1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN Đánh giá tác động của Dồn điền đổi thửa đến Phát triển Kinh tế hộ Nông dân tại thị trấn Nghèn xã Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh

97 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I. MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Với việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp và sản xuất hàng hóa là nhu cầu tất yếu khách quan. Chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa trong kinh tế nông nghiệp được Đảng ta đặt ra như một bước đi tất yếu để giải quyết vấn đề tam nông. Một trong nhưng biện pháp quan trọng nhất để phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp là giải pháp tập trung ruộng đất để tổ chức sản xuất ở quy mô lớn hơn. Chìa khóa pháp lý để thực hiện giải pháp này là việc Nhà nước trao cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại, góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất đối với đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở. Đây chính là nội dung đổi mới chủ yếu trong đổi mới chính sách pháp luật đất đai đã được cụ thể hóa trong Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 2003. Dựa vào cơ sở pháp lý này, Nhà nước khuyến khích khu vực nông thôn thực hiện phong trào “dồn điền, đổi thửa” để khắc phục tình trang manh mún do quá trình giao đất trước đây, có điều kiện quy hoạch lại đồng ruộng, sử dụng được các dịch vụ công nghiệp, giao thông, điện, thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, v.v. và áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp. Từng người nông dân, hộ gia đình nông dân hay một nhóm hộ gia đình có năng lực làm nông nghiệp có thể tập trung ruộng đất hình thành các trang trại để có một địa bàn hoạt động rộng hơn, đa dạng hơn và công nghiệp hơn. Ngày 3071994, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã ra Nghị quyết số 07NQTW về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, trong đó xác định nhiệm vụ trọng tâm là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Tiếp theo, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra Nghị quyết số 15 NQTW ngày 1832002 về công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông thôn giai đoạn 20012010. Vấn đề dồn điền, đổi thửa được đặt ra như một động lực mới cho phát triển sản xuất hàng hóa trong Luận văn tốt nghiệp đại học 2 kinh tế nông nghiệp. Chính phủ đã quyết định các chính sách khuyến khích dồn điền, đổi thửa trong các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và việc ban hành Nghị quyết số 032000NQCP ngày 020g22000 về kinh tế trang trại. Ý thức được đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt có ý nghĩa quyết định trong sản xuất nông nghiệp, cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, Huyện Can Lộc đã tiến hành điều chỉnh, sắp xếp lại đất sản xuất nông nghiệp. Trước năm 2002, riêng ở Can Lộc bình quân mỗi hộ vẫn còn sản xuất gần 8 thửa, cá biệt có hộ vẫn còn tới 15 thửa ruộng. Tình hình đó đã ảnh hưởng không tốt đến việc đầu tư thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, cản trở đưa máy móc vào đồng ruộng và phân công lao động nông nghiệp. Đường giao thông nội đồng, hệ thống kênh mương thủy lợi xuống cấp, đất đai bị rửa trôi xói mòn… ruộng đất manh mún không thể sản xuất hàng hóa nông sản có thương hiệu cạnh tranh, nông dân chỉ làm đủ ăn, thu nhập thấp, đời sống bấp bênh và không thể có cơ hội làm giàu trên đồng đất của mình. Với vị trí một huyện trọng điểm lúa của tỉnh, năm 2002 Can Lộc đã tập trung lãnh đạo chuyển đổi ruộng đất thành công ở 14 xã và chỉ đạo các xã còn lại hoàn thành trong năm 2003, nhằm tạo điều kiện chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp trong các năm tiếp theo. Đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân được đại đa số nhân dân đồng tình ủng hộ. Quán triệt chủ trương của Đảng về nội dung chủ yếu của CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Thị trấn Nghèn là thủ phủ của huyện Can Lộc song sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu. Trong những năm qua dồn điền đổi thửa đã có những tác động tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng suất hiệu quả cây trồng, vật nuôi, tích cực góp phần phát triển kinh tế của các hộ nông dân trong vùng. Tuy nhiên, quá trình dồn điền đổi thửa vẫn còn tồn tại những bất cập đã gây ra những cản trở không nhỏ cho quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế của các nông hộ. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến phát triển kinh tế hộ nông dân tại thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh”.

Trang 1

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Với việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp và sản xuất hàng hóa là nhu cầu tất yếu khách quan Chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa trong kinh tế nông nghiệp được Đảng ta đặt ra như một bước đi tất yếu để giải quyết vấn đề tam nông Một trong nhưng biện pháp quan trọng nhất để phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp là giải pháp tập trung ruộng đất để tổ chức sản xuất ở quy mô lớn hơn Chìa khóa pháp

lý để thực hiện giải pháp này là việc Nhà nước trao cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại, góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất đối với đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở Đây chính là nội dung đổi mới chủ yếu trong đổi mới chính sách pháp luật đất đai đã được cụ thể hóa trong Luật Đất đai năm 1993

và Luật Đất đai năm 2003 Dựa vào cơ sở pháp lý này, Nhà nước khuyến khích khu vực nông thôn thực hiện phong trào “dồn điền, đổi thửa” để khắc phục tình trang manh mún do quá trình giao đất trước đây, có điều kiện quy hoạch lại đồng ruộng,

sử dụng được các dịch vụ công nghiệp, giao thông, điện, thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, v.v và áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp Từng người nông dân, hộ gia đình nông dân hay một nhóm hộ gia đình có năng lực làm nông nghiệp có thể tập trung ruộng đất hình thành các trang trại để có một địa bàn hoạt động rộng hơn, đa dạng hơn và công nghiệp hơn

Ngày 30/7/1994, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã ra Nghị quyết số 07-NQ/TW về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm

2000 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, trong đó xác định nhiệm vụ trọng tâm là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn Tiếp theo, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra Nghị quyết số 15 NQ-TW ngày 18/3/2002 về công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông thôn giai đoạn 2001-2010 Vấn đề "dồn điền, đổi thửa được đặt ra như một động lực mới cho phát triển sản xuất hàng hóa trong

Trang 2

kinh tế nông nghiệp Chính phủ đã quyết định các chính sách khuyến khích "dồn điền, đổi thửa" trong các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và việc ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/0g2/2000 về kinh tế trang trại

Ý thức được đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt có ý nghĩa quyết định trong sản xuất nông nghiệp, cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, Huyện Can Lộc

đã tiến hành điều chỉnh, sắp xếp lại đất sản xuất nông nghiệp Trước năm 2002, riêng ở Can Lộc bình quân mỗi hộ vẫn còn sản xuất gần 8 thửa, cá biệt có hộ vẫn còn tới 15 thửa ruộng Tình hình đó đã ảnh hưởng không tốt đến việc đầu tư thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, cản trở đưa máy móc vào đồng ruộng

và phân công lao động nông nghiệp Đường giao thông nội đồng, hệ thống kênh mương thủy lợi xuống cấp, đất đai bị rửa trôi xói mòn… ruộng đất manh mún không thể sản xuất hàng hóa nông sản có thương hiệu cạnh tranh, nông dân chỉ làm

đủ ăn, thu nhập thấp, đời sống bấp bênh và không thể có cơ hội làm giàu trên đồng đất của mình

Với vị trí một huyện trọng điểm lúa của tỉnh, năm 2002 Can Lộc đã tập trung lãnh đạo chuyển đổi ruộng đất thành công ở 14 xã và chỉ đạo các xã còn lại hoàn thành trong năm 2003, nhằm tạo điều kiện chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp trong các năm tiếp theo Đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân được đại đa

số nhân dân đồng tình ủng hộ Quán triệt chủ trương của Đảng về nội dung chủ yếu của CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trước hết là

cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Thị trấn Nghèn là thủ phủ của huyện Can Lộc song sản xuất nông nghiệp vẫn

là chủ yếu Trong những năm qua dồn điền đổi thửa đã có những tác động tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng suất hiệu quả cây trồng, vật nuôi, tích cực góp phần phát triển kinh tế của các hộ nông dân trong vùng Tuy nhiên, quá trình dồn điền đổi thửa vẫn còn tồn tại những bất cập đã gây ra những cản trở không nhỏ cho quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế của các nông hộ Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn chúng tôi đã tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến phát triển kinh tế hộ nông dân tại thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh”

Trang 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến phát triển kinh tế hộ nông dân, phát hiện các vấn đề thực tiễn nảy sinh từ đó đề xuất khuyến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, phát triển kinh tế hộ nông dân tại thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến dồn điền đổi thửa

- Nghiên cứu tác động của việc dồn điền đổi thửa tới phát triển kinh tế hộ nông dân tại thị trấn Nghèn

* Tài liệu sơ cấp năm 2002 và 2008

Nhằm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chúng tôi lấy mốc trước dồn điền đổi thửa là năm 2002 và sau dồn điền đổi thửa là năm 2008

- Phạm vi không gian:

Nghiên cứu tiến hành trên địa bàn thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

Trang 4

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

* Kinh tế hộ nông dân

Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Cho đến nay có nhiều quan điểm về kinh tế hộ nông dân nhưng đều có một số thống nhất theo định nghĩa sau: “nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao” ( Ellis – 1988 ) [1]

Hộ nông dân là một xí nghiệp nông nghiệp, là đơn vị sản xuất có qui mô nhỏ nhưng hiệu quả

Trang 5

Kinh tế nông hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, trong đó nông dân và gia đình anh ta là chủ [2]

Khái niệm hộ nông dân được thể hiện đầy đủ thông qua các đặc trưng của hộ nông dân nói chung Dù ở đâu nông dân cũng gắn với đất đai và nền sản xuất tự cung tự cấp, với việc sử dụng lao động và tiền vốn gia đình là chủ yếu Mục đích sản xuất của họ trước hết là phục vụ cho tiêu dùng, sau đó mới là sản xuất hàng hóa

Vì vậy hộ nông dân là một đơn vị kinh tế nhưng vừa là một đơn vị sản xuất lại vừa

là một đơn vị tiêu dùng

* Phát triển kinh tế hộ nông dân

Là sự thay đổi theo hướng tích cực hơn về các điều kiện sản xuất của hộ, về kết

quả sản xuất, làm tăng lên về thu nhập, cải thiện mức sống của hộ nông dân

2.1.2 Tác động của tích tụ và tập trung ruộng đất đến sản xuất của nông hộ

Tích tụ và tập trung ruộng đất sẽ phát huy đuợc tính tự chủ của hộ trong việc

ra quyết định sản xuất nông nghiệp Thể hiện qua sự tăng qui mô sản xuất, lao động, vật tư, vốn, áp dụng các tiến bộ KHKT để làm tăng giá trị sử dụng đất, thâm canh tăng vụ để nâng cao hệ số sử dụng đất, nâng cao hiệu quả trong sử dụng đất, tăng năng suất…Khi được sản xuất trên thửa ruộng lớn hơn đồng nghĩa với việc các nông hộ có khả năng bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu thời vụ, mạnh dạn ứng dụng thành tựu KHKT mới vào đồng ruộng, tăng mức độ liên kết hợp tác trong sản xuất,

từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng khả năng cung cấp cho thị trường nhiều hàng hóa nông sản hơn Hộ nông dân sẽ có điều kiện đầu tư cơ giới hóa trong các khâu sản xuất, giải phóng sức lao động, bố trí cơ cấu lao động sản xuất nông nghiệp hợp

lý hơn, giảm được tỷ lệ lao động nông nghiệp thuần túy, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế của nông hộ, mang lại đời sống no ấm hơn cho người nông dân

2.1.3 Tính tất yếu của tích tụ và tập trung ruộng đất

a/ Xu hướng tích tụ và tập trung ruộng đất trong nền kinh tế thị trường

Theo quy luật chung của sự phát triển sản xuất sẽ diễn ra quá trình tích tụ , tập trung và quá trình hợp tác, liên kết trong quá trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản Quá trình tích tụ, tập trung và xã hội hóa trong sản xuất nông nghiệp tất yếu sẽ diễn ra; về nguyên tắc quá trình đó diễn ra theo 2 hướng:

Trang 6

- Tập thể hóa ruộng đất và tư liệu sản xuất

Theo hướng này toàn bộ ruộng đất và tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tập thể

Mô hình này phổ biến trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở các nước Xã hội Chủ nghĩa trong giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 (5.1945) đến cuối thập niên 80 của thế kỷ 20; điển hình là các nông trang tập thể ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Trung Quốc, Triều Tiên

Ở Việt Nam trong giai đoạn 1960-1985 quá trình tập thể hóa đã diễn ra trên quy mô lớn ở Miền Bắc với các hình thức HTX nông nghiệp từ cấp thấp đến cấp cao; HTX nông nghiệp từ quy mô thôn, đến quy mô toàn xã Công cuộc HTH nông nghiệp đã đóng góp phần thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dụng XHCN ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thực hiện thống nhất đất nước;

- Từng bước tích tụ và tập trung ruộng đất gắn với phân công lại lao động trong nông thôn, nông nghiệp trên cơ sở phát triển kinh tế hộ gia đình

Phát triển kinh tế hộ gia đình theo hướng gắn người lao động với tư liệu sản xuất, với đất đai, với sản phẩm cuối cùng là cây con; hợp tác các lĩnh vực, các khâu, các công đoạn, các lĩnh vực không gắn trực tiếp với quá trình sinh học ( làm đất, thủy lợi, bảo vệ thực vật, chế biến, tiêu thụ sản phẩm) với sự hỗ trợ của nhà nước về vốn, cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ

Mô hình này đã được phát triển ở các nước Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc từ sau chiến tranh thế giới thứ 2

Ở Việt Nam trong quá trình Đổi mới từ 1986 đến nay; đặc biệt từ khi có Nghị Quyết 10 Bộ Chính trị (Khóa 6) , Hiến Pháp 1992, Luật Đất đai 1993 kinh tế hộ gia đình cá nhân, kinh tế trang trại được khuyến khích phát triển với việc thực hiện chủ trương Nhà nước giao đất sản xuất ổn định cho hộ gia đình cá nhân và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

b/ Nhu cầu tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn

Sau hơn 20 mươi năm đổi mới, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng đã hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới Sự hội nhập đã tạo ra nhiều cơ hội

Trang 7

mới để phát triển, song cũng nẩy sinh nhiều thách thức mới cần phải giải quyết để tồn tại và phát triển như vấn đề kỹ thuật, tổ chức sản xuất, hàng rào thuế quan

- Nhưng cũng không thể không thấy quá trình phân hóa giàu nghèo đang diễn

ra gay gắt ở nông thôn mà một nhóm nông dân đang phải gánh chịu

- Nếu trước đây, khi chia lại ruộng để khoán hộ, nông dân đòi hỏi phải có

tốt-có xấu, tốt-có xa-tốt-có gần, tốt-có thấp-tốt-có cao, thì ngày nay tư tưởng manh mún, nhỏ hẹp ấy

đã phải nhường cho một ước nguyện mới mang tính thời đại-cần những diện tích rộng lớn, liền vùng, liền khoảnh để sản xuất hàng hoá

- Ruộng đất 1 hộ không chỉ đơn giản dồn từ trên chục mảnh vào vài ba mảnh,

mà chỉ còn 1 đến 2 mảnh

Bình quân mỗi hộ chỉ 0,7 - 0,8 ha, có tới 7 - 8 thửa, mỗi lao động 0,3ha và mỗi nhân khẩu 0,15 ha, Ở Đồng bằng Bắc Bộ chỉ có 360m2/khẩu Nếu cứ để ruộng đất như hiện nay thì không bao giờ có sản xuất hàng hoá, mà không có vùng sản xuất hàng hoá thì không bao giờ có tiêu thụ theo hợp đồng

Ruộng đất được tích tụ, tập trung sẽ khuyến khích nông dân, các nhà đầu tư

áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Một khi các nhà đầu tư nông nghiệp có thể tích tụ, tập trung ruộng đất ở quy mô thích hợp, đóng góp của họ sẽ không chỉ làm thay đổi cung cách sản xuất manh mún mà còn tạo ra những đổi mới thật sự ở nông thôn

c/ Tích tụ và tập trung để tạo dựng thị trường quyền sử dụng đất (QSDĐ) nông thôn, nông nghiệp

Hiện cả nước có trên 11 triệu hộ nông dân, với gần 70 triệu nhân khẩu, đang chiếm giữ 12,68 triệu ha đất nông nghiệp, chiếm 57,88 % diện tích đất nông nghiệp

cả nước; 57,49 % tổng quỹ đất đã giao cho các đối tượng sử dụng Việc cấp giấy chứng nhận (GCN) đối với đất sản xuất nông nghiệp đã hoàn thành cơ bản (13,99

Trang 8

triệu GCN, với 7,59 triệu ha, đạt 83.8%)

Với các điều kiện trên, thị trường QSDĐ trong khu vực nông thôn, nông nghiệp là một thị trường tiềm năng Tuy nhiên, thị trường QSDĐ trong khu vực nông thôn và nông nghiệp vẫn chưa phát triển

Theo một kết quả điều tra, nghiên cứu về thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp, nông thôn: các hộ gia đình cá nhân có xu hướng giữ đất để sản xuất, bình quân số hộ chuyển nhượng QSDĐ và thuê QSDĐ chỉ chiếm 1 - 2% Việc thế chấp QSDĐ khá phổ biến, đặc biệt ở các vùng kinh tế phát triển như Đông Nam Bộ và ĐBSCL Việc thế chấp QSDĐ chủ yếu để đầu tư sản xuất nông nghiệp và các nhu cầu bức xúc của đời sống

2.1.4 Quan điểm tích tụ và tập trung ruộng đất

a/ Tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển nền nông nghiệp công nghệ cao, xây dựng nông thôn hiện đại bền vững Tích tụ, tập trung ruộng đất là tất yếu của phát triển nông nghiệp hàng hoá theo cơ chế thị trường, quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội, giúp nông dân tiếp cận được ruộng đất để nâng cao đời sống

b/ Quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất phải gắn với việc chuyển dịch một phần lớn lao động nông nghiệp sang làm công nghiệp dịch vụ tại nông thôn và cả ở

đô thị

Hiện tại, nông dân - đối tượng đông nhất trong xã hội - lại ít được đào tạo nghề nên tỷ lệ thất nghiệp ở mức báo động, có trên 83% lao động ở nông thôn chưa qua đào tạo bất kỳ chuyên môn gì (con số từ Bộ LĐTB-XH), trong khi tỷ lệ này ở thành thị là 49% 20% lao động ở nông thôn thất nghiệp, tương đương khoảng 4,8 triệu người, cộng thêm hàng triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động mỗi năm c/ Chính sách tích tụ, tập trung ruộng đất là vì nông dân, cho nông dân, Khuyến khích nông dân tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển sản xuất nông nghiệp, nghiêm cấm việc đầu cơ ruộng đất, sử dụng ruộng đất kém hiệu quả

d/ Tốc độ và quy mô tích tụ, tập trung ruộng đất phải được tính toán theo vùng miền và phù hợp với tốc dộ và quy mô việc rút lao động ra khỏi nông nghiệp

để tránh tình trạng một bộ phận nông dân không còn đất sản xuất, nhưng vẫn chưa

Trang 9

có việc làm mới để đảm bảo cuộc sống Tiến trình này không giống nhau tại các địa phương, do đó quá trình tích tụ, tập trung đất đai cũng mang đặc trưng từng vùng miền

e/ Tích tụ, tập trung ruộng đất với mục tiêu là phát triển nông nghiệp, phát triển xã hội và đời sống người dân nông thôn Do đó bên cạnh chính sách khuyến khích để nông dân trở thành chủ thể chính quá trình tích tụ, tập trung, đồng thời giúp họ sở hữu tư liệu sản xuất, giúp họ sản xuất được những hàng hóa đủ sức cạnh tranh, giúp họ liên kết để tập trung sản xuất

2.1.5 Dồn điền đổi thửa

2.1.5.1 Khái niệm dồn điền đổi thửa

Bản chất của quá trình này là dồn ghép các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, sắp xếp qui hoạch lại ruộng đất, khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất, tổ chức thiết kế lại đồng ruộng hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng; nâng cao hệ số

sử dụng đất; đẩy nhanh chuyển dịch sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa; phát triển kinh tế hộ và trang trại, củng cố quan hệ sản xuất, thực hiện CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn [3]

2.1.5.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của dồn điền đổi thửa đối với phát triển kinh tế nông hộ

Tập trung ruộng đất là ước nguyện của những người nông dân mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm, mong muốn làm giàu trên đồng đất quê hương

- Dồn điền đổi thửa tạo ra những thửa đất lớn hơn, các hộ dân có điều kiện áp dụng cơ giới hoá trong sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm thời gian lao động, giảm công lao động, giảm những hao phí không cần thiết khi ruộng đất manh mún, phân tán trên nhiều xứ đồng Từ đó khuyến khích, tạo điều kiện thúc đẩy phân công lao động trong hộ hợp lý, tạo điều kiện dịch chuyển lao động trong hộ từ sản xuất nông nghiệp thuần tuý sang hoạt động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao

- Dồn điền đổi thửa tao điều kiện thuận lợi cho hộ sản xuất với quy mô lớn, xây dựng nhiều mô hình sản xuất theo hướng hàng hoá, phấn đấu thực hiện cánh đồng 50 triệu, tăng thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp

Trang 10

- Tạo điều kiện giúp hộ nông dân yên tâm sản xuất, giúp hộ chủ động, yên tâm sản xuất, đầu tư thâm canh tăng năng suất; sản xuất kết hợp những cây trồng, vật nuôi có hiệu quả, phù hợp với điều kiện nhân lực, vật lực của hộ cũng như điều kiện tại địa phương

- Ruộng đất tập trung giúp hộ giảm được công lao động ở một số khâu chủ yếu, đặc biệt là những lúc chính vụ như thu hoạch, gieo trồng…Từ đó các hộ có điều kiện tập trung lao động sản xuất ở những lĩnh vực khác, cũng như giúp hộ có

cơ cấu thu nhập đa dạng từ nhiều nguồnhơn, giảm tối đa rủi ro gặp phải trong sản xuất khi điều kiện sản xuất nông nghiệp bất lợi dẫn tới mất mùa, năng suất thấp

- Ruộng đất lớn tạo điều kiện cho các hộ có khát vọng nghiên cứu, tiếp cận những giống cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lượng cao hơn; các hộ có điều kiện áp dụng những tiến bộ KHKT mới vào trong sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất đồng thời nâng cao thu nhập cho hộ

2.1.5.3 Trình tự các bước dồn điền đổi thửa

Bước 1: Tổ chức quán triệt chủ trương ''Dồn điền đổi thửa''

a/ Chuẩn bị văn bản

Các địa phương cần căn cứ vào các văn bản của Nhà nước, các Nghị quyết của Đảng để xây dựng các Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định, Kế hoạch triển khai của địa phương mình

b/ Tổ chức các Hội nghị quán triệt

Hội nghị quán triệt chủ trương dồn điền đổi thửa được tổ chức ở tỉnh, huyện

và xã với thành phần Bí thư, Chủ tịch HĐNĐ, UBND các cấp, thủ trưởng các cơ quan, đoàn thể có liên quan

Riêng cấp xã phải tổ chức Hội nghị quán triệt từ cấp uỷ Đảng cho đến đảng viên, thành viên HĐND, UBND, Mặt trận, các đoàn thể, cán bộ HTX, đội sản xuất, cán bộ thôn Các xã phải có kế hoạch cụ thể để tổ chức quán triệt kỹ trong nhân dân

để tạo sự đồng tình cao trong nội bộ thôn xóm Phải coi đây là một cuộc vận động chính trị, tư tưởng sâu sắc, rộng khắp trong toàn Đảng, toàn dân, không được xem nhẹ công tác này

Trang 11

Bước 2: Thành lập Ban chỉ đạo các cấp

Ban chỉ đạo thuộc cấp nào thì do cấp đó quyết định; tùy tình hình cụ thể từng huyện, từng xã mà quyết định số lượng thành viên tham gia Ban chỉ đạo Các thành viên trong Ban chỉ đạo phải được phân công nhiệm vụ cụ thể Ban chỉ đạo có trách nhiệm giúp UBND cùng cấp tổ chức thực hiện việc dồn điền đổi thửa; trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc Ban chỉ đạo cấp dưới hướng dẫn nông dân chuyển đổi ruộng đất Giúp việc cho ban chỉ đạo ở các cấp là Tổ công tác gồm cán bộ từ các ngành

có thành viên tham gia Ban chỉ đạo; riêng cấp xã được hợp đồng một số lao động từ

5 đến 7 người tùy theo khối lượng công việc

Bước 3: Chỉ đạo xây dựng phương án dồn điền đổi thửa và hướng dẫn nghiệp vụ

a/ Điều tra khảo sát hiện trạng, tình hình quản lý và sử dụng đất đai

- Tiến hành điều tra, thống kê chi tiết thực trạng quản lý và sử dụng đất trên

cơ sở đó lập quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông thủy lợi nội đồng, quy hoạch sản xuất và lựa chọn phương án thực hiện cho phù hợp

- Bản đồ hoặc sơ đồ ruộng đất theo hiện trạng, diện tích, danh sách các hộ có ruộng phải được niêm yết công khai tại từng thôn

b/ Xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhất là kế hoạch sản xuất cây,con

Xây dựng quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông, thủy lợi, quy hoạch sản xuất để làm cơ sở cho việc xây dựng phương án chuyển đổi ruộng đất

c/ Tổ chức cho nông dân tự đăng ký chuyển đổi ruộng đất cho nhau

Phát động cho các hộ nông dân tự đăng ký chuyển đổi ruộng đất cho nhau theo quy hoạch của địa phương (trước hết trong anh em, dòng họ), số thửa/hộ, diện tích một thửa (theo mức quy định trong phương án của địa phương)

Với loại ruộng trũng, điều kiện sản xuất có nhiều khó khăn ưu tiên cho các hộ nhận gọn 1 thửa, một vùng và cho làm thủ tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo quy hoạch nếu số người đăng ký nhận ruộng có tổng diện tích tương ứng với loại đất này; sau đó tập hợp tại và thể hiện trên bản đồ (sơ đồ) diện tích đã đăng ký tự chuyển đổi để dân biết thực hiện

Trang 12

d/ Xây dựng phương án chuyển đổi ruộng đất :

- Trên cơ sở hiện trạng ruộng đất và các quy hoạch về giao thông, thủy lợi nội đồng, quy hoạch sản xuất xây dựng phương án chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn chung cho toàn xã, hợp tác xã (những nơi có hợp tác xã); dự kiến quy tập đất công ích (đất 5%), xây dựng hệ số quy đổi cho từng loại đất, phân hạng đất, số thửa cho 1 hộ, diện tích bình quân cho một thửa

- Xây dựng phương án chi tiết đến hộ nông dân ở từng thôn

Lưu ý khi xây dựng phương án chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô

thửa lớn theo cách “rút bù diện tích” không nên phân đất thành nhiều loại, hạng đất

trong 1 thôn mà nên căn cứ vào năng suất sản lượng để hình thành từ 2 đến 4 nhóm đất chính để khi dồn ghép giao đất cho hộ nông dân để thu nhỏ số thửa đất

- Tổ chức lấy ý kiến phương án chuyển đổi ruộng đất sau khi xây dựng thông qua hội nghị đại biểu nông dân, để tu sửa hoàn chỉnh cho đến khi đạt được sự thống nhất theo quy chế dân chủ ở cơ sở thì trình UBNĐ huyện phê duyệt

e/ Tổ chức cho hộ nông dân đăng ký chuyển đổi ruộng đất cho nhau

Tổ chức cho các hộ nhận ruộng đất trên phương án và trên hồ sơ sổ sách: có thể áp dụng hình thức đăng ký hoặc bốc thăm nhận ruộng; cho phép các hộ chọn ghép theo dòng họ hoặc theo thuận lơi tiện canh tiện cư để đăng ký hoặc bốc thăm nhận ruộng Lưu ý dù tổ chức đăng ký hoặc bốc thăm thì cũng phải tiến hành theo thứ tự: đăng ký hoặc bốc thăm ruộng xấu trước, ruộng tốt sau

f/ Tổ chức dồn điền đổi thửa gắn với huy động lao động công ích để kiến thiết

lại giao thông nội đồng và bờ vùng bờ thửa

Bước 4: Chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn giao ruộng ngoài thực địa

Tổ công tác giúp việc Ban chỉ đạo xã cùng hộ sử dụng đất tiến hành đo đạc cắm mốc giao ruộng theo mã bốc thăm ngoài thực địa Lập biên bản giao đất ngoài thực địa và phiếu trích đo thửa đất để làm cơ sở hoàn thiện hồ sơ địa chính và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Bước 5: Hoàn chỉnh hồ sơ địa chính và cấp lại giấy chứng nhận quyển sử

dụng đất

Sau khi hoàn thành bàn giao đất ngoài thực địa, Ban chỉ đạo xã có trách

Trang 13

nhiệm giúp UBND xã hoàn chỉnh, giao nạp về UBND huyện (qua Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) các loại tài liệu đã lập trong quá trình chuyển đổi ruộng đất Ban chỉ đạo căn cứ vào phiếu nhận ruộng, biên bản nhận ruộng của từng

hộ để chỉnh sửa, thiết lập hồ sơ đia chính theo Thông tư số 1990/2001/TT – TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên & Môi trường) về hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ

2.1.5.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện dồn điền đổi thửa

Hiện nay vướng mắc lớn gây ảnh hưởng tiến độ DĐĐT là sự vào cuộc của các cấp chính quyền, đặc biệt là chính quyền ở cơ sở chưa thật sự tích cực Bên cạnh đó,

sự đồng thuận, hợp tác của một số hộ sản xuất nông nghiệp chưa cao Việc thành lập lại hoặc củng cố Ban chỉ đạo DĐĐT, việc ban hành chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch tiếp tục thực hiện DĐĐT gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn các xã, thị trấn chậm được triển khai, hoặc có triển khai nhưng quá trình kiểm tra, đôn đốc không thường xuyên nên hiệu quả thấp Một số địa phương, trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm của cán bộ xã, HTX nông nghiệp, thôn, đội sản xuất còn hạn chế nên lúng túng, chậm trễ trong quá trình thực hiện chủ trương DĐĐT Đặc biệt, công tác quản lý đất đai ở cơ sở thời gian qua còn buông lỏng, khi thực hiện DĐĐT phải quy chủ, xác định đúng diện tích ruộng đất nên tốn nhiều công sức

và nảy sinh khó khăn, phức tạp Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ, nhân dân chưa nhận thức đúng về chính sách giao ruộng ổn định lâu dài cho hộ sản xuất, do đó còn băn khoăn không muốn dồn ruộng, dẫn đến quá trình DĐĐT bị ách tắc

Mặt khác thực tế ruộng đất của từng địa phương cũng như ruộng ở các vùng, các xứ đồng trong cùng một địa phương có điều kiện khác nhau nhiều cũng là cản trở không nhỏ để thực hiện dồn điền đổi thửa được thuận lợi Một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp nữa là thiếu vốn cho thực hiện dồn điền đổi thửa Thực tế hiện nay là nhiều khi địa phương cũng muốn thực hiện dồn điền đổi thửa nhanh tạo điều kiện phát triển sản xuất nhưng do thiếu kinh phí trong đo đạc, dụng cụ, cấp giấy chứng nhận QSD đất…nên tiến độ dồn điền đổi thửa bị chậm

Trang 14

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở thế giới

Việc dồn điền đổi thửa được tiến hành lần đầu tiên trên thế giới tại châu Âu vào thời Trung cổ

1/ Tập trung ruộng đất ở Trung Quốc

Từ thời phong kiến đến nay, quyền sở hữu ruộng đất luôn là yếu tố trung tâm trong mối quan hệ giữa chính quyền và nông dân Trung Quốc Hiến pháp Trung Quốc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý; nông dân chỉ có “quyền sử dụng” đất nông nghiệp theo hợp đồng 30 năm Quyền sử dụng đất thuộc sở hữu tập thể, nông dân không được chuyển nhượng hoặc cho thuê vào mục đích phi nông nghiệp Điều đó có nghĩa là chính quyền địa phương có thể thu hồi đất vào bất cứ lúc nào Công nghiệp hóa và đô thị hóa trong 30 năm qua đã làm cho hàng chục triệu nông dân bị mất đất canh tác Những cuộc biểu tình phản đối của nông dân bị mất đất là nguyên nhân chính gây bất ổn xã hội ở Trung Quốc hiện nay Một thực tế là ruộng đất ở Trung Quốc rất manh mún, mỗi nông hộ sử dụng một khoảnh đất nhỏ, bình quân 0,67 héc ta/hộ gia đình Những nông dân ra thành phố kiếm việc làm - đã lên tới 200 triệu người trong những năm vừa qua - phải nhờ người thân canh tác những khoảnh ruộng đó hoặc bỏ ruộng hoang mà không thể bán

đi được Vì chưa trả đất canh tác lại cho nhà nước, những công nhân nhập cư này vẫn bị coi là nông dân và chỉ có thể làm những công việc đơn giản, có mức lương thấp Trong khi đó, ở thành phố, cư dân đô thị từ lâu đã được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất không hạn chế và rất nhiều người giàu lên rất nhanh cùng với sự sôi động của thị trường đất đô thị Mặt khác, chính quyền địa phương thường xuyên

có những quyết định ảnh hưởng xấu người nông dân

Quá trình cải cách nông nghiệp chia 2 giai đoạn, giai đoạn một từ năm 1978 -

1984 và giai đoạn hai từ 1985 - 1990 sau đó đề ra phương hướng phát triển nông nghiệp nông thôn cho thập kỷ 90 Cách thực hiện cải cách nông nghiệp của nước này trong những năm qua là khoán ruộng đất cho các hộ nông dân theo nguyên tắc:

Thứ nhất, tôn trọng nguyện vọng của quần chúng nhân dân, không được áp đặt Hai

là, phải đảm bảo theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang bằng (nghĩa là những

Trang 15

thửa ruộng có cùng cấp độ hoặc đã được cải tạo nâng độ màu mỡ thì khi điều chỉnh phải qui đổi theo hệ số để đền bù về mặt kinh tế) Chỉ thị số 18 năm 1990 của Trung quốc quy định “ổn định quan hệ ruộng đất nhận khoán không có nghĩa là không cho phép có sự điều chỉnh về mảnh ruộng và số lượng ruộng khoán, những thửa ruộng quá phân tán, không thuận tiện cho việc canh tác thì có thể căn cứ nguyện vọng quần chúng mà điều chỉnh”

Theo xu hướng cạnh tranh của nền kinh tế thị trường đặc biệt là trong nông nghiệp, Trung quốc đang tiến hành chủ trương dồn điền đổi thửa Nước này dự kiến

sẽ tăng thêm được 1,7 triệu ha đất trồng trọt tính tới năm 2020 thông qua việc dồn điền đổi thửa hiện nay Công tác tăng cường hiệu quả cho nông nghiệp đang được chính phủ Trung Quốc quan tâm chặt chẽ trong thời gian gần đây, do một diện tích đất rất lớn đã bị đô thị hoá, chuyển đổi mục đích sử dụng trong những năm công nghiệp hoá

Hiện nay Trung quốc tiếp tục chuẩn bị ra dự thảo cải cách ruộng đất theo hướng tự do hóa thị trường và hạn điền sử dụng đất canh tác cho nông dân từ 30 năm hiện nay lên 70 năm như với đất ở Điều này sẽ tạo động lực mới cho công cuộc tích tụ ruộng đất phát huy hiệu quả cao

2/ Tập trung ruộng đất ở Đài Loan

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với nông nghiệp, có ảnh hưởng lớn đến tăng năng suất lao động nông nghiệp Chính sách ruộng đất hợp lý sẽ khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tự nhiên này, nhất là ở những nước mà nông nghiệp còn chiếm vị trí chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân Ở Đài Loan, đầu tiên Chính phủ thực hiện chính sách giảm tô để giảm bớt gánh nặng cho nông dân, sau đó đưa ra chính sách "hạn điền" quy định số lượng ruộng đất được phép tư hữu đối với các chủ đất Số ruộng đất vượt mức hạn điền được Chính phủ định giá và tạo điều kiện về tín dụng cho nông dân mua trả góp trong thời hạn dài Chính sách giao đất cho nông dân còn được áp dụng đối với cả đất thuộc sở hữu nhà nước Vì vậy, người sản xuất nông nghiệp gắn bó với ruộng đất, yên tâm đầu tư, chủ động áp dụng khoa học – công nghệ nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp Khi nông nghiệp phát triển, ruộng đất hạn hẹp đã cản trở nông dân kinh doanh lớn, Chính

Trang 16

phủ Đài Loan đã đưa ra chủ trương khuyến khích nông dân "chung nhau kinh doanh",

"uỷ thác kinh doanh"; "thay mặt kinh doanh" v.v để tập trung ruộng đất đạt tới quy

mô cần thiết của nông nghiệp hàng hoá, khai thác có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên đất đai hạn hẹp, thúc đẩy tăng cường nông nghiệp với tốc độ khoảng 4%/năm trong suốt thời gian từ 1952 – 1981

3/ Tập trung ruộng đất phát triển trang trại ở Hà Lan

Cơ sở của nền nông nghiệp Hà Lan là các trang trại gia đình theo chế độ tư hữu

Tỷ lệ sở hữu đất có tương đối lớn, các trang trại thuê đất sản xuất kinh doanh chỉ chiếm

tỷ lệ nhỏ Nhưng do quỹ đất nhỏ, bình quân đất theo đầu người ít, việc mở rộng quy mô trang trại không dễ, biện pháp khả thi vẫn nhờ một phần vào đất thuê

Hà Lan là nước có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, đảm bảo các chủ trang trại có toàn quyền quyết định hoạt động sản xuất và quyền định đoạt tài nguyên của mình, khuyến khích chủ trang trại hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận tối đa Thoạt đầu là kinh tế tiểu nông, sản xuất tự cấp, tự túc, hiệu suất rất thấp, kinh tế hàng hóa phát triển, vốn được tích lũy, kinh tế hộ tiểu nông chuyển dần sang hộ sản xuất hàng hóa nhỏ, tiếp đó chuyển sang hộ sản xuất chuyên môn hóa, rồi dần dần chuyển thành trang trại lớn hiện đại, sản xuất vì lợi nhuận, tạo nên kinh tế tổng hợp “nông – công – thương” Ngày nay, nền tảng của sức cạnh tranh quốc tế của nông nghiệp Hà Lan là những tổ hợp nông – công – thương, trong đó tế bào cấu thành những tổ hợp này chính là những trang trại gia đình tràn đầy sức sống

Các trang trại được tích tụ ruộng đất để có quy mô đủ lớn, gắn liền với quá trình tạo việc làm phi nông nghiệp, đủ sức thu hút nông dân “ly nông”, giảm thiểu nhanh số lượng nông dân và giải thể các trang trại nhỏ, làm ăn kém hiệu quả

Việc mở rộng quy mô trang trại dựa vào 2 chính sách của nhà nước

Một là, chính sách mua và thuê đất (ở Hà Lan có 2 loại hình sở hữu đất, đất tư hữu

được múa bán, đất công hữu do nhà nước đầu tư quai đê lấn biển thì cho thuê thời

gian dài) Hai là, chính sách khuyến khích trang trại làm ăn kém được giải thể

Sự phát triển của nền kinh tế Hà Lan thúc đẩy chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp đã làm cho số lượng trang trại bớt dần Năm

1950, cả nước Hà Lan có 400.000 trang trại, đến năm 1980 còn 14.500, năm 1990

Trang 17

còn 12.500, năm 2000 chỉ còn khoảng 100.000 Số lao động nông nghiệp từ 1959 đến 1980, giảm được một nửa, từ đó đã giảm nhanh số lượng nông dân và lực lượng nông dân làm nông nghiệp không hiệu quả đều rời khỏi nông nghiệp, lọc lại trong nông nghiệp là lực lượng nông dân làm ăn giỏi, đam mê với nghề nông, ham muốn lập nghiệp, làm giàu từ nghề nông Đây là một nguyên nhân quan trọng đảm bảo hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Hà Lan hơn hẳn nhiều nước khác trên thế giới

2.2.2 Tình hình dồn điền đổi thửa ở nước ta

2.2.2.1 Tình trạng ruộng đất manh mún ở Việt Nam

Nghị quyết 10-TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (gọi tắt là “Khoán 10”) đã giúp Việt Nam từ nước nhập khẩu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới Tuy nhiên, đến nay

“Khoán 10” đã bộc lộ những hạn chế nhất định khi đất nước bước vào công cuộc CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Khảo sát mới đây của Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cho thấy 100% số hộ nông dân cho rằng ruộng đất manh mún

đã gây cản trở cho sản xuất

Luật đất đai năm 1993 và được sửa đổi bổ sung năm 2003 đã thực hiện công bằng xã hội, sau đó là Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 27/09/1993 và gần đây

là về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài với mục đích sản xuất nông nghiệp theo phương châm có tốt, có xấu, có gần, có xa Điều này đã làm cho số thửa ruộng tăng lên đáng kể Số thửa sau khi giao đất theo Nghị định 64/CP ở một số địa phương đã tăng lên hơn 2 lần so với khi thực hiện khoán theo Chỉ thị 100/CT-TW

Chủ trương dồn điền, đổi thửa được xem là nhu cầu cấp bách để phát triển nông nghiệp, nông thôn trong tình hình mới Theo thống kê của Cục Kinh tế hợp tác

và phát triển nông thôn, năm 2003, cả nước có 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ

có 6,8 thửa với khoảng 0,3-0,5 ha/hộ, trong đó đất lúa từ 200 m2

đến 400 m2/thửa, đất rau màu dưới 100 m2/thửa, đất trồng cây lâu năm, cây cho thu nhập cao còn manh mún hơn…Điều này đã hạn chế đáng kể công cuộc CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn; sản xuất hàng hóa tập trung

Trang 18

Bảng 1: Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước

1 Trung du miền núi 10 – 20 25 150 - 300 100 – 150

2 Đồng bằng sông Hồng 7 25 300 - 400 100 – 150

3 Duyên hải Bắc trung bộ 7 – 10 30 300 - 500 200 – 300

4 Duyên hải Nam trung bộ 5 – 10 30 300 - 1000 200 – 1000

7 Đồng bằng sông Cửu long 3 10 3000 - 5000 500 – 1000 (Nguồn Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003)[5]

2.2.2.2 Một số khó khăn chính trong sản xuất nông nghiệp do ruộng đất manh mún

* Trước hết là khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, làm giảm hiệu quả sản xuất và cản trở quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá sản xuất, cụ thể:

- Về hiệu quả trực tiếp: Chi phí sản xuất lớn, năng suất lao động thấp do phải

tốn công đi lại giữa các thửa ruộng trên nhiều xứ đồng

- Về thủy lơi: Việc điều tiết nước khó khăn do thời vụ giữa các thửa ruộng trong cùng một xứ đồng có nhiều trà Hệ thống kênh mương và đường giao thông trên đồng ruộng xuống cấp do tình trạng đào đắp để phục vụ tưới tiêu

- Về áp dụng khoa học kỹ thuật: Không kích thích người nông dân mạnh dạn

đầu tư mua sắm máy móc phục vụ sản xuất Nông dân là nhóm sản xuất dễ bị tổn thương, họ không chấp nhận rủi ro cao Khi áp dung tiến bộ KHKT phải thấy rõ lợi ích kinh tế cao trước mắt thì họ mới chấp nhận

* Khó khăn trong cơ giới hoá sản xuất

Qui mô thửa ruộng quá manh mún và không bằng phẳng trong sản xuất đã hạn chế khả năng đưa máy móc vào đồng ruộng, giải phóng sức lao động cho người nông dân trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất từ khâu làm đất, gieo trồng cho đến thu hoạch Theo thống kê mới nhất của ngành nông nghiệp, cả vùng ĐBSCL mới có khoảng 1.000 máy GĐLH, 3.400 máy gặt xếp dãy, chỉ đảm bảo thu hoạch được 15%

Trang 19

diện tích lúa của vùng; 85% diện tích còn lại phải chịu thất thoát sau thu hoạch với tỷ lệ

từ 10-12% Diện tích từng hộ quá nhỏ hẹp là một trở ngại lớn cho vấn đề cơ giới hóa Hầu hết nông hộ chỉ có dưới 1 ha lúa, trong lúc năng suất của máy GĐLH là 3 - 5 ha/ngày, rất khó xoay trở từ mảnh ruộng này sang mảnh ruộng khác

* Giảm diện tích đất canh tác nông nghiệp do diện tích đất dành cho đắp bờ ngăn giữa các thửa ruộng của các hộ quá nhiều

Theo như một số cuộc điều tra đã tiến hành trước đây thì diện tích bờ ngăn trước khi thực hiện chuyển đổi ruộng đất thường chiếm tới 2 – 4% tổng diện tích sản xuất nông nghiệp ở các địa phương Đây thực sự là một sự lãng phí không cần thiết, làm giảm sản lượng không đáng có

* Chi phí cho đo đạc và đăng ký lập hồ sơ địa chính tăng lên nhiều lấn do phải đo đạc lập bảng tỷ lệ lớn hoặc trích đo bổ sung nhiều, chi phí lao động và vật

tư, biểu mẫu cho công tác đăng ký đất đai cũng tăng thêm Một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai gồm nhiều thửa đất làm trở ngại cho người sử dụng khi thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật

* Sản xuất nông nghiệp thiếu qui mô, thiếu qui hoạch, không kích thích sản xuất hàng hoá

2.2.2.3 Nguyên nhân của tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp

* Chủ trương chính sách của Nhà nước về giao đất nông nghiệp trên cơ sở hiện trạng đảm bảo ổn định, công bằng trong nông thôn

Thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa

VI và việc điều chỉnh lại theo Nghị định 64/CP, các địa phương đã tiến hành chia đều ruộng đất ở các HTX cho các hộ nông dân Khi chuyển từ cơ chế khoán sang hình thức giao đất ổn định lâu dài, khắc phục manh mún ruộng đất bằng cách “rũ ra chia lại” đã tạo nên tranh chấp đất đai trong dân Nghị định 64/CP của Chính phủ đã chủ trương thực hiện giao đất cho nông dân sử dụng lâu dài trên cơ sở hiện trạng đang sử dụng, hộ nào cũng có ruộng “tốt - xấu - xa - gần”, vận động tạo điều kiện cho các hộ chuyển đổi ruộng đất Tuy nhiên khi thực hiện thì lại không đạt hiệu quả cao, không kích thích được người nông dân dồn đổi ruộng cho nhau; ruộng đất của

Trang 20

các hộ sản xuất manh mun, phân tán cả về diện tích cũng như về số thửa

* Công tác qui hoạch sử dụng đất chậm triển khai

Tình trạng nhiều diện tích đất nông nghiệp trong dự kiến chuyển mục đích phải dành lại để đấu thầu, diện tích đã giao rồi nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại bị cắt bớt lại để qui hoạch hay đất công ích sử dụng tuy tiện…là hậu quả của việc thiếu qui hoạch sử dụng đất chi tiết ở các cấp, đặc biệt là

ở các cấp địa phương do phải triển khai hoàn thành gấp rút chủ trương, kế hoạch thực hiện giao đất nông nghiệp của các cấp quản lý

* Kinh phí thực hiện chuyển đổi đất nông nghiệp là rất lớn

Khi tiến hành thực hiện giao đất nông nghiệp cho hộ nông dân, vấn đề lớn mà nước ta đang gặp phải đó là kinh phi để thực hiện đo đạc, chi phí đồ dùng sử dụng trong qui hoạch, chi phí thiết kế, chi phí bản đồ…Theo thống kê trung bình mỗi héc

ta mất từ 4-11 triệu đồng kinh phí đo đạc, không ít địa phương đã phải bán một phần đất công ích lấy kinh phí Theo Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, tổng kinh phí chuyển đổi riêng tại đồng bằng sông Hồng mất khoảng hơn 100 tỷ đồng

* Tư tưởng và trình độ hạn chế của người nông dân

Trong quá trình giao ruộng đất vẫn chưa có hệ thống phân chia hạng đất một cách công bằng Trong khi sản xuất nông nghiệp lại không đồng nhất giữa các vùng đất, người dân tiến hành dồn đổi trên cơ sở ruộng tốt xấu theo hạng mức về năng suất, sản lượng, mức độ dễ dàng trong các khâu canh tác Người dân ai cũng muốn lấy ruộng tốt, ruộng gần nên dẫn tới không thống nhất trong quyết định dồn đổi Họ không mấy tin tưởng dồn đổi sẽ được thửa ruộng tốt hơn hiện tại Do đó họ đòi hỏi hộ nào cũng phải có ruộng tốt, ruộng xấu, ruộng xa, ruộng gần Mặt khác, tâm lý của người nông dân là muốn phân tán ruộng đất để giảm thiểu nguy cơ mất trắng do thiên tai, dịch hại Cũng do khả năng trình độ KHKT kém, không được tiếp cận nhiều với tiến bộ kỹ thuật mới, không có vốn hoặc không mạnh dạn đầu tư nên người nông dân Việt Nam vẫn chưa có cái nhìn đúng đắn về hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa

2.2.2.4 Một số chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến tập trung và tích tụ ruộng đất

a Chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám

Trang 21

1945 đến nay

* Thời kỳ kháng chiến 1945 – 1954

Tháng 1/1948 Hội nghị lần thứ 2 BCHTW Đảng đã đề ra các chính sách ruộng đất trong thời kỳ kháng chiến, đã đề ra các định hướng cơ bản của việc tịch thu ruộng đất của địa chủ để chia cho dân nghèo

Tháng 2/1949 Chính phủ ra sắc lệnh tạm cấp ruộng đất của Việt gian và chia ruộng đất của của thực dân Pháp cho dân cày nghèo

Tháng 3/ 1952 Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời về sử dụng đất công điền, công thổ Đến thời điểm này số ruộng đất công ở 3.035 xã ở miền Bắc đã chia cho nông dân là 184.871 ha, chiếm 77% diện tích đất công điền, công thổ ở các địa phương

Tháng 11/1953 Hội nghị lần thứ Năm BCHTW Đảng khóa II đã thông qua cương lĩnh ruộng đất

Tháng 12/1953 Quốc hội đã thông qua Luật Cải cách ruộng đất

* Thời kỳ khôi phục kinh tế 1955 – 1957 ở miền Bắc

Tháng 9/1954 Bộ Chính trị ra quyết định thực hiện hoàn thành CCRĐ và Kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế (1955-1957)

Tháng 5/1955 Quốc Hội ban hành 8 chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp

Khi chiến tranh kết thúc, 140.000 ha ruộng đất bị bỏ hoang hóa; 200.000 ha không có nước tưới Sau 3 năm phục hồi kinh tế, 85% diện tích ruộng đất bỏ hoang

đã được phục hóa; 3 công trình đại thuỷ nông ( sông Cầu, Bái Thượng, Đô Lương), được khôi phục, 14 công trình trung thủy nông được xây dựng, hệ thống đê sông Hồng, sông cầu, sông Đáy được gia cố Sản xuất nông nghiệp phục hồi ( Sản lượng lương thực đạt 3.947.000 tấn ( so với 2.400.000 tấn năm 1939), đời sống nhân dân được cải thiện

Trang 22

3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế miền Bắc (1958-1960): Hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính trong toàn bộ dây chuyền cải tạo XHCN ở miền Bắc nước ta Kết quả đến cuối năm 1960 toàn miền Bắc đã căn bản hoàn thành xây dựng HTX với 41.400 HTX, thu hút 2,4 triệu hộ nông dân với 85,8 % số hộ và 76% diện tích ruộng đất tập thể Đồng thời với xây dựng HTX, trong 2 năm 1957, 1958 Nhà nước đã thành lập 6 tập đoàn sản xuất nông nghiệp, đến cuối năm 1959 đã thành lập

48 nông trường quốc doanh

* Thời kỳ hợp tác hoá - tập thể hoá 1961 – 1985

Quá trình hợp tác hóa nông nghiệp đã diễn ra nhanh chóng, với sự tập trung cao độ ruộng đất và các tư liệu sản xuất, lao động; từ hợp tác xã bậc thấp chuyển lên hợp tác xã bậc cao, ruộng đất đã được tập thể hóa triệt để, Chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất đã được thiết lập

Cuối năm 1974, đầu năm 1975 chủ trương xây dựng cấp huyện và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp được được triển khai mạnh mẽ Mô hình tập thể hóa nông nghiệp đã đạt đến đỉnh cao, hoàn chỉnh, phân công lao động trong HTX nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa Vào năm 1975 cả nước có 17.000 HTX, bình quân 1 HTX có tích đất canh tác là 115 ha, , 199 hộ và 337 lao động trong độ tuổi Đại Hội Đảng CSVN lần thứ IV (12/1976) khẳng định: “Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung, xóa bỏ kiểu tổ chức sản xuất và ăn chia theo đội Thực hiện việc quản lý, sử dụng ruộng đất tập trung, thống nhất trên quy mô HTX Các HTX phân phối lại ruộng đất cho các đội trên nguyên tắc tiện canh tiện cư với quy mô lớn, tránh phân tán, chia xẻ ruộng đất manh mún”

- Ngày 13/1/1980 Ban Bí thư TW Đảng đã ban hành Chỉ thị số 100 về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp

- Ngày 18/1/1984 Ban Bí thư TW Đảng đã ban hành Chỉ thị 35 “về khuyến khích phát triển kinh tế gia đình”; “Về đất cho phép các hộ gia đình nông dân tận dụng mọi nguồn đất đai mà HTX, nông lâm trường chưa sử dụng hết để đưa vào sản xuất”

Với các chính sách trên, trong giai đoạn từ 1981-1985 sản xuất nông nghiệp đã

có bước phát triển: Giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp tăng 6%, thu nhập quốc dân

Trang 23

trong nông nghiệp tăng 5,6%, sản lượng lương thực tăng 27%, năng suất lúa tăng 23,8%; diện tích cây công nghiệp tăng 62,1%, đàn bò tăng 33,2%, đàn lợn tăng 22,1%

b Thời kỳ đổi mới từ 1986 - nay

Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Về sản xuất nông nghiệp, Ngày 5 tháng 4 năm 1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 về “Đổi mới quản lý nông nghiệp” đã chỉ rõ: "Tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và hộ xã viên, đến người lao động phải điều chỉnh diện tích giao khoán, khắc phục tình trạng phân chia ruộng đất manh mún, bảo đảm cho người nhận khoán canh tác trên diện tích cũ quy mô thích hợp và

ổn định trong khoảng 15 năm"

Đổi mới cơ chế quản lý đất đai

Thể chế hoá chủ trương, chính sách đất đai của Đảng, Hiến Pháp CHXHCN Việt Nam năm 1992, đã quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân ( Điều 17); Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật (Điều 18)

Luật đất đai 1987, 1993, 1998, 2001, 2003 đã cụ thể hoá các quy định về đất đai của Hiến pháp Luật Đất đai đã quy định các nguyên tắc quản lý và sử dụng đất đai: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch, pháp luật, sử dụng đất đai hợp lý hiệu quả và tiết kiệm, bảo vệ cải tạo bồi dưỡng đất, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững; Các quyền của người sử dụng đất: được cấp GCNQSDD, được hưởng thành quả lao động và kết quả đầu tư trên đất được giao, được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền

sử dụng đất, được góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh; Nghĩa

vụ của người sử dụng đất: sử dụng đúng mục đích, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường, nộp thuế, lệ phí, tiền sử dụng đất, bồi thường khi được nhà nước giao đất, trả lại đất khi nhà nước có quyết định thu hồi Bộ luật dân sự cũng quy định cụ thể các quan

hệ dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất

Tình hình giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp

* Quỹ đất Nhà nước đã giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đến năm 2007

Trang 24

Tình hình giao đất cho các đối tượng sử dụng và quản lý trong cả nước được

DT NN (triệu ha)

CC (%)

DT phi NN (triệu ha)

CC (%)

(Số liệu thống kê đất đai 01/01/2008)

* Kết quả cấp GCN của cả nước (số liệu tổng hợp đến 31/12/2007)

Bảng 3: Thống kê tình hình cấp GCNQSD cho các loại đất

Chỉ tiêu Số lượng

(triệu giấy)

Diện tích (triệu ha)

% so với tổng DT cần cấp

(%) GCNQSD đất

GCN đất lâm

(Số liệu thống kê đất đai 01/01/2008)

Nếu thống kê mức độ % hoàn thành diện tích cần cấp GCNQSDĐ theo số tỉnh thì chúng ta có như sau

Trang 25

Bảng 4: Mức độ % hoàn thành diện tích cần cấp GCNQSDĐ theo số tỉnh

(Số liệu thống kê đất đai 01/01/2008)

2.2.2.5 Một số kết quả dồn điền đổi thửa đã đạt được ở nước ta

Từ năm 1997 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam có chủ trương lớn là thực hiện dồn điển đổi thửa, dưới tên gọi “dồn ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn” với mục đích

là cho xuất hiện những vùng chuyên canh lớn

Ở nhiều tỉnh, cuộc vận động "dồn điền, đổi thửa" đã được nông dân hưởng ứng, tạo thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ KH&CN vào các khâu làm đất, gieo trồng, chăm bón, thuỷ lợi, thu hoạch, chi phí giảm, năng suất tăng

Năm 2003, cả nước có 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có 6 đến 8 thửa đất với khoảng 0,3 - 0,5 ha/hộ, trong đó đất lúa từ 200 – 400 m2/thửa, đất rau và các loại cây màu khác thường dưới 100 m2/thửa, đất trồng cây lâu năm, cây cho thu nhập cao còn manh mún hơn Sau khi dồn điền đổi thửa, số thửa đất bình quân giảm

50 - 60%, có nơi giảm tới 80%, diện tích mỗi thửa tăng bình quân gấp 3 lần Việc

đó đã tạo điều kiện cho người nông dân cải tạo đồng ruộng, thâm canh, chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, đạt mức thu nhập từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng/ha Mặt khác, dồn điền đổi thửa đã làm tăng diện tích đất canh tác do giảm được phần đất dùng làm bờ ruộng vốn chiếm từ 2 - 4% tổng diện tích đất canh tác Cụ thể, tại tỉnh Hưng Yên, sau khi dồn điền đổi thửa, diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh đã tăng từ 89.000ha lên 92.000 ha

Qua hơn 10 năm thực hiện, DĐĐT đã có những chuyển biến đáng kể Ở Đồng bằng sông Hồng mở đầu bằng phong trào “đổi ruộng ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn”

Trang 26

của huyện ứng Hoà - Hà Tây (tháng 2/1993), đến nay hầu hết các tỉnh - thành phố ở Đồng bằng sông Hồng triển khai DĐĐT, số thửa giảm từ 21.548.260 thửa xuống còn 10.309.812 thửa Mỗi hộ trước đây sử dụng ruộng từ 8 - 18 thửa/ha, nay chỉ còn 3,5 - 4 thửa/ha

Dồn điền đổi thửa đã giúp nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi nội đồng là cơ sở để tăng năng suất và sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi Kết quả điều tra tại 6 xã thuộc 4 tỉnh Hải Dương, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Thái Bình cho thấy diện tích đất giao thông thuỷ lợi tăng 2-20%, tỷ lệ đất chuyển đổi từ trồng lúa kém hiệu quả sang làm trang trại kết hợp chăn nuôi, trồng cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản đạt 32-63% Đáng chú ý là diện tích đất canh tác sau dồn điền đổi thửa của các loại hộ có sự biến động lớn do nhóm hộ khá đấu thầu, thuê thêm đất công để mở rộng sản xuất Từ đó, thu nhập của các loại hộ đều tăng nhanh, đặc biệt tại những vùng chuyển đất lúa sang trồng cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản có thể tăng thu nhập 2-3 lần so với trước khi dồn điền đổi thửa Tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua, do việc dồn điền đổi thửa đã chuyển đổi 2.991 ha ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản

đã tăng thu nhập cho nông dân từ 3-4 lần Trong cuộc khảo sát của Viện Quy hoạch

và Thiết kế nông nghiệp tại 563 hộ nông dân cho thấy 100% số hộ đều cho rằng ruộng đất manh mún đã gây cản trở cho sản xuất nông nghiệp Đối với chính quyền địa phương, việc dồn điền đổi thửa cũng giúp quản lý tốt hơn diện tích đất ở địa phương đồng thời tăng nguồn thu ngân sách xã do việc đấu thầu đất mang lại

Xu hướng tích tụ và tập trung ruộng đất để phát triển kinh tế ngày càng được

mở rộng với nhiều hình thức như: nhận chuyển nhượng đất, thuê đất, mượn đất, dồn đổi, tập trung ruộng đất…

Dồn điền, đổi thửa không chỉ giúp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn thuận lợi mà còn giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân Tuy nhiên hiện nay việc thực hiện vẫn quá chậm, không theo kịp yêu cầu phát triển nông nghiệp trong tình hình mới

Ở Đồng bằng sông Hồng, sau 10 năm thực hiện chủ trương “dồn điền, đổi thửa” mới chỉ có 2 tỉnh Hà Nam, Bắc Ninh cơ bản khắc phục tình trạng manh mún đất đai Khó khăn lớn nhất khiến việc dồn điền đổi thửa bị chậm trễ là thiếu kinh

Trang 27

phí đo đạc Trung bình mỗi héc ta mất từ 4 - 11 triệu đồng, không ít địa phương đã phải bán một phần đất công ích lấy kinh phí Theo Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, tổng kinh phí dồn điền, đổi thửa tại 2.011 xã ở vùng đồng bằng sông Hồng mất khoảng hơn 100 tỷ đồng

Qua quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất đã bộc lộ những tồn tại, vướng mắc cần được tháo gỡ về cơ chế chính sách như:

* Chưa có quy hoạch về phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, theo hướng hiện đại bền vững;

* Mức hạn điền thấp, thời hạn sử dụng đất ngắn đã không khuyến khích nông dân tích tụ ruộng đất và yên tâm đầu tư phát triển sản xuất lâu dài

* Chưa có chính sách khuyến khích đầu tư cơ sở hạ tầng phù hợp với tích tụ ruộng đất để sản xuất hàng hoá lớn

* Chưa có chính sách hỗ trợ đào tạo quản lý, kỹ thuật, thông tin thị trường, khuyến khích liên kết, chế biến và tiêu thụ nông sản cho nông dân tích tụ ruộng đất phát triển kinh tế trang trại

* Chưa có chính sách đào tạo, chuyển đổi nghề cho nông dân để rút bớt lao dộng nông nghiệp, tạo tiền đề cho tích tụ ruộng đất

2.2.3 Một số mô hình dồn điền đổi thửa của các địa phương ở nước ta

1 Phong trào ở Hà Tây

Phong trào DĐĐT ở Hà Tây khởi điểm từ mô hình DĐĐT ở Ngọc Động, huyện Ứng Hòa những năm 1996 – 1997, sau đó được nhân rộng ra toàn tỉnh, thực hiện trong hai giai đoạn: 1997 – 2005 và 2006 – 2007 Giai đoạn 1997 – 2005, số thửa ruộng của tỉnh từ 2,96 triệu thửa giảm xuống còn 1,15 triệu thửa

Một số huyện thực hiện tốt việc DĐĐT trong giai đoạn này là Phú Xuyên, Ứng Hòa và một số xã đã thực hiện DĐĐT được 100% diện tích như Liên Châu (Thanh Oai), Ngọc Động (Ứng Hòa), mỗi hộ dân từ chỗ sử dụng 20 – 25 thửa ruộng, giảm xuống chỉ còn 1 – 2 thửa Sau DĐĐT, Hà Tây đã hình thành 1.491 trang trại, vườn trại Giá trị thu nhập, hiệu quả trên một đơn vị canh tác tăng cao, các mô hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi được hình thành và nhân rộng

Có địa phương hoàn chỉnh quy hoạch đất đai, quy hoạch cây trồng rồi phân vùng

Trang 28

trồng cây ăn quả, vùng lúa và cây vụ đông, vùng chuyên màu, vùng lúa và vùng nuôi cá Sau đó các hộ xã viên tự nguyện đăng ký nhận khoán tại các vùng và tiến hành chia hoặc gắp thăm nhận ruộng Một số địa phương thì tập trung quy hoạch vùng trũng, vùng xa để các hộ tự nguyện đăng ký và chuyển đổi sang mô hình lúa -

cá - chăn nuôi; Vùng ruộng tốt sẽ bù giữa các hộ hoặc gắp thăm chia lại Cũng có địa phương do có nghề phụ hoặc nhiều hộ gia đình đi làm ăn xa, rất sáng tạo, phân vùng các thửa ruộng thành các lô rộng từ 1 – 5 ha rồi tổ chức đấu thầu hoặc đăng ký nhận ruộng theo nhóm hộ, và giao cho một hộ canh tác, chia giá trị trả lợi những hộ không làm Nhiều địa phương, tập thể làm trung gian, khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ gia đình tự nguyện chuyển đổi ruộng

Tuy nhiên, số thửa ruộng bình quân 1 hộ trước khi chuyển đổi có 7,7 thửa, sau khi DĐĐT vẫn còn 4,2 thửa; Số xã, thôn vẫn chưa thực hiện được DĐĐT còn nhiều , do đó Hà Tây tiếp tục thực hiện DĐĐT giai đoạn 2, với mục tiêu mỗi hộ sản xuất nông nghiệp chỉ có từ 1 – 2 thửa ruộng; Quy hoạch và tăng diện tích vùng chuyển đổi, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi Từ năm 2006 đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện DĐĐT thêm khoảng 15.000 ha đất nông nghiệp

2/ Phong trào huyện Lâm Thao – Phú Thọ

Năm 2004, trước khi triển khai NQ 18, huyện Lâm Thao đã tiến hành quy hoạch lại vùng sản xuất nông nghiệp Huyện đầu tư kinh phí hợp đồng với các cơ quan chuyên môn khảo sát thiết kế từ tổng thể tới từng xã Nội dung quy hoạch được các khu dân cư, HĐND xã, thị trấn thông qua Từ đó làm cho nhân dân địa phương nắm bắt sâu, hiểu kỹ về thực trạng sản xuất, địa hình ở địa phương Qua đó

có suy nghĩ, định hướng cho gia đình, khu, xóm để bố trí sản xuất phù hợp Đặc biệt những hộ có điều kiện về vốn, kỹ thuật, lao động có thể tìm được ngành nghề, địa bàn phát triển sản xuất phù hợp vào các loại hình như vùng sản xuất cây lương thực; cây lương thực với cây mầu; đất nuôi trồng thủy sản; đất trang trại, bố trí phát triển ngành nghề TTCN, dịch vụ Qua quy hoạch, huyện đã xác định được quỹ đất làm hạ tầng, hướng huy động nguồn lực đầu tư phát triển Sau quy hoạch, các xã bám vào đây để triển khai phương án dồn đổi Trong đó có 2 xã Sơn Dương và Tứ Xã đã cơ bản hoàn thành Những xã mới triển khai phương án dồn đổi song nhờ có quy hoạch

Trang 29

nên đã khoanh vùng đất chuyên dụng, chuyển mục đích sản xuất tạo điều kiện cho

hộ dân đầu tư vốn, kỹ thuật, lao động phát triển kinh tế trang trại, ngành nghề Tiêu biểu như các xã: Sơn Vi, Cao Xá, Bản Nguyên, Vĩnh Lại đã chuyển hàng trăm ha sang nuôi, trồng thủy sản mang lại hiệu quả cao hơn hẳn trồng lúa Nhiều xã đã hình thành cụm làng nghề TTCN

3/ Phong trào ở Hưng Yên

“Khoán 10” lần đầu tiên nông dân được làm chủ trên mảnh ruộng của mình Nhưng tư tưởng làm ăn manh mún chưa thể một sớm một chiều bỏ ngay được, người ta vẫn đòi hỏi chế độ bình quân Hệ quả là sau khi chia ruộng, giao ruộng, bình quân mỗi hộ nông dân nhận trên dưới 10 mảnh ruộng Vấn đề đầu tư cho sản xuất bị hạn chế, nhất là trên những thửa ruộng quá nhỏ, dẫn tới năng suất, hiệu quả không cao Sau năm 2003, thực hiện dồn thửa đổi ruộng, mỗi hộ vẫn còn trung bình

3 – 4 mảnh Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của tỉnh thấp, trong khi

số mảnh ruộng vẫn còn cao như vậy nên dù ruộng đã liền vùng, liền khoảnh nhưng

số hộ có ruộng liền khoảnh rộng trên 1 mẫu không nhiều Sau khi có Chỉ thị số 29 - CT/TU ngày 8/9/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về khuyến khích phát triển kinh

tế trang trại trên địa bàn tỉnh, trong quá trình dồn thửa đổi ruộng, cùng với việc mỗi

hộ được dồn đổi ruộng theo quy định thì các hộ đã chú ý đến việc tự dồn đổi cho nhau để những hộ mạnh dạn, có ý chí, nghị lực, ham làm giàu đề nghị cấp có thẩm quyền cho phép chuyển đổi sang làm mô hình kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại không những thúc đẩy việc khai thác có hiệu quả đất đai vào sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, cải thiện môi trường sinh thái mà còn phát huy được lợi thế của từng địa phương, từng vùng sản xuất hàng hoá tập trung Nhờ đó, hiệu quả thu được từ phát triển kinh tế trang trại được tăng lên, đến nay đạt bình quân gần 190 triệu đồng/trang trại, tăng gần 100 triệu đồng so với năm 2003 Nhiều hộ nông dân trở nên giàu có hơn từ làm kinh tế trang trại, bộ mặt nông thôn

có nhiều khởi sắc

Tuy đã bớt phần manh mún nhưng đợt dồn thửa đổi ruộng năm 2003 mới chỉ

là bước khởi đầu Quy mô diện tích hiện tại chưa đủ, một số địa phương đã có cách làm sáng tạo để ruộng đất được tích tụ với diện tích lớn hơn, đáp ứng quy mô sản

Trang 30

xuất Xã Hiệp Cường (Kim Động) là một ví dụ Anh Vũ Văn Phong, Chủ nhiệm hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã cho biết: “Trong điều kiện hợp tác xã không có được quyền sử dụng một mảnh ruộng đủ rộng nhưng chúng tôi vẫn có thể sản xuất hàng hoá với quy mô lớn bằng cách vận động các hộ nông dân trên cùng cánh đồng hợp tác sản xuất” Theo anh Phong, mô hình sản xuất ngô giống mà hợp tác xã phối hợp với Viện ngô Trung ương thực hiện từ năm 2007 đang phát huy hiệu quả rất tốt, thu nhập bình quân gần 1,1 triệu đồng/sào/vụ, cao hơn ngô thường 500 nghìn đồng/sào trong khi quy trình chăm sóc, thụ phấn chỉ tăng thêm so với ngô thường khoảng 3 công lao động Để có được quy hoạch vùng sản xuất ngô giống rộng 4 ha như hiện nay, các hộ dân trong vùng cam kết không trồng lai bất kỳ diện tích ngô nào khác trong vùng đã quy hoạch, chấp hành nghiêm các quy trình sản xuất ngô giống Song do ruộng vẫn thuộc quyền sử dụng của riêng từng hộ, trình độ sản xuất của các hộ lại không đồng đều làm hạn chế về độ đồng đều của sản phẩm (năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế)

4/ Phong trào ở Bắc Ninh

Thực tế sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Bắc Ninh hiện nay cho thấy, ruộng đất chia quá nhỏ, trung bình mỗi hộ 6 - 8 sào nhưng thành 10 - 15 mảnh ở các xứ đồng khác nhau Ruộng đất bị xé lẻ cản trở việc chuyển giao áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, nhất là khâu cơ giới hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nên chi phí lao động cao dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp Hạn chế này đã được các cấp, các ngành chỉ ra

từ lâu, cụ thể là Nghị quyết số 03/NQ-TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc

“Chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn” Song việc thực hiện Nghị quyết không triệt để, thiên về vận động các hộ nông dân tự nguyện chuyển đổi nên kết quả không cao, tình trạng ruộng đất manh mún vẫn chưa khắc phục được Sau Nghị quyết số 03, một số địa phương tiếp tục chuyển đổi ruộng đất ở nhiều mức độ khác nhau Điển hình là Tiên Du, năm 2003 đã chỉ đạo việc “dồn điền đổi thửa” trên quy mô toàn huyện, kết quả bình quân 13 mảnh/hộ, giảm xuống còn 5 mảnh/hộ, bước đầu hình thành một số vùng sản xuất tập trung Tuy nhiên, việc “dồn điền đổi thửa” ở Tiên Du còn hạn chế do chưa quy hoạch lại bờ vùng, bờ thửa, kênh mương nội đồng, ảnh hưởng đưa cơ giới hoá vào các khâu sản xuất Với quy mô ruộng đất

Trang 31

5 - 6 mảnh/hộ Tính chất của các vùng sản xuất tập trung này vẫn chưa chuyên môn hoá, mới chỉ dừng lại ở một nhóm hộ có cùng một loại hình sản xuất tập hợp gần nhau Vì thế mà năng suất, chất lượng sản phẩm cũng không đồng đều nhau, khó tập trung được một khối lượng hàng hoá lớn để ký kết các hợp đồng tiêu thụ hoặc xây dựng nhà máy chế biến Năm 2005, HTX Trúc ổ, xã Mộ Đạo (Quế Võ) đã dồn điền đổi thửa thành công: Với 144 ha, 1800 người, 430 hộ, bình quân 780 m2/khẩu Trước Trung bình 10 - 15 mảnh, sau dồn điền đổi thửa một hộ còn 1 - 3 mảnh, có gia đình chỉ còn 1 mảnh, diện tích 1,5 - 2 mẫu Điều đặc biệt là việc dồn điền đổi thửa tại HTX Trúc ổ gắn liền với việc quy hoạch đồng ruộng theo vùng sản xuất tập trung: Nuôi trồng thuỷ sản 18 ha; sản xuất giống 40 ha; cấy lúa hàng hoá HTX còn quy hoạch lại bờ vùng bờ thửa, kênh mương nội đồng, tạo thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá Đến nay, HTX Trúc ổ đã sản xuất được 3 vụ, người dân phấn khởi mạnh dạn đầu tư thâm canh nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi.Ông Nguyễn Đức Chiến, Chủ tịch UBND xã Mộ Đạo đánh giá: Sau chuyển đổi ruộng đất đã tạo điều kiện cho HTX Trúc ổ đưa nhanh cơ giới hoá vào phục vụ sản xuất, trước tiên là làm đất, tiếp đến khâu thu hoạch và gieo cấy, đồng thời tạo thuận lợi trong việc chuyển giao KHKT Nâng cao tính chủ động trong điều hành sản xuất của HTX như: Xây dựng vùng sản xuất giống, vùng sản xuất lúa hàng hoá Chủ động điều tiết tưới, tiêu nhờ hệ thống kênh cứng đã được xây dựng mới Ngoài ra còn giảm ngày công lao động, tiết kiệm vật tư nông nghiệp,

tỷ lệ hao hụt giảm Nhờ đó đã góp phần nâng cao năng suất lúa từ 55 tạ lên gần 60 tạ/ha Thời gian tới, xã Mộ Đạo tiếp tục triển khai dồn điền đổi thửa ở các HTX còn lại, phấn đấu đến đầu năm 2008 thực hiện xong trên địa bàn toàn xã Rõ ràng việc tích tụ ruộng đất đã mang lại nhiều cơ hội để mỗi địa phương, mỗi gia đình có điều kiện đầu tư thâm canh, đưa cơ giới hoá, thay thế dần lao động thủ công, quy vùng sản xuất hàng hoá, áp dụng tiến bộ KHKT, đây là những yếu tố cần thiết để hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại Để thực hiện được điều này, trước hết phải xác định rõ đất đai là tài sản, là tư liệu sản xuất không thể thiếu đối với mỗi hộ nông dân Xoá bỏ tập quán canh tác, manh mún của nông dân là một việc làm không đơn giản, vì vậy đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hiệp lực các cấp chính quyền, nhất là sự

Trang 32

hợp tác từ phía người dân Bên cạnh đó tỉnh, huyện cần có chính sách đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong các khu vực chuyển đổi như: Đường giao thông nội đồng, đường điện, kiên cố hóa kênh mương, đồng thời hướng dẫn nông dân áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi, để người dân yên tâm sản xuất [12]

Kết luận: Từ bài học kinh nghiệm của các địa phương thực hiện dồn đổi

ruộng đất cho thấy, sau nhiều năm chia ruộng đất theo NĐ 64 đến hộ nông dân, mặt bằng bị phá vỡ, cơ cấu sản xuất do các hộ tự chủ không tạo thành vùng sản xuất qui

mô lớn Tiến hành chủ trương dồn điền đổi thửa phải linh hoạt theo từng vùng, theo đặc điểm của địa phương để đạt mục tiêu cuối cùng là giảm tối đa số thửa ruộng nhỏ hẹp, manh mún và góp phần xây dựng các vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, gia tăng hiệu quả trên một đơn vị diện tích canh tác, bảo đảm phát triển nông nghiệp bền vững Bên cạnh đó, các địa phương, các ngành có liên quan cần chủ động lên kế hoạch, thực hiện các bước quản lý đất đai song song với DĐĐT như: Quy chủ lại ruộng đất, phân vùng, giải thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp mới; rà soát, sử dụng có hiệu quả các diện tích đất dôi dư, đất quỹ công; Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về DĐĐT gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi tới các cấp chính quyền, đoàn thể và hộ nông dân

2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan

Nghiên cứu của tác giả Quyền Đình Hà và Vũ Thị Bình về “Thực trạng công tác chuyển đổi ruộng đất và hiệu quả sử dụng đất của nông hộ ở một số địa phương vùng đồng bằng sông Hồng” (Trường ĐH NN I, 2003) đã cho thấy ruộng đất manh mún đã ảnh hưởng xấu đến sự phát triển sản xuất, làm cho người chủ sử dụng không thể áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, cản trở sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn Từ kinh nghiệm chuyển đổi ruộng đất của một số địa phuơng đã cho thấy quá trình tổ chức sản xuất của hộ nông dân đã tiết kiệm được thời gian, chi phí sản xuất, thay đổi tập quán canh tác sản xuất nhỏ lẻ, cơ giới hóa sản xuất trong nhiều khâu sản xuất, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, mạnh dạn đầu tư hiện đại cơ sở vật chất sản xuất, áp dụng thành công nhiều tiến bộ KHKT, công nghệ mới góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn

Trang 33

Nghiên cứu của tác giả Lê Đức Thịnh (Viện KHKTNN Việt Nam, 2003) cho rằng ruộng đất nhỏ làm giảm lợi thế cạnh tranh của một số sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh giá nông sản không ổn định Theo tác giả lý do của những hạn chế

này đó là: Thứ nhất, qui mô sản xuất nhỏ dẫn đến các nông hộ không có sự thích ứng với giá nông nghiệp bấp bênh như hiện tại Thứ hai, qui mô sản xuất nhỏ làm

tăng chi phí sản xuất và lưu thông, đặc biệt là chi phí về giao dịch

Tập trung ruộng đất là điều kiện cần thiết để chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất tập trung chuyên môn hóa, tiến tới sản xuất hàng hóa chất lượng cao, có sức cạnh tranh cao trong nền kinh tế thị trường Theo tác giả Hoàng Văn Cường (ĐH Kinh tế Quốc dân, 2002) cần phân biệt 3 vùng: Vùng hàng hóa phát triển; vùng kinh tế kém phát triển, kinh tế tự cung tự cấp và vùng đông dân sản xuất

tự cung tự cấp

Trang 34

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của Thị trấn Nghèn

a) Vị trí địa lý, địa hình

Thị trấn Nghèn là một xã trung tâm của huyện Can lộc,địa hình tương đối bằng phẳng và hơi trũng, diện tích đất canh tác lúa nằm dọc theo con sông Nghèn Phía Bắc giáp xã Thiên Lộc và Vượng Lộc

Phía Tây giáp xã Khánh Lộc và Xuân Lộc Phía Nam giáp xã Tiến Lộc Phía Đông giáp xã Tùng Lộc

Địa hình nhìn chung là bằng phẳng nhưng mức độ không đồng đều Trong khu vực nội đồng có những giải đất nghiêng đổ ra sông gọi là những lạch trọt Nếu bờ

kè thủy lợi không tốt thường bị mất nước qua những vùng này Đất đai tương đối tốt được phân thành 4 hạng, từ hạng 2 đến hạng 5, chủ yếu là đất hạng 2 và 3 Một số diện tích ven sông nhiễm mặn, mặc dù đã từ lâu Nhà nước và nhân dân địa phương thường xuyên quan tâm tu bổ đê điều ngăn nước biển xâm lấn

Giao thông buôn bán thuận tiện, trục chính quốc lộ 1A đi qua toàn bộ chiều dài thị trấn tạo cho vùng khả năng phát triển về kinh tế xã hội, mở rộng giao lưu buôn bán

b) Khí hậu thời tiết

Thị trấn Nghèn thuộc vùng giữa của Hà Tĩnh, mang đặc trưng khí hậu thời tiết

Hà Tĩnh với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa Hà Tĩnh là vùng chịu tác động của các vùng không khí ở các tâm khí áp khác nhau nên khí hậu rất phức tạp như thiên tai, bão lũ, gió khô nóng, rét đậm kéo dài Mùa mưa hay bị ngập úng, mùa khô thường bị hạn hán Hiện nay nhờ đầu tư cho hệ thống thủy lợi, kênh mương cứng đã chủ động nguồn nước tưới; một số diện tích sử dụng các trạm bơm tại chỗ lấy nước các hồ đập, số khác lấy nước qua hệ thống thủy lợi của huyện Bà con nông dân sau khi dồn điền đổi thửa đã tập trung đắp bờ giữ nước nên đã giữ nước ruộng trong

Trang 35

thời gian dài khi thời tiết nắng nóng

Diễn biến thời tiết của vùng thị trấn từ năm 2003 – 2007 được thể hiện qua bảng 1 ở phần phụ lục

Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất khoảng 20.5 vào tháng 1; cao nhất ở 3 tháng là tháng 6, 7 và 8 khi nền nhiệt khoảng 300C; kết hợp với gió Tây Nam nóng khô và lượng mưa ít gây ảnh hưởng lớn tới sản xuất

Lượng mưa trong năm xấp xỉ đạt 2000 mm, tập trung vào tháng 9 tới tháng 11

Độ ẩm trung bình cao, khoảng từ 83% - 87 kéo dài đã hạn chế cây trồng phát triển

Đặc điểm khí hậu như trên đã gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp Chính

vì vậy việc hình thành cơ cấu cây trồng hợp lý, đầu tư hệ thống cơ sở vật chất phục

vụ sản xuất, chủ động hạn chế khó khăn do thời tiết là nhiệm vụ quan trọng

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

a) Tình hình dân số và lao động

Dân số của thị trấn Nghèn đông nhất toàn huyện Qua bảng 5 chúng ta thấy, năm 2008 dân số thị trấn là 13.794 người ; tốc độ tăng dân số ở mức độ vừa phải, bình quân chung 3 năm 2006 – 2008 tăng lên 4,83%: nữ tăng mạnh hơn nam với mức tăng sau 3 năm là 5,45 còn nam tăng 4,17

Số lượng lao động trong tuổi lao động gần gấp đôi số lượng lao động ngoài tuổi lao động Năm 2008 dân số nằm trong độ tuổi lao động là 9.267 ngưòi, chiếm 67,18% Đây là nguồn lực đông đảo, có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội của thị trấn Song cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là vấn đề về việc làm cho lao động Qua 3 năm thì dân số trong tuổi lao động có xu hướng tăng mạnh hơn số lượng ngoài tuổi lao động: trong tuổi lao động tăng lên bình quân là 5,23% và ngoài tuổi lao động tăng 4,02%

Bình quân qua 3 năm thì tổng số hộ tăng lên không đáng kể với 1,96%, từ 3.202 hộ (năm 2006) lên 3.329 hộ (năm 2008)

Trang 36

Bảng 5: Tình hình dân số và lao động của thị trấn Nghèn qua 3 năm

- Trong tuổi lđ Người 8.369 66,70 9.188 70,00 9.267 67,18 109,78 100,85 105,23

- Ngoài tuổi lđ Người 4.184 33,30 3.938 30,00 4.527 32,82 94,12 114,96 104,02

II Tổng số hộ Hộ 3.202 100 3.287 100 3.329 100 102.65 101,27 101,96

1 Theo ngành nghề

a Hộ nông nghiệp Hộ 2.081 65,00 2.103 64,00 2.064 62,00 101,06 98,15 99,59

- Hộ NN khá Hộ 728 35,00 745 35,43 784 38,00 102,33 105,23 103,77 -Hộ NN TB Hộ 853 41,00 892 42,41 949 46,00 104,57 106,39 105,48

- Hộ NN nghèo Hộ 500 24,00 466 22,16 331 16,00 93,20 71,03 81,36

b Hộ phi NN Hộ 1.121 35,00 1.184 36,00 1.265 38,00 105,62 106,84 106,23 III Tổng số LĐ LĐ 8.369 100 8.394 100 8.417 100 100,30 100,27 100,29

1 Lao động NN LĐ 7.113 85,00 6.884 82,00 6.733 78,00 96,78 97,81 97,29

2 Lao động phi NN LĐ 1.256 15,00 1.510 18,00 1.684 22,00 120,22 111,52 115,79 Một số chỉ tiêu

- LĐ trong tuổi/hộ NN LĐ/hộ 4,02 4,36 4,49 108,46 102,98 105,68

Trang 37

Trong tổng số hộ của toàn thị thì số hộ sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn tuy tỷ lệ ngày càng giảm qua 3 năm Bình quân 3 năm số lượng hộ làm nông nghiệp có xu hướng giảm khi chỉ đạt 99,59% qua 3 năm Trong tổng số hộ nông nghiệp thì số lượng hộ nông nghiệp khá và trung bình chiếm tỷ lệ khá lớn và đang tăng lên rõ rệt qua 3 năm Bình quân qua 3 năm số hộ khá và trung bình tăng lần lượt là 3,77% và 5,48% Tỷ lệ số hộ làm nông nghiệp nghèo vẫn chiếm rất lớn mặc

dù có giảm qua 3 năm, với mức giảm 18,64% Số lượng hộ phi nông nghiệp ngày càng tăng qua các năm Cụ thể năm 2006 là 1.121 hộ, chiếm 35%; năm 2007 là 1.184 hộ, chiếm 36% và năm 2008 số lượng này là 1.265 hộ, chiếm 38% Qua 3 năm số hộ phi nông nghiệp tăng bình quân là 6,23%

Mặc dù lao động trong tuổi/hộ nông nghiệp có xu hướng tăng lên qua 3 năm gần đây với tốc độ tăng trung bình là 5,68% nhưng lao động nông nghiệp/hộ nông nghiệp lại có xu hướng giảm với tốc độ trung bình qua 3 năm là 2,37% Điều này thể hiện rằng đang có sự phân công lại lao động theo hướng giảm trong nông nghiệp Đây là tín hiệu đáng mừng, đánh dấu bước chuyển dịch kinh tế đúng hướng của thị trấn

b) Tình hình sử dụng đất đai

Qua khảo sát diện tích đất tự nhiên của thị trấn Nghèn là 1.159 ha bao gồm cả phần diện tích sông Nghèn chảy qua và một phần đồi ở phía Đông Trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm lớn nhất với trên 55% tổng diện tích tự nhiên Diện tích đất nông nghiệp chủ yếu là trồng cây hằng năm mà cây lúa nước là chính, ngoài ra một phần nhỏ diện tích nhân dân trồng thêm hoa màu và phần diện tích nuôi trồng thuỷ sản Diện tích đất sản xuất nông nghiệp qua 3 năm thì vẫn tăng lên bình quân là 0,31% nhưng đang có xu hướng giảm do quá trình đô thị hoá nhanh chóng trên địa bàn, một phần diện tích bị nhà nước thu hồi đền bù để xây dựng các công trình sản xuất, sinh hoạt (năm 2008 đã giảm tới 3,44 ha so với năm 2007) Diện tích đất lúa là chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đô thị hoá cũng như sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Diện tích đất lúa liên tục giảm 3 năm nay với mức bình quân là 3,31% Đất rau màu hầu như không có sự thay đổi gì lớn Đáng chú ý là diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản đang tăng lên nhanh chóng Năm 2006 diện tích nuôi trồng

Trang 38

thuỷ sản mới có 160 ha thì đến 2008 con số này là 191,5 ha với mức tăng bình quân qua 3 năm là 9,4% và đang có xu hướng tăng nhanh trong thời gian tới Đây là tín hiệu tốt đối với việc nâng cao mức thu nhập cho người nông dân theo hướng tăng tỷ trọng hàng hoá Qua khảo sát thì đất quy hoạch cho giao thông thuỷ lợi cũng chiếm

tỷ lệ cao với gần 10% diện tích đất tự nhiên Đây cũng là điều dễ hiểu vì đồng ruộng sản xuất nông nghiệp ở đây khá phức tạp, tưới tiêu chủ yếu phải lấy từ các hồ đập ở nhiều địa phương khác; mặt khác lại chịu ảnh hưởng của sự xâm nhập của thuỷ triều sông Nghèn nên càng cần phải đảm bảo Tình hình sử dụng đất đai tại thị trấn được thể hiện qua bảng 6

Trong những năm qua thì một số lượng khá lớn người dân trước đây sản xuất nông nghiệp đang chuyển hướng sản xuất, tìm kiếm những việc làm mới do đó diện tích sản xuất nông nghiệp đang có xu hướng mở rộng hơn so với lực lượng sản xuất nông nghiệp Các chỉ tiêu như đất NN BQ/hộ NN, đất NN BQ/LĐ NN tăng lên qua các năm với mức tăng bình quân qua 3 năm nay lần lượt là 0,73% và 3,10% Điều này cũng cho thấy qua trình tập trung ruộng đất đã tạo điều kiện cơ cấu lại lực lượng lao động, giảm tỷ lệ lao động trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thị trấn

có hiệu quả hơn

c) Điều kiện cơ sở hạ tầng

Điều kiện cơ sở vật chất của thị trấn trong những năm qua được đầu tư mạnh

mẽ tao điều kiện tốt thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Hệ thống Điện - Đường - Trường - Trạm ngày càng được củng cố, không ngừng đầu tư làm mới, tu bổ

* Hệ thống điện

Trên địa bàn 100% số hộ dân được cung cấp điện thường xuyên, đầy đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt Với 2 trạm biến áp và 105 km đường dây chính, điện đã vào tận những khu vực cách trở nhất của thị trấn như vùng dân cư Xuân Thuỷ, Tân Vịnh

Trang 39

Bảng 6: Tình hình sử dụng đất đai của Thị trấn Nghèn qua 3 năm

VII Đất giao thông thủy lợi 110 9,49 112,69 9,73 116 10,01 102,44 102,94 102,69

Trang 40

* Hệ thống đường giao thông

Do là khu vực trung tâm của huyện, có trục quốc lộ chạy qua nên hệ thống giao thông của thị trấn rất được quan tâm Trong những năm qua thì đường bê tông

và đường nhựa đã thay thế cho những con đường đất tạo thuận lợi cho người dân trong việc đi lại Năm 2008 đường đất chỉ còn lại 18,5 km trong khi đường bê tông

* Hệ thống công trình công cộng

Thị trấn Nghèn là địa bàn trung tâm của huyện do đó hệ thống các công trình công cộng cũng được đầu tư khá khang trang Trên địa bàn thị trấn hiện tại có 2 chợ đang hoạt động là chợ Bên Tường và chợ Nghèn Riêng chợ Nghèn còn là trung tâm giao lưu buôn bán của cả huyện, đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hoá cho nhân dân trong huyện

Được đầu tư mạnh nhất có lẽ là hệ thống trường học Với các cấp học khác nhau thì trường lớp thường xuyên được quan tâm, đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, đào tạo bồi dưỡng nhân tài Hiện nay thị trấn Nghèn có toàn bộ 8 trường chia đều cho các cấp học từ mầm non tới cấp THPT Trong thị trấn có 1 cơ sở y tế với đầy đủ các trang thiết bị phục vụ tốt cho việc khám chữa bệnh của nhân dân Bưu điện của thị trấn cũng nằm ngay trên đường quốc lộ thuận tiện cho việc sinh hoạt của người dân Hệ thống văn hoá của xã cũng thường xuyên được chú trọng bởi vì đây là nơi gặp gỡ, giao lưu, nắm bắt nguyện vọng của nhau, học hỏi kinh nghiệm trong sản xuất cũng như trong cuộc sống của những người dân với nhau Hầu hết các xóm trong thị trấn đều có nhà văn hoá hoạt động và văn phòng UBND xã đang được xây

Ngày đăng: 23/03/2018, 15:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Bài: “Sức sống mãnh liệt của trang trại nông nghiệp gắn với các tổ chức mạnh của nông dân Hà Lan”. Tạp chí Nông thôn mới. Số 180/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức sống mãnh liệt của trang trại nông nghiệp gắn với các tổ chức mạnh của nông dân Hà Lan
12. Bài “Dồn điền đổi thửa ở Đồng bằng sông Hồng tiền đề phát triển hàng hóa lớn”. Tác giả: ĐÌNH NAM. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dồn điền đổi thửa ở Đồng bằng sông Hồng tiền đề phát triển hàng hóa lớn
5. Website http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid Link
13. Đào Thắm. Báo Hưng yên. Số 1.214 ngày 13/01/2009 14. Website: http://www.baobacninh.com.vn Link
1. PGS.PTS Phạm Thị Mỹ Dung. Giáo trình Phân tích kinh tế nông nghiệp. Trang 144. NXB Nông nghiệp Khác
2. Đặng Văn Tiến. Bài giảng Kinh tế hộ nông dân (Trang 43 - Chương 5). NXB Nông nghiệp Khác
3. Báo cáo đề dẫn tích tụ ruộng đất để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững. tác giả: Lã Văn Lý - Cục trưởng Cục Kinh tế Hợp tác và PTNT, Bộ NN&PTNT Khác
4. Website ipsard.gov.vn và Hướng dẫn việc DĐĐT trong sản xuất nông nghiệp, Bộ TN và MT(2003), Hà Nội Khác
6. Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 về giao đất cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất Khác
7. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997). Kinh tế nông nghiệp. NXB Nông nghiệp Khác
9. Bùi Thị Ngát. Luận văn tốt nghiệp đại học. 2008. Tác động của thực hiện dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Khác
10. Lê Trí Nhượng. Luận án thạc sỹ. 2002. Đánh giá thực trạng chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp và ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế nông hộ ở huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hoá Khác
15. Tài liệu kỳ họp thứ 11 – HĐND thị trấn Nghèn khoá III (năm 2008) Khác
16. Bản dự thảo phương án chuyển đổi ruộng đất của các HTX Khác
17. Đề án chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp tại thị trấn Nghèn năm 2002 18. Bản tổng hợp kết quả dồn điền đổi thửa, thị trấn Nghèn năm 2003 Khác
19. Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng năm. 2006 phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng năm 2007 Khác
20. Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng năm 2007 phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng năm 2008 Khác
21. Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng năm 2008 phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng năm 2009 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w