SBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM NGHĨA VỤ TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG CỔ PHẦN
Trang 1SBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM NGHĨA
VỤ TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
NGUYỄN TRỌNG BÁCH
HÀ NỘI - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM NGHĨA VỤ
TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
NGUYỄN TRỌNG BÁCH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
T«i xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Vũ Thị Hồng Yến là người
đã hướng dẫn tận tâm và nhiệt tình để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy/Cô khoa Sau Đại học – Viện Đại học Mở Hà Nội đã giảng dạy và truyền thụ những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học làm nền tảng cho tôi thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các tác giả của các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết bổ ích làm nguồn tài liệu tham khảo
mà tôi sử dụng trong luận văn của mình
T¸c gi¶ luËn v¨n
Trang 5MỤC LỤC Lêi cam ®oan
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 5
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 5
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng tín dụng 5
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng 5
1.2 TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 17
1.2.1 Khái niệm về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng 17
1.2.2 Những vấn đề thuộc nội dung của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng 21
Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 24
2.1 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 24
2.1.1 Về các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng 24
2.1.2 Thực trạng các quy định của pháp luật về các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng 29
2.1.3 Thực trạng quy định của pháp luật về các chế tài do vi phạm hợp đồng tín dụng 33
2.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 39
2.2.1 Những thuận lợi khi áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng 39
2.2.2 Những khó khăn khi áp dụng các quy định của pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng 40
Trang 6Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 55
3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 55
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 56
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng phải tạo sự hài hòa, tương thích với pháp luật quốc tế về tín dụng 56
3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng nhằm mục đích loại bỏ sự mâu thuẫn giữa các văn bản luật, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ tín dụng 57
3.3 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 58
3.3.1 Nhóm giải pháp về hoàn thiện các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng 58
3.3.2 Nhóm giải pháp tăng cường thực thi các chế tài do vi phạm hợp đồng tín dụng 62
KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 71
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, tạo điều kiện để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả thì cần thiết phải phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các lĩnh vực kinh tế, trong đó có lĩnh vực tín dụng Cho vay, cấp tín dụng luôn chiếm vị trí quan trọng trong lĩnh vực tín dụng mà nền tảng pháp lý của cho vay, cấp tín dụng là hợp đồng tín dụng
Cùng với việc thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, các hoạt động thương mại nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam với cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức vay vốn không ngừng được tăng lên cả về số lượng và giá trị thương mại Kết quả này đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, điều đó cũng dẫn tới một thực tế là ngày càng xảy ra nhiều hơn các vi phạm về hợp đồng tín dụng Để đảm bảo rằng các chủ thể của hợp đồng tín dụng sẽ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của bên có quyền lợi bị vi phạm, pháp luật đã đưa ra các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
Cùng với chính sách mở cửa để hội nhập và thực hiện các cam kết trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng cũng luôn luôn được sửa đổi, bổ sung nhằm tạo cơ sở pháp lý phù hợp để các bên thực hiện tốt hợp đồng tín dụng đã ký kết Tuy nhiên, trong thực tiễn nhiều chủ thể tham gia hợp đồng vẫn chưa nắm bắt được những sửa đổi, bổ sung đó
và việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng cũng như việc giải quyết tranh chấp do
vi phạm hợp đồng tín dụng đang gặp nhiều khó khăn vì có sự hiểu biết chưa đầy đủ, thống nhất về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu vấn đề này một cách cụ thể hơn
Đó là lý do để tác giả lựa chọn vấn đề "TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM NGHĨA VỤ TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM" làm đề tài luận văn cao học của mình
Trang 82 Tình hình nghiên cứu
* Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nước ngoài đã có một số công trình, sách, bài viết đề cập đến vấn đề trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng ở góc độ này hay góc độ khác Trong số đó có
cuốn sách của tác giả người Pháp- Nicole Perry- có tên gọi "Làm thế nào để tránh
những rủi ro pháp lý khi tham gia tín dụng" đã được dịch ra tiếng Việt do Nhà xuất
bản Pháp lý xuất bản năm 1992
* Tình hình nghiên cứu ở Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Ở Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau về vấn đề này, có thể nêu ra một số công trình sau:
- "Hợp đồng tín dụng, tín dụng với thương nhân nước ngoài theo pháp luật hiện hành", của Trương Anh Tuấn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học
quốc gia Hà Nội, 2003
- "Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng và vấn đề hoàn thiện pháp luật
về Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam", của Trương Văn Dũng, Luận án tiến
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003
- "Pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng tín dụng trong kinh doanh- thực trạng và phương hướng hoàn thiện", của Quách Thúy Quỳnh, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005, v.v…
Các công trình nêu trên hoặc đề cập một cách khái quát về tất cả các khía cạnh của hợp đồng tín dụng, hoặc nghiên cứu chuyên sâu về hình thức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng tín dụng, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu
về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định hiện hành của pháp luật hiện hành Đây là luận văn thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu để làm rõ những vấn đề cơ bản về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật hiện hành; sau khi phân tích
Trang 9các quy định của pháp luật hiện hành trong đó nhấn mạnh những bất cập của pháp luật hiện hành trong các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng và những bất cập trong việc áp dụng các quy định đó, luận văn đề xuất phương hướng
và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng và tăng cường thực thi các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng như: khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng; khái niệm về trách nhiệm và nội hàm của khái niệm về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng thông qua các hình thức trách nhiệm cụ thể
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng; đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng và giải pháp để các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam tăng cường thực thi các quy định của pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng tín dụng, hợp đồng tín dụng tbảo đảm và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
* Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng là một vấn đề
rất rộng Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, khi nghiên cứu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng, về mặt nội dung, luận văn giới hạn ở việc phân tích các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng, các căn
Trang 10cứ miễn trách nhiệm và các chế tài do vi phạm hợp đồng tín dụng theo quy định của Luật Việt Nam
- Về mặt không gian: Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở những quy
định của pháp luật hiện hành cho đến hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống hóa kết hợp phương pháp logic và lịch sử và một
số phương pháp truyền thống như luận giải, phân tích, bình luận Ngoài ra, luận văn đặc biệt chú trọng áp dụng phương pháp so sánh luật học, trên cơ sở nghiên cứu những quy định của luật pháp quốc tế, của tập quán quốc tế về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng đặt trong mối quan hệ so sánh với các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hợp đồng tín dụng và trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng tín dụng
Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng tín dụng và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp
luật hiện hành về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
Trang 11Việc xác định bản chất pháp lý hợp đồng tín dụng có ý nghĩa pháp lý và thực tiễn hết sức quan trọng bởi nó gắn liền với việc xác định luật điều chỉnh quan hệ của các bên trong hợp đồng tín dụng, xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh của Tòa án… Nếu là hợp đồng tín dụng thông thường (hợp đồng tín dụng trong nước) thì quyền và nghĩa vụ của các bên xuất phát từ hợp đồng tín dụng đó sẽ được pháp luật trong nước điều chỉnh Nếu là hợp đồng tín dụng có yếu tố nước ngoài thì
nó sẽ được điều chỉnh bởi nhiều quy định pháp lý khác nhau, ví dụ như luật do các bên lựa chọn (luật của nước bên cho vay, luật của nước bên vay, luật của nước nơi
ký kết, thực hiện hợp đồng họăc giải ngân…), các điều ước quốc tế liên quan và trong nhiều trường hợp cả tập quán lĩnh vực tín dụng ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có thể lựa chọn giữa việc cho khách hàng vay vốn với điều kiện có bảo
Trang 12đảm bằng tài sản hoặc cho vay không cần bảo đảm bằng tài sản Nếu ở nhiều nước trên thế giới, các khoản cho vay cần bảo đảm của ngân hàng thương mại đối với khách hàng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (do ngân hàng thương mại cổ phần của nước đó
có thể áp dụng các biện pháp khác để quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả hơn, ít tốn kém hơn) thì trái lại, ở Việt Nam các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam lại chủ yếu cho vay trên cơ sở điều kiện bảo đảm bằng tài sản Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì vốn dĩ các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam không có khả năng và kinh nghiệm quản trị rủi ro tốt như các ngân hàng thương mại cổ phần nước ngoài
Do đó, nếu muốn an toàn trong cho vay, chỉ có thể trông chờ vào cái “phao cứu sinh” được coi là hiệu quả nhất, đó là yêu cầu khách hàng phải có sự bảo đảm bằng các tài sản cho nghĩa vụ hoàn trả nợ vay khi đến hạn thanh toán đối với ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Theo ý kiến chúng tôi, ngoài những đặc điểm chung giống như mọi hợp đồng thương mại- dân sự thì hợp đồng tín dụng còn thể hiện những đặc trưng pháp lý sau đây:
Một là, trong hợp đồng tín dụng, một chủ thể là ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam với chức năng kinh doanh tiền tệ Chính sự đặc thù này khiến cho bên chủ nợ là ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam phải có những giải pháp khác để hỗ trợ cho quá trình quản lý nợ vay và phòng tránh rủi ro tín dụng khi khách hàng vay không trả được nợ, trong khi tài sản bảo đảm lại rất khó kiểm soát, vì:
Thứ nhất, về chức năng hay nội dung hoạt động, một ngân hàng thương mại
cổ phần Việt Nam phải tiến hành nhận tiền gửi thường xuyên từ công chúng, sử dụng nguồn vốn đó để cấp tín dụng cho khách hàng và cung ứng các phương tiện,
dịch vụ thanh toán như một nghề nghiệp chính của mình Cả ba loại hình hoạt động
này (nhận tiền gửi từ công chúng, cho công chúng vay tiền và cung ứng các phương tiện, dịch vụ thanh toán) đều phải được ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thực hiện một cách thường xuyên và chuyên nghiệp
Thứ hai, về tên gọi, một ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nhất thiết
phải được Ngân hàng Nhà nước- ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Trung
Trang 13ương cho phép sử dụng cụm từ “ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” hoặc
“công ty tài chính”, “công ty cho thuê tài chính”, “quỹ tín dụng nhân dân”, “hợp tác
xã tín dụng”… như tên gọi chính thức của mình trong quá trình giao dịch
Thứ ba, hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam phải tuân
thủ các quy định đặc thù của pháp luật hiện hành, bao gồm các quy định về cấp phép; quy định về kiểm soát đặc biệt; quy định về dự trữ bắt buộc; quy định về bảo đảm an toàn và trong kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam…
Thứ tư, về các yếu tố chi phối năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại
cổ phần Việt Nam Do ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam là pháp nhân nên năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam chịu ảnh hưởng, chi phối bởi các yếu tố sau đây:
(i) Mục đích và phạm vi chức năng hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Hai khía cạnh này thể hiện ý chí của các thành viên hợp thành pháp nhân ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Nếu mục đích hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam là đa dạng và phạm vi chức năng hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam rộng lớn thì về nguyên tắc, ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam phải có được nhiều quyền năng hơn (phạm vi năng lực pháp luật rộng hơn) để đủ sức thực hiện được các chức năng và mục đích đó của mình Ngược lại, nếu một ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có mục đích và phạm vi hoạt động nhỏ hẹp thì phạm vi các quyền năng pháp lý mà nó được hưởng cũng sẽ bị hạn chế tương ứng Sự ảnh hưởng này đặc biệt rõ ràng trong trường hợp ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thay đổi mục đích hoạt động hoặc thay đổi chức năng hoạt động Sự thay đổi này tất yếu sẽ làm cho phạm vi năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam bị thay đổi theo Thậm chí, trong trường hợp có bằng chứng rõ ràng chứng minh mục đích hoạt động hay chức năng hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam là bất hợp pháp thì khi đó ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam không thể được Nhà nước thừa nhận năng lực pháp luật Một cách khái quát, có thể kết luận rằng năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam luôn phụ thuộc trước hết vào ý chí của các
Trang 14thành viên hợp thành pháp nhân ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, bởi lẽ ý chí này thường được thể hiện tập trung nhất ở mục đích và phạm vi chức năng hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam như đã được ghi trong Điều lệ của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
(ii) Ý chí của Nhà nước Điều này thể hiện ở chỗ, Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền thừa nhận hoặc không thừa nhận khả năng hành động trong đời sống pháp luật (năng lực pháp luật) của một chủ thể pháp luật Đồng thời, Nhà nước cũng
là chủ thể duy nhất có quyền mở rộng hoặc thu hẹp nội dung năng lực pháp luật của chủ thể pháp luật đó trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định vì lợi ích chung và trật tự công cộng Do vậy, có thể khẳng định năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam tuy là khả năng, thuộc tính vốn có gắn liền với đời sống của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nhưng các khả năng, thuộc tính này sẽ chỉ có ý nghĩa pháp lý khi chúng được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện bằng công cụ pháp luật Điều này cũng có nghĩa, một khi sự thừa nhận khả năng, thuộc tính đó không còn cần thiết nữa cho ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và cho xã hội, hoặc khi sự thừa nhận ấy có nguy cơ gây tổn hại cho lợi ích chung và trật tự công cộng thì chính Nhà nước sẽ là người “tước đi” khả năng
đó của chủ thể pháp luật (ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam) bằng cách tuyên bố chấm dứt năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Thứ năm, về tính đặc thù trong cơ chế hình thành, thay đổi và chấm dứt năng
lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thường được gắn liền với tư cách pháp nhân của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Do hoạt động nghề nghiệp kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có nhiều nét đặc thù so với hoạt động nghề nghiệp kinh doanh của các chủ thể khác (chẳng hạn như tính rủi ro cao, tính nhạy cảm và tính ảnh hưởng dây chuyền đối với quyền lợi của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội…) nên ngoài các quy định chung của pháp luật về vấn đề năng lực pháp luật của pháp nhân, pháp luật hiện hành của Việt Nam
và pháp luật hiện hành của nhiều nước còn có những quy định riêng mang tính
Trang 15chuyên biệt, thể hiện rõ nét tính đặc thù trong cơ chế hình thành, thay đổi, chấm dứt năng lực pháp luật của pháp nhân ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Tính đặc thù này được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:
Trong cơ chế hình thành năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, nhất thiết phải áp dụng những thủ tục pháp lý riêng biệt, trong đó bao
gồm thủ tục cấp giấy phép thành lập- hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Việc quy định thủ tục cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam được lý giải là nhằm mục đích giúp Nhà nước chọn lọc được những ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có đủ tiêu chuẩn hành nghề một cách an toàn và hiệu quả trên thương trường Còn việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lại nhằm mục đích công nhận tư cách pháp nhân cho ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Hai thủ tục này có tác dụng bổ sung và hỗ trợ cho nhau nhằm giúp Nhà nước kiểm soát tốt hơn đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và thông qua đó góp phần đảm bảo sự an toàn pháp lý trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Ngoài quy định về thủ tục cấp giấy phép thành lập- hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và thủ tục đăng
ký kinh doanh, pháp luật còn đòi hỏi ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam phải thực hiện một số nghĩa vụ pháp lý khác nữa trước khi bắt đầu hoạt động giao dịch với khách hàng, chẳng hạn như nghĩa vụ trích lập quỹ dự trữ bắt buộc theo tỷ lệ luật định,
mở tài khoản giao dịch tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam … Tất cả những quy định chuyên biệt này đều nhằm một mục đích chung là đảm bảo sự an toàn và hiệu quả cho các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam khi chúng được xác lập và thực hiện trong điều kiện nền kinh tế thị trường
Trong cơ chế thay đổi năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, do đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại cổ phần
Việt Nam cũng như nhu cầu đảm bảo sự an toàn trong kinh doanh ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nên Nhà nước cần phải điều chỉnh nội dung năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong quá trình hoạt động kinh doanh
Sự điều chỉnh này được đặt ra khi có những biến động bất lợi trong quá trình hoạt
Trang 16động của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và thường liên quan đến các vấn đề rất cụ thể như sự thay đổi nội dung quyền hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hoặc thay đổi mức vốn pháp định; thay đổi về giới hạn huy động vốn và cho vay; điều chỉnh mức dự trữ bắt buộc đối với ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam… Có thể nhận thấy những thay đổi về nội dung năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong quá trình kinh doanh thường được khởi nguồn từ phía Nhà nước, nhằm mục đích bảo vệ cho lợi ích chung của nền kinh tế cũng như lợi ích riêng của chính ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Ngoài ra, trong thực tế cũng có nhiều trường hợp sự thay đổi các yếu
tố cấu thành năng lực pháp luật lại bắt nguồn từ ý chí của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam chứ không phải chỉ từ phía Nhà nước Chẳng hạn, việc thay đổi nội dung năng lực pháp luật của pháp nhân ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có thể xảy ra khi pháp nhân này xin thay đổi tên gọi, trụ sở giao dịch hay thay đổi quốc tịch của mình
Trong cơ chế chấm dứt năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, tính đặc thù thể hiện ở chỗ, việc chấm dứt năng lực pháp luật (được hiểu
đồng nghĩa với việc chấm dứt hoạt động) của mỗi ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thường có những ảnh hưởng trực tiếp và rất quan trọng đối với đời sống kinh tế
xã hội Do vậy, pháp luật thường có một số quy định đặc biệt để áp dụng riêng cho việc chấm dứt năng lực chủ thể của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nhằm tránh các hậu quả bất lợi có thể xảy ra cho nền kinh tế do sự kiện này gây ra Trong hầu hết các trường hợp chấm dứt hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, mua lại, giải thể ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam), pháp luật quy định phải có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Điều 34 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam) Riêng đối với trường hợp chấm dứt hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam bằng thủ tục phá sản thì trước khi tiến hành thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản tại Toà án, nhất thiết phải có văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp kiểm soát đặc biệt đối với ngân hàng thương mại
Trang 17cổ phần Việt Nami Đây là một trong những điều kiện để Toà án thụ lý hồ sơ vụ phá sản ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Thực tế thời gian qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chỉ đạo và thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần với việc sáp nhập, mua bán một số ngân hàng thương mại cổ phần như Ocenbank, Hubank…
Hai là, trong hợp đồng tín dụng có bảo đảm nói chung và bảo đảm bằng thế chấp tài sản nói riêng, luôn tồn tại mối quan hệ về hiệu lực giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng tín dụng thế chấp (hợp đồng tín dụng bảo đảm tiền vay) Mối quan hệ này là khá phức tạp và do đó đòi hỏi các bên phải có nhận thức đúng đắn để tự vệ và phòng ngừa các rủi ro tổn thất cho mình Chẳng hạn, khi hợp đồng tín dụng bị vô hiệu thì hậu quả pháp lý đối với hợp đồng tín dụng thế chấp là như thế nào và ngược lại Thực tế cho thấy, trong mỗi trường hợp như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên sẽ có hệ quả khác nhau và do đó mỗi bên đều phải nắm vững các quy định của pháp luật để tự bảo vệ lợi ích cho mình một cách hiệu quả, đúng pháp luật
Các phân tích dưới đây sẽ góp phần làm rõ hơn mối quan hệ này giữa hợp đồng tín dụng thế chấp tài sản và hợp đồng tín dụng Đây là vấn đề từng gây tranh cãi lâu nay giữa các nhà nghiên cứu luật học, luật gia, luật sư và những người thực hành pháp luật, không chỉ về phương diện học thuật mà cả trong thực tiễn áp dụng pháp luật, đặc biệt là thực tiễn hoạt động cho vay có bảo đảm của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Về phương diện học thuật, vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất liên quan đến mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng thế chấp tài sản với hợp đồng tín dụng, có lẽ là việc
xác định tính độc lập hay tính phụ thuộc giữa hai hợp đồng tín dụng này Nói cách
khác, mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng tín dụng bảo đảm tiền vay
nói chung và hợp đồng tín dụng thế chấp tài sản nói riêng có phải là mối quan hệ
giữa hợp đồng tín dụng chính và hợp đồng tín dụng phụ hay không
Thực tế cho thấy, câu trả lời là không giống nhau giữa các học giả quan tâm đến vấn đề này
i
Xem thêm: Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam
Trang 18● Quan điểm thứ nhất cho rằng: Mối quan hệ giữa Hợp đồng tín dụng và hợp đồng tín dụng thế chấp tài sản có thể coi là mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng chính và hợp đồng tín dụng phụ
Trong một thời gian khá dài, do tồn tại những quy định của pháp luật dân sự
về hợp đồng tín dụng chính và hợp đồng tín dụng phụ nên trong khoa học pháp lý
và cả trong quá trình xây dựng pháp luật cũng như thực thi pháp luật, đã xuất hiện quan điểm suy luận coi hợp đồng tín dụng là hợp đồng tín dụng chính, trong khi hợp đồng tín dụng bảo đảm tiền vay nói chung và hợp đồng tín dụng thế chấp tài sản nói riêng có thể coi là hợp đồng tín dụng phụ Có lẽ quan điểm này dựa trên trên lập luận cho rằng sự bảo đảm chỉ có giá trị khi tồn tại nghĩa vụ được bảo đảm (nghĩa
vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng chính) Do nhìn nhận như vậy, nhiều ý kiến cho rằng có thể coi mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng tín dụng bảo đảm tiền vay nói chung và hợp đồng tín dụng thế chấp tài sản nói riêng là mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng chính với hợp đồng tín dụng phụ Điều này không chỉ tồn tại trong các diễn đàn khoa học mà thực tế đã trở thành những quy định của luật pháp có giá trị bắt buộc thi hành ở Việt Nam trong những năm trước đây
Như vậy, có thể khẳng định rằng trong lịch sử pháp chế Việt Nam đã từng tồn tại quan niệm cho rằng hợp đồng tín dụng là hợp đồng tín dụng chính và hợp đồng tín dụng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh là hợp đồng tín dụng phụ Điều đó cũng
có nghĩa rằng, theo quan điểm này, nếu hợp đồng tín dụng (hợp đồng tín dụng chính) bị vô hiệu thì hợp đồng tín dụng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh (với tính chất là hợp đồng tín dụng phụ) cũng đương nhiên bị vô hiệu theo Ngược lại, nếu hợp đồng tín dụng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bị vô hiệu thì không tất yếu hay chắc chắn làm
vô hiệu hợp đồng tín dụng (hợp đồng tín dụng chính) Trải qua thời gian, quan điểm này đã từng được xem là “chính thống” trong nhiều năm và được các luật sư, tòa án thường xuyên viện dẫn như là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết các vụ tranh chấp về hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản ở Việt Nam
Tuy nhiên, trong thực tiễn pháp lý cũng như trong các diễn đàn trao đổi học thuật, từng có ý kiến cho rằng chỉ nên coi hợp đồng tín dụng là hợp đồng tín dụng
Trang 19chính và hợp đồng tín dụng bảo đảm tiền vay (trong đó có hợp đồng tín dụng thế chấp) là hợp đồng tín dụng phụ khi cả hai loại hợp đồng tín dụng này đều có thành phần chủ thể giống nhau, nghĩa là cả hai hợp đồng tín dụng này đều cùng được giao kết bởi hai chủ thể xác địnhii Theo ý kiến chúng tôi, nhận thức này không thật chính xác, bởi vì khi nói đến mối quan hệ chính – phụ giữa hai hợp đồng tín dụng nào đó chủ yếu là nhằm xác định mối quan hệ ảnh hưởng, chi phối về hiệu lực giữa hai hợp đồng tín dụng đó với nhau, chứ không giới hạn ở khía cạnh chủ thể của hợp đồng tín dụng Nói cách khác, một hợp đồng tín dụng có thể được coi là hợp đồng tín dụng chính và một hợp đồng tín dụng khác có thể được coi là hợp đồng tín dụng phụ, xét trong mối tương quan về hiệu lực giữa hai hợp đồng tín dụng này với nhau, bất luận chủ thể ký kết hai loại hợp đồng tín dụng này có trùng nhau hay không
Một ví dụ: “Ngày 22/11/2002, Chi nhánh NHPT X ký hợp đồng tín dụng cho một chủ đầu tư vay 02 tỷ đồng, ngoài tài sản đảm bảo là tài sản hình thành từ vốn vay, còn có thêm 02 người bảo lãnh cho khoản vay trên bằng giá trị quyền sử dụng đất, được thẩm định giá trị tại thời điểm đó gần 300 triệu đồng, chiếm khoảng 21,5% số vốn vay để tăng độ an toàn Những người bảo lãnh này, ít nhiều đều có quan hệ làm ăn với người đứng ra vay vốn
Khi thấy chủ đầu tư có nguy cơ không trả được nợ, một trong 2 bên bảo lãnh (bà T) đã đề nghị Chi nhánh NHPT X cho nộp số tiền bảo lãnh khoảng 167 triệu đồng để nhận lại giấy chứng nhận QSDĐ, nhưng không được chấp thuận, do đó, ngày 12/7/2005 bà T đã khởi kiện ngân hàng, yêu cầu được được thay đổi hình thức bảo lãnh, trả lại giấy CNQSDĐ cho bà Phiên tòa sơ thẩm lần 1 xét xử vào ngày 18/11/2005, tuyên xử bà T thắng kiện, Chi nhánh X kháng cáo, Tòa án cấp trên xử hủy án sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng, trả hồ sơ để Tòa án đã xử sơ thẩm xét xử lại từ đầu Đến ngày 05/9/2006 bà T thay đổi nội dung đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tín dụng bảo lãnh và Hợp đồng tín dụng thế chấp, đồng thời yêu cầu ngân hàng bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Trong thời
ii Luật sư Đỗ Hồng Thái đã thể hiện quan điểm như vậy trong một bài viết trên trang thông tin điện tử Luật Việt Nguồn: http://www.luatviet.org/Home/nghien-cuu-trao-doi/dan-su-to-tung-dan-su/2009/8515/Hop- dong-bao-lanh-khong-the-xem-la-hop-dong-phu-cua.aspx
Trang 20gian này, Chi nhánh NHPT X theo ủy quyền của TGĐ cũng đồng thời khởi kiện Chủ đầu tư vi phạm HĐTD, trong đó có yêu cầu Tòa án xem xét trách nhiệm liên đới của những người bảo lãnh với vai trò là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của vụ án Ngày 02/4/2007 Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định nhập vụ án tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu vào chung vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Qua nhiều lần hòa giải không thành, ngày 22/8/2008 phiên Tòa sơ thẩm lần 2 xét xử, tuyên chấp nhận 1 phần yêu cầu của ngân hàng, buộc bên vay trả đủ nợ gốc
và lãi vay, một trong 2 bên bảo lãnh là Ông S trả thay cho bên vay nếu bên vay không trả được, nhưng chỉ giới hạn trong số tiền tạm tính về giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm bảo lãnh, riêng bên bảo lãnh khác (Bà T) không có nghĩa vụ thanh tóan nợ đối với Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng tín dụng thế chấp bị vô hiệu và Hợp đồng tín dụng bảo lãnh bị hủy bỏ
Không đồng ý với án sơ thẩm lần 2 về phần nội dung tuyên hủy hợp đồng tín dụng bảo lãnh và vô hiệu hợp đồng tín dụng thế chấp của Bà T, cũng như tuyên Ông
S chỉ chịu trách nhiệm trên số tiền bảo lãnh chứ không phải giá trị quyền sử dụng đất, chi nhánh NHPT X đã kháng cáo phúc thẩm Tại phiên xử phúc thẩm ngày 03/11/2009 vừa qua, Hội đồng xét xử đã tuyên sửa một phần Bản án sơ thẩm, cơ bản chấp nhận yêu cầu kháng cáo của NHPT, nhưng đối với Hợp đồng tín dụng thế chấp quyền sử dụng đất của Bà T bị vô hiệu 50%, vì đất cấp cho hộ gia đình, nhưng Bà T đơn phương đem thế chấp, không được sự đồng ý của thành viên đồng sở hữu, nên
Bà T chỉ được định đoạt 50% giá trị quyền sử dụng đất trong việc thế chấp bảo lãnh.”
Nguồn: http://www.vdb.gov.vn/Trangchu
● Quan điểm thứ hai cho rằng: Mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng tín dụng thế chấp không hoàn toàn là mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng chính và hợp đồng tín dụng phụ
Quan điểm này được thể hiện trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm để thay thế cho Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999; Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm
Trang 21Trong Nghị định 163 này, nhà làm luật đã có sự thay đổi quan niệm theo hướng thực tế hơn, không hoàn toàn coi mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng và hợp đồng tín dụng thế chấp là mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng chính và hợp đồng tín dụng phụ
“Điều 15 Quan hệ giữa giao dịch bảo đảm và hợp đồng tín dụng có nghĩa vụ
được bảo đảm
1 Hợp đồng tín dụng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng tín dụng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng tín dụng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác
2 Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng tín dụng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác
3 Hợp đồng tín dụng có nghĩa vụ được bảo đảm bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện mà các bên chưa thực hiện hợp đồng tín dụng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng tín dụng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác
4 Giao dịch bảo đảm bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện không làm chấm dứt hợp đồng tín dụng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác
5 Trong trường hợp giao dịch bảo đảm không chấm dứt theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm
để thanh toán nghĩa vụ hoàn trả của bên có nghĩa vụ đối với mình.”
(Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm)
Theo quy định tại Điều 15 nói trên, nếu áp dụng cho hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản thì có thể hình dung mối tương quan về hiệu lực giữa hai hợp đồng tín dụng này (hợp đồng tín dụng và hợp đồng tín dụng thế chấp) như sau:
Trường hợp thứ nhất, có hai khả năng xảy ra:
- Nếu hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp bị vô hiệu hoặc đã có
Trang 22hiệu lực nhưng bị hủy bỏ bởi thỏa thuận của các bên hoặc bởi ý chí đơn phương của một bên nhưng chưa được thực hiện thì hợp đồng tín dụng thế chấp bị chấm dứt Cần lưu ý rằng theo quy định của điều luật nêu trên thì trong trường hợp này, hợp đồng tín dụng thế chấp bị chấm dứt, nghĩa là đã có hiệu lực rồi sau đó mới chấm dứt hiệu lực do không cần thiết duy trì hiệu lực của hợp đồng tín dụng thế chấp nữa, chứ không phải là hợp đồng tín dụng thế chấp bị vô hiệu ngay từ khi ký kết
- Nếu hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp bị vô hiệu hoặc đã có hiệu lực nhưng bị hủy bỏ bởi thỏa thuận của các bên hoặc bởi ý chí đơn phương của một bên và đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ thì hợp đồng tín dụng thế chấp không bị đương nhiên chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận chấm dứt hợp đồng tín dụng thế chấp này vì thấy không cần thiết phải tiếp tục thực hiện hợp đồng này nữa Trong trường hợp này, nếu hợp đồng tín dụng thế chấp không bị chấm dứt trong khi ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đã giải ngân cho khách hàng thì bên nhận thế chấp (ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam) có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi số tiền đã giải ngân cho khách hàng
Trường hợp thứ hai, hợp đồng tín dụng thế chấp bị vô hiệu hoặc bị hủy bỏ,
chấm dứt đơn phương không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng tín dụng thỏa thuận hủy bỏ hay chấm dứt hợp đồng tín dụng này
● Từ việc phân tích, bình luận và khảo cứu các quan điểm trên đây, chúng tôi cho rằng: Xét trong mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng tín dụng bảo đảm tiền vay thì không thể coi hợp đồng tín dụng là hợp đồng tín dụng chính và hợp đồng tín dụng bảo đảm tiền vay (trong đó có hợp đồng tín dụng thế chấp tài sản) là hợp đồng tín dụng phụ Do đó, cũng không có cơ sở để khẳng định rằng bản chất mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng tín dụng thế chấp là quan hệ giữa hợp đồng tín dụng chính và hợp đồng tín dụng phụ, vì các lý do sau đây:
Thứ nhất, về khía cạnh học thuật, tự thân mỗi hợp đồng tín dụng này (tức
hợp đồng tín dụng và hợp đồng tín dụng thế chấp) đều đã có đầy đủ các yếu tố để được coi là một hợp đồng tín dụng thực thụ Vì thế, tự nó sẽ phát sinh hiệu lực nếu thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (theo quy định tại Điều 122
Trang 23Bộ luật dân sự), chứ không cần phải phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng tín dụng khác Điều này có nghĩa, hợp đồng tín dụng và hợp đồng tín dụng thế chấp tài sản đều là những hợp đồng tín dụng độc lập, không hề ảnh hưởng và chi phối đến hiệu lực của nhau, cho dù mục đích của việc thiết lập hợp đồng tín dụng thế chấp là nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng
Từ lập luận như vậy, có thể kết luận rằng nếu hợp đồng tín dụng bị vô hiệu hoặc
bị chấm dứt, hủy bỏ thì cũng không ảnh hưởng gì đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng thế chấp tài sản Ngược lại, nếu hợp đồng tín dụng thế chấp tài sản bị vô hiệu hoặc bị chấm dứt, hủy bỏ thì cũng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng và khi đó, hợp đồng tín dụng trở thành hợp đồng tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản
Thứ hai, về khía cạnh pháp luật thực định, tại Điều 410 Bộ luật dân sự 2005,
tuy nhà làm luật vẫn mô tả rõ bản chất pháp lý của mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ nhưng đồng thời cũng khẳng định rằng “Quy định về mối quan hệ này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”- trong đó có biện pháp thế chấp tài sảniii Theo ý kiến chúng tôi, nhà làm luật lựa chọn giải pháp này cho mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng có nghĩa vụ được bảo đảm với hợp đồng tín dụng bảo đảm là khá hợp lý, vì nó giúp cho bên chủ nợ tránh được những rủi ro về kinh tế trong trường hợp hợp đồng tín dụng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà bên chủ nợ (bên nhận bảo đảm) đã thực hiện hợp đồng tín dụng này với người đối ước
Từ nhận thức như vậy, chúng tôi cho rằng cách tiếp cận về mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng tín dụng thế chấp như Nghị định số 163/2006/NĐ-
CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm là hợp lý và có cơ sở khoa học
1.2 TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.2.1 Khái niệm về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
1.2.1.1 Khái niệm về trách nhiệm pháp lý
Trong mối quan hệ giữa con người với con người trong cuộc sống hàng ngày, trong sản xuất kinh doanh, thuật ngữ trách nhiệm được sử dụng khá phổ biến Ví
iii
Xem thêm khoản 2 và khoản 3 Điều 410 Bộ luật dân sự 2005
Trang 24dụ, cha mẹ có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, ngược lại con cái
có bổn phận kính trọng, yêu thương ông bà, cha mẹ; mọi công dân có trách nhiệm tôn
trọng pháp luật… Theo Từ điển tiếng Việt, trách nhiệm được hiểu theo hai nghĩa "1
Phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; 2 Sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả"
[35, tr 896] Theo đó có thể thấy trách nhiệm được hiểu theo hai nghĩa: tích cực và tiêu cực Theo nghĩa tích cực, trách nhiệm gắn bó chặt chẽ với bổn phận, với nghĩa
vụ, là điều phải làm Theo nghĩa tiêu cực, trách nhiệm là hậu quả bất lợi phải gánh chịu về mình khi có sự vi phạm hay không thực hiện nghĩa vụ Việc thực hiện hoặc không thực hiện công việc đó không nhất thiết cần phải có sự bảo đảm của Nhà nước bằng pháp luật Nhưng khi các loại trách nhiệm đó được Nhà nước điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật thì trách nhiệm đó trở thành bắt buộc, hay còn gọi là trách nhiệm pháp lý Trên thực tế, vai trò tác động của pháp luật ngày càng cao, nó không còn đóng khung ở chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội mà còn có tác dụng thúc đẩy
sự phát triển của xã hội theo hướng khách quan Do vậy, các quan hệ trách nhiệm không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện các chế tài xử lý các hành vi vi phạm, mà còn có tác động đến việc hình thành ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên trong xã hội thông qua những quy định trách nhiệm phải thực hiện một nhiệm vụ nào đó
Theo định nghĩa trong giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường
Đại học Luật Hà Nội năm 2009 thì: "Trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm của các
chủ thể vi phạm pháp luật trước nhà nước (thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh" [31, tr 496]
Trong thực tế, trách nhiệm pháp lý chỉ được áp dụng khi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật, hay nói cách khác, trách nhiệm pháp lý là hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý chỉ do các cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền (cơ quan quản lý nhà nước, Tòa án,…) tiến hành đối với các chủ thể vi phạm pháp luật Truy cứu trách nhiệm pháp lý về thực chất là áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước đã được quy định trong bộ phận chế tài
Trang 25của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật Tuy nhiên, bản thân trách nhiệm pháp lý không phải là sự cưỡng chế nhà nước mà chỉ là nghĩa vụ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế nhà nước do pháp luật quy định Như vậy, về nội dung thì trách nhiệm pháp lý là sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với chủ thể vi phạm pháp luật; về hình thức thì đó là việc nhà nước tổ chức cho chủ thể
vi phạm pháp luật thực hiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật
Trách nhiệm pháp lý có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh khi có đầy đủ các căn cứ do pháp luật quy định;
- Trách nhiệm pháp lý phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng;
- Trách nhiệm pháp lý mang lại hậu quả pháp lý bất lợi cho các chủ thể bị áp dụng;
- Trách nhiệm pháp lý có mục đích giáo dục, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật
Dựa trên những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm
pháp lý như sau: trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi mà chủ thể vi phạm pháp
luật (vì có hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác) phải gánh chịu với tính chất là biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị vi phạm
Trong lý luận chung về pháp luật, theo phương pháp truyền thống, trách nhiệm pháp lý được phân định thành trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật
1.2.1.2 Khái niệm về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng thực chất là trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dân sự và là một dạng của trách nhiệm pháp lý- trách nhiệm dân sự Trong quan hệ hợp đồng tín dụng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng được hiểu là việc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi mang tính vật chất
do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tín dụng của mình Chính vì vậy, thuật ngữ
"trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng tín dụng" được sử dụng rộng rãi
Trang 26Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng là hậu quả bất lợi về vật chất mà bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tín dụng phải gánh chịu Vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tín dụng chính là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng tín dụng
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng nói riêng đều thuộc trách nhiệm pháp lý, vì vậy, chúng đều mang đầy
đủ các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm pháp lý Tuy nhiên, do những đặc thù của quan hệ hợp đồng nói chung và các lọai hợp đồng tín dụng nói riêng, trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng tín dụng có những đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, về thẩm quyền áp dụng: Khác với trách nhiệm pháp lý chỉ được áp
dụng bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng còn có thể được áp dụng bởi tòa án, tổ chức trọng tài thương mại Do nhiều hợp đồng tín dụng chịu sự chi phối của các hệ thống pháp luật khác nhau nên khi các cơ quan này áp dụng các hình thức trách nhiệm cụ thể do vi phạm hợp đồng tín dụng, cần phải căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng hoặc nếu hợp đồng tín dụng không quy định thì phải căn cứ vào các quy định của luật áp dụng
Thứ hai, về lĩnh vực áp dụng: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
được áp dụng trong lĩnh vực ký kết và thực hiện hợp đồng tín dụng khi có hành vi
vi phạm hợp đồng tín dụng Nếu hợp đồng tín dụng chưa được ký kết và đi vào thực hiện thì sẽ không đặt ra vấn đề hiệu lực của hợp đồng tín dụng, không có căn cứ để xác định hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng không hợp pháp cũng có thể làm phát sinh trách nhiệm nhưng đó là trách nhiệm ngoài hợp đồng tín dụng vì nó không phát sinh từ các nghĩa vụ do các bên thỏa thuận với nhau
Thứ ba, về tính chất của trách nhiệm: Trong quan hệ hợp đồng tín dụng, yếu
tố lợi ích vật chất là yếu tố hàng đầu, vì mục đích của hợp đồng tín dụng là mục đích kinh doanh, thương mại tức là để thu lợi nhuận cho các bên ký kết Vì vậy, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng cũng mang tính vật chất hay tính tài sản Bên vi phạm hợp đồng tín dụng phải gánh chịu hậu quả vật chất bất lợi, tức phải dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bồi hoàn tổn thất vật chất cho bên bị
Trang 27vi phạm dưới hình thức tiền phạt vi phạm hoặc tiền bồi thường thiệt hại; hay phải gánh chịu những tổn thất về vật chất như chi phí để thực hiện đúng hợp đồng tín dụng, các tổn thất không thu hồi được do hợp đồng tín dụng bị hủy bỏ hoặc đình chỉ,… Bên vi phạm hợp đồng tín dụng sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm hành chính trước đối tác ký kết hợp đồng tín dụng với mình
Thứ tư, về mục đích áp dụng các chế tài: Các chế tài do vi phạm hợp đồng
tín dụng được áp dụng không chỉ nhằm mục đích giáo dục và phòng ngừa vi phạm pháp luật như trách nhiệm pháp lý nói chung mà mục đích chính của việc áp dụng các chế tài này là khôi phục lợi ích vật chất, bù đắp những tổn thất cho bên bị vi phạm Việc áp dụng các chế tài này không chỉ mang tính trừng phạt đối với bên vi phạm mà còn tính toán để đảm bảo lợi ích chính đáng của bên họ Điều này thể hiện
ở các quy định về miễn giảm trách nhiệm; về nghĩa vụ chứng minh tổn thất, nghĩa
vụ hạn chế thiệt hại của bên bị vi phạm Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của quan hệ hợp đồng tín dụng là quan hệ mang tính chất đền bù ngang giá; khi hợp đồng tín dụng bị vi phạm, điều mà các bên quan tâm đến nhiều chính là lợi ích vật chất của mình sẽ được đáp ứng ra sao thông qua việc thực hiện các chế tài do vi phạm hợp đồng tín dụng
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng tín dụng như sau: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng là hệ thống các
quy định liên quan đến trách nhiệm dân sự, trách nhiệm về tài sản, được quy định với các chế định, chế tài cụ thể và được bảo đảm thực hiện bằng cơ chế do pháp luật quy định, nhằm một mặt là phục hồi lại quyền lợi cho bên bị vi phạm và mặt khác là răn đe, giáo dục bên vi phạm
1.2.2 Những vấn đề thuộc nội dung của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng trong phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định về các yếu tố cấu thành trách nhiệm, các căn cứ miễn trách
nhiệm và các chế tài áp dụng do vi phạm hợp đồng tín dụng
Trang 281.2.2.1 Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
Để quy trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng tín dụng, cần căn cứ vào 4 yếu tố sau, đó là: Có hành vi trái pháp luật của bên vi phạm; bên bị vi phạm có thiệt hại về tài sản; bên vi phạm có lỗi; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng của bên vi phạm và thiệt hại về tài sản của bên bị vi phạm
Có hành vi trái pháp luật của bên vi phạm: đây là yếu tố đầu tiên cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng Hành vi này có thể được thể hiện dưới dạng hành động (thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng tín dụng) hoặc không hành động (không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tín dụng) Như vậy chỉ được coi là hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng nếu hành vi đó xảy ra kể từ khi hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật Việc chứng minh có hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng của bên vi phạm là nghĩa vụ của bên bị vi phạm
Bên bị vi phạm có thiệt hại về tài sản: đây là những thiệt hại về vật chất của bên bị vi phạm, là những thiệt hại có thể tính toán được chứ không phải do suy diễn
mà có Việc xác định có thiệt hại xảy ra và thiệt hại bao nhiêu là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết vì nó liên quan trực tiếp đến việc gánh chịu trách nhiệm của bên vi phạm
Bên vi phạm có lỗi: lỗi được hiểu là thái độ chủ quan của một chủ thể đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Bên vi phạm hợp đồng tín dụng khi thực hiện hành vi của mình có khả năng nhận thức trước những hậu quả do hành vi đó gây ra nhưng cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi đó
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng của bên
vi phạm và thiệt hại về tài sản của bên bị vi phạm: Sau khi đã xác định được có hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng của bên vi phạm và thiệt hại về tài sản của bên
bị vi phạm thì phải xác định giữa chúng có mối quan hệ nhân quả, nếu không chứng minh được mối quan hệ này thì không đủ căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng Mối quan hệ này được hiểu là hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại thực tế, thiệt hại thực tế phát sinh là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm
Trang 291.2.2.2 Các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
Như trên đã phân tích, khi một bên có hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng thì
họ mặc nhiên bị suy đoán là có lỗi và phải chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm Nhưng nếu bên vi phạm chứng minh được mình không có lỗi trong việc vi phạm đó thì không phải chịu trách nhiệm Để chứng minh mình không có lỗi, bên vi phạm phải chứng minh được một trong các căn cứ miễn trách nhiệm được quy định trong luật hoặc trong hợp đồng tín dụng Theo quy định của pháp luật nhiều nước và của pháp luật Việt Nam hiện hành thì có 4 căn cứ miễn trách nhiệm là: i) xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận, ii) xảy ra sự kiện bất khả kháng, iii) hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và iv) hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng tín dụng [ Điều 294 khoản 1- Luật thương mại]
Ngoài bốn căn cứ miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng đã phân tích ở trên còn quy định một căn cứ miễn trách nhiệm nữa, đó là "Do lỗi của người thứ ba", mà người thứ ba không thực hiện nghĩa vụ của mình do gặp phải các trường hợp bất khả kháng
Trang 30Như đã trình bày ở phần 1.2.2.1, hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng của bên
vi phạm được coi là yếu tố đầu tiên cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng Các bên khi ký kết hợp đồng tín dụng đều hướng tới những quyền lợi nhất định, nhưng đồng thời việc ký kết hợp đồng tín dụng này cũng là sự ràng buộc các bên bởi những nghĩa vụ nhất định Bộ luật dân sự Pháp có quy định: "Hợp đồng tín dụng giao kết hợp pháp có giá trị như luật đối với các bên giao kết" (Điều 1134) Theo Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng tín dụng thì "Hợp đồng tín dụng được hình thành hợp pháp ràng buộc các bên giao kết" (Điều 1.3) Từ đó có thể thấy hợp đồng tín dụng tuy
là sự thỏa thuận giữa các bên, là sự thể hiện ý chí thống nhất giữa các bên, song một khi đã được xác lập, ký kết thì việc thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng tín dụng là bắt buộc Vi phạm hợp đồng tín dụng là việc không thực hiện hay thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng tín dụng, là hành vi trái pháp luật và chủ thể thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm đối với bên bị vi phạm
Pháp luật các nước đều coi vi phạm hợp đồng tín dụng là yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng Luật Dân sự và Luật Thương mại năm 2005 quy định một trong những căn cứ để áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng là phải có hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng Khi xem xét hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng, ngoài việc xác định thế nào là hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng thì còn cần thiết phải làm rõ thế nào là vi phạm cơ bản,
vi phạm không cơ bản và vi phạm trước thời hạn vì hậu quả pháp lý của các hành
vi vi phạm này là khác nhau
Trang 31Thứ nhất, vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản: Sự phân biệt này là rất
cần thiết vì hậu quả pháp lý của chúng là hoàn toàn khác nhau, vì không được áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng tín dụng, đình chỉ thực hiện hợp đồng tín dụng, huỷ bỏ hợp đồng tín dụng đối với vi phạm không cơ bản [7, Điều 293]
Bộ luật Dân sự năm 2005 không có sự phân biệt giữa vi phạm cơ bản hay vi phạm không cơ bản Các nhà làm luật đã đưa quy định về vi phạm cơ bản, vi phạm không cơ bản vào trong Luật Thương mại năm 2005 nhằm đảm bảo công bằng trong hợp đồng tín dụng kinh doanh thương mại, tránh trường hợp một trong các bên lấy lý do có hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng để áp dụng những chế tài nặng trong những trường hợp mà sự vi phạm được coi là không đáng kể Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 2005 và cả Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng không có quy định nào xác định vi phạm nào là vi phạm cơ bản hay không cơ bản Điều này gây nhiều khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn
Công ước Viên năm 1980 khi quy định về vi phạm cơ bản cũng đồng thời đưa ra khái niệm về vi phạm cơ bản Theo đó, vi phạm hợp đồng tín dụng được coi
là cơ bản nếu sự vi phạm đó gây ra cho bên bị vi phạm một sự tổn thất, một khoản lợi đáng kể mà họ có được trên cơ sở hợp đồng tín dụng, ngoại trừ trường hợp bên
vi phạm không nhìn thấy trước hậu quả đó và những người có lý trí minh mẫn cũng không nhìn thấy trước được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự [1717, Điều 25]
Thứ hai, vi phạm trước thời hạn: Luật Thương mại năm 2005 không quy
định về vi phạm hợp đồng tín dụng trước thời hạn Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm
2005 đã có quy định liên quan đến vấn đề này tại Điều 415: trong trường hợp nếu bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng tín dụng trước có căn cứ cho rằng bên kia không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình thì có quyền hoãn thực hiện nghĩa
vụ của mình cho đến khi phía bên kia có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba Tuy nhiên, nếu quy định của Bộ luật Dân sự chỉ dừng lại ở đó thì bản chất của vấn đề vẫn chưa được giải quyết, bởi vì nếu chờ đợi đến khi bên kia có khả năng thực hiện nghĩa vụ thì rất có thể thiệt hại sẽ lớn hơn rất nhiều và vì vậy, điều này có phải là không tuân thủ một quy định khác của luật - nghĩa vụ hạn chế tổn thất [16, tr 66]
Trang 32Tuy vậy, không phải pháp luật quốc gia nào cũng có quy định về vấn đề này
Ví dụ: theo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp thì: "không thể đòi hỏi thực hiện một nghĩa vụ có kỳ hạn trước khi đến kỳ hạn đó" [9, Điều 1186] Điều này được giải thích bởi không thể có vi phạm nghĩa vụ trước thời điểm khi mà thời hạn thực hiện vẫn chưa hết Bên có nghĩa vụ phải thực hiện một nghĩa vụ nào đó khi có xuất hiện một sự kiện hay một thời hạn nhất định Do đó không thể vi phạm nghĩa vụ trước thời điểm sự kiện đó xuất hiện hay đến thời hạn nhất định đó
Thực tiễn ở Việt Nam các vi phạm chủ yếu do bên vay là bên vi phạm, còn bên cho vay (ngân hàng) là bên bị vi phạm Biểu hiện của vi phạm chủ yếu là không trả tiền, trả tiền không đúng hạn
2.1.1.2 Yếu tố thứ hai: có thiệt hại về tài sản
Có thiệt hại về tài sản mới có cơ sở để áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng Đây là những thiệt hại vật chất thực tế tính được thành tiền do bên vi
phạm gây ra, bao gồm: "tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế,
khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút" [6, Điều 307 khoản
2] Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 thì thiệt hại này bao gồm: giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên vi phạm phải chịu và khoản lợi trực tiếp mà bên bị
vi phạm đáng lẽ được hưởng [7, Điều 302 khoản 2]
Pháp luật của các nước và các văn bản pháp luật lĩnh vực tín dụng ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đều có quy định mang tính nguyên tắc đó là có thiệt hại thì mới bồi thường Nếu có hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng nhưng không gây thiệt hại thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường Điều 1149 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: "Những thiệt hại phải bồi thường cho người có quyền gồm những khoản mà họ mất và món lợi mà họ không được hưởng" và: "Người có nghĩa vụ chỉ phải chịu các khoản bồi thường thiệt hại đã được dự kiến đã có thể được dự kiến khi giao kết hợp đồng tín dụng, trừ trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện là do sự lừa dối của người đó" [9, Điều 1150]
Về nguyên tắc những thiệt hại, kể cả thiệt hại trong tương lai, chỉ có thể được bồi thường khi chúng được thiết lập với một mức độ hợp lý về tính xác thực Điều
đó có nghĩa bên bị vi phạm không thể yêu cầu bên vi phạm bồi thường những thiệt
Trang 33hại mang tính giả định hoặc có thể xảy ra Thiệt hại mang tính giả định sẽ không thể được bồi thường Bên bị vi phạm muốn được bồi thường phải chứng minh được thiệt hại xảy ra là thiệt hại thực tế
Thực tiễn ở Việt Nam các thiệt hại chủ yếu là các khoản tiền gốc, tiền lãi, tiền chi phí thu hồi nợ, chi phí khởi kiện…của các ngân hàng thương mại cổ phần
2.1.1.3 Yếu tố thứ ba: có lỗi của bên vi phạm
Lỗi là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xác định trách nhiệm do
vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tín dụng Về nguyên tắc, pháp luật dân sự quy định người có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm dân sự bất luận hành vi đó được thực hiện với lỗi vô ý hay lỗi cố ý Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác"
Khi tham gia giao kết hợp đồng tín dụng, các bên đã biết và buộc phải biết rằng mục đích của hợp đồng tín dụng cũng như quyền lợi của một bên chỉ có thể đạt được thông qua việc thực hiện đúng nghĩa vụ của bên kia Điều đó cũng có nghĩa các bên nhận thức rõ rằng việc vi phạm nghĩa vụ của mình sẽ đem lại thiệt hại vật chất cho phía bên kia Như vậy, bản thân hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng đã bao hàm yếu tố lỗi trong đó Theo đó, trách nhiệm chứng minh hành vi vi phạm thuộc
về bên bị vi phạm, còn bên vi phạm muốn tránh khỏi trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng thì phải chứng minh mình không có lỗi khi thực hiện hành vi vi phạm Bên vi phạm phải chịu trách nhiệm nếu không chứng minh được rằng việc vi phạm hợp đồng tín dụng là do trường hợp bất khả kháng gây ra: Một bên kết ước không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng tín dụng hoặc là tránh được hay khắc phục được các hậu quả của nó
Trang 34Thực tiễn ở Việt Nam lỗi chủ yếu là từ phớa bờn khỏch hàng vay và lỗi chủ yếu là lỗi cố ý khụng thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay, lói tiền vay
2.1.1.4 Yếu tố thứ tư: cú mối quan hệ nhõn quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng tớn dụng của bờn vi phạm và thiệt hại về tài sản của bờn bị vi phạm
Trong khoa học pháp lý, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra đ-ợc hiểu là giữa chúng có mối liên hệ nội tại, tất yếu Trong
đó, hành vi gây thiệt hại là nguyên nhân, thiệt hại là kết quả Hành vi vi phạm trên thực tế là nguyên nhân trực tiếp có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra và chỉ khi nào thiệt hại xảy ra là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm, thì ng-ời vi phạm mới phải bồi th-ờng thiệt hại
Trong lĩnh vực hợp đồng cũng nh- vậy, chỉ khi nào hành vi vi phạm hợp
đồng của một bên là nguyên nhân dẫn đến những tổn thất, thiệt hại cho bên kia, thì bên vi phạm mới phải chịu trách nhiệm Trong tr-ờng hợp thiệt hại xảy ra không phải do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên gây ra mà do những nguyên nhân khác, thì sẽ không đặt ra vấn đề bồi th-ờng thiệt hại
Theo quy định tại Điều 303 khoản 3 Luật Thương mại năm 2005 thỡ mối liờn hệ giữa hành vi vi phạm hợp đồng tớn dụng và thiệt hại vật chất phải là mối liờn hệ trực tiếp Một sự thiệt hại cú thể do nhiều nguyờn nhõn gõy ra, để buộc bờn vi phạm phải chịu trỏch nhiệm về thiệt hại đú thỡ phải chứng minh rằng thiệt hại là hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm mà khụng phải là hậu quả của cỏc nguyờn nhõn khỏc
Một bờn muốn đũi bồi thường thiệt hại thỡ phải chứng minh được mối quan
hệ nhõn quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng tớn dụng và thiệt hại tài sản phỏt sinh Tuy nhiờn, cỏc chủ thể trong hợp đồng tớn dụng thường cú quốc tịch khỏc nhau, trụ
sở thương mại đúng ở cỏc nước khỏc nhau cho nờn việc chứng minh mối quan hệ trờn cũng khụng hề đơn giản, nú phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nguồn luật điều chỉnh, tập quỏn lĩnh vực tớn dụng ngõn hàng thương mại cổ phần Việt Nam, điều ước quốc tế về thương mại, sự bất đồng về ngụn ngữ,…
Trang 352.1.2 Thực trạng các quy định của pháp luật về các căn cứ miễn trách nhiệm
và điểm a khoản 1 Điều 294 Luật Thương mại năm 2005 (về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng)
Như vậy, pháp luật cho phép các bên tự do thỏa thuận về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng cũng tức là cho phép các bên được quyền thỏa thuận về việc miễn trừ trách nhiệm nếu có vi phạm hợp đồng tín dụng Điều đó có nghĩa, các bên có quyền thỏa thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm và các căn cứ miễn trách nhiệm áp dụng riêng cho hợp đồng tín dụng đó và hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên dựa trên hoàn cảnh cụ thể của từng hợp đồng tín dụng Những trường hợp và những căn cứ này không phải là các trường hợp miễn trách nhiệm do pháp luật quy định như đã phân tích ở trên Khi điều kiện là căn cứ để miễn trừ trách nhiệm do các bên thỏa thuận xảy ra, bên vi phạm đương nhiên được miễn trách nhiệm, mặc dù trên thực tế cả hai bên không hề có lỗi và việc xảy ra thiệt hại các bên vẫn có thể ngăn chặn và lường trước được, song để thực hiện được việc đó là điều không phải dễ
Thực tiễn ở Việt Nam trong các hợp đồng tín dụng không có thỏa thuận này hoặc có thì cũng sơ sài không thực hiện trong thực tế
2.1.2.2 Thực trạng các quy định của pháp luật về căn cứ miễn trách nhiệm thứ hai: do gặp bất khả kháng
Bên vi phạm hợp đồng tín dụng sẽ được miễn trách nhiệm về việc không thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng tín dụng nếu việc không thực hiện này vì họ gặp bất khả kháng
Trang 36Theo quy định tại Điều 161 khoản 1 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: "Sự kiện
bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khánh quan không thể lường trước được
và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép" Tuy nhiên, pháp luật lại không có quy định một cách rõ ràng
những sự kiện nào là sự kiện bất khả kháng Trong thực tế các sự kiện này rất đa dạng, ví dụ: những hiện tượng thiên nhiên như bão lũ, động đất, …; chiến tranh; bạo loạn của dân chúng; đình công; … Theo quy định tại khoản 2 Điều 302 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Điều 294 khoản
1 điểm b Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định khi xảy ra sự kiện bất khả kháng, bên vi phạm hợp đồng tín dụng được miễn trách nhiệm
Về nguyên tắc chung thì một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một cản trở nằm ngoài sự sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng tín dụng Như vậy, bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng nhưng từ nội dung trên có thể suy ra đây là trường hợp bất khả kháng vì theo pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp thì bất khả kháng được hiểu là hiện tượng khách quan mà các bên không lường trước được, không khắc phục được
Luật Thương mại năm 2005 có quy định về nghĩa vụ thông báo của bên bị vi phạm Theo đó, bên vi phạm hợp đồng tín dụng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra (Điều 295 Luật Thương mại năm 2005) Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2005 lại không có quy định về nghĩa vụ thông báo của người vi phạm hợp đồng tín dụng Sự thiếu sót này có thể dẫn đến việc bên bị vi phạm hợp đồng tín dụng sẽ gặp phải những thiệt hại lớn hơn, trong khi đó bên vi phạm lại được miễn trách nhiệm, điều đó sẽ là không công bằng đối với bên bị vi phạm Ngoài ra, việc miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng sẽ không được đặt ra nếu như các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Ví dụ như trong hợp đồng tín dụng các bên đã thỏa thuận rõ
Trang 37ràng rằng, bờn vi phạm hợp đồng tớn dụng sẽ vẫn phải chịu trỏch nhiệm đối với hành
vi vi phạm hợp đồng tớn dụng của mỡnh cả trong trường hợp bất khả khỏng Tuy vậy, những thỏa thuận như vậy là rất ớt hoặc gần như khụng cú bởi bản thõn sự thỏa thuận
đó cho thấy rừ tỡnh thế bất lợi của một bờn giao kết hợp đồng tớn dụng, hoặc cú thỏa thuận như vậy và khi cú tranh chấp thỡ thỏa thuận này vẫn cú nguy cơ bị tuyờn vụ hiệu- do thỏa thuận trỏi quy định của phỏp luật
Thực tiễn ở Việt Nam trong cỏc hợp đồng tớn dụng đều quy định về căn cứ này, tuy nhiờn cũng chỉ quy định chung chung theo quy định của phỏp luật
2.1.2.3 Thực trạng cỏc quy định của phỏp luật về căn cứ miễn trỏch nhiệm thứ ba: do lỗi của bờn vi phạm
Việc khụng thực hiện hay thực hiện khụng đỳng nghĩa vụ hợp đồng tớn dụng
là do hành vi hay sơ suất của bờn bị vi phạm thỡ bờn vi phạm sẽ được miễn trỏch nhiệm đối với hành vi vi phạm đú Hay núi cỏch khỏc bờn vi phạm hợp đồng tớn dụng sẽ khụng phải chịu trỏch nhiệm nếu như việc vi phạm đú hoàn toàn do lỗi của bờn cú quyền
Luật Thương mại khụng quy định lỗi của bờn bị thiệt hại là căn cứ miễn trừ trỏch nhiệm do khụng thực hiện hay thực hiện khụng đỳng hợp đồng tớn dụng Tuy nhiờn, nhận thức rừ tầm quan trọng của vấn đề khụng trách nhiệm này, cỏc nhà làm luật đó đưa vấn đề trờn vào Bộ luật Dõn sự năm 2005 Điều đú được quy định tại
khoản 3 Điều 302 của Bộ luật Dõn sự năm 2005: "Bờn cú nghĩa vụ khụng phải chịu
trỏch nhiệm dõn sự nếu chứng minh được nghĩa vụ khụng thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bờn cú quyền”
Để phự hợp và thống nhất với quy định của Bộ luật Dõn sự, đảm bảo sự tương thớch với phỏp luật quốc tế, Luật Thương mại năm 2005 đó cú quy định về vấn đề này Cụ thể, Luật Thương mại năm 2005 đó quy định một trong những căn
cứ miễn trỏch nhiệm là do: "hành vi vi phạm của một bờn hoàn toàn do lỗi của bờn kia" (Điều 294 khoản 1 điểm c)
Theo cỏc quy định trờn, nghĩa vụ chứng minh thuộc về bờn vi phạm hợp đồng tớn dụng Theo nguyờn tắc suy đoỏn lỗi, bờn vi phạm phải chứng minh được là
Trang 38mình không có lỗi và đồng thời chứng minh được việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng tín dụng là do lỗi của bên có quyền Bởi vì, để được coi là căn cứ miễn trách nhiệm, lỗi của bên bị vi phạm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng
Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định rằng, lỗi đó phải hoàn toàn là lỗi của bên
có quyền, tức là nếu như lỗi thuộc về cả hai, thì bên vi phạm hợp đồng tín dụng sẽ không được miễn hoàn toàn trách nhiệm Trường hợp này luật cũng không quy định rõ trách nhiệm của bên vi phạm sẽ như thế nào Tác giả cho rằng nếu như sự vi phạm hợp đồng tín dụng là do lỗi của cả hai bên giao kết hợp đồng tín dụng, tức là có cả lỗi của bên có quyền, thì bên có nghĩa vụ sẽ được giảm một phần trách nhiệm
2.1.2.4 Thực trạng các quy định của pháp luật về căn cứ miễn trách nhiệm thứ tư: do Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trường hợp miễn trừ này được Luật Thương mại năm 2005 quy định tại Điều 294 khoản 1 điểm d: "Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng tín dụng" Theo đó, quyết định của cơ quan nhà nước trong một số trường hợp cũng được coi là cơ sở miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng Những quyết định này có thể là quyết định đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cũng có thể là quyết định của các tổ chức quốc tế (lệnh cấm vận thương mại đối với quốc gia nào đó)
Cơ sở cho việc quy định căn cứ miễn trách nhiệm này là bên vi phạm hợp đồng tín dụng hy sinh một lợi ích nhỏ hơn (lợi ích vật chất của các bên trong hợp đồng tín dụng) vì một lợi ích lớn hơn (lợi ích của cộng đồng, của xã hội) Tuy nhiên khi nghiên cứu về căn cứ miễn trách nhiệm này, có ý kiến cho rằng nên sử dụng ngân sách nhà nước để bù đắp phần nào những tổn thất vật chất mà bên bị
vi phạm phải gánh chịu Tác giả ủng hộ ý kiến này vì như vậy sẽ đảm bảo được lợi ích vật chất của các bên trong hợp đồng tín dụng, đồng thời đảm bảo về mặt pháp lý để các bên thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân của mình khi được nhà nước yêu cầu
Trang 392.1.3 Thực trạng quy định của pháp luật về các chế tài do vi phạm hợp đồng tín dụng
2.1.3.1 Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tín dụng
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tín dụng được sử dụng nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng tín dụng Theo quy định tại Điều
297, khoản 1 Luật Thương mại năm 2005 thì chế tài này được hiểu là bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng tín dụng hoặc áp dụng các biện pháp khác để hợp đồng tín dụng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh
Trong quan hệ hợp đồng tín dụng thì cả bên vay và bên cho vay đều có thể là bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tín dụng Khi đó, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện đúng hợp đồng tín dụng:
Theo quy định tại Điều 297 Luật Thương mại năm 2005 nếu bên cho vay vi phạm nghĩa vụ thì bên vay có quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng tín dụng bằng các cách sau:
- Nếu vi phạm là giải ngân thiếu không đúng hợp đồng tín dụng thì buộc phải giao đủ theo hợp đồng tín dụng;
- Nếu vi phạm là chậm giải ngân thì phải thực hiện nghĩa vụ giải ngân;
Khi áp dụng chế tài này, bên vay có thể gia hạn cho bên cho vay một thời hạn bổ sung hợp lý để người bán thực hiện nghĩa vụ của mình [7, Điều 298]
Nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ hợp đồng tín dụng thì bên cho vay có những quyền sau:
- Yêu cầu bên vay trả tiền
- Gia hạn một thời gian hợp lý để bên vay thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tín dụng [7, Điều 298] Trong trường hợp này, bên cho vay không mất quyền yêu cầu trả tiền phạt vi phạm nếu các bên có thỏa thuận hay đòi bồi thường thiệt hại do người mua chậm thực hiện nghĩa vụ [7, Điều 299 khoản 1]
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tín dụng được quy định trong Luật Thương mại năm 2005 tương tự như quy định của Công ước Viên năm 1980 Đây là một chế tài được áp dụng tương đối phổ biến bởi nội dung của nó thường chứa đựng
Trang 40hướng khắc phục những vi phạm, tạo điều kiện để các bên có thể bảo vệ được lợi ích chính đáng của mình
2.1.3.2 Chế tài phạt vi phạm
Theo quy định tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 thì phạt vi phạm là việc bên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồng tín dụng nếu trong hợp đồng tín dụng có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Như vậy, bên bị vi phạm nhận được số tiền bị thiệt hại như
dự kiến mà không phải chứng minh thực tế mình có bị thiệt hại hay không, chỉ cần chứng minh là đã có hành vi vi phạm theo đúng quy định trong điều khoản phạt là
có quyền đòi khoản tiền phạt
Như vậy, khi hợp đồng tín dụng có quy định tiền phạt cho việc không thực hiện hợp đồng tín dụng và không có quy định thêm gì khác thì bên vi phạm hợp đồng tín dụng phải nộp tiền phạt cho bên bị vi phạm, không phụ thuộc vào việc bên kia có bị thiệt hại hay không, bị thiệt hại nhiều hay ít Nếu muốn căn cứ vào việc có thiệt hại mới phải nộp phạt thì phải quy định trong hợp đồng tín dụng
Chế tài phạt vi phạm được áp dụng trong hai trường hợp vi phạm, đó là: không thực hiện hợp đồng tín dụng hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng tín dụng Khi áp dụng chế tài này, theo nguyên tắc, sẽ thực hiện hai chức năng: thứ nhất, là chế tài bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tín dụng; thứ hai, là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng tín dụng
Trường hợp không thực hiện hợp đồng tín dụng: thông thường, mức phạt trong trường hợp này tương đối cao vì nó thực hiện chức năng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tín dụng, nhằm phục hồi lại trạng thái ban đầu cho bên bị vi phạm Các bên phải cố gắng thực hiện hợp đồng tín dụng, nếu không sẽ bị phạt số tiền lớn Sau khi đã nộp đủ số tiền phạt, bên vi phạm thoát khỏi nghĩa vụ hợp đồng tín dụng của mình Quy định này làm cho đối phương nhụt ý định không thực hiện hay thực hiện không đúng hợp đồng tín dụng
Các bên có thể thỏa thuận mức phạt đối với một vi phạm hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng tín dụng bị vi phạm [7, Điều 301] Vì vậy các bên phải tính toán rất cẩn thận các hậu