1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thực hiện luật đất đai năm 2013 trong lĩnh vực thu hồi đất trên địa bàn quận long biên, thành phố hà nội

93 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, từ việc nghiên cứu thực trạng thực hiện Luật đất đai 2013, kết hợp với thực tiễn tại Long Biên, Hà Nội, tác giả đã nghiên cứu một cách nghiêm túc để từ đó phân tích và đưa ra nhữ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 2

2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, là nền tảng để xây dựng cơ sở kinh tế, khu dân cư, công trình văn hóa – xã hội, an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia

Để thực hiện mục tiêu “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo

nền tảng để đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” như Nghị quyết Đại hội IX đề ra, Nhà nước ta đã tiến hành thu hồi đất để sử dụng cho việc xây dựng các khu công nghiệp, đô thị, cơ sở hạ tầng và phục vụ cho các mục đích quốc phòng – an ninh Việc thu hồi đất đã đem lại những hiệu quả tích cực trong yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động từ nông, lâm nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, các dự án thu hồi đất

để xây dựng các công trình an sinh xã hội cũng góp phần đảm bảo hơn cho đời sống của nhân dân

Luật Đất đai 2013 được Quốc hội thông qua là sự kiện quan trọng đánh dấu những đổi mới về chính sách đất đai, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chế định về thu hồi đất cũng có nhiều đổi mới tích cực, các quy định về căn cứ thu hồi đất chặt chẽ hơn, cụ thể hơn, tránh việc thu hồi tùy tiện, xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

Thu hồi đất là vấn đề phức tạp và nhạy cảm, còn nhiều tồn tại và vướng mắc bởi liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều chủ thể Trên thực tế, công tác thu hồi đất gặp nhiều khó khăn, tồn tại nhiều vướng mắc, hiệu quả thấp, kể cả việc thu hồi đất

để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho chính cộng đồng dân cư có đất bị thu hồi Các quy định pháp luật về thu hồi đất nhiều và thường xuyên thay đổi nhưng còn thiếu đồng bộ, chưa hoàn chỉnh, chưa thống nhất và chưa đầy đủ căn cứ pháp lý để triển khai trong thực tiễn, đặc biệt là cơ chế thực hiện pháp luật về thu hồi đất

Trang 3

Với ý nghĩa trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Thực trạng thực hiện luật đất đai năm 2013 về thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội” làm

luận văn tốt nghiệp của mình Qua những kiến thức lý luận và thực tiễn tìm hiểu nguyên nhân, cùng việc đóng góp ý kiến nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong thời gian gần đây, với tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, nhu cầu phát triển kinh tế lớn đã dẫn đến hàng loạt các dự án cần đến mặt bằng đất để xây dựng cơ sở

hạ tầng Do đó, tình hình thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư đã dẫn đến việc người dân mất đất sản xuất, không có nơi sinh sống ổn định kéo theo nhiều hậu quả tiêu cực đã tạo nên sự bức xúc trong xã hội Nhiều vụ cưỡng chế thu hồi đất xảy ra, nhiều vụ khiếu kiện cũng do nguyên nhân thu hồi đất gây ra Luật đất đai 2013 mới

có hiệu lực một thời gian ngắn, trong đó cũng có những đổi mới về thu hồi đất Do

đó, vấn đề thu hồi đất và pháp luật về thu hồi đất đang được các nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm Thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn

đề này như: Vũ Hải Anh, Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

từ thực tiễn thực hiện tại Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Người hướng dẫn:

Trang 4

4

PGS.TS Phạm Hữu Nghị, Viện đại học Mở Hà Nội 2015; Nguyễn Đình Long, Thực

hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội, Người hướng dẫn: PGS.TS Đinh Văn

Thanh, Viện Đại học Mở Hà Nội 2015; Phùng Quang Thắng, Pháp luật về thu hồi đất cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo luật đất đai 2013, Người hướng

dẫn: TS Trần, Quang Huy, Viện Đại học Mở 2014; Đỗ Xuân Trọng, Quá trình hình

thành, phát triển và nội dung quản lý nhà nước về định giá đất theo Luật đất đai năm 2013, Tạp chí Luật học số Đặc san Luật đất đai 2014, trường Đại học Luật Hà

Nội; TS Nguyễn Thị Nga, Tổng quan pháp luật về giá đất, Đề tài nghiên cứu khoa

học cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013;…

Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện

và cụ thể về thu hồi đất theo Luật đất đai 2013 Vì vậy, từ việc nghiên cứu thực trạng thực hiện Luật đất đai 2013, kết hợp với thực tiễn tại Long Biên, Hà Nội, tác giả đã nghiên cứu một cách nghiêm túc để từ đó phân tích và đưa ra những nhận định, đánh giá của mình về thực trạng thực hiện Luật đất đai 2013 về thu hồi đất, từ

đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm góp phần khắc phục những khó khăn,

bất cập trong việc thu hồi đất ở nước ta hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực thi Luật đất đai 2013 về thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên

Đề tài nghiên cứu thực trạng áp dụng những quy định của pháp luật về thu hồi đất để làm rõ những kết quả đạt được và đưa ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thu hồi đất Nghiên cứu để tìm ra những nguyên nhân, khó khăn tồn tại và

đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất

Trang 5

5

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ có hạn của luận văn thạc sĩ Luật học, đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật thực định, các nguyên tắc pháp lý cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thu hồi đất

Luận văn đã tiếp cận và phân tích, bình luận các quy định của Luật đất đai năm

2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai,… Bên cạnh đó, Luận văn còn tìm hiểu các quy định khác của pháp luật có liên quan đến thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội như Luật thủ đô năm 2012, Luật Quy hoạch đô thị 2009… Qua việc nghiên cứu những quy định của pháp luật, tác giả mong muốn làm

rõ, cụ thể các vấn đề liên quan đến thu hồi đất để làm rõ những kết quả đạt được trong công tác thực thi pháp luật Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những đánh giá, nêu ra những khó khăn, nguyên nhân và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả trong công tác thu hồi đất

4 Mục đích nghiên cứu

Luận văn đặt ra những mục đích nghiên cứu cơ bản sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thu hồi đất theo Luật Đất đai 2013

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về thu hồi đất nói chung và thực tiễn thi hành Luật đất đai 2013 về thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên

- Đưa ra những định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về thu hồi đất

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn dựa trên: Phương pháp luận về duy vật biện chứng, lịch sử chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối chính sách của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền

Trang 6

6

Trên cơ sở đó, với mục tiêu tìm hiểu và đánh giá thực tiễn thực hiện Luật đất đai

2013 về thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên, luận văn còn sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích và đánh giá: Phân tích, tổng hợp

số liệu, dữ liệu thu thập được trên địa bàn quận Long Biên để đánh giá, phân

tích thực trạng thu hồi đất

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này sử dụng để đối chiếu với các quy

định của pháp luật, tìm ra những bất cập, chưa phù hợp, chưa thống nhất trong Luật đất đai 2013 về thu hồi đất, điểm chưa phù hợp của quy định pháp luật với thực tiễn thi hành

- Pháp pháp tổng hợp, phân tích, quy nạp, diễn dịch: được sử dụng khi nghiên

cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này Luận văn đã tiếp cận, thu thập, thừa kế những thông tin, tài liệu tổng kết thi hành Luật đất đai

2013 của Bộ tài nguyên và môi trường, các số liệu thực tế trên địa bàn quận Long Biên đã công bố để trên cơ sở đó phân tích, đánh giá pháp luật về thu hồi đất, đồng thời nhận diện những tồn tại, bất cập của pháp luật về vấn đề này, đề xuất giải pháp phù hợp theo mục tiêu đề ra

6 Tính mới của đề tài

Tiếp tục kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước, Luận văn đi tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện và tập trung về pháp luật thu hồi đất theo quy định của pháp luật Việt Nam Trong đó tập trung đi sâu vào nghiên cứu quá trình thực hiện Luật đất đai 2013 về thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu, phân tích những quy định mới của Luật đất đai 2013 so với những quy định cũ để thấy được ưu điểm cũng như hạn chế về thu hồi đất

Trang 7

7

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương chính sau

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của thực hiện pháp luật về thu hồi đất Chương 2: Tình hình thực hiện Luật đất đai 2013 về thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội

Chương 3: : Định hướng hoàn thiện pháp luật và giải pháp

Trang 8

8

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT 1.1 Khái quát về thu hồi đất

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và nội dung của thực hiện thu hồi đất

• Khái niệm thu hồi đất

Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Thu hồi là việc thu về lại, lấy lại cái

trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác” Từ đó, ta có thể hiểu thu hồi đất là việc Nhà nước lấy lại đất đã giao, đã cho thuê vì lý do nào đó Thu hồi đất thể hiện quyền lực Nhà nước, người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Vì vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội, lặp lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước về đất đai trên cơ sở bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Thu hồi đất là nội dung quan trọng trong quản lý đất đai

Khoản 5 Điều 4 Luật đất đai 2003 quy định: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra

quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”

Khoản 11 Điều 3 Luật đất đai 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc

Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất

đai”

Theo đó, thu hồi đất xét về mặt hình thức là văn bản hành chính; nhưng xét về mặt nội dung là việc sử dụng quyền lực nhà nước để thu lại quyền sử dụng đất để phục vụ cho các mục tiêu của Nhà nước Vì vậy, quyết định thu hồi đất có những đặc điểm sau đây:

- Việc thu hồi đất do cơ quan quản lý hành chính nhà nước tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định Thẩm quyền thu hồi đất được xác định theo thẩm quyền

Trang 9

- Phương pháp mệnh lệnh được dùng trong mọi trường hợp thu hồi đất Đây là quan hệ một bên là Nhà nước với một bên là người sử dụng đất, hai chủ thể này không có sự bình đẳng với nhau về mặt pháp lý

- Thu hồi đất là một biện pháp pháp lý quan trọng nhằm thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà nhà nước là người đại diện chủ sở hữu Để thực hiện nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, xã hội và lập lại kỉ cương của Nhà nước trong trường hợp vi phạm luật đất đai

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm thu hồi đất như sau: Thu hồi đất là văn bản

hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất

Sau khi Nhà nước thu hồi đất nhằm các mục đích quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội thì Nhà nước phải thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư cho người dân có đất bị thu hồi nhằm bù đắp cho những mất mát đó Vậy thế nào

là bồi thường, hỗ trợ, tái định cư?

Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất1 Có thể hiểu bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc bù đắp thiệt hại về đất và tài sản trên đất do thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật

1 Khoản 12 Điều 3 Luật đất đai 2013

Trang 10

Luật đất đai 2013 không định nghĩa thế nào là tái định cư khi Nhà nước thu

hồi đất Tuy nhiên có thể hiểu: “Tái định cư chỉ đặt ra khi người sử dụng đất bị thu

hồi đất ở, khi đó họ được Nhà nước thu xếp chỗ ở mới bằng việc tái định cư, có thể

là bằng một diện tich đất ở mới hoặc nhà ở mới tại khu tái định cư hoặc bằng tiền

để họ tự lo chỗ ở mới”4 Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm giúp họ an cư lạc nghiệp, tái tạo môi trường sống mới khi đã mất đi nơi ở cũ

• Mục đích và ý nghĩa của việc thu hồi đất

 Mục đích của thu hồi đất

Theo quy định của pháp luật đất đai, thu hồi đất có những mục đích sau: Thứ nhất, thu hồi đất để tạo quỹ đất phục vụ cho các dự án kinh tế - xã hội và các dự án khác Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đặt ra yêu cầu lớn trong việc xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhu cầu phát triển Đồng thời, với đó quá trình mở cửa hội nhập đã thu hút hàng ngàn dự án đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Vì vậy, yêu cầu thực tiễn đặt ra là cần phải có mặt bằng cho các nhà đầu tư thực hiện dự án Để thực hiện được điều này thì Nhà nước tiến hành thu hồi đất để phân phối lại đất đai đáp ứng nhu cầu phát triển của đất

Trang 11

có hiệu quả

Như vậy, thu hồi đất nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật đất đai và hơn thế nữa nó là biện pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời đảm bảo cho việc sử dụng đất đai hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai

 Ý nghĩa của việc thu hồi đất

Xét về góc độ chung thì thu hồi đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng như sau:

- Về xã hội: khi cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất thì phải có phương

án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị thu hồi đất Việc thu hồi đất góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, nhiều khu công nghiệp hình thành đã giải quyết việc làm cho người lao động, nhiều khu đô thi mọc lên giải quyết được nơi ở cho người dân góp phần đảm bảo an ninh trật tự cho toàn xã hội

- Về kinh tế: thu hồi đất có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy nhanh sự

phát triển của đất nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu phát triển theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Khi triển khai xây dựng các dự án để nâng cao cơ sở vật chất kĩ thuật thu hút nhiều nhà đầu tư vào Việt Nam, nhiều khu đô thị, khu công nghiệp mọc lên làm thay đổi bề mặt đất nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

5 Xem: Nguyễn Thị Nhật Tân, Pháp luật về các trường hợp thu hồi đất : khóa luận tốt nghiệp; PGS TS Nguyễn Thị Nga hướng dẫn; Hà Nội, 2016 Tr 11

Trang 12

12

- Về chính trị: đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên khi Nhà nước thu hồi

vì mục đích nào cũng phải bổi thường tương đương với những gì đã lấy, để đảm bảo quyền và lợi ích của người sử dụng đất Trong quá trình thu hồi đất Nhà nước cần

có những chủ trương, chính sách sao cho đảm bảo hài hòa lợi ích cho người dân, nhà đầu tư và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng đất nước

1.1.2 Bản chất, vai trò của thu hồi đất

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, không thể thay thế Việt Nam là quốc gia, trong đó nông nghiệp giữ vị trí quan trọng Do vậy, vấn đề quản lý, sử dụng tài nguyên đất một cách hiệu quả, tiết kiệm có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mặc dù được quy định và áp dụng từ khá lâu nhưng mãi đến khi Luật Đất đai 2003 được ban hành, thu hồi đất mới được định nghĩa chính thức tại Điều 4 Kế thừa định nghĩa đó, Luật đất đai 2013 cũng đã tiếp tục phát triển thêm định nghĩa về thu hồi đất quy định tại Điều 3

Tuy có những khác biệt nhất định trong định nghĩa của các Luật Đất đai nhưng thu hồi đất có một điểm chung là dẫn đến hậu quả pháp lý chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hoặc quyền quản lý đất đai của các chủ thể được Nhà nước giao đất để quản lý (không phải là người sử dụng đất)

Xét trong mối quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, thu hồi đất là một quá trình “ngược” so với hoạt động giao đất, cho thuê đất Khi bị thu hồi đất, người

sử dụng đất không còn quyền sử dụng đất với đất bị thu hồi và đương nhiên không còn quyền “chiếm hữu”, tác động vào diện tích đất đó nữa Do đó, việc thu hồi đất trước hết có tác dụng bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai vì nó sẽ làm chấm dứt hành vi xâm hại đất đai của những chủ thể vi phạm pháp luật đất đai Thu hồi đất là một “khâu” quan trọng của quá trình điều phối đất đai Là một quốc gia đang phát triển, việc “luân chuyển” đất đai từ chủ thể này sang chủ thể khác, từ mục đích này sang mục đích khác rất thường xuyên xảy ra Do đó, thu hồi đất là hoạt động hỗ trợ đắc lực nhất cho Nhà nước để thực hiện quá trình này

Trang 13

13

Việc thu hồi đất để phát triển mở rộng đô thị, phát triển nền kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một việc làm rất cần thiết Mọi tổ chức, cá nhân đều rất cần đất để sinh sống và làm việc, ví dụ: doanh nghiệp cần đất để xây dựng các khu công nghiệp phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cá nhân cần đất để xây dựng nhà ở và làm nông nghiệp, ngay cả việc Nhà nước thu hồi đất để xây dựng trụ

sở cơ quan hành chính Nhà nước quốc phòng, an ninh và công cộng Vấn đề đặt ra

là phải phân chia đất hợp lý để mọi tổ chức, cá nhân đều có đất đầy đủ Để phát triển nền kinh tế quốc gia, Nhà nước cần đẩy mạnh phát triển toàn diện, ưu tiên phát triển công cộng phục vụ cho lợi ích toàn xã hội những vẫn phải đảm bảo việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Đây là biện pháp nhằm bù đắp phần nào mất mát của người bị thu hồi đất, nếu Nhà nước thu hồi đất của người dân

mà không bồi thường là vi phạm quyền của công dân theo tinh thần của Hiến pháp

2013

1.1.3 Tác động, ảnh hưởng của việc thu hồi đất

Xuất phát từ lý do thu hồi đất là một trong những nội dung của quản lý Nhà nước về đất đai vì vậy sự can thiệp của Nhà nước dựa trên những quy định cụ thể của pháp luật có một vai trò vô cùng quan trọng Việc thu hồi đất là điều mang tính tất yếu khách quan của sự phát triển Vì vậy, việc thu hồi đất có liên quan đến quyền và lợi ích của các chủ thể: Nhà nước, chủ đầu tư, người bị nhà nước thu hồi đất

Nhà nước với tư cách là chủ đầu tư lớn nhất có nhiệm vụ xây dựng các cơ sở kinh tế hạ tầng xã hội, sử dụng đất vào mục đích công cộng, lợi ích của cộng đồng, bảo vệ chủ quyền quốc gia cũng với các chủ đầu tư khác có nhu cầu sử dụng đất rất lớn Trong khi đó, những diện tích Nhà nước có nhu cầu sử dụng lại do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang có quyền sử dụng Việc thu hồi đất giúp cho Nhà nước có một vốn đất cần thiết để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế như xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế… để phát triển kinh tế đất nước hoặc xây dựng các công trình phòng thủ quốc gia, bảo vệ tổ quốc,… Qua đó, Nhà nước có thể thực

Trang 14

14

hiện các mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội đề ra Bên cạnh đó, nếu thực hiện tốt chính sách điều tiết, việc thu hồi đất sẽ mang lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước Thực hiện chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta

đã đặt ra mục tiêu phấn đấu tới năm 2020 đưa đất nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nhưng thực tế đã và đang có nhiều bất cập trong việc thu hồi đất, khó khăn trong việc chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giải quyết việc làm cho người dân

Đối với các chủ đầu tư, Luật đầu tư năm 2005 và Luật đầu tư năm 2014 được ban hành với những chính sách đầu tư thông thoáng nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế đất nước Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp muốn tìm kiếm để thực hiện dự án của mình Việc đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp trong thời gian qua đã tạo ra những bước đột phá trong phát triển công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung, góp phần đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa Các khu công nghiệp đã thu hút được hàng chục ngàn dự án đầu tư trong và ngoài nước, làm tăng đáng kể sản phẩm kinh tế quốc dân, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho nhiều người dân với thu nhập ổn định Tuy nhiên, trên thực tế lại gặp một số khó khăn đối với chủ đầu tư đó là người dân không chịu di dời ra khỏi khu vực đất đầu tư Hàng loạt

dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài bị đình trệ không thực hiện được theo đúng tiến độ do chính sách bồi thường không được đảm bảo Một trong những khó khăn lớn nhất trong việc thực hiện công tác bồi thường, giải tỏa khi nhà nước thu hồi đất luôn là: giá đất Giá đất bồi thường hỗ trợ nhìn chung chưa sát giá thị trường trong điều kiện bình thường, trong nhiều trường hợp quá thấp so với giá đất cùng loại chuyển nhượng thực tế Các yếu tố trượt giá hầu như chưa được tính đến trong định giá bồi thường cho người dân Thời gian triển khai công tác thu hồi đất kéo dài cũng là nguyên nhân chính gây bất lợi làm ảnh hưởng đến tâm lý các nhà đầu tư

Đối với những người có đất bị thu hồi, việc thu hồi đất để phục vụ cho các mục đích khác nhau đã và đang có tác động đối với đời sống và việc giải quyết công

Trang 15

15

ăn việc làm cho người dân ở các vùng bị thu hồi đất Trước hết, việc bị thu hồi đất

đã ảnh hưởng lớn đến đời sống và sinh hoạt của người bị thu hồi Mặc dù tất cả các

dự án có thu hồi đất đều có các phương án đền bù và ổn định cuộc sống cho người

bị thu hồi Song, vì nhiều lý do khác nhau, việc đền bù cho người bị thu hồi đất không đem lại hiệu quả như mục tiêu đề ra Do vậy, người bị thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn trong việc ổn định lại sản xuất và thu nhập Việc thu nhập bị giảm sút là điều không thể tránh khỏi

Liên quan đến vấn đề thu nhập, hầu hết người bị thu hồi đất đều được tính toán đền bù bằng tiền mặt Việc đền bù này là nhằm giúp cho người bị thu hồi có được một khoản tiền để ổn định lại chỗ ở, ổn định sản xuất, chuyển đổi ngành nghề,… Tuy nhiên, trên thực tế không phải ở bất cứ nơi nào việc đền bù cũng được tính toán một cách hợp lý, người bị thu hồi đất thường bị thiệt thòi Họ bỗng dưng nhận được một khoản tiền lớn, trong khi chưa biết sử dụng số tiền đó như thế nào cho hiệu quả và cũng không có cơ quan, đoàn thể nào hướng dẫn cho người dân sử dụng số tiền đó như thế nào cho hợp lý, dẫn đến không ít các hộ bị thu hồi đất không sử dụng tiền để tái đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, hay học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp như chính mục tiêu mà việc đền bù đề ra Thu hồi đất đã ảnh hưởng lớn đến đời sống và thu nhập của người dân sau khi bị thu hồi đất, làm cho người cuộc sống của họ sau khi bị thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn

Bên cạnh đó, người dân ở những khu vực bị thu hồi đất còn phải đối mặt với một trong những vấn đề nan giải, góp phần làm cho đời sống của họ thêm phần khó khăn, hiệu quả sản xuất thấp do ô nhiễm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

từ việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị gây ra Có thể nói, trong những năm qua, một số khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà máy và khu

đô thị chưa có phương án xử lý tốt việc bảo vệ môi trường; việc xây dựng ồ ạt các khu công nghiệp, khu ô thị mà thiếu các giải pháp về bảo vệ môi trường một cách thích đáng đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân ở các vùng bị thu hồi đất, người dân không những bị suy giảm về chất lượng cuộc sống, tổn hại sức khỏe mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh

Trang 16

16

1.2 Lịch sử hình thành pháp luật về thu hồi đất

Cùng với lịch sử phát triển đất nước, pháp luật về thu hồi đất cũng dần được hoàn thiện Nội dung cơ bản của pháp luật thu hồi đất được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Hệ thống văn bản này dần được hoàn thiện, từ chỗ chỉ

là những văn bản dưới luật, có cả những văn bản chỉ quy định tạm thời đến khi Nhà nước ban hành Luật Đất đai 1987, Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003 và đến nay

là Luật đất đai 2013 Quy định về thu hồi đất ngày càng thay đổi cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Lịch sử hình thành pháp luật về thu hồi đất

từ năm 1945 đến nay có thể chia thành 5 giai đoạn như sau :

• Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1987: Chưa có Luật đất đai

Giai đoạn này bao gồm toàn bộ thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945-1975) Trong đó: từ năm 1945-1954, nước ta thực hiện Cách mạng dân tộc dân chủ; từ năm 1954-1975 nước ta thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam Đặc trưng cơ bản của chính sách ruộng đất trong thời kỳ này là: khai hoang, vỡ hoá, tận dụng diện tích đất đai để sản xuất nông nghiệp; tịch thu ruộng đất của thực dân, việt gian, địa chủ, phong kiến chia cho dân nghèo; chia ruộng đất vắng chủ cho nông dân

Đồng thời, giai đoạn này còn gồm cả thời kỳ đầu của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ khi thống nhất đất nước cho đến khi bắt đầu đổi mới (1976- 1987), cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội theo nền kinh tế kế hoạch

Trong thời gian trước năm 1980 quy định về thu hồi đất chưa được đề cập đến trong các văn bản về công tác quản lý đất đai Ngày 1 tháng 7 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước Lần đầu tiên nội dung về thu hồi đất được quy định Thu hồi đất là một trong 7 nội dung về quản lý của nhà nước đối với ruộng đất Theo quyết định này, về việc thu hồi đất mới chỉ đưa ra quy định về: thẩm quyền thu hồi đất; các trường hợp phải thu hồi đất; giải quyết việc thu hồi đất không phải là do lỗi của người sử dụng đất hoặc bị trưng dụng đất

Trang 17

17

Như vậy, giai đoạn 1945 đến trước năm 1987, tuy chưa có Luật đất đai nhưng

đã có văn bản pháp quy sơ khai quy định về thu hồi đất

• Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1993: Thực hiện theo Luật Đất đai 1987

Sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu kinh tế kế hoạch, đến năm

1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới, xoá bỏ bao cấp, chuyển sang nền kinh tế hạch toán kinh doanh Trước tình hình đó, ngày

29 tháng 12 năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật đất đai đầu tiên - Luật Đất đai 1987 Luật này được công bố ban hành bằng Lệnh của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ngày 08 tháng 01 năm 1988 Luật Đất đai 1987 khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất

quản lý 6 Và vẫn giữ 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai như ở Quyết định số

201/CP năm 1980, nội dung về thu hồi đất được quy định là "Giao đất, thu hồi đất"

Khi Nhà nước cần sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng hoặc phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì Nhà nước thu hồi đất hoặc có thể trưng dụng đất Theo Luật đất đai 1987, quy định về thu hồi đất bao gồm những nội dung sau:

- Khoản 4 Điều 12 quy định: “Việc quyết định giao đất đang sử dụng cho

người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, quy định tại Điều 15 của Luật này

- Điều 15 quy định: “Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất

nào thì có quyền thu hồi đất đó Trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp của chiến tranh hoặc chống thiên tai thì việc thu hồi đất do Uỷ ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên quyết định theo đề nghị của cơ quan chỉ huy quân sự hoặc cơ quan chỉ huy chống bão lụt

- Điều 48 quy đinh về nghĩa vụ của người sử dụng đất: “3- Thi hành nghiêm

chỉnh quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc thu hồi đất

6 Điều 1 Luật đất đai 1987

Trang 18

18

- Điều 54 quy định về những hình thức xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn thu hồi đất trái với quy định của pháp luật, thiếu tinh thần trách nhiệm làm thiệt hại đến tài nguyên đất đai, bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai

Như vậy, trong giai đoạn này quy định về thu hồi đất đã có những quy định cụ thể hơn so với quy định tại Quyết định 201/CP năm 1980 Đã có quy định về chế tài

xử lý đối với những vi phạm pháp luật về thu hồi đất; quy định về nghĩa vụ của người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, vẫn chưa có quy định về khái niệm thu hồi đất

Đối với pháp luật định giá đất thì Luật đất đai 1987 vẫn còn ảnh hưởng tình bao cấp trong quan hệ sử dụng đất, đất đai chưa là đối tượng giao lưu trong nền kinh tế, đất đai không có giá, không được định giá7

• Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003: Thực hiện theo Luật Đất đai 1993

Sau giai đoạn bắt đầu đổi mới (từ 1986-1991), chúng ta vẫn còn thiếu nhiều quy định và ngay cả hệ thống pháp luật đã ban hành cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được tình hình đổi mới của đất nước Vì vậy, Hiến pháp 1992 ra đời, trong

đó quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân (Điều 17), "Nhà nước thống nhất quản

lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và

có hiệu quả" (Điều 18) Để phù hợp với giai đoạn mới và thực hiện đổi mới toàn diện nền kinh tế, cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, khắc phục những hạn chế của Luật Đất đai 1987, ngày 14 tháng 7 năm 1993, Quốc hội khoá IX thông qua Luật Đất đai 1993 Thu hồi đất theo Luật đất đai 1993 vẫn là một trong những nội dung

về quản lý nhà nước về đất đai theo như Luật đất đai 1987 và Quyết định 201/CP năm 1980 Một số nội dung cơ bản về thu hồi đất được Luật đất đai 2003 quy định như sau:

7 Xem: Đỗ Xuân Trọng, Quá trình hình thành, phát triển và nội dung quản lý nhà nước về định giá đất theo Luật đất đai năm 2013, Tạp chí Luật học số Đặc san về Luật đất đai, 2014, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.66

Trang 19

19

- Điều 21 quy định: “Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho

người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó” Quy định này

về cơ bản giống với quy định tại Khoản 4 Điều 12 Luật đất đai 1987

- Điều 27 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,

lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại

- Điều 28 quy định: “Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất

nào thì có quyền thu hồi đất đó

Việc thu hồi đất để chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch và

kế hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt

Trước khi thu hồi đất phải thông báo cho người đang sử dụng biết về lý do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại

- Khoản 2 Điều 76 quy định: “Hộ gia đình được Nhà nước giao đất nông

nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, nếu trong hộ có thành viên chết thì các thành viên khác trong hộ được quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất mà Nhà nước đã giao cho hộ Trường hợp trong hộ gia đình không còn thành viên nào thì Nhà nước thu hồi đất”

- Điều 86 quy định: “Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá

quyền hạn giao đất, thu hồi đất, cho phép chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng

đất trái với quy định của pháp luật, bao che cho người có hành vi vi phạm pháp

luật đất đai, quyết định xử lý trái pháp luật hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự” Một vấn đề cũng quan trọng trong công tác thu hồi đất đó là định giá đất Luật đất đai 1993 đã thừa nhận đất đai là tài sản có giá và được định giá với những

nguyên tăc xác định Ở Luật đất đai năm 1993: “giá đất do Nhà nước quy định được

áp dụng cho nhiều mục đích khác nhau, vừa áp dụng để thu các nghĩa vụ tài chính

Trang 20

20

của sử dụng đất, vừa là cơ sở để người sử dụng thỏa thuận khi thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai, là căn cứ để xác định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Với các quy định trước đây thì giá đất do Nhà nước xác định thể hiện sự bao cấp trong giao đất, cho thuê đất Do vậy, giá đất này được sử dụng để tính bồi thường cho người bị Nhà nước thu hồi đất đã không nhận được sự đồng thuận của người sử dụng đất Hơn nữa, giá đất này lại không thể là giá đất mà các bên thỏa thuận khi chuyển quyề sử dụng đất Đây là nguyên nhân làm nảy sinh những vấn đề tiêu cực

và phức tạp trong thực tế như: lách luật để trốn thuế; lậu thuế; khiếu nại; tố cáo … kéo dài trong lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng” 8

Như vậy, trải qua 10 năm thực hiện Luật đất đai năm 1993 với những quy định mới thì công tác thu hồi đất đã đạt được những thành tích cũng như có những hạn chế nhất định Công tác quản lý nhà nước về thu hồi đất về cơ bản đã được thực hiện nghiêm túc, dần đi vào nề nếp, tạo điều kiện sử dụng đất đai hợp lý và hiệu quả hơn, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, bên cạnh đó còn gặp phải những hạn chế sau: công tác thu hồi đất gặp nhiều ách tắc, bất cập, xử lý những vi phạm về thu hồi đất còn chưa nghiêm khắc và kịp thời

• Giai đoạn từ năm 2004 đến 2013: Thực hiện theo Luật Đất đai 2003

Luật Đất đai 1993 (gồm cả Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai

1998 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai 2003) là một trong những đạo luật quan trọng thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta Những kết quả đã đạt được trong quá trình thực hiện Luật Đất đai 1993 là rất nhiều

và đã thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị - xã hội Tuy nhiên, trước tình hình phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội, pháp luật về đất đai mà nòng cốt là Luật Đất đai 1993 cũng bộc lộ rõ những hạn chế Kế thừa những nội dung còn phù hợp của Luật đất đai hiện hành, luật hoá một số quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai đã được cuộc sống chấp nhận, đồng thời đưa

8 Xem: TS Nguyễn Thị Nga, Tổng quan pháp luật về giá đất, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Trường

Đại học Luật Hà Nội, 2013, tr.151

Trang 21

21

vào Luật đất đai những nội dung mới cần sửa đổi, bổ sung nhằm tạo lập một hệ thống pháp luật, đáp ứng cho thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chế định về thu hồi đất cũng được quy định chi tiết hơn Lần đầu tiên, khái

niệm thu hồi đất được đưa ra Khoản 6 Điều 4 quy định: “Thu hồi đất là việc Nhà

nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này

Ngoài những quy định chung về thu hồi đất thì Luật đất đai 2003 đã có một mục riêng quy định về việc thu hồi đất Trong đó có những quy định về các trường hợp thu hồi đất; bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi; những trường hợp thu hồi đất không được bồi thường; thẩm quyền thu hồi đất Bên cạnh đó, quy định về xử lý vi phạm đối với những người cá nhân, cơ quan, tổ chức có những hành vi vi phạm pháp luật đất đai về thu hồi đất

Để thi hành Luật đất đai 2003, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành một số những văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành luật liên quan đến vấn đề thu hồi đất như:

- Nghị định 181/2004/ NĐ – CP của Chính phủ về thi hành luật đất đai trong

đó có hướng dẫn chi tiết về các nội dung liên quan đến thu hồi đất được quy định trong Luật đất đai 2003

- Thông 01/2005/TT-BTNMT của Bộ Tài Nguyên và môi trường hướng dẫn Nghị định 181/2004/NĐ-CP thi hành Luật Đất đai

- Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

Trang 22

Như vậy, trong quá trình thi hành Luật đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành về thu hồi đất đã đạt được những kết quả nhất định: Nhà nước đã tiến hành thu hồi đất để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Việc tổ chức thực hiện thu hồi đất phát huy được nhiều hiệu quả tốt, góp phần đáp ứng nhu cầu "đất sạch" để thực hiện các dự án đầu tư nhất là các dự án đầu tư nhằm mục đích công cộng Công tác thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai cũng đạt được những kết quả tốt Tuy nhiên, việc thu hồi đất gặp nhiều khó khăn, làm chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư, gây bức xúc cho cả người sử dụng đất, nhà đầu tư và chính quyền nơi có đất thu hồi do các nguyên nhân sau:

- Giá đất bồi thường còn thấp hơn so với giá thị trường Mặc dù, Luật đất đai

2003 đã có những quy định về nguyên tắc giá đất do Nhà nước quy định: “sát với giá

chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường”9 Đồng thời, còn có quy định về phương pháp định giá đất Nhưng trên thực

tế, vẫn phát sinh những vướng mắc dẫn đến không phát huy được hiệu quả khi thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

- Việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng còn bất cập, chưa có cơ chế giải quyết một cách rõ ràng, minh bạch, hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, người có đất bị thu hồi và nhà đầu tư;

- Việc chuẩn bị phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức, nhất là phương án giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất;

9 Điều 56 Luật đất đai 2013

Trang 23

23

- Thẩm quyền thu hồi đất đã phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, trong đó có nhiều dự án thu hồi diện tích lớn, thu hồi đất trồng lúa, đất rừng để chuyển sang đất phi nông nghiệp ảnh hưởng đến đời sống và việc làm của nhiều hộ dân nhưng thực hiện còn thiếu cân nhắc, tính toán, trong khi việc kiểm tra, giám sát của cơ quan cấp trên còn thiếu chặt chẽ

- Các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm

- Luật Đất đai đã quy định các trường hợp không sử dụng, chậm sử dụng hoặc

sử dụng đất không đúng mục đích thì Nhà nước thu hồi và không bồi thường về đất, nhưng được bồi thường đối với tài sản đã đầu tư gắn liền với đất Quy định này đã gây khó khăn cho Nhà nước trong việc thu hồi đất trong các trường hợp trên (xác định chi phí đã đầu tư, kinh phí để bồi thường) để giao lại cho các nhà đầu tư có năng lực, đồng thời làm cho việc thực thi pháp luật về đất đai của nhà đầu tư thiếu nghiêm minh; dẫn đến còn tình trạng lãng phía đất đai và gây bất bình trong dư luận

- Mặc dù, chính sách, pháp luật về khiếu nại, tố cáo, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự đã được đổi mới từ khi Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm 2003 nhưng bất cập chủ yếu tại địa phương hiện nay là tình trạng khiếu kiện về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó có vướng mắc trong thực hiện cưỡng chế thu hồi đất

• Giai đoạn từ năm 2013 đến nay: Thực hiện theo Luật đất đai 2013

Các Luật Đất đai qua các thời kỳ, kể từ khi Hiến pháp 1980 được ban hành đến nay, đều quy định về hoạt động thu hồi đất như là một công cụ quản lý nhà nước và cũng nhằm để thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của nhà nước đối với đất đai Trong điều kiện kinh tế thị trường, thu hồi đất còn được xem như là một

“khâu” của quá trình “điều phối” đất đai Cùng với quá trình phát triển của pháp luật đất đai, chế định thu hồi đất cũng dần được hoàn thiện Tuy nhiên, những đổi

Trang 24

24

mới của nó vẫn chưa đủ sức đáp ứng sự đòi hỏi của xã hội về nhiều mặt, như: sự công bằng, tính hiệu quả Thậm chí thu hồi đất trong một số trường hợp còn gây ra nhiều bất ổn trong đời sống kinh tế - chính trị - xã hội

Ngày 29 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật đất đai năm 2013 Luật đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều, tăng

07 chương và 66 điều so với Luật đất đai năm 2003, đã thể chế hóa đúng và đầy đủ những quan điểm, định hướng nêu trong Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ

6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng thời khắc phục, giải quyết được những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003 Những quy định về thu hồi đất cũng được sửa đổi để khắc phục những hạn chế còn tồn tại phù hợp với tình hình thực tiễn Cụ thể:

Thứ nhất, Luật xác định rõ và quy định cụ thể những trường hợp mà Nhà nước

phải thu hồi đất: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế -

xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người (Khoản 1 Điều 16) Quy định này nhằm khắc

phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã hội

Thứ hai, Luật quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi; đồng thời khắc phục và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước là chủ sở hữu về đất đai, người sử dụng đất và nhà đầu tư

Bên cạnh những quy định mới của Luật đất đai 2013, Chính phủ và các ban ngành liên quan cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành luật

- Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai

Trang 25

25

- Nghị định 44/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về giá đất

- Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

Từ khi ban hành Luật đất đai 2013 đến nay thì việc triển khai thực hiện Luật nói chung và thực hiện những quy định về thu hồi đất nói riêng đạt được nhiều kết quả quan trọng: Đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2013; đã kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình chuyển tiếp thi hành Luật đất đai; Phối hợp chặt chẽ giữa trung ương với các địa phương nhằm tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án lớn, các công trình trọng điểm; Tập trung chỉ đạo công tác lập, rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp; đặc biệt là việc kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện để làm cơ sở cho việc thu hồi đất;

Tuy nhiên, việc thi hành Luật cũng như các văn bản hướng dẫn vẫn còn một

số những tồn tại, hạn chế Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng vẫn còn kéo dài, làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai của các công trình, dự án; việc khiếu nại, khiếu kiện liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vẫn còn xảy ra và khá phổ biến

Nguyên nhân của tình trạng này là do:

1) Việc chuẩn bị phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức, nhất là phương án giải quyết tạo việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi;

2) Một số địa phương chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc giải phóng mặt bằng bị kéo dài nhiều năm;

Trang 26

26

3) Năng lực của một bộ phận đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn hạn chế và thiếu chuyên nghiệp, đặc biệt là cán bộ ở các vùng cao

Như vậy, song hành với sự phát triển của pháp luật đất đai, các quy định về thu hồi đất cũng luôn được xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm xử lý hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi và chủ đầu tư Ở một mức độ nhất định, các quy định này đã đạt được mục đích đáp ứng được nhu cầu của xã hội và góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước trong từng thời kì

1.3 Cơ sở pháp lý của thực hiện thu hồi đất

Do chưa thiết lập được mô hình hợp lý để thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai với những tiêu chí, mục tiêu và bước đi thích hợp nên các quy định của Luật Đất đai hiện hành vẫn còn nhiều điểm hạn chế cần phải khắc phục Đổi mới theo hướng hoàn thiện việc thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai là công việc không đơn giản Kể từ khi ban hành Hiến pháp 1980 đến nay, chúng ta đã ban hành

ba đạo Luật Đất đai với nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng cho đến nay vẫn chưa đạt được những kết quả như mong muốn Số lượng các khiếu kiện về đất đai hàng năm vẫn còn rất lớn Những bất cập trong công tác quản lý, sử dụng đất kéo theo việc thất thoát, lãng phí tài nguyên đất Bên cạnh đó, những quy định thiếu rõ ràng, cụ thể về thu hồi đất thực sự là một vấn đề nan giải khi gây ra không ít những băn khoăn, lo ngại đối với người sử dụng đất

Nhìn nhận những bất cập trong các quy định của pháp luật liên quan tới vấn đề thu hồi đất nói riêng và hoạt động quản lý, sử dụng đất nói chung, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 nhằm một mặt nâng cao hiệu quả sử dụng đất, mặt khác đảm bảo hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng Thu hồi đất và dự báo tác động đến tình hình khiếu nại đất đai tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt trong lần pháp điển hóa thứ tư này

Trang 27

27

Luật Đất đai 2013 đã chính thức được thông qua, khắc phục được những điểm bất cập trong pháp luật hiện hành, trong đó làm rõ các trường hợp về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Việc nắm bắt được các quy định của pháp luật sẽ có

ý nghĩa quan trọng, giúp bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người dân

1.3.1 Các trường hợp thu hồi đất

Trước khi Luật Đất đai 2013 được thông qua, Hiến pháp cũng đã đề cập đến vấn đề thu hồi đất, cụ thể là căn cứ thu hồi đất Cụ thể Hiến pháp 2013 quy định :

“Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật”10 Cụm từ “trong trường hợp thật cần thiết”

nhấn mạnh việc thắt chặt cơ sở pháp lý của việc thu hồi đất, nhằm giảm bớt tình trạng thu hồi đất tràn lan đã diễn ra trong nhiều năm trở lại đây Trên tinh thần đó của Hiến pháp, Luật đất đai 2013 đã có những sửa đổi khá mạnh mẽ so với Luật đất đai 2003 trong quy định về thu hồi đất

Luật đất đai 2003 quy định 12 trường hợp thu hồi đất Luật đất đai 2013 thu hẹp lại các trường hợp thu hồi đất rất rõ ràng từ điều 61 đến điều 65 như: thu hồi đất

vì mục đích quốc phòng an ninh; thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người

• Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi

ích quốc gia, công cộng (Điều 61, Điều 62, Điều 63)

Nhà nước có thể thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh và để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Đây là hai trường hợp đã được hiến định tại khoản 3 Điều 54 Hiến pháp năm 2013:“Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá

10 Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp 2013

Trang 28

và xảy ra nhiều vụ khiếu nại, tố cáo liên quan tới việc thu hồi đất Nguyên nhân một phần do Luật 2003 quy định một trong những trường hợp thu hồi đất là để phát triển kinh tế, quy định như vậy là quá rộng, dẫn đến việc thu hồi đất vô hình chung nếu không quản lý chặt chẽ sẽ dẫn đến việc thu hồi đất một cách tràn lan, không hiệu quả Có thể nói đây là một trong những bất cập, tồn tại chính trong vấn đề thu hồi đất Thực tế, nhiều trường hợp thu hồi đất xong nhưng dự án không khả thi, chủ dự

án không thực hiện được dự án, đất bỏ hoang, trong khi người dân lại mất đất sản xuất, doanh nghiệp thì được hưởng lợi từ việc được sử dụng đất với giá rẻ, còn người dân mất đất thì được đền bù giá nhà nước thấp hơn nhiều do với giá thị trường, từ đó gây bức xúc trong xã hội Thông qua việc người dân tham gia tích cực vào việc xây dựng Hiến pháp, và Luật Đất đai vừa qua, vấn đề này đã được giải quyết Theo Hiến pháp, và Luật Đất đai thì Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Luật Đất đai 2013 đã quy định chặt chẽ hơn về căn cứ thu hồi đất Thay vì sử dụng các cụm từ mang nghĩa chung “vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế’’ như Luật Đất đai 2003 (Khoản 1 Điều 38), Luật Đất đất đai 2013 đã quy định chi tiết bằng phương pháp liệt kê một cách

cụ thể trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh (Điều 61) và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 62, Điều 63)

Trang 29

29

Đối với trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, Điều 61 Luật đất đai 2013 quy định cụ thể những trường hợp đó là: làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc; xây dựng căn cứ quân sự; xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng an ninh; xây dựng ga, cảng quân sự; làm trường băn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; …

Đối với yếu tố “phát triển kinh tế - xã hội” là căn cứ dễ làm phát sinh mâu thuẫn, tiêu cực trong thu hồi đất, Luật Đất đai 2013 có sự đổi mới đặc biệt quan trọng khi ấn định cụ thể các chủ thể có thẩm quyền quyết định các dự án phải thu hồi đất, thay vì ngầm hiểu chung chung theo khái niệm rộng như trước đây là Nhà nước Cụ thể:

- Các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất

- Các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, như Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới; dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;

- Các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất, như: Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-

xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương; dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương; công trình thu gom, xử lý chất thải; dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới;

Trang 30

ý nghĩa, tính chất quan trọng của dự án với việc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, lợi ích chung của cộng đồng; không có phân biệt dự án đó là của thành phần kinh tế nào Đối với quy định thu hồi đất vì phát triển kinh tế xã hội thì Luật đã quy định theo hướng kiểm soát chặt chẽ hơn và thu hẹp hơn các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Ngoài ra, Điều 63 Luật đất đai 2013 còn quy định về việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau đây: Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai 2013; Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án

Mặt khác, việc thu hồi đất trong các trường hợp quy định tại tại Điều 61 và Điều 62 còn phải phù hợp với Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; tiến độ sử dụng đất thực hiện dự

án

Căn cứ “kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà

nước có thẩm quyền phê duyệt” được quy định trong Luật đất đai 2013 thay cho căn

cứ trước đây quy định trong Luật đất đai 2003 là “quy hoạch kế hoạch sử dụng đất” Đây được coi là thay đổi cần thiết mang tính tích cực nhằm đảm bảo việc thu

hồi đất được sát sao hơn, gần với nhu cầu thực tế hơn và rõ ràng minh bạch hơn11

11 Xem Nguyễn Thị Nhật Tân, Pháp luật về các trường hợp thu hồi đất : khóa luận tốt nghiệp; PGS TS Nguyễn Thị Nga hướng dẫn; Hà Nội, 2016, Tr 18-19

Trang 31

31

• Thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai (Điều 64)

Trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai (Điều 64) bao gồm: Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền

sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm; Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất; Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền; Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho; Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm; Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất

do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm; Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành; Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục; Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể

từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng

Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật

về đất đai

Trang 32

có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn; Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; Đất ở có nguy

cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người

Việc thu hồi đất trường hợp này phải dựa trên các căn cứ sau đây: Văn bản của

cơ quan có thẩm quyền giải quyết đã có hiệu lực pháp luật đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều 65; Giấy chứng tử hoặc quyết định tuyên

bố một người là đã chết theo quy định của pháp luật và văn bản xác nhận không có người thừa kế của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người để thừa kế đã chết đó đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại điểm b khoản 1 Điều 65; Văn bản trả lại đất của người sử dụng đất đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản

1 Điều 65; Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 65; Văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định mức

độ ô nhiễm môi trường, sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác

đe dọa tính mạng con người đối với trường hợp quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 65

Trang 33

33

1.3.2 Thẩm quyền thu hồi đất

Theo quy định của Luật Đất đai 2003 thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài Các trường hợp còn lại do ủy ban nhân dân cấp huyện thu hồi Cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất không được ủy quyền

Luật Đất đai năm 2013 có sửa đổi thẩm quyền thu hồi đất so với quy định hiện hành để cải cách hành chính khi thực hiện các dự án, trong đó quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho ủy ban nhân dân cấp huyện thu hồi đối với trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất Đây là lần đầu tiên trong Luật Đất đai có quy định ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện thu hồi đất

Theo Điều 66 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền thu hồi đất như sau:

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

+ Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 66;

+ Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn

- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

+ Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

+ Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

So với Luật Đất Đai 2003, Luật đất đai 2013 đã có điểm mới đó là trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này

Trang 34

1.3.3 Trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển

kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Luật đất đai 2013 quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và thực hiện cưỡng chế quyết định thu hồi đất nhằm tạo điều kiện cho các địa phương triển khai thực hiện thống nhất Đối với trình tự, thu hồi đất, Luật này đã quy định theo hướng tăng cường hơn sự tham gia trực tiếp của nhân dân trong việc đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất và xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; trách nhiệm đối thoại và giải trình của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người dân chưa có ý kiến đồng thuận

Quy trình thu hồi đất được quy định rõ ràng và chú ý đến sự thông báo phổ biến đến từng người dân và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện Việc vận động, thuyết phục người dân trong trình tự thu hồi đất được quy định trong luật là một điểm mới, đề cao phương pháp thuyết phục người dân chưa phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường Phương pháp thuyết phục được quy định trước khi áp dụng cưỡng chế

sẽ giảm thiểu được thủ tục và chi phí cho việc cưỡng chế khi thu hồi đất và cũng là

sự phổ biến pháp luật đất đai đến người dân khi nhà nước thu hồi đất

Trình tự, thủ tục thu hồi đất được thực hiện theo các bước sau:

Trang 35

35

Bước 1 Thông báo thu hồi đất:

Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm

Thông báo thu hồi đất phải được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi

Sau khi thông báo thu hồi đất theo đúng thủ tục nói trên, nếu người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý thì ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có thể

ra Quyết định thu hồi đất và thực hiện các chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư mà không cần chờ hết thời hạn thông báo

Bước 2 Thu hồi đất:

ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài

ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền thu hồi đất đối với đất của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

Trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất

Bước 3 Kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất:

Sau khi có quyết định thu hồi đất của cấp có thẩm quyền, ủy ban nhân dân cấp

xã có trách nhiệm phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt

Trang 36

36

bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết phục mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc Trường hợp người có đất thu hồi không chấp hành thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và

tổ chức thực hiện cưỡng chế theo quy định tại Điều 70 của Luật đất đai 2013

Việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc được thực hiện khi

có đủ các điều kiện sau đây: người có đất thu hồi không chấp hành quyết định kiểm đếm bắt buộc sau khi ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng

đã vận động, thuyết phục; Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc đã được niêm yết công khai tại trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã, tại địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc đã có hiệu lực thi hành; người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế có hiệu lực thi hành Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản

Trang 37

37

Trình tự, thủ tục thực hiện quyết định cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc được quy định như sau: tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị cưỡng chế; trường hợp người bị cưỡng chế chấp hành quyết định cưỡng chế thì tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi nhận sự chấp hành và thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế thì tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định cưỡng chế

Bước 4 Lập phương án bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định cư:

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với từng tổ chức, cá nhân, hộ gia định

bị thu hồi đất, trên cơ sở tổng hợp số liệu kiểm kê, xử lý các thông tin liên quan của từng trường hợp; áp giá tính giá trị bồi thường về đất, tài sản trên đất

Đồng thời, Luật cũng quy định cụ thể trách nhiệm lập và tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư, tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn

có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Phương án tái định cư: ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền Dự án tái định cư được lập và phê duyệt độc lập với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhưng phải bảo đảm có đất ở, nhà ở tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất Khu tái định cư được lập cho một hoặc nhiều dự án; nhà ở, đất ở trong khu tái định cư được bố trí theo nhiều cấp nhà, nhiều mức diện tích khác nhau phù hợp với các mức bồi thường và khả năng chi trả của người được tái định cư Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà

ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư

Trang 38

38

Luật Đất đai 2013 quy định các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, gồm:

Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tạo việc làm; hỗ trợ tái định cư và một số khoản hỗ trợ khác

Bước 5 Niêm yết công khai phương án lấy ý kiến của nhân dân

Sau khi phương án chi tiết được lập, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến của nhân dân, nhất là các đối tượng bị thu hồi đất Hình thức lấy ý kiến là: tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi

Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện

ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền

Bước 6 Hoàn chỉnh phương án:

Trên cơ sở ý kiến góp ý của các đối tượng có đất bị thu hồi, đại diện chính quyền, đoàn thể ở cơ sở, tổ chức bồi thường tiếp thu, hoàn chỉnh phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trình cơ quan chuyên môn thẩm định và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt

Bước 7 Phê duyệt phương án chi tiết và tổ chức triển khai thực hiện:

Việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định như sau: ủy ban nhân dân cấp có thẩm

Trang 39

Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt; trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì

ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện, nếu họ vẫn không chấp hành việc bàn giao đất thì bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 của Luật đất đai 2013

Bước 8 Tổ chức chi trả bồi thường:

Theo quy định tại Điều 93 Luật đất đai 2013, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi

Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường,

hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời

Trang 40

40

gian chậm trả Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường

để hoàn trả ngân sách nhà nước Về vấn đề này, Nghị định 47/2013/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cũng quy định rõ tại Điều 30,

cụ thể là: khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước nhưng đến thời điểm thu hồi đất vẫn chưa nộp; số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính này được xác định theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước Trường hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định thu hồi đất lớn hơn số tiền được bồi thường, hỗ trợ thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư thì sau khi trừ số tiền bồi thường, hỗ trợ vào số tiền để được giao đất ở, mua nhà ở tại nơi tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì

hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó

Tiền được bồi thường để trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính gồm tiền được bồi thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có) Không trừ các khoản tiền được bồi thường chi phí di chuyển, bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền được hỗ trợ vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai

Trường hợp diện tích đất thu hồi đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chưa giải quyết xong thì tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất đang tranh chấp đó được chuyển vào Kho bạc Nhà nước chờ sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết xong thì trả cho ngươi có quyền sử dụng đất

Ngày đăng: 22/03/2018, 19:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
31. TS Nguyễn Thị Nga, Tổng quan pháp luật về giá đất, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ổ"ng quan pháp lu"ậ"t v"ề" giá "đấ"t
3. Quyết định số 201/CP năm 1980 của Chính Phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước Khác
4. Nghị định 181/2004/ NĐ – CP của Chính phủ về thi hành luật đất đai trong đó có hướng dẫn chi tiết về các nội dung liên quan đến thu hồi đất được quy định trong Luật đất đai 2003 Khác
5. Thông 01/2005/TT-BTNMT của Bộ Tài Nguyên và môi trường hướng dẫn Nghị định 181/2004/NĐ-CP thi hành Luật Đất đai Khác
6. Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Khác
7. Nghị Định 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/08/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Khác
8. Thông tư 14/2009/TT-BTNMT của Bộ tài nguyên và môi trường ngày 01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất Khác
9. Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khác
10. Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai Khác
12. Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Khác
13. Chỉ thị 01/CT-TTg ngày 22/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thi hành Luật Đất đai Khác
14. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật đất đai, Nhà xuất bản Công an nhân dân Khác
15. Quyết định số 1184/QĐ-UBND, ngày 27/2/2016về thành lập Ban Chỉ đạo triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2013 trên địa bàn thành phố Khác
16. Quyết định 1827/QĐ-UBND, ngày 19/04/2016 về phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2016 quận Long Biên Khác
17. Quyết định số 1909/QĐ-UBND ngày 11/04/2016 về việc phê duyệt điều chỉnh bổ sung giá đất ở làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện 04 dự án trên địa bàn quận Long Biên Khác
18. Quyết định số 63/2013/QĐ-UBND ngày 25/12/2013 của ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội nhân với hệ số điều chỉnh K = 1,5, các thửa đất thuộc vị trí 4 được áp dụng đơn giá của vị trí 3 Khác
19. Quyết định số 6352/QĐ – UBND ngày 03/8/2015 của Ủy ban nhân dân quận về quy định trình tự áp dụng trong công tác bồi thường hỗ trợ tái định cư năm 2015Luận văn, khoá luận, tạp chí, báo cáo Khác
20. Bộ Tài nguyên và môi trường (2015), Báo cáo công tác quản lý nhà nước về đất đai năm 2014, 6 tháng đầu năm 2015 và tình hình triển khai thi hành Luật đất đai và những vấn đề cần giải quyết tháo gỡ Khác
21. Đỗ Phú Hải, TS, Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thu hồi đất: Vấn đề và giải pháp/ Cộng sản. Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Số chuyên đề 5/2014, tr. 38 – 43 Khác
22. Nguyễn Quang Tuyến, Bình luận các quy định về thu hồi đất và bồi thường khi thu hồi đất trong Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi), Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 19/2008 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w