Từ thực tiễn đó, việc phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, xác định rõ thẩm quyền Tòa án giải quyết các tranh chấp kinh doanh thươn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI
CHU THỊ THU HƯƠNG
Trang 2HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI
CHU THỊ THU HƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
Trang 3HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Chu Thị Thu Hương
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài này em đã nhận được sự giúp
đỡ tận tình thiết thực của thầy giáo PGS.Ts Nguyễn Trung Tín và một số cán bộ,
lãnh đạo, giảng viên khoa Luật, khoa sau Đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội; lãnh
đạo và cán bộ TAND tỉnh Hải Dương Em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn về sự
giúp đỡ quý báu đó
Bài viết chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những khiếm khuyết trong biên tập cũng như trong trình bày Rất mong sự góp ý và phê bình của những ai quan tâm đến đề tài này
Trang 5\MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM
QUYỀN CỦA TÒA ÁN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI
4
1 Tranh chấp kinh doanh thương mại và những yêu cầu giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
2.2 Thẩm quyền Tòa án theo cấp xét xử 13 2.3 Thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ 15 2.4 Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn 16
3 Giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa sơ thẩm 18 3.1 Khởi kiện, thụ lý vụ án kinh doanh thương mại 19
4 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa
Trang 6CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI
Trang 71.1 Số liệu thụ lý, giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa
án theo thủ tục sơ thẩm từ năm 2011-2015
49
1.2 Số liệu thụ lý, giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa
án theo thủ tục phúc thẩm từ năm 2011- 2015
50
1.3 Số liệu thụ lý, giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa
án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm từ năm 2011- 2015
2.1 Mô hình tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân khi xác định thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại
54
2.2 Mô hình tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân được hoàn thiện 65
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động kinh tế có vai trò rất quan trọng, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi nền kinh tế chính trị Khi hoạt động kinh tế diễn ra không tránh khỏi những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh do bắt nguồn từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, số lượng các tranh chấp trong kinh doanh thương mại ngày càng tăng đa dạng và có mức độ phức tạp Vì vậy, việc giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh để đảm bảo cho môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo niềm tin, bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh là yêu cầu cấp thiết ”
Để thực hiện chức năng quản lý kinh tế này, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế, thông qua các cơ quan chức năng hoặc tổ chức được pháp luật thừa nhận để giải quyết các tranh chấp thương mại Trong đó, Tòa án là cơ quan xét xử, phán quyết của Tòa án có giá trị pháp lý và tính cưỡng chế cao khi các chủ thể kinh doanh không lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại hoặc phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại bị vô hiệu Từ thực tiễn đó, việc phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, xác định rõ thẩm quyền Tòa án giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, đồng thời nhìn nhận rõ hơn về tính hiệu quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật, là
cơ sở để đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động kinh doanh thương mại của nước nhà Xuất phát từ lý do trên, em đã
chọn đề tài “ Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án tranh
chấp kinh doanh mại” làm đề tài luận văn của mình
Trang 92 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
- Mục đích của luận văn là làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về thẩm quyền của tòa án giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại
- Đối tượng của luận văn là các quan hệ về giải quyết tranh chấp kinh toanh thương mại tại Việt Nam và thực trạng giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nói chung
3 Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phạm vi của luận văn là thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các
vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra các nhiệm vụ sau:
+ Phân tích những vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các
vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
+ Phân tích thực trạng giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án
+ Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
4 Phương pháp nghiên cứu
Người viết luận văn sử dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mac
- Lênin về vấn đề nhà nước và pháp luật để nghiên cứu và thực hiện đề tài
Đồng thời người viết sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích để nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực KDTM Và dùng phương pháp so sánh, thống kê khảo sát để vừa đối chiếu các quy định các quan điểm khác nhau; vừa thu thập xử lý số liệu nhầm làm sáng tỏ các vấn
đề cần trình bày trong luận văn
Trang 105 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu phần kết luận bố cục chính của đề tài bao gồm ba chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận về thẩm quyền tòa án giải quyết tranh chấp thương mại
Chương 2: Thực trạng thẩm quyền Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền và tổ chức thực hiện pháp luật tại Tòa án
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
1 Tranh chấp kinh doanh thương mại và những yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
bỏ nhiều ranh chấp không được coi là tranh chấp thương mại Pháp luật Trọng tài thương mại ngày 25/2/2003 không trực tiếp đưa ra định nghĩa về tranh chấp thương mại song với sự hiện diện của khái niệm “hoạt động thương mại” theo nghĩa rộng
đã tạo ra sự tương đồng trong quan niệm về “ thương mại” và “tranh chấp thương mại” của pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của pháp luật và thông lệ quốc
tế Theo Pháp lệnh trọng tài thương mại, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối, đại diện; đại lý thương mại; kí gửi; thuê cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li- xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường biển, đường hàng không, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật
Luật thương mại được Quốc Hội thông qua ngày 14/6/2005 định nghĩa hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích
Trang 12sinh lợi khác Khái niệm hoạt động thương mại đã được mở rộng, tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp năm
2005 cũng như Luật doanh nghiệp năm 2014 định nghĩa kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Khái niệm “kinh doanh”, ‘thương mại” được đề cập trong luật doanh nghiệp năm 1999 (sau này cũng được quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2014) là một khái niệm rộng, bao hàm cả hoạt động kinh doanh, thương mại của các thương nhân [4, tr 6]
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, Tranh chấp được hiểu là “Đấu tranh, giằng co khi có những mâu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên” [9, tr 26]
Theo khoản 16 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”
Khoản 1 điều 3 Luật thương mại năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Với cách định nghĩa như trên, hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại,
có nhiều nội hàm trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu tư, về cung ứng dịch vụ,
về tiêu thụ sản phẩm Bởi thế, nếu tách bạch giữa hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại là điều không thể Có lẽ vậy nên BLTTDS đã tìm cách dung hòa giữa hai hoạt động này bằng cách gọi chung là hoạt động kinh doanh, thương mại
Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011 cũng đã liệt kê cụ thể từng tranh chấp về kinh doanh thương mại Tuy vậy, Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 quy định tại Điều 30 không liệt kê từng tranh chấp về kinh doanh thương mại, mà xác định tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
Trang 13quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều
vì mục đích lợi nhuận Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công
ty Đây là quy định hoàn toàn mới so với bộ luật tố tụng trước Tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức sở hữu của công ty Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan,
tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Bộ luật tố tụng dân sự không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh thương mại” mà sử dụng thuật ngữ “tranh chấp về kinh doanh thương mại” nhưng nội dung các tranh chấp kinh doanh, thương mại đó thực chất là tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật thương mại năm 2005
Với cách định nghĩa như trên, hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại, có nhiều nội hàm trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu tư, về cung ứng dịch vụ, về tiêu thụ sản phẩm Bởi thế, nếu tách bạch giữa hoạt động kinh doanh
và hoạt động thương mại là điều không thể Có lẽ vậy nên BLTTDS đã tìm cách dung hòa giữa hai hoạt động này bằng cách gọi chung là hoạt động kinh doanh, thương mại
Như vậy, có thể quan niệm tranh chấp KD – TM là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một số hoặc toàn bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các dịch vụ trên thị trường, xúc tiến thương mại và các hoạt động sinh lợi khác Một cách ngắn gọn hơn, có thể định nghĩa tranh chấp KD – TM là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động KD – TM
Cách định nghĩa như trên có hạn chế là tuy chỉ ra được bản chất của tranh chấp KD – TM là mâu thuẫn về quyền lợi phát sinh khi tham gia hoạt động KD –
Trang 14TM nhưng lại không cho thấy được biểu hiện của nó Trong quan hệ kinh doanh, giữa các bên luôn tồn tại đồng thời hai mối quan hệ vừa xung đột vừa hợp tác Để xác định chính xác khi nào những xung đột lợi ích này chuyển thành tranh chấp thì cần phải dựa vào những dấu hiệu biểu hiện của nó Dấu hiệu đó là khi một bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm yêu cầu phía bên kia khắc phục nhưng không nhận được sự đồng ý Vì vậy, theo cách này, còn có một cách định nghĩa khác đó là tranh chấp KD – TM xảy ra khi một bên trong quan hệ KD – TM khẳng định một trái quyền mà lại bị bên khác chống lại
1.2 Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường ở nước ta, có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, kéo theo sự đa dang về đối tượng chủ thể và lợi ích cần bảo vệ; hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng đa dạng, không ngừng phát triển trong tất cả mọi lĩnh vực kinh doanh sản xuất, thương mại và dịch vụ
Vì vậy, tranh chấp kinh doanh thương mại trong nền kinh tế thị trương hiện nay ở Việt Nam phát sinh nhiều dạng tranh chấp mới, có nhưng biểu hiện đa dạng về nội dung và mức độ khác nhau như: tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty; tranh chấp giữa thành viên công ty với nhau trong quá trình thành lập, hoạt động và giải thể công ty; tranh chấp liên quan đến việc mua bán các loại cổ phiếu, trái phiếu; tranh chấp trong các lĩnh vực quảng cáo, bảo hiểm, kế toán, tư vấn, giám định; tranh chấp liên quan đến hối phiếu và sec; tranh chấp liên quan đến việc bảo hộ bí mật thương mại
Từ việc tiếp cận trên, tranh chấp thương mại có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể Mâu thuẫn được hiểu là trạng thái xung đột, đối xứng nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tranh chấp Quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh Trong hoạt động thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh để đạt được những mục đích đề ra Do đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong
Trang 15Các quan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên Thông thường, những mâu thuẫn bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh trong các mối quan hệ cụ thể bao gồm:
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau đều có mục đích lợi nhuận
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều vì mục đích lợi nhuận
Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty Tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức sở hữu của công ty
Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Thứ hai, những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phải phát sinh
từ hoạt động thương mại Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau Tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp Tranh chấp thương mại phải là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Thứ ba, các tranh chấp thương mại chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân (cá nhân kinh doanh, pháp nhân) với nhau Ngoài thương nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại, trong những trường hợp nhất
Trang 16định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thương nhân) cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại khi trong các giao dịch bên không có mục đích sinh lợi lựa chọn áp dụng luật thương mại Khoa học pháp lý gọi giao dịch này là giao dịch hỗn hợp Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải là hoạt động thương mại thuần túy, nhưng bên không nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng luật thương mại thì quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật này phải được quan niệm là tranh chấp thương mại Một quy tắc được pháp luật của Pháp và nhiều quốc gia áp dụng để giải quyết loại tranh chấp này đó là căn cứ vào bị đơn là thương nhân hay không phải thương nhân Dựa trên những căn cứ pháp lý khác nhau như: Phạm vi lãnh thổ, số lượng các bên tranh chấp, căn cứ vào lĩnh vực tranh chấp, quá trình thực hiện, thời điểm phát sinh tranh chấp, tranh chấp thương mại được chia thành các loại tranh chấp khác nhau
Tranh chấp thương mại đã trở thành một hiện tượng tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường Khi tranh chấp thương mại phát sinh đòi hỏi cần phải được giải quyết một cách minh bạch và hiệu quả; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cương xã hội
Những tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM cũng vì thế mà có những biến đổi về biểu hiện, mức độ và cả về đòi hỏi, cách thức giải quyết giữa các bên
1.3 Đặc điểm thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
Xuất phát từ những đặc thù về tổ chức hệ thống Tòa án cho nên quan niệm về thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng dân sự có những điểm khác biệt Khái niệm về thẩm quyền của Tòa án được tiếp cận dưới ba góc độc là thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền của tòa án các cấp và thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ Trên cơ sở
đó, thẩm quyền dân sự của Tòa án được định nghĩa như sau:
Trang 17Thẩm quyền dân sự của Tòa án là quyền xem xét giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự của Tòa án
Khác với thẩm quyền xét xử hành chính và thẩm quyền xét xử hình sự của Tòa
án, thẩm quyền dân sự của Tòa án có những đặc trưng sau:
- Tòa án nhân dân quyền lực nhà nước, độc lập trong việc xem xét giải quyết
và ra các phán quyết đối với các vụ việc phát sinh từ các quan hệ mang tính tài sản, nhân thân được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể với nhau;
- Thẩm quyền dân sự của Tòa án được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự
Do vậy, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung về tố tụng như Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, đảm bảo sự vô tư, khách quan…thì Tòa án khi xem xét giải quyết các vụ việc dân sự phải tông tọng và đảm bảo quyền tự định đoạt của các đương sự Phạm vi xem xét giải quyết các vụ việc dân sự phải tôn trọng và đảm bảo quyền tự định đoạt của các đương sự Phạm vi xem xét giải quyết và quyền quyết định cảu Tòa án được giới hạn bởi những yêu cầu mà đương sự đưa ra cũng như trên
cơ sở tự thỏa thuận của họ về những vấn đề có tranh chấp [11, tr 54]
2 Thẩm quyền của Tòa án giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại
Giải quyết tranh chấp trong KDTM bằng thương lượng, hoà giải và trọng tài là các phương thức giải quyết tranh chấp không mang ý chí quyền lực nhà nước, không nhân danh quyền lực nhà nước như phán quyết của Tòa án, mà chủ yếu được giải quyết dựa trên nền tảng ý chí tự định doạt của các bên tranh chấp hoặc phán quyết của bên thứ ba độc lập (được các bên lựa chọn) theo thủ tục linh hoạt mềm dẻo
Trong khi đó Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại mang
ý nghĩa quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự thủ tục chặt chẽ Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là quyền hạn và nghĩa vụ của Tòa kinh tế trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh tế
Khi xảy ra tranh chấp kinh tế, cần xác định rõ nó thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nào Việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế có ý
Trang 18nghĩa quan trọng trong việc thụ lý, chuẩn bị hồ sơ và giải quyết tranh cấp kinh tế, cũng như thi hành quyết định, bản án của Tòa kinh tế
Đối với tranh chấp không thuộc thẩm quyền của mình mà Tòa án đã thụ lý thì cần chuyển hồ sơ cho Tòa có thẩm quyền ngay sau khi phát hiện việc giải quyết
vụ án không thuộc thẩm quyền của mình Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh
doanh được Bộ luật tố tụng dân sự quy định theo những nội dung sau đây:
2.1 Thẩm quyền theo vụ việc
Theo Điều 29 Bộ luât tố tung dân sự năm 2004 và được sửa đổi bổ sung vào năm 2011, có bốn nhóm tranh chấp về KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
k) Đầu tư, tài chính, ngân hàng;
l) Bảo hiểm;
m) Thăm dò, khai thác;
2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
Trang 193 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sát nhập, hợp nhất, chia tách, chuyển đổi hình thức tổ chứ của công ty
4 Các tranh chấp khác nhau về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định Theo quy định tại Điều 30 BLTTDS năm 2015 quy định những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
Theo quy định này, hai bên tranh chấp đều phải có đăng ký kinh doanh vào
có mục đích lợi nhuận Cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh là cá nhân, tổ chức
đã được cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh- đầu tư theo quy định của pháp luật Cụ thể là cá nhân, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh (được gọi là hộ kinh doanh cá thể), các loại hình doanh nghiệp (theo Luật doanh nghiệp năm 2014), hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (theo Luật hợp tác xã) Mục đích lợi nhuận của cá nhân,
tổ chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó
2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
Trong tranh chấp này, không đòi hỏi các bên đương sự phải có đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, các bên đều phải có vì mục đích lợi nhuận, nếu chỉ một bên có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận thì tranh chấp đó là tranh chấp dân sự
3 Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
4 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên
Trang 20của công ty với liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công
Căn cứ để phân định thẩm quyền theo cấp xét xử đối với các tranh chấp về kinh doanh, thương mại là phụ thuộc vào tính chất của tranh chấp và đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần thiết phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự quán của Việt Nam hoặc cho tòa án nước ngoài Theo đó, thì chỉ những tranh chấp cụ thể quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhân dân cấp huyện Đây là những tranh chấp phổ biến trên thực tế và tính phức tạp không cao
Đặc trưng của vụ án kinh doanh, thương mại nói chung là những vụ án đòi hỏi kỹ năng xét xử cao của thẩm phán và hội đồng xét xử; do đó, không phải tất cả các vụ án thuộc thẩm quyền của toà án đều thuộc thẩm quyền xét xử của toà án cấp huyện mà toà án cấp huyện chỉ xét xử một số loại vụ việc nhất định theo thủ tục sơ thẩm Cụ thể, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, thẩm quyền theo cấp xét
xử được phân định như sau :
2.2.1 Tòa án nhân dân cấp huyện:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 BLTTDS quy định: Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS, có nghĩa là những vụ án kinh doanh, thương mại phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều vì mục đích lợi nhuận
Trang 21Luật tổ chức Tòa án năm 2014 quy định cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án, trong đó có Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp huyện BLTTDS quy định thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp huyện là Tòa dân sự có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc về kinh doanh thương mại quy định tại Điều 35 của BLTTDS
2.2.2 Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
Theo quy định tại BLTTDS năm 2004 có sửa đổi bổ sung năm 2011, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tất cả những vụ án kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 và 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự này, trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện
Trong trường hợp cần thiết Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện Trường hợp cần thiết là các trường hợp sau:
- Vụ án có nhiều tình tiết phức tạp;
- Vụ án có nhiều đương sự ở trên địa bàn thuộc các huyện khác nhau và xa nhau;
- Tòa án cấp huyện chưa có Thẩm phán để có thể phân công giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại, hoặc tuy có Thẩm phán để có thể phân công giải quyết vụ
án kinh doanh, thương mại, nhưng thuộc một trong các trường hợp phải thay đổi Thẩm phán mà không có Thẩm phán khác để thay thế
Cũng theo sự phân cấp, tòa án cấp tỉnh phúc thẩm những vụ án kinh doanh, thương mại mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng
Tuy vậy, theo quy định của BLTTDS năm 2015 quy định rõ thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 30, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 36
Bộ luật này Tại khoản 3 Điều 38 BLTTDS năm 2015 cũng quy định rõ thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tỉnh Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tỉnh có thẩm quyền:
Trang 22a, Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37
Việc phân định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ được tiến hành trên cơ
sở đảm bảo việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại được nhanh chóng, đúng đắn, bảo đảm việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; tạo thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng, tránh sự chồng chéo trong việc thực hiện thẩm quyền giữa các Tòa án cùng cấp
Thẩm quyền giải quyết vụ án kinh doanh thương mại của Toà án theo lãnh thổ được xác định là Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo Điều 39 của Bộ luật Bộ luật tố tụng dân sự; Tuy nhiên, Luật cũng cho phép các đương sự có quyền
tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại các điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Trong trường hợp vụ án chỉ liên quan đến bất động sản, thì Tòa án nơi có bất động sản giải quyết Tuy nhiên đối với giải quyết việc kinh doanh, thương mại cụ thể thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:
- Toà án nơi người phải thi hành bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi ngườiphải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nước
Trang 23ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản
án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài;
- Toà án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;
- Toà án nơi người phải thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài;
Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ giải quyết các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại
2.4 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Theo quy định của pháp luật, các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận về tòa
án nơi làm việc hoặc tòa án nơi cư trú của nguyên đơn để giải quyết vụ án kinh
doanh thương mại Tại Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:
Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án để yêu cầu giải quyết vụ án kinh doanh thương mại trong các trường hợp sau đây:
1- Nếu không biết nơi cư trú, làm việc trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn
có tài sản giải quyết;
2- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn
có thể yêu cầu òa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết; 3- Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết vụ án;
Trang 244- Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
5- Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết
Như vậy, theo quy định đơn có thể tại Điều 40 của Bộ Luật tố tụng dân sự thì trong một số trường hợp nhất định, có nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết một
vụ án kinh doanh, thương mại cụ thể và nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong các Tòa án đó Để tránh việc có tranh chấp về thẩm quyền, thì Tòa án nào thuộc một trong các Tòa án có thẩm quyền mà nhận được đơn khởi kiện trước tiên của nguyên đơn, đã dự tính tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn và nguyên đơn xuất trình chứng
từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí, có thẩm quyền thụ lý vụ án theo đúng quy định
Những quy định này xuất phát từ đặc trưng của quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại trong đó tạo điều kiện cho việc đi lại, tham gia tố tụng của bị đơn
Tuy nhiên, thực tế một số Tòa án nhận thức và áp dụng không đúng quy định của Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn nên đã chuyển vụ án không đúng Do chuyển đi chuyển lại nhiều lần nên thời gian chuẩn bị xét xử của vụ án bị kéo dài
Sau khi thụ lý vụ án kinh doanh, thương mại, nếu phát hiện việc giải quyết
vụ án không thuộc thẩm quyền của mình, thì Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết, trong đó cần nêu rõ lý do chuyển hồ sơ vụ án, đồng thời phải thông báo ngay cho nguyên đơn biết Trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền, thì những Tòa án có tranh chấp đó phải báo cáo ngay lên Tòa án cấp trên trực tiếp để Tòa án đó quyết định việc giao cho Tòa án nào giải quyết vụ án, cụ thể như sau:
- Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết
Trang 25- Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Toà án nhân dân cấp tỉnh thuộc thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao thì do Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết
- Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp cao khác nhau do Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết
3 Thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Tòa sơ thẩm
Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án căn cứ vào Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Bộ luật Tố tụng dân sự và các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Các hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa
án được quy định bao gồm các hoạt động từ khi tiến hành thụ lý đến khi kết thúc một
vụ án kinh doanh thương mại, thông qua việc ra bản án hoặc quyết định về vụ án đó Các hoạt động này được thực hiện trong các giai đoạn tố tụng khác nhau gồm: giai đoạn sơ thẩm, giai đoạn phúc thẩm và giai đoạn giám đốc, tái thẩm
Sơ thẩm các vụ án kinh doanh thương mại là một hoạt động quan trọng trong toàn bộ các hoạt động giải quyết vụ án kinh doanh thương mại Đây là giai đoạn mà các tài liệu, chứng cứ, tình tiết trong vụ án được đưa ra xem xét, đánh giá và quyết định Mặt khác, đây là bước đầu tiên trong một loạt các thủ tục pháp lý trong việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại Qua các hoạt động thuộc giai đoạn này, tòa án thực sự thể hiện được quyền tài phán của mình trước các bên tranh chấp và trước xã hội
Trong giai đoạn sơ thẩm, các hoạt động tố tụng tại tòa án bao gồm: hoạt động thụ lý vụ án kinh doanh thương mại, hoạt động chuẩn bị xét xử và hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại
Trang 263.1 Khởi kiện, thụ lý vụ án kinh doanh thương mại.
Tòa án tiến hành thụ lý vụ án kinh doanh thương mại nếu có việc khởi kiện
vụ án kinh doanh thương mại Việc nhận đơn khởi kiện theo đúng quy định tại Điều
191 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện phải tiến hành thụ lý
vụ án nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền Để thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thực hiện những việc cụ thể sau: Kiểm tra quyền khởi kiện, xem xét về thời hiệu, xem xét về thẩm quyền, xem xét vụ án tranh chấp có thuộc trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện hay không, xem xét về án phí
Theo Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định khi Tòa án xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình thì thông báo ngay cho người khởi kiện biết Cũng theo điều luật này thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí Tòa án sẽ thụ lý vụ án kể từ ngày nguyên đơn xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí Trong trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án được tính kể từ ngày nhận được đơn kiện
Giai đoạn xem xét đơn khởi kiện và thụ lý vụ án là khâu rất quan trọng trong
cả quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án Đây là giai đoạn đầu tiên của việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án, do đó việc xác định đúng quan hệ tranh chấp ngay từ giai đoạn
xử lý đơn và thụ lý vụ án có ý nghĩa quyết định Bởi lẽ, chỉ có xác định đúng quan hệ tranh chấp thì Thẩm phán mới có căn cứ để yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ cũng như đánh giá đúng các chứng cứ, tình tiết trong vụ án để chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của đương sự Trên thực tế, khi giải quyết một số tranh chấp kinh doanh Thẩm phán còn lúng túng khi xác định quan hệ tranh chấp
Ví dụ: Ông A vay của Ngân hàng X 200.000.000đ để xây nhà Trong hợp đồng vay không thể hiện xây nhà với mục đích gì Ban đầu, khi thụ lý vụ án, Tòa án xác định đây là quan hệ dân sự; quá trình giải quyết vụ án đã xác minh làm rõ ông
A vay tiền để xây nhà trọ kinh doanh, mục đích thật sự là thu lợi nhuận
Trang 27Căn cứ vào khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Trường hợp sau khi thụ lý vụ việc dân sự mới phát hiện được vụ việc thuộc nhiệm vụ quyền hạn của Tòa chuyên trách khác thì Tòa chuyên trách đã thụ lý tiếp tục giải quyết vụ việc dân
sự theo thủ tục chung nhưng cần ghi số, ký hiệu và trích yếu trong bản án, quyết định theo đúng hướng dẫn tại Nghị quyết này
Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 319 Luật thương mại năm 2005: Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể
từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 của Luật này
Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là 03 năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp( Điều 30 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000);
Thời hiệu khởi kiện về hư hỏng, mất mát hàng hóa vận chuyển theo chứng
từ vận chuyển là 01 năm, kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng (Điều 97 Bộ luật hàng hải năm 2005);
Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng cứu hộ hàng hải là 2 năm,
kể từ ngày kết thúc hành động cứu hộ (Điều 195 Bộ luật hàng hải năm 2005)
Theo quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự Tuy
đã quy định rõ ràng nhưng khi nhận hồ sơ khởi kiện, một số Tòa án thường lúng túng khi xem xét các điều kiện về thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại (xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu hoặc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện) do
đó thời gian thụ lý, giải quyết vụ án bị kéo dài
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì tòa án không được trả lại đơn khi thời hiệu khởi kiện đã hết Nếu như theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 thì thời hiệu khởi kiện đã hết là một trong những căn cứ để tòa án trả lại đơn kiện, đồng nghĩa với việc tòa án không thụ
lý vụ án nhưng với Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung lần này thì thời hiệu
Trang 28khởi kiện đã hết không là căn cứ để tòa án trả lại đơn kiện Có nghĩa là kể cả trong trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết thì tòa án cũng phải thụ lý vụ án
Quy định này một phần bảo vệ quyền lợi của người khởi kiện tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý, người dân chỉ nộp đơn đến tòa án, tòa án
có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn, tuy nhiên bên cạnh đó quy định này sẽ gây khó khăn trong việc giải quyết đơn khởi kiện cũng như giải quyết vụ án nếu như được thụ lý Bởi lẽ, thời hiệu khởi kiện là căn cứ quan trọng xác định người khởi kiện có quyền khởi kiện nữa hay không, khi thời hiệu khởi kiện đã hết tức là người khởi kiện không còn quyền khởi kiện, tòa án không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bên cạnh đó Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định thời hiệu khởi kiện đã hết là một trong các căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án Như vậy, những vụ án hết thời hiệu khởi kiện tòa án vẫn thụ
lý, sau khi thụ lý tòa án lại ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, từ đó kéo theo số lượng vụ án sẽ tăng lên rất nhiều, khối lượng công việc mà tòa án phải giải quyết càng lớn, nhưng lại không giải quyết được yêu cầu của các đương sự khi khởi kiện tại tòa án Khi Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành đối với các vụ án hết thời hiệu khởi kiện có lẽ Thẩm phán được phân công giải quyết đơn khởi kiện chỉ có thể thuyết phục đương sự tự nguyện rút đơn khởi kiện, nếu đương sự không rút đơn khởi kiện tòa án sẽ phải thụ lý theo đúng quy định, sau đó lại ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Do đó, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ Như vậy, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định không áp dụng thời hiệu Vụ án đã hết thời hiệu, đương sự nộp đơn Tòa án vẫn phải thụ lý và chỉ đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp đương sự có yêu cầu áp
Trang 29dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án
và thời hiệu khởi kiện hết
3.2 Chuẩn bị xét xử
Thời hạn tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là hai tháng
tính từ ngày thụ lý vụ án và có thể gia hạn không quá 01 tháng đối với những vụ án
có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan Theo quy định thì thời hạn giải quyết vụ án kinh doanh thương mại là hai tháng, trường hợp đặc biệt cũng không được quá ba tháng (điểm b khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự), nhưng thực tế
ở Tòa cấp sơ thẩm thời hạn giải quyết vụ án kinh doanh thương mại trung bình là từ 4
- 5 tháng
Để đảm bảo cho việc xét xử đúng nguyên tắc và thuận lợi tòa án phải thực hiện các công việc sau đây:
- Thông báo thụ lý vụ án: Thông báo cho bị đơn và người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan biết nội dung đơn kiện và nhận lại các văn bản trả lời và tài liệu
liên quan của những người nói trên
Thời hạn gửi thông báo cho bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan là 3 ngày tính từ ngày thụ lý vụ án Thời hạn quy định cho bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gửi ý kiến trả lời và tài liệu liên quan về tòa án là 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo Hết thời hạn này mà tòa
án không nhận được ý kiến bằng văn bản thì tòa án tiếp tục giải quyết vụ án Theo quy định này, việc tiếp tục giải quyết vụ án không phụ thuộc vào việc có nhận được hay không nhận được các văn bản trả lời hoặc các tài liệu liên quan của bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, mặc dù có thể có những yếu tố khách quan, chủ quan chi phối việc trả lời hoặc gửi tới Tòa án những tài liệu liên quan đó
(ví dụ: thiên tai, địch họa, ốm đau, tai nạn, sự chậm trễ của Bưu điện )
- Xác minh, thu thập chứng cứ:
Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, một vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại được giải quyết khách quan, chính xác là các tình tiết, các chứng cứ của vụ án đó được xem xét, đánh giá, kết luận một cách đầy đủ,
Trang 30khách quan, toàn diện; các quyết định phải đúng pháp luật Do đó việc xác minh, thu thập chứng cứ có ý nghĩa quan trọng để giải quyết một cách khách quan, chính xác các tranh chấp kinh doanh thương mại
Thẩm phán phải tiến hành một số biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ nếu thấy đương sự đã cung cấp và bổ sung tài liệu nhưng chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án và khi đương sự có yêu cầu (thể hiện bằng văn bản riêng, biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất…) Thẩm phán thực hiện thu thập chứng sau: Ghi lời khai của đương sự; lấy lời khai; trưng cầu giám định; thu thập các chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ trong trường hợp đương sự không thể
tự mình thu thập được; quyết định thẩm định, định giá tài sản tranh chấp; quyết định
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp cần thiết…
Tranh chấp kinh doanh thương mại thường liên quan đến nhiều vấn đề rất phức tạp như: Hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, hợp đồng vận chuyển, phạm vi ủy quyền tham gia tố tụng, v.v do đó việc xác minh, thu thập chứng cứ là rất cần thiết Các hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ
sẽ có thể được tiến hành bằng những con đường khác nhau: trong quá trình chuẩn bị xét xử, khi tiến hành xét xử, trực tiếp hoặc thông qua các hoạt động của các chủ thể khác Hơn nữa, chứng cứ là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để chứng minh trong một vụ kiện, do đó tòa án phải cân nhắc và thận trọng trong việc xác minh, thu thập các chứng cứ và tài liệu liên quan để đảm bảo tính khách quan của việc quyết định
Theo Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 thì các đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; đồng thời tại khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì trong trường hợp do Bộ luật quy định Thẩm phán có thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ Kế thừa những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm
2011, Bộ luật tố tụng năm 2015 quy định tại Điều 96 về giao nộp tài liệu, chứng cứ Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ
Trang 31nộp chưa đảm bảo đủ cơ sở giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 Bộ luật này để giải quyết vụ việc dân sự
Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn
tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự
Như vậy bên cạnh nghĩa vụ của các đương sự là phải cung cấp chứng cứ thì trách nhiệm của Thẩm phán trong việc xác minh, thu thập chứng cứ cũng rất quan trọng Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ nhưng trách nhiệm của Thẩm phán phải xác minh các chứng cứ đó có căn cứ hay không, nhất là trong tình hình xã hội
ta hiện nay, trình độ và ý thức pháp luật của nhân dân còn hạn chế Hơn nữa nhiều chứng cứ của vụ án lại do Cơ quan nhà nước lưu giữ vì vậy các đương sự không thể biết và yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp Vì vậy, trách nhiệm của Thẩm phán trong việc xác minh, thu thập chứng cứ là cần thiết
Qua công tác xét xử giám đốc thẩm các vụ án dân sự trong thời gian qua thấy rằng một số quyết định giám đốc thẩm đã hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm; giao hồ sơ cho tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại vì lý do "Tòa án hai cấp chưa xác minh, thu thập được đầy đủ chứng cứ nên quyết định của tòa án cấp sơ
thẩm và tòa án cấp phúc thẩm đều không có cơ sở vững chắc" Điều đó chứng tỏ
việc xác minh, thu thập chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng Việc tuyệt đối hóa
Trang 32nghĩa vụ chứng minh của đương sự và không đề cao tinh thần trách nhiệm của thẩm phán trong việc xác minh, thu thập chứng cứ là thực tế cần xem xét
Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011, nhà làm luật đã mở rộng quyền của thẩm phán trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ, tuy nhiên việc xác định
"trong các trường hợp do Bộ luật này quy định" là như thế nào Vì hệ thống các điều khoản đã được sửa đổi, bổ sung đều chưa đưa ra các trường hợp Bộ luật quy định thẩm phán được thu thập tài liệu, chứng cứ
Để nâng cao vai trò trách nhiệm của Thẩm phán trong việc xác minh, thu thập chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh của đương sự, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định tại khoản 2 Điều 106: "Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn” Tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án”
Như vậy, Thẩm phán có thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ
trong hai trường hợp: Thứ nhất: khi đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ
và có yêu cầu tòa án thu thập chứng cứ; Thứ hai: khi Thẩm phán thấy cần thiết phải
thu thập chứng cứ thì mới làm rõ được các tình tiết trong vụ án
- Thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ: Đây là quy định hoàn toàn mới của Bộ luật tố tụng năm 2015 so với Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004 và được sửa đổi, bổ sung năm 2011 Theo đó, Thẩm phán phải tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự Việc công khai các chứng cứ là tạo điều kiện cho đương sự được tiếp xúc với các chứng cứ, cũng như cung cấp chứng cứ cho Tòa án trước khi vụ án được đưa ra xét xử Từ đó, các đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích của mình, cũng
Trang 33chứng cứ mới thì không được chấp nhận nếu không có lý do chính đáng Điều đó có
ý nghĩa trong việc áp dụng thống nhất pháp luật và tính ổn định cả bản án sơ thẩm
- Thủ tục hòa giải: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán phải tiến
hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Tuy nhiên, Tòa án không được hòa giải những tranh chấp lao động phát sinh từ các giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội, nếu việc hòa giải nhằm mục đích để các bên tiếp tục thực hiện các giao dịch đó Nếu các bên chỉ tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu do trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu đó
Quy định trên cho thấy, tòa án chỉ xem xét, đánh giá chứng cứ theo yêu cầu của các bên để giải quyết tranh chấp đúng pháp luật Từ việc khởi kiện, đưa ra yêu cầu, cung cấp chứng cứ, nhờ luật sư, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu… hoàn toàn do đương
sự chủ động quyết định Nếu các bên hòa giải được thì tòa án sẽ xem xét chấp nhận bằng thủ tục công nhận hòa giải thành và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự Quyết định này có giá trị pháp lý thi hành như bản án có hiệu lực
Cũng nằm trong quá trình tố tụng nhưng việc hòa giải trong giai đoạn chuẩn
bị xét xử có một vị trí quan trọng đặc biệt Hòa giải trước khi mở phiên tòa một mặt đảm bảo cho các bên thực hiện được quyền tự định đoạt của họ, mặt khác sẽ có thể chấm dứt quá trình tố tụng ngay sau khi tiến hành hòa giải Điều đó vừa giảm bớt gánh nặng cho tòa án, vừa có thể tạo ra hòa khí để các bên tiếp tục hợp tác với nhau, vừa có thể giảm bớt những chi phí về thời gian và tiền bạc cho quá trình tố tụng và cho chính các bên tranh chấp
Hòa giải là một trong những nghĩa vụ bắt buộc của tòa án Điều này có nguồn gốc từ việc đảm bảo quyền tự do - tự nguyện, bình đẳng và hợp tác của các bên trong việc xác lập, duy trì, chấm dứt mối quan hệ kinh tế vì mục tiêu của sản xuất- kinh doanh Do đó pháp luật quy định rằng: "Trước khi quyết định mở phiên tòa, tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án"
Trang 34Trong quá trình hòa giải, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải có mặt Theo quy định của pháp luật, nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án Nếu nguyên đơn có văn bản yêu cầu không tiến hành hòa giải hoặc đương sự không phải là nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không
có lý do chính đáng thì tòa án lập biên bản về việc hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
Như vậy, việc có mặt của nguyên đơn ngay tại giai đoạn hòa giải không chỉ ảnh hưởng tới kết quả của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại mà còn
có ý nghĩa đảm bảo giữ được số phận thực tế của quyền khởi kiện Việc vắng mặt của các đương sự khác có thể chỉ là lý do để tòa án công nhận rằng các bên không
có nhu cầu hay thiện chí về việc hòa giải, để tòa án có cơ sở "ra quyết định đưa vụ
án ra xét xử" Nhưng nếu nguyên đơn không có mặt đến lần thứ hai mà không có lý
do chính đáng thì vụ kiện coi như bị đóng lại Điều đó, về mặt pháp lý không đồng nghĩa với việc nguyên đơn không có nhu cầu hòa giải mà là đồng nghĩa với việc nguyên đơn không có nhu cầu giải quyết vụ án nữa mặc dù đã khởi kiện trước đó
Nếu thông qua hòa giải, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì tòa án lập biên bản hòa giải thành và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định này có hiệu lực pháp luật Đây là một sự kiện pháp lý đặc biệt, vì theo đó mà vụ tranh chấp đóng lại và chính các bên đã quyết định việc đó chứ không phải là tòa án Tòa án chỉ là chủ thể trung lập chứng kiến, xúc tác, hướng dẫn và công nhận những nội dung mà các bên đã đưa ra thỏa thuận trên nguyên tắc tự định đoạt mà thôi
Trong trường hợp các đương sự không thể thỏa thuận được với nhau thì tòa
án lập biên bản hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Biên bản hòa giải không thành tạo ra hiệu quả pháp lý giống như trường hợp đương sự không phải là nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không
Trang 35cửa hòa giải lại và mở cánh cửa thứ hai của quá trình tố tụng, đó là đưa vụ án kinh doanh thương mại ra xét xử
Sau khi đã tiến hành các hoạt động tố tụng trên, trong thời hạn chuẩn bị xét
xử Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định sau: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; đưa vụ án ra xét xử; tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án; đình chỉ việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại
3.3 Tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm
Trường hợp hòa giải không thành, tòa án sẽ mở phiên tòa sơ thẩm để xét xử giải quyết tranh chấp Phiên tòa sơ thẩm là hoạt động tố tụng điển hình, thể hiện tập trung nhất đặc trưng của hình thức tố tụng tòa án Điểm nổi bật trong các quy định
về phiên tòa sơ thẩm theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đó là: các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận thể hiện rõ mục đích nhằm nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm có thể là một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân hoặc hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân tùy theo tính chất đơn giản hay phức tạp của việc tranh chấp
Phiên tòa về nguyên tắc phải tiến hành công khai, liên tục, trực tiếp và bằng lời nói Tố tụng đã chuyển từ xét hỏi sang tố tụng tranh luận Các quyền tố tụng tại phiên tòa, đặc biệt là quyền yêu cầu, trình bày và tranh luận được bảo đảm tối đa Mọi phán quyết của Hội đồng xét xử chỉ được phép dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Điều này thể hiện sự dân chủ, công minh, khách quan của hoạt động tố tụng, hạn chế các can thiệp bên ngoài Tố tụng hiện hành của tòa án đã được cải cách đáng kể theo hướng tiến bộ và phù hợp thông lệ chung của các nước
Khi tòa án mở phiên tòa để xét xử, tất cả những người tham gia tố tụng phải được triệu tập tham gia phiên tòa, gồm có: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định và người phiên dịch Ngoài ra Viện kiểm sát cử kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng được triệu tập tham gia
Trang 36phiên tòa còn tồn tại nhiều quan điểm
Quan điểm thứ nhất: Triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là hai lần được tòa án triệu tập và cả hai lần đương sự vắng mặt Như vậy mỗi đương
sự được vắng mặt một lần Do đó một vụ án có bao nhiêu đương sự thì có khả năng phải hoãn phiên tòa bấy nhiêu lần
Quan điểm thứ hai: Phải lấy số lần tống đạt hợp lệ giấy triệu tập để tính Nếu đương sự đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai thì dù phiên tòa thứ nhất đương sự có mặt hay không có mặt mà phiên tòa thứ hai vắng mặt thì vẫn được coi
là đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hay xét xử vắng mặt đương sự
Ví dụ: Phiên tòa lần 1 có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn: Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa Phiên tòa lần 2 có mặt bị đơn, vắng mặt nguyên đơn, nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ thì tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Hoặc phiên tòa lần 1 có mặt bị đơn, vắng mặt nguyên đơn - phiên tòa hoãn Phiên tòa lần 2 có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn (không có lý do chính đáng), nếu
bị đơn đã được triệu tập hợp lệ Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn
Từ những ý kiến khác nhau trên đây, theo chúng tôi nên áp dụng quan điểm thứ hai, bởi lẽ sẽ hạn chế được việc hoãn phiên tòa nhiều lần như vậy dù vụ án có nhiều đương sự thì cũng sẽ đảm bảo phiên tòa không hoãn quá ba lần, đồng thời tăng ý thức của đương sự khi tham gia phiên tòa theo giấy báo, giấy triệu tập của tòa án
Bên cạnh đó thủ tục tống đạt trong một số vụ án kinh doanh thương mại
cũng gặp vướng mắc Thực tế giải quyết án tranh chấp kinh doanh thương mại cho
thấy hầu hết các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thì những bên vay nợ thường không có mặt tại địa phương, có ý định trốn tránh, là nợ xấu Khi tòa án đến doanh nghiệp để tống đạt các quyết định, bản án hoặc thông báo của tòa án, vì không có lệnh của chủ doanh nghiệp nên nhân viên bảo vệ không cho cán bộ tòa án vào doanh nghiệp, do đó cán bộ tòa án phải giao văn bản cho nhân viên bảo vệ Về đánh giá tính hợp lệ của việc tống đạt này giữa các tòa án có sự khác nhau Có tòa cho
Trang 37Chính vì vậy, thực tế xảy ra một số trường hợp như tòa án cấp sơ thẩm cho rằng đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập 02 lần nhưng đương sự vẫn vắng mặt nên đã xử vắng mặt đương sự, nhưng đến cấp phúc thẩm cho rằng thủ tục tống đạt không hợp lệ nên
Như vậy nếu có đủ căn cứ xác định nhân viên bảo vệ được giao nhiệm vụ nhận văn bản thì phải yêu cầu nhân viên đó ký xác nhận, ghi rõ họ tên, số chứng minh nhân dân, số thẻ nhân viên Trường hợp không có căn cứ xác định là nhân viên bảo vệ được giao nhiệm vụ nhận văn bản tố tụng thì cán bộ tòa án phải yêu cầu được vào trụ sở doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ tống đạt Nếu nhân viên bảo
vệ không cho cán bộ tòa án vào trong trụ sở doanh nghiệp để tống đạt thì tòa án tiến hành niêm yết công khai văn bản tố tụng theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
Phiên tòa sơ thẩm được tiến hành với các thủ tục sau: Chuẩn bị khai mạc phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm, tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, nghị án
Trang 38tình tiết của vụ án trước khi quyết định Việc hỏi tại phiên tòa cũng nhằm mục đích đảm bảo tính công khai của việc xét xử vụ án kinh doanh thương mại và đây là một trong những nguyên tắc quan trọng về hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng Tuy vậy, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã có bước tiến vượt bậc, đề cao hơn nữa vị trí, vai trò các đương sự, quy định thủ tục tranh tụng tại phiên tòa, trong đó các đương sự hỏi lẫn nhau Tòa án đóng vai trò trung gian, dựa trên trình bày, lập luận, chứng cứ đương
sự đưa ra để quyết định vụ việc
Căn cứ vào nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, Điều 248 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trước khi hỏi về nội dung vụ án chủ tọa phiên tòa hỏi đương
sự về các vấn đề sau:
- Hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu hay không Căn cứ trên đề nghị của đương sự Hội đồng xét xử quyết định: chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu; trường hợp đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu và việc rút yêu cầu của
họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút (Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự)
- Hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án Cần phải lưu ý, tòa án không hòa giải tại phiên tòa mà chỉ hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không
Sau khi chủ tọa thực hiện các hoạt động nghiệp vụ cần thiết trên và các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu thì Hội đồng xét xử bắt đầu xét xử bằng việc nghe các bên đương sự trình bày về các yêu cầu, các căn cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Tại phiên tòa, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
Trang 39sự cùng song hành tham gia tố tụng, cả hai cùng có quyền bổ sung chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của đương sự
Những quy định này cho thấy chủ trương đổi mới hoạt động tư pháp của Đảng và Nhà nước đã được thể chế hóa Đó là kết quả của việc mở rộng quyền dân chủ trong hoạt động tư pháp và vai trò của đương sự, của những người tham gia tố tụng khác trong việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án, thực hiện nghĩa vụ chứng minh
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Sau khi Hội đồng xét xử nghe xong lời trình bày của các đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đề của vụ án được tiến hành ngay Hoạt động hỏi tại phiên tòa được thực hiện bởi Hội đồng xét xử, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và kiểm sát viên Theo sự điều hành của Chủ tọa phiên tòa, các chủ thể khác có quyền hỏi Trong quá trình hỏi, những người tham gia đặt câu hỏi được xếp theo thứ tự như sau: Nguyên đơn, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hỏi trước, tiếp đến bị đơn, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, sau đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi; nghĩa vụ liên quan; những người tham gia tố tụng khác; Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân; Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Cũng trong quá trình này, Hội đồng xét xử sẽ tiến hành xem xét các vật chứng, công bố các tài liệu của vụ án nếu thấy cần thiết
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định rõ trong khoản 3 Điều 247: Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến có liên quan đến vụ án dân sự
Như vậy, tùy thuộc vào tính chất của vụ án mà Thẩm phán chủ tọa sẽ định trước thời gian xét xử tại phiên tòa, điều khiển phiên tòa tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình
Kết thúc phần hỏi, Hội đồng xét xử điều khiển việc tranh luận tại phiên tòa Tranh luận tại phiên tòa là hoạt động trung tâm của phiên tòa, bảo đảm cho đương
Trang 40sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước tòa án Bộ luật Tố tụng dân
sự đã quy định mở rộng quyền tranh luận của đương sự, để cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tramh luận tại phiên tòa Bộ luật Tố tụng dân sự đã dành hẳn một mục với ba điều luật, từ Điều 260 đến Điều 263 quy định về hoạt động tranh luận tại phiên tòa Điều này thể hiện vai trò quan trọng của hoạt động tranh luận và
xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta Các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về tranh luận tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về cải cách tư pháp là "Muốn nâng cao chất lượng xét xử thì phải nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa"
Trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để thảo luận quyết định các vấn đề của vụ án Việc nghị án được thực hiện theo tinh thần đổi mới hoạt động tư pháp, đó là: Việc phán quyết của tòa
án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy
đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy định
Hoạt động nghị án của các thành viên của Hội đồng xét xử là một hoạt động đặc biệt mà những người tham gia tố tụng khác không được phép thực hiện các hành vi chi phối hoặc là ảnh hưởng tới quá trình đó, xét cả về mặt thủ tục và về nội dung của việc nghị án Hội đồng xét xử nghị án tại phòng riêng Khi nghị án, chủ tọa nêu từng vấn đề để Hội đồng xét xử thảo luận quyết định, Hội đồng xét xử quyết định theo nguyên tắc đa số, Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng Phải có biên bản nghị án ghi lại ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử Không có bất kỳ quy định nào hạn chế hay xác định thời gian của việc nghị án Do đó, có những vụ việc, việc nghị án có thể được kéo dài Nếu thấy có tình tiết chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận