Hướng phát triển tín dụng thương ở Việt Nam...15 KẾT LUẬN...16 LỜI MỞ ĐẦU Trong thời đại nền kinh tế thị trường trở thành một nền kinh tế của toàn cầu thì doanh nghiệp là một chủ thể qua
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
o0o
-BÀI THẢO LUẬN MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: Phân tích hoạt động tín dụng thương mại ở Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn :
Nhóm thực hiện : 08
Lớp HP : 1771EFIN2811
HÀ NỘI - 2017
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 3
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1 KHÁI NIỆM 3
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI 4
1.3 CÔNG CỤ LƯU THÔNG CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI .5 1.3.1 Đặc điểm của thương phiếu: 5
1.3.2 Một số điểm khác nhau giữa hối phiếu và lệnh phiếu: 6
1.3.3 Tính chất của thương phiếu: 6
1.3.4 Ích lợi của thương phiếu: 7
1.3.5 Nhược điểm của thương phiếu 7
1.4 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI 8
1.5 ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI 9
1.5.1 Ưu điểm 9
1.5.2 Nhược điểm 10
1.6 HẠN CHẾ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI 11
II THỰC TRẠNG TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 11
2.1 TÌNH HÌNH TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 11
2.2 NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 12
Khó khăn 12
Trang 3Thuận lợi 13
2.3 CÁCH KHẮC PHỤC VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 13
2.3.1 Các giải pháp khắc phục khó khăn 13
2.3.2 Hướng phát triển tín dụng thương ở Việt Nam 15
KẾT LUẬN 16
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại nền kinh tế thị trường trở thành một nền kinh tế của toàn cầu thì doanh nghiệp là một chủ thể quan trọng trong nền kinh tế, là nơi quyết định về các quá trình sản xuất được đưa ra Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải
sử dụng các đầu vào để sản xuất ra đầu ra (sản phẩm, dịch vụ) Tại sao các doanh nghiệp lại cần vay vốn trong quá trình kinh doanh? Thứ nhất, quá trình kinh doanh đòi hỏi phải có khoảng cách thời gian từ khi mua nguyên liệu để đưa vào sản xuất cho đến khi bán được sản phẩm và thu tiền bán hàng Trong trường hợp này doanh nghiệp cần vốn ngắn hạn đồ mua nguyên vật liệu và đáp ứng các chi dùng thường ngày khác Thứ hai, doanh nghiệp cần đầu tư mua sắm máy móc để mở rộng qui mô sán xuất Trong trường hợp này doanh nghiệp cần các nguồn vốn dài hạn hơn để có thời gian thu hồi vốn Trong trường hợp các nguồn vốn nội tại của doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu (ngắn và dài hạn) thì doanh nghiệp cần vay vốn từ bên ngoài Nhưng trong tình hình nền kinh tế thế giới và trong nước vừa trải qua cuộc khủng hoảng tài chính, vấn để tiếp cận nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng đối với doanh nghiệp bị hạn chế Mặc dù Nhà nước chủ trương kiềm chế lãi suất, nhưng lãi suất hiện nay vẫn ở mức cao
Trang 4khó khăn Doanh nghiệp hiện tại vẫn phải vay vốn với lãi suất từ 14%/năm trởlên Đây là một gánh nặng, vì các chính sách mà Chính phù đã ban hành trongnăm 2009 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, như hỗ trợ 4% lãi suất, miễn thuế thu nhậpdoanh nghiệp, giảm 50% thuế suất thuế giá trị gia tăng đã hết hạn từ cuối năm
2009 Theo tổng kết sơ bộ 6 tháng đầu năm 2010 cho thấy, số doanh nghiệp tiếpcận vốn vay chưa tới 50% số hồ sơ mà các doanh nghiệp có nhu cầu vay Do đó,việc tiếp cận nguồn tín dụng thương mại được các nhà kinh doanh quan tâmnhiều hơn Quan hệ tín dụng thương mại được hình thành trong điều kiện thànhphẩm của doanh nghiệp thừa vốn là nguyên, nhiên, vật liệu của doanh nghiệpthiếu vốn, nếu quan hệ mua bán chịu được thực hiện trong một thời hạn nhấtđịnh thì cả hai đều có lợi Vì có sự khác biệt về chu kỳ sàn xuất kinh doanh giữacác doanh nghiệp, nên việc thừa vốn ở doanh nghiệp này và thiếu vốn ở doanhnghiệp khác là hiện tượng phổ biến và có tính tất yếu
tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiệnquan hệ trao đổi hàng hóa Thời kỳ này, tín dụng được thực hiệndưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa Xuất hiện sởhữu tư nhân tư liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa:
Trang 5người nghèo gặp phải những khó khăn không thể tránh thì buộc
họ phải đi vay, mà những người giàu thì câu kết với nhau để ấnđịnh lãi suất cao, chính vì thế, tín dụng nặng lãi ra đời
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp
dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa Đây là quan hệ tín dụnggiữa các nhà sản xuất - kinh doanh được thực hiện dưới hìnhthức mua bán, bán chịu hàng hóa Hành vi mua bán chịu hànghóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao chongười mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhấtđịnh, và khi đến thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phảihoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãicho người bán chịu
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
- Vốn cho vay theo tín dụng thương mại là hàng hóa hay một bộphận của vốn sản xuất chuẩn bị chuyển hóa thành tiền, chưaphải là tiền nhàn rỗi
- Người cho vay (chủ nợ) và người đi vay (con nợ) đều là nhữngdoanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưuthông hàng hóa
- Khối lượng tín dụng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tổng giá trịcủa khối lượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu
- Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp, thông qua việc traođổi hàng hóa dịch vụ,thông thường không có khâu trung gianđứng giữa người sử dụng vốn và người có vốn
Trang 6- Tín dụng thương mại phát triển và vận động theo chu kỳ sảnxuất kinh doanh và góp phần làm phát triển sản xuất kinhdoanh do nó rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, giảm chi phísản xuất kinh doanh quy mô bị hạn chế và thông thường làtín dụng ngắn hạn.
- Tín dụng thương mại thông thường không mất chi phí sử dụngvốn (cost of capital) do hoạt động cấp tín dụng không có lãitrong một khoảng thời gian nhất định, một số trường hợp bên
nợ còn được hưởng lãi chiết khấu trả sớm
Hình thức thể hiện thông thường của tín dụng thương mại là hợpđồng trả chậm, thương phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu) Trong
đó, hối phiếu là giấy đòi tiền vô điều kiện do người bán pháthành, lệnh phiếu là giấy cam kết trả tiền vô điều kiện do ngườimua phát hành Một điều khoản tín dụng thương mại mà cácdoanh nghiệp thường thỏa thuận khi sử dụng hình thức tín dụngnày là: “2/10 Net 30” có nghĩa là nếu trả tiền mặt trong vòng 10ngày kể từ khi mua hàng, người mua sẽ được chiết khấu 2%trên giá cả hàng bán, người mua sẽ phải trả toàn bộ giá bán sau
10 ngày và được trả chậm trong vòng 30 ngày
1.3 CÔNG CỤ LƯU THÔNG CỦA TÍN DỤNG
THƯƠNG MẠI
Để đảm bảo người mua chịu trả nợ đúng hạn, bên cạnh sự tintưởng, người bán chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý,
đó chính là tờ giấy chứng nhận quan hệ mua bán chịu nêu trên,
tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ nợ lập để đòi tiền, hoặc
do con nợ lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là “kỳ phiếu
Trang 7thương mại” hay “thương phiếu” Vì vậy, thương phiếu ra đờitrên cơ sở quan hệ mua bán chịu giữa các chủ thể trong nềnkinh tế Trong quá trình phát triển, thương phiếu dần dần biếnđổi tính chất, từ một giấy chứng nhận nợ thông thường trởthành một công cụ lưu thông tín dụng có thể thực hiện đượcchức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toánthay thế cho tiền mặt trong nền kinh tế
1.3.1 Đặc điểm của thương phiếu:
Dựa trên cơ sở người lập: thương phiếu tồn tại dưới 2 hìnhthức là hối phiếu và lệnh phiếu:
- Hối phiếu: là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầungười mua chịu trả một số tiền xác định vào một thời gian và ởmột địa điểm nhất định cho người thụ hưởng
Nội dung hối phiếu:
+ Tiêu đề :”Lệnh phiếu “ ghi ở bề mặt của lệnh phiếu
+ Một cam kết vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhấtđịnh
+ Thời hạn trả tiền
+ Địa điểm trả tiền
+ Tên người hưởng lợi hoặc tên của người ra lệnh thực hiệnviệc thanh toán
+ Địa điểm,ngày ký phát lệnh phiếu
+ Chữ ký người ký phát lệnh phiếu
Trang 8- Lệnh phiếu: là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, camkết trả một số tiền xác định trong một thời gian và ở một địađiểm nhất định cho người thụ hưởng.
Trên lệnh phiếu kì hạn được quy định rõ
Một lệnh phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát cam kếtthanh toán cho một hay nhiều người hưởng lợi Lệnh phiếu cần
có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc công ty tài chính để đảmbảo khả năng thanh toán của lệnh phiếu
Nội dung lệnh phiếu:
+ Tiêu đề :”Lệnh phiếu “ ghi ở bề mặt của lệnh phiếu
+ Một cam kết vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhấtđịnh
+ Thời hạn trả tiền
+ Địa điểm trả tiền
+ Tên người hưởng lợi hoặc tên của người ra lệnh thực hiệnviệc thanh toán
+ Địa điểm,ngày ký phát lệnh phiếu
Trang 9- Thương phiếu ký danh:là loại thương phiếu có ghi tên ngườihưởng thụ và người này được quyền chuyển nhượng cho ngườikhác
- Thương phiếu định danh: cũng là thương phiếu có ghi tên củangười hưởng thụ nhưng khác với thương phiếu ký danh là khôngđược chuyển nhượng cho người khác
1.3.2 Một số điểm khác nhau giữa hối phiếu và lệnh phiếu:
- Hối phiếu do chủ nợ lập, còn lệnh phiếu do người thiếu nợ lập
- Hối phiếu thông thường có 3 người quan hệ với nhau: Ngườiphát hành hối phiếu (người phát lệnh), người trả tiền theo hốiphiếu (người thu lệnh) và người hưởng thụ
- lệnh phiếu thường có 2 người liên hệ: người phát lệnh phiếu vàngười hưởng thụ
- Hối phiếu thường gồm hai bản, lệnh phiếu chỉ có một bảnchính do con nợ phát ra để chuyển cho người hưởng lợi lệnhphiếu đó
1.3.3 Tính chất của thương phiếu:
- Tính trừu tượng: Trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyênnhân phát sinh khoản nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiềnphải trả, thời hạn trả tiền và người trả tiền
- Tính bắt buộc: Qui định người trả tiền phải thanh toán chongười thụ hưởng đúng hạn, không được phép từ chối hoặc trìhoãn việc trả tiền
Trang 10- Tính lưu thông: Thương phiếu được chuyển nhượng từ ngườithụ hưởng sang người khác bằng phương pháp ký hậu, nó cóthể chuyển hoá ra tiền khi mang đến ngân hàng xin chiết khấuhoặc cầm cố tính chất này khiến thương phiếu trở thành mộtloại phương tiện thanh toán thay cho tiền trong thời gian hiệulực và mệnh giá thương phiếu
1.3.4 Ích lợi của thương phiếu:
- Thứ nhất, nhờ vào tính chất lưu thông, thương phiếu đã trởthành một công cụ lưu thông tín dụng thay thế tiền mặt, tiếtkiệm tiền mặt và góp phần ổn định tiền tệ
- Thứ hai, nó còn là một cơ sở pháp lý trong quan hệ mua bánchịu, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong tín dụng thươngmại, loại bỏ được tình trạng nợ nần dây dưa giữa các doanhnghiệp
- Thứ ba, thương phiếu là loại tài sản đảm bảo chắc chắn khingân hàng nhận chiết khấu hay nhận cho vay cầm cố Hơn thếnữa, tài sản đảm bảo này lại có tính thanh khoản cao vì ngânhàng có thể mang đi tái chiết khấu hoặc tái cầm cố tại NHNN đểkhôi phục nguồn vốn của mình
- Thứ tư, thương phiếu bổ sung hàng hoá cho thị trường mở, tạođiều kiện cho ngân hàng trung ương thực hiện tốt công tác điềuhoà khối tiền trong lưu thông Thứ năm, trong trường hợp người
đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằng lệnh phiếu, khi cần thiết,ngân hàng có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạn bằngcách chuyển nhượng lệnh phiếu cho ngân hàng khác Đây là
Trang 11một giải pháp chứng khoán hoá các khoản cho vay của ngânhàng.
- Và cuối cùng, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh và thu hộ thươngphiếu, sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập nhưng không tăng rủi
ro trong hoạt động kinh doanh của mình
1.3.5 Nhược điểm của thương phiếu
- Nhược điểm thứ nhất, do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽdẫn đến tình trạng hai doanh nghiệp thông đồng nhau lập rathương phiếu khống (thương phiếu không phát sinh từ quan hệmua bán chịu) để mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặccầm cố Chính điều này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thươngphiếu là tín dụng hàng hoá không thể tồn tại, số tiền cho vayđược ngân hàng phát ra không có cơ sở đảm bảo
- Nhược điểm thứ hai, với những nhược điểm sẳn có của tíndụng thương mại, khó có thể mở rộng qui mô (khối lượng) vàthời gian mua bán chịu hàng hoá trong trường hợp nhu cầu muachịu quá lớn và thời gian quá lâu
- Nhược điểm thứ ba, quan hệ mua bán chịu này chỉ có thể phátsinh giữa những doanh nghiệp tín nhiệm, có giao dịch thườngxuyên với nhau
- Tuy vậy, do tín dụng thương mại tồn tại song song với tín dụngngân hàng nên những khiếm khuyết nêu trên của tín dụngthương mại và của sự vận dụng thương phiếu sẽ giảm đến mứcxem như không đáng kể
Trang 121.4 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
- Tăng nguồn vốn kinh doanh: trong tín dụng thương mại, cácnhà sản xuất có thể tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi để sảnxuất, làm tăng nguồn vốn kinh doanh trong thời gian ngắn, vớichi phí thấp hoặc chi phí có thể bằng không, tùy theo mối quan
hệ giữa người cấp tín dụng và người sử dụng nguồn vốn đó
- Tiết kiệm chi phí và lưu thông tiền tệ
Sử dụng vốn tín dụng thương mại giúp cho các nhà sản xuấtgiảm chi phí sử dụng vốn Để đáp ứng nhu cầu vốn, thay vì đivay tại các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác với mứclãi suất cao, thủ tục phức tạp, phát sinh nhiều chi phi trung gian
từ việc vay vốn, thì nhà sản xuất có thể mua chịu nguyên vậtliệu, hay nhập hàng từ nhà cung ứng với chi phí trả sau và cómức chiết khấu hợp lí thỏa thuận được Việc sử dụng nguồn vốntín dụng không chỉ có lợi cho nhà sản xuất mà còn có lợi chokinh tế về mặt vĩ mô, khi không phải cung ứng thêm lượng tiền
ra lưu thông Giúp cho ngân hàng trung ương thực hiện chínhsách tiền tệ dễ dàng hơn
- Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở cácdoanh nghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tíndụng thương mai một mặt đáp ứng được nhu cầu vốn của cácdoanh nghiệp tạm thời thiếu đồng thời giúp cho các doanhnghiệp tiêu thụ được hàng hóa của mình Nguồn vốn tín dụngthương mại giúp đáp ứng nhu cầu vốn trong thời vụ sản xuấtcao điểm, đáp ứng nhu cầu thị trường Đồng thời dưới cơ chế
Trang 13hoạt động của tín dụng thương mại, nhà sản xuất có thể bánđược hàng hóa của mình, giải quyết tình trạng tồn kho, và cácchi phí có liên quan đến trữ hàng hóa Người sản xuất được cấptín dụng thương mại sẽ bắt đầu chu kì sản xuất mới mà khôngcần chờ đợi đến khi có vốn mới Như vậy, tín dụng thương mại
đã huy động được nguồn vốn nhàn rỗi vào vòng quay sản xuất,làm sản xuất hiệu quả hơn, đồng tiền có khả năng sinh lời nhiềuhơn Trong sản xuất kinh doanh, tín dụng thương mại là mộtphần không thể thiếu nhằm cung ứng vốn Qua đó, còn liên kếtcác nhà sản xuất với nhau, bởi mối quan hệ của nhà sản xuấtđược hiểu là đầu ra của người này là đầu vào của người kia
- Khuyến khích sản xuất kinh doanh
Tín dụng thương mại dựa trên sự tín nhiệm giữa các nhà sảnxuất với nhau, hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất Thực tế,các nhà sản xuất sử dụng vốn tín dụng vốn thương mại tronghầu hết các trường hợp mua nguyên vật liệu, nhập hàng, tiêuthụ sản xuất,… thay vì đi vay tại các ngân hàng với thủ tụcphức tạp, lãi suất cao Trong những giai đoạn lạm phát, chínhsách thắt chặt tiền tệ làm cho nguồn vốn đến tay các doanhnghiệp khó khăn hơn thì tín dụng thương mại với cam kết đơngiản giữa các doanh nghiệp, cùng chi phí sử dụng vốn cực thấplại là biện pháp vốn tối ưu cho các doanh nghiệp, giúp duy trìsản xuất kinh doanh Tín dụng thương mại được xem là hìnhthức tài trợ rẻ tiền, rất linh hoạt trong kinh doanh Bên cạnh đó,
nó còn tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ với đối tác lâu bềngiữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Trang 141.5 ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
1.5.1 Ưu điểm
- Tín dụng thương mại góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất
và lưu thông hàng hóa, làm cho chu kỳ sản xuất rút ngắn lại
- Tín dụng thương mại tham gia vào quá trình điều tiết vốn giữacác doanh nghiệp một cách trực tiếp mà không thông qua bất
kỳ cơ quan trung gian nào
- Tín dụng thương mại được cấp giữa các doanh nghiệp quenbiết, uy tín nên có lợi thế là thủ tục nhanh, gọn, đáp ứng nhucầu vốn ngắn hạn và góp phần đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sảnphẩm của các doanh nghiệp
- Tín dụng thương mại góp phần làm giảm khối lượng tiền mặttrong lưu thông, làm giảm chi phí lưu thông xã hội
- Tạo điều kiện mở rộng hoạt động của tín dụng ngân hàngthông qua nghiệp vụ chiết khấu, bảo lãnh và thu hộ thươngphiếu, sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập nhưng ít rủi ro tronghoạt động kinh doanh của mình
- Trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằnglệnh phiếu, khi cần thiết, ngân hàng có thể bán khoản nợ này
để thu nợ trước hạn bằng cách chuyển nhượng lệnh phiếu chongân hàng khác Đây là một giải pháp chứng khoán hoá cáckhoản cho vay của ngân hàng