Nhận được những đề tài làm bài tiểu luận môn “Nghi thức nhà nước” và sự hướng dẫn của Giảng viên hướng dẫn T.S. Đinh Thị hải Yến, tôi đã chọn đề tài: “Tìm hiểu về lịch sử các biểu tượng quốc gia của Việt Nam” Để hoàn thành bài tiểu luận này, tôi xin chân thành cảm ơn cô Đinh Thị Hải Yến đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội. Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện bài tiểu luận này một cách hoàng chỉnh nhất. Song trong quá trình tìm hiểu lịch sử cũng như thực tế, những hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm của bản thân nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong sự góp ý của giảng viên để bài tiểu luận được hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Nhận được những đề tài làm bài tiểu luận môn “Nghi thức nhà nước”và sự hướng dẫn của Giảng viên hướng dẫn T.S Đinh Thị hải Yến, tôi đãchọn đề tài: “Tìm hiểu về lịch sử các biểu tượng quốc gia của Việt Nam”
Để hoàn thành bài tiểu luận này, tôi xin chân thành cảm ơn cô Đinh ThịHải Yến đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiêncứu và rèn luyện ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện bài tiểu luận này một cáchhoàng chỉnh nhất Song trong quá trình tìm hiểu lịch sử cũng như thực tế,những hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm của bản thân nên không thể tránhkhỏi những thiếu sót Tôi rất mong sự góp ý của giảng viên để bài tiểu luậnđược hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10/12/2016
Sinh viên
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là bài tiểu luận do tôi tự tìm hiểu và nghiên cứu.Các số liệu, các mốc thời gian có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng nguyên tắcvà kết quả trình bày trong bài tiểu luận được thu thập là chính xác
Tất cả những nội dung trong bài tiểu luận đều được áp dụng thông quanhững kiến thức đã học trên trường, vón hiểu biết của bản thân và một số tàiliệu có liên quan đến đề tài
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CÁC BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA VIỆT NAM 3
1 Sự ra đời của Quốc kỳ 3
2 Sự ra đời của Quốc huy 3
3 Sự ra đời của Quốc ca 4
4 Sự ra đời của Quốc hiệu 4
CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM 7
2.1 Quốc kỳ 7
2.1.1 Hiệu kỳ 7
2.1.2 Cờ thời Pháp thuộc 7
2.1.3 Cờ quẻ ly 9
2.1.4 Cờ đỏ sao vàng 9
2.1.5 Cờ năm sọc 10
2.1.6 Quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa 11
2.1.7 Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam 11
2.1.8 Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng 11
2.2 Quốc hiệu 11
2.2.1 Văn Lang 12
2.2.2 Âu Lạc 12
2.2.3 Vạn Xuân 12
2.2.4 Đại Cồ Việt 12
2.2.5 Đại Việt 12
2.2.6 Đại Ngu 12
2.2.7 Việt Nam 13
2.2.8 Đại Nam 13
2.2.9 Đế quốc Việt Nam 13
2.2.10 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 14
Trang 42.2.11 Quốc gia Việt Nam 14
2.2.12 Việt Nam Cộng hòa 14
2.2.13 Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 14
2.3 Quốc ca 15
2.3.1 Bản Quốc ca đầu tiên 15
2.3.2 Giai đoạn 1945 - 1954 15
2.3.3 Giai đoạn 1954 - 1976 16
2.3.4 Việt Nam Cộng hòa 16
2.4 Quốc huy 18
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 19 3.1 Hàn Quốc 19
3.1.1 Quốc kỳ 19
3.1.2 Quốc phục 20
3.1.3 Quốc hoa 20
3.2 Nhật Bản 21
3.2.1 Quốc kỳ 21
3.2.2 Quốc phục 21
3.2.3 Quốc hoa 21
3.3 Mỹ 22
3.3.1 Quốc kỳ 22
3.3.2 Quốc phục 22
3.3.3 Quốc hoa 22
3.4 Nga 22
3.4.1 Quốc kỳ 22
3.4.2 Quốc phục 22
3.4.3 Quốc hoa 23
3.5 Pháp 23
3.5.1 Quốc kỳ 23
3.5.2 Quốc phục 23
3.5.3 Quốc hoa 23
3.6 Trung Quốc 24
3.6.1 Quốc kỳ 24
3.6.2 Quốc phục 24
Trang 53.6.3 Quốc hoa 25
3.7 Đức 26
3.7.1 Quốc kỳ 26
3.7.2 Quốc phục 27
3.7.3 Quốc hoa 28
3.8 Ấn Độ 28
3.8.1 Quốc kỳ 28
3.8.2 Quốc phục 28
3.8.3 Quốc hoa 28
3.9 Brazil 29
3.9.1 Quốc kỳ 29
3.9.2 Quốc hoa 29
3.10 Tây Ban Nha 29
3.10.1 Quốc kỳ 29
3.10.2 Quốc phục 29
3.10.3 Quốc hoa 30
KẾT LUẬN 31 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
Bản sắc văn hoá thông thường được phản chiếu ở các biểu tượng Tuycụ thể, nhưng biểu tượng lại mang tầm khái quát cao Khi nhìn vào biểutượng, ngay lập tức, người ta nhận ra diện mạo của quốc gia đó, địa phươngđó mà biểu tượng là hình ảnh đặc thù Như tượng Thần Tự Do (Mỹ), Đồng hồBig Ben (Anh), Tháp Ép Phen (Pháp), Chùa Một Cột (Việt Nam)
Nhưng biểu tượng văn hoá của một quốc gia không chỉ có một mô típkiến trúc tiêu biểu, dù đó là mô tip đỉnh cao, mà nó còn được thể hiện thôngqua một hệ thống những biểu tượng khác nhau của hình ảnh, âm nhạc, sắcmàu, của thiên nhiên, cây lá, các loài hoa, thậm chí của giống loài động vật,và của cả đồ chơi trẻ con độc đáo, riêng biệt không trộn lẫn Hệ thống nhữngbiểu tượng đó làm nên diện mạo kiêu hãnh, bản sắc và cốt cách văn hoá mộtquốc gia
Như Nhật Bản có biểu tượng núi Phú Sĩ nhưng cũng có biểu tượng hoaanh đào; nước Nga có cung điện Kremlin, nhưng cũng có đồ chơiMachutxca, Trung Quốc có Vạn lý Trường thành nhưng có cả chú gấu trúc;ngay nước Lào láng giềng, không chỉ có Tháp Thạt Luông, mà còn có cả biểutượng Voi
Đất nước Việt Nam với lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước cũngmang những biểu tượng đặc trưng, nó làm niềm tự hào của dân tộc Kế thừacác bản Hiến pháp trước đây và phù hợp với truyền thống dân tộc, Hiến phápnăm 2013 quy định về biểu tượng quốc gia như sau:
- Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật,chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng nămcánh
- Quốc huy nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nềnđỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửabánh xe răng và dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời củabài Tiến quân ca
- Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngàyTuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945
- Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thủ đô Hà Nội
Trang 7- Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt.
- Đơn vị tiền tệ quốc gia là Đồng Việt Nam
Ngoài những biểu tượng quốc gia đặc trưng của đất nước Việt Nam thìbiểu tượng văn hóa của Việt Nam cũng quan trọng Xung quanh vấn đề chọnmột biểu tượng duy nhất đại diện cho nền văn hoá Việt Nam, lâu nay vẫnđược coi là đậm đà bản sắc dân tộc, có không ít những ý kiến được đưa ra Đócó thể là Quốc Tử Giám, mặt trống đồng, là chim hạc, là bông sen nở, là bôngsen búp, là hoa đào, là chiếc áo dài, nón lá, là cái cổng làng, là con trâu, thậmchí là phở Xét về bản chất, đó chỉ là những khía cạnh của văn hoá, biểutượng về hoa, về ẩm thực, về trang phục truyền thống… Thực chất, chúng tavẫn đang trên hành trình tìm kiếm biểu tượng văn hoá Việt Nam, hành trìnhấy, thiết nghĩ, vẫn còn nhiều lắm những băn khoăn, nghĩ ngợi và lựa chọn
Có rất nhiều người ca tụng hoa sen như là “quốc hoa” Việt, lại có ýkiến cho rằng chính tà áo dài mới xứng đáng trở thành biểu tượng quốc gia,đại diện cho các giá trị văn hóa Việt Nam Cây tre một thời cũng được xưngtụng là biểu tượng quốc thực Tiếc thay, những ý kiến đó dường như đã rơivào quên lãng
Tất cả những vấn đề trên đã thôi thúc tôi đi tìm hiểu và chọn đề tài
“Tìm hiểu về lịch sử các biểu tượng quốc gia của Việt Nam” làm bài tiểuluận
Trang 8CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CÁC BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA
VIỆT NAM
1 Sự ra đời của Quốc kỳ
Quốc kỳ Việt Nam hiện nay, còn gọi là Cờ đỏ sao vàng, có ngôi saovàng năm cánh đặt giữa nền đỏ hình chữ nhật Chiều rộng lá cờ bằng 2/3chiều dài Năm đỉnh của ngôi sao nằm trên một đường tròn có tâm ở chínhgiữa lá cờ và bán kính bằng 1/3 chiều rộng (2/9 chiều dài) lá cờ Lá cờ này thểhiện ý tưởng máu đỏ da vàng, tượng trưng cho dân tộc và sự đoàn kết cáctầng lớp nhân dân bao gồm sĩ, nông, công, thương, binh trong đại gia đình cácdân tộc Việt Nam
Lá cờ này xuất hiện lần đầu tiên tại Khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940, vàsau đó trở thành lá cờ của Việt Minh Sau khi Việt Minh giành được chínhquyền, ngày 2 tháng 9 năm 1945, cờ đỏ sao vàng chính thức xuất hiện trongbuổi lễ Tuyên bố độc lập tại quảng trường Ba Đình Nó được công nhận làquốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa theo sắc lệnh của Chủ tịchChính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 9 năm 1945, và được Quốchội khoá 1 năm 1946 khẳng định lại Trong cuộc họp Quốc hội khóa I quyđịnh cụ thể về quốc kỳ ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:
"Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồng bào ta trong Nam Kỳ khởi nghĩa 1940.Chính lá cờ này đã cùng phái đoàn Chính phủ đi từ châu Á sang châu Âu, từchâu Âu về châu Á; cờ đã có mặt trên khắp đất nước Việt Nam Vậy thì trừ 25triệu đồng bào, còn không ai có quyền thay đổi quốc kỳ và quốc ca" Năm
1976, sau khi Việt Nam thống nhất, Quốc hội Việt Nam khóa VI đã lấy cờ đỏsao vàng, quốc kỳ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm quốc kỳ của nướcCộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, với vài thay đổi nhỏ so với mẫu cờnguyên thủy
2 Sự ra đời của Quốc huy
Quốc huy Việt Nam hiện nay (nguyên thủy là Quốc huy Việt Nam Dânchủ Cộng hòa) được Quốc hội Việt Nam khóa 1, kỳ họp Quốc hội thứ VI (từngày 15 đến ngày 20 tháng 9 năm 1955), phê chuẩn từ mẫu quốc huy dochính phủ đề nghị Mẫu quốc huy này do họa sĩ Bùi Trang Chước vẽ mẫu vàhọa sĩ Trần Văn Cẩn chỉnh sửa
Năm 1976, khi Việt Nam thống nhất, mẫu Quốc huy được sửa đổi phần
Trang 9quốc hiệu (theo phê chuẩn của Quốc hội Việt Nam khóa VI).
Quốc huy Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng nămcánh tượng trưng cho Đảng Cộng sản Việt Nam, cho lịch sử cách mạng củadân tộc Việt và tiền đồ sáng lạng của quốc gia; bông lúa vàng bao quanhtượng trưng cho nông nghiệp; bánh xe tượng trưng cho công nghiệp và chínhgiữa, phía dưới là dòng chữ tên nước
Đầu năm 2007, họa sĩ, đại biểu Quốc hội Trần Khánh Chương cho rằngviệc in ấn, sao chép hình quốc huy Việt Nam có nhiều sai sót như:
Hạt lúa không thuôn nhỏ mà to tròn như hạt lúa mì
Bánh xe không đủ 10 bánh răng
Các đường tròn đồng tâm trong bánh xe không chính xác
Khe giữa 2 vành bông lúa phía trên cùng to nhỏ tùy hứng
3 Sự ra đời của Quốc ca
Quốc ca Việt Nam là bài Tiến Quân Ca do Văn Cao sáng tác, bắt nguồn
từ lúc phong trào Việt Minh sử dụng bài hát này cho tới khi trở thành quốc caViệt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó sử dụng cho toàn nước Việt Nam saukhi Quốc hội Việt Nam họp và chính thức thống nhất năm 1976 Bài quốc cađem lại không khí hào hùng, sôi nổi, vẻ vang của những năm nhân dân ta anhdũng chiến đấu bảo vệ quê hương
Bài “Tiến quân ca” được nhạc sĩ Văn Cao sáng tác vào cuối năm 1944tại căn nhà số 171 phố Mông Grăng, Hà Nội (nay là nhà số 45 phố NguyễnThượng Hiền, Hà Nội) Ngay khi mới ra đời, bài hát đã được đội ngũ chiến sĩcách mạng nồng nhiệt đón nhận rồi trở thành bài hát chính thức của Mặt trậnViệt Minh Ngày 2/9/1945 (ngày tuyên bố độc lập), Tiến quân ca được cửhành, hàng triệu người hát vang lời ca theo tiếng nhạc của hành khúc hùngtráng đó
Trong quá khứ, Việt Nam chỉ mới bắt đầu có quốc ca từ giữa thế kỷ 20.Trước đó, Việt Nam không có truyền thống chỉ định một bài nhạc làm quốc
ca, theo nghĩa được hiểu hiện nay
4 Sự ra đời của Quốc hiệu
Sau khi nhận tước phong Việt Nam quốc vương, tháng 2 năm Giáp Tý(1804) vua Gia Long xuống chiếu ban bố việc đặt quốc hiệu mới là Việt Nam.Chiếu viết rằng:
Trang 10“Đế vương dựng nước, trước phải trọng Quốc hiệu để tỏ thống nhất.Xét từ các đấng tiên thánh vương ta xây nền dấy nghiệp, mở đất Viêm bang,gồm cả đất đai từ Việt Thường về Nam, nhân đó lấy chữ Việt mà đặt tênnước Hơn 200 năm, nối hòa thêm sáng, vững được nền thần thánh dõi truyền,giữ được vận trong ngoài yên lặng Chợt đến giữa chừng, vận nước khó khăn,
ta lấy mình nhỏ, lo dẹp giặc loạn, nên nay nhờ được phúc lớn, nối đượcnghiệp xưa, bờ cõi Giao Nam đều vào bản tịch Sau nghĩ tới mưu văn côngvõ, ở ngôi chính, chịu mệnh mới, nên định lấy ngày 17 tháng 2 năm nay, kínhcáo Thái miếu, cải chính Quốc hiệu là Việt Nam, để dựng nền lớn, truyền lâu
xa Phàm công việc nước ta việc gì quan hệ đến Quốc hiệu và thư từ báo cáovới nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được quen xưng hiệucũ là An Nam nữa”
Chính do văn bản này được phổ biến rộng nên năm Giáp Tý (1804)được coi là năm xuất hiện của quốc hiệu Việt Nam Vậy thật sự hai tiếng ViệtNam xuất hiện từ bao giờ và trở thành quốc hiệu khi nào?
Có nhiều nhà nghiên cứu đã cất công đi tìm lời giải đáp này và họ đãtìm được 12 tấm bia có niên đại thế kỷ 16-17 khắc hai chữ Việt Nam, ngoài racòn một bản in khắc gỗ từ năm 1752 cũng có danh xưng Việt Nam Như vậyhai tiếng Việt Nam đã có từ lâu Một số tác phẩm cổ cũng nhắc đến chữ ViệtNam như cuốn Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc (đời Trần, thế kỷ 14),cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi (đời Lê, thế kỷ 15)…
Về ý nghĩa, phần lớn các tài liệu đều cho rằng từ “Việt Nam” được kiếntạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam) Nếu xéttheo phương diện rộng thì “Việt Nam” chính thức được sử dụng chính thức làquốc hiệu vào năm Giáp Tý (1804), tuy nhiên có một tài liệu khác lại cho biếtquốc hiệu Việt Nam còn xuất hiện sớm hơn, cụ thể là vào năm Nhâm Tý(1792) đời vua Quang Trung Trong bộ sách Dụ Am văn tập của Phan HuyÍch - một cận thần của nhà Tây Sơn, trong đó có một văn bản do ông “phụngmệnh vua soạn thảo” mang tiêu đề “Tuyên cáo đặt mới quốc hiệu”
Bản chiếu này viết: “Xuống chiếu cho thần dân trong thiên hạ đều biết.Trẫm nghĩ: Xưa nay các bậc đế vương dựng nước, ắt có đặt quốc hiệuđể tỏ rõ sự đổi mới, hoặc nhân tên đất lúc mới khởi lên, hoặc dùng chữ nghĩatốt đẹp Xét trong sách cũ đã có chứng cớ rõ ràng
Trang 11Nước ta, sao Dự, sao Chẩn, cõi Việt hùng cường Từ trước đã có VănLang, Vạn Xuân nhưng còn quê kệch Đến đời Đinh Tiên Hoàng gọi là ĐạiCồ Việt, nhưng người Trung Quốc vẫn gọi là Giao Chỉ Từ đời nhà Lý về sauquen dùng tên An Nam do nhà Tống phong cho ngày trước đặt làm hiệu nước.Tuy vậy, vận hội dù có đổi thay nhưng trải bao đời vẫn giữ theo tên cũ, thựclà trái với nghĩa chân chính dựng nước vậy.
Trẫm nối theo nghiệp cũ, gây dựng cơ đồ, bờ cõi đất đai rộng nhiềuhơn trước Xem qua sổ sách, tuần xét núi sông, nên đặt tên tốt để truyền lâudài
Nay ban đổi tên nước là Việt Nam
Đã báo sang cho Trung Quốc biết rõ
Từ nay trở đi, cõi Viêm bang bền vững, tên hiệu tốt đẹp gọi truyền Hễở trong bờ cõi đều hưởng phúc thanh minh
Vui thay
Nghĩa xuân thu nhất thống đã truyền khắp bốn phương, ân huệ lâu dàivà muôn phúc cao dày mọi người cùng hưởng Vậy bá cáo rộng khắp để mọingười đều biết
Nay chiếu”
(Trần Lê Hữu dịch)
Như vậy, căn cứ vào các tư liệu, tư tịch cổ được các nhà nghiên cứuphát hiện đã chứng minh rằng hai tiếng Việt Nam đã có từ xưa (ít nhất cũng
từ thế kỷ 14) và (có thể) chính thức trở thành quốc hiệu nước ta vào nămNhâm Tý (1792) đời Vua Quang Trung nhà Tây Sơn
Trang 12CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC BIỂU TƯỢNG QUỐC
GIA CỦA VIỆT NAM 2.1 Quốc kỳ
2.1.1 Hiệu kỳ
Ở Việt Nam trước đây các nhà cầm quyền đã có các hiệu kỳ thườngmang màu phù hợp với "mạng": người mạng kim thì cờ màu trắng, ngườimạng mộc mang màu xanh, mạng thủy thì màu đen, người mạng hỏa treo cờmàu đỏ, người mạng thổ dùng cờ màu vàng Màu cờ của các triều đại thì đượcchọn theo thuyết của học phái Âm Dương Gia nhằm giúp triều đại hợp vớimột hành đang hưng vượng Ngoài cờ của triều đại, các nhà vua đều có thể cólá cờ riêng, chỉ để biểu tượng cho hoàng gia
Có nguồn cho biết Hai bà Trưng (40-43) và bà Triệu Thị Trinh 248) đã dùng cờ màu vàng trong các cuộc khởi nghĩa của họ
(222-Đại kỳ của vua Minh Mạng Vua Gia Long (1802-1820) dùng màu vàngcho là cờ tiêu biểu của vương triều mình Có nguồn cho biết vua Khải Định(1916-1925), khi sang Paris dự hội chợ đấu xảo, cùng các quan Nam triềusáng chế tại chỗ cờ Long Tinh (thêm hai vạch đỏ tượng trưng cho hình rồngvào giữa lá cờ vàng) vì cần thiết cho nghi lễ Tuy nhiên, từ "cờ long tinh" có
lẽ đã xuất hiện từ thời vua Gia Long Cụ thể, nó có tên Hán "Long Tinh Kỳ"với "Kỳ" là cờ; "Long" là rồng, biểu tượng cho hoàng đế, có màu vàng vớirâu tua màu xanh dương, tượng trưng cho Tiên và đại dương là nơi rồng cưngụ; "Tinh" là ngôi sao trên trời, cũng là màu đỏ, biểu tượng cho phươngNam và cho lòng nhiệt thành, chấm ở giữa Tóm lại "Long Tinh Kỳ" là cờvàng có chấm đỏ viền tua xanh
Khi Pháp mới tấn công Việt Nam, Việt Sử Toàn Thư (trang 467) ghi
"Từ Trung ra Bắc, cờ khởi nghĩa bay khắp nơi"; có tác giả chú thích rằng cờnày chính là cờ long tinh của nhà Nguyễn
Có nguồn cho biết, năm 1821, vua Minh Mạng còn lấy đại kỳ màuvàng, chung quanh viền kim tuyến (chỉ vàng)
2.1.2 Cờ thời Pháp thuộc
Cờ của chế độ bảo hộ Pháp trên toàn Đông Dương, 1923 - 9 tháng 31945
Trong thời kỳ Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ Pháp trên toàn Liênbang Đông Dương sử dụng lá cờ có nền vàng và ở góc trái trên cao là hìnhquốc kỳ Pháp, từ năm 1923 đến khi bị Nhật lật đổ vào 9 tháng 3 năm 1945.Tại từng vùng thuộc địa trên lãnh thổ Việt Nam, Nam kỳ dùng quốc kỳ Pháp
Trang 13(còn gọi là cờ tam sắc), Bắc kỳ và Trung kỳ dùng cờ biểu tượng cho vua nhàNguyễn, nhưng cờ này chỉ được treo nơi nào có nhà vua ngự Cụ thể nó đượctreo ở kỳ đài ở quảng trường Phu Văn Lâu, cột cờ đàn Nam Giao ở ngoại ôkinh thành Huế, hay cột cờ Hành Cung ở các địa phương.
Cờ An Nam và những vùng có ảnh hưởng của vua nhà Nguyễn đượcmiêu tả dưới đây theo từng giai đoạn:
Từ khi Pháp tấn công lãnh thổ Việt Nam, cờ long tinh (nền vàng viềnlam chấm đỏ) vẫn được dùng như biểu tượng quyền lực của nhà Nguyễn Đếnnăm 1885, người Pháp không chấp thuận cho vua Đồng Khánh dùng LongTinh Kỳ nữa vì lá cờ này thể hiện sự chống đối Pháp (vua Hàm Nghi dùng lácờ này khi chống Pháp) Triều đình Đồng Khánh dùng lá cờ mới cũng có nềnvàng, nhưng màu đỏ thì gồm hai chữ Hán Đại Nam, quốc hiệu của nước ViệtNam lúc đó, và lá cờ có tên Đại Nam Kỳ Tuy nhiên, những chữ viết trên lácờ không thực sự giống với các nét chữ Hán của quốc hiệu Đại Nam (大南).Năm 1890, vua Thành Thái đổi sang dùng lá cờ có nền vàng ba sọc đỏ vắtngang Lá cờ này tồn tại qua các đời vua Thành Thái và Duy Tân, những ôngvua chống đối Pháp, và do đó cũng được coi là biểu tượng chống Pháp Saukhi Thành Thái và Duy Tân bị Pháp bắt đi đày, Khải Định lên ngôi theo quanđiểm thân Pháp đã thay đổi cờ Ông dùng cờ nền vàng và một sọc đỏ lớn vắtngang, và cũng gọi cờ này là cờ long tinh
Theo một số nguồn, đại kỳ màu vàng cũng có thể đã được treo thườngxuyên quảng trường Phu Văn Lâu[cần chú thích] Ngoài ra còn có các TinhKỳ, cờ Đại Hùng Tinh, cờ Nhật Nguyệt, cờ Ngũ Hành, được dùng để biểu thịnghi vệ Thiên Tử trong các buổi thiết triều, các dịp tế lễ, hay theo loan giánhững khi nhà vua xuất cung Lá cờ ban cho các khâm sai đặc sứ, còn đượcgọi là cờ Mao Tiết, thì màu sắc tùy nghi, trên mặt thêu họ và chức vụ của vịkhâm sai, chung quanh viền ngân tuyến (chỉ bạc) Các cờ xí treo thời nàythường có tua viền xung quanh
Lá cờ long tinh trong giai đoạn cuối của thời Pháp thuộc lần đầu đượcấn định làm quốc kỳ nước Đại Nam khi Nhật Bản dần thay chân Pháp ở ViệtNam
Dưới áp lực của quân Nhật, Pháp cố duy trì ảnh hưởng của họ bằngcách đàn áp các phong trào chống đối và nâng cao uy tín của các nhà vuaĐông Dương Hoàng đế Bảo Đại nhân cơ hội này đã đưa ra một số cải cách,trong đó có ấn định quốc kỳ của nước Đại Nam là cờ long tinh; được Toànquyền Đông Dương Jean Decoux chấp thuận Cờ long tinh được dùng trên
Trang 14lãnh thổ Đại Nam (Bắc kỳ và Trung kỳ) Nam kỳ vẫn dùng cờ tam sắc củaPháp.
Cờ quẻ Ly là cờ của cả nước Việt Nam, nhưng trong thực tế Nhật vẫncai trị Nam kỳ Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, Nam kỳ mới đượctrao trả ngày 14 tháng 8 năm 1945, nhưng 10 ngày sau đó Hoàng đế Bảo Đạithoái vị Nam Kỳ, thực tế, chưa bao giờ dùng cờ quẻ Ly
Trong thời kỳ này, Long Tinh Kỳ trở thành lá cờ của hoàng đế, chỉ treoở Hoàng thành Huế hoặc mang theo những nơi vua tuần du, gọi là Long TinhĐế Kỳ Long Tinh Đế Kỳ có sửa đổi nhỏ so với Long Tinh Kỳ trước đó: nềnvàng đậm hơn và sọc đỏ thu hẹp lại bằng 1/3 chiều cao lá cờ, để tương xứngvới cờ Quẻ Ly
2.1.4 Cờ đỏ sao vàng
Cờ đỏ sao vàng là lá cờ của Việt Minh khi giành chính quyền ở Bắc kỳtháng 8 năm 1945
Cuối năm 1940 phong trào kháng chiến chống Thực dân Pháp và Phátxít Nhật diễn ra mạnh mẽ ở các tỉnh Nam kỳ Từ 21 đến 23 tháng 9 năm 1940,Xứ ủy Nam kỳ họp mở rộng bàn kế hoạch khởi nghĩa Để tiến tới khởi nghĩa,một vấn đề được đặt ra là cần có một lá cờ để khẳng định tổ chức, thống nhấthiệu lệnh chỉ huy và động viên quần chúng
Một giả thuyết cho rằng Nguyễn Hữu Tiến, một nhà cách mạng đượcgiao nhiệm vụ thể hiện Sau nhiều lần phác thảo ông đã cho ra lá cờ nền đỏchính giữa có ngôi sao vàng Chiều rộng lá cờ bằng 2/3 chiều dài Ngôi sao ởmẫu nguyên thủy hơi khác ngôi sao trên quốc kỳ Việt Nam hiện nay 5 đỉnhcủa ngôi sao nằm trên đường tròn có tâm tại chính tâm lá cờ và bán kính 1/5
Trang 15chiều dài lá cờ (3/10 chiều rộng) 5 đỉnh còn lại của hình đa giác thể hiện ngôisao nằm trên đường tròn đồng tâm và bán kính bằng 1/10 chiều dài lá cờ.
Nguyễn Hữu Tiến cũng sáng tác một bài thơ để nói lên ý tưởng:
“Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu với cờ thiêng tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì đất nước
Sao vàng tươi da của giống nòi
Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi
Hỡi Sĩ-công-nông-thương-binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh”
Mẫu cờ được ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa gồm Võ Văn Tần, NguyễnThị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ chuẩn y ngay sau đó
Ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa nổ ra, nhưng nhanhchóng bị thất bại Nguyễn Hữu Tiến bị bắt và bị quân Pháp giết ngày 28 tháng
8 năm 1941 cùng các đồng chí của ông như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập,Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai Trước lúc hy sinh, ông đã đề lại bàithơ, trong đó có câu:
“Anh em đi trọn con đường nhé
Cờ đỏ sao vàng sáng tương lai”
Giả thuyết thứ hai mới đặt lại vấn đề tác giả quốc kỳ trong thời giangần đây: ông Lê Quang Sô (xem Liên kết ngoài ở dưới)
Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dânchủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký sắc lệnh quyết định quốc kỳ Việt Nam là cờđỏ sao vàng Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủCộng hoà, ngày 2 tháng 3 năm 1946 đã biểu quyết nhất trí cờ đỏ sao vàng làquốc kỳ của nước Việt Nam
2.1.5 Cờ năm sọc
Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến
16 trở xuống được cai quản bởi Anh Anh sau đó đã giao lại cho Pháp tiếp tụcquản lý Chính quyền Pháp đã khuyến khích phong trào Nam kỳ tự trị Ngày
26 tháng 3 năm 1946, Nam kỳ Cộng hòa quốc (tiếng Pháp: République deCochinchine) đã thành lập Từ ngày 1 tháng 6, quốc gia này dùng quốc kỳ nềnvàng, với 5 sọc vắt ngang ở giữa, gồm ba sọc xanh và hai sọc trắng chennhau Ý nghĩa của lá cờ là ba phần Việt, Miên, Lào trong Liên bang ĐôngDương sống hòa bình thịnh vượng (màu xanh lam và màu trắng)
Lá cờ này tồn tại được 2 năm cho đến khi chính quyền Nam kỳ quốc giải
Trang 16thể và sát nhập vào Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại ngày 2 tháng 6 năm 1948.
2.1.6 Quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa
Cờ vàng ba sọc đỏ được họa sĩ Lê Văn Đệ vẽ và đã được trình cho BảoĐại trong một phiên họp ở Hồng Kông năm 1948 Nó có nền vàng với ba sọcđỏ và hai sọc vàng chen nhau nằm vắt ngang ở giữa, tượng trưng cho quẻ Càntrong Bát Quái, giống như cờ của An Nam trong thời gian từ 1890 đến 1920.Bề ngang của mỗi sọc đỏ và vàng này bằng nhau và bề ngang chung của nămsọc bằng một phần ba bề ngang chung của lá cờ Ngày 2 tháng 6, 1948, chínhphủ lâm thời Nguyễn Văn Xuân chính thức dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ làmquốc kỳ của Quốc gia Việt Nam Lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ sau này tiếp tụclà quốc kỳ chính quyền Quốc gia Việt Nam (1949-1955), và sau đó là quốc kỳcho suốt thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)
Hiện nay, lá cờ này nói chung bị cấm tại Việt Nam Tuy nhiên nó lạiđược chính quyền của một vài thành phố và tiểu bang thuộc Hoa Kỳ côngnhận Một số đông người Việt ở nước ngoài vẫn coi lá cờ này là biểu tượngchính thức cho cộng đồng và các di sản của họ
2.1.7 Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập vào ngày 20tháng 12 năm 1960, là thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt độngở miền Nam Việt Nam, với mục tiêu đấu tranh chính trị và vũ trang, tiến tớithống nhất đất nước Tổ chức này sử dụng là cờ có nền gồm nửa trên màu đỏ,nửa dưới màu xanh, ở giữa là sao vàng
Lá cờ này được dùng làm quốc kỳ cho chính phủ lâm thời Cộng hòaMiền Nam Việt Nam từ khi thành lập năm 1969 để đối trọng với chính phủViệt Nam Cộng hòa
2.1.8 Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng
Năm 1925, khi sáng lập tờ báo Thanh Niên ở nước ngoài, Hồ Chí Minh(lúc đó còn dùng tên Nguyễn Ái Quốc) đã lấy ngôi sao năm cánh làm biểutượng Năm 1941, Bác về nước mang theo lá cờ đỏ sao vàng
Hình ảnh quốc kỳ Việt Nam xuất hiện nhiều lần trong thơ ông:
“Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”
2.2 Quốc hiệu
Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã dùng nhiều quốc hiệu khác nhau.Bên cạnh đó, cũng có những danh xưng được dùng chính thức hay khôngchính thức để chỉ vùng lãnh thổ thuộc quốc gia Việt Nam
Trang 172.2.1 Văn Lang
Văn Lang (chữ Hán: 文郎) được coi là quốc hiệu đầu tiên của ViệtNam Quốc gia này có kinh đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ.Lãnh thổ bao gồm khu vực đồng bằng sông Hồng và ba tỉnh Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ Quốc gia này tồn tại cho đến năm 258 TCN
2.2.2 Âu Lạc
Năm 257 TCN, nước Âu Lạc (甌雒, 甌駱, 甌貉) được dựng lên, từviệc liên kết các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Âu Việt, dưới uy thế củaThục Phán - An Dương Vương Âu Lạc có lãnh thổ bao gồm phần đất củaVăn Lang trước đây cộng thêm vùng núi Đông Bắc Việt Nam và một phần tâynam Quảng Tây (Trung Quốc)
Khoảng cuối thế kỷ thứ 3 TCN, đầu thế kỷ thứ 2 TCN (năm 208 TCNhoặc 179 TCN), Triệu Đà (Quận úy Nam Hải-nhà Tần) tung quân đánh chiếm
Âu Lạc Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bịxóa sổ
2.2.3 Vạn Xuân
Vạn Xuân (萬春) là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lậpngắn ngủi khỏi triều đình trung ương Trung Hoa của nhà Tiền Lý dưới sựlãnh đạo của Lý Nam Đế Quốc hiệu này tồn tại từ năm 544 đến năm 602 thìbị nhà Tùy tiêu diệt
2.2.4 Đại Cồ Việt
Đại Cồ Việt (大瞿越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh đếnđầu thời nhà Lý, do Đinh Tiên Hoàng thiết đặt năm 968 Quốc hiệu này tồntại 86 năm cho đến năm 1054, đời vua Lý Thánh Tông đổi sang quốc hiệukhác
2.2.5 Đại Việt
Đại Việt (大越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý, bắt đầu từnăm 1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi Quốc hiệu này tồn tại không liêntục (gián đoạn 7 năm thời nhà Hồ và 20 năm thời thuộc Minh), đến năm 1804,trải qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn, khoảng 743 năm
2.2.6 Đại Ngu
Đại Ngu (大虞) là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ Quốc hiệu ĐạiViệt được đổi thành Đại Ngu năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền Saukhi nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và nhà Hậu Lê giành lại độc lập choViệt Nam, quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt
Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn (là
Trang 18một trong Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ); sau này con NguYên là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần gọi làHồ Công, sau dùng chữ Hồ làm tên họ Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họHồ, con cháu Ngu Thuấn, nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu Chữ Ngu (虞) ở đâycó nghĩa là "sự yên vui, hòa bình", chứ không có nghĩa là "ngu si" (愚癡).
2.2.7 Việt Nam
Quốc hiệu Việt Nam (越南) chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn.Vua Gia Long đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽrằng "Nam" có ý nghĩa "An Nam" còn "Việt" có ý nghĩa "Việt Thường" Tuynhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của quốc gia cổ Nam Việt thời nhàTriệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa lúc bấy giờ NhàThanh yêu cầu nhà Nguyễn đổi ngược lại thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn,và chính thức tuyên phong tên này năm 1804
Tuy nhiên, tên gọi Việt Nam có thể đã xuất hiện sớm hơn Ngay từ cuốithế kỷ 14, đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí (nay không còn) doHàn lâm viện học sĩ Hồ Tông Thốc biên soạn Cuốn Dư địa chí viết đầu thế
kỷ 15 của Nguyễn Trãi (1380-1442) nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam".Điều này còn được đề cập rő ràng trong những tác phẩm của trạng TrìnhNguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), ngay trang mở đầu tập Trình tiên sinhquốc ngữ đã có câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền" Người ta cũng tìm thấy haichữ "Việt Nam" trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như bia chùa BảoLâm (1558) ở Hải Dương, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Nội, bia chùa PhúcThánh (1664) ở Bắc Ninh Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670) ở biên giớiLạng Sơn có câu đầu: "Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngőyết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc) Về ý nghĩa,phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố:chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam)
2.2.8 Đại Nam
Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi xin nhà Thanh cho phép đổi quốchiệu Việt Nam thành Đại Nam (大南), ngụ ý một nước Nam rộng lớn Tuynhiên nhà Thanh đã không chính thức chấp thuận Khi nhà Thanh bắt đầu suyyếu, vua Minh Mạng chính thức đơn phương công bố quốc hiệu mới Đại Namvào ngày 15 tháng 2 năm 1839 Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945
2.2.9 Đế quốc Việt Nam
Sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, hoàng đếBảo Đại tuyên bố độc lập và thành lập chính phủ độc lập trên danh nghĩa vào