Các nguyên lý trong quyền s hữu tài sản c ng là c s để xác định tài sản bảo đảm, cụ thể: nguyên lý hoa lợi luôn thuộc về chủ s hữu của tài sản gốc nên có thể xác định trong th i hạn bảo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG – NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VŨ THỊ NGÀ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn cha từng
đợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các tác giả của các công trình nghiên cứu khoa học , các bài viết bổ ích làm nguồn tài liệu tham khảo mà tôi sử dụng trong luận văn của mình
T¸c gi¶ luËn v¨n
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 5
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ VÀ PHÂN LOẠI TÀI SẢN BẢO ĐẢM 5
1.1.1 Khái niệm tài sản và tài sản bảo đảm 5
1.1.2 Đặc điểm pháp lý của tài sản bảo đảm 9
1.1.3 Phân loại tài sản bảo đảm 13
1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM 21
1.2.1 Khái niệm xử lý tài sản bảo đảm 21
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của xử lý tài sản bảo đảm 23
1.3 VAI TRÒ CỦA TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 31
2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM1 31
Trang 62.1.1 Quy định của pháp luật hiện hành về tài sản bảo đảm 31
2.1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về xử lý tài sản bảo đảm 35
2.2 NHỮNG BẤT CẬP CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TỪ THỰC TIỄN ÁP TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 45
2.2.1 Những bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành về tài sản bảo đảm 45
2.2.2 Những bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành về xử lý tài sản bảo đảm trong thực tiễn tại các tổ chức tín dụng 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 67
3.1 YÊU CẦU HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM 67
3.2 CÁC KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM 69
3.2.1 Nhóm kiến nghị liên quan đến tài sản bảo đảm 69
3.2.2 Nhóm kiến nghị liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi, hội nhập để phát triển mạnh m , hệ thống ngân hàng Việt Nam đ có sự chuyển biến tích cực, t ng bước
h a nhịp và b t kịp với thị trư ng quốc tế Đặc biệt hoạt động tín dụng của các ngân hàng thư ng mại Việt Nam đ đạt được những thành tựu đáng kể đáp ứng được nhu cầu hội nhập của đất nước Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đ đạt được, các ngân hàng thư ng mại đang lâm vào tình trạng không hiệu quả về tài chính, rõ rệt nhất là tình hình nợ quá hạn trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên, gây
áp lực đối với nền kinh tế
Bảo đảm tiền vay là biện pháp quan tr ng nh m thực hiện ngh a vụ trả nợ của ngư i vay mà c ng nh m bảo đảm vốn đối với ngân hàng thư ng mại Pháp, Bộ luật Dân sự, một số đạo luật khác c ng quy định rất nhiều về bảo đảm thực hiện ngh a vụ dân sự, bảo đảm tiền vay, tài sản bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay Bộ luật Dân sự của Nga năm 1995, Luật về cầm cố bất động sản của Nga năm 1998 c ng có các quy định đề cập về vấn đề này Hiện nay, pháp luật Việt Nam về bảo đảm tiền vay vẫn c n chưa chặt ch hoặc có những quy định c n quá c i
m , trao quyền chủ động lớn cho các tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp trong quá trình thỏa thuận các biện pháp bảo đảm nợ c ng như m rộng quyền cho các tổ chức tín dụng, bao gồm cả vấn đề xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ quá hạn nh m hạn chế rủi ro tín dụng
Tuy nhiên, nợ quá hạn vẫn là vấn đề tồn tại nóng bỏng của các ngân hàng thư ng mại hiện nay C chế thu hồi nợ quá hạn chủ yếu là xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của khách hàng Nhưng hiện nay, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là vấn đề nan giải khó giải quyết, dẫn đến hàng nghìn tỷ đồng vốn của các ngân hàng thư ng
mại đang bị "chôn" trong các tài sản cầm cố, bảo đảm mà vẫn chưa được xử lý Đây
c ng là vấn đề đau đầu của các ngân hàng các nước có hệ thống ngân hàng phát triển mạnh như M , Pháp Tình trạng này là do tồn tại bất cập t nhiều phía: t các văn bản pháp luật, các c quan chủ quản và các c quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 9trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ trong các ngân hàng thư ng mại
Theo pháp luật Việt Nam, các loại tài sản đưa ra để bảo đảm tiền vay rất phong phú và đa dạng có thể là động sản, bất động sản, quyền tài sản Đặc biệt về vấn đề lựa ch n tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm của ngân hàng thư ng mại Việt Nam hiện nay rất phức tạp, được điều ch nh b i nhiều văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Các tổ chức tín dụng
H n nữa, pháp luật hiện hành đ có những quy định cụ thể về bảo đảm tài sản
là bất động sản hình thành trong tư ng lai, nhưng chưa có quy định cụ thể về việc bán và xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản hình thành trong tư ng lai Vì vậy, áp dụng đúng, linh hoạt các quy định pháp luật c ng như đưa ra các giải pháp hoàn thiện các vấn đề c n thiếu đồng bộ, không ph hợp của hệ thống pháp luật trong việc xử lý tài sản bảo đảm là vấn đề đang được đặt ra cho các ngân hàng thư ng mại Việt Nam
Chính những lý do kể trên đ giúp h c viên lựa ch n đề tài: "Tài sản bảo đảm và
xử lý tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng – Những vấn đề lý luận và thực tiễn" làm luận văn thạc s luật h c Với đề tài này, h c viên mong muốn được tiếp
tục nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật về tài sản bảo đảm và xử
lý tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng Việt Nam Qua đó phân tích, đánh giá thực trạng, trên c s đó h c viên đưa ra các kiến nghị và có giải pháp
nh m hoàn thiện các quy định pháp luật về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Hiện nay có nhiều sách tập trung tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề xung quanh tài sản bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay Như: giáo trình, sách tham khảo của các trư ng Đại h c Quốc gia, Đại h c Luật Hà Nội, H c viện Ngân hàng, H c viện Tài chính Trong giới luật h c, nhiều tác giả lựa ch n pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là đề tài nghiên cứu dưới góc độ lý luận, như
Luận án tiến s Những giải pháp bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng", của
Nguyễn Như Minh, Trư ng Đại h c Tài chính - Kế toán, Thành phố Hồ Chí Minh,
Trang 101996; nhiều luận văn thạc s đ đề cập đến vấn đề chế độ pháp lý về xử lý tài sản đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng hay các ngân hàng; c ng như các bài viết mang tính nghiên cứu trao đổi của các chuyên gia pháp lý đăng trên các tạp chí chuyên ngành: Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Luật h c, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử, Th i báo Kinh tế Việt Nam, website của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, website của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam H n nữa, nhiều hội thảo của Bộ Tài chính, Hiệp hội Ngân hàng đ được tổ chức nh m tháo g
và giải quyết các vướng m c về tài sản bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
Tuy nhiên, giáo trình, sách tham khảo, các đề tài, những bài viết và nhiều buổi hội thảo đều nghiên cứu khái quát chung về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay c ng như đưa ra những giải pháp, phư ng hướng hoàn thiện pháp luật chung mang tính bao
tr m về tài sản bảo đảm tiền vay nói chung, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay nói riêng Thực tế chưa có nghiên cứu nào thực sự chuyên sâu về vấn đề tài sản và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay đối với tổ chức tín dụng Chính vì vậy luận văn "TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN" là một đề tài nghiên cứu mang tính cấp thiết nh m góp phần vào việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ph hợp với thực tiễn phát triển của đất nước
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nh m hoàn thiện hệ thống lý luận về tài sản bảo đảm và
xử lý tài sản bảo đảm tiền vay c ng như góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Để đạt được mục đích đó, luận văn phải giải quyết được các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các TCTD Việt Nam như: khái niệm, đặc điểm và vai tr của tài sản bảo đảm và việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
Trang 11- Tìm hiểu thực trạng pháp luật của vấn đề tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của TCTD Việt Nam trên c s có so sánh và đối chiếu với pháp luật nước ngoài về vấn đề này, t đó tìm ra vướng m c và khó khăn trong vấn
đề này
- Trên c s nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật, luận văn đề xuất các phư ng hướng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các TCTD Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phư ng pháp nghiên cứu khác nhau như phư ng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phư ng pháp nghiên cứu tài liệu, phư ng pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích số liệu; kết hợp giữa lý luận và thực tiễn tư duy logic để phân tích chứng minh các nội dung trong luận văn
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm của các TCTD Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến tài sản bảo đảm và
xử lý tài sản bảo đảm; thực trạng pháp luật về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm của ngân hàng thư ng mại Việt Nam và các kiến nghị nh m hoàn thiện hệ thống pháp luật về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng Việt Nam
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần m đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chư ng:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tại
các tổ chức tín dụng
Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản
bảo đảm t thực tiễn của các tổ chức tín dụng
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm t
thực tiễn của các tổ chức tín dụng
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM
VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ VÀ PHÂN LOẠI TÀI SẢN BẢO ĐẢM 1.1.1 Khái niệm tài sản và tài sản bảo đảm
1.1.1.1 Khái niệm tài sản
Trong ngôn ngữ đ i thư ng, tài sản được hiểu là của cải, tiền bạc "Tài sản có thể được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị, một khái niệm rộng và không giới hạn, luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra" Trong cuốn Deluxe Back’s Law Dictionary, tài sản được giải ngh a là một t được sử dụng chung
để ch m i thứ là đối tượng của quyền s hữu, hoặc hữu hình hoặc vô hình, hoặc động sản hoặc bất động sản Như vậy, nếu xét dưới góc độ luật h c thì khái niệm tài sản được nhìn nhận trong mối quan hệ với quyền s hữu và được xem xét dưới các khía cạnh đa dạng như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, động sản và bất động sản
Các quan niệm về tài sản trong BLDS của một số nước tiêu biểu cho hệ thống pháp luật trên thế giới đều đi theo 2 cách tiếp cận c bản, đó là tài sản được tiếp cận
dưới góc độ vật hay dưới góc độ quyền Dưới góc độ vật: Theo tiêu chí vật lý thì
những vật mà con ngư i có thể nhận biết được b ng các giác quan tiếp xúc là vật hữu hình, c n ngược lại là vật vô hình Vật vô hình chính là các quyền tài sản Như
vậy tài sản gồm có vật và quyền, có tính hữu hình và vô hình Dưới góc độ quyền:
C s xuất phát điểm của cách tiếp cận này là sự th a nhận vật có tính chất hữu hình, độc lập, có thể cầm n m được Việc tiếp theo của các nhà làm luật là xác định các quyền lợi của các chủ thể xoay quanh vật hữu hình đó Các quyền được thực hiện một cách trực tiếp trên vật hữu hình mà không cần có sự hỗ trợ của bất kỳ chủ thể nào khác được g i là quyền đối vật hay c n g i là vật quyền Trong quyền đối vật có quyền đối vật tuyệt đối là quyền s hữu và quyền đối vật phụ thuộc là các quyền hư ng dụng, quyền địa dịch, quyền bề mặt, quyền của bên nhận cầm cố, bảo đảm đối với vật Ngược lại với quyền đối vật là quyền đối nhân Quyền đối nhân là quyền được thực hiện trên vật một cách gián tiếp thông qua hành vi của chủ thể
Trang 13mang ngh a vụ hay c n được g i là trái quyền Bên cạnh đó c n tồn tại một loại quyền đặc biệt không được thực hiện trực tiếp trên vật c ng không phải thông qua hành vi của ngư i khác mà tồn tại theo quy định của pháp luật được g i là quyền vô hình tuyệt đối, đó là quyền s hữu trí tuệ Pháp luật dân sự Nhật Bản đ đi theo hướng tiếp cận này Trong BLDS Nhật Bản không có khái niệm cụ thể về tài sản mà khái niệm tài sản được ẩn chứa trong các quy định về vật chư ng 3, quyển 1 , vật quyền quyển 2 và trái vụ quyển 3
Tóm lại, vật và quyền là hai mặt không thể tách r i của tài sản Nếu vật được
d ng để ch tài sản phư ng diện vật chất thì quyền được d ng để ch tài sản dưới
phư ng diện pháp lý Theo Tiến s Nguyễn Ng c Điện: "Ở góc độ pháp luật tài sản, quyền và vật được đặt đối lập với nhau, không thể phân ra hai loại tài sản khác nhau mà đưa ra hai cách hình dung khác nhau về tài sản, hai cách tiếp cận khác nhau đối với tài sản"
Trên c s tìm hiểu các quy định của pháp luật dân sự truyền thống và hiện đại, chúng tôi cho r ng tài sản có những đặc điểm pháp lý c bản sau:
Thứ nhất, tài sản là những đối tượng mà con ngư i có thể kiểm soát được Nếu
tài sản là vật hữu hình thì con ngư i có thể n m giữ hoặc chiếm giữ được thông qua các giác quan tiếp xúc; nếu tài sản là vật vô hình thì con ngư i phải có cách thức để quản lý
Thứ hai, tài sản phải trị giá được b ng tiền "Theo quan điểm của Luật học Latinh, tài sản, được hiểu là một vật có giá trị tiền tệ" Trên thực tế phải có các căn
cứ để định giá tài sản trị giá bao nhiêu tiền đây cần có sự phân biệt giữa yếu tố giá trị và trị giá được thành tiền của tài sản Tài sản có giá trị được hiểu là tài sản đó
có ý ngh a về mặt tinh thần hay có giá trị sử dụng cụ thể nào đó với mỗi chủ thể khác nhau Ví dụ, một bức ảnh đ c t th i th ấu vô c ng có giá trị đối với một ngư i nhưng để định giá được bức ảnh đó có giá trị bao nhiêu tiền thì phải có căn
cứ như thông qua bán đấu giá hay căn cứ vào sự thoả thuận của các bên để xác định
nó trị giá bao nhiêu tiền hoặc có thể chẳng ai trả giá cho bức ảnh đó Như vậy, không phải m i tài sản có giá trị thì đều có thể trị giá được thành tiền
Điều 181 BLDS 2005 có định ngh a về quyền tài sản: "Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự" Quyền tài
Trang 14sản có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự phụ thuộc vào bản chất của chúng
có hay không có "g n với yếu tố nhân thân" và quy chế pháp lý được dành riêng cho chúng như chúng không thuộc loại tài sản bị pháp luật quy định là loại tài sản bị cấm lưu thông Ví dụ: quyền đ i nợ là quyền tài sản không g n với nhân thân nhưng quyền yêu cầu cấp dư ng hay quyền được hư ng lư ng hưu là những quyền tài sản g n với nhân thân Về nguyên t c, các giá trị nhân thân ch thuộc về một chủ thể nhất định, không thể chuyển giao cho ngư i khác Theo quy định của Điều 163 BLDS 2005, quyền tài sản là một loại tài sản, do vậy nó c ng phải có tất cả các đặc điểm pháp lý của một tài sản nói chung Ngược lại, ngoài hai đặc điểm pháp lý của tài sản như đ nêu trên có thể kiểm soát được, trị giá được b ng tiền thì tài sản cần
có thêm đặc điểm pháp lý của quyền tài sản là "có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự"
Một điểm đặc th trong khái niệm tài sản đó là: tài sản là một khái niệm động
mang nội dung kinh tế, x hội và nội dung pháp lý nh m mục đích đáp ứng cho các nhu cầu của con ngư i trong cuộc sống Trong điều kiện nền kinh tế thị trư ng hiện nay với sự phát triển như v b o của các tiến bộ khoa h c, k thuật, sự đa dạng hóa các loại hợp đồng đ làm phát sinh những loại tài sản mới đa dạng, phức tạp và tất yếu kéo theo tư duy mới về những tài sản có thể d ng để bảo đảm Những khái niệm có tính truyền thống, cổ điển về tài sản đ tr nên quá chật hẹp với sự phát triển đa dạng và phức tạp của các loại hình tài sản mới như tài sản trong các tr ch i game online, tên miền, các dự án, tài sản s có trong tư ng lai, các quyền tài sản phát sinh t hợp đồng như quyền thu phí đư ng bộ, quyền thuê bất động sản mà đ trả tiền thuê trước cho cả th i hạn thuê Ví dụ: Công ty Vinaphone đ bảo đảm toàn bộ quyền thu phí sử dụng dịch vụ mạng di động của mình cho Ngân hàng A Theo đó, các bên thỏa thuận, nếu đến hạn thực hiện ngh a vụ trả nợ mà Công ty Vinaphone không thực hiện đúng, đầy đủ thì quyền
đ i phí dịch vụ t các khách hàng của Công ty quyền yêu cầu thanh toán thuộc
về Ngân hàng A Hoặc đáp ứng nhu cầu bức thiết về vốn để đầu tư mua các căn
hộ chung cư đang xây, bên mua có thể d ng quyền tài sản trong hợp đồng mua nhà chung cư đó để bảo đảm vay vốn của Ngân hàng Nếu như có sự vi phạm ngh a vụ trả nợ thì ngân hàng s thế vào vị trí của bên mua trong hợp đồng mua
Trang 15nhà chung cư đó để được xác lập quyền s hữu đối với nhà mua Sáng chế, nh n hiệu, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả c ng là những nguồn tài sản tiềm năng mà các chủ thể có thể lựa ch n làm tài sản bảo đảm Như vậy, khái niệm tài
sản không ch là một khái niệm "có tính chất học thuật thuần túy mà còn hàm chứa trong đó các ý nghĩa xã hội, kinh tế và tính mục đích của các chủ thể"
Tính mới của các loại tài sản hiện nay s tạo nên bước đột phá mới trong tư duy của các nhà làm luật về việc xác định các loại tài sản d ng để bảo đảm
Khái niệm về tài sản được quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015: "tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản" Cách định ngh a theo kiểu liệt kê các loại
tài sản của điều luật này dễ dẫn đến tình trạng bỏ sót những dạng tài sản khác và không làm rõ được các đặc tính pháp lý c bản để nhận diện về tài sản Có thể nói, dưới góc độ h c thuật c ng như dưới góc độ luật thực định đều không có khái niệm chính thống về tài sản Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi xây dựng khái
niệm tài sản dựa theo các tiêu chí chung để nhận diện về tài sản là: Tài sản là vật hoặc quyền mà con người có thể kiểm soát được và trị giá được thành tiền Khái
niệm về tài sản là căn cứ, c s để hình thành khái niệm tài sản bảo đảm
1.1.1.2 Khái niệm tài sản bảo đảm
Khái niệm tài sản bảo đảm chưa được quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật nào của nước ta Cách hiểu về tài sản bảo đảm được đúc rút t những quy định về biện pháp bảo đảm nói chung Tài sản bảo đảm thư ng được mô tả theo các tiêu chí: bất cứ tài sản nào c ng có thể là tài sản bảo đảm tr trư ng hợp pháp luật cấm hoặc các bên không thỏa thuận lựa ch n; là đối tượng trong hợp đồng bảo đảm có mục đích bảo đảm cho việc thực hiện ngh a vụ; thuộc s hữu của bên bảo đảm; không
chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo đảm
Các nước theo hệ thống pháp luật Civil law c ng ch có quy định về biện pháp bảo đảm mà không xây dựng quy định cụ thể về tài sản bảo đảm Điều 369 BLDS
Nhật Bản quy định: "Người nhận bảo đảm có quyền ưu tiên so với các chủ nợ khác trong việc đáp ứng yêu cầu của mình từ bất động sản mà bên nợ hoặc người thứ ba đưa ra như một biện pháp bảo đảm trái vụ và không chuyển giao quyền chiếm hữu nó" C ng với cách tiếp cận đó, Điều 2114 BLDS Pháp quy định: "Bảo đảm là một quyền tài sản đối với bất động sản được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ"
Trang 16Dưới góc độ nghiên cứu lý luận, việc xây dựng một khái niệm về tài sản bảo đảm là cần thiết để làm hoàn thiện h n nữa hệ thống các quy định pháp luật
về bảo đảm tài sản Khái niệm tài sản bảo đảm được tìm hiểu với các cách tiếp cận khác nhau:
Thứ nhất, khái niệm tài sản bảo đảm được tiếp cận dưới góc độ là đối tượng
của hợp đồng bảo đảm Đối tượng của hợp đồng bảo đảm là tài sản bảo đảm, chứ không phải quyền s hữu tài sản bảo đảm c ng như không phải giá trị của tài sản bảo đảm B i ch có tài sản bảo đảm mới đáp ứng được các điều kiện c bản của đối tượng của hợp đồng là tài sản và có tính cụ thể, tính xác định, có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự
Thứ hai, tài sản bảo đảm được tiếp cận dưới góc độ là phư ng tiện lượng vật
chất để bảo đảm quyền lợi cho bên nhận bảo đảm Nếu quyền trên tài sản bảo đảm được đăng ký - s là c s để bên nhận bảo đảm tuyên bố công khai quyền của mình trên tài sản bảo đảm Khi cần bảo đảm cho quyền lợi của mình, bên nhận bảo đảm
có thể thực hiện quyền truy đ i đối với tài sản và n m giữ vị trí ưu tiên trước các chủ thể khác khi thanh toán số tiền thu được t việc xử lý tài sản bảo đảm
Trên c s phân tích toàn diện các khía cạnh pháp lý của tài sản bảo đảm, khái
niệm về tài sản bảo đảm được hiểu như sau: Tài sản bảo đảm là vật hoặc quyền được các chủ thể thỏa thuận lựa chọn để bảo đảm quyền của bên nhận bảo đảm khi
có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm
1.1.2 Đặc điểm pháp lý của tài sản bảo đảm
Qua nghiên cứu, phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và pháp luật của các nước trên thế giới, có thể rút các đặc điểm pháp lý c bản sau đây của tài sản bảo đảm:
Thứ nhất, tài sản bảo đảm phải đặt trong sự chi phối có tính lô gíc với chế định
về quyền s hữu và được soi sáng với những h c thuyết c bản về quyền s hữu Quyền s hữu là căn cứ để hình thành nên quyền bảo đảm tài sản, b i ch có chủ s hữu của tài sản mới có quyền d ng tài sản của mình bảo đảm bảo đảm cho việc thực hiện ngh a vụ của mình hoặc của ngư i khác Trong phạm vi ba quyền năng c bản của mình, chủ s hữu của tài sản thông qua hợp đồng bảo đảm để chuyển giao quyền định đoạt tài sản cho bên nhận bảo đảm trong th i hạn bảo đảm thực hiện ngh a vụ và ch
Trang 17c n giữ lại quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản Hay nói cách khác một trong những nguyên nhân để một tài sản có tr thành tài sản bảo đảm hay không là phụ thuộc vào ý chí định đoạt của chủ s hữu tài sản đó Ch có chủ s hữu hay ngư i được chủ s hữu
ủy quyền mới có thể bảo đảm tài sản, tr trư ng hợp pháp luật có quy định khác BLDS năm 2005 của Việt Nam Điều 320) ghi nhận một nguyên t c bất di bất dịch: tài sản bảo đảm phải thuộc quyền s hữu của bên bảo đảm Bên bảo đảm d ng tài sản của mình để bảo đảm cho việc thực hiện ngh a vụ của mình hoặc của ngư i khác Các nguyên lý trong quyền s hữu tài sản c ng là c s để xác định tài sản bảo đảm, cụ thể: nguyên lý hoa lợi luôn thuộc về chủ s hữu của tài sản gốc nên có thể xác định trong
th i hạn bảo đảm thì các hoa lợi phát sinh t tài sản bảo đảm s thuộc quyền s hữu của bên bảo đảm; ch khi nào đến hạn mà có sự vi phạm ngh a vụ thì hoa lợi thu được
t tài sản bảo đảm mới là đối tượng d ng để khấu tr cho giá trị của ngh a vụ bị vi phạm; nguyên lý phần tài sản tăng thêm của bất động sản c ng thuộc về tài sản bảo đảm để giải quyết trư ng hợp bên bảo đảm đ đầu tư xây dựng hay trông cây cối trên bất động sản đ bảo đảm Nói tóm lại, việc xác định tài sản bảo đảm đều xuất phát t những nguyên t c c bản của chế định tài sản và quyền s hữu
Thứ hai, tài sản bảo đảm là đối tượng của hợp đồng bảo đảm, do vậy phải tuân
thủ các điều kiện nói chung của đối tượng hợp đồng là tính xác định tính cụ thể và
có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự Tính xác định của tài sản bảo đảm thể hiện hai giác độ: tính xác định về pháp lý và tính xác định về vật lý Đối với tài sản là vật, các bên phải xác định được vật đó là động sản hay bất động sản, ngư i đang thực tế chiếm giữ là ai nếu ngư i chiếm giữ không đồng th i là chủ s hữu đối với tài sản thì h có mối quan hệ như thế nào với bên bảo đảm), xác định được giá trị của tài sản đó; c n nếu tài sản là quyền thì phải xác định chủ thể có ngh a vụ đối với quyền đó nếu đó là quyền yêu cầu hay giấy t đăng ký độc quyền đối với tài sản đó nếu đó là quyền s hữu trí tuệ Ngoài ra, tài sản bảo đảm phải đáp ứng tính xác định về chủ s hữu của tài sản, tình trạng pháp lý của tài sản như: không phải là tài sản đang có tranh chấp hay không phải là đối tượng bị kê biên hay có quyết định thu hồi của c quan nhà nước có thẩm quyền Đặc điểm có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự bị chi phối b i hai yếu tố: không bị pháp luật cấm như tài sản là hàng hóa cấm lưu thông và không phải là tài sản có g n với yếu tố nhân
Trang 18thân, có giá trị lịch sử, có giá trị tín ngư ng, tâm linh như b ng cử nhân đại h c có
g n với yếu tố nhân thân, quyền sử dụng đất ngh a trang của d ng h , nhà th , ch a chiền Yếu tố có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự có thể giải thích là tài sản bảo đảm có thể "bán" được, có thể chuyển dịch quyền s hữu cho ngư i khác để khấu tr cho giá trị của ngh a vụ mà biện pháp bảo đảm bảo đảm Đây c ng là chức năng quan tr ng của tài sản bảo đảm
Thứ ba, tài sản bảo đảm là tiền đề để các bên xác lập hợp đồng bảo đảm nhưng
giá trị tài sản bảo đảm mới là nội dung mà bên nhận bảo đảm hướng tới vì ch có giá trị của tài sản bảo đảm mới b đ p được giá trị của ngh a vụ bị vi phạm Tài sản bảo đảm đa dạng và trong tình trạng luôn có sự thay đổi chuyển hóa t dạng này sang dạng khác Có thể tài sản bảo đảm giai đoạn giao kết hợp đồng bảo đảm chưa hình thành nhưng sau đó đ hình thành và xác lập quyền s hữu cho bên bảo đảm; tài sản bảo đảm có thể là vật hữu hình tại th i điểm giao kết hợp đồng bảo đảm nhưng sau đó
bị tiêu hủy, mất mát, bán, trao đổi với ngư i khác thì số tiền bảo hiểm hay tiền thanh toán được coi như thuộc về tài sản bảo đảm hoặc tài sản đó có thể tăng hay giảm sút giá trị do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động Đặc điểm này giúp cho bên nhận bảo đảm cần có các biện pháp ph hợp để quản lý tài sản bảo đảm, đúng h n là quản
lý giá trị của tài sản bảo đảm trong suốt th i hạn bảo đảm hoặc phải đưa vào hợp đồng các điều khoản thỏa thuận về hậu quả pháp lý của việc thay đổi tài sản bảo đảm Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên nhận bảo đảm thì pháp luật c ng cần có các quy định về thủ tục đăng ký bảo đảm coi như là một cách thức để công bố tình trạng pháp lý đối với tài sản, để có tác dụng cảnh báo đối với chủ thể khác có ý định xác lập các giao dịch tiếp theo trên tài sản đ được d ng làm tài sản bảo đảm
Thứ tư, tài sản bảo đảm vẫn thuộc quyền s hữu của bên bảo đảm trong th i hạn
bảo đảm Chính b i vậy, trong th i hạn bảo đảm, bên bảo đảm vẫn có quyền bán, cho thuê, bảo đảm tiếp hay thực hiện các giao dịch khác đối với tài sản bảo đảm một khi các thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm đ được công bố công khai thông qua thủ tục đăng ký1 Việc không chuyển giao tài sản bảo đảm s tạo ra những rủi ro tiềm ẩn cho bên nhận bảo đảm, do vậy nguyên t c chung ch những tài sản nào mà bên nhân bảo đảm có thể kiểm soát được thì mới được d ng để bảo
1 Theo quy định tại Điều 376 và 377 BLDS Nhật Bản
Trang 19đảm Với đặc tính không di d i và là tài sản có đăng ký quyền s hữu theo quy định của pháp luật thì bất động sản là loại tài sản ph hợp d ng để bảo đảm Pháp luật của các nước theo hệ thống luật án lệ như Anh, M c ng đ phát triển theo hướng động sản c ng có thể tr thành tài sản bảo đảm thông qua việc phát triển và hoàn thiện hệ thống đăng ký bảo đảm động sản qua mạng internet BLDS năm 2005 của Việt Nam c ng quy định cả bất động sản và động sản đều có thể d ng để bảo đảm
Thứ năm, các quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm không bị
chấm dứt hoặc vô hiệu b i các giao dịch được thiết lập sau đó liên quan đến tài sản bảo đảm M i sự thay đổi đối với tài sản bảo đảm ban đầu không làm mất đi tính bảo đảm của nó đối với bên nhận bảo đảm b i bên nhận bảo đảm hướng tới giá trị của tài sản bảo đảm chứ không phải là các hình thức tồn tại của tài sản bảo đảm Điều 2393
BLDS Pháp quy định: "Khi bất động sản được chuyển dịch cho người khác, việc bảo đảm đã xác lập trên bất động sản đó vẫn tồn tại" Quy định này đ khẳng định quyền
được truy đ i bất động sản t sự chiếm giữ của bất kỳ ai ngoài ngư i bảo đảm tài sản khi không có sự đồng ý của bên nhận bảo đảm về sự chuyển dịch của tài sản bảo đảm Nếu tài sản bảo đảm đ bị tiêu hủy hoặc không thể tìm thấy thì quyền yêu cầu thanh toán tiền hay khoản tiền bán tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm thu được s tr thành tài sản bảo đảm thay thế Đây c ng là hướng giải pháp khi xử lý tài sản bảo
đảm được quy định tại khoản 3 Điều 349 BLDS năm 2005, cụ thể "khi bán tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh thì quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được hoặc tài sản hình thành từ số tiền thu được trở thành tài sản bảo đảm thay thế cho số tài sản đã bán"
Thứ sáu, tài sản bảo đảm luôn có xu hướng xuất hiện những loại tài sản bảo
đảm mới b i bản chất tài sản là một khái niệm "động" - luôn xuất hiện những tài sản mới theo sự phát triển của kinh tế, k thuật và khoa h c như tài sản ảo trên mạng internet, uy tín, các d ng năng lượng, các khả năng đặc biệt của con ngư i Do vậy, bên cạnh những tài sản bảo đảm truyền thống như nhà cửa, đất đai, ô tô, xe máy, kho hàng thì các loại tài sản bảo đảm mới đang được xuất hiện như các nguồn thu, thậm chí cả cầu thủ bóng đá nổi tiếng 2
2 Ngày 12/3//2012, trang web: www.haimat.com.vn đăng tải thông tin: "Chủ nợ của Real đem Kaka và
Ronaldo đi thế chấp Ngân hàng" Liên minh các ngân hàng Tây Ban Nha là Bankia đ cho câu lạc bộ Real
Trang 201.1.3 Phân loại tài sản bảo đảm
Khoa h c pháp lý có nhiều cách phân loại tài sản bảo đảm khác nhau, nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn ch tìm hiểu những cách phân loại điển hình sau đây b i chúng có ý ngh a quan tr ng trong việc xác định, lựa ch n tài sản bảo đảm c ng như xử lý tài sản bảo đảm:
a Tài sản bảo đảm là vật và quyền (hay còn gọi là tài sản bảo đảm hữu hình và tài sản bảo đảm vô hình)
Dựa trên hình thức tồn tại của tài sản bảo đảm, có thể phân loại chúng thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình Tài sản hữu hình c n được hiểu là vật là tài sản chiếm một phần của không gian và con ngư i có thể biết được thông qua các giác quan tiếp xúc như cầm, n m, s thấy chúng Tài sản vô hình c n được hiểu là quyền chính là các thông tin, tri thức hiểu biết, các quyền Quyền tài sản tài sản vô hình có thể được phân thành quyền tuyệt đối và quyền tư ng đối căn cứ vào phạm
vi có hiệu lực của quyền tài sản Quyền tài sản tuyệt đối là quyền mà có hiệu lực với tất cả m i ngư i c n lại trong x hội Có thể giải thích theo cách khác là, chủ thể
n m giữ quyền tài sản tuyệt đối ch có thể đạt được quyền của mình thông qua việc khai thác giá trị của quyền tài sản mà không phụ thuộc vào chủ thể mang ngh a vụ
b i chủ thể mang ngh a vụ tồn tại dưới dạng "ẩn" - không xác định cụ thể Đó là quyền s hữu trí tuệ, cụ thể bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, quyền s hữu công nghiệp nh n hiệu, sáng chế, giải pháp hữu ích, tên thư ng mại, ch dẫn địa lý, thiết kế bố trí 3 Quyền tài sản tư ng đối là quyền mà ch có hiệu lực ràng buộc đối với một chủ thể có ngh a vụ Hay nói cách khác, chủ thể có quyền tài sản
tư ng đối ch có thể thỏa m n quyền của mình thông qua hành vi thực hiện ngh a vụ của một chủ thể khác chủ thể mang ngh a vụ luôn được xác định cụ thể Đó có thể
là quyền đ i nợ, quyền yêu cầu thanh toán phát sinh t hợp đồng, các nguồn thu, phần vốn góp doanh nghiệp, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên
Việc phân loại này giúp cho các chủ thể xác định được các yếu tố cần thiết khi xác lập hợp đồng bảo đảm: Do tính chất vô hình của quyền tài sản không tồn tại dưới
vay 135,5 triệu Euro để mua hai cầu thủ này Vụ việc được tiết lộ khi Bankia vay tiền của Ngân hàng trung
ư ng Châu Âu ECB và trong phần danh mục tài sản bảo đảm, Bankia đ điền tên hai cầu thủ vào biên bản Như vậy đến hạn mà Bankia trong trả được nợ vay thì ECB có quyền "tịch thu" hai danh thủ bóng đá này
3 Xem thêm Luật S hữu trí tuệ năm 2005
Trang 21các dạng vật thể cụ thể nên khi lựa ch n loại tài sản này làm tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm cần phải xác định các chứng cứ để chứng minh quyền s hữu của bên bảo đảm Thông thư ng đó là các loại giấy t như hợp đồng vay tiền có hiệu lực chứng minh cho quyền đ i nợ, hợp đồng mua bán mà bên bán đ giao hàng trước chứng minh cho quyền yêu cầu thanh toán, giấy chứng nhận đăng ký quyền đối với nh n hiệu, ch dẫn địa lý, sáng chế Đặc biệt, cần phân biệt giấy t chứng nhận quyền s hữu tài sản với tài sản, ví dụ: vận đ n và hàng hóa vận chuyển, cổ phiếu và phần vốn góp trong công ty cổ phần Khi đó, vận đ n ch là giấy t chứng minh quyền được nhận hàng hóa vận chuyển, cổ phiếu chứng minh cho quyền đối với phần vốn góp trong công ty
cổ phần và tài sản bảo đảm chính là quyền yêu cầu nhận hàng và quyền đối với phần vốn góp chứ không phải là các loại giấy t như vận đ n hay cổ phiếu
Sự phân loại này c ng có ý ngh a trong việc xác định phư ng thức xử lý thích hợp đối với t ng loại tài sản bảo đảm Đối với tài sản bảo đảm hữu hình thì có thể bán đấu giá hoặc nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện ngh a vụ; c n đối với quyền tài sản đó là việc thực hiện quyền yêu cầu thanh toán đối với bên có ngh a vụ phải trả nợ
b Tài sản bảo đảm là động sản và bất động sản
Dựa trên đặc tính di d i của tài sản, tài sản bảo đảm có thể phân loại thành động sản và bất động sản Khoa h c pháp lý phân biệt động sản và bất động sản theo phư ng pháp loại tr b ng cách liệt kê ra những tài sản là bất động sản và c n lại là động sản
Tài sản bảo đảm là bất động sản: Đặc tính không di d i của tài sản là yếu tố để nhận biết vật nào là bất động sản, bao gồm: đất đai, nhà , công trình xây dựng g n liền với đất đai và các tài sản khác g n liền với nhà và công trình xây dựng đó4
Do vậy, tính cố định tạo cho bất động sản mang tính "địa điểm" và tính "địa phư ng" rất cao [93, tr 11] Hệ thống pháp luật về bảo đảm trên thế giới đều công nhận bất động sản là đối tượng của quan hệ bảo đảm5
Tài sản bảo đảm là động sản là những tài sản không thuộc bất động sản nêu trên bao gồm: các phư ng tiện giao thông vận tải c giới như tàu bay, tàu biển, ô
4 Xem Điều 181 BLDS năm 2005
5 Theo quy định của BLDS của Pháp, Đức, Nhật Bản
Trang 22tô, xe máy, hàng trong kho, dây chuyền thiết bị máy móc Động sản có đặc tính có thể di d i b ng c h c, có khả năng biến đổi và chuyển hóa về tính chất vật lý Việc phân loại này có ý ngh a giúp cho các chủ thể lựa ch n động sản hay bất động sản làm tài sản bảo đảm đây có hai yếu tố chi phối đến quyết định của các chủ thể, đó là tính an toàn và tính kinh tế trong các giao dịch có đối tượng bảo đảm
là động sản và bất động sản Nếu đề cao tính an toàn của giao dịch thì tài sản bảo đảm là bất động sản là ưu tiên số một, b i bất động sản là loại tài sản có giấy chứng nhận quyền sử dụng hoặc quyền s hữu do c quan nhà nước có thẩm quyền cấp và bên nhận bảo đảm tuy không n m giữ bất động sản những s dễ dàng kiểm soát chúng h n là động sản Nếu đề cao tính kinh tế h n thì động sản lại là lựa ch n số một khi xác lập tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm Không giống như pháp luật của các nước Civil Law nói trên ch coi bất động sản là đối tượng bảo đảm, một
số nước Common Law như M , Anh lại đề cao tính kinh tế của biện pháp bảo đảm này h n là tính an toàn cho bên nhận bảo đảm Với mục tiêu khai thác m i giá trị kinh tế của tài sản, m i tài sản đều có thể d ng làm vật bảo đảm khi mà phần lớn các doanh nghiệp v a và nhỏ chủ yếu ch s hữu động sản như thiết bị dây chuyền máy móc, hàng hóa, phư ng tiện giao thông Bên cạnh việc đưa tài sản đó d ng làm vật bảo đảm thì bên bảo đảm vẫn có quyền n m giữ tài sản đó để đưa vào khai thác thư ng mại Điều này c ng đồng th i đáp ứng được mục đích của bên nhận bảo đảm về triển v ng khả năng trả nợ của bên bảo đảm và mục tiêu cuối c ng của bên nhận bảo đảm là nhận được tiền trả nợ của bên bảo đảm chứ không phải n m giữ hay xử lý tài sản bảo đảm Theo pháp luật của Anh thì m i tài sản đều có thể là
tài sản bảo đảm: "Bảo đảm không yêu cầu chuyển giao việc chiếm hữu tài sản nên bất kỳ loại tài sản nào, hữu hình hoặc vô hình đều có thể trở thành tài sản bảo đảm" [105, tr 35] M , Canada đ ghi nhận tất cả m i động sản đều có thể d ng để
đảm bảo, trong đó có bảo đảm:
Quyền lợi bảo đảm được thực hiện trên tất cả các loại động sản, hữu hình hoặc vô hình, hiện tại hoặc tương lai, bao gồm hàng trong kho, thiết bị dây chuyền sản xuất và các loại tài sản hữu hình khác, các khoản thu trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng, những khoản tiền đòi bồi thường thiệt hại từ hợp đồng, các hợp
Trang 23đồng đã ký kết, quyền được nhận một số tiền từ việc thi hành án và quyền sở hữu trí tuệ [108, tr 3]
Tiếp theo, việc phân loại này c n giúp các chủ thể cân nh c k lư ng h n trong việc lựa ch n các loại động sản để làm tài sản bảo đảm Do đặc tính di d i dễ dàng của động sản nên bên nhận bảo đảm khó thực hiện quyền truy đ i của mình nếu không thực hiện việc đăng ký bảo đảm Do vậy, một l i khuyên hữu hiệu cho bên nhận bảo đảm động sản là h y đăng ký ngay khi ký kết hợp đồng bảo đảm để công bố quyền của mình trên tài sản đó Những động sản không thực hiện được việc
mô tả khi đăng ký bảo đảm như không có giấy t đăng ký s hữu, không g n với một vị trí, địa điểm cụ thể, ví dụ như một chiếc xe đạp, một chiếc máy tính, điện thoại di động thì không nên lựa ch n làm tài sản bảo đảm vì bên nhận bảo đảm không thể thực hiện được quyền truy đ i đối với chúng Hoặc những loại động sản không thể kê biên theo quy định của pháp luật về thi hành án mặc d có giá trị như những vật dụng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt trong cuộc sống thư ng ngày như giư ng, tủ, bếp ga Những động sản có khả năng rủi ro cao do sự tác động của các yếu tố khách quan như các phư ng tiện giao thông c giới, cây trồng, vật nuôi thì tài sản này cần phải được mua bảo hiểm khi lựa ch n chúng làm tài sản bảo đảm
c Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Dựa trên tính "gắn liền" của tài sản là đất đai với các tài sản khác, tài sản bảo
đảm được phân loại thành quyền sử dụng đất và tài sản g n liền với đất Trong pháp luật về đất đai thì đất đai và quyền sử dụng đất là hai khái niệm không đồng nhất
("đất đai" thư ng được nói đến khi g n với chủ s hữu là Nhà nước, "quyền sử dụng đất" thư ng được nói đến khi g n với ngư i sử dụng đất Ngư i sử dụng đất
ch được chuyển quyền sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, th a kế, tặng cho, bảo đảm, góp vốn; quyền được bồi thư ng khi Nhà nước thu giữ đất Nếu đất đai là bất động sản là vật thì quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản có tính đặc th : các quyền của ngư i sử dụng đất được thực hiện trên một thửa đất xác định Do vậy, mặc d là quyền tài sản nhưng quyền sử dụng đất lại được hư ng các quy chế dành cho bất động sản
Tài sản g n liền với đất là những tài sản được con ngư i "g n" trên đất nh m khai thác tốt nhất công dụng của những loại tài sản này Sự g n kết phải đảm bảo
Trang 24tính ổn định, bền vững lâu dài và kết quả là quyền sử dụng đất và tài sản được g n kết trên đó phải tạo thành một thể thống nhất, "liền khối" - khi đó, các tài sản g n liền với đất s c ng hư ng chung quy chế pháp lý như đối với quyền sử dụng đất Việc phân loại này có ý ngh a quan tr ng trong việc giúp bên nhận bảo đảm xác định chính xác đối tượng của hợp đồng bảo đảm khi chủ s hữu của tài sản g n liền với đất không đồng th i là ngư i sử dụng đất và ngược lại Nếu ch có tài sản
g n liền trên đất được bảo đảm thì không thể không có ý kiến đồng ý của ngư i sử dụng đất Tư ng tự, nếu ch bảo đảm quyền sử dụng đất thì c ng cần có ý kiến của ngư i có tài sản trên đất, b i l giữa hai chủ thể này đang tồn tại một hợp đồng có hiệu lực: có thể là hợp đồng thuê đất, mượn đất, góp vốn b ng quyền sử dụng đất
mà không hình thành pháp nhân mới Nhận bảo đảm một trong hai tài sản đó tất yếu s ảnh hư ng đến quyền và lợi ích của ngư i kia nên hợp đồng bảo đảm ch có hiệu lực nếu có sự đồng ý của chủ thể c n lại6 Điều này c n có ý ngh a khi xử lý tài sản bảo đảm và là căn cứ để có thể xử lý được tài sản bảo đảm Ngư i mua tài sản bảo đảm là tài sản g n liền với đất hoặc quyền sử dụng đất không bao gồm tài sản
g n liền với đất s thế vị trí của bên bảo đảm trong mối quan hệ cho thuê, cho mượn hay góp vốn b ng quyền sử dụng đất với ngư i sử dụng đất
Việc phân loại này c n giúp cho bên nhận bảo đảm tìm kiếm các thông tin
để thẩm định tính xác thực về quyền s hữu của tài sản bảo đảm c ng như xác định thẩm quyền của các c quan chức năng khi tiến hành đăng ký quyền trên tài sản bảo đảm Khi nhận bảo đảm những tài sản g n liền với đất như nhà , công trình xây dựng, r ng sản xuất là r ng trồng và vư n cây lâu năm là những
tài sản "gắn liền" với quyền sử dụng đất ổn định và bền vững thì đây là những
tài sản phải đăng ký quyền s hữu tại c quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất7 Do đó, bên nhận bảo đảm s đến c quan địa chính để thẩm định các thông tin về tài sản g n liền với đất và những biến động của quyền sử dụng đất
có liên quan đến tài sản g n liền với đất đó C n đối với tài sản g n liền với đất nhưng được xây dựng b ng những vật liệu có tính tạm th i như nhà đất, tranh,
6 Tuy nhiên pháp luật thực định của Việt Nam lại không tuân thủ nguyên t c này khi quy định về thế chấp tài sản g n liền với đất Nội dung cụ thể s được trình bày phần bất cập của pháp luật hiện hành thuộc chư ng 2 của Luận án
7 Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP quy định: Nhà và tài sản khác g n liền với đất được chứng nhận quyền s hữu "bao gồm nhà , công trình xây dựng, cây lâu năm và r ng sản xuất là r ng trồng"
Trang 25tre, nứa, lá hoặc là các công trình xây dựng có tính chất phụ trợ như nhà thép tiền chế, khung nhà xư ng, nhà kho; giếng nước; giếng khoan; dàn khoan; bể nước; sân; tư ng rào; cột điện; trạm điện; trạm b m, hệ thống phát, tải điện; hệ thống hoặc đư ng ống cấp thoát nước sinh hoạt thì không thuộc đối tượng đăng ký quyền s hữu theo quy định của pháp luật Khi nhận bảo đảm những tài sản g n liền với đất này bên nhận bảo đảm s tiến hành đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản chứ không phải là c quan địa chính8
d Tài sản bảo đảm là hàng trữ kho và các phương tiện giao thông vận tải
Hàng trữ kho và các phư ng tiện giao thông vận tải đều là những động sản có thể d ng để bảo đảm nhưng chúng vẫn thể hiện những nét đặc th của mình Hàng trữ kho được "cố định" tại các vị trí địa lý cụ thể n i có kho hàng, hàng hóa "ra vào" kho hàng phải theo thủ tục xuất và nhập kho Ngược lại, các phư ng tiện giao thông vận tải lại thư ng xuyên được di động t vị trí địa lý này đến vị trí địa lý khác phạm vi trong nước hoặc cả ngoài nước Các phư ng tiện giao thông vận tải được chia thành phư ng tiện vận tải đư ng không tàu bay , đư ng biển tàu biển và
đư ng bộ ô tô, xe máy , đư ng s t tàu điện, xe lửa Theo quy định của pháp luật, các phư ng tiện giao thông vận tải phải đăng ký quyền s hữu tại c quan nhà nước có thẩm quyền
Việc phân loại này có ý ngh a trong giao kết c ng như thực hiện hợp đồng bảo đảm Hiểu rõ đặc th của t ng loại tài sản, bên nhận bảo đảm s đưa ra các điều khoản về điều kiện của tài sản bảo đảm một cách chặt ch c ng như tìm ra các phư ng thức quản lý tài sản ph hợp Đối với tài sản bảo đảm là hàng trữ kho thì bên nhận bảo đảm cần kiểm tra hóa đ n mua hàng, sổ sách ghi chép về số lượng, chất lượng, giá trị và chủng loại của những hàng hóa được xuất nhập vào kho để kiểm tra d ng tiền của bên bảo đảm liên quan đến hàng hóa bảo đảm, c ng như để kiểm soát tài sản bảo đảm Đối với các phư ng tiện giao thông vận tải được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm nên yêu cầu bên bảo đảm phải mua bảo hiểm b i đây là những tài sản dễ gặp những tai nạn, rủi ro trong quá trình đưa vào khai thác sử
8 Xem khoản 11 Điều 3 Thông tư 05/2011/TT-BTP ngày 16 tháng 02 năm 2011 hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án theo phư ng thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp
Trang 26dụng Ngoài ra, bên nhận bảo đảm cần phải lưu ý: i giấy t đăng ký quyền s hữu của các phư ng tiện giao thông vẫn do bên bảo đảm giữ b i đây là một những giấy
t buộc phải có khi đưa chúng vào sử dụng9 Để ph ng ng a sự gian lận của bên bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải đi đăng ký bảo đảm để công bố quyền của mình trên tài sản bảo đảm; ii những tài sản này có thể là đối tượng bị cầm giữ theo như quy định tại Điều 416 BLDS năm 2005 thì s ảnh hư ng đến quyền ưu tiên thanh toán của bên nhận bảo đảm; iii những tài sản này rất khó thực hiện việc truy đ i vì chúng dễ có khả năng bị thay đổi do sự tháo d , l p ráp các bộ phận, chi tiết khác so với tình trạng bảo đảm lúc đầu; iv bên bảo đảm thư ng hay có hành vi gian lận để tẩu tán tài sản như làm giấy t giả để bán tài sản, khai báo mất giấy t s hữu để cấp lại giấy mới rồi đem bán, tặng cho, trao đổi Để hạn chế rủi ro cho các bên tham gia giao dịch, pháp luật cần có quy định về việc trao đổi, cung cấp thông tin về tài sản bảo đảm giữa c quan đăng ký tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm với tổ chức hành nghề công chứng, c quan thi hành án dân sự và c quan đăng ký quyền s hữu, quyền sử dụng, quyền lưu hành tài sản Do vậy, khi nhận bảo đảm các loại tài sản này bên nhận bảo đảm cần thận tr ng kiểm tra tình trạng pháp lý của tài sản tại các c quan nêu trên
e Tài sản bảo đảm là tài sản có đăng ký quyền sở hữu và không đăng ký quyền sở hữu
Dựa trên sự quản lý của nhà nước đối với các loại tài sản thì tài sản bảo đảm được phân thành tài sản có đăng ký quyền s hữu và không đăng ký quyền s hữu Tài sản bảo đảm có đăng ký quyền s hữu bao gồm nhà , công trình xây dựng, quyền sử dụng đất, một số phư ng tiện giao thông như tàu bay, tàu biển, ô tô, xe máy, một số quyền s hữu công nghiệp Tài sản bảo đảm không đăng ký quyền s hữu là những tài sản c n lại, theo phư ng pháp loại tr trong mối quan hệ với tài sản có đăng ký quyền s hữu
Việc phân loại này giúp các chủ thể có được cách thức ph hợp để xác định quyền s hữu đối với tài sản được d ng để bảo đảm Nếu đó là tài sản có đăng ký quyền s hữu thì phải kiểm tra tính xác thực của các giấy t đăng ký quyền s hữu tài
9 Theo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam và Luật Hàng hải Việt Nam thì bên thế chấp tàu bay và tàu biển vẫn giữ bản gốc giấy đăng ký quyền s hữu đối với tàu bay, tàu biển
Trang 27sản, lịch sử của t ng lần dịch chuyển quyền s hữu đối với tài sản những biến động về quyền đối với tài sản ; nếu đó là tài sản không đăng ký quyền s hữu thì phải kiểm tra các giấy t khác nh m chứng minh quyền s hữu đối với tài sản như hóa đ n mua hàng, hay kiểm tra nhân thân của ngư i bảo đảm tài sản đó Việc phân loại này c ng giúp cho việc xác định các thủ tục xử lý tài sản bảo đảm Đối với tài sản có đăng ký quyền s hữu thì cần kiểm tra về thủ tục để sang tên chủ s hữu cho ngư i mua tài sản bảo đảm xử lý và kiểm tra h có thuộc đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền s hữu hay quyền sử dụng đối với tài sản theo quy định của pháp luật không
f Tài sản bảo đảm hiện có và hình thành trong tương lai
Dựa vào th i điểm hình thành và th i điểm xác lập quyền s hữu đối với tài sản tại th i điểm giao kết hợp đồng bảo đảm, tài sản bảo đảm được phân thành tài sản hiện có và hình thành trong tư ng lai
Tài sản bảo đảm hiện có là tài sản đ tồn tại và xác lập quyền s hữu cho bên bảo đảm vào th i điểm xác lập tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm Tài sản bảo đảm hình thành trong tư ng lai là tài sản chưa có, chưa xác lập quyền s hữu cho bên bảo đảm tại xác lập tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm nhưng ch c ch n s có, s xác lập quyền s hữu cho bên bảo đảm trước hoặc vào th i điểm xử lý tài sản bảo đảm, ví
dụ như con tàu s đóng theo một hợp đồng đóng tàu đ có hiệu lực, công trình xây dựng s hình thành theo bản v thiết kế, tiến độ đ được phê duyệt
Việc phân loại này nh m giúp cho bên nhận bảo đảm cân nh c các yếu tố pháp
lý về tính "chắc chắn" của tài sản hình thành trong tư ng lai khi lựa ch n chúng làm
tài sản bảo đảm như kiểm tra về tiến độ, khả năng chuyển hóa thành hiện thực của tài sản Để hạn chế những rủi ro, bên nhận bảo đảm có thể yêu cầu bên bảo đảm mua bảo hiểm để bảo đảm r ng tài sản ch c ch n s được hoàn thành và hoàn thành đúng tiến độ Bên cạnh đó, pháp luật c ng có các quy định riêng cho loại tài sản đặc
th này như có thể cho phép tiến hành "đăng ký tạm thời" quyền s hữu tài sản để
tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm có thể công chứng và các bên tiến hành đăng ký bảo đảm được Đồng th i, c ng phải có quy định về ngh a vụ thay đổi đăng
ký tài sản bảo đảm khi chúng đ hình thành và xác lập quyền s hữu cho bên bảo đảm Về c chế xử lý loại tài sản này c ng không thể áp dụng phư ng thức chung như đối với tài sản hiện có như bán hay chuyển thành tiền được B i l , vào th i
Trang 28điểm xử lý thì thực chất tài sản đang hình thành trong tư ng lai "là quyền tài sản"
Như vậy, ngư i "mua" tài sản hình bảo đảm thành trong tư ng lai s là ngư i kế
th a tất cả những quyền và ngh a vụ của bên bảo đảm trong mối quan hệ với các chủ thể khác liên quan đến quá trình hình thành tài sản đó
1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM 1.2.1 Khái niệm xử lý tài sản bảo đảm
Tài sản bảo đảm được được xử lý khi ngh a vụ trả được bảo đảm có sự vi phạm hoặc trong các trư ng hợp khác do pháp luật quy định Kết quả của việc xử lý tài sản bảo đảm không những ảnh hư ng đến lợi ích của các bên trong quan hệ bảo đảm mà c n có thể ảnh hư ng đến lợi ích của những chủ thể khác có liên quan đến tài sản bảo đảm Do vậy, việc xử lý tài sản bảo đảm cần phải được tiến hành theo những quy định cụ thể và chặt ch của pháp luật Việc nghiên cứu tìm hiểu về xử lý tài sản bảo đảm được chúng tôi tiếp cận dưới các giác độ kinh tế và giác độ h c thuyết pháp lý về bảo đảm:
Dưới giác độ kinh tế, xử lý tài sản bảo đảm được hiểu là việc bán tài sản bảo đảm nh m thu giữ lại những lợi ích trong phạm vi giá trị tài sản bảo đảm) thuộc về bên nhận bảo đảm một cách nhanh chóng và chủ động Xử lý tài sản bảo đảm là sự hiện thực hóa quyền của bên nhận bảo đảm khi quyền lợi đó đ không được bảo đảm theo một quan hệ trái quyền đ được thiết lập như thông thư ng Tài sản bảo đảm thư ng được tồn tại dưới dạng quyền hay vật, thông qua xử lý, chúng phải được quy đổi ra tiền để tìm giá trị tư ng đư ng nh m b
đ p cho những lợi ích của bên nhận bảo đảm Tính thanh khoản của tài sản bảo đảm là một trong những yếu tố có tính chất quyết định đến hiệu quả của quá trình xử lý Giá trị của tài sản bảo đảm c ng ảnh hư ng đến việc có đảm bảo được toàn bộ quyền lợi của bên nhận bảo đảm hay không Như vậy, xử lý tài sản bảo đảm là một khâu vô c ng quan tr ng để bảo đảm an toàn cho quyền lợi của các chủ thể, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động tín dụng nói riêng và của nền kinh tế nói chung Theo chúng tôi xử lý tài sản bảo đảm cần phải được coi
là một quá trình để thực thi quyền của bên nhận bảo đảm thông qua các biện pháp tác động đến tài sản bảo đảm và cần phải dung h a cả hai cách tiếp cận nêu trên Lập luận này được xây dựng trên những căn nguyên sau:
Trang 29Một là, mục đích của xử lý tài sản bảo đảm là bảo đảm quyền cho bên nhận
bảo đảm Quyền này cần được bảo vệ một cách trực tiếp và ngay tức kh c khi ngh a
vụ trả nợ không được thi hành Như vậy, bên nhận bảo đảm cần phải chứng minh các điều kiện cần và đủ để thực thi quyền lợi của mình trên tài sản bảo đảm, đó là:
có sự vi phạm ngh a vụ được bảo đảm, hợp đồng bảo đảm là hợp pháp Nếu không
có hợp đồng bảo đảm hoặc chúng không hợp pháp thì bên nhận bảo đảm không có quyền xử lý tài sản bảo đảm Do vậy, hợp đồng bảo đảm mang đặc tính của quan
hệ trái quyền có ý ngh a là một trong những căn cứ quan tr ng để đặt nền tảng cho việc việc nhận bảo đảm thực thi quyền xử lý tài sản bảo đảm
Hai là, việc xử lý tài sản bảo đảm là tiến hành các thủ tục để định đoạt tài sản
bảo đảm Cần phải có sự chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản bảo đảm t bên bảo đảm hay ngư i thứ ba giữ tài sản bảo đảm sang cho bên nhận bảo đảm khi xử lý tài sản bảo đảm Các biện pháp xử lý mà bên nhận bảo đảm s tiến hành s được thực hiện theo sự thỏa thuận ghi trong hợp đồng bảo đảm, nếu không có thỏa thuận thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu T a án cư ng chế bán tài sản Như vậy, xử lý tài sản bảo đảm chính là việc tiến hành các biện pháp định đoạt tài sản bảo đảm để thu giữ số tiền tư ng đư ng với ngh a vụ được bảo đảm
Ba là, xử lý tài sản bảo đảm là bảo đảm lợi ích của các chủ thể có quyền trên tài sản đó trên nguyên t c "ai công bố quyền trước sẽ được ưu tiên thanh toán trước"10 Tính chất vật quyền của bảo đảm là căn cứ hợp pháp cho việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong trư ng hợp trên Số tiền thu được t thực thi các biện pháp định đoạt tài sản bảo đảm phải giải quyết được tổng thể các lợi ích
có liên quan trên tài sản bảo đảm theo một nguyên t c ưu tiên được xác định rõ ràng và cụ thể
Trên c s những lý giải trên khái niệm xử lý tài sản bảo đảm được hiểu là: Xử
lý tài sản bảo đảm là quá trình thực thi quyền của bên nhận bảo đảm thông qua việc tiến hành các thủ tục định đoạt quyền sở hữu tài sản bảo đảm và số tiền thu được sẽ thanh toán cho bên nhận bảo đảm và các chủ thể khác cùng có quyền lợi trên tài sản
đó theo thứ tự ưu tiên do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định
10 Bên cạnh thủ tục đăng ký thế chấp tại c quan Nhà nước có thẩm quyền, việc chiếm giữ tài sản cầm cố
c ng được coi là những cách thức công bố quyền trên tài sản bảo đảm
Trang 301.2.2 Đặc điểm pháp lý của xử lý tài sản bảo đảm
Tìm hiểu đặc điểm của xử lý tài sản bảo đảm là tìm ra được những điểm riêng đặc trưng của quá trình xử lý tài sản bảo đảm so với việc xử lý các loại tài sản khác Việc n m b t những nét đặc th này giúp cho việc vận dụng những quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm được linh hoạt và hiệu quả Trên c s các quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý tài sản bảo đảm đặt trong mối quan hệ so sánh với quy định của pháp luật một số nước, chúng tôi rút ra một số đặc điểm sau đây của xử lý tài sản bảo đảm:
Thứ nhất, đối tượng tác động trực tiếp của quá trình xử lý chính là tài sản bảo đảm Một trong những nội dung cần kê khai khi thực hiện đăng ký bảo đảm tại c
quan đăng ký đó là tài sản bảo đảm và tài sản này có thể biến động thư ng xuyên suốt th i hạn bảo đảm Trong trư ng hợp có sự thay đổi tài sản bảo đảm ban đầu thì bên nhận bảo đảm phải đăng ký lại tài sản bảo đảm Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm c ng phải đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm và trong văn bản thông báo phải mô tả rõ tài sản được xử lý Chuyển tài sản bảo đảm thành tiền hoặc xác lập quyền s hữu đối với tài sản đó là những cách để bên nhận bảo đảm thu giữ lại khoản nợ khi bên vay lâm vào tình trạng phá sản hoặc v nợ
Thứ hai, hậu quả pháp lý của xử lý tài sản bảo đảm làm chấm dứt quyền sở hữu của bên bảo đảm đối với tài sản đó Việc xử lý tài sản bảo đảm ch được thực
hiện khi có sự vi phạm ngh a vụ được bảo đảm và giá trị của tài sản bảo đảm được
d ng để b đ p thay thế cho giá trị của ngh a vụ bị vi phạm đó Để xác định được giá trị của tài sản bảo đảm thì cách thông thư ng và phổ biến là bán tài sản đó để lấy tiền hoặc d ng nó để thay thế cho ngh a vụ được bảo đảm: đều là các hình thức
xử lý có tính chất định đoạt quyền s hữu đối với tài sản bảo đảm
Thứ ba, phương thức xử lý tài sản bảo đảm đa dạng, phong phú và phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Phư ng
thức xử lý tài sản bảo đảm chính là cách thức để bên nhận bảo đảm có thể b đ p được lợi ích của mình đ bị xâm phạm Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có thể thỏa thuận về phư ng thức xử lý tài sản bảo đảm như: bán tài sản; bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện ngh a vụ của bên bảo đảm; bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác t ngư i thứ ba
Trang 31trong trư ng hợp bảo đảm quyền đ i nợ Nếu sự thỏa thuận của các bên là hợp pháp thì sự thỏa thuận đó có hiệu lực b t buộc thi hành đối với các bên Sự thỏa thuận về cách thức xử lý tài sản có thể được thiết lập ngay t khi giao kết hợp đồng và tr thành một điều khoản trong hợp đồng bảo đảm Nếu không có thỏa thuận t trước thì tại th i điểm phải xử lý tài sản bảo đảm, các bên c ng có thể thỏa thuận về cách thức xử lý tài sản Ch khi nào các bên không có thỏa thuận hoặc không thể thỏa thuận được hoặc vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích đặc biệt của các chủ thể khác thì tài sản bảo đảm mới có thể được xử lý theo quy định của pháp luật
Thứ tư, số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm có thể được đảm bảo cho lợi ích của nhiều chủ thể theo thứ tự ưu tiên được xác lập theo luật định hoặc theo sự thỏa thuận của các bên Mục đích cuối c ng của xử lý tài sản bảo đảm là giải quyết
tổng thể các lợi ích của các chủ thể có liên quan đến tài sản bảo đảm Có những trư ng hợp không ch có bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm có quyền trên tài sản bảo đảm mà c n các chủ thể khác c ng có quyền hợp pháp trên tài sản đó như: Các chủ nợ không có bảo đảm; Các chủ nợ c ng nhận bảo đảm b ng tài sản bảo đảm; Chủ thể nhận bảo đảm tài sản là tài sản hình thành t chính vốn vay; Ngư i mua, ngư i thuê, ngư i nhận chuyển giao tài sản bảo đảm; Ngư i bán trả chậm, trả dần, cho thuê tài sản mà bên bảo đảm đem đi bảo đảm; Ngư i có quyền cầm giữ tài sản bảo đảm Ngư i sửa chữa, nâng cấp tài sản bảo đảm, ngư i bảo quản tài sản bảo đảm, ngư i làm dịch vụ liên quan đến tài sản bảo đảm) Do vậy, số tiền thu được t xử lý tài sản bảo đảm được thanh toán cho các chủ thể có liên quan phải dựa trên thứ tự ưu tiên theo nguyên t c ai công bố quyền trước s được thanh toán trước, tr những trư ng hợp đặc biệt có quy định của pháp luật Tuy nhiên, các chủ thể trên có thể thỏa thuận để thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau nhưng không được làm ảnh hư ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngư i khác
Thứ năm, quá trình xử lý tài sản bảo đảm cần phải tuân thủ các quy định khác
về thủ tục hành chính Xử lý tài sản bảo đảm là quá trình dịch chuyển quyền s hữu
tài sản đó sang cho các chủ thể khác để thu lại tiền, do vậy cần phải có các thủ tục
để buộc bên bảo đảm phải chuyển giao tài sản nếu không tự nguyện hay các thủ tục
để sang tên tài sản trong trư ng hợp đó là tài sản có đăng ký quyền s hữu như
Trang 32quyền sử dụng đất, nhà , các tài sản khác thuộc s hữu nhà nước Xử lý tài sản bảo đảm là một giai đoạn của bảo đảm thực hiện ngh a vụ dân sự mang bản chất của quan hệ dân sự nên ch có thể được thực hiện theo các trình tự của thủ tục tố tụng dân sự Do vậy, các thủ tục hành chính cần phải được thiết lập như những công cụ
hỗ trợ cho quá trình xử lý được tiến hành nhanh chóng và hiệu quả chứ không thể thay thế cho thủ tục dân sự và càng không thể tr thành những rào cản cho các chủ thể khi xử lý tài sản bảo đảm
Thứ sáu, kết quả xử lý tài sản bảo đảm bị chi phối bởi các yếu tố cơ bản sau: (i) Tài sản bảo đảm phải hợp pháp và có tính thanh khoản: Tính hợp pháp của tài
sản bảo đảm thể hiện việc tài sản bảo đảm phải thuộc s hữu của bên bảo đảm Xử
lý là dịch chuyển quyền s hữu của tài sản bảo đảm cho chủ thể khác để thu giữ tiền Tính thanh khoản của tài sản bảo đảm được thể hiện hai khía cạnh: tài sản bảo đảm phải dễ dàng được bán trên thị trư ng, tức là đáp ứng được nhu cầu đông đảo của ngư i mua Những tài sản là hàng hóa kinh doanh thiết yếu hay những bất động sản có tiềm năng khai thác giá trị thư ng mại luôn luôn là những tài sản bảo đảm được các Ngân hàng ưu ái; tài sản bảo đảm phải được định giá chính xác theo giá trị của tài sản Trư ng hợp tài sản định giá cao quá thì s khó bán hoặc định giá thấp quá thì gây thiệt hại cho bên bảo đảm và có khi số tiền bán được c ng không
đủ để thanh toán cho khoản nợ; ii Bên bảo đảm có thiện chí trong việc chuyển giao tài sản cho bên có quyền xử lý tài sản bảo đảm Để có thể xử lý được tài sản
bảo đảm một cách thuận lợi thì bên có quyền xử lý tài sản phải thực tế chiếm hữu và quản lý nó Khác với cầm cố tài sản cầm cố được chuyển cho bên nhận cầm cố ngay khi giao kết hợp đồng cầm cố , tài sản bảo đảm cần được chuyển giao cho bên nhận bảo đảm khi có sự vi phạm ngh a vụ được bảo đảm Chuyển giao để xử lý
c ng đồng ngh a với việc bên bảo đảm bị mất tài sản đó Tâm lý "của đau con xót" khiến cho bên bảo đảm thư ng có thái độ bất hợp tác, chây ì và tìm cách trì ho n
việc chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo đảm, (iii) Bên nhận bảo đảm đã công bố công khai lợi ích trên tài sản bảo đảm: Đăng ký tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo
đảm là thủ tục pháp lý cần thiết để tạo nên vật quyền của bên nhận bảo đảm Tính chất vật quyền cho phép bên nhận bảo đảm được quyền truy đ i tài sản đó t bên bảo đảm hoặc bất cứ bên thứ ba nào để xử lý và quyền được ưu tiên thanh toán trước các
Trang 33bên có quyền lợi liên quan đến tài sản bảo đảm (iv) Căn cứ xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên nhận bảo đảm, giữa bên nhận bảo đảm với các chủ thể có liên quan đến tài sản bảo đảm được quy định rõ ràng: Các quy t c về quyền ưu tiên phải rõ
ràng, chuẩn xác để chủ nợ c ng như bất cứ ngư i nào khác có giao dịch với bên vay đều có thể xác định được, với mức độ ch c ch n cao nhất, những rủi ro pháp lý đi liền với việc cấp tín dụng có bảo đảm H n thế, các quy t c ưu tiên này phải có khả năng giải quyết mâu thuẫn không ch giữa các bên bảo đảm với nhau mà c n giữa lợi ích của
bên bảo đảm với lợi ích của các chủ thể khác có liên quan đến tài sản bảo đảm; (v) Việc
dễ dàng xác lập quyền sở hữu của bên mua trên tài sản bảo đảm Việc dễ dàng sang
tên quyền s hữu t bên bảo đảm sang ngư i mua ngay cả khi không có sự hiện diện của bên bảo đảm s giúp cho quá trình xử lý tài sản được tiến hành một cách nhanh chóng b i có sang tên được ngay thì bên mua mới thanh toán tiền ngay và khi đó mục đích của xử lý tài sản bảo đảm mới đạt được
1.3 VAI TRÒ CỦA TÀI SẢN BẢO ĐẢM VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Việc xác lập các tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm luôn hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ tín dụng, đặc biệt là quyền lợi của bên có quyền trong giao dịch này Với ý ngh a đó, việc xác lập các tài sản bảo đảm
và xử lý tài sản bảo đảm đ góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế, tránh các tranh chấp phát sinh t việc không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng không đúng ngh a vụ dân sự, kinh tế của bên có ngh a vụ gây ra Đồng
th i, trong trư ng hợp nêu trên, các tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm còn tạo điều kiện kh c phục những thiệt hại cho bên có quyền một cách nhanh chóng và hiệu quả Trong l nh vực tín dụng, ngân hàng, chúng giữ một vai tr quan tr ng đối với việc m rộng tín dụng cho nền kinh tế Vai tr đó được thể hiện thông qua việc
m rộng khả năng, c hội tiếp cận tín dụng nói chung, tín dụng ngân hàng nói riêng của các doanh nghiệp, tổ chức khác và cá nhân, đồng th i tác động trực tiếp, mạnh
m tới quyết định cấp tín dụng của tổ chức tín dụng
Để xác định được đúng đ n vai tr của tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm trong việc m rộng tín dụng cho nền kinh tế cần phải xem xét: i cấu trúc tín dụng trong nền kinh tế; ii vai tr của các doanh nghiệp và việc tiếp cận tín dụng
Trang 34của doanh nghiệp; iii Các nguyên t c, yêu cầu, đ i hỏi của pháp luật trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng
Trong một nền kinh tế phát triển bình thư ng, cấu trúc các nguồn cấp tín dụng
s rất đa dạng, các nguồn tín dụng này đóng vai tr quan tr ng trong phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu d ng Nguồn cung cấp tín dụng có thể xuất phát
t nhà đầu tư trực tiếp tới doanh nghiệp thông qua thị trư ng trái phiếu hoặc thông qua c quan tài chính trung gian tổ chức tín dụng hoặc thông qua hoạt động tín dụng thư ng mại bán hàng trả chậm, trả dần Bất kỳ một khâu nào trong cấu trúc tín dụng của nền kinh tế như được mô tả trên đây không phát huy được vai tr , tác dụng thì nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế lại tập trung vào các khâu khác Nếu doanh nghiệp không huy động được vốn trực tiếp t thị trư ng thông qua phát hành trái phiếu thì s phải vay vốn t tổ chức trung gian tài chính hoặc t nguồn tín dụng thư ng mại mua hàng trả chậm của doanh nghiệp khác
Bảng 1.1 Cấu trúc tín dụng trong nền kinh tế
Việt Nam, hệ thống các doanh nghiệp v a và nhỏ quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm t tr ng tư ng đối lớn trong tổng số các doanh nghiệp Theo thống kê tại th i điểm 31/12/2005, số lượng các doanh nghiệp loại này là 88.978 doanh nghiệp, chiếm khoảng 78,8 % số lượng các doanh nghiệp trong cả nước Trong số các doanh nghiệp
v a và nhỏ, thành phần chủ yếu là các doanh nghiệp dân doanh chiếm xấp x 99% Các doanh nghiệp này có qui mô vốn ít, hoạt động chủ yếu trong l nh vực thư ng mại,
Ngư i tiết kiệm cá
Ngư i Bán lẻ Ngư i tiêu
dùng
Trang 35gia công, chế biến có doanh số hoạt động kinh doanh rất lớn, nhưng lại chưa có đủ uy tín tín dụng để có thể huy động vốn trực tiếp t thị trư ng hoặc được các doanh nghiệp lớn cấp tín dụng thư ng mại bán hàng trả chậm, trả dần H n nữa, các doanh nghiệp sản xuất, cung cấp nguyên liệu của Việt Nam c ng chưa hẳn đ đủ lớn để có thể dễ dàng cấp tín dụng thư ng mại cho các doanh nghiệp v a và nhỏ Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết cho các doanh nghiệp v a và nhỏ của Việt Nam phải tiếp cận vốn tín dụng t các trung gian tài chính – tổ chức tín dụng
Các doanh nghiệp v a và nhỏ trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đều gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn tín dụng t các tổ chức tài chính Nguyên nhân chính dẫn đến việc các doanh nghiệp v a và nhỏ khó tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng đó là các doanh nghiệp này có qui mô hoạt động hạn chế, mặc d trong
t ng phư ng án, dự án các doanh nghiệp này kinh doanh khá hiệu quả, song sự thiếu ch c ch n, thiếu rõ ràng trong việc bảo đảm các nguồn thu nhập làm cho các
tổ chức tín dụng kém tin tư ng vào sự ổn định của các doanh nghiệp này khi cấp tín dụng Mặt khác, các doanh nghiệp v a và nhỏ thư ng mới thành lập, th i gian hoạt động chưa dài, chưa đủ bảo đảm thiết lập uy tín tín dụng đối với các tổ chức tín dụng H n nữa, mô hình tổ chức đ n giản, sự tuân thủ không đầy đủ các quy định
về kế toán, thống kê, thiếu chuyên nghiệp trong quản lý của các doanh nghiệp này
c ng làm cho các tổ chức tín dụng ngần ngại khi cấp tín dụng
Với những hạn chế, vướng m c nêu trên, việc tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp v a và nhỏ luôn gặp khó khăn Do đó, để nâng cao sự an toàn cho việc thu hồi vốn, các tổ chức tín dụng thư ng yêu cầu có biện pháp bảo đảm b ng tài sản khi cấp tín dụng cho các doanh nghiệp v a và nhỏ Dưới góc độ này, các tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm đ tr thành công cụ hữu hiệu để các doanh nghiệp
Trang 36trong hoạt động ngân hàng c ng cần phải được các ngân hàng Việt Nam tuân theo Khi thực hiện cho vay, cấp tín dụng, các ngân hàng Việt Nam s phải tuân theo các tỷ lệ an toàn, theo đó, tổ chức tín dụng phải duy trì t lệ tối thiểu là 8% giữa Vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro Trong trư ng hợp khoản vay có bảo đảm b ng bất động sản của bên vay, khoản vay đó s được xác định có rủi ro là 50%, trong khi đó, nếu c ng khoản cho vay doanh nghiệp đó mà không có bảo đảm b ng bất động sản thì mức rủi
ro s là 100% Do đó, khi tổ chức tín dụng cho vay không có bảo đảm b ng tài sản, rủi
ro s tăng lên và do vậy khả năng cấp tín dụng của tổ chức tín dụng s giảm đi Với thực tế này, các tổ chức tín dụng mong muốn có tài sản bảo đảm h n là cho vay không
có bảo đảm b ng tài sản
Bảng 1.2 So sánh lợi thế của việc cho vay có bảo đảm và không có bảo đảm
trong hoạt động của tổ chức tín dụng
Trường hợp
Số vốn vay
(tỷ đồng)
Chuyển đổi sang tài sản
Trường hợp 1:
Trường hợp 2: 1.750 1.250 100 1.250 8%
- 1000 tỷ cho vay có bảo đảm nếu qui
đổi sang tài sản có rủi ro thì khoản vay
này có mức độ rủi ro là 500 tỷ
Bảng phân tích giản lược cho thấy trường hợp thứ hai cho vay được nhiều hơn (1.750 tỷ) mà
vẫn bảo đảm được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu như quy định của pháp luật (8%)
Mặt khác, việc cho vay có bảo đảm b ng tài sản s bảo đảm quyền ưu tiên của
tổ chức tín dụng trong việc thu hồi nợ trong trư ng hợp doanh nghiệp vay vốn gặp khó khăn trong thanh toán, đặc biệt trong trư ng hợp doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản H n nữa, việc cho vay có bảo đảm b ng tài sản của doanh nghiệp s bảo đảm cho tổ chức tín dụng quản lý, theo dõi được hoạt động của doanh nghiệp một cách chặt ch h n, t đó bảo đảm an toàn cho tổ chức tín dụng trong việc thu hồi vốn vay
T các khía cạnh kinh tế, pháp lý trên đây, có thể thấy r ng, tài sản bảo đảm
và xử lý tài sản bảo đảm đóng vai tr rất quan tr ng trong việc m rộng tín dụng
Trang 37cho các doanh nghiệp v a và nhỏ nói riêng, các doanh nghiệp nói chung Thông qua
đó, góp phần to lớn trong việc m rộng tín dụng cho nền kinh tế, đặc biệt trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, khi các kênh thu hút vốn tín dụng cho doanh nghiệp, phát triển kinh tế c n hạn hẹp Trong khi thị trư ng tài chính chưa thực sự phát triển, các doanh nghiệp luôn gặp khó khăn khi trực tiếp huy động vốn trên thị trư ng, thì việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng là một tất yếu khách quan
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Bảo đảm là một biện pháp có tính chất vật quyền nh m bảo đảm cho quan hệ trái quyền Biện pháp bảo đảm được tạo lập t hợp đồng bảo đảm và bên nhận bảo đảm s hoàn thiện quyền trên tài sản bảo đảm thông qua việc đăng ký Hiện nay, dưới góc độ h c thuật c ng như dưới góc độ pháp luật thực định đều không có khái niệm chính thống về tài sản b i tài sản luôn xuất hiện các dạng mới đa dạng và phức tạp h n BLDS năm 2005 quy định về tài sản dưới dạng liệt kê các dạng tồn tại của chúng như vật, tiền, giấy t có giá và quyền tài sản Quy định này đ bộc lộ nhiều bất cập dưới góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng khi không ch ra được bản chất và những đặc trưng pháp lý của tài sản Hệ thống pháp luật của nhiều nước trên
thế giới đều th a nhận: Tài sản là vật hoặc quyền mà con người có thể kiểm soát được, trị giá được thành tiền
Xác định các điều kiện của tài sản bảo đảm thuộc quyền s hữu của bên bảo đảm, có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự , xác định phạm vi tài sản có thể bảo đảm tài sản bảo đảm cần được xác định dưới dạng vật hoặc quyền, những tài sản không được dung làm tài sản bảo đảm , tìm hiểu về c chế để công bố quyền trên tài sản bảo đảm nh m khẳng định về tư cách chủ thể có quyền xử lý tài sản bảo đảm và các phư ng thức c bản để xử lý tài sản bảo đảm, nguyên t c xác định thứ
tự ưu tiên thanh toán là những nội dung mang tính cốt yếu về mặt lý thuyết để tạo căn cứ cho việc phân tích đánh giá pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng liên quan đến nội dung của luận án chư ng 2
Trang 38Chương 2
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM
VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM
VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM1
2.1.1 Quy định của pháp luật hiện hành về tài sản bảo đảm
2.1.1.1 Điều kiện của tài sản bảo đảm
Khi lựa ch n tài sản bảo đảm, các chủ thể cần kiểm tra các điều kiện c bản sau của tài sản bảo đảm: i Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền s hữu của bên bảo đảm; ii Tài sản bảo đảm có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự
Tài sản bảo đảm phải "bán" được - đó là điểm then chốt để tài sản bảo đảm có thể hoàn thành được "sứ mệnh" của mình: thanh toán giá trị ngh a vụ bị vi phạm cho bên nhận bảo đảm Theo nguyên lý ch có chủ s hữu tài sản mới có quyền năng định đoạt số phận pháp lý của tài sản, tr trư ng hợp đặc biệt có quyết định của nhà lập pháp hoặc chủ s hữu ủy quyền hay chuyển giao quyền đó cho ngư i khác đều phải dựa trên căn cứ luật định Trong quan hệ bảo đảm, bên bảo đảm nhất thiết phải là chủ
s hữu của tài sản bảo đảm - đây là một nguyên t c bất di bất dịch khi xác định tài sản bảo đảm11 Tài sản bảo đảm không những ch c ch n thuộc quyền s hữu của bên bảo đảm mà c n phải ch c ch n r ng tài sản đó không có tranh chấp để giảm thiểu tối đa những rủi ro tiềm ẩn đối với tài sản bảo đảm Những hạn chế quyền đối tài sản bảo đảm cần phải được bên bảo đảm thông báo cho bên nhận bảo đảm tại th i điểm giao kết hợp đồng bảo đảm Việc kiểm tra về quyền lợi của các chủ thể khác đ thiết lập trên tài sản bảo đảm s tr nên đ n giản nếu đ có sẵn các thông tin này trên hệ thống đăng
ký giao dịch, như đăng ký giao dịch thuê mua tài chính, mua trả chậm, trả dần, giao dịch thuê tài sản dài hạn, quyền hạn chế bất động sản liền kề Đây là yếu tố quan
11 Trư ng hợp chủ s hữu có ủy quyền cho ngư i khác thế chấp tài sản của mình thì c ng không làm thay đổi bản chất của nguyên t c này, b i ngư i được ủy quyền ch là ngư i nhân danh chủ s hữu tài sản để d ng tài sản của chủ s hữu tài sản đem đi thế chấp Theo đó, chủ s hữu của tài sản vẫn là bên thế chấp, chủ s hữu của tài sản vẫn có đầy đủ các quyền và ngh a vụ của bên thế chấp; c n ngư i được đại diện theo ủy quyền ch là ngư i nhân danh chủ s hữu tài sản bảo đảm, ký tên vào hợp đồng thế chấp
Trang 39tr ng để bên nhận bảo đảm cân nh c về tính an toàn của tài sản bảo đảm và có quyết định chấp nhận tài sản đó là đối tượng bảo đảm hay không
Điều kiện thứ hai liên quan đến khả năng có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự của tài sản bảo đảm Có hai yếu tố c bản để khẳng định một tài sản có thể chuyển giao trong các giao lưu dân sự, đó là: i tài sản đó không g n với yếu tố nhân thân Quyền yêu cầu cấp dư ng, các loại b ng cấp, chứng ch là những tài sản có đặc tính nhân thân ch thuộc về những chủ thể nhất định; ii tài sản đó không thuộc diện bị pháp luật cấm không thuộc danh mục tài sản bị cấm lưu thông hoặc có quyết định thu giữ của c quan nhà nước có thẩm quyền
Bên cạnh hai điều kiện c bản trên, bên nhận bảo đảm c ng cần đánh giá các
yếu tố khác có ảnh hư ng đến tài sản bảo đảm như giá trị của tài sản bảo đảm để bảo đảm tính an toàn của đồng vốn cho vay, tính có thể kiểm soát của tài sản bảo đảm để c n thực hiện quyền truy đ i, tính thanh khoản của tài sản bảo đảm để bảo
đảm r ng tài sản bảo đảm có thị trư ng tiêu thụ để dễ dàng khi phải xử lý chúng Tóm lại, tài sản bảo đảm phải đáp ứng được tính ch c ch n về các khía cạnh sau:
i Ch c ch n bên bảo đảm có quyền bảo đảm đối với tài sản: đó phải là ngư i có tên trên bất động sản đ được kiểm tra thông qua hồ s đăng ký tại c quan địa chính; ii
Ch c ch n r ng tài sản bảo đảm không có bất kỳ sự tranh chấp nào để giảm thiểu tối đa những rủi ro tiềm ẩn đối với tài sản bảo đảm; iii Ch c ch n về những hạn chế quyền đối với tài sản bảo đảm hay chính là ch c ch n về quyền của những chủ thể khác trên tài sản bảo đảm như: quyền về lối đi qua bất động sản, quyền của ngư i đang thuê, đang mượn bất động sản bảo đảm ; iv Ch c ch n r ng tài sản bảo đảm không thuộc đối tượng cấm chuyển giao hay cấm kê biên theo quy định của pháp luật
Như vậy, xét dưới góc độ pháp lý những tài sản không đáp ứng được các điều kiện nêu trên thì không thể dùng để bảo đảm
2.1.1.2 Mô tả và xác định tài sản bảo đảm
Mô tả tài sản bảo đảm khi giao kết hợp đồng bảo đảm chính là một trong các cách thức xác định tài sản bảo đảm nh m giúp cho ngư i khác nhận biết được đó là đối tượng của bảo đảm Các chủ thể có thể mô tả cụ thể hoặc mô tả chung t y theo đặc điểm của tài sản bảo đảm Nếu tài sản bảo đảm là tài sản có đăng ký quyền s hữu thì phải mô tả cụ thể lô đất, số thửa, bản đồ địa chính đối với quyền sử dụng
Trang 40đất; số khung, số máy, model, nh n hiệu, năm sản xuất đối với ô tô, xe máy C n tài sản bảo đảm là một khối tài sản hay tài sản có sự biến động thư ng xuyên như hàng hóa trong kho, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp thì mô tả chung là ph hợp
h n cả Mô tả chung không có ngh a là tài sản bảo đảm không được mô tả một cách
rõ ràng và gây hiểu nhầm Mô tả chung được giải thích là tài sản bảo đảm không cần mô tả cụ thể đến t ng chi tiết nhỏ mà có thể xác định chúng thông qua các đặc tính như địa điểm, vị trí n i có tài sản toàn bộ trang thiết bị trong một ph ng ban nào đó hoặc theo tính chất của tài sản thiết bị tin h c hoặc trang thiết bị vận tải Việc mô tả tài sản tại th i điểm giao kết hợp đồng bảo đảm giúp cho các chủ thể xác định được đâu là tài sản cần đưa ra xử lý Nếu trong th i hạn bảo đảm mà tài sản bảo đảm có thay đổi thì phạm vi những tài sản được coi là tài sản bảo đảm vào th i điểm xử lý được xác định như sau:
Dựa trên tính thống nhất của một bất động sản thì tất cả những tài sản sau này được gắn liền với quyền sử dụng đất đã bảo đảm đều thuộc về tài sản bảo đảm được xử lý, bao gồm: Những tài sản kh i nguồn là một động sản độc lập, nhưng sau
này lại g n với bất động sản đ bảo đảm trước đó và tr thành một phần của bất động sản thì c ng thuộc đối tượng bị xử lý như cây cối được trồng trên đất, cầu thang máy được l p thêm vào t a nhà đ bảo đảm ; Những công trình được xây dựng thêm trên đất đ d ng để bảo đảm, những công trình được sửa chữa, xây mới
t những công trình đ bảo đảm trước đó c ng thuộc về tài sản bảo đảm Trư ng hợp công trình xây dựng trên đất được bảo đảm nhưng chủ s hữu công trình lại không đồng th i là ngư i có quyền sử dụng đất thì khi cần xử lý công trình trên đất
đ bảo đảm, ngư i mua s có đầy đủ tất cả những quyền và ngh a vụ của bên bảo đảm đ có đối với mảnh đất đó và tư ng tự khi xử lý quyền sử dụng đất bảo đảm
Dựa trên nguyên tắc xác lập quyền của chủ sở hữu của tài sản gốc đối với hoa lợi
và lợi tức phát sinh thì hoa lợi, lợi tức có được t tài sản bảo đảm trong th i hạn bảo đảm
vẫn thuộc về bên bảo đảm, nhưng đến khi phải xử lý tài sản bảo đảm là tài sản gốc thì hoa lợi và lợi tức được xử lý đồng th i đảm bảo cho quyền của bên nhận bảo đảm
Dựa trên đặc tính luôn thay đổi của tài sản (tính chất động của tài sản) thì tất cả những tài sản được hình thành sau này từ tài sản bảo đảm ban đầu đều thuộc về tài sản bảo đảm khi phải xử lý, đó là tất cả những nguồn thu có