TS Phùng Chí Sĩ 2005; Bài báo “Pháp luật Trung Quốc về phòng, chống ô nhiễm dầu từ tàu biển và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Mai Hải Đăng đăng trên tạp chí Luật học số 5
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG NGỪA, KHẮC PHỤC
SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn “Pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường tại Việt Nam” xin cam đoan:
- Đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tác giả
- Luận văn được thực hiện độc lập dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Thị Duyên Thủy
- Những thông tin, số liệu được trích dẫn trong luận văn đầy đủ, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
- Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong các luận văn khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Bắc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Thị Duyên Thủy - người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy, cô Khoa Đào tạo sau đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội, cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy, Cô và các bạn học viên./
Hà nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Học viên
Nguyễn Văn Bắc
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5.1 Mục đích nghiên cứu 4
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Kết cấu 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG NGỪA, KHẮC PHỤC SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG 6
1.1 Tổng quan về sự cố môi trường 6
1.1.1 Khái niệm sự cố môi trường 6
1.1.2 Phân loại sự cố môi trường 9
1.1.3 Khái niệm phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 12
1.2 Tổng quan về pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 14
1.2.1 Khái niệm, nội dung pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 14
1.2.2 Các nguyên tắc của pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 19
1.2.3 Vai trò của pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG NGỪA, KHẮC PHỤC SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM 26
2.1.Các quy định chung về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 26
2.1.1 Nội dung cơ bản của các quy định chung về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 26
Trang 62.1.2 Đánh giá thực trạng các quy định chung về phòng ngừa, khắc phục, sự
2.3 Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong phòng ngừa, khắc phục
sự cố môi trường 46
2.3.1 Các quy định pháp luật về trách nhiệm hành chính trong phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 46 2.3.2 Các quy định pháp luật về trách nhiệm dân sự trongphòng ngừa, khắc
phục sự cố môi trường 48 2.3.3 Các quy định về trách nhiệm hình sự trong phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường 50
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 54 CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG NGỪA, KHẮC PHỤC SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM 55 3.1 Các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa,
khắc phục sự cố môi trường 55
3.1.1 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi
trườngphải bảo đảm phát triển bền vững 55 3.1.2 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường phải đảm bảo cơ chế phối hợp 56 3.1.3 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường phải đảm bảo khắc phục nhanh chóng, kịp thời sự cố 57
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật pháp luật về phòng ngừa, khắc phục
sự cố môi trường ở Việt Nam 57
3.2.1 Các giải pháp pháp lý 58 3.2.2 Các giải pháp khác 61
Trang 7TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 65 KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hoạt động phát triển kinh tế – xã hội hiện nay đã và đang tạo ra nhiều áp lực tiêu cực lên môi trường và đặt ra những yêu cầu cấp thiết trong công tác bảo vệ môi trường, trong đó, việc phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường cần được đặc biệt quan tâm
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hậu quả nghiêm trọng khi các sự cố môi trường xảy ra mà chủ yếu là do những sơ xuất, bất cập trong công tác phòng ngừa, năng lực và hiệu quả hạn chế trong các hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố Đơn cử
sự cố môi trường nghiêm trọng như nổ hóa chất Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng, Đạm Hà Bắc, Photpho vàng Lào Cai… gây rất nhiều thiệt hại cho kinh tế xã hội
Đó là chưa kể đến các sự cố tràn dầu ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường các khu vực có biển Ước tính, từ năm 1989 đến nay, vùng biển nước ta có khoảng trên 100 vụ tràn dầu do tai nạn tàu, các vụ tai nạn này đều đổ ra biển từ vài chục đến hàng trăm tấn dầu Những vụ tràn dầu thường xảy ra vào tháng 3 và tháng
4 hàng năm ở miền Trung; từ tháng 5 đến tháng 6 ở miền Bắc Sự cố môi trường tràn dầu có thể xem là một trong những dạng sự cố làm tổn thất kinh tế lớn nhất, trong các loại sự cố môi trường do con người gây ra Hiện việc xác định vị trí dầu tràn và khắc phục sự cố này ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, cả về cơ sở pháp luật và các trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật chuyên dụng để khắc phục ô nhiễm tràn dầu Theo đánh giá từ phía Tổng cục Môi trường, mặc dù đã có nhiều quy định và hướng dẫn nhưng công tác phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường vẫn chưa đạt hiệu quả cao như mong đợi Công tác phòng ngừa chưa được các tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đúng mức, dẫn đến nhiều sự cố xảy ra đã gây ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và các hoạt động kinh tế, xã hội Trong đó nguyên nhân dẫn đến công tác ứng phó sự cố môi trường chưa hiệu quả là do còn hạn chế về nguồn lực, năng lực và cơ chế phối hợp
Trang 9Vì vậy, tác giả lựa chọn “ Pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Bảo vệ môi trường hiện nay đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm bởi những giá trị to lớn của nó về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng… Mặt khác, xã hội càng phát triển thì nhu cầu tác động đến môi trường càng cao Đi đôi với việc thỏa mãn các nhu cầu của con người là nguy cơ xảy ra các sự cố môi trường Vì vậy, có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu được công bố có liên quan đến lĩnh vực này dưới nhiều góc độ khác nhau
Ở Việt Nam, liên quan đến phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường, có một số
công trình nghiên cứu sau đã được công bố: Đề tài “Nghiên cứu đề xuất biện pháp
phòng ngừa và phương án ứng phó sự cố tràn dầu mức I tại TP Đà Nẵng” của
PGS TS Phùng Chí Sĩ 2005; Bài báo “Pháp luật Trung Quốc về phòng, chống ô
nhiễm dầu từ tàu biển và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Mai Hải Đăng đăng trên tạp chí Luật học số 5/2013; “Khắc phục sự cố hàng hải nhằm kiểm
soát ô nhiễm môi trường biển” của tác giả Lưu Ngọc Tố Tâm, đăng trên tạp chí
Luật học số 7/2011; “Tổng quan pháp luật về phòng chống ô nhiễm dầu ở các vùng
phần Kinh tế - Luật 24; “Lúng túng với sự cố môi trường” của Phương Anh đăng trên báo Tài Nguyên và Môi trường 7/2015;“ Một số quy định của pháp luật trong
công tác phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường” của Th.S Nguyễn Đức Hưng đăng trên Tạp chí Môi trường 1/2014
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập chung đến sự cố môi trường, hoặc đề cập một hoặc một vài khía cạnh có liên quan đến khắc phục sự cố môi trường, chủ yếu là sự cố tràn dầu Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố tràn dầu
Vì vậy, “Pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường tại Việt Nam”
là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này ở cấp độ thạc sĩ luật học
Trang 103 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền và các phương pháp nghiên cứu: phân tích, thống kê, đối chiếu, lịch sử, chứng minh, tổng hợp, quy nạp Trong đó, phân tích, thống kê, so sánh và chứng minh được xác định
là những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn Cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương, mục của luận văn
để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài Phương pháp thống kê được sử dụng
ở cả ba chương để tập hợp, xử lí các tài liệu, số liệu Phục vụ cho việc nghiên cứu
đề tài
Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh các luận điểm, các nhận định về thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự
cố môi trường, phương pháp phân tích logic các quy phạm pháp luật
Phương pháp tổng hợp, quy nạp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra những kết luận của từng chương và kết luận chung của luận văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các luận điểm, quan điểm về sự cố môi trường; phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường; các quy định của pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường và thực tiễn thực thi pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự
cố môi trường ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường là những hoạt động đòi hỏi kết hợp nhiều biện pháp khác nhau nên nó có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ Luật học, Luận văn không nghiên cứu các vấn đề kỹ thuật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường mà chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ pháp lý Theo đó, Luận văn tập trung
Trang 11nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn: làm rõ các vấn đề lý luận và các quy định hiện hành của pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường theo pháp luật Việt Nam; phát hiện những điểm hạn chế và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện về pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường ở Việt Nam
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận, các quan điểm pháp luật về sự số môi trường; phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường và pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường, từ đó phát hiện những vướng mắc, khó khăn và bất cập trong việc áp dụng các quy định pháp luật Trên cơ sở đó, luận văn
đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường, nhằm góp phần phục vụ cho công tác xây dựng, hoàn thiện văn bản pháp luật trong lĩnh vực này
Trang 12Chương 3 Hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường tại Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG NGỪA, KHẮC PHỤC SỰ CỐ
MÔI TRƯỜNG
1.1 Tổng quan về sự cố môi trường
1.1.1 Khái niệm sự cố môi trường
Sự cố là những tai nạn, rủi ro xảy ra trong quá trình vận hành, biến đổi của thiên nhiên hoặc trong bất kỳ hoạt động nào của con người Những tai nạn, rủi ro này chỉ là những tình huống bất thường và không phải lúc nào cũng xảy ra Trong lĩnh vực môi trường, thuật ngữ “sự cố môi trường” được tiếp cận như cách hiểu chung về thuật ngữ “sự cố” như trên, đó là những hiện tượng diễn ra một cách đột ngột, đột biến, phát sinh từ thiên nhiên hoặc do hoạt động của con người, hoặc từ sự kết hợp của cả hai yếu tố trên Đặc biệt, những sự cố này thường gây ra tác động xấu, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường 2014 thì: “Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng” Sự cố môi trường có thể xảy ra do:
- Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;
- Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng;
Trang 14- Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác;
- Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ
Để xác định một hiện tượng là sự cố môi trường, cần căn cứ vào ba tiêu chí:
Tiêu chí thứ nhất: Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro Đây là dấu hiệu chung của các loại sự cố Khi nó xảy ra, con người thường ở thế bị động Tuy nhiên, cùng với sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật, con người đã chủ động hơn trước các sự cố, đã có thể dự báo được trước, nhưng các sự cố này luôn luôn xảy ra nằm ngoài mong muốn của con người
Tiêu chí thứ hai: Nguyên nhân gây ra sự cố môi trường có thể từ hai nguyên nhân: từ các hoạt động của con người hoặc từ những biến đổi của tự nhiên Các sự
cố môi trường xảy ra trong quá trình hoạt động của con người là các sự cố kỹ thuật như: sự cố trong các lò phản ứng hạt nhân, sự cố sập hầm lò… Còn các sự cố môi trường xảy ra do thiên nhiên thường là do những biến đổi bất thường của thiên nhiên như: bão, lũ lụt, hạn hán, sóng thần…
Tiêu chí thứ ba: Hậu quả của sự cố môi trường là gây ô nhiễm, suy thoái và biến đổi môi trường nghiêm trọng Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt sự cố môi trường với các sự cố khác Điều đó được hiểu là những tai biến, rủi ro có thể do thiên nhiên hoặc do con người, nhưng nếu những rủi ro ấy không gây ô nhiễm, suy thoái môi trường thì sự cố đó không phải là sự cố môi trường
Sự cố môi trường có thể để lại hậu quả là gây ô nhiễm, suy thoái và biến đổi môi trường nghiêm trọng Hậu quả này thường rất lớn và không dễ khắc phục Có thể chứng minh cụ thể cho nhận định này thông qua việc phân tích hậu quả của sự
cố tràn dầu như sau:
Trang 15Sự cố tràn dầu làm ảnh hưởng đến môi trường đất, khí và đặc biệt gây nguy hại nghiêm trọng môi trường nước do hầu hết các vụ tràn dầu xảy ra trên biển hay các kênh rạch nơi có tàu thuyền qua lại Khi sự cố tràn dầu xảy ra trên đất hoặc trên nước, không chỉ làm ô nhiễm môi trường hiện tại mà còn để lại những hậu quả nghiêm trọng và lâu dài về sau Khi dầu tràn trên đất và trên nước xâm nhập vào bờ biển và bờ sông nếu không được xử lý thì để càng lâu dầu càng ngấm sâu Một thời gian sau có thể trên mặt đất không còn dấu hiệu của dầu do bị nước thủy triều rửa trôi hay bị các lớp đất khác lấp lên, nhưng thực chất phần lớn lượng dầu tràn đã ngấm sâu xuống dưới, không thể tự phân hủy, làm nhiễm độc lâu dài môi trường đất
và nước ngầm Dầu nhiễm vào đất thì sẽ và tác động lên cây trồng làm chậm và giảm tỷ lệ nảy mầm của cây, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của các loại thực vật Tràn dầu hay xảy ra nhất trên lớp nước mặt của biển và người ta thấy rằng nó không chỉ ảnh hưởng lập tức đến khu vực xảy ra sự cố tràn dầu mà nó còn ảnh hưởng lâu dài và rộng khắp trên cả các khu vực thường xuyên có tàu bè qua lại Một khi xảy ra sự cố tràn dầu, các loài phiêu sinh vật như ấu trùng, trứng cá, các loài thủy sản, hải sải, các loài thực vật như rong biển, tảo… ở nơi xảy ra sự cố và nơi dầu loang đến đều chịu ảnh hưởng nghiêm trọng Ngay cả đối với loài động vật như chim, động vật có vú, chủ yếu sống trên cạn và chỉ tiếp xúc với môi trường biển cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi dầu loang trôi dạt vào bờ
Ô nhiễm dầu gây nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, đặc biệt là hệ sinh thái như hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển, vùng triều bãi cát, đầm phá và các rạn san hô Ô nhiễm dầu làm giảm khả năng sức chống đỡ, tính linh hoạt và khả năng khôi phục của các hệ sinh thái Ngoài ra, dầu tràn chứa độc tố làm tổn thương
hệ sinh thái, có thể gây suy vong hệ sinh thái
Dầu tràn gây nên những thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Dầu lan trên biển và dạt vào bờ trong thời gian dài không được thu gom sẽ làm suy giảm lượng cá thể sinh vật, gây thiệt hại cho ngành khai thác và nuôi trồng thủy, hải sản Dầu gây ô nhiễm môi trường nước làm cá chết hàng
Trang 16loạt do thiếu ôxy hòa tan Dầu bám vào đất, kè đá, các bờ đảo làm mất mỹ quan, gây mùi khó chịu dẫn đến doanh thu của ngành du lịch cũng bị thiệt hại nặng nề Nạn tràn dầu còn làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cảng cá, cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu biển Do dầu trôi nổi làm hỏng máy móc, thiết bị khai thác tài nguyên và vận chuyển đường thủy
Trên thế giới, các thống kê cho thấy từ năm 1900 đến nay, trung bình mỗi năm trên thế giới có từ 2 đến 4 vụ tràn dầu lớn trên biển Những sự cố nổi bật có thể
kể tới là: Năm 1978, tàu Amoco Cadiz làm tràn 231 ngàn tấn dầu thô xuống vùng Brittany, tây bắc nước Pháp; Năm 1989, tàu Exxon Valdez làm tràn 40 ngàn tấn dầu ngoài khơi Alaska (Hoa Kỳ); Năm 2002, tàu Prestige làm tràn 77 ngàn tấn dầu ngoài khơi phía tây bắc Tây Ban Nha; Năm 2007, tàu Hebei Spirit làm tràn 2,7 triệu galong dầu ra biển tây nam Hàn Quốc Hầu hết các vụ tràn dầu đều biến thành thảm họa với những tổn thất nghiêm trọng về sinh thái, kinh tế và xã hội [30]
1.1.2 Phân loại sự cố môi trường
Sự cố môi trường có thể được phân loại theo nhiều cách Cụ thể như sau:
- Căn cứ vào nguyên nhân của sự cố Đây là cách phân loại thông thường nhất Nguyên nhân gây ra sự cố môi trường khá đa dạng, chủ yếu dựa trên ba nguyên nhân chính:
+ Sự cố môi trường do biến đổi của tự nhiên: Loại sự cố này xảy ra thông qua những tác động, biến đổi của thiên nhiên mà dẫn đến sự cố môi trường như động đất, lũ lụt, sóng thần, bão, phun trào núi lửa, cháy rừng, mưa đá;
+ Sự cố môi trường do tác động của con người, như tràn dầu, rò rỉ các chất phóng xạ, nổ lò phản ứng hạt nhân Vì đây là sự cố môi trường nên khi nói tới tác động của con người thì cần hiểu là những hoạt động của con người có liên quan đến môi trường Rất nhiều hoạt động có thể gây ra sự cố môi trường như hoạt động công nghiệp trong các nhà máy, xí nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp với hành vi xả thải vào bầu môi trường không khí, nước, đất; hành vi sử dụng nhiều loại hóa chất, dược phẩm, phân bón nguy hại gây ảnh hưởng xấu đến môi trường; hoạt động khai
Trang 17thác tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản; hoạt động nghiên cứu các chất phóng xạ, nguyên tử, phản ứng hạt nhân; hay đơn giản chỉ là những hoạt động sinh hoạt hằng ngày của con người
+ Sự cố môi trường do sự kết hợp từ tác động của yếu tố thiên nhiên và của con người Dạng sự cố môi trường do nguyên nhân này khá đặc biệt, thường diễn ra theo một quá trình tương đối phức tạp Ví dụ điển hình cho loại sự cố này là hiện tượng mưa axit Mưa axit là là hiện tượng lượng mưa có độ pH thấp hơn 5.6, bao gồm các ôxít nitơ hoặc NOx và sulfur dioxide hoặc SO2 hình thành từ quá trình công nghiệp của con người như sản xuất, chế biến dầu, sắt thép, quá trình hoạt động của nhà máy điện Các chất này được phát thải lên bầu khí quyển và gây ra một số phản ứng hóa học tự nhiên, tạo ra mưa axit Sự cố mưa axit có ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến môi trường, gây nguy hại cho hệ sinh thái và sức khỏe con người
Tóm lại, việc phân biệt rõ nhóm nguyên nhân của sự cố môi trường có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của từng chủ thể khi có sự cố xảy ra, từ
đó xây dựng được phương pháp phòng ngừa, ứng phó hiệu quả tương ứng với từng loại sự cố
- Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh sự cố, sự cố môi trường bao gồm: sự cố thủy văn (lũ lụt, sóng thần…); sự cố địa chất (động đất, núi lửa phun trào…); sự cố khí quyển (bão nhiệt đới, hiệu ứng nhà kính…)
- Căn cứ vào đối tượng ảnh hưởng của sự cố, có thể phân loại thành sự cố gây tác động cho sức khỏe, tính mạng con người (sự cố cháy nổ…); sự cố gây tác động cho hệ sinh thái (sự cố tràn dầu…)
- Căn cứ vào lĩnh vực khoa học, sự cố môi trường được phân loại thành sự cố sinh học, sự cố hóa học
- Theo diễn biến của sự cố, bao gồm: loại cấp diễn, thường xảy ra nhanh, mạnh và đột ngột, ví dụ: động đất, cháy nổ…; loại trường diễn xảy ra chậm, trường
kỳ như: nhiễm mặn, sa mạc hoá
Trang 18Như vậy, sự cố môi trường có thể đồng thời xảy ra với nhiều nguồn khác nhau
và rất đa dạng về nguồn gốc như do hiện tượng tự nhiên bất thường (bão, lũ lụt, động đất, sóng thần, sạt lở đất ), do hoạt động của con người (tràn dầu, tràn đổ, rò
rỉ hóa chất, cháy nổ, vỡ đập thủy điện, cháy rừng ); rất đa dạng về quy mô (nhỏ, trung bình, lớn ) và mức độ tác động (nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng); rất phức tạp về tổ chức quản lý, phối hợp (cấp quốc tế, quốc gia, vùng, tỉnh, huyện, xã )
Trong những năm gần đây, tại Việt Nam, các sự cố môi trường là hiện tượng xảy
ra tương đối phổ biến với nhiều loại sự cố môi trường, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Có thể kể đến một số loại sự cố xảy ra trong năm 2015 tại Việt Nam như sau:
Đầu tiên, là vụ cá chết hàng loạt tại làng bè Hiệp Hòa trên sông Đồng Nai (xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai) Sự việc đã manh nha đợt 1 (31/12/2015)
và tiếp tục cho đến đợt 2 (03/01/2016) thì tình trạng cá chết hàng loạt đã lan trên diện rộng và trầm trọng hơn Tính cho đến thời điểm này, đã có hơn 370 tấn cá của dân làng bè bị chết, thiệt hại kinh tế hơn 10 tỷ đồng Nguyên nhân được xác định là hàm lượng ô xy trong nước bị thụt giảm quá mạnh, do mật độ bè và mật độ nuôi cá quá dày đặc đã giới hạn không gian sống của cá, thêm vào đó, dân làng bè áp dụng chế độ dinh dưỡng cho cá không tuân thủ theo yêu cầu của cơ quan chức năng; cho
cá ăn các loại thức ăn không đảm bảo vệ sinh, an toàn, áp dụng chế độ ăn tăng cường Những điều này làm tăng hàm lượng hữu cơ, phát sinh một lượng lớn vi khuẩn có hại trong nước, qua đó làm hàm lượng DO bị suy giảm Đáng lưu ý, thời điểm xảy ra tình trạng cá bè bị chết, Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường còn ghi nhận có sự thay đổi ngột về chế độ thủy triều không theo quy luật tự nhiên Điều này đã làm hạn chế sự khuyếch tán ôxy trong nước, dẫn đến hiện tượng suy giảm hàm lượng DO
Thứ hai là sự cố vỡ bể chứa bùn thải chì thuộc nhà máy chế biến chì kẽm của Công ty THHH CKC tại Lạng Cá, thị trấn Pác Miều, huyện Bảo Lâm (Cao Bằng)
Trang 19ngày 05/01/2016 Sự cố xảy ra ước tính khiến cho 2.000 m3 nước thải và bùn thải
có chứa chì tràn ra môi trường, vùi lấp 1.000 m2 đất ruộng của bà con bên dưới, rất may không gây thiệt hại về người Tuy nhiên, việc tràn bùn thải này rất nguy hại bởi trong bùn thải không chỉ có chì mà còn có kim loại nặng Kim loại nặng lẫn vào nước và đất sẽ gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến các sinh vật và thậm chí là cả con người Giải thích về cơ chế tác động tới con người, TS Phùng Chí Sỹ, chuyên gia môi trường cảnh báo, bùn thải chì, kẽm khi ra môi trường có thể tích tụ trong rau, tôm, cá…, con người ăn vào sẽ rất nguy hiểm Nếu lượng bùn thải đi vào nguồn nước cũng tác động tới con người khi tắm giặt [22]
Tiếp đến là sự cố mất nguồn phóng xạ Cs-137 ở Nhà máy Xi măng Bắc Kạn (Phường Xuất Hóa, TP Bắc Kạn) bị mất trong quá trình lưu giữ tại kho Sự việc đang khiến người dân quanh vùng lo lắng Ngay sau khi nhận được thông tin, Sở KH&CN Bắc Kạn đã báo cáo UBND tỉnh, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân về sự cố trên UBND tỉnh Bắc Kạn đã chỉ đạo các đơn vị có liên quan phối hợp với Cục An toàn bức xạ và hạt nhân tìm kiếm nguồn phóng xạ bị mất Đây không phải là lần đầu tiên ở Việt Nam xảy ra sự cố mất nguồn phóng xạ Gần đây nhất, tháng 03/2015, nhà máy thép Pomina 3 (Bà Rịa – Vũng Tàu) cũng bị mất nguồn phóng xạ dùng để đo mức thép Co-60 Trước đó, vào tháng 09/2014, một công ty tại TP Hồ Chí Minh cũng bị lấy cắp thiết bị chụp ảnh NDT có chứa nhiều chất phóng xạ, trong
đó có chất Iridium 192 có thể gây nhiễm độc và chết người [37]
Có thể nói chỉ trong một thời gian ngắn đã liên tiếp xảy ra những sự cố môi trường có tính chất nghiêm trọng trên địa bàn cả nước, đã dấy lên mối lo ngại về an toàn môi trường Vì vậy, rất cần có các biện pháp phòng ngừa và khắc phục sự cố môi trường khi nó xảy ra
1.1.3 Khái niệm phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
*Khái niệm phòng ngừa sự cố môi trường
Có thể hiểu đơn giản phòng ngừa là hoạt động nhằm ngăn ngừa, hạn chế, đề phòng những tác động xấu có thể xảy ra Nếu trên một phương diện tổng quát hơn
Trang 20thì phòng ngừa bao gồm việc lập kế hoạch, phương án để chuẩn bị đối phó với những bất lợi sẽ ảnh hưởng đến tự nhiên và đời sống con người Dưới góc độ học thuật, theo Từ điển tiếng Việt thì phòng ngừa là hành động không để cho điều bất lợi, tai hại xảy ra không để cho cái xấu, cái không hay có thể xảy ra Còn theo Luật phòng chống thiên tai 2013 thì phòng ngừa là việc trang bị năng lực và kiến thức cần thiết của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm sẵn sàng ứng phó, khắc phục hậu quả
và tái thiết một cách kịp thời và hiệu quả
Với cách tiếp cận nêu trên, trong lĩnh vực môi trường, có thể hiểu khái niệm phòng ngừa sự cố môi trường là những hoạt động nhằm ngăn ngừa, loại bỏ những nguyên nhân có thể gây ra sự cố môi trường Phòng ngừa sự cố môi trường giữ một vai trò hết sức quan trọng trong quản lý môi trường Do đó, nếu chúng ta có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả và thiết thực sẽ giúp cho con người có thể phản ứng kịp thời và nhanh chóng trước các sự cố môi trường có thể xảy ra, giúp đoán trước được các sự cố để từ đó nhằm hạn chế đến mức tối đa hậu quả có thể xảy ra Đồng thời tạo ý thức cho con người hành động đúng pháp luật, theo kế hoạch và trình tự
để hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra
* Khái niệm khắc phục sự cố môi trường
Theo cách hiểu chung nhất, khắc phục sự cố là một kế hoạch cùng với những chuẩn bị về cơ sở vật chất, về con người, về quy trình để mỗi khi xảy ra những sự
cố lớn thì không những các dữ liệu quan trọng không bị mất mà các hoạt động bình thường vẫn tiếp tục được duy trì như không có sự cố xảy ra
Dưới góc độ pháp lý, Luật Bảo vệ môi trường 1993 (đạo luật bảo vệ môi trường đầu tiên ở Việt Nam) có giải thích: khắc phục sự cố môi trường là hoạt động loại trừ nguyên nhân gây sự cố, cứu người, cứu tài sản, giúp đỡ ổn định đời sống nhân dân và theo dõi diễn biến môi trường và phục hồi môi trường ở những nơi bị xâm hại Tuy nhiên, cách giải thích này cho thấy khái niệm khắc phục sự cố môi trường có nội hàm tương đối rộng, nó bao gồm trong đó cả hoạt động phòng ngừa
sự cố môi trường Nhưng cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn thì phòng ngừa
Trang 21sự cố môi trường và khắc phục sự cố môi trường là những hoạt động độc lập, mặc
dù chúng có môi liên hệ gắn kết với nhau Vì vậy, cần hiểu khái niệm khắc phục sự
cố môi trường như sau: khắc phục sự cố môi trường là việc tiến hành các biện pháp theo kế hoạch đã được chuẩn bị sẵn nhằm xử lý hậu quả và phục hồi môi trường do
sự cố môi trường
Tại Việt Nam và các nước khác trên thế giới, hoạt động phát triển kinh tế -
xã hội hiện nay đã và đang tạo ra nhiều áp lực tiêu cực lên môi trường và đặt ra những yêu cầu cấp thiết trong công tác bảo vệ môi trường, trong đó, việc phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường cần được đặc biệt quan tâm Có nhiều nguyên nhân gây ra sự cố hóa chất, do cháy, nổ hóa chất, rò rỉ hóa chất độc hại,… nhưng thiệt hại gây ra đều rất lớn, làm chết người, tổn hại lớn về kinh tế và hủy hoại nghiêm trọng môi trường Trên thế giới đã xảy ra nhiều thảm họa do sự cố hóa chất, như vụ nổ tại nhà máy sản xuất Nitrat Amôn Oppau, Đức ngày 21/9/1921 làm chết gần 500 người; tại Nhà máy sản xuất Nitrat Amôn ở thành phố Texas, Hoa Kỳ ngày 16/4/1947 phá hủy hơn 90% các công trình của thành phố và làm chết gần 600 người; Vụ rò rỉ methyl isocyanate tại Công ty thuốc trừ sâu Union Carbide, Bhopal,
Ấn Độ ngày 2 và 3/12/1984 làm chết tại chỗ hơn 2800 người, gây bệnh hô hấp và mắt cấp tính cho khoảng 20.000 người, thiệt hại kinh tế ước tính từ 350 triệu đến 3
tỷ đô la Mỹ… và nhiều sự cố tràn dầu khác làm thiệt hại vô cùng lớn về kinh tế và phá hủy nghiêm trọng môi trường và các hệ sinh thái [35] Tại Việt Nam cũng đã xẩy ra nhiều sự cố hóa chất, sự cố tràn dầu gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và các hoạt động kinh tế, xã hội Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hậu quả nghiêm trọng khi các sự cố môi trường nói chung và sự cố do hóa chất nói riêng xảy ra mà chủ yếu là do những sơ xuất, bất cập trong công tác phòng ngừa, năng lực và hiệu quả hạn chế trong các hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố
1.2 Tổng quan về pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
1.2.1 Khái niệm, nội dung pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
* Khái niệm pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
Trang 22Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng cách sử dụng các công cụ pháp luật, đạo đức, hương ước, luật tục, phong tục tập quán…để tác động lên các quan hệ
xã hội, làm cho chúng trở nên thay đổi và phát triển theo những mục đích, định hướng nhất định nhằm duy trì và bảo vệ trật tự xã hội Trong các công cụ đó, với việc quy định các quy tắc xử sự chung bắt buộc các đối tượng bị điều chỉnh phải tuân theo đồng thời có các chế tài nghiêm khắc để trừng trị các trường hợp vi phạm, pháp luật là công cụ đặc biệt và hữu hiệu để Nhà Nước tổ chức và quản lý mọi hoạt động trong xã hội Do vậy, hoạt động phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường cũng không thể nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật
Từ những nhận thức, phân tích về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường,
có thể hiểu khái niệm pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường có thể được giải thích như sau:“Pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường là
một bộ phận của pháp luật môi trường, được ban hành nhằm ngăn ngừa, loại bỏ những nguyên nhân có thể gây ra sự cố môi trường; xử lý hậu quả và phục hồi môi trường do sự cố môi trường gây ra”. Khái niệm này được phân tích cụ thể như sau:
Thứ nhất, pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường là một bộ phận của pháp luật môi trường Sự cố môi trường là một trong những hiện tượng khi xảy ra có thể gây ô nhiễm, suy thoái và biến đổi môi trường nghiêm trọng Một trong những mục đích của Luật môi trường là kiểm soát các nguy cơ gây ra những biến đổi xấu cho môi trường Vì vậy, pháp luật môi trường, khi điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động của con người, không thể thiếu các quy định về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
Thứ hai, pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường bao gồm các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường, thông qua việc ban hành các quy định pháp luật liên quan đến phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường, nhằm tạo ra một hành lang pháp lý giúp cho các hoạt động có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Nhà nước, cá nhân, các tổ chức kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp Trong đó, với việc quy định cơ quan Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo,
Trang 23hướng dẫn, kiểm tra, giám sát; còn các tổ chức, cá nhân là nguồn lực chủ yếu thực hiện hoạt động Các phương án phòng ngừa, ứng phó đều theo phương châm toàn dân cùng làm để đạt được hiệu quả cao mà không tốn quá nhiều chi phí cũng như nguồn nhân lực Pháp luật về phòng ngừa, khắc phục, ứng phó với sự cố môi trường được xây dựng một cách khoa học, phù hợp với tình hình phát triển của xã hội nói chung cũng như khả năng của từng doanh nghiệp nói riêng Khi xây dựng kế hoạch, biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố phải thực tế và nằm trong khả năng thực hiện được Nếu là các kế hoạch, biện pháp bất khả thi hoặc quá tốn kém thì không những không đáp ứng được yêu cầu của công tác phòng ngừa, ứng phó mà còn không ngăn chặn được thiệt hại khi sự cố xảy ra
Thứ ba, mục đích của pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường là ngăn ngừa, loại bỏ những nguyên nhân có thể gây ra sự cố môi trường; xử lý hậu quả và phục hồi môi trường do sự cố môi trường gây ra Theo đó, các quy phạm pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường hướng tới sự chủ động của các tổ chức cá nhân cũng như các cơ quan nhà nước trong việc loại bỏ các nguyên nhân gây sự cố môi trường và chủ động áp dụng các biện pháp cần thiết khi sự cố môi trường xảy ra ngoài mong muốn
* Nội dung pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
Để phòng ngừa, giảm thiểu nguy cơ xảy ra sự cố môi trường và chủ động áp dụng các biện pháp khắc phục khi sự cố môi trường xảy ra, pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường điều chỉnh các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, các quy định chung về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường Đây là nhóm các quy phạm pháp luật được áp dụng để điều chỉnh hoạt động của tất
cả các tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động phát triển Điều đó có nghĩa là, tổ chức, cá nhân dù hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào (lĩnh vực hóa chất, kinh doanh dịch vụ vận chuyển hay sản xuất công nghiệp thông thường) đều phải đảm bảo các yêu cầu chung về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường đó
Trang 24Các nội dung điều chỉnh trong nhóm quy phạm này thường là: các yêu cầu về phòng ngừa sự cố môi trường; các yêu cầu về kế hoạch, biện pháp ứng phó sự cố môi trường; trách nhiệm của chủ thể có liên quan trong phòng ngừa, khắc phục sự
cố môi trường… Hiện nay, pháp luật phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm môi trường của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định về các vấn đề đó
Thứ hai, các quy định pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường trong một số lĩnh vực đặc thù Đây là nhóm các quy định pháp luật điều chỉnh về trách nhiệm phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trong những lĩnh vực có nguy
cơ cao xảy ra sự cố, với hậu quả lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người Đó là các lĩnh vực như hóa chất, dầu khí, vận chuyển hàng nguy hiểm… Bên cạnh việc đảm bảo các yêu cầu chung, tổ chức cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này còn phải thực hiện các yêu cầu riêng nhằm phòng ngừa và khắc phục sự cố môi trường phù hợp với đặc thù lĩnh vực hoạt động của mình
Thứ ba, các quy định pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong phòng ngừa
và khắc phục sự cố môi trường Nhóm quy phạm này quy định về các biện pháp xử
lý vi phạm như trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm hình sự
áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các yêu cầu phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường theo quy định của pháp luật Trên thế giới, điều chỉnh về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường, pháp luật của hầu hết các quốc gia đều bao gồm các nội dung trên Chẳng hạn, tại Canada, phòng ngừa khắc phục, ứng phó với sự cố môi trường là hành động để giảm thiểu hoặc loại bỏ các rủi ro về môi trường liên quan đến các thảm họa thiên nhiên và con người gây ra Đây được xem là một quan hệ đối tác giữa tư nhân và chính phủ Ngăn ngừa tình trạng khẩn cấp về môi trường là trách nhiệm của các cơ quan thuộc chính phủ, các tổ chức cá nhân có thể được chính phủ hỗ trợ kinh phí để thực hiện phản ứng và phục hồi môi trường khi có sự cố xảy ra Luật môi trường của Canada áp dụng các nguyên tắc và ràng buộc trách nhiệm đối với các hành vi gây ra sự cố môi trường, có nghĩa là chính phủ chịu trách nhiệm cho những hành
Trang 25động phòng ngừa đầy đủ và đảm bảo rằng các kế hoạch ứng phó hiệu quả được đưa
ra Chính phủ Canada có các nhiệm vụ bảo vệ lợi ích công cộng Theo Luật Bảo vệ môi trường Canada, năm 1999 (CEPA năm 1999) để cung cấp hướng dẫn để ngăn chặn, phòng ngừa các sự cố môi trường Bất kỳ những dự án, hoạt động kinh tế nào
có tiềm ẩn rủi ro gây ra sự cố môi trường như hóa dầu, nhà máy hóa chất…thì phải lập kế hoạch ứng phó tại chỗ, dự trù sự cố xảy ra và bản kế hoạch này phải được chính phủ thông qua, nhằm mục đích có thể xử lý khẩn cấp về môi trường khi có sự
cố Bên cạnh đó, thì phải yêu cầu bắt buộc các tổ chức phải có các chuyên gia tư vấn trong quá trình đánh giá tác động môi trường của các dự án phát triển lớn để cải thiện các biện pháp nhằm giảm nhẹ tác động ngăn ngừa sự cố xảy ra, và cải thiện các kế hoạch ứng phó khẩn cấp để các hành động có hiệu quả và kịp thời có thể được thực hiện khi xảy ra sự cố, như hoạt động khai thác dầu, hoạt động các nhà máy điện nguyên tử, hóa chất…những cơ sở tiềm ẩn rủi ro cao về sự cố môi trường Các chuyên gia có đầy đủ các kiến thức về môi trường để các rủi ro có thể được xác định, các thông tin được tổng hợp và truyền đi một cách khoa họ kịp thời để chính phủ đưa ra các quyết sách bảo vệ môi trường nhằm giảm thiểu hạn chế sự tác động của các sự cố môi trường Để nâng cao cao hiệu quả của việc phòng ngừa, khắc phục đối với sự cố môi trường, đội ngũ chuyên gia này phải được đào tạo một cách bài bản, khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức lý thuyết và thực tế
Ngoài ra theo Đạo luật Quản lý Khẩn cấp năm 2007, của Canada thì tất cả các
Bộ trưởng liên bang có trách nhiệm phải có một kế hoạch chuẩn bị khẩn cấp để đối phó với trường hợp khẩn cấp liên quan đến khu vực địa phương mình quản lý về các sự cố trong các lĩnh vực của Bộ mình quản lý Kế hoạch hoạt động là một yếu tố quan trọng trong môi trường và chuẩn bị sẵn sàng và ứng phó các trường hợp khẩn cấp Canada với môi trường Đó là một kế hoạch hoạt động xác định phạm vi và khuôn khổ trong đó Canada cung cấp các khoa học thông báo các hành động ứng phó với trường hợp khẩn cấp về môi trường Kế hoạch hoạt động cũng làm rõ vai trò của môi trường và biến đổi khí hậu Canada trong các loại trường hợp khẩn cấp
về môi trường, mô tả quá trình khẩn cấp thông báo, hướng dẫn thủ tục và cung cấp
Trang 26cho nhân viên các phòng ban… Ứng phó khẩn cấp có hiệu quả đòi hỏi phải có tinh thần đồng đội giữa các chính phủ, ngành công nghiệp, cộng đồng và các tổ chức địa phương Các đối tác này được hình thành tốt nhất trong thời gian nhanh nhất để xử
lý các trường hợp khẩn cấp Khi trường hợp khẩn cấp xảy ra, các bên có trửách nhiệm phải thực hiện tất cả các biện pháp hợp lý để xử lý và ngăn chặn việc phát hành và thông báo cho chính quyền theo quy định pháp luật Ngoài ra, Cơ quan phụ trách môi trường và biến đổi khí hậu Canada có trách nhiệm pháp lý để giải quyết
sự cố môi trường mà chính phủ liên bang quản lý để có thể ban hành hướng dẫn các hoạt động phục hồi, kiểm tra những tác động dài hạn có thể thông qua việc đánh giá thiệt hại Sau khi đánh giá thiệt hại là hoàn chỉnh, hoạt động khắc phục được tiến hành nhằm mục đích để cho chính phủ Cannada có thể kiểm soát được quá trình thực hiện theo đúng trình tự và quy định của pháp luật [19]
Tại Việt Nam, ngoài Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành, vấn đề phòng ngừa và khắc phục sự cố môi trường còn được điều chỉnh trong nhiều văn bản Luật chuyên ngành khác nhau như Luật Hóa chất, Luật Dầu khí, Luật Tài nguyên nước, Luật Khoáng sản… Các văn bản này là công cụ pháp lý quan trọng để ngăn ngừa, giảm thiểu nguy cơ gây sự cố môi trường và chủ động khắc phục sự cố môi trường trong trường hợp cần thiết, giảm thiểu thiệt hại cho môi trường cũng như sức khỏe cộng đồng
1.2.2 Các nguyên tắc của pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
Nguyên tắc của pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường là những tư tưởng chỉ đạo, chi phối một cách toàn diện các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
để từ đó nhà nước xây dựng lên các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề này Do
đó, nhằm đảm bảo tính khả thi của các quy định pháp luật được ban hành, các nguyên tắc này được xây dựng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của hoạt động phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường, bao gồm các nguyên tắc cơ bản sau:
Trang 27Một là, nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng không chỉ trong pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường mà còn thể hiện trong hệ thống pháp luật về môi trường, xuất phát từ xu thế chung của nhân loại Xét về bản chất, nguyên tắc này là sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường Phát triển bền vững về môi trường là quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để tiếp cận tới những nguồn tài nguyên chung, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại được, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi và yêu quý thiên nhiên Nguyên tắc này đòi hỏi các chính sách về phòng ngừa, khắc phục
sự cố môi trường phải là một nội dung trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
cả nước và từng địa phương; và không chỉ dừng lại ở việc ngăn chặn nguy cơ gây
sự cố môi trường mà còn phải tính đến việc phục hồi môi trường, cải thiện chất lượng môi trường
Hai là, nguyên tắc phối hợp, liên kết Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm tự nhiên của môi trường Môi trường tự nhiên có thể bị xâm hại bởi bất kỳ đối tượng nào mà bản thân các cơ quản lý không thể kiểm soát, ngăn chặn được tất cả các hành vi đó Hơn nữa, để phòng ngừa và khắc phục sự cố môi trường, cần kiến thức chuyên môn của nhiều lĩnh vực khoa học có liên quan, chẳng hạn như chuyên môn
về tài nguyên đất, chuyên môn về tài nguyên nước, chuyên môn về tài nguyên không khí… Chính vì vậy, cần thiết phải có sự phối hợp, liên kết giữa các cơ quan nhà nước, các cá nhân, tổ chức trong nước; giữa các quốc gia với nhau để phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường Nguyên tắc phối hợp, liên kết phải được thực hiện trên cơ sở các bên đều có lợi, có sự phân công đồng bộ và thống nhất; vừa bảo
vệ được môi trường do sự cố môi trường, vừa đảm bảo được các giá trị, lợi ích từ các hoạt động phát triển kinh tế xã hội mang lại
Trang 28Ba là, nguyên tắc phòng ngừa Nguyên tắc phòng ngừa luôn được coi là phương châm của của hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và hoạt động phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường nói riêng Thực tế đã chứng minh, chi phí bỏ ra
để khắc phục hậu quả bao giờ cũng lớn hơn rất nhiều so với chi phí phòng ngừa cho
dù đó là do hành vi của con người hay tác động của thiên nhiên Hơn thế nữa, việc phục hồi môi trường thường rất khó khăn và lâu dài, thậm chí có những trường hợp không thể phục hồi được Do đó, các cơ quan nhà nước phải lường trước được những rủi ro mà con người và thiên nhiên có thể gây ra dẫn đến sự cố môi trường Trên cơ sở đó có những biện pháp loại trừ, giảm thiểu rủi ro và đặc biệt là có sự chuẩn bị đầy đủ về phương án, lực lượng, phương tiện để sẵn sàng ứng phó với rủi
ro, sự cố khi nó xảy ra
Bốn là, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền là một trong những nguyên tắc chủ chốt của pháp luật môi trường Việt Nam nói riêng và pháp luật môi trường quốc tế nói chung Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền không có một định nghĩa pháp lý cụ thể mà được hiểu xuyên suốt thông qua các quy định của pháp luật
về môi trường Dưới góc độ khái quát, nguyên tắc này được hiểu là việc sử dụng biện pháp kinh tế để tác động vào chính hành vi của các chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường Nói cách khác, khi một chủ thể gây ô nhiễm môi trường thì họ sẽ phải chịu những nghĩa vụ tài chính do hành vi của họ gây ra
Môi trường được xem như một loại hành hóa đặc biệt được lưu thông trên thị trường Sở dĩ nó là một loại hàng hóa đặc biệt vì nó mang tính cộng đồng (không thuộc sở hữu của một cá nhân nào) và ai cũng phải sử dụng nó trong hoạt động thương mại lẫn phi thương mại Do vậy, việc gán nghĩa vụ tài chính vào môi trường
sẽ giúp quản lý một cách có hiệu quả việc sử dụng và khai thác môi trường Chủ thể phải trả tiền ở đây được hiểu là chủ thể khai thác, sử dụng những yếu tố môi trường (tài nguyên thiên nhiên) và chủ thể gây ô nhiễm môi trường theo nghĩa rộng Tuy nhiên, trên thực tế, không phải bất cứ chủ thể nào gây ô nhiễm môi trường đều phải trả tiền
Trang 29Nguyên tắc này đòi hỏi 2 yêu cầu sau:
+ Tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tích chất và mức độ gây tác động xấu tới môi trường Việc phân loại cụ thể mức độ, tính chất của từng hành vi gây tác động xấu đến môi trường là rất quan trọng Một số chính sách của các địa phương đã từng cào bằng mức tiền đánh vào những hành vi này Việc cào bằng như vậy nhìn chung là dễ dàng cho công tác quản lý Tuy nhiên, hiệu quả của việc bảo vệ môi trường nếu sử dụng sự cào bằng như vậy chỉ là một con số tròn trĩnh
+ Tiền phải trả cho hành vi không gây ô nhiễm phải đủ sức tác động đến lợi ích và hành vi của các chủ thể có liên quan (không mang tính chất tượng trưng) Đây có thể được xem là một sự ngang giá Đồng thời yêu cầu này cũng bổ sung cho yêu cầu thứ nhất Mỗi chủ thể tác động đến môi trường ở một mức độ khác nhau thì
sẽ phải gánh chịu những nghĩa vụ tài chính khác nhau Do vậy, số tiền phải trả để có thể đủ sức tác động đến lợi ích và hành vi của chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường cũng là hoàn toàn khác nhau
Như vậy, nguyên tắc này đòi hỏi người gây sự cố môi trường phải chi trả mọi chi phí cho việc khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm do sự cố môi trường
1.2.3 Vai trò của pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
Như đã trình bày ở trên, nguyên nhân chủ yếu gây ra sự cố môi trường chính
là hành động phá hoại của con người, do đó pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường Vai trò đó được thể hiện ở các khía cạnh:
Thứ nhất, pháp luật quy định các quy tắc xử sự của con người khi tác động đến môi trường Bằng việc đề ra những quy tắc xử bắt buộc, quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, pháp luật sẽ khiến cho việc khai thác, sử dụng môi trường có tính định hướng, tuân theo những tiêu chuẩn nhất định, góp phần hạn chế những tác hại xấu, ngăn chặn được sự cố môi trường
Trang 30Thứ hai, pháp luật quy định chế tài ràng buộc con người thực hiện đòi hỏi của pháp luật nhằm phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường Pháp luật sẽ đưa ra những chế tài hành chính hay hình sự được áp dụng đối với các hành vi vi phạm quy định
về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường Việc xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm này có tác dụng trừng phạt, răn đe, phòng ngừa sự tái phạm trong tương lai của các chủ thể có hành vi vi phạm, đồng thời có tác dụng tuyên truyền, răn đe đối với các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội
Thứ ba, pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan nhà nước trong việc phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường Để các quy định về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường được thực hiện có hiệu quả thì cần phải có một cơ chế thực thi phù hợp cũng như một bộ máy làm nhiệm vụ quản lý, kiểm tra, giám sát Pháp luật đã xây dựng một hệ thống các cơ quan quản
lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, đồng thời xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước này trong việc phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường Nhờ vậy, các cơ quan nhà nước có thể xác định rõ ràng trách nhiệm của mình cũng như phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ trong các hoạt động có sự tham gia của nhiều cơ quan
Thứ tư, pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường gắn kết các lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội và lợi ích môi trường, góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước
Lợi ích kinh tế luôn là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ Điều này càng trở nên hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường, khi mà tất cả các hoạt động của nó đều chịu sự chi phối của quy luật giá trị Chính vì thế, mục tiêu lợi nhuận có thể làm các nhà sản xuất bỏ qua những lợi ích chung của cả cộng đồng về môi trường, đặc biệt trong điều kiện nhận thức về bảo
vệ môi trường của đại bộ phận dân chúng còn hạn chế như ở Việt Nam hiện nay Riêng trong lĩnh vực phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường, vì lợi ích kinh tế, các nhà sản xuất sẵn sàng bỏ qua những chi phí cần thiết cho việc giảm thiểu và xử
lý chất thải từ quá trình hoạt động để tiết kiệm kinh phí, đạt mục tiêu lợi nhuận ở
Trang 31mức cao nhất Rõ ràng, trong trường hợp này, các lợi ích xã hội và lợi ích môi trường đã bị xâm phạm và vì thế cần sự can thiệp thích hợp của Nhà nước để điều hòa các xung đột về lợi ích Pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường là công cụ quan trọng để thực hiện sự can thiệp đó
Thông qua các quy phạm pháp luật cụ thể, pháp luật phòng ngừa, khắc phục
sự cố môi trường gắn kết lợi ích của các nhà sản xuất với lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng trong việc cùng sử dụng những giá trị của môi trường Cân nhắc giữa những lợi ích kinh tế- xã hội mà các hoạt động phát triển có thể đem lại với những tổn hại cho môi trường mà hoạt động đó có thể gây ra, bao gồm cả những tổn hại do làm phát sinh sự cố môi trường là vấn đề được chú trọng trong pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
Trang 32TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Hoạt động phát triển kinh tế – xã hội hiện nay đã và đang tạo ra nhiều áp lực tiêu cực lên môi trường và đặt ra những yêu cầu cấp thiết trong công tác bảo vệ môi trường, trong đó, việc phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường cần được đặc biệt quan tâm.Nó có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường bằng pháp luật là một trong những cách thức khá hữu hiệu
Pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường là một bộ phận của pháp luật môi trường, được ban hành nhằm ngăn ngừa, loại bỏ những nguyên nhân
có thể gây ra sự cố môi trường; xử lý hậu quả và phục hồi môi trường do sự cố môi trường gây ra Pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường là một bộ phận của pháp luật môi trường, được ban hành nhằm ngăn ngừa, loại bỏ những nguyên nhân có thể gây ra sự cố môi trường; xử lý hậu quả và phục hồi môi trường do sự cố môi trường gây ra
Pháp luật phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường bao gồm: các quy định chung về phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm môi trường; các quy định pháp luật về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường trong một số lĩnh vực cụ thể và các quy định pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong phòng ngừa và khắc phục sự cố môi
trường Các quy định này là công cụ pháp lý quan trọng để ngăn ngừa, giảm thiểu
nguy cơ gây sự cố môi trường và chủ động khắc phục sự cố môi trường trong trường hợp cần thiết, giảm thiểu thiệt hại cho môi trường cũng như sức khỏe cộng đồng
Trang 33CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG NGỪA, KHẮC PHỤC SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Tại Việt Nam, các quy định về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường được quy định cụ thể tại nhiều văn bản pháp luật như: Luật Bảo vệ môi trường 2014; Luật Phòng cháy chữa cháy 2001; Bộ Luật Hàng hải Việt Nam 2015; Luật Thủy sản 2003; Luật Dầu khí 2013; Luật phòng chống thiên tai 2013; Luật Tài nguyên nước
2012, Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004; Luật Năng lượng nguyên tử 2008; Luật Hóa chất 2007 và văn bản hướng dẫn thi hành các đạo luật này Nhìn chung, các quy định tại các văn bản pháp luật này điều chỉnh ba nhóm vấn đề lớn Đó là: các quy định chung về phòng ngừa khắc phục, sự cố môi trường; các quy định về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường trong một số lĩnh vực đặc thù và các quy định về
xử lý vi phạm pháp luật trong phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường Cụ thể như sau:
2.1 Các quy định chungvề phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
2.1.1 Nội dung cơ bản của các quy định chung về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường
Các quy định chung về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường được quy định cụ thể tại Luật Bảo vệ môi trường 2014 Bên cạnh quy định về nghĩa vụ đánh giá môi trường (một trong số các hoạt động phòng ngừa sự cố môi trường điển hình) theo quy định tại Nghị định số 18/2015/NĐ-CP về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, các nội dung cơ bản về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường được điều chỉnh là:
Thứ nhất: Phòng ngừa sự cố môi trường
Trang 34Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phương tiện vận tải có nguy cơ gây
ra sự cố môi trường phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa sau:
- Lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường;
- Lắp đặt thiết bị, dụng cụ, phương tiện ứng phó sự cố môi trường;
- Đào tạo, huấn luyện, xây dựng lực lượng tại chỗ ứng phó sự cố môi trường;
- Thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, áp dụng biện pháp an toàn theo quy định của pháp luật;
- Có biện pháp loại trừ nguyên nhân gây ra sự cố môi trường khi phát hiện có dấu hiệu sự cố môi trường
Bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện các nội dung sau:
- Điều tra, thống kê, đánh giá nguy cơ các loại sự cố môi trường có thể xảy ra trong phạm vi cả nước, từng khu vực, địa phương;
- Xây dựng năng lực phòng ngừa, cảnh báo nguy cơ và ứng phó sự cố môi trường;
- Xây dựng kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường hằng năm và định kỳ 05 năm
Thứ hai: Ứng phó sự cố môi trường
Trách nhiệm ứng phó sự cố môi trường được quy định như sau:
- Tổ chức, cá nhân gây ra sự cố môi trường phải thực hiện các biện pháp khẩn cấp để bảo đảm an toàn cho người và tài sản; tổ chức cứu người, tài sản và kịp thời thông báo cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường nơi xảy ra sự cố;
- Sự cố môi trường xảy ra ở cơ sở, địa phương nào thì người đứng đầu cơ sở, địa phương đó có trách nhiệm huy động khẩn cấp nhân lực, vật lực và phương tiện
để kịp thời ứng phó sự cố;
Trang 35- Sự cố môi trường xảy ra trong phạm vi nhiều cơ sở, địa phương thì người đứng đầu cơ sở, địa phương nơi có sự cố có trách nhiệm phối hợp ứng phó;
- Trường hợp vượt quá khả năng ứng phó sự cố của cơ sở, địa phương thì người đứng đầu phải khẩn cấp báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp để kịp thời huy động các cơ sở, địa phương khác tham gia ứng phó sự cố môi trường; cơ sở, địa phương được yêu cầu huy động phải thực hiện biện pháp ứng phó sự cố môi trường trong phạm vi khả năng của mình
Việc ứng phó sự cố môi trường đặc biệt nghiêm trọng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp Nhân lực, vật tư, phương tiện sử dụng để ứng phó sự cố môi trường được bồi hoàn và thanh toán chi phí theo quy định của pháp luật Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường gây ra được thực hiện theo quy định của pháp luật
Thứ ba: Xây dựng lực lượng ứng phó sự cố môi trường
- Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm xây dựng năng lực phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường
- Nhà nước xây dựng lực lượng ứng phó sự cố môi trường và hệ thống trang thiết bị cảnh báo sự cố môi trường
- Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư cơ sở dịch vụ ứng phó sự cố môi trường
Thứ tư: Xác định thiệt hại do sự cố môi trường
- Nội dung điều tra, xác định thiệt hại do sự cố môi trường gồm:
+ Phạm vi, giới hạn khu vực bị ô nhiễm do sự cố môi trường;
+ Mức độ ô nhiễm;
+ Nguyên nhân, trách nhiệm của các bên liên quan;
+ Biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường;
Trang 36+ Thiệt hại đối với môi trường làm căn cứ để yêu cầu bên gây ô nhiễm, sự cố phải bồi thường
- Trách nhiệm điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm, thiệt hại do sự cố môi trường gây ra được quy định như sau:
+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm, thiệt hại do sự cố môi trường gây ra trên địa bàn;
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh tổ chức, điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm, thiệt hại do sự cố môi trường gây ra trên địa bàn liên tỉnh
- Kết quả điều tra về nguyên nhân, mức độ, phạm vi ô nhiễm và thiệt hại về môi trường phải được công khai
Thư năm: Trách nhiệm khắc phục sự cố môi trường
- Tổ chức, cá nhân gây sự cố môi trường có trách nhiệm sau:
+ Thực hiện yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong quá trình điều tra, xác định phạm vi, giới hạn, mức độ, nguyên nhân, biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường;
+ Tiến hành ngay biện pháp ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường và hạn chế sự lan rộng, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của nhân dân trong vùng;
+ Thực hiện biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường;
+ Bồi thường thiệt hại theo quy định của của pháp luật;
+ Báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường việc ứng phó và khắc phục sự cố môi trường
- Trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ra sự cố môi trường mà không tự thỏa thuận về trách nhiệm thì cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi
Trang 37trường có trách nhiệm phối hợp với tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường
- Trường hợp sự cố môi trường do thiên tai gây ra hoặc chưa xác định được nguyên nhân thì bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm huy động các nguồn lực để tổ chức xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường
- Trường hợp sự cố môi trường xảy ra trên địa bàn liên tỉnh thì việc khắc phục
ô nhiễm và phục hồi môi trường thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
2.1.2 Đánh giá thực trạng các quy định chung về phòng ngừa, khắc phục, sự cố môi trường
So với Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
đã có những tiến bộ đáng kể trong việc quy định một chương riêng về phòng ngừa, khắc phục sự cố môi trường Tuy nhiên, có thể thấy đây dường như mới chỉ là những quy định mang tính định hướng, cần phải được hướng dẫn cụ thể mới có thể triển khai trên thực tế Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn thi hành các quy định pháp luật này cho thấy một số điểm hạn chế sau:
- Điều 108 Luật Bảo vệ môi trường quy định chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phương tiện vận tải có nguy cơ gây ra sự cố môi trường phải thực hiện biện pháp phòng ngừa Vậy câu hỏi đặt ra là như thế nào mới có nguy cơ gây ra sự cố môi trường? Khi nghiên cứu thì tác giả thấy rằng Điều 108 Luật bảo vệ môi trường
2014 tuy đã nêu rõ các trình tự để thực hiện phòng ngừa sự cố môi trường một cách
cụ thể nhưng không có khái niệm thế nào là phòng ngừa sự cố môi trường và chủ thể của khoản 1 Điều 108 luật bảo vệ môi trường chỉ là “chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phương tiện vận tải”, và các biện pháp đã đề ra: Lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường; Lắp đặt thiết bị, dụng cụ, phương tiện ứng phó sự cố môi trường; Đào tạo, huấn luyện, xây dựng lực lượng tại chỗ ứng phó sự cố môi trường; Thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, áp dụng biện pháp
an toàn theo quy định của pháp luật Có biện pháp loại trừ nguyên nhân gây ra sự cố
Trang 38môi trường khi phát hiện có dấu hiệu sự cố môi trường Song, cơ chế thẩm định, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định này lại chưa được điều chỉnh cụ thể nên khó đảm bảo chúng có thể được áp dụng nghiêm túc trên thực tế
- Cũng theo điều 108 quy định về phòng ngừa sự cố môi trường, nhưng tại khoản 2, có quy định trách nhiệm của các Bộ và cơ quan ngang Bộ nhưng lại không xác định rõ là Bộ nào trong số các Bộ và cơ quan ngang Bộ hiện nay Chính điều này làm cho người đọc có thể hiểu là hầu như tất cả các Bộ và cơ quan ngang Bộ của nước ta đều có trách nhiệm liên quan đến vấn đề sự cố môi trường Vấn đề này muốn triển khai trên thực tế rất khó khăn, khi thiếu các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành
- Việc quy định chủ thể của pháp luật về ứng phó sự cố môi trường không chỉ
là nhà nước, mà còn là các tổ chức, doanh nghiệp với mục đích nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về ứng phó sự cố môi trường, xác định rõ trách nhiệm để dễ dàng hơn trong việc xử lý các sự cố môi trường xảy ra Dẫu vậy, đối với quy định pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều điều còn bỏ ngỏ, chẳng hạn như về chủ thể, thì ở đây chủ yếu là các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh lại không có chế tài cụ thể và đa số dựa trên tình hình là tự nguyện để thực hiện các biện pháp khẩn cấp để ứng phó khi sự cố môi trường xảy ra Vậy nên sự khả thi của các doanh nghiệp khi tự nguyện thực hiện các biện pháp khẩn cấp để ứng phó hay phối hợp với chính quyền địa phương khi xảy ra sự cố là một điều hạn chế
- Tại Điều 109 Luật bảo vệ môi trường có quy định về sự cố môi trường khi xảy ra ở cơ sở địa phương nào thì người đứng đầu cơ sở, địa phương đó phải có trách nhiệm huy động khẩn cấp nhân lực vật lực và phương tiện để kịp thời ứng phó
sự cố và các cơ sở địa phương khác chỉ phối hợp ứng phó khi có sự cố xảy ra trong nhiều phạm vi nhiều cơ sở, địa phương Vậy trường hợp sự cố đó có nguy cơ có thể xảy ra nhiều cơ sở, địa phương hoặc là việc xảy ra sự cố ở cơ sở, địa phương này nhưng cơ sở địa phương kia cũng biết thì việc họ không ứng cứu thì có bị xử lý không Điều này dẫn đến việc thoái thác trách nhiệm và thiếu sự phối hợp chủ động