tr.106] thì Tuân Tử đặc biệt đề cao “Lễ” ở khía cạnh trị nước Ông nhấn mạnh rằng: “Lễ là cái gốc làm cho nước mạnh” (Lễ giả, cường quốc chi bản dã) [15, tr.108] Đối với ông việc được thiên hạ hay mất xã tắc cũng bởi có theo lễ hay không, bởi lẽ, “sinh mệnh quốc gia là ở lễ” [15, tr.107] Cũng là người đề vai trò của “Lễ” trong việc trị nước như Khổng Tử, song Tuân Tử đã luận chứng và làm cho hiệu lực của “Lễ” trong quản lý xã hội vượt lên trên các phạm trù đạo đức khác Theo ông, “người mà không có lễ thì không thể sinh tồn, việc mà không có lễ thì không thể thành tựu,