Việc giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì và các tổ chức khác có khả năngứng dụng, thương mại hóa kết quả đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
THƯƠNG MẠI HÓA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
THƯƠNG MẠI HÓA QUYỀN SỞ HỮU
TRÍ TUỆ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ đạo nhiệttình và quý báu của Tiến sỹ Lê Đình Nghị và tập thể các giảng viên Khoa sau Đạihọc – Viện Đại học Mở Hà Nội
Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn Ban giám hiệu Viện Đại học Mở HàNội, Khoa Luật, Phòng Đào tạo và Khoa sau Đại học của nhà trường cùng các giảngviên, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc, tác giả xin trân trọng cảm ơn Tiến sỹ
Lê Đình Nghị - Thầy đã định hướng và chỉ dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian có hạn, luận văn của tôi sẽ còn nhiều thiếu sót, tôi rất mongnhận được sự đóng góp của các Thầy/Cô và quý độc giả
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày 01 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Ngọc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ có tiêu đề “Thương mại hóa quyền sở
h ữu trí tuệ theo pháp luật của Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn trích dẫn đầy đủ và trungthực Kết quả nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác
Hà Nội, ngày 01 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC GIAO QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN SỬ DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 10
1.1 Cơ sở lý luận việc giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứukhoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước 10
1.1.1 Kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách
1.2.1 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ và một số nước châu Âu 18
1.2.2 Kinh nghiệm về giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước một số nước châu Á 25
1.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC GIAO QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN SỬ DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 37
2.1 Pháp luật liên quan đến giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiêncứu khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Nhà nước 37
2.1.1 Quy định quyền sở hữu đối với kết quả KH&CN được tạo ra bằng kinh
phí nhà nước 37
Trang 62.1.2 Quy định của pháp luật về chuyển giao kết quả khoa học và công nghệ
được tạo ra bằng ngân sách nhà nước 41
2.1.3 Những bất cập tồn tại trong quy định của pháp luật về sở hữu, quản lý, chuyển giao tài sản trí tuệ được tạo ra bằng nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước
……… 492.2 Thực tiễn việc nghiên cứu, quản lý và chuyển giao kết quả nghiên cứu sửdụng ngân sách nhà nước ở Việt Nam 50
CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN CỦA VIỆC THƯƠNG MẠI HÓA QUYỀN
SỞ HỮU TRÍ TUỆ CHƯA HIỆU QUẢ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI HÓA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 75
3.1.1 Nguyên nhân từ phía pháp luật………75
3.1.2 Nguyên nhân từ phía các cơ quan quản lý nhà nước về Sở hữu trí tuệ………76
3.1.3 Nguyên nhân từ phía chủ sở hữu……….76
Trang 73.2.3 Nâng cao vai trò của các cơ quan Nhà nước trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về thương mại hóa quyền Sở hữu trí tuệ……….84
3.2.4 Các giải pháp khác để hoàn thiện pháp luật về thương mại hóa quyền Sở hữu trí tuệ………84
KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO……….……… 89
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt
AUTM
Viết đầy đủ
Hiệp hội quản lý công nghệ các trường đại học Hoa KỳCGCN Chuyển giao công nghệ
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
KH&CN Khoa học và công nghệ
MOSTI Bộ Khoa học, Công nghệ và Đổi mới Malaysia
NOIP Cục Sở hữu trí tuệ
R&D Nghiên cứu và phát triển
SHTT Sở hữu trí tuệ
TLO, TTO Văn phòng chuyển giao công nghệ
TSTT Tài sản trí tuệ
UBND Ủy ban nhân dân
RM Malaysian ringgit - Đơn vị tiền của Malaysia
WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới
Luật KH&CN 2000 Luật Khoa học và Công nghệ số 21/2000/QH10 ngày 09
tháng 6 năm 2000
Luật KH&CN 2013 Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 ngày 18
tháng 6 năm 2013
Luật Sở hữu trí tuệ Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11
năm 2005 và Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm2009sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ
số 50/2005/QH11
Luật Chuyển giao Luật Chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11 ngày 29
Trang 9công nghệ tháng 11 năm 2006.
Nghị định 103 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 09 năm
2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu côngnghiệp được sửa đổi bởi Nghị định số 122/2010/NĐ-CPngày 31/12/2010
Nghị định 08 Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2014
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật khoa học và công nghệ
Thông tư liên tịch số
44
Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày
07 tháng 05 năm 2007 của Bộ Tài chính - Bộ Khoa học vàCông nghệ hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dựtoán kinh phí của các đề tài, dự án khoa học và công nghệ
sử dụng ngân sách nhà nước
Thông tư liên tịch số
93
Thông tư liên tịch số 93/2006/ TTLT-BTC-BKHCN
04 tháng 10 năm 2006 của Bộ Tài chính - Bộ Khoa học vàCông nghệ (KH&CN) hướng dẫn chế độ khoán kinh phícủa đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sáchnhà nước
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ trước đến nay, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (gọitắt là “kết quả nghiên cứu”) được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước được coi
là thuộc quyền sở hữu nhà nước, đại diện là các cơ quan quản lý nhà nước về khoahọc và công nghệ (KH&CN) Do đó, việc thực hiện đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệcũng như thương mại hóa các kết quả này gặp rất nhiều khó khăn Nhiều kết quảnghiên cứu hầu hết nằm lại ở viện nghiên cứu, trường đại học hay các tổ chức khoahọc và công nghệ khác mà ít được chuyển giao để ứng dụng trong sản xuất, kinhdoanh Trong một số trường hợp, những kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụngđược tác giả thực tế chuyển giao cho doanh nghiệp chưa được thừa nhận bằng cácvăn bản pháp luật hoặc các quyết định giao quyền chính thức, dẫn đến quyền lợi củatác giả cũng như các tổ chức chủ trì không được đảm bảo
Ở Việt Nam, đã có một số văn bản pháp luật quy định về quyền sở hữu,quyền sử dụng tài sản trí tuệ/kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ hình thành
từ nguồn ngân sách nhà nước Điển hình là Luật KH&CN 2000 (Điều 26), Luật Sởhữu trí tuệ, Nghị định 103 (Điều 9), Luật Chuyển giao công nghệ (Điều 40) Tuynhiên các văn bản pháp luật này còn có nhiều quy định mâu thuẫn nhau và chưa rõràng về quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu thuộc sở hữu nhà nước Ví
dụ, Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 103 quy định tổ chức, cơ quan nhà nước đượcgiao quyền chủ đầu tư có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện quyền đăng ký
sở hữu trí tuệ đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tạo ra từ ngânsách nhà nước Trong khi đó, Luật Chuyển giao công nghệ lại quy định nhà nướcgiao quyền chủ sở hữu công nghệ đối với kết quả nghiên cứu tạo ra bằng ngân sáchnhà nước cho tổ chức chủ trì nghiên cứu và phát triển công nghệ Như vậy, đối vớikết quả nghiên cứu là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí và đồng thời
là công nghệ thì đơn vị cơ sở sẽ không biết phải thực hiện theo quy định pháp luậtnào Cũng chưa có thông tư quy định trình tự, thủ tục cụ thể để hướng dẫn các nội
Trang 11dung về xác định và đăng ký quyền sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu,công nghệ, đối tượng sở hữu công nghiệp trong các văn bản nêu trên Chính vì vậy
mà việc thực hiện đăng ký quyền sở hữu trí tuệ cũng như ứng dụng, thương mại hóacác kết quả nghiên cứu hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước còn gặp nhiều khókhăn ở các đơn vị cơ sở Các trường đại học, viện nghiên cứu thực hiện chuyển giaocác kết quả này để áp dụng trong các địa phương hay doanh nghiệp dù đã có nhưngchưa nhiều, chuyển giao để thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ còn ít ỏi
và khó khăn hơn
Việc giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu được hình thành
từ nguồn ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì và các tổ chức khác có khả năngứng dụng, thương mại hóa kết quả đó theo quy định từ Điều 41 đến Điều 43 LuậtKH&CN 2013 được coi là bước đột phá về cơ sở pháp lý và sẽ thống nhất được cácquy định trước đây về xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu sửdụng ngân sách nhà nước Ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc,những quy định tương tự trong vòng 30 năm trở lại đây đã đạt được nhiều thànhcông đáng kể trong việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường KH&CN ở các nướcđó
Để hiện thực hóa những quy định đổi mới của Luật KH&CN 2013 về giaoquyền cũng như để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức chủ trì, doanhnghiệp được tiếp cận kết quả nghiên cứu một cách nhanh chóng cần phải xây dựngquy định về trình tự, thủ tục giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứukhoa học và công nghệ thuộc sở hữu nhà nước” Từ đó sẽ giải quyết được các vấn
đề để phát triển thị trường KH&CN, đó là:
1) Đưa ra giải pháp tạo động lực về mặt tài chính cho nhà khoa học và cả các
tổ chức KH&CN để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu một cách hiệu quả
và gắn liền hơn với nhu cầu thực tế của thị trường:
Khi khi kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, các tổ chức được giaoquyền và cả các tác giả của kết quả nghiên cứu sẽ được phân chia lợi nhuận từ việc
Trang 12thương mại hóa đó Kết quả nghiên cứu càng gắn với nhu cầu của thị trường thì cơhội thương mại hóa và lợi nhuận tạo ra càng cao cho cả tác giả và tổ chức được giaoquyền.
2) Chuyên môn hóa việc ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu:Trước đây các nhà khoa học hầu hết phải tự tìm địa chỉ ứng dụng cho kết quảnghiên cứu của mình và thường bị thiệt thòi trong việc đàm phán giá chuyển giaocho doanh nghiệp Ngoài ra, việc phải tự đi tìm địa chỉ ứng dụng và chuyển giao kếtquả nghiên cứu cũng làm cho các nhà khoa học bị mất thời gian, công sức vào việclàm kinh doanh, là hoạt động họ thường không có thế mạnh Theo các quy định củaLuật KH&CN 2013, các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp sẽ đượcgiao kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước và họ phải chứng minh đượcnăng lực chuyên môn và hệ thống nhân lực, cơ sở vật – chất kỹ thuật cần thiết đểứng dụng, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu Khi đó, các nhà khoa học có thểyên tâm tập trung vào hoạt động mà họ có thế mạnh nhất, là hoạt động nghiên cứukhoa học và phát triển công nghệ, trong khi vẫn được phân chia lợi nhuận từ việccác viện, trường, doanh nghiệp thương mại hóa kết quả nghiên cứu
3) Thúc đẩy việc lưu thông hàng hóa chất xám trên thị trường, tạo điền đềcho việc phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam:
Việc giao quyền sẽ tạo động lực thúc đẩy hoạt động cung công nghệ cũngnhư kết nối nguồn cung với cầu công nghệ Ngoài ra, để có thể ứng dụng, thươngmại hóa được thành công các kết quả nghiên cứu, các tổ chức KH&CN, doanhnghiệp sẽ có động lực thành lập mới hoặc kết nối với các tổ chức trung gian của thịtrường KH&CN như trung tâm xúc tiến và chuyển giao công nghệ, trung tâm hỗ trợđịnh giá tài sản trí tuệ, Đó chính là các thành tố tạo nên một thị trường KH&CNhoàn thiện ở Việt Nam
4) Hỗ trợ sản xuất kinh doanh khi kết quả nghiên cứu được ứng dụng trongdoanh nghiệp:
Trang 13Để tạo ra được lợi nhuận từ thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, các tổchức được giao quyền sẽ phải tích cực tìm đến các doanh nghiệp và hỗ trợ cácdoanh nghiệp trong việc nhận chuyển giao, ứng dụng các kết quả nghiên cứu Ngoài
ra, để các kết quả nghiên cứu được doanh nghiệp chấp nhận và ứng dụng, các tổchức KH&CN không chỉ cần tiếp cận các doanh nghiệp khi đã có kết quả nghiêncứu, là “đầu ra” của các nhiệm vụ KH&CN, mà còn phải thay đổi cách thức đề xuấtnhiệm vụ KH&CN, là khâu “đầu vào”, sao cho nhiệm vụ KH&CN phải phù hợp vớinhu cầu của doanh nghiệp, hơn nữa, còn phải được bắt nguồn từ đặt hàng của doanhnghiệp Như vậy, việc giao quyền sẽ tạo ra động lực để các kết quả nghiên cứu thực
sự được chuyển hóa thành công cụ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinhdoanh của doanh nghiệp Việt Nam Đó cũng chính là tiền đề để năng cao năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật của Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ.
Luận văn này tác giả sẽ tập trung vào các nội dung chính sau:
1) Nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm quốc tế trong giao quyền và thương mại hóakết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước
2) Nghiên cứu, phân tích pháp luật và tình hình giao quyền, thương mại hóa kết quảnghiên cứu có sử dụng ngân sách nhà nước ở Việt Nam
3) Tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vềthương mại hóa quyền SHTT theo pháp luật Việt Nam
2 Tổng quan nghiên cứu
* Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Về bình diện quốc tế, có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đềgiao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu được thuộc sở hữu nhà nướcbao gồm:
- The Technology Transfer Revolution Legislative History & Future Proposals,
Trang 14Steven J Weber el al, Technology Transfer Conference, Ritz Carlton, Tysons Corner, Virginia,1999
- Public Research and Private Development: Patents and Technology Transfer,
Eisenberg,1996
- Patent Ownership and Federal Research and Development: A Discussion on the
Bayh-Dole Act and the Stevenson-Wydler Act, Schacht, 2000
- Administration of the Bayh-Dole Act by Research Universities, United States
General Accounting Office (GAO), 1998
- Technology Transfer of Federally Funded R&D: Perspectives from a Forum,
Wang, Mark Y.D., Shari Lawrence Pfleeger, David M Adamson, Gabrielle Bloom, William Butz, Donna Fossum, Mihal Gross, Aaron Kofner, Helga Rippen, Terrence
K Kelly and Charles T Kelley Santa Monica, CA: RAND Corporation, 2003.
- The Bayh-Dole Model in Developing Countries Reflections on the Indian Bill on
Publicly Funded Intellectual Property, Bhaven N Sampat., 2009
- Public Research and Private Development: Patents and Technology Transfer in
Government Sponsored Research, Eisenberg, Rebecca, 1996.
- Improving Knowledge Transfer Between Research Institutions and Industry
Across Europe: Voluntary Guidelines for Universities and Other Research Institutions, European Commission, 2007
- OECD Science, Technology and Industry Outlook 2012.
Phần lớn các nghiên cứu này đã nêu được chính sách, pháp luật của một sốnước cụ thể quy định về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản trí tuệ/kết quả nghiêncứu sử dụng ngân sách nhà nước Điển hình là Đạo Luật Bayh-Dole ban hành vàonăm 1980 ở Hoa Kỳ đã trao quyền sở hữu đối với đối tượng tài sản trí tuệ được thựchiện bằng tài trợ của Chính phủ cho các tổ chức phi lợi nhuận (như các trường đạihọc) và các doanh nghiệp nhỏ và vừa Rất nhiều nước trên thế giới đã ban hành cácphiên bản của Đạo Luật Bayh Dole như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, và
Trang 15cũng đã đạt được một số kết quả đáng kể trong việc tăng số lượng các sáng chếđược đăng ký từ các trường đại học và trong việc chuyển giao các kết quả này vàođời sống, sản xuất kinh doanh.
* Tình hình nghiên cứu trong nước:
Ở trong nước, để hưởng ứng các định hướng, mục tiêu của Chính Phủ về việcđẩy mạnh hiệu quả của hoạt động khoa học và công nghệ và phát triển thị trườngkhoa học và công nghệ, vấn đề về quyền sở hữu và quyền sử dụng kết quả nghiêncứu sử dụng ngân sách nhà nước ngày càng được chú trọng Một số công trìnhnghiên cứu tiêu biểu có đề cập đến vấn đề này bao gồm:
- Tổng quan kinh nghiệm xây dựng thị trường công nghệ các nước, Bộ Khoa
học và Công nghệ, 2004.
- Nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về chuyển giao công nghệ của
một số nước, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2005.
- Khoa học và công nghệ thế giới: Chính sách thúc đẩy thương mại hóa Cục
Thông tin khoa học và công nghệ Quốc gia, 2012.
- Đề án “Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách và văn bản
pháp luật hướng dẫn về định giá và quản lý, khai thác đối tượng tài sản trí tuệ được tạo ra từ kinh phí của Nhà nước trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập”, Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ, 2012.
- Đề án“ Xây dựng quy định về sở hữu, quản lý và khai thác tài sản trí tuệ được tạo ra bằng nguồn kinh phí Nhà nước”, Cục Sở hữu trí tuệ, 2006.
- Đề án “Nghiên cứu chính sách và cơ chế khuyến khích đăng ký sáng chế cho
các kết quả nghiên cứu tạo ra từ nguồn kinh phí của Nhà nước”, Viện Chiến lược
và Chính sách khoa học và công nghệ, 2006.
- Đề án “Nghiên cứu đề xuất quy định tạm thời về cơ chế phân chia lợi ích
giữa chủ đầu tư, tổ chức chủ trì và tác giả trong thương mại hóa kết quả nghiên
Trang 16cứu, tài sản trí tuệ được tạo ra bằng nguồn kinh phí của Nhà nước”, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 2013.
- Đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình khai thác công nghệ, bí quyết công
nghệ từ các bản mô tả sáng chế để ứng dụng vào thực tiễn”, Viện Nghiên cứu sáng chế và Khai thác công nghệ, 2012.
Các nghiên cứu này hầu hết đã nêu được thực trạng và các khó khăn trongviệc đầu tư, quản lý và khai thác kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ ở ViệtNam Từ đó, tác giả nghiên cứu đề xuất những hoạt động cụ thể nhằm khuyến khíchviệc khai thác kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ một cách hiệu quả
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Nghiên cứu này làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quy định về thương mại hóaquyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện phápluật
3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam; so sánh vớipháp luật quốc tế (mà Việt Nam đã tham gia);
- Phân tích những bất cập của pháp luật về thương mại hóa quyền SHTT ởViệt Nam
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam vềthương mại hóa quyền SHTT ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề án này giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các đối tượng là kết quả thực hiệnnhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước, tập trung tại các viện nghiên cứu,trường đại học, nhằm tập trung làm sáng tỏ về mặt lý luận, pháp luật và thực trạng
Trang 17quản lý, chuyển giao các đối tượng tài sản này vào cuộc sống, sao cho phù hợp vớipháp luật và thực tiễn ở Việt Nam.
Ngoài ra, giữa kết quả nghiên cứu dưới dạng tài sản hữu hình (ví dụ: máymóc, thiết bị, vật nuôi,…) và dưới dạng tài sản vô hình (ví dụ: chương trình máytính, mẫu thiết kễ, sáng chế,…) có nhiều đặc thù khác nhau Việc giao kết quảnghiên cứu dưới dạng tài sản hữu hình cũng khác so với việc giao kết quả nghiêncứu dưới dạng tài sản vô hình Ví dụ, khi giao kết quả nghiên cứu dưới dạng tài sảnhữu hình cần quy định về việc lưu trữ, bảo quản,… trong khi việc giao kết quảnghiên cứu dưới dạng tài sản vô hình chỉ cần một quyết định giao quyền Hơn nữa,quy định về xử lý tài sản hữu hình đã được quy định khá rõ ràng trong Luật quản lý,
sử dụng tài sản nhà nước và các văn bản hướng dẫn Như vậy, chỉ còn kết quảnghiên cứu dưới dạng tài sản vô hình cần được quy định về việc giao quyền Theothông lệ quốc tế, việc xác định quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu cũngthường chỉ được quy định đối với tài sản vô hình, là loại tài sản có tiềm năngthương mại lớn rất cần được khuyến khích khai thác Chính vì vậy, các nội dungtrong Đề tài này chỉ áp dụng đối với các kết quả nghiên cứu là tài sản vô hình
- Phạm vi nghiên cứu:
Mặc dù tên đề tài luận văn là “Thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ theopháp luật Việt Nam”, nhưng trong khuôn khổ của luận văn, tác giả chỉ giới hạnnghiên cứu trong việc giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoahọc và phát triển công nghệ có sử dụng ngân sách Nhà nước
+ Phạm vi không gian nghiên cứu: một số viện nghiên cứu, trường đại học ở
nước ngoài và Việt Nam
+ Phạm vi thời gian nghiên cứu:
- Đối với nước ngoài: kể từ khi ban hành các luật, đạo luật quan trọng về giaoquyền, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ sử dụng ngân sách Nhànước
Trang 18- Đối với Việt Nam: trong khoảng 10 năm trở lại đây.
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tư liệu cả trong nước và nước ngoài Các tư liệutập hợp theo một trật tự có mục đích chủ yếu theo thời gian, nhóm các nước, nhómcác chính sách và nhóm đối tượng điều chỉnh
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp các đối tượng liên quan để tìm hiểu thựctrạng về quản lý và khai thác thương mại hóa kết quả nghiên cứu được tạo ra từnguồn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam
- Phương pháp tổng hợp và phân tích định tính trong nghiên cứu các quy địnhpháp luật và thực trạng giao quyền, thương mại hóa kết quả nghiên cứu sử dụngngân sách nhà nước để đề xuất quy định về trình tự, thủ tục giao quyền sở hữu,quyền sử dụng các kết quả đó
6 Nội dung của Luận văn
Bao gồm phần mở đầu và 3 chương với các phần chính sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn việc giao quyền sở hữu, quyền sử dụng
kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nướctrên thế giới
Chương 2: Thực trạng việc giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên
cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước ở Việt Nam
Chương 3: Nguyên nhân của việc thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ chưa
hiệu quả và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thương mại hóa quyền sở hữutrí tuệ
Trang 19Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC GIAO
QUYỀN SỞ HỮU, QUYỀN SỬ DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SỬ DỤNG
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.1 Cơ sở lý luận việc giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
1.1.1 Kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
Việc đầu tiên cần làm rõ đối với vấn đề giao quyền là hiểu được kết quảnghiên cứu là gì và tại sao Nhà nước cần cung cấp kinh phí để tạo ra các kết quảnghiên cứu
Đối với doanh nghiệp, hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển côngnghệ (hoạt động R&D) là công cụ quan trọng để giúp doanh nghiệp da dạng hóa vànâng cao chất lượng sản phẩm và tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường Đối với xã hội nói chung, kết quả của hoạt động R&D có thể giúp conngười nâng cao chất lượng cuộc sống Ví dụ R&D trong lĩnh vực y tế giúp conngười có khả năng bảo vệ sức khỏe tốt hơn, R&D trong lĩnh vực công nghệ thôngtin giúp tạo ra những thiết bị di động hiện đại, thuận lợi cho việc giao tiếp, giải trí,R&D trong nông nghiệp giúp người nông dân có khả năng nâng cao năng suất nuôitrồng, Hoạt động R&D còn có vai trò quan trọng trong an ninh, quốc phòng, thúcđẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường của mộtquốc gia
Vậy tại sao Nhà nước lại cần cung cấp kinh phí để thực hiện các hoạt độngR&D? Đối với hoạt động R&D nhằm tạo ra tác động tích cực cho toàn xã hội vàquốc gia, rất ít khi có các tổ chức, cá nhân riêng lẻ đầu tư kinh phí cho các hoạt
Trang 20động R&D đó vì lợi ích mà bản thân họ đạt được là rất nhỏ bé so với lợi ích chung1.
Do đó, vai trò của Nhà nước trong việc đầu tư cho các hoạt động R&D như vậy làrất quan trọng Ví dụ, ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới, Nhà nước đều dành rấtnhiều kinh phí cho các phòng thí nghiệm trọng điểm để tạo ra những loại vắc-xin,loại thuốc mới nhằm giải quyết các vấn đề về sức khỏe cho người dân Ngoài ra, khihiện tượng biến đổi khí hậu trở thành vấn đề chung cần giải quyết của tất cả cácquốc gia trên thế giới, R&D trong dự báo thiên tai, lũ lụt và các trong các hoạt độngchống biến đổi khí hậu khác cũng được chính phủ các nước đặc biệt chú ý
Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, vai trò của Nhà nướctrong việc đầu tư cho hoạt động R&D lại càng quan trọng Điều này đúng đối với cảhoạt động R&D phục vụ xã hội nói chung lẫn hoạt động R&D phục vụ phát triểncủa doanh nghiệp Ví dụ về R&D phục vụ xã hội nói chung, trong bối cảnh lợi thếcạnh tranh của Việt Nam là nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên phong phú thìNhà nước cần đầu tư cho R&D để tạo ra các kết quả nghiên cứu phục vụ phát triểncác sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao và khai thác, sử dụng tài nguyên thiênnhiên một cách hiệu quả và bền vững Ngoài ra, nếu như ở các nước phát triển,nhiều doanh nghiệp có thể tự đầu tư nghiên cứu để phát triển sản phẩm của họ thìhầu hết các doanh nghiệp ở Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vửa (hơn 97% tổng sốdoanh nghiệp)2 Do đó, nguồn lực về nhân sự và tài chính của họ rất hạn hẹp để cóthể đầu tư cho hoạt động R&D Chính vì vậy, Nhà nước với khả năng đầu tư theolợi thế theo quy mô (economies of scale) cần hướng việc đầu tư ngân sách cho R&Dđến mục tiêu phải chuyển giao các kết quả nghiên cứu đến doanh nghiệp nhằm nângcao chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong thịtrường nội địa cũng như thị trường quốc tế
1.1.2 Việc giao quyền đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
1 http://economics.fundamentalfinance.com/positive-externality.php
2 Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê năm 2013.
Trang 21Sau khi hiểu được bản chất của kết quả nghiên cứu, ta cần hiểu được tại saoNhà nước cần giao quyền đối với kết quả nghiên cứu; phạm vi giao quyền, cơ chếgiao quyền và phân chia lợi nhuận khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu đượcgiao như thế nào; và các điều kiện, hạn chế đối với việc giao quyền kết quả nghiêncứu.
1.1.2.1 Lý do Nhà nước cần giao quyền
Theo lẽ thông thường và cũng theo pháp luật dân sự về quan hệ hợp đồng,bên cấp kinh phí để tạo ra một tài sản nào đó sẽ là chủ sở hữu tài sản đó Như vậy,Nhà nước đã cấp kinh phí cho hoạt động R&D thì cũng là chủ sở hữu hợp pháp củakết quả nghiên cứu
Tuy nhiên, rất nhiều nước trên thế giới, trong quá trình đầu tư và theo dõihiệu quả đầu tư cho R&D, nhận ra rằng Nhà nước là một thực thể quá lớn để quytrách nhiệm đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng trong cuộc sống Nếu nói Nhànước là chủ sở hữu của kết quả nghiên cứu thì không thể biết rõ ai trong Nhà nước
sẽ có trách nhiệm đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả đó và càngkhông thể biết rõ ai sẽ người có trách nhiệm và hơn nữa là có động lực để đưa kếtquả nghiên cứu vào áp dụng trong doanh nghiệp và trong đời sống Chính vì khôngxác định được một chủ thể như vậy, rất nhiều nước trên thế giới đã trải qua tìnhtrạng đầu tư rất nhiều cho hoạt động R&D nhưng tỷ lệ ứng dụng kết quả R&D trongcuộc sống lại không hiệu quả Nhận thức được bất cập này, rất nhiều nước đangphát triển mà đi đầu là Hòa Kỳ vào những năm 1980, đã cho ra đời Đạo luật Bayh-Dole và các văn bản tương tự để giao quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu đượcNhà nước tài trợ kinh phí cho các tổ chức, cá nhân cụ thể có trách nhiệm, khả năng
và động lực để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và đưa các kết quả đó thực
sự vào cuộc sống Các tổ chức cụ thể đó có thể khác nhau tùy theo quy định củatừng nước, nhưng hầu hết là tổ chức chủ trì hoạt động R&D (các viện nghiên cứu,trường đại học) và đôi khi là các doanh nghiệp, các tổ chức phi lợi nhuận Nhữngtác động tích cực mà Đạo luật Bayh-Dole và các phiên bản của nó tạo ra trong việc
Trang 22nâng cao tỷ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu trong thực tế, tạo nên những thị trườngtài sản trí tuệ sôi nổi và góp phần đẩy mạnh phát triển nền kinh tế quốc gia đã minhchứng cho sự đúng đắn của Nhà nước khi trao lại quyền chủ sở hữu đối với kết quảnghiên cứu cho tổ chức, cá nhân khác có khả năng thương mại hóa các kết quả đó.
1.1.2.2 Cơ chế giao quyền và phân chia lợi nhuận khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu được giao
Về cơ chế giao quyền, hầu hết các nước có các phiên bản của Đạo luật Dole như Brazil, Trung quốc, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Ý, Nhật, Malaysia, Nhànước giao quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nướccho các tổ chức chủ trì và có thể một số tổ chức, cá nhân khác có khả năng thươngmại hóa kết quả nghiên cứu3 Có thể thấy hầu hết ở các nước đó, việc giao quyền làgiao quyền sở hữu chứ không có quy định về việc giao quyền sử dụng kết quảnghiên cứu Điều này có nghĩa là Nhà nước hoàn toàn từ bỏ quyền sở hữu của mình
Bayh-và giao lại toàn quyền đó cho tổ chức khác Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia cũng cónhững cơ chế khác nhau để Nhà nước có thể bắt buộc chuyển giao quyền đối với kếtquả nghiên cứu từ tổ chức, cá nhân được giao quyền đến tổ chức, cá nhân kháctrong trường hợp tổ chức, cá nhân được giao quyền sử dụng quyền được giao mộtcách không hiệu quả Cơ chế này được ở Hoa Kỳ được gọi là “march-in right”, thểhiện quyền tối cao của Nhà nước đối với kết quả nghiên cứu kể cả khi quyền sở hữu
đã được giao cho tổ chức, cá nhân khác Mỗi quốc gia cũng có những điều kiệnriêng đối với các tổ chức được giao quyền Ví dụ, đối với Hoa Kỳ, các tổ chức đượcgiao quyền cần ưu tiên thương mại hóa kết quả nghiên cứu được trao trong lãnh thổcủa quốc gia và ưu tiên chuyển giao cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Đây đượccoi là “giao quyền sở hữu có điều kiện” và cũng nhằm đảm bảo được việc thươngmại hóa, ứng dụng các kết quả nghiên cứu được thực hiện một cách hiệu quả vàtheo những mục tiêu cụ thể của quốc gia
Về việc phân chia lợi nhuận khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu sử dụng
3 http://www.autm.net/Bayh_Dole_Act1.htm
Trang 23ngân sách nhà nước, Đạo luật Bayh-Dole ở các nước đều đảm bảo quyền của tác giảđược tôn trọng, bằng việc quy định tổ chức được giao quyền sở hữu phải chia chotác giả một số lợi nhuận nhất định tạo ra từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu Cónhững nước quy định chặt chẽ về tỷ lệ phân chia cho tác giả như Nga, Ấn Độ nhưng cũng nhiều nước để tổ chức được giao quyền tự thỏa thuận với các đối tượngliên quan về việc phân chia như Hoa Kỳ, Phần Lan4 Trên thực tế, ở Hoa Kỳ từngtrường đại học, viện nghiên cứu đều có quy chế riêng về việc phân chia lợi nhuậntạo ra từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu do trường, viện đó quản lý.
1.1.2.3 Các hạn chế của việc giao quyền kết quả nghiên cứu
Mặc dù các quy định về giao quyền đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngânsách nhà nước đều hướng tới việc thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu,tuy nhiên không phải lúc nào việc giao quyền cũng đạt được hiệu quả như mongđợi
Nhiều người cho rằng Luật Bayh-Dole ra đời cũng mang lại những hậu quảtiêu cực như làm cho các trường đại học, viện nghiên cứu xa rời nhiệm vụ chính của
họ là nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu mà tập trung quá nhiều vào mục tiêu thươngmại hóa Hơn nữa, khi mục tiêu lợi nhuận được đặt lên trên hết, đôi khi nó tạo ramột bức tường ngăn cản giữa doanh nghiệp và các viện, trường vì viện, trường lúcnào cũng muốn nắm thế cao hơn trong đàm phán chuyển giao kết quả nghiên cứucho doanh nghiệp5 Ở nhiều nước trên thế giới đã áp dụng Đạo luật Bayh-Dole, việchình thành các tổ chức/văn phòng chuyển giao công nghệ (TLO, TTO) tại viện,trường có thể gây rất nhiều tốn kém chi phí mà không đạt được hiệu quả nếu không
có một mô hình hoạt động phù hợp Ngoài ra, một số chuyên gia cũng cho rằng việcchỉ khuyến khích chuyển giao kết quả nghiên cứu ở trong nước theo tinh thần củaĐạo luật Bayh-Dole Hoa kỳ vô hình chung đang gây cản trở cho dòng lưu thông tri
4 Khoa học và công nghệ thế giới: Chính sách thúc đẩy thương mại hóa Cục Thông tin khoa học và công nghệ Quốc gia, 2012.
5
So, A D., Sampat, B N., Rai, A K., Cook-Deegan, R., Reichman, J H., Weissman, R., & Kapczynski, A.
(2008) Is Bayh-Dole good for developing countries? Lessons from the US experience PLoS Biology, 6(10),
e262.
Trang 24thức giữa các nước với nhau, nhất là giữa những nước phát triển và những nướcđang phát triển.
Chính vì vậy, các chuyên gia cho rằng khi lựa chọn áp dụng Đạo luật Dole cho mình, từng quốc gia cần xem xét để tạo nên những quy định làm giảmnhững tác động tiêu cực của Bayh-Dole, đồng thời xây dựng các quy định phù hợpvới hoàn cảnh và mục tiêu phát triển của mình
Tuy nhiên, đối với cách hiểu như trên, nhiều học giả cho rằng cần làm rõ hơnnữa một số vấn đề chính sau: (i) nhiệm vụ sử dụng bao nhiêu phần trăm (%) ngânsách nhà nước thì kết quả của nó mới nằm trong phạm vi được giao quyền; (ii) ngânsách nhà nước ở đây chỉ được thể hiện bằng tiền hay cả bằng phương tiện, vật chất,
kỹ thuật khác
Chính vì vậy, tác giả đề xuất kết quả nghiên cứu trong phạm vi vấn đề giaoquyền được hiểu như sau:
Kết quả nghiên cứu bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, bí quyết kỹ thuật,
bí mật kinh doanh, sáng kiến, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng côngnghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại, giống cây trồng, chương trình máy tính, thiết kế
kỹ thuật, tác phẩm khoa học và các đối tượng khác, gồm cả đối tượng được bảo hộ
và không được bảo hộ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ
Kết quả nghiên cứu được xác định trên cơ sở hợp đồng thực hiện nhiệm vụ
Trang 25khoa học và công nghệ được tạo ra từ việc sử dụng nguồn kinh phí ngân sách nhànước do cơ quan có thẩm quyền cấp dưới hình thức cấp một phần kinh phí, toàn bộkinh phí hoặc giao quyền sử dụng phương tiện, cơ sở vật chất - kỹ thuật thuộc sởhữu nhà nước để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Phương tiện vật chất - kỹ thuật thuộc sở hữu Nhà nước bao gồm nhà xưởng,
phòng thí nghiệm, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tài liệu và các phương tiện vậtchất - kỹ thuật khác thuộc sở hữu của Nhà nước
Phạm vi giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu được thực
hiện trong phần quyền sở hữu của Nhà nước đối với kết quả nghiên cứu trên cơ sởquy định của pháp luật và thỏa thuận giữa các bên liên quan Ví dụ, trong trườnghợp Nhà nước chỉ đầu tư 60% kinh phí để tạo ra kết quả nghiên cứu và sở hữu 60%của kết quả đó thì toàn bộ quyền mà Nhà nước có thể giao chỉ nằm trong phạm vi60% quyền sở hữu của Nhà nước đối với kết quả nghiên cứu
Ngoài ra, Đạo Luật Bayh-Dole ở Hoa Kỳ và những phiên bản của nó trên thếgiới (ở Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, nhiều nước ở châu Âu) hầu hết chỉ nhắc đếnkhái niệm về việc xác định quyền sở hữu kết quả nghiên cứu chứ không có kháiniệm về việc giao quyền Ví dụ, theo Đạo Luật Bayh-Dole ở Hoa Kỳ, tổ chức chủ trìthực hiện nhiệm vụ KH&CN do Nhà nước tài trợ kinh phí (một phần hoặc toàn bộ)thì mặc nhiên trở thành chủ sở hữu của kết quả đó chứ không cần đề nghị cơ quan
có thẩm quyền giao quyền sở hữu cho mình Tuy nhiên, ở một số nước xã hội chủnghĩa như những nước thuộc Liên Xô cũ, kết quả nghiên cứu trước hết thuộc sở hữuNhà nước và tổ chức chủ trì chỉ có quyền đó khi được Nhà nước giao quyền Do đó,khi nhắc đến khái niệm “giao quyền” ta có thể hiểu khái niệm này chỉ có ý nghĩa ởcác nước xã hội chủ nghĩa hoặc những nước có hoàn cảnh gần giống như Việt Nam.Hơn nữa, nếu trong các phiên bản trước đây của Đạo luật Bayh-Dole, việc giaoquyền gần như chỉ được hiểu là giao quyền sở hữu toàn phần, Luật KH&CN 2013lại có những quy định về giao quyền sử dụng và về giao quyền sở hữu, quyền sửdụng một phần và toàn phần nhằm đảm bảo quyền tối cao của Nhà nước trong việc
Trang 26xem xét giao kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước cho những đối tượngphù hợp Ngoài ra, khác với “chuyển giao quyền” là hành động mang tính chấtthương mại và tạo ra lợi nhuận cho người chuyển giao, “giao quyền” là một hìnhthức chuyển giao quyền nhưng dưới góc độ hành chính và thường được hiểu là giaomiễn phí quyền đối với một tài sản nào đó, có thể quyền sở hữu hoặc quyền sửdụng.
Do đó, để có thể đưa ra những phân tích, đề xuất, Đề tài này cần trước hếtthống nhất được cách hiểu về giao quyền phù hợp với quy định của pháp luật vàthực tế ở Việt Nam, cụ thể như sau:
Giao toàn bộ quyền sở hữu kết quả nghiên cứu là việc đại diện chủ sở hữu
nhà nước giao toàn bộ quyền sở hữu của Nhà nước đối với kết quả nghiên cứu chochủ thể khác theo quy định của pháp luật và điều kiện thỏa thuận giữa các bên
Giao một phần quyền sở hữu kết quả nghiên cứu là việc đại diện chủ sở hữu
nhà nước giao quyền sở hữu đối với một phần kết quả nghiên cứu cho một chủ thểnhất định hoặc giao quyền đồng sở hữu kết quả nghiên cứu cho các chủ thể khácnhau theo quy định của pháp luật và điều kiện thỏa thuận giữa các bên
Giao toàn bộ quyền sử dụng kết quả nghiên cứu là việc đại diện chủ sở hữu nhà
nước cho phép chủ thể khác sử dụng độc quyền kết quả nghiên cứu trong phạm vi, thờihạn theo quy định của pháp luật và điều kiện thỏa thuận giữa các bên
Giao một phần quyền sử dụng kết quả nghiên cứu là việc đại diện chủ sở hữu
nhà nước cho phép chủ thể khác sử dụng một phần kết quả nghiên cứu hoặc sử dụngkhông độc quyền kết quả nghiên cứu trong phạm vi, thời hạn theo quy định củapháp luật và điều kiện thỏa thuận giữa các bên
1.2 Kinh nghiệm về giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước ở một số nước trên thế giới
Như đã nhắc đến ở trên, hầu hết các nước có quy định về trao quyền sở hữucủa Nhà nước đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách cho tổ chức, cá nhân
Trang 27khác đều không có các trình tự, thủ tục giao quyền Ở các nước đó, hầu hết quyền sởhữu của tổ chức chủ trì hay tổ chức, cá nhân khác được xác lập một cách tự độngtheo quy định của pháp luật Như vậy, tác giả không thể tìm được kinh nghiệm củacác nước trên thế giới về trình tự, thủ tục giao quyền, nghĩa là không có chủ thể đềnghị giao quyền, chủ thể có thẩm quyền giao quyền và các hồ sơ, quy trình thẩmđịnh hồ sơ phục vụ việc giao quyền Nói cách khác, ở các nước trên thế giới mànghiên cứu này nhắc đến, không có khái niệm về “giao quyền” mà chỉ có khái niệm
về “xác nhận quyền sở hữu” đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhànước Tuy nhiên, để được xác nhận quyền sở hữu này, một số nước có quy định yêucầu tổ chức, cá nhân phải thực hiện những bước nhất định và phải cam kết thực hiệnnhững nghĩa vụ cụ thể đối với kết quả nghiên cứu mà họ xác nhận quyền sở hữu Do
đó, kinh nghiệm sát nhất mà Việt Nam có thể học hỏi được từ các nước trên thế giới
về giao quyền là học hỏi kinh nghiệm của các nước về quy định chung trong xácnhận quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước cũngnhư những quy định cụ thể về trình tự xác nhận quyền và những quy định về nghĩa
vụ mà tổ chức xác nhận quyền cần thực hiện Đây có thể là những quy định trongcác văn bản pháp luật của các nước và cũng có thể là những quy định được áp dụngtại các tổ chức cụ thể ở các nước đó
1.2.1 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ và một số nước châu Âu
1.2.1.1 Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là quốc gia theo hệ thống pháp luật theo án lệ (Common Law), do
đó, việc một Đạo luật như Bayh-Dole ra đời nhằm điều chỉnh việc sử dụng các kếtquả nghiên cứu khoa học từ các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu có giá trịhết sức quan trọng Tháng 12 năm 1980, Đạo luật Bayh-Dole ra đời cho phép cáctrường đại học, các mô hình kinh doanh nhỏ, các tổ chức phi lợi nhuận giữ quyền sởhữu đối với các sáng chế, nhằm phát triển việc thương mại hoá các sáng chế hoặcnhằm phục vụ lợi ích công cộng
Trình tự, thủ tục của việc xác nhận quyền sở hữu theo Đạo luật này được thực
Trang 28hiện như sau:
Thứ tự ưu tiên để xác nhận quyền:
- Ưu tiên 1: Tổ chức phi lợi nhuận, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được quyền
ưu tiên đầu tiên, trước Chính phủ, để lựa chọn xác lập quyền sở hữu đối với nhữngkết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách liên bang do mình chủ trì thực hiện
- Ưu tiên 2: Nếu các tổ chức nói trên không lựa chọn xác lập quyền sở hữu đốivới kết quả nghiên cứu thì Chính phủ liên bang được quyền lựa chọn xác lập quyền
sở hữu đối với kết quả đó
- Ưu tiên 3: Chính phủ liên bang có thể từ chối quyền sở hữu đối với kết quảnghiên cứu và chuyển lại quyền đó cho tác giả
Tổ chức lựa chọn xác lập quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu thì sẽphải thực hiện những trách nhiệm sau:
- Báo cáo về kết quả nghiên cứu cho cơ quan cấp tài trợ ngay sau khi tác giảcông bố kết quả
- Cấp cho Chính phủ quyền sử dụng độc quyền, không chuyển giao thứ cấp,không thể thu hồi, trả trước trách nhiệm tài chính, để sử dụng hoặc cho phép đơn vịkhác sử dụng nhân danh Nhà nước kết quả nghiên cứu
- Nộp đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu lầnđầu trong vòng 1 năm sau khi lựa chọn quyền sở hữu Trong trường hợp khôngmuốn hoặc chưa muốn nộp đơn trong thời hạn 1 năm thì phải thông báo với Chínhphủ và có văn bản đề nghị chuyển giao lại quyền sở hữu các kết quả đó cho Chínhphủ
- Trên mỗi văn bằng bảo hộ phải có một dòng xác định hợp đồng đã tạo ranghiên cứu đó và quyền của Chính phủ đối với kết quả nghiên cứu
- Báo cáo về hiệu quả sử dụng kết quả nghiên cứu
- Trong mỗi hợp đồng li-xăng độc quyền cấp đi, phải có điều khoản quy định
Trang 29sản phẩm tạo ra được sản xuất phần lớn tại Hoa Kỳ.
- Chịu quyền “can thiệp” (“march in”) của Nhà nước khi bắt buộc tổ chứcchuyển giao quyền sử dụng cho đơn vị khác, trong một số trường hợp cụ thể, ví dụkhi tổ chức không khai thác kết quả nghiên cứu một cách hiệu quả
Riêng đối với các tổ chức phi lợi nhuận, thêm trách nhiệm:
- Chỉ trao quyền sở hữu cho tổ chức mà một trong những chức năng chính làquản lý tài sản trí tuệ
- Chia sẻ lợi nhuận với tác giả
- Sử dụng lợi nhuận sau khi chia cho mục đích nghiên cứu hoặc giáo dục
- Ưu tiên việc thu hút, chuyển giao cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Từ những quy định này của pháp luật, các trường đại học, viện nghiên cứu vàđặc biệt là các tổ chức phi lợi nhuận của Hoa Kỳ đã thu được rất nhiều lợi nhuận từviệc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu Đây cũng là một trong những nguồnthu quan trọng để các viện, trường hình thành và phát triển các văn phòng trựcthuộc (technology licensing office – TLO) và để họ có kinh phí duy trì và bảo vệquyền sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu của mình Ngoài ra nhờ vào quyđịnh này, bên cạnh hoạt động đào tạo, hoạt động R&D ở các trường đại học ở Hoa
Kỳ ngày càng được chú trọng
Ngày càng nhiều các kết quả nghiên cứu được thương mại hoá cũng khuyếnkhích việc phát triển các ngành công nghiệp ở Hoa Kỳ và giúp tăng cường hoạtđộng đăng ký và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Theo cuộc khảo sát của Hiệp hội quản
lý công nghệ các trường đại học Hoa Kỳ (viết tắt là AUTM), trong năm 2008, cácviện nghiên cứu, trường đại học đã thu được 3,4 tỷ USD từ việc bán bản quyền sángchế (Số liệu của trường Đại học Boston, Hoa Kỳ)
1.2.1.2 Một số nước châu Âu 6
6 Tapio Maaenpa Aalto University – Centre for Entrepreneurship Sales and licensing of university-based intellectual property rights Training materials.
Trang 30Ở nhiều nước thuộc châu Âu trước những năm 2000 từng có một hệ thốngkép mà trong đó quy định về quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngânsách Nhà nước khác nhau giữa các trường đại học và tổ chức nghiên cứu côngkhông phải trường đại học Cụ thể là ở các tổ chức nghiên cứu công không phảitrường đại học thì tổ chức đó nắm quyền sở hữu đối với các kết quả nghiên cứutrong khi ở các trường đại học, tác giả lại được hưởng đặc quyền này Tuy nhiên,nhiều khó khăn trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã nảy sinh từ quy địnhnói trên Nhiều trường đại học nhận thấy tỷ lệ đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ vàthương mại hóa kết quả nghiên cứu không cao do các tác giả không có đủ nguồn lực
để chịu những chi phí và rủi ro liên quan đến bảo hộ và thương mại hóa các kết quả
đó Chính vì lý do này mà gần đây một số nước trong đó có Anh, Đức và Phần Lan
đã chủ động áp dụng những quy định tương tự như Đạo luật Bayh-Dole để tạo điềukiện cho các trường đại học được xác lập quyền sở hữu đối với những kết quảnghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước và chủ động trong việc thương mại hóa cáckết quả nghiên cứu đó Những quy định này đã tạo ra làn sóng mới trong công cuộcthương mại hóa TSTT ở những quốc gia nói trên Kinh nghiệm của các quốc gia đócũng cho thấy mặc dù quy định về giao quyền có thể giống nhau nhưng cách thứcthương mại hóa kết quả nghiên cứu của mỗi nước lại có thể khác nhau tùy thuộc vàođiều kiện của từng quốc gia; ví dụ trong khi Phần Lan mở rộng việc thành lập vàhoạt động của các TTO/TLO thuộc các trường đại học thì ở CHLB Đức các công tyTTO/TLO độc lập, nằm ngoài các trường đại học, lại chứng minh được hoạt độngcủa mình không hề kém phần hiệu quả
Ví dụ về Phần Lan:
Trong những nước châu Âu có áp dụng phiên bản của Bayh-Dole, có thể nóiPhần Lan là đất nước được đánh giá cao trong việc phát triển hoạt động đổi mớisáng tạo tại cả những viện nghiên cứu, trường đại học lẫn trong doanh nghiệp Hoạtđộng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước cũng diễn
ra rất sôi nổi Do đó, phần kinh nghiệm của các nước châu Âu sẽ tập trung phân tích
Trang 31ví dụ cụ thể của việc giao quyền tại Phần Lan.
Mặc dù hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu ở các trường đại họccủa Phần Lan đã được thực hiện từ những năm đầu 1980 nhưng phải đếnnăm 2004trong Đạo luật về trường đại học (University Act), hoạt động này mới được chínhthức công nhận là “chức năng thứ ba” của các trường đại học ngoài hai chức năngchính là đào tạo và nghiên cứu
Về quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu, cho đến trước năm 2006, vấn
đề này được quy định rõ trong Đạo luật về quyền của người lao động đối với sángchế (Act on the Right in Employee Inventions) như sau: người lao động được côngnhận toàn quyền sở hữu đối với sáng chế do mình tạo ra
Năm 2006, Đạo luật về quyền đối với sáng chế tạo ra ở các cơ sở giáo dục đại học
và sau đại học (Act on the Right in Inventions made at Higher EducationInstitutions – HEI) được ban hành và có hiệu lực vào tháng 1 năm 2007 Đây đượccoi là phiên bản của Bayh-Dole tại Phần Lan, trong đó quy định rõ đối với các hợpđồng nghiên cứu giữa trường với người lao động, trường có thể xác lập quyền sởhữu đối với sáng chế có khả năng bảo hộ tuy nhiên cần tuân theo một số điều kiện
Trang 32thuộc về trường nhưng hoàn toàn có thể chuyển giao cho đối tác hoặc cho tác giảnếu họ có dự án cụ thể để thương mại hóa kết quả đó.
Sau khi HEI ra đời, các trường đại học hầu hết đã ban hành những quy trình
cụ thể cho các tổ chức hỗ trợ chuyển giao công nghệ (TTO) của mình nhằm đảmbảo việc xác lập quyền và thương mại hóa kết quả nghiên cứu được diễn ra mộtcách hiệu quả Một quy trình như vậy thường bao gồm những bước như sau:
Bước 1: Khi kết quả nghiên cứu được tạo ra thì tác giả phải thông báo và công
bố chi tiết kết quả này cho trường thông qua Văn bản công bố về sáng chế(Invention Disclosure Form) Các thông tin trong văn bản này sẽ được trường bảomật
Bước 2: TTO của trường sẽ đánh giá khả năng thương mại hóa và khả năngđược bảo hộ của kết quả nghiên cứu
Bước 3:
- 02 tháng sau khi nhận được Văn bản công bố về sáng chế, TTO sẽ gửi vănbản cho tác giả xác nhận việc đã nhận được Văn bản công bố về sáng chế; đồng thờigửi cho tác giả văn bản xác nhận loại hình kết quả nghiên cứu: là nghiên cứu dướidạng liên kết với bên thứ 3 hay nghiên cứu mở (chỉ giữa trường và tác giả) vàhướng dẫn những bước tác giả có thể thực hiện đối với nghiên cứu này
- TTO cũng liên hệ với tác giả trực tiếp để bàn bạc về những vấn đề liên quanđến công bố sáng chế và có thể lấy thêm thông tin nếu cần
Bước 4:
- Trong vòng 6 tháng kể từ khi nhận được Văn bản công bố sáng chế, tác giả
có thể gửi cho TTO văn bản xác nhận quyết định của họ đối với quyền SHTT sángchế và trong phạm vi như thế nào TTO cũng cần thông báo đã nhận được văn bảntrên
- Đối với kết quả nghiên cứu thực hiện dưới dạng hợp đồng, tác giả sẽ đượcthông báo trong thời hạn được ấn định, về mong muốn của trường trong việc thỏathuận về quyền SHTT đối với kết quả đó (Thông thường đây là quyết định của bản
Trang 33thân TTO dựa trên những đánh giá của nhóm quản lý quyền SHTT trong TTO) Nếunhư trường lựa chọn không xác lập quyền SHTT đối với kết quả nghiên cứu hoặckhông thông báo cho tác giả về quyết định của mình trong vòng 6 tháng hoặc trongthời hạn thỏa thuận giữa hai bên, tác giả sẽ được quyền tự do khai thác kết quả đó.Thông thường, một số lý do khiến trường đại học không mong muốn xác lậpquyền đối với kết quả nghiên cứu bao gồm:
- Kết quả nghiên cứu chưa đủ phù hợp để ứng dụng công nghiệp hoặc không
đủ tiềm năng thương mại hóa
- Cần có nghiên cứu sâu hơn trước khi kết quả nghiên cứu có khả năng đượcthương mại hóa Ví dụ: có thể chuyển hướng nghiên cứu để phù hợp với một thịtrường khác
- Kết quả nghiên cứu có tiềm năng thương mại hóa nhưng trường đại họckhông có đủ tiềm lực kinh tế, nhân lực để thực hiện bảo hộ, bảo hệ quyền SHTTcũng như thương mại hóa kết quả nghiên cứu đó Vì lý do nguồn lực hạn hẹp, TTO
có thể phải ưu tiên thương mại hóa các kêt quả nghiên cứu khác
- Trong trường hợp dự án liên kết nghiên cứu, có thể không một thành viênnào trong dự án đó mong muốn khai thác kết quả nghiên cứu trong việc kinh doanhcủa họ
Để có thể đưa ra những đánh giá trên, TTO thường phải mất rất nhiều côngsức và thời gian và thường có sự tham gia của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực
về KH&CN, chuyên gia về xác định giá trị TSTT cũng như những người có nhiềukinh nghiệm trong kinh doanh, thương mại hóa TSTT
Chính vì vậy, những đánh giá của TTO giúp các trường đại học không bị lãngphí nguồn lực vào việc xác lập quyền đối với quá nhiều kết quả nghiên cứu khôngphù hợp với tiêu chí của mình Bước đánh giá khả năng thương mại hóa, xác địnhgiá trị TSTT cũng giúp trường có thể thực hiện quy trình thương mại hóa kết quảnghiên cứu một cách hiệu quả hơn khi tiếp cận nhu cầu của khách hàng cũng như
Trang 34khi đàm phán chuyển giao các kết quả đó.
Có thể nói kinh nghiệm của Phần Lan trong các bước xác lập quyền sở hữuđối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước rất rõ ràng và có phươngpháp luận sâu sắc Đây là ví dụ quan trọng để có thể học hỏi kinh nghiệm khi đềxuất những quy định về trình tự, thủ tục giao quyền phù hợp với điều kiện của ViệtNam
1.2.2 Kinh nghiệm về giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước một số nước châu Á
“national university corporation” mặc dù các trường vẫn trực thuộc Bộ Giáo dục,Văn hóa, Thể thao và KH&CN (MEXT) Vì hoạt động dưới mô hình doanh nghiệp,theo Luật doanh nghiệp, các trường đại học này được quyền sở hữu những sáng chế
do nhân viên của mình tạo ra
Luật về công ty đại học quốc gia cũng được gọi tắt là Luật TLO vì một trongnhững nội dung chính của nó cũng nhằm hướng đến việc thúc đẩy thành lập các vănphòng chuyển giao công nghệ (TLO) Các TLO này có chức năng chính là thươngmại hóa các sáng chế do trường quốc gia sở hữu và chuyển lại lợi nhuận thu đượccho tác giả, trường và phòng nghiên cứu
Trước khi Luật TLO ra đời, tác giả thường giữ lại quyền sở hữu đối với sáng
7 Kneller, R (2007) Japan's new technology transfer system and the pre-emption of university discoveries by
sponsored research and co-inventorship Industry and Higher Education, 21(3), 211-220
Trang 35chế cho mình nhưng trên lý thuyết Nhà nước lại cũng có quyền sở hữu đối với hơnnửa số sáng chế Chính sự không rõ ràng này làm cản trở quá trình thương mại hóasáng chế tạo ra từ ngân sách nhà nước và quá trình hình thành các doanh nghiệpkhởi nghiệp dựa trên công nghệ.
Từ khi Luật TLO ra đời, hầu hết các trường đại học đã thành lập TLO chomình và được Nhà nước hỗ trợ về mặt tài chính theo quy định tại Luật TLO Đểtránh khỏi các quy định về mặt quản lý nhân sự cũng như tài chính của MEXT,TLO của các trường thường được thành lập và hoạt động dưới dạng doanh nghiệp
có lợi nhuận (for-profit corporation) hoặc những tổ chức bán công Mặc dù vậy cácTLO đôi khi cũng thiếu nhân lực có kinh nghiệm trong việc quản lý TSTT Do đó,MEXT hỗ trợ bằng cách thành lập các văn phòng quản lý TSTT (IP managementoffice) Các văn phòng này có phần bị chồng chéo với các TLO nên hoạt động đôikhi có phần hạn chế
Một số trình tự, thủ tục xác nhận quyền sở hữu đối với kết quả nghiên cứu cóphần khác nhau giữa các trường đại học ở Nhật và các trường đại học ở Hoa Kỳ, ví
dụ như sau:
- Nếu như ở Hoa Kỳ, trình tự ưu tiên trong việc xác lập quyền đối với kết quảnghiên cứu là tổ chức chủ trì, doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chỉnh phủ rồi mới đến tácgiả thì ở nhiều trường đại học của Nhật có quy định nội bộ như sau: trong một thờihạn nhất định (thường thì 01 tháng), trường phải quyết định xem họ có ý định nộpđơn bảo hộ SHTT đối với kết quả nghiên cứu hay không Nếu không thì quyền sởhữu đó thuộc về tác giả
- Ngoài ra ở Hoa Kỳ, các trường thường không bao giờ trao quyền SHTT chođối tác doanh nghiệp trong những trường hợp liên kết trong hoạt động R&D mà chỉcho doanh nghiệp được đàm phán để nhận chuyển giao quyền sử dụng không độcquyền sau khi việc nghiên cứu thành công Tuy nhiên, Luật của Nhật lại có phần ưuđãi doanh nghiệp hơn ở chỗ nếu không có sự đồng ý của doanh nghiệp, trườngkhông được phép chuyển giao quyền sử dụng của kết quả nghiên cứu hợp tác công-
Trang 36tư cho doanh nghiệp khác Doanh nghiệp tham gia vào hợp tác công-tư trong nghiêncứu cũng nghiễm nhiên có quyền sử dụng độc quyền kết quả nghiên cứu đó.
1.2.2.2 Đài Loan 8
Năm 1999, Đạo Luật về Khoa học công nghệ cơ bản (Fundamental Scienceand Technology Act of Taiwan – FSTA) được ban hành và được coi là một phiênbản của Đạo luật Bayh-Dole tại Đài Loan Tuy nhiên, giữa hai đạo luật có một sốđiểm khác biệt như sau trong quy định về việc xác nhận quyền sở hữu và tráchnhiệm của tổ chức, cá nhân đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhànước9:
- Về quyền SHTT, không như Bayh-Dole giao 100% quyền sở hữu cho tổchức phi lợi nhuận và doanh nghiệp, FSTA trao 100% quyền sở hữu của kết quảnghiên cứu cho đại học tư nhân và các tập đoàn nhưng lại chỉ giao từ 0% đến 50%quyền sở hữu các kết quả nghiên cứu cho các trường đại học và các cơ sở nghiêncứu công lập
- Nếu như Bayh-Dole không yêu cầu tổ chức thương mại hóa kết quả nghiêncứu phải trả lại lợi nhuận cho Nhà nước thì FSTA yêu cầu hoàn trả lại 50%-20%của thu nhập từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho Nhà nước Đối với các tổchức nghiên cứu, tỷ lệ phân chia trở lại cho Nhà nước là 20% trong khi đối với các
tổ chức khác, tỷ lệ này là 50%
- Bayh-Dole có quy định về việc khuyến khích chuyển giao kết quả nghiêncứu để phục vụ sản xuất, kinh doanh trong nước FSTA cũng vậy nhưng quy địnhcòn nghiêm ngặt hơn Đó là các tổ chức xác nhận quyền sở hữu đối với kết quảnghiên cứu sẽ phải xin phép Chính phủ trước khi muốn chuyển giao kết quả nghiêncứu sử dụng ngân sách nhà nước ra ngoài lãnh thổ Đài Loan
- Trong khi theo quy định của Bayh-Dole, Nhà nước sau khi giao quyền sở
Trang 37hữu kết quả nghiên cứu cho tổ chức, cá nhân khác sẽ không can thiệp vào quá trìnhthương mại hóa các kết quả nghiên cứu thì ở Đài Loan Nhà nước lại can thiệp khánhiều vào quá trình này, được thể hiện ở các quy định như hạn chế chuyển giaoquyền sử dụng độc quyền, hạn chế chuyển nhượng kết quả nghiên cứu, quy địnhliên quan đến việc mua sắm công, quy định quản lý tài sản nhà nước, quy định vềkiểm toán, kế toán chặt chẽ, quy định về nhân sự, về xung đột lợi ích,
Ngoài ra, đi theo Đạo luật Bayh-Dole, Hoa Kỳ cũng ban hành những văn bảnpháp luật khác nhằm đồng bộ thúc đẩy việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứunhư Đạo luật Cải tiến Công nghệ Stevenson – Wydler năm 1980, Đạo luật hợp tácnghiên cứu quốc gia năm 1984, Đạo luật Chuyển giao công nghệ liên bang năm1986, Trong khi đó, đi theo FSTA lại có rất ít những quy định như vậy Do đónhững quy định của FSTA năm 1999 chưa thực sự đạt được những thành công vềthương mại hóa các kết quả nghiên cứu như Đạo luật Bayh-Dole đã tạo ra tại HoaKỳ
Vì những bất cập nói trên, năm 2011, FSTA đã được sửa đổi bổ sung một sốnội dung như sau:
- Tại Mục 6 quy định việc giao quyền không cần tuân theo Luật về quản lýtài sản nhà nước
- Tại Mục 14 quy định về Chương trình nâng cao và tạo động lực cho môitrường nghiên cứu & phát triển
- Tại Mục 17 nêu những nội dung về nới lỏng những quy định về nhân lực.Ngoài FSTA, một số văn bản pháp luật khác liên quan đến việc thương mạihóa kết quả nghiên cứu cũng được sửa đổi bổ sung như sau:
- Thêm quy định về ngăn chặn xung đột về lợi ích
- Việc chuyển giao li-xăng ra nước ngoài: không cần cơ quan có thẩm quyềnđồng ý trước khi chuyển giao
- Giảm phần phân chia lợi nhuận tạo ra từ thương mại hóa kết quả nghiêncứu cho Nhà nước: Từ 50% xuống còn 40% đối với các tổ chức không phải là đơn
vị nghiên cứu
Trang 38- Đối với việc chuyển giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu:
+ Giảm thời gian thẩm định xuống còn 2 tháng
+ Nếu trong vòng 3 tháng kể từ khi hồ sơ được chấp thuận mà không có hợpđồng chuyển giao thì ý kiến thẩm định hết hiệu lực
Các quy định sửa đổi, bổ sung nói trên của Đài Loan là một bài học quantrọng cho Việt Nam xây dựng các quy định về giao quyền của mình Đặc biệt, kinhnghiệm của Đài Loan cho thấy việc xác nhận quyền sở hữu đối với kết quả nghiêncứu không là chưa đủ mà Nhà nước còn cần có những chính sách đi kèm để đảmbảo việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu được diễn ra một cách thuận lợi Ngoài
ra, sau khi giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu cho tổ chức khác, mặc dù vẫn cầnquản lý hiệu quả khai thác, sử dụng các kết quả nghiên cứu đã giao, Nhà nướckhông nên can thiệp quá sâu vào quá trình thương mại hóa các kết quả đó của tổchức được giao quyền
1.2.2.3 Malaysia
Cho đến năm 1988, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa họcMalaysia mới bắt đầu nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước, nhưng tại thời điểm nàyhoạt động hỗ trợ dành cho nghiên cứu vẫn được còn rất chồng chéo, tản mạn, thiếu
sự tập trung Việc tập trung và kết hợp các hoạt động hỗ trợ nghiên cứu lại với nhau
là rất cấp thiết, chính vì vậy Uỷ ban Quốc gia về Nghiên cứu Khoa học và Phát triển
đã đề ra kế hoạch tập trung nghiên cứu vào những lĩnh vực ưu tiên, đó là: Nôngnghiệp, Dược, Công nghiệp, Chiến lược và Khoa học Xã hội Kế hoạch đã đầu tư
588 triệu RM vào 2.329 dự án nghiên cứu và phát triển, trong đó dành 48% vốn chonhững lĩnh vực liên quan đến nông nghiệp (theo Bản Kế hoạch Malaysia lần thứsáu)10 Sau đó, việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu công được bắt đầu từ Kếhoạch lần thứ sáu (1991-1995), trong đó nhấn mạnh được việc cần phải đưa ra cácchương trình R&D mang định hướng thị trường cao hơn để nhằm khai thác thương
10 Theo Báo cáo tổng hợp, Đề án“ Xây dựng quy định về sở hữu, quản lý và khai thác tài sản trí tuệ được tạo
ra bằng nguồn kinh phí Nhà nước”, Cục Sở hữu trí tuệ, 2006.
Trang 39mại hóa kết quả nghiên cứu Các kế hoạch trong những giai đoạn tiếp heo củaMalaysia tiếp tục duy trì các nỗ lực này11.
Đến năm 2003, Kế hoạch quốc gia về chính sách KH&CN lần thứ hai
2002-2020 được thông qua, đề ra một chiến lược rõ ràng về phát triển hợp tác và thúc đẩythương mại hóa các kết quả R&D
Trong năm 2007, Malaysia thông qua Chính sách SHTT quốc gia Đến năm
2009, Chính phủ ban hành Chính sách thương mại hóa tài sản trí tuệ đối với các dự
án R&D do Chính phủ Malaysia tài trợ
Ngoài những chính sách chung nói trên để thúc đẩy hoạt động R&D vàthương mại hóa TSTT, ở Malaysia có một số quy định về quyền sở hữu tài sản trítuệ đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước như sau:
Theo Đạo Luật Bằng sáng chế năm 1983, người sử dụng lao động, bao gồm
cả các tổ chức nghiên cứu công lập, là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản trí tuệ dongười lao động của họ tạo ra Tuy nhiên, gần đây, vấn đề quyền sở hữu trí tuệ trongtrường hợp các kết quả nghiên cứu được chính phủ tài trợ đang được xem xét lại
Trong năm 2004, Bộ Khoa học, Công nghệ và Đổi mới Malaysia (MOSTI),thực hiện nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao, bắt đầu đánh giá lại hệ thống chínhsách để thu hút và khuyến khích các nhà khoa học Malaysia, bao gồm hệ thống hạtầng R&D, các hỗ trợ về tài chính, và các quỹ đầu tư mạo hiểm cho KH&CN Bộcũng xem xét lựa chọn chính sách về tài sản trí tuệ tương tự như Đạo Luật Bayh -Dole ở Hoa Kỳ12
Tuy nhiên thay vào việc học tập hoàn toàn mô hình của Bayh-Dole, Chínhphủ quyết định sẽ theo đuổi một chính sách ba chiều về chia sẻ quyền đối với tài sảntrí tuệ, trong đó cả 03 đối tượng: chính phủ, viện nghiên cứu, và nhà sáng chế sẽ
Trang 40cùng sở hữu các kết quả nghiên cứu13 Trong một thông báo tháng 3 năm 2006,người đứng đầu của MOSTI công bố "các công trình nghiên cứu được thực hiện từtrợ cấp của Chính phủ sẽ phải thuộc đồng sở hữu của Chính phủ, các trường đạihọc, cũng như các nhà khoa học có liên quan.14"
Trong năm 2009, Chính sách thương mại hóa tài sản trí tuệ đối với các dự ánR&D do chính phủ Malaysia tài trợ làm rõ hơn việc quy định về quyền sở hữu đốivới tài sản trí tuệ thực hiện từ trợ cấp của Chính phủ15 Cụ thể, có các trường hợp vềquyền sở hữu như sau:
- Sở hữu duy nhất của chính phủ
- Sở hữu duy nhất của trường đại học (hay tổ chức nghiên cứu được nhận tàitrợ)
- Đồng sở hữu của tổ chức (tổ chức nghiên cứu và chính phủ)
- Đồng sở hữu với bên thứ 3
Trong các trường hợp trên, trường hợp về đồng sở hữu vẫn là phổ biến nhất
Từ khi có những chính sách về giao quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ đượctạo ra bằng tài trợ của nhà nước, nhiều văn phòng CGCN đã được thành lập tại cáctrường đại học và viện nghiên cứu hàng đầu Khi thương mại hóa thành công tài sảntrí tuệ, việc phân chia lợi nhuận được quy định như sau: Chủ sử dụng lao động đượcyêu cầu phải chia sẻ thu nhập với các nhà nghiên cứu theo cách thức phân chia: đốivới 250.000 RM (tương đương với khoảng 77.460 USD) thu nhập đầu tiên; tác giảđược hưởng 100%; đối với thu nhập trên 5.000.000 RM (tương đương với khoảng1.549.000 USD): tác giả - 40% và tổ chức - 60%
Hầu hết các trường đại học và các viện nghiên cứu đã xây dựng các chính
13 Miranda P 2005 Malaysia Contemplates Intellectual Property (IP) Rights Sharing Patrick Miranda Co.: Singapore 21 November www.mirandah.com.