Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu về cơ sở lý luận, cũng như thực tiễn hoạt động, các chính sách của các mô hình ASXH cơ bản trên thế giới sẽ giúp ta có cái
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ MỘT SỐ MÔ HÌNH
AN SINH XÃ HỘI ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ MỘT SỐ MÔ HÌNH
AN SINH XÃ HỘI ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết luận, số liệu trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực, đảm bảo độ tin cậy và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Phạm Minh Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng biết ơn và cán ơn các thầy, cô giáo giảng viên khoa Sau Đại học – Viện Đại học Mở Hà Nội đã nhiệt tình giảng dậy và tạo mọi điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nguyên cứu viết đề tài luận văn này
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Thúy Lâm, người
đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Chuyên ngành Luật Kinh tế với đề tài “Pháp luật về một số mô hình an sinh xã hội điển hình trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà quản lý và các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thông tin, số liệu cũng như kinh nghiệm trong quá trình nguyên cứu luận văn này của bản thân tôi Tuy đã cố giắng hết mình trong khi nguyên cứu và hoàn thành luận văn song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học của trường, các thầy, các cô, của đồng nghiệp và bạn bè
và đặc biệt những ý kiến phản biện đối với luận văn để luận văn được hoàn thiện hơn
Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể học viên cùng lớp, người than trong gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này./
Tác giả luận văn
Phạm Minh Tâm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… ……… 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài……… ………1
1.2 Tổng quan………2
1.3 Mục đích nghiên cứu………3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu……… ………4
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………5
1.6 Phương pháp nghiên cứu……… 6
1.7 Nội dung của luận văn……….7
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI…… ………7
1.1 Khái niệm về an sinh xã hội 7
1.1.1 Nguồn gốc hình thành an sinh xã hội 7
1.1.2 Định nghĩa an sinh xã hội 8
1.2 Vai trò của an sinh xã hội 11
1.2.1 Vai trò đối với nhà nước và xã hội 11
1.2.2 Vai trò đối với các thành viên trong xã hội 13
1.3 Các bộ phận cấu thành an sinh xã hội 13
1.3.1 Từ góc độ quản trị rủi ro 14
1.3.2 Từ góc độ các lĩnh vực cấu thành 15
1.3.2.1 Bảo hiểm xã hội 15
1.3.2.2 Bảo hiểm y tế 17
1.3.2.3 Trợ giúp xã hội 18
1.3.2.4 Các nội dung khác của an sinh xã hội 19
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
Chương 2: MỘT SỐ MÔ HÌNH AN SINH XÃ HỘI ĐIỂN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 23
2.1 Mô hình an sinh xã hội của Châu Âu lục địa 24
2.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển 25
2.1.2 Cấu trúc mô hình an sinh xã hội Châu Âu lục địa 26
2.1.2.1 Bảo hiểm y tế và dự phòng bệnh tật 28
2.1.2.2 Bảo hiểm tai nạn lao động 30
2.1.2.3 Bảo hiểm hưu trí 32
2.1.2.4 Bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp 34
2.1.2.5 Bảo hiểm chăm sóc 37
2.1.2.6 Trợ cấp xã hội 38
2.1.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 40
2.2 Mô hình an sinh xã hội của các nước Bắc Âu………… ……… 42
2.2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển……… 42
2.2.2 Cấu trúc của mô hình an sinh xã hội của các nước Bắc Âu………45
2.2.2.1 Hệ thống bảo hiểm xã hội cho người lao động………46
a) Bảo hiểm tai nạn lao động……… ………47
b) Bảo hiểm thất nghiệp………49
2.2.2.2 Hệ thống chăm sóc sức khỏe gia đình và trẻ em……….52
2.2.2.3 Hệ thống giáo dục miễn phí……….………54
2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam………55
2.3 Mô hình an sinh xã hội Anglo - Saxon……… ……… 58
Trang 72.3.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển……….58
2.3.2 Cấu trúc của mô hình an sinh xã hội Anglo - Saxon…….……….60
2.3.2.1 Bảo hiểm hưu trí……….………… 60
2.3.2.2 Chăm sóc sức khỏe……… 62
2.3.2.3 Trợ cấp ốm đau, mất sức lao động……… 63
2.3.2.4 Bảo hiểm thất nghiệp……… 64
2.3.2.5 Trợ cấp cho cha mẹ và trẻ em……… 65
2.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam………66
2.4 Mô hình an sinh xã hội của Liên Hợp Quốc………… ………… 68
2.4.1 Cấu trúc theo mô hình an sinh xã hội của Liên Hợp Quốc……….68
2.4.1.1 Bảo hiểm xã hội, trụ cột của an sinh xã hội………70
2.4.1.2 Cứu trợ xã hội (trợ giúp xã hội)……….……… 71
2.4.1.3 Trợ cấp từ quỹ công cộng………72
2.4.1.4 Trợ cấp gia đình……… ………72
2.4.1.5 Các dịch vụ xã hội………72
2.4.1.6 Quỹ dự phòng……… 72
2.4.2 Mô hình sàn an sinh xã hội 73
2.4.2.1 Những nội dung cơ bản của sàn an sinh xã hội 75
2.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG AN SINH XÃ HỘI 81
3.1 Thực trạng về an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay 81
Trang 83.1.1 Kết quả thực hiện an sinh xã hội ở Việt Nam 81
3.1.1.1 Đối với lĩnh vực bảo hiểm xã hội 82
3.1.1.2 Đối với lĩnh vực bảo hiểm thất nghiệp 83
3.1.1.3 Đối với lĩnh vực trợ giúp xã hội 84
3.1.1.4 Đối với lĩnh vực ưu đãi xã hội 86
3.1.2 Tồn tại, hạn chế 88
3.2 Định hướng phát triển pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam……….93
3.2.1 Quan điểm định hướng chung……….93
3.2.1.1 Về quan điểm……… ……… 93
3.2.1.2 Về phương hướng………94
3.2.2 Những định hướng cụ thể………95
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới……… 101
3.3.1 Về phạm vi và đối tượng hưởng an sinh xã hội………101
3.3.2 Về việc huy động sự đóng góp vào hệ thống an sinh xã hội………103
3.3.3 Xây dựng hệ thống tổ chức quản lý quỹ an sinh xã hội……….…… 105
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3……… 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… ………107
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9ASXH An sinh xã hội
HIV/AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch ở người
Trang 10ƯĐXH Ưu đãi xã hội
MỞ ĐẦU
Trang 111.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự vận động của kinh tế thị trường và dân chủ hóa, nhất là dân chủ hóa kinh
tế và chính trị - hai lĩnh vực trọng yếu của xã hội đã dẫn tới mở cửa và hội nhập để Việt Nam hợp tác song phương và đa phương với các nước trong cộng đồng quốc
tế Đường lối đối ngoại và chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhất quán với nguyên tắc hòa bình - hữu nghị - hợp tác - cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, theo phương thức đa phương hóa, đa dạng hóa đã
mở ra những khả năng và triển vọng mới của phát triển Những tác nhân kinh tế và chính trị đó trong đổi mới đã dẫn tới những nhận thức mới và những biến đổi mới
về xã hội và con người, về chính sách xã hội và an sinh xã hội
Thuật ngữ ASXH đã được đưa vào sử dụng từ rất sớm và ngày càng được sử dụng phổ biến, pháp luật ASXH cũng ngày càng giữ vị trí quan trọng trong hệ thống
pháp luật quốc gia Ở Việt Nam, ASXH trở thành một trong những trụ cột cơ bản
trong hệ thống các chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước ta quan tâm xây dựng ASXH là nhân tố đảm bảo công bằng xã hội Thực tiễn phát triển đã cho thấy ASXH có vai trò rất lớn trong việc khắc phục những hệ lụy của phân hóa xã hội, tăng cường gắn kết xã hội, sự đồng thuận và đảm bảo ổn định chính trị Tuy nhiên,
hệ thống ASXH của Việt Nam hiện nay chưa phát triển tương xứng với đà phát
triển của xã hội, và so với đổi mới tư duy về mô hình kinh tế, việc đổi mới tư duy
về mô hình ASXH và giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh còn chậm và thiếu bền vững Ở nước ta, ASXH vẫn được coi là trách nhiệm của Nhà nước, chưa thu hút được các thành phần kinh tế, các chủ thể và nguồn lực khác cho công tác này, xã hội hóa kém, điều kiện và năng lực tự vươn lên của người dân còn thấp Trong khi
đó, nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước nhằm thực hiện ASXH còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách công, với diện che phủ thấp, tỉ lệ tham gia thấp và mức hưởng thấp Các hình thức bảo hiểm chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân và chưa đổi mới để theo kịp sự phát triển của kinh tế thị trường
Trang 12Bên cạnh đó, công tác ASXH đang bộc lộ những thiếu hụt khi các dịch vụ cơ bản không còn được bao cấp như trước Việc học hành, khám chữa bệnh, nhà ở, đi lại, việc làm,… đều đòi hỏi phải trả tiền và đóng phí Tuy nhiên, chất lượng các dịch vụ xã hội nhìn chung còn thấp, vẫn còn không ít tiêu cực, phiền hà và rào cản đối với người dân trong việc tiếp cận các dịch vụ này Trong khi đó, nhiều rủi ro rình rập như đau ốm, tai nạn, thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, luôn là những cú sốc đối với người nghèo, các nhóm yếu thế, đe dọa tính mạng và ASXH của người dân Nhiều nhóm dân cư không có khả năng ứng phó trước những rủi ro do thiên tai và biến động kinh tế - xã hội (hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc, lao động di cư, trẻ em nghèo, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, người già cô đơn, người khuyết tật, người có HIV/AIDS,…)
Trên thế giới hình thành rất nhiều những hệ thống mô hình an sinh xã hội với cấu trúc mô hình cũng như những cơ chế, chính sách áp dụng khác nhau Điển hình
là một số mô hình ASXH như: Mô hình ASXH Bắc Âu; Mô hình ASXH Anglo - Saxon; Mô hình ASXH Châu Âu lục địa, Mô hình sàn giao dịch … Còn ở Việt Nam trên phương diện nghiên cứu khoa học, thuật ngữ ASXH cũng như pháp luật ASXH còn là vấn đề tương đối mới mẻ và cũng có khá nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau khi tiếp cận những vấn đề này Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách
có hệ thống, chuyên sâu về cơ sở lý luận, cũng như thực tiễn hoạt động, các chính sách của các mô hình ASXH cơ bản trên thế giới sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quan cũng như rút ra được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam học hỏi tiến tới xây dựng một mô hình ASXH toàn diện đảm bảo nhu cầu đời sống người dân Đó là lý
do tôi chọn vấn đề “Pháp luật về một số mô hình an sinh xã hội điển hình trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình
1.2 Tổng quan
Thực tế có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về các mô hình an sinh xã hội trên thế giới, mỗi công trình đều có những đánh giá riêng, đồng thời có những định hướng khác nhau Việc đi sâu nghiên cứu những chính sách an sinh,
Trang 13những cải cách pháp luật của các nước trong những mô hình ASXH trên thế giới còn chưa được chú trọng Vì nhiều lý do khác nhau mà nội dung nghiên cứu ASXH hiện nay còn chưa có tính thống nhất, việc nghiên cứu còn mang tính nhỏ lẻ, cá biệt
Có thể khái quát một số công trình, bài viết nghiên cứu điển hình như sau:
Trong cuốn Pháp luật an sinh xã hội - Kinh nghiệm của một số nước đối với
Việt Nam của Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thuý Phương, các tác giả đã nghiên cứu,
phân tích hệ thống pháp luật ASXH ở một số nước tiêu biểu như Đức, Mỹ, Nga; đồng thời, trình bày những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam Trên cơ sở sử dụng phương pháp nghiên cứu, so sánh luật, tác giả đưa ra nhận định, đánh giá chung về những ưu điểm, bất cập trong pháp luật hiện hành, đồng thời đề xuất một
số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực này
Đề tài khoa học cấp Bộ: Đảm bảo an sinh xã hội - Định hướng mô hình và
giải pháp, do Đặng Nguyên Anh làm chủ nhiệm, đã phân tích khái niệm và các chức
năng, cấu trúc và các nguyên tắc cơ bản của hệ thống ASXH, tạo cơ sở lý luận cho việc định hướng mô hình và giải pháp về ASXH ở Việt Nam Đề tài làm rõ những đặc điểm chung và nét đặc thù của từng mô hình, từ đó có thể gợi mở cho Việt Nam
Trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu khoa học, hội thảo, bài viết tạp chí cũng có một số sách, bài viết, tác phẩm liên quan đến nội dung này như: Sách “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của PGS.TS Đinh Công Tuấn (năm 2008); Bài viết “Nghiên cứu pháp luật an sinh xã hội một số nước trên thế giới” của TS Lê Thị Hoài Thu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Bài “Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật an sinh xã hội” của TS Lưu Bình Nhưỡng trên Tạp chí Luật học số 5/2004; Bài “Hoàn thiện pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam” của Nguyễn Xuân Nga trên tạp chí Bảo hiểm xã hội số 8/2007… Một số hội thảo về nội dung này cũng được tổ chức như hội thảo “Luật an sinh xã hội Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” tháng 9/2003 của Trường Đại học Luật Hà Nội; hội thảo “Xây dựng hệ thống an
Trang 14sinh xã hội Việt Nam” do Liên Hợp Quốc, Viện Khoa học Xã hội và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tổ chức tháng 11/2006; Bài viết “Bài học kinh nghiệm rút ra
từ mô hình an sinh xã hội của EU và những kiến nghị cho Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Đinh Công Tuấn trên tạp chí Xã hội học số 2 (110) năm 2010; Sách “Mô hình phát triển xã hội của một số nước phát triển châu Âu - kinh nghiệm và ý nghĩa đối với Việt Nam” của GS.TS Nguyễn Quang Thuấn - TS Bùi Nhật Quang (năm 2011); Bài viết “Hệ thống An sinh xã hội các nước Bắc Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của PGS.TS Đinh Công Tuấn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Châu
Âu số 2(137) năm 2012; Bài viết “Những thách thức với các nhà nước phúc lợi Châu Âu trong thế kỉ XXI” của TS Phạm Thị Hồng Điệp đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh 28 năm 2012; Sách “An sinh
xã hội Bắc Âu trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam” của PGS.TS Đinh Công Tuấn - ThS Đinh Công Hoàng (năm 2013)…
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về nội dung pháp luật ASXH với trọng tâm là tìm hiểu các mô hình ASXH trên thế giới hiện nay còn rất hạn chế, chủ yếu mang tính gợi mở ban đầu Chính vì vậy tôi đã chọn vấn đề nghiên cứu pháp luật về các mô hình an sinh xã hội trên thế giới để qua đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho mô hình an sinh xã hội ở Việt Nam làm vấn đề nghiên cứu trong luận văn
1.3 Mục đích nghiên cứu
Từ nghiên cứu các mô hình an sinh xã hội điển hình trên thế giới để rút ra những bài học kinh nghiệm cho mô hình an sinh xã hội ở Việt Nam Để đạt được mục đích này, luận văn hướng tới giải quyết những nhiệm vụ chính là:
Thứ nhất, nghiên cứu khái niệm, vai trò, cấu trúc hệ thống an sinh xã hội…
để nhận thức cơ bản, vững vàng về ASXH
Thứ hai, phân tích một số mô hình ASXH cơ bản trên thế giới, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 15Thứ ba, trên cơ sở những thành tựu, hạn chế của an sinh xã hội tại Việt Nam hiện nay và những định hướng trong việc xây dựng hệ thống ASXH trong thời gian tới, đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng an sinh xã hội của Việt Nam
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận về mô hình an sinh xã hội trong Pháp luật về an sinh
xã hội nói chung là gì?
- Những mô hình an sinh xã hội điển hình trên thế giới như thế nào?
- Thực trạng mô hình an sinh xã hội ở Việt Nam?
- Làm thế nào để nâng cao việc thực hiện pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những mô hình an sinh xã hội điển hình trên thế giới, như: mô hình an sinh xã hội ở Châu Âu lục địa, mô hình an sinh
xã hội ở Bắc Âu, mô hình an sinh xã hội Anglo - Sacxon, mô hình an sinh xã hội của Liên Hợp Quốc …; trong đó tập trung vào việc nghiên cứu một số nội dung cơ bản của các mô hình ASXH đó gồm: quá trình hình thành và phát triển, cấu trúc của
mô hình để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình phát triển hệ thống ASXH trong thời gian tới
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu khoa học dựa trên những phương pháp luận với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu các mô hình ASXH trong mối quan hệ không tách rời với các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa…
Trong quá trình tìm hiểu một mô hình ASXH cụ thể, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp như mô hình hóa, thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu
Trang 161.7 Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận về an sinh xã hội
Chương 2: Một số mô hình an sinh xã hội điển hình trên thế giới và bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương 3: Định hướng phát triển pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam và
một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng an sinh xã hội
Trang 17Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI1.1 Khái niệm về an sinh xã hội
1.1.1 Nguồn gốc hình thành an sinh xã hội
Lao động tạo ra con người và thông qua quá trình này con người tồn tại Con người ngoài việc chịu sự tác động với nhau con người còn phải chịu sự tác động của
tự nhiên nhưng không phải lúc nào con người cũng gặp những may mắn, thuận lợi, gặp những điều kiện sinh sống bình thường mà trong một số trường hợp con người
đã phải đối mặt với những thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn, ốm đau hay các biến cố rủi ro khác nhau Để tồn tại và đối mặt với những vấn đề đó con người đã liên kết hợp tác với nhau lựa chọn ra những phương thức phù hợp nhằm trợ giúp nhau trong cuộc sống Hình thức “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” là hình thức sơ khai và giản đơn nhất được cộng đồng, gia đình , các thành viên trong xã hội lựa chọn sử dụng Bên cạnh đó, còn có một số các biện pháp trợ giúp khác nhau có tính chất tự nguyện của cộng đồng, tương thân tương ái đối với các đối tượng khác nhau trong
xã hội
Trong quá trình phát triển xã hội, nền công nghiệp và kinh tế thị trường phát triển đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển xã hội làm xuất hiện việc thuê mướn nhân công Song song với sự tồn tại đó, cuộc sống của thành viên gia đình những nhân công này phụ thuộc mật thiết vào mức thu nhập chính của họ Nhưng bản thân
họ lại phải chịu những rủi ro, bất trắc do đó để tạo cơ sở ổn định cuộc sống, những nhân công này đã thông qua một số các hoạt động của quỹ tương tế của các hội đoàn, hội bằng hữu do những người làm thuê liên kết lập ra Bên cạnh đó, những nhân công này phải hợp tác với nhau để được làm việc trong những điều kiện lao động bảo đảm nhằm giảm thiểu các yếu tố rủi ro xảy ra Đây là một trong những việc làm cần thiết buộc giới chủ phải quan tâm xem xét tạo điều kiện cho người lao động ổn định cuộc sống Một trong các hình thức hạn chế những rủi ro do ốm đau,
Trang 18do tuổi già, do mất việc làm, do bị tai nạn phải kể đến việc thành lập quỹ bảo hiểm
ốm đau và hệ thống bảo hiểm xã hội tại Đức từ năm 1883 đến 1889 dưới thời thủ tướng Bismark Mô hình bảo hiểm xã hội của Đức đã phát triển và lan sang các nước khác như Mỹ, Canada, một số nước ở Châu Phi, Châu Á và vùng vịnh Caribe Ngoài ra một số quốc gia khác trên cơ sở hệ thống bảo hiểm xã hội này đã ban hành một số đạo luật riêng điều chỉnh về các lĩnh vực khác như bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tự nguyện, bảo đảm xã hội… Bên cạnh hình thức bảo hiểm xã hội, các hình thức tương tế, cứu tế xã hội, các hình thức cứu giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, rủi ro, bất hạnh, các dịch vụ công cộng như dịch vụ y tế, dịch vụ chăm sóc người già, dịch vụ bảo vệ trẻ mồ côi, người tàn tật, người goá bụa… từng bước được phát triển và hoàn thiện Hệ thống an sinh xã hội được hình thành và được ghi nhận trong các đạo luật của các nước như Đạo luật an sinh xã hội của Mỹ năm
1935 Thuật ngữ an sinh xã hội được sử dụng trong Hiến chương Đại Tây Dương năm 1931 và được ghi nhận cụ thể trong Công ước số 102 - Công ước các mức tối thiểu về an toàn xã hội ngày 27 tháng 4 năm 1952 bao gồm các chế độ về chăm sóc
y tế, trợ cấp ốm đau, trợ giúp thất nghiệp, trợ giúp tuổi già, trợ giúp trong trường hợp bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ giúp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ giúp tàn tật, trợ giúp mất người trụ cột gia đình
1.1.2 Định nghĩa an sinh xã hội
Trong cuộc sống, để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu, con người phải lao động sản xuất để có thu nhập Tuy vậy, không phải lúc nào người lao động cũng đảm bảo chắc chắn duy trì được việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định Đó là những lúc gặp rủi ro như ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động dẫn đến bị mất hoặc giảm việc làm Hơn nữa, hoạt động lao động sản xuất của con người không phải lúc nào cũng thuận lợi vì còn bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, môi trường, xã hội Vì thế, sự cần thiết phải có các biện pháp phòng tránh và khắc phục rủi ro đã trở thành một nhu cầu của con người Đặc biệt trong nền sản xuất công nghiệp, khi
mà số lượng người lao động có thu nhập chính từ tiền lương tăng lên thì sự hẫng hụt
Trang 19về thu nhập trong các trường hợp gặp rủi ro hoặc khi không còn khả năng lao động.v.v càng trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống của họ
Tính tất yếu phải đối mặt với những hẫng hụt về thu nhập trong những trường hợp bất khả kháng đã buộc người lao động tìm cách khắc phục bằng nhiều biện pháp khác nhau như tiết kiệm với phương châm "tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”hoặc dựa vào sự đùm bọc, cưu mang của cộng đồng với tinh thần "lá lành đùm lá rách" Nhưng xã hội càng phát triển, những biện pháp có tính truyền thống như trên đã tỏ ra không đủ độ an toàn để giúp cho mỗi người có thể khắc phục hoặc vượt qua khó khăn trong cuộc sống Bổ sung vào đó là các biện pháp phi truyền thống chỉ có trong xã hội hiện đại như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y
tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), cứu trợ xã hội, trợ giúp xã hội v.v Đây
là những trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội (ASXH) nhằm bảo vệ con người trước những rủi ro về kinh tế - xã hội
Trong thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về ASXH
- Theo Ngân hàng Thế giới (WB): ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập
- Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ASXH là hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và
xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em
- Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống
Trang 20ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua bảo hiểm y tế; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội
Ở Việt Nam, mặc dù ASXH là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng
đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn
đề này
Theo GS Hoàng Chí Bảo thì: ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người,
từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách
Theo PGS.TS Nguyễn Hải Hữu thì "ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong
xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già
cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khác quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội"
GS.TS Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất, chúng ta phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này
+ Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội
+ Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do
họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai dịch họa
"Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 - 2020” ghi nhận: “An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực
Trang 21thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro
có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”
Trong bài "Đảm bảo ngày càng tốt hơn ASXH và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng "ASXH và PLXH là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân"
Như vậy có thể thấy có nhiều quan điểm về ASXH, tuy nhiên, có thể đưa ra định nghĩa về an sinh xã hội như sau: An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng để chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội gây ra bởi các rủi ro, biến cố, bất hạnh nhằm đảm bảo thu nhập, sức khoẻ và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho các thành viên của mình, góp phần đảm bảo an toàn và phát triển xã hội”
Bản chất của ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất
cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp những rủi
ro xã hội khác Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội, do đó nó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc
Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc
1.2 Vai trò của an sinh xã hội
1.2.1 Vai trò đối với nhà nước và xã hội
Trang 22Thứ nhất, an sinh xã hội góp phần ổn định đời sống của người lao động Hệ thống an sinh xã hội sẽ góp phần thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, hoặc chết Nhờ
có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường
Thứ hai, an sinh xã hội góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, hệ thống an sinh xã hội kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh tế - xã hội
Thứ ba, hệ thống an sinh xã hội, trong đó có bảo hiểm xã hội (BHXH) làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất Người sử dụng lao động tham gia đóng góp quỹ BHXH cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH cũng thấy rõ trách nhiệm của mình đối với người lao động Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa điều hành hoạt động của quỹ BHXH, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước
- người sử dụng lao động - người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế - xã hội Thứ tư, hệ thống an sinh xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Quỹ an sinh xã hội, trong đó có quỹ BHXH là nguồn tài chính tập trung khá lớn, được sử dụng để chi trả các chế độ cho người lao động và gia đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ Như vậy xét trên cả phương diện chi trả các chế độ, cũng
Trang 23như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ an sinh xã hội đều góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh đó, phân phối trong an sinh xã hội là sự phân phối lại theo hướng
có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Vì vậy, an sinh xã hội góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xã hội
1.2.2 Vai trò đối với các thành viên trong xã hội
ASXH đảm bảo điều kiện cho mỗi thành viên trong xã hội trong suốt cuộc đời của họ từ khi sinh ra Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, an sinh
xã hội là quyền lợi của mỗi người, đầu tiên là chế độ chăm sóc dành cho trẻ em từ khi sinh ra thông qua chế độ nghỉ thai sản dành cho các bà mẹ, tiếp đến là chế độ giáo dục, y tế trong quá trình trưởng thành, bên cạnh đó, mỗi người lao động tham gia BHXH đều được hưởng những lợi ích an sinh xã hội như bảo hiểm hưu trí, tai nạn lao động, trợ cấp thất nghiệp, ốm đau…
Như vậy, mỗi thành viên trong xã hội đều được hưởng ASXH như một quyền con người cơ bản, điều này không chỉ nâng cao khả năng tồn tại độc lập của
họ trong cuộc sống mà còn đảm bảo quan trọng cho sự phát triển của mỗi gia đình, khi cuộc sống của bản thân mỗi thành viên gia đình đều được đảm bảo trước những rủi ro có thể gặp phải thì mỗi gia đình đều có khả năng vượt qua được với những giai đoạn khó khăn trong cuộc sống Như vậy, ASXH thể hiện vai trò bảo vệ các thành viên trong xã hội trước hết thông qua việc bảo vệ cho các thành viên của gia đình ASXH còn là một yếu tố bảo hiểm, cho phép các gia đình được lựa chọn sinh
kế để phát triển
1.3 Các bộ phận cấu thành an sinh xã hội
Trang 24Về cấu trúc của hệ thống ASXH vẫn còn nhiều cách tiếp cận và quan điểm
khác nhau Trong đó, thông thường hệ thống ASXH được xem xét dưới hai góc độ
là quản trị rủi ro và các lĩnh vực cụ thể của an sinh xã hội
1.3.1 Từ góc độ quản trị rủi ro
Nhìn từ góc độ quản trị rủi ro, một hệ thống ASXH bao giờ cũng phải có tối
thiểu 3 hợp phần trong cấu trúc nội dung:
Thứ nhất: Các biện pháp mang tính chất phòng ngừa rủi ro
Đây được coi là tầng trên cùng của hệ thống ASXH Vai trò của tầng này là hướng tới can thiệp và bao phủ toàn bộ dân cư; giúp cho mọi tầng lớp dân cư có được việc làm, thu nhập, có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với rủi ro Trụ cột cơ bản nhất của hợp phần này là các biện pháp về thị trường lao động tích cực như đào tạo nghề; hỗ trợ người tìm việc, tự tạo việc làm hoặc đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động
Thứ hai: Các biện pháp mang tính chất giảm thiểu rủi ro
Đây được coi là tầng thứ hai của hệ thống ASXH, tầng này có vị trí đặc biệt quan trọng với các chiến lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro Nội dung quan trọng nhất trong tầng này là các hình thức bảo hiểm, dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp…
Chính sách thuộc tầng này rất nhạy cảm, nếu phù hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân, tiết kiệm nguồn lực nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống Ngược lại, nếu chính sách không phù hợp người dân sẽ không tham gia hoặc chính sách bị lạm dụng
Thứ ba: Các biện pháp mang tính chất khắc phục rủi ro
Đây được coi là tầng cuối cùng của hệ thống ASXH nhằm bảo vệ an toàn cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân họ không tự khắc phục được như: thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già,
Trang 25người tàn tật, trẻ em mồ côi, người nghèo Các chương trình trong hợp phần này thường là cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội (gồm cả trợ giúp xã hội đặc thù)
1.3.2 Từ góc độ các lĩnh vực cấu thành
1.3.2.1 Bảo hiểm xã hội
Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh BHXH ra đời và phát triển từ khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở châu Âu BHXH nhằm bảo đảm cuộc sống cho những người công nhân công nghiệp và gia đình họ trước những rủi ro xã hội như
ốm đau, tai nạn, mất việc làm…, làm giảm hoặc mất thu nhập Tuy nhiên, cũng do tính lịch sử và phức tạp của vấn đề, khái niệm BHXH đến nay cũng chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất và gần đây có xu hướng hòa nhập giữa BHXH với ASXH Khi
đề cập đến vấn đề chung nhất, người ta dùng khái niệm social security và vẫn dịch
là BHXH, nhưng khi đi vào cụ thể từng chế độ thì BHXH được hiểu theo nghĩa của
từ social insurance Tuy nhiên, sự hòa nhập này không có nghĩa là hai thuật ngữ này
là một Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và
gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội
Theo ILO, “Bảo hiểm xã hội được thiết lập trên cơ sở nguyên tắc cùng nhau chia sẻ rủi ro đòi hỏi mỗi người tham gia và được bảo vệ phải đóng góp tài chính vào một quỹ chung Khi gặp phải những rủi ro với những điều kiện quy định cho hưởng thì nhu cầu của người đó (hoặc một phần nhu cầu) sẽ được quỹ bảo hiểm xã hội thỏa mãn” Ở Việt Nam, khái niệm BHXH được rất nhiều tài liệu khoa học, giáo trình thuộc các chuyên ngành khác nhau nghiên cứu Một khái niệm chung được đa
số các nhà khoa học hiện nay sử dụng là:“ Bảo hiểm xã hội là sự bảo vệ có tính xã hội đối với người lao động thông qua quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ
Trang 26tập trung được tồn tích dần do sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ dưới sự điều tiết của Nhà nước nhằm đảm bảo phần thu nhập thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu của NLĐ và gia đình họ khi gặp những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập theo lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp ” [20, tr 20]
Dưới góc độ pháp luật, Bảo hiểm xã hội là tổng hợp những quy định của Nhà nước quy định các hình thức đảm bảo điều kiện vật chất và tinh thần cho người lao động và trong một số trường hợp là thành viên gia đình họ khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động [18, tr 114] Các quốc gia đều xác định BHXH là nội dung quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật ASXH, song sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ BHXH lại có sự khác nhau Về nội dung, đa phần các quốc gia giới hạn phạm vi điều chỉnh pháp luật BHXH với các chế độ trợ cấp trong các trường hợp rủi
ro làm giảm hoặc mất thu nhập nhưng cũng không loại trừ một số quốc gia xác định nội dung pháp luật BHXH bao gồm cả BHYT với quan điểm đây là các chế độ bảo hiểm có tính xã hội, quan điểm này chúng ta rất dễ bắt gặp ở các nước theo mô hình Châu Âu lục địa như Đức Có quốc gia lại thiết kế nội dung pháp luật BHXH gồm hai hệ thống chế độ BHXH bắt buộc và chế độ BHXH tự nguyện nhằm hướng tới việc bao quát toàn bộ NLĐ như các nước theo mô hình Anglo - Saxon, điển hình là Vương quốc Anh Tuy nhiên, đa phần các quốc gia trên thế giới thực hiện chi trả trợ cấp BHXH theo cơ chế đóng góp tài chính từ thu nhập của NLĐ với trách nhiệm
cụ thể phân chia cho NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ, bảo trợ của Nhà nước ở những mức độ khác nhau
BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi
ro giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, với một phần tham gia của Nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử
Trang 27dụng của Quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ
lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH…
1.3.2.2 Bảo hiểm y tế
Trong các bộ phận cấu thành ASXH, BHYT là bộ phận quan trọng giữ nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho các thành viên xã hội Là một phạm trù kinh tế - xã hội có tính nhân đạo sâu sắc, khái niệm BHYT được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ pháp luật, BHYT được hiểu là tổng hợp những quy định của Nhà nước điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe thông qua cơ chế đóng góp tài chính nhằm đảm bảo chi trả trợ cấp cho người tham gia khi bị rủi ro ốm đau, bệnh tật
Trên phương diện quốc tế, khái niệm BHYT được ILO đề cập với một số đặc trưng cơ bản như: thiết lập trên cơ sở đóng góp tài chính của người tham gia; bao gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh mà không phải trợ cấp bằng tiền mặt; không mang mục đích kinh doanh; quyền lợi BHYT phụ thuộc vào nhu cầu của bệnh lý và khả năng cung ứng dịch vụ y tế [26]
Mỗi quốc gia lại có những mô hình BHYT khác nhau, nhưng về cơ bản, tồn tại hai mô hình tiêu biểu: (i) Mô hình BHYT thực hiện bằng tài chính công và (ii)
Mô hình BHYT thực hiện bằng tài chính đóng góp
Ở mô hình BHYT thực hiện bằng tài chính công thường được quy định một chế độ BHYT có tính phổ quát, áp dụng đối với mọi người dân với gói quyền lợi cơ bản Trên cơ sở đó, người dân có quyền tham gia hình thức BHYT tự nguyện nhằm cung cấp dịch vụ chất lượng cao hơn theo yêu cầu Các chế độ BHYT tự nguyện được coi như chế độ bổ sung với đối tượng tham gia, chủ yếu là những người có thu nhập cao
Trong mô hình BHYT thực hiện bằng tài chính đóng góp thường quy định các chế độ BHYT theo loại hình thức bắt buộc và tự nguyện Tuy nhiên, chế độ
Trang 28BHYT bắt buộc và tự nguyện trong mô hình này cũng có sự khác nhau nhất định Các quốc gia đã thực hiện được BHYT toàn dân thường thiết lập chế độ hưởng phổ quát, tương tự như ở mô hình BHYT thực hiện từ nguồn tài chính công và vì vậy, vai trò của BHYT tự nguyện chỉ dừng lại như chế độ bổ sung mà thôi Các quốc gia chưa thực hiện được BHYT toàn dân thường chú trọng tới vai trò của BHYT tự nguyện nhiều hơn, họ thường xác định đối tượng tham gia chính là những người không thuộc phạm vi tham gia bắt buộc, mức đóng thường ấn định chung hoặc đưa
ra khung mức lựa chọn áp dụng, chế độ hưởng cũng có những khác biệt nhất định
so với chế độ hưởng BHYT bắt buộc
Về cơ bản, người tham gia BHYT được hưởng các dịch vụ y tế như: chăm sóc sức khỏe ban đầu, thăm khám, điều trị đa khoa, chuyên khoa, các dịch vụ xét nghiệm, chiếu chụp, cấp thuốc, chi phí nằm viện Như vậy, quyền lợi hưởng BHYT không phải trực tiếp bằng tiền mà chính là những dịch vụ y tế mà người tham gia sử dụng khi ốm đau, bệnh tật
1.3.2.3 Trợ giúp xã hội
Ra đời trên cơ sở của sự tương trợ cộng đồng truyền thống, trợ giúp xã hội
đã phát triển thành một bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống ASXH cũng như hệ thống pháp luật ASXH mỗi quốc gia Là một nội dung mang nặng tính
xã hội, do vậy khái niệm TGXH phụ thuộc rất nhiều vào quan niệm của từng quốc gia Ở góc độ khái quát nhất, ILO đưa ra những đặc trưng cơ bản của TGXH để nhận diện khi so sánh với các nội dung khác trong hệ thống ASXH:
- Đối tượng TGXH bao gồm mọi người dân không có sự phân biệt khi gặp phải những rủi ro, bất hạnh, khó khăn trong cuộc sống
- Nghĩa vụ đóng góp không đặt ra như một yêu cầu đối với người được trợ giúp Tài chính đảm bảo thực hiện chủ yếu lấy từ nguồn tài chính công và từ sự giúp đỡ, đóng góp tự nguyện của cộng đồng;
- Mức trợ cấp được xác định dựa trên nhu cầu thực sự và thiết yếu của người hưởng, có tính đến tình trạng kinh tế (thu nhập và tài sản) của họ;
Trang 29- Mục đích của trợ cấp nhằm giúp duy trì cuộc sống của người thu hưởng và gia đình họ chứ không nhằm khôi phục lại mức sống của họ như trước khi gặp rủi
ro, bất hạnh
Trên phương diện pháp luật quốc tế, không có một quy chuẩn nào bắt buộc
áp dụng thực hiện TGXH cho các quốc gia mà chỉ dừng lại ở việc xác định quyền hưởng TGXH như là quyền cơ bản của con người trong xã hội nhằm đảm bảo sự tồn tại với những điều kiện sinh sống tối thiểu như ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế, đảm bảo nhu cầu thiết yếu khi gặp rủi ro Việc đảm bảo thực hiện quyền con người này
ở các quốc gia khác nhau phụ thuộc vào điều kiện riêng của từng quốc gia
1.3.2.4 Các nội dung khác của ASXH
- Ưu đãi xã hội
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ của Nhà nước, cộng đồng đối với những thành viên có công lao đối với đất nước Trên thế giới, bất kì quốc gia nào cũng có một bộ phận dân cư có công với Tổ quốc, do vậy các quốc gia đều thực hiện những chính sách ưu đãi Tùy theo từng điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau mà các quốc gia quy định vị trí, vai trò của ƯĐXH với các chính sách, chế độ ưu đãi khác ƯĐXH là một nội dung mang nặng tính xã hội, gắn liền với những đặc thù của quốc gia Do vậy, mỗi quốc gia có cách tiếp nhận riêng với nội dung này Trên phương diện pháp luật quốc tế, khái niệm ƯĐXH cũng như pháp luật ƯĐXH hầu như chưa được đề cập đến Ở Việt Nam xuất phát từ đặc điểm riêng về truyền thống, đạo lý, cũng như lịch sử của dân tộc, ƯĐXH đã được luật hóa trở thành một nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật ASXH, có thể hiểu ƯĐXH “tổng hợp những quy phạm pháp luật quy định về các điều kiện, hình thức, mức độ đảm bảo vật chất và tinh thần cho những người có công và một số thành viên trong gia đình
họ trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội” [18, tr 269]
Trên thế giới hầu như không một quốc gia nào đề cập đến nội dung ƯĐXH với vị trí là một bộ phận độc lập với hệ thống văn bản chuyên biệt riêng như ở Việt Nam Như ở Pháp thì ƯĐXH được thể chế thực hiện trong pháp luật về lao động với
Trang 30các quy định ưu tiên thương binh, vợ con liệt sĩ Ở Mỹ, thì nội dung này lại được quy định trong hệ thống dịch vụ công với các chế độ ưu tiên, ưu đãi về trợ cấp vật chất, nhà ở Việc tồn tại một bộ phận pháp luật ƯĐXH độc lập và giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống ASXH Việt Nam là một nét đặc biệt so với thông lệ quốc tế Điều này xuất phát từ đặc điểm riêng về lịch sử dân tộc, truyền thống, đạo lý và nhu cầu thực tiễn xã hội Trải qua bao cuộc chiến tranh cách mạng để có được sự độc lập cho Tổ quốc chúng ta đã phải hy sinh, tổn thất rất nhiều về tính mạng, sức khỏe của nhân dân Số đối tượng có công ở Việt Nam là rất lớn và cần được ghi nhận công trạng và đền đáp xứng đáng Xuất phát từ truyền thống tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn” nên việc thực hiện ƯĐXH không chỉ là trách nhiệm của riêng Nhà nước mà còn là trách nhiệm chung của cả cộng đồng và phải được điều chỉnh bằng pháp luật Đặc điểm khác biệt của đối tượng ƯĐXH so với các đối tượng khác của hệ thống pháp luật ASXH là nghĩa vụ đóng góp vật chất hoặc tình trạng kinh tế, nhu cầu cuộc sống không được đặt ra như là một trong các điều kiện hưởng Chỉ cần được công nhận là người có công biểu hiện bằng việc đạt được các danh hiệu, huy hiệu, giấy chứng nhận, bằng, kỉ niệm chương Thì đương nhiên đối tượng đó thuộc diện hưởng chế độ ƯĐXH Nghĩa vụ đóng góp của họ được thể hiện bằng hình thức đặc biệt, đó là sự cống hiến, hy sinh tính mạng, sức khỏe, tuổi trẻ, gia đình cho Tổ quốc Sự đóng góp này là vô giá không thể được xác định bằng vật chất thông thường
- Các chế độ trợ cấp từ thu nhập chung của quốc gia (còn gọi là phúc lợi
xã hội)
Đây chính là những chế độ trợ cấp, hỗ trợ từ tài chính công trong tất cả các lĩnh vực của đời sống Tiếp cận dưới góc độ kinh tế, nhiều quốc gia xác định nội dung cơ bản của ASXH chính là BHXH với nguồn tài chính đóng góp và phúc lợi
xã hội với nguồn tài chính công
Phúc lợi xã hội chính là một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên xã hội,
Trang 31chủ yếu được phân phối ngoài thu nhập theo lao động Đối tượng hưởng là mọi thành viên xã hội, trước tiên và chủ yếu là những đối tượng người già, trẻ em, người
cô đơn, người tàn tật, người cần chăm sóc về y tế Nội dung bao gồm các chế độ trợ cấp vật chất, cung cấp các dịch vụ y tế miễn phí, trợ cấp về nhà ở, giao thông mà không yêu cầu sự đóng góp của người thụ hưởng và xem xét đến tình trạng kinh tế của đối tượng Trợ cấp vật chất thường được xác định mức đồng nhất và áp dụng cho tất cả công dân thường trú hoặc định cư dài hạn, song cũng có những quốc gia mở rộng cho đối tượng người nước ngoài sinh sống và làm việc ở nước sở tại Việc quy định cụ thể chế độ phúc lợi trong pháp luật các quốc gia cũng có sự khác nhau nhất định Nhiều quốc gia chú trọng đến vấn đề sức khỏe thiết lập cả dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu miễn phí cho toàn dân như Anh, Thụy Điển Có một số quốc gia chú trọng đến giáo dục như Đan Mạch, Phần Lan, Đức
- Chế độ trợ cấp gia đình
Chế độ trợ cấp gia đình là một trong 9 chế độ trợ cấp được ILO quy định trong Công ước 102 quy định với những quy phạm tối thiểu Chế độ trợ cấp gia đình chủ yếu là dành cho những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt, nhất là những gia đình đông con nhằm giúp họ có những khoản thu nhập nhất định đảm bảo cuộc sống, không rơi vào hoàn cảnh túng quẫn vì phải chi phí nhiều cho việc nuôi con Nguồn tài chính đảm bảo thực hiện trợ cấp thường có sự đóng góp của NSDLĐ và được thiết kế bổ sung với chế độ BHXH như ở Đức, Phần Lan Một số quốc gia thiết lập chế độ này dựa trên nguyên tắc dịch vụ công với nguồn tài chính được đảm bảo hoàn toàn từ Nhà nước như ở Anh, Đan Mạch, Thụy Điển Điều kiện chủ yếu
để được hưởng trợ cấp là thời hạn cư trú của gia đình và số con, không liên quan đến vấn đề việc làm và thu nhập
Trợ cấp gia đình thường căn cứ vào số con, tùy theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình ở các nước khác nhau mà lũy tiến hay lũy thoái mức trợ cấp từ đứa con thứ nhất, hai, ba Hình thức trợ cấp gia đình không chỉ bằng tiền mặt mà bằng cả hiện vật như miễn thuế với danh nghĩa gánh nặng gia đình, dịch vụ chăm
Trang 32sóc trẻ em trước khi đi học, cung cấp thực phẩm Mức trợ cấp này thường ở mức thấp
- Dịch vụ xã hội:
Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội Theo đó, dịch vụ xã hội bao gồm:
+ Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh, chăm sóc, nhà ở….mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khả năng lao động đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực
+ Dịch vụ y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục
hồi chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng
+ Dịch vụ giáo dục: Trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống, các hình thức giáo dục hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt…
+ Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã hội
rất quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạt động giải trí như văn nghệ, thể thao,… nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hoà nhập tốt hơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng…
về vấn đề này Về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc
Trang 33so với đổi mới tư duy về mô hình kinh tế, việc đổi mới tư duy về mô hình ASXH và
giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh còn chậm và thiếu bền vững Ở nước ta,
ASXH vẫn được coi là trách nhiệm của Nhà nước, chưa thu hút được các thành phần kinh tế, các chủ thể và nguồn lực khác cho công tác này, xã hội hóa kém, điều kiện và năng lực tự vươn lên của người dân còn thấp Trong khi đó, nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước nhằm thực hiện ASXH còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách công, với diện che phủ thấp, tỉ lệ tham gia thấp và mức hưởng thấp Các hình thức bảo hiểm chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân và chưa đổi mới để theo kịp sự phát triển của kinh tế thị trường
Trước yêu cầu nói trên, nghiên cứu xây dựng mô hình và định hướng chính sách ASXH ở Việt Nam là hết sức cấp thiết, phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển bền vững, tiến tới việc hoàn thiện mô hình ASXH ở nước ta trong những điều kiện và thách thức mới của bối cảnh quốc tế Do đó, việc nghiên cứu các mô hình an sinh xã hội điển hình trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là việc quan trọng trước hết cần làm Trên thế giới có rất nhiều mô hình an sinh xã hội khác nhau, nhưng điển hình nhất vẫn là mô hình an sinh xã hội của Châu
Âu lục địa, của Bắc Âu, của Anglo - Sacxon và của Liên Hợp Quốc Những mô
Trang 34hình an sinh xã hội này có lịch sử phát triển lâu dài, cấu trúc an sinh xã hội khoa học, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho người dân, mang lại lợi ích cho tất cả các thành viên trong xã hội Sau đây, luận văn xin đi vào nghiên cứu các mô hình an sinh xã hội điển hình đó, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho mô hình an
sinh xã hội ở Việt Nam
2.1 Mô hình an sinh xã hội của Châu Âu lục địa
2.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển
Mô hình an sinh xã hội Châu Âu lục địa có cách tiếp cận tương đối khác biệt khi đặt trọng tâm vào vấn đề giải quyết việc làm, coi đó là nền tảng căn bản cho chuyển đổi xã hội Các phúc lợi khác được duy trì ở mức độ vừa phải và gắn với thu nhập Các chuyển đổi xã hội được đảm bảo thông qua đóng góp của cả người lao động và chủ sử dụng lao động Khi nghiên cứu mô hình an sinh xã hội của Châu Âu lục địa, chúng ta sẽ xét trường hợp điển hình của nước Đức
Hệ thống an sinh xã hội của Đức chủ yếu thực hiện theo mô hình Bismarck, lấy hệ thống bảo hiểm xã hội làm nòng cốt để thực hiện chính sách an sinh cho mọi người dân Hệ thống bảo hiểm xã hội ở Đức thực hiện trên cơ sở “hợp đồng giữa các thế hệ” (pay as you go), thanh toán bảo hiểm trên nguyên tắc phụ thuộc, trong
đó thế hệ lao động trẻ đóng góp những khoản tài chính để cung cấp bảo hiểm hưu trí cho thế hệ già Mặc dù trong những năm gần đây, hình thức thanh toán bảo hiểm kiểu này đang được cải cách theo hướng linh hoạt hơn, nhưng nó vẫn chủ yếu dựa trên sự đóng góp tài chính của ba đối tượng: cá nhân người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước
Hệ thống an sinh xã hội Đức được hình thành từ thế kỷ XIX thông qua bốn loại bảo hiểm cơ bản là bảo hiểm y tế (thực hiện từ năm 1883), bảo hiểm tai nạn (1884), bảo hiểm hưu trí (1889) và bảo hiểm thất nghiệp (1927) Từ năm 1994, Đức thực hiện Đạo luật về bảo hiểm chăm sóc sức khỏe và loại bảo hiểm này trở thành một trong những bộ phận cơ bản của hệ thống bảo hiểm xã hội Đức Bên cạnh hệ thống bảo hiểm, các hình thức bảo hiểm xã hội khác như bảo trợ nuôi dưỡng trẻ em,
Trang 35bảo hiểm dành cho người già… cũng được phát triển mạnh mẽ ở Đức Do những khó khăn về kinh tế do hậu quả của các cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, hệ thống an sinh xã hội Đức ngày càng được ưa chuộng và mở rộng lĩnh vực hoạt động và quy mô tài chính Có thể thấy thói quen được hưởng sự “bảo đảm
xã hội” thông qua hệ thống an sinh xã hội đã trở thành một giá trị xã hội và ngày càng ăn sâu vào tiềm thức của người dân Đức rõ nét hơn ở các nước khác Một chế
độ xã hội theo mô hình này đã được xây dựng ở Đức, với đặc trưng chủ đạo là Nhà nước thị trường xã hội (hình thành từ năm 1949) với mục đích kết hợp sức mạnh của nền kinh tế thị trường thuần túy với quyền tự do của con người đạt tới mức độ cao, tính hiệu quả kinh tế và hiệu quả can thiệp của Chính phủ nhằm khắc phục những mặt trái của kinh tế thị trường vì mục đích công bằng xã hội
Trong các thập kỷ 1950 đến 1970, nước Đức đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế ngoạn mục Sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế đã tạo ra những tiền đề vật chất quan trọng và tăng cường cho các chính sách an sinh xã hội ở Đức Tuy nhiên, trong những thập kỷ sau đó, tăng trưởng kinh tế đã có chiều hướng suy giảm dần, trong khi nhà nước vẫn chú trọng đến các chính sách xã hội, khiến gánh nặng chi phí ngày càng lớn, thâm hụt ngân sách càng nặng nề, các doanh nghiệp không những giảm cạnh tranh trên thị trường mà còn phải chịu những sức ép khác
về lương, trợ cấp cho người lao động Các khoản thuế thu nhập quá cao đối với những người có thu nhập cao đã làm mất đi tính sáng tạo và hiệu quả trong nền kinh
tế, giảm đi sự hăng say lao động bởi vì thu nhập quá một mức nào đó sẽ bị thu thuế cao hơn Mặt khác, chế độ bảo hiểm xã hội quá rộng rãi đã tạo ra một tầng lớp người dân lười nhác, ỷ lại vào trợ cấp xã hội, thậm chí lợi dụng chính sách xã hội để
có nguồn thu chính đáng Do vậy, trong suốt quá trình thực hiện chính sách an sinh
xã hội kể từ thập kỷ 1970 cho đến nay, luôn diễn ra những cuộc tranh luận và cải cách hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, tìm ra sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với chính sách xã hội Sức ép việc làm trong thập kỷ 1970 và 1980 ở Đức đã dẫn đến việc mở rộng các chế độ nghỉ hưu sớm theo kiểu “phúc lợi không có việc làm”
và điều này đang dẫn tới những sức ép về sự loại trừ xã hội, thất nghiệp và những
Trang 36rủi ro khác Vào năm 1997, nước Đức đã thông qua Luật về Chế độ hưu trí, đem lại một phúc lợi xã hội rất cơ bản trong đó nhà nước đảm bảo tiền hưu được điều chỉnh theo nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế, tránh cho những người về hưu bị loại khỏi
sự hưởng thụ những thành quả kinh tế khi về hưu Vào tháng 5/2001, một Đạo luật cải cách hưu trí mới ở Đức được thực hiện nhằm quy định lại tỷ lệ đóng góp và mức lương tối thiểu người về hưu được hưởng, nhằm tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân trong quỹ bảo hiểm hưu trí, nguồn thu linh họa cho quỹ lương hưu, giảm gánh nặng ngân sách, đồng thời giảm đáng kể số người được hưởng lợi ích từ quỹ hưu trí
Những cải cách trong các lĩnh vực khác cũng đang được Chính phủ Đức tiến hành nhằm hạn chế rủi ro từ hệ thống an sinh xã hội đang áp dụng Mô hình Bismarck đang dẫn tới những quy định yếu kém trong chăm sóc sức khỏe trẻ em ở Đức và các điều khoản này được mở rộng trong thời gian gần đây Vào năm 1986, Chính phủ của cựu Thủ tướng Kohn đã thực hiện cải cách trợ cấp dành cho cha mẹ
và những chính sách khác nhằm thúc đẩy lao động nửa ngày (part-time) của phụ nữ Gần đây hơn, Chính phủ đã thực hiện các chính sách khuyến khích các bang mở rộng ngày đến trường tiểu học và tăng các điều khoản chăm sóc trẻ em thông qua những khoản trợ cấp đặc biệt và tăng trợ cấp gián tiếp
2.1.2 Cấu trúc mô hình an sinh xã hội Châu Âu lục địa
Mô hình phát triển xã hội ở Đức được thể hiện qua những khía cạnh:
Mục tiêu “phúc lợi cho tất cả mọi người”, nền kinh tế thị trường xã hội Đức tạo điều kiện cho quảng đại quần chúng hưởng thụ của cải của quốc gia có thể bằng
nỗ lực của chính mình hoặc bằng sự hỗ trợ của xã hội Điều này sẽ tạo ra mức sống tốt hơn và quan trọng là mở rộng các cơ hội tiếp cận giáo dục, đào tạo chuyên môn, giúp cho các cá nhân có thể tự khẳng định mình Muốn có phúc lợi cho tất cả mọi người cần phải tạo ra thật nhiều của cải cho xã hội
Lấy công bằng xã hội là mục đích chính trị và kinh tế Thông qua các biện pháp an sinh xã hội và việc phân bố lại thu nhập theo hướng có lợi cho những người
Trang 37không thể tự giúp mình Ngoài ra tình đoàn kết trong xã hội được chú trọng, các thành viên trong xã hội có khả năng và giàu có hơn phải đóng góp nhiều hơn để cải thiện cơ hội và chất lượng sống cho những người yếu thế hơn Chẳng hạn, mức thuế hay bảo hiểm xã hội đối với người giàu phải cao hơn người nghèo
Mô hình xã hội Châu Âu lục địa (Continental Corporatist Model), mà Đức là một trường hợp cụ thể - chủ yếu dựa trên hệ thống bảo hiểm y tế, thất nghiệp và chế
độ hưu trí và giải quyết việc làm Các nghiệp đoàn ở đây rất mạnh nhờ được pháp luật cho quyền thương lượng với giới chủ và nhà nước Các chế độ phúc lợi được duy trì vừa phải và gắn với thu nhập
Một đặc điểm cơ bản của các nước theo mô hình an sinh xã hội Châu Âu lục địa là nhà nước xây dựng mạng lưới bảo trợ xã hội rộng khắp để đảm bảo cho mọi người dân được hưởng những dịch vụ phúc lợi cơ bản Tuy nhiên, phần lớn các quỹ bảo hiểm được quản lý bởi tổ chức công đoàn và người sử dụng lao động chứ không phải nhà nước Không giống như mô hình an sinh xã hội như Bắc Âu, nhà nước nắm vai trò lớn hay mô hình Anglo - Saxon thì lại tập trung hóa cao độ, hạn chế các quyền hạn của địa phương; các nước theo mô hình Châu Âu lục địa không theo mô hình tập trung dưới sự quản lý nhà nước mà là một hệ thống phức hợp bao gồm các
cơ quan cung cấp dịch vụ xã hội ở tầm quốc gia và các cơ quan độc lập ở các bang
và địa phương Các cơ quan này một số là của nhà nước, một số bán công, một số
do công ty tư nhân quản lý hoặc tự nguyện
Các đặc điểm và nguyên tắc chính của hệ thống an sinh xã hội Mô hình Châu
Âu lục địa là: i) bảo đảm phúc lợi cho người dân dựa vào một hệ thống bảo hiểm xã hội tương đối hoàn chỉnh, đóng vai trò quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội và thể hiện đặc điểm nổi bật của mô hình Đức; ii) hệ thống này hoạt động dựa vào sự đóng góp tài chính như nhau của cả người lao động và người sử dụng lao động; iii) nguyên tắc là chi trả theo mức sử dụng dịch vụ phúc lợi của người dân; iv) lợi ích mà người sử dụng hưởng gắn với thu nhập của họ và v) nguyên tắc “hợp tác
xã hội”, tức là quản lý hệ thống bảo hiểm thông qua các quĩ bảo hiểm xã hội hoạt
Trang 38động độc lập, phần lớn được quản lý bởi tổ chức công đoàn và người sử dụng lao động chứ không phải do Nhà nước
2.1.2.1 Bảo hiểm y tế và dự phòng bệnh tật
Bảo hiểm y tế được thực hiện ở Đức từ năm 1883 sau khi Luật về bảo hiểm y
tế đối với công nhân được ban hành Bảo hiểm y tế thực sự trở thành một loại bảo hiểm bắt buộc trên cơ sở pháp lý của Bộ luật bảo hiểm năm 1911 và kể từ năm 1995
đã được phát triển thành chế độ bảo hiểm chăm sóc y tế dài hạn
Đối tượng được hưởng bảo hiểm y tế bắt buộc là toàn thể người dân sống ở Đức Toàn thể công nhân, nhân viên đều có nghĩa vụ bảo hiểm, khi thu nhập hàng tháng của họ không vượt quá giới hạn nghĩa vụ bảo hiểm (khoảng 6525 DM năm 2001) Tiếp đó là nông dân và các thành viên gia đình giúp việc, các nghệ sĩ và người xuất bản, người thất nghiệp, người tàn tật, người nghỉ hưu, sinh viên và những người đang hộc nghề thực hành Những người không có nghĩa vụ bảo hiểm thì có thể tham gia bảo hiểm tự nguyện
Hơn 90% dân số được chăm sóc sức khỏe thông qua Chương trình bảo hiểm sức khỏe luật định (GKV) của Đức Tham gia chương trình này là bắt buộc đối với tất cả những người có thu nhập ít hơn mức trần (được điều chỉnh định kì) Gần như tất cả mọi người còn lại nhận được chăm sóc sức khỏe qua các công ty bảo hiêm tư nhân
Theo quy định kể từ ngày 1/7/2002 đối với người lao động có thu nhập dưới mức tối thiểu (400-800 Euro/tháng) thì khoản phí bảo hiểm phải đóng sẽ được xác định bằng số tuyệt đối và cả người lao động và người sử dụng lao động đều có trách nhiệm chi trả như nhau Đối với những người còn lại, phí bảo hiểm sẽ là 13,99% tổng thu nhập hàng tháng Ngoài ra, Chính phủ cũng trợ cấp bảo hiểm cho một số đối tượng như người nghèo, thất nghiệp, hoặc người già
Dịch vụ bảo hiểm y tế bắt buộc được cung cấp bởi một hệ thống các công ty bảo hiểm hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, các công ty này cùng với các cơ quan nhà nước thực hiện chương trình y tế quốc gia Ngoài ra, người dân có thể
Trang 39tham gia bảo hiểm tự nguyện trong khoảng thời gian ngắn hạn cho những trường hợp cư trú ngắn hạn hay những người tàn tật Cơ chế đóng bảo hiểm của 2 loại hình này như sau:
Bảo hiểm y tế do nhà nước quản lý: Mức đóng dựa vào tổng thu nhập (khoảng 14% tổng thu nhập của người tham gia bảo hiểm) Nếu một người có mức thu nhập cao hơn mức trung bình có thể lựa chọn mức đóng bảo hiểm thấp hơn cho các công ty bảo hiểm tư nhân
Bảo hiểm y tế tư nhân: Mức đóng dựa trên tình trạng sức khỏe của người tham gia bảo hiểm, không phụ thuộc vào thu nhập Ngoài ra, các công ty bảo hiểm này cũng có mức đóng phí khác nhau cho các dịch vụ chăm sóc y tế theo từng loại đối tượng và đối tượng thu hút đóng bảo hiểm của các công ty thường là nam giới trong độ tuổi lao động
Tiện ích của bảo hiểm y tế bắt buộc gồm các biện pháp phòng bệnh, điều trị bệnh và bảo hiểm đối với việc mất nguồn thu nhập vì bệnh tật kéo dài Phòng bệnh bao gồm khám sức khỏe phòng các bệnh như ung thư, tim, tuần hoàn máu bệnh thận, điều dưỡng và hỗ trợ phòng bệnh về răng trước tiên cho thanh thiếu niên Tiện ích điều trị bệnh bao gồm điều trị bởi bác sĩ và nha sĩ sở tại, điều trị tại bệnh viện và cung cấp thuốc men, bông băng, thuốc chữa trị và thuốc bổ Để duy trì thu nhập khi
ốm đau, người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả tổng lương đầy đủ tiếp cho 6 tuần
lễ kể từ khi người được bảo hiểm mất khả năng làm việc do ốm đau và điều dưỡng bắt buộc Sau đó, kể từ tuần lễ thứ 7 bị ốm trở đi, bảo hiểm y tế bắt buộc nhận trả lương tiếp bằng khoản tiền ốm đau Tiền ốm đau bằng 70% tiền công thường xuyên tính đến giới hạn chuẩn bảo hiểm Còn ở bảo hiểm y tế tư nhân trái lại các tiện ích không được ấn định theo luật, mà do thỏa thuận giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm
Trong thời gian gần đây, Đức cũng tiến hành một số cải cách nhằm nâng cao tính cạnh tranh trong việc cấp cung các dịch vụ y tế bắt buộc, với sự áp dụng Luật cạnh tranh trong hệ thống bảo hiểm y tế, chính phủ liên bang đã tạo ra môi trường
Trang 40kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh trong hệ thống y tế Đức đảm bảo sự phân phối hiệu quả trong việc sử dụng dịch vụ y tế và cải cách cơ cấu tổ chức nhằm giảm các chi phí hành chính
2.1.2.2 Bảo hiểm tai nạn lao động
Bảo hiểm tai nạn được thực hiện tại Đức từ năm 1894 do Bismark thành lập
có nhiệm vụ bảo hiểm cho các công nhân và viên chức chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp trong trường hợp có tai nạn lao động xảy ra Từ đó cho tới nay, xét về mặt nội dung và trong mối liên quan tới các nhóm người được bảo hiểm, các nhiệm vụ bảo hiểm đã được mở rộng đáng kể Bảo hiểm tai nạn ngày nay chủ yếu dựa trên nền tảng của Luật bảo hiểm năm 1911 và Bộ luật sửa đổi có hiệu lực từ đầu năm
1993 Cho đến nay đã có hàng loạt các văn bản luật pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện bảo hiểm tai nạn Cơ quan quản lý và thực hiện bảo hiểm tai nạn là các hiệp hội chuyên nghiệp Các hiệp hội này đảm nhận hai chức năng sau:
- Kiểm tra an toàn trong các doanh nghiệp với mục đích phòng tránh tai nạn
- Trong trường hợp mục đích cải thiện an toàn lao động không đạt được thì
có thể áp dụng các biện pháp xử lý như phạt và truy tố trước pháp luật
Trong bảo hiểm tai nạn, đối tượng được bảo hiểm là những công nhân và viên chức, cũng như các nông dân, công nhân làm việc tại nhà, các diễn viên, nghệ
sĩ, những người lao động nghệ thuật và các doanh nghiệp nhỏ nhất định Những người được bảo hiểm còn là những người tù có năng lực lao động, những người cứu sống người khác, những người hiến máu và những người cứu nạn, những người tự
vệ do bị tấn công phi pháp và những người cùng trợ giúp khi theo dõi hay bắt giữ một cá nhân bị tình nghi là phạm tội Ngoài ra, trẻ em gửi ở các nhà trẻ, học sinh phổ thông, những người học nghề trong khi đào tạo nghề, các giáo viên cũng như các sinh viên trong khi đào tạo và tiếp tục đào tạo tại các trường đại học cũng được bảo hiểm tai nạn
Các tổ chức có thẩm quyền bảo hiểm tai nạn là các hợp tác xã thủ công nghiệp và nông nghiệp được phân chia theo lĩnh vực ngành nghề và các tổ chức bảo