Khái niệm về chỉ định thầu Luật Đấu thầu năm 2013 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua đã đưa ra một định nghĩa về chỉ định thầu có tính cách pháp lý như sau:
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ CHỈ ĐỊNH THẦU Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI BỘ CÔNG AN
Trang 2TÁC GIẢ LUẬN VĂN: NGUYỄN NGỌC ANH
HÀ NỘI - 2016
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ CHỈ ĐỊNH THẦU Ở VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI BỘ CÔNG AN
TÁC GIẢ LUẬN VĂN: NGUYỄN NGỌC ANH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Trang 4MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TIẾN SĨ: NGUYỄN THỊ YẾN
HÀ NỘI - 2016
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học cũng như nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật kinh tế - Viện Đại học mở Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật kinh tế xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Trang 6Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã chia sẻ, giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong lúc khó khăn nhất, giúp tôi có thêm sức mạnh về mặt tinh thần để hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Đặc biệt để có được kết quả như ngày hôm nay, tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Yến, cô đó nhiệt tình và tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Tổng quan nghiên cứu 2
1.3 Mục đích nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Kế hoạch nghiên cứu 5
1.7 Nội dung của Luận văn 5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỈ ĐỊNH THẦU VÀ PHÁP LUẬT CHỈ ĐỊNH THẦU 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, và vai trò của chỉ định thầu 9
1.1.1 Khái niệm về chỉ định thầu 9
1.1.2 Đặc điểm của chỉ định thầu 10
1.3.3 Vai trò của chỉ định thầu 11
1.2 Khái quát pháp luật về chỉ định thầu 14
1.2.1 Khái niệm pháp luật chỉ định thầu 14
1.2.2 Nội dung về pháp luật chỉ định thầu 17
1.3 Các nguyên tắc của chỉ định thầu 23
Kết luận Chương 1: 25
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHỈ ĐỊNH ĐẤU THẦU Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI BỘ CÔNG AN 26 2.1 Thực trạng pháp luật về chỉ định thầu 26
2.1.1 Chủ thể có liên quan đến hoạt động chỉ định thầu 26
2.1.2 Đối tượng của chỉ định thầu 30
2.1.3 Các trường hợp áp dụng chỉ định thầu 32
2.1.4 Qui trình thực hiện chỉ định thầu 39
2.1.5 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động chỉ định thầu 44
2.1.6 Xử lý vi phạm trong hoạt động chỉ định thầu 49
Trang 82.2 Thực trạng áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu Chỉ định thầu từ một số dự án
tại Bộ Công an 50
2.2.1 Hệ thống văn bản quản lý, hoạt động chỉ định thầu từ thực trạng áp dụng trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Bộ Công an và một số tồn tại hạn chế 50
2.2.2 Thực trạng công tác quản lý tổ chức chỉ định thầu trong các dự án Đầu tư xây dựng tại Bộ Công an 54
2.2.3 Quy trình thực hiện Chỉ định thầu tại Bộ Công an 59
2.3 Những ưu điểm và hạn chế trong việc tổ chức chỉ định thầu từ các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Bộ Công an 61
2.3.1 Ưu điểm áp dụng hình thức chỉ định thầu trong các dự án Đầu tư xây dựng cơ bản tại Bộ Công an 61
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân với hình thức tổ chức chỉ định thầu trong các dự án đầu tư xây dựng nói chung 64
Kết luận Chương 2: 67
Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHỈ ĐỊNH THẦU Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI BỘ CÔNG AN 68
3.1 Kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật chỉ định thầu 68
3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả pháp luật chỉ định thầu 76
Kết luận chương 3: 78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 9BCĐG : Báo cáo đánh giá
Cục H59 : Cục Quản lý Công nghiệp an ninh và Doanh nghiệp
Cục H43 : Cục Kế hoạch và Đầu tư
Cục H45 : Quản lý xây dựng và doanh trại
H55 : Phòng Quản lý cộng sản
H60 : Phòng thẩm định
H61 : Trung tâm mua sắm tập trung Bộ Công an
V22 : Cục Tài chính
Tổng cục IV : Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an
Doanh nghiệp an ninh: là các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Quốc phòng; Bộ Công an (quy định chi tiết tại Nghị định số 93/2015/NĐ-CP ngày 15 / 10 / 2015, về
tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh)
Trang 111
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh đất nước ta đang ra sức thi đua phấn đấu hoàn thành các mục tiêu về kinh tế xã hội giai đoạn 2015-2020, Đảng xác định từ đại hội XII đến năm
2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước Công nghiệp
Bộ Công an với vai trò là nòng cốt thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về
an ninh trật tự, an toàn xã hội tại văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII đề cập đến vai trò quản lý Công nghiệp an ninh Từ nghị quyết trên Đảng ủy CATW, lãnh đạo Bộ yêu cầu quyết tâm xây dựng Đề án phát triển CNAN và triển khai hiệu quả, có tổ chức chuyên trách về CNAN
Cục H59 (Cục quản lý Công nghiệp an ninh và Doanh nghiệp)-Tổng cục
IV-Bộ Công an với vai trò chức năng là đơn vị tham mưu cho Lãnh đạo IV-Bộ Công an về công tác tổ chức quản lý đấu thầu nói chung và công tác Chỉ định thầu các gói thầu hạng mục đặc thù nói riêng Quản lý tốt công tác chỉ định thầu trong Công an nhân dân góp phần vào thành công của các hạng mục công trình dự án cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách trong hoạt động đầu tư xây dựng trong Công an nhân dân
Trong suốt quá trình hoạt động của mình tập thể Lãnh đạo Cục H59 cùng toàn thể cán bộ chiến sĩ Cục luôn cố gắng với tinh thần chính trị cao nhất hoàn thành nhiệm vụ được giao về công tác quản lý đấu thầu trong Công an
Tuy nhiên ngoài các thành công ban đầu kể trên, đó xuất hiện một số vấn đề
về chính sách trong công tác đấu thầu nói chung và công tác chỉ định thầu nói riêng trong Công an nhân dân Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 hiệu lực từ ngày 01/07/2014 và Nghị định số 63/2014/ND-CP ngày 26/6/2014 hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu mới điều chỉnh các hoạt động đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước bao gồm Bộ Công an
Bản thân tác giả trong quá trình công tác thực tiễn làm việc tại Ban quản lý
dự án trồng cây thuốc theo tiêu chí GACP tại một số trại giam phục vụ y tế ngành Công an; Ban quản lý B59-H59-BCA đó nhận thấy một số mâu thuẫn bất hợp lý
Trang 122
trong quy định về công tác chỉ định thầu khi áp dụng vào các gói thầu trong CAND
Từ lý do trên tác giả lựa chọn đề tài "Pháp luật về chỉ định thầu ở Việt Nam từ
thực tiễn áp dụng tại Bộ Công an", qua đó phân tích những ưu điểm, hạn chế, bất
hợp lý của Chính sách pháp luật Từ đó kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế chính sách trong công tác quản lý đấu thầu nói chung và pháp luật về Chỉ
định thầu nói riêng
1.2 Tổng quan nghiên cứu
Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 hiệu lực từ ngày 01/07/2014 và Nghị định
số 63/2014/ND-CP ngày 26/6/2014 hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu mới điều chỉnh các hoạt động đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước bao gồm các dự án đầu tư xây dựng; trang thiết bị; khoa học công nghệ trong Công an Tuy nhiên khi
áp dụng vào một số dự án trong Công an đó phát sinh nhiều điểm bất hợp lý
Chỉ định thầu là một trong 7 hình thức lựa chọn nhà thầu được áp dụng trong một số trường hợp do Luật Đấu thầu quy định, so với các hình thức còn lại Chỉ định thầu có những ưu điểm cũng như hạn chế riêng Ưu điểm trong những trường hợp đặc biệt cấp bách; gói thầu cần đảm bảo yếu tố an ninh, bí mật song cũng có những điểm hạn chế như: Tính cạnh tranh không cao; Nhiều dự án bị chia nhỏ gói thầu để đáp ứng hạn mức chỉ định thầu
Nghiên cứu về đề tài Chỉ định thầu nhằm phân tích những ưu điểm cũng như hạn chế của hình thức này, từ đó tìm ra những biện pháp để hoàn thiện nâng cao hiệu quả của Chỉ định thầu Tuy nhiên do Chỉ định thầu đa phần chỉ áp dụng với các
dự án gói thầu từ Ngân sách nhà nước hoặc các dự án gói thầu từ vốn đi vay, viện trợ các đề tài trên chỉ tập trung đi sâu vào hình thức đấu thầu rộng rãi, hạn chế, chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp như:
- Tác giả Ngô Tấn Hưng (2013) Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học
Đà Nẵng, đề tài " Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công
ty xây dựng công trình 545" đề tài phân tích các hình thức lựa chọn nhà thầu trong
đó tập trung vào đấu thầu xây dựng, đề xuất nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu
Trang 13- Tác giả Nguyễn Mạnh Hà (2012) Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Khoa học và Kỹ thuật Long Hoa, đề tài "Hoàn thiện hệ thống quản lý các dự án đầu tư xây dựng trong Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng" đề tài nghiên cứu về quản lý án đầu tư xây dựng trong Bộ Tổng tham mưu - BQP phân tích thực trạng các quy định pháp luật cũng như thực trạng quản lý dự án tại Bộ Tổng tham mưu - BQP từ đó tìm ra những ưu điểm hạn chế, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật Các đề tài nghiên cứu nói trên tập trung vào các quy trình quản lý dự án, các hình thức đấu thầu rộng rãi xây dựng; đấu thầu hạn chế xây dựng phân tích các quy định pháp luật, thực tế trong quá trình triển khai, những ưu điểm và hạn chế hiện tại chưa có đề tài nào nghiên cứu chi tiết về hình thức Chỉ định thầu chính vì vậy
tác giả lựa chọn đề tài "Pháp luật về chỉ định ở Việt Nam từ thực tiễn áp dụng tại
Bộ Công an", qua đó tập trung phân tích vào các quy định pháp luật cũng như thực
tế áp dụng triển khai hình thức chỉ định thầu xây dựng, những ưu cũng như nhược điểm hạn chế khi áp dụng, từ đó kiến nghị những định hướng hoàn thiện pháp luật
về chỉ định thầu xây dựng ở Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện tác giả đã kế thừa, học tập những ưu việt của các công trình nghiên cứu trước đó để hoàn thành luận văn của mình
1.3 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về các quy định hiện hành
Phân tích thực trạng những ưu nhược điểm của pháp luật Chỉ định thầu khi
áp dụng vào các hoạt động đâu tư trong Công an nhân dân
Trang 144
Từ các ưu nhược điểm, tổng hợp đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật chỉ định thầu
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Đấu thầu là gì ? Đấu thầu theo pháp luật ở Việt Nam là gì ?
- Hình thức chỉ định thầu là gì?
- Thực trạng chỉ định thầu theo pháp luật ở Việt Nam như thế nào ?
- Thực tiễn trong công tác Chỉ định thầu trong công tác tổ chức thực hiện dự
án tại Bộ Công an như thế nào ?
- Tại sao phải hoàn thiện Chỉ định đấu thầu theo pháp luật?
- Làm thế nào để hoàn thiện pháp luật Chỉ định thầu?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cá nhân và tổ chức tham gia vào hoạt động chỉ định thầu hoặc có liên quan; Quy định về năng lực; bảo đảm cạnh tranh; quy trình Chỉ định thầu xây dựng trong Công an
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá tính hợp lý của quy định Pháp luật hiện hành về Chỉ định thầu nói chung và Chỉ định thầu xây dựng trong Công an nói riêng
Với kinh nghiệm thực tiễn đó tham gia quản lý một số dự án trong Công an nhân dân, tác giả nghiên cứu các vấn đề từ dự án đó tham gia
Thời gian nghiên cứu: Đánh giá phân tích từ Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 hiệu lực từ ngày 01/07/2014 và Nghị định số 63/2014/ND-CP ngày 26/6/2014 hưỡng dẫn thi hành Luật Đấu thầu mới
1.6 Phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Quy trình nghiên cứu
- Hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về quy định Chỉ định thầu
- Phân tích các ưu nhược điểm, bất cập khi áp dụng vào công tác chỉ định thầu tại Bộ Công an
- Đề xuất, kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả chỉ định thầu; giải pháp hoàn thiện pháp luật chỉ định thầu
Trang 155
1.6.2 Thu thập thông tin
Tại văn phòng Bộ lưu trữ các văn bản pháp lý, hồ sơ tổ chức đấu thầu, quản
lý các dự án
Điều tra bằng phiếu hỏi: Xin ý kiến một số cán bộ Lãnh đạo; cán bộ làm trực tiếp quản lý dự án H43; H59; V22; V11 thông tin về ưu nhược điểm; mâu thuẫn; bất cập pháp luật hiện hành; phương hướng kiến nghị giải quyết
1.7 Kế hoạch nghiên cứu
S
tt Nội dung
Thời gian Địa
điểm thực hiện
Kết quả dự kiến
Bắt đầu
Kết thúc
1 Thu thập thông tin một số
P.Lưu trữ H59,H43,V22
2
Lập phiếu thu thập thông
tin, điều tra một số lãnh đạo,
cán bộ làm công tác quản lý
CDT trong công an
H43,H59,V22,V1
Kế hoạch
ĐT
4 Tổng hợp thông tin viết
5 Tham khảo ý kiến thầy cô
1.8 Nội dung của Luận văn
Trang 17để người mua lựa chọn”
[1] Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, thuật ngữ đấu thầu xuất hiện rất sớm và được định nghĩa: “là tranh nhau làm một công trình kiến thiết, ai nhận với giá rẻ nhất thì được làm”
[2] Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp giải thích đấu thầu là: “phương thức giao dịch đặc biệt, người muốn xây dựng một công trình (người gọi thầu) công bố trước các yêu cầu và điều kiện xây dựng công trình, người
dự thầu công bố giá mà mình muốn nhận, người gọi thầu qua so sánh để lựa chọn nhà thầu có lợi nhất cho mình theo các điều kiện do mình đưa ra” Đây là các định nghĩa khái niệm đấu thầu được sử dụng trong đời sống thường nhật theo nhận thức chung của xã hội
Dù thế các định nghĩa này đã chỉ ra được những điểm cốt yếu của đấu thầu với tính cách là một công đoạn quan trọng trong hoạt động xây dựng hoặc mua bán hàng hóa hay dịch vụ
Luật Đấu thầu năm 2013 vừa được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua đã đưa ra một định nghĩa có tính cách pháp lý như sau:
“Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu
tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả
Ghi chú: [1] theo từ điểnTheo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, [2] Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp.
Trang 188
kinh tế” Định nghĩa này đã nói tới tổng quát các yêu cầu cơ bản của hoạt động đấu thầu hiện nay ở Việt Nam Đây là một định nghĩa khá chi tiết, khác hẳn với định nghĩa tổng quát của UNCITRAL rằng: “đấu thầu là tiến hành mua sắm hàng hóa, xây dựng và dịch vụ theo một cách nào đó” (Luật mẫu của UNCITRAL, Điều 2[3])
Có thể thấy, các định nghĩa trên dù ở giác độ học thuật hay thông dụng đều hướng tới việc chỉ ra rằng: đấu thầu là một thuật ngữ để chỉ một quá trình mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ thông qua một quá trình mang tính chuẩn hóa do bên mời thầu áp dụng để lựa chọn nhà thầu phù hợp với các tiêu chí bên mời thầu đưa ra thực hiện việc cung ứng hàng hóa, xây dựng và dịch vụ
Trong đời sống kinh tế của nước ta nhiều năm trước đây, khi nói đến đấu thầu người ta chỉ nghĩ đến việc đấu thầu xây dựng Chính vì lý do đó, những quy định về đấu thầu ở nước ta, trước tiên cũng được đưa ra cho lĩnh vực xây dựng để sau này hoàn thiện hơn, đi sâu vào các lĩnh vực kinh doanh khác của đời sống xã hội Hoạt động xây dựng trong đề tài này được hiểu theo nghĩa hẹp - là hoạt động của lĩnh vực xây dựng cơ bản Một trong số 5 lĩnh vực cụ thể được Chính phủ giao cho Bộ Xây dựng quản lý tại Nghị định số 36/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 với tư cách là bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, về cơ bản được hiểu là: “xây dựng và trang thiết bị cho xây dựng mới, cải tạo mở rộng xí nghiệp, nhà, công trình sản xuất
và phi sản xuất hay toàn nền kinh tế quốc dân được thực hiện từ vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung của nhà nước, tín dụng ngân hàng, quỹ phát triển sản xuất, phần trích khấu hao…kết quả của nó là thực hiện được việc tái sản xuất tài sản cố định.”
Từ những nghiên cứu ở trên, có thể định nghĩa khái niệm đấu thầu xây dựng như sau: Đấu thầu xây dựng là hình thức đấu thầu với mục đích lựa chọn được nhà thầu hoặc một nhóm nhà thầu (liên danh) đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra để xây dựng các công trình
Để lựa chọn được nhà thầu đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của mình và tùy vào điều kiện cụ thể của bên mời thầu mà bên mời thầu có thể áp dụng các hình thức lựa
Ghi chú: [3] Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế.
Trang 19có khả năng thực hiện; các gói thầu ở địa điểm xa xôi hiểm trở mà tại địa phương đó không có nhà thầu quan tâm hoặc không có nhà thầu có khả năng thực hiện
Tuy nhiên ngoài các ưu điểm nói trên, thực tế trong hoạt động chỉ định thầu hiện nay đã phát hiện nhiều sai phạm như chủ đầu tư thay vì tổ chức đấu thầu rộng rãi lại cố tình bao biện lý do để áp dụng hình thức chỉ định thầu, chỉ định các tổ chức sân sau của mình gây ra những hậu quả to lớn như chỉ định nhà thầu không đủ năng lực thực hiện dẫn đến chất lượng công trình không đảm bảo, thời gian thi công kéo dài làm phát sinh nhiều chi phí, làm lãng phí ngân sách nhà nước đầu tư cho công trình
Luận văn này đi sâu tìm hiểu về hình thức chỉ định thầu và pháp luật về chỉ định thầu từ thực tiễn áp dụng tại Bộ Công an, chỉ ra những điểm đặc thù của hình thức đấu thầu này và phân tích, lý giải thực tiễn áp dụng tại cơ quan đặc thù là Bộ Công an, từ đó kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chỉ định thầu
1.1 Khái niệm, đặc điểm, và vai trò của chỉ định thầu
1.1.1 Khái niệm về chỉ định thầu
Luật Đấu thầu năm 2013 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua đã đưa ra một định nghĩa về chỉ định thầu có tính cách pháp lý như sau: “Chỉ định thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để khắc phục ngay hoặc để
xử lý kịp thời hậu quả do các sự cố bất khả kháng, các gói thầu có tính chất đặc thù phục vụ hoạt động nhà nước được quy định cụ thể để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà thầu theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở đẩy
Trang 2010
nhanh quá trình lựa chọn nhà thầu, hoàn thành công trình trong thời gian ngắn nhằm giải quyết các tình huống khẩn cấp góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư gói thầu”
Từ định nghĩa trên có thể thấy chỉ định thầu là:
Hình thức đấu thầu mà chỉ có duy nhất một nhà thầu được tham gia và chính nhà thầu này được lựa chọn để thực hiện yêu cầu của bên mời thầu Hình thức này được áp dụng khi bên mời thầu cần phải khắc phục ngay những sự cố kỹ thuật quan trọng, những hậu quả do thiên tai dịch họa gây ra hoặc vì những lý do bảo vệ bí mật an ninh quốc phòng Bên cạnh đó trong những trường hợp khác như giá trị công việc nhỏ hoặc công việc phải thực hiện ở địa điểm không thuận lợi khiến nhiều nhà thầu không quan tâm thì bên mời thầu cũng có thể áp dụng chỉ định thầu
Đây là hình thức đặc biệt được áp dụng theo quy định của Luật Đấu thầu đối với gói thầu xây dựng cơ bản hoặc hoặc gói thầu hỗn hợp, gói thầu tư vấn sử dụng vốn nhà nước được cho phép chỉ định thầu Chỉ định thầu là hình thức lựa chọn nhà thầu cần thiết để giải quyết những trường hợp cấp bách hay bảo đảm bí quyết công nghệ, bí mật quốc gia
Tóm lại khác với các hình thức lựa chọn nhà thầu còn lại là có từ 2 nhà thầu trở lên tham gia quá trình quá thầu, đối với hình thức lựa chọn nhà thầu chỉ định thầu chủ đầu tư hoặc cơ quan trực tiếp có trách nhiệm quản lý gói thầu sau khi xác định được nhà thầu có đủ năng lực kinh nghiệm chỉ thương thảo với một nhà thầu
do người có thẩm quyền quyết định đầu tư chỉ định
1.1.2 Đặc điểm của chỉ định thầu
Chỉ định thầu giúp cho Chủ đầu tư trong thời gian ngắn nhất chọn được nhà thầu đáp ứng được về năng lực, kinh nghiệm cũng như biện pháp thi công giá trúng thầu để thực hiện gói thầu sớm hoàn thành đưa công trình vào sử dụng Mặc dù bản chất đều là đấu thầu nhằm lựa chọn được nhà thầu song so với các hình thức lựa chọn nhà thầu xây dựng còn lại Chỉ định thầu có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất: Về chủ thể tham gia chỉ có Chủ đầu tư hoặc cơ quan quản lý trực
tiếp gói thầu và nhà thầu được xác định đánh giá là đơn vị đảm bảo năng lực tổ chức nhân sự, năng lực tài chính, kinh nghiệm thực hiện các công trình xây dựng
Trang 2111
tương tự tham gia vào quy trình chỉ định thầu thông thường (với gói thầu xây lắp có giá trị không quá 1 tỷ đồng) và quy trình chỉ định thầu rút gọn (giá trị gói thầu tư vấn thiết kế xây dựng và lập dự toán thi công dưới 500 tr đồng)
Thứ hai: Về thời gian tổ chức chỉ định thầu ngắn hơn nhiều so với các hình
thức còn lại:
Đối với chỉ định thầu thông thường: Pháp luật quy định như sau: Thời gian thẩm định hồ sơ yêu cầu không quá 20 ngày, thẩm định Báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất tối đa 30 ngày, thẩm định kết quả chỉ định thầu 20 ngày kể từ khi nhận đủ hồ
sơ trình, thời gian cấp thẩm quyền phê duyệt kết quả chỉ định thầu tối đa là 10 ngày Như vậy so với các hình thức khác chỉ định thầu không cần công đoạn chuẩn
bị Hồ sơ mời quan tâm, đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển
Thứ ba: Về đối tượng, chỉ định thầu chủ yếu áp dụng cho các gói thầu từ
nguồn Ngân sách Nhà nước (các dự án gói thầu của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, dư án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án, mua sắm hàng hóa dự trữ, mua sắm nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ công, mua thuốc vật tư y tế, và vốn vay từ nước ngoài do đối tác yêu cầu hình thức chỉ định thầu
Thứ tư: Về phạm vi áp dụng, Chỉ định thầu áp dụng vào các trường hợp khẩn
cấp như thiên tai các tình huống khẩn cấp, các gói thầu liên quan đến bí mật an ninh, các gói thầu có tính chất đặc thù chỉ có những đơn vị chuyên ngành mới tham gia đảm nhận được
1.1.3 Vai trò của chỉ định thầu
1.1.3.1 Đối với bên mời thầu - người mua sản phẩm trong hoạt động chỉ định thầu
Chỉ định thầu giúp cho người mua trong các tình huống khẩn cấp cần khắc phục ngay những hậu quả do thiên tai, dịch bệnh, các hậu quả xảy ra từ các tình huống bất khả kháng hay dịch vụ mình cần trong khoảng thời gian ngắn nhất hay nói một cách cách khác là sử dụng đồng tiền của mình một cách hiệu quả nhất Trong quá trình chỉ định thầu chủ đầu tư chỉ tập trung xác định duy nhất một nhà
Trang 2212
thâu đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu chỉ định thầu, ngoài yếu tố thời gian nhanh chóng ký hợp đồng triển khai, hình thức chỉ định thầu còn có một
số tính năng ưu việt sau:
- Trong nhiều trường hợp do tính chất quy mô kỹ thuật của gói thầu chỉ có những doanh nghiệp chuyên ngành mới có khả năng thực hiện
- Trong các trường hợp gói thầu cần đảm bảo bí mật nhà nước, có thể chỉ định trực tiếp cho các doanh nghiệp an ninh, doanh nghiệp nhà nước
- Các gói thầu cần khắc phục ngay hoặc để xử lý kịp thời hậu quả gây ra do các sự cố bất khả kháng
- Các gói thầu vì nhiệm vụ chính trị ở những địa điểm xa xôi, hẻo lánh, tại địa phương đó không có nhà thầu có khả năng thực hiện được hoặc ở những địa điểm xa hôi không có nhà thầu quan tâm
- Trong quá trình thẩm định hồ sơ đề xuất chỉ định thầu có thể phát hiện ra những sản phẩm tương đương với sản phẩm cần thiết Do đặc thù hình thức chỉ định thầu áp dụng trong các tình huống khẩn cấp, ít có tiền lệ, nhà thầu có thể tìm ra những giải pháp thực hiện công việc cũng như các sản phẩm khác nhau và vẫn đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu Điều này tạo ra một cơ hội tốt để bên mời thầu phát hiện và có thể sử dụng các sản phẩm mới, các giải pháp biện pháp thi công mới hiệu quả hơn so với các hình thức lựa chọn nhà thầu khác
Ngoài ra trong bối cảnh đất nước ta đang trong thời ký quá độ lên xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu cần đầu tư xây dựng lớn vào cơ sở hạ tầng (theo thống kê Bộ
Kế hoạch và Đầu tư nhu cầu đầu tư ở nước ta khoảng 16 tỷ đô/năm trong khi đó Nhà nước chỉ bố trí được từ 6-7 tỷ đô) Cần huy động thêm nhiều nguồn lực khác cùng chung tay trong công cuộc phát triển hạ tầng kinh tế xã hội
Phải kể các dự án gói thầu từ nguồn vốn vay ODA, FDI 95 % đã góp phần giảm tải gánh nặng ngân sách nhà nước cho đầu tư công (Trong các dự án ODA kể trên, tiêu biểu là dự án xây dựng đường vành đai 3 của thủ đô Hà Nội được thông xe vào tháng 10/2012, dự án cầu Nhật Tân khánh thành 4/1/2015 các dự án trên góp phần cải thiện nâng cao năng lực giao thông, nhằm hạn chế ùn tắc, phát triển giao
Trang 2313
thương trục phía tây thủ đô với phía nam của cả nước .) Trong các dự án gói thầu
từ nguồn vốn vay trên phần lớn các nhà cho vay yêu cầu sử dụng hình thức chỉ định thầu trong đó các nhà thầu chính là các đơn vị do nhà tài trợ cho vay giới thiệu để chỉ định, các gói thầu nhỏ hoặc nhà thầu phụ chỉ định các đơn vị doanh nghiệp lớn
có uy tín của Việt Nam
Các nhà đầu tư, cho vay ưu đãi yêu cầu hình thức chỉ định thầu bởi lẽ suy cho cùng đó là kênh đầu tư, theo quy luật kinh tế thị trường trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, họ bỏ đồng vốn đầu tư với lãi xuất ưu đãi ngược lại họ được hưởng các quyền lợi khác (VD vốn vay ODA Nhật Bản đường 5b Hà Nội Hải Phòng mới nhà đầu tư được hưởng ưu đãi khai thác quỹ đất một số điểm dọc tuyến đường cao tốc ) có quyền chỉ định thầu cho các nhà thầu được họ xác định có năng lực kinh nghiệm để đảm bảo gói thầu hoàn thiện đúng thời gian, đảm bảo chất lượng để có thể thu hồi vốn nhanh nhất mà họ đã bỏ ra
1.1.3.2 Đối với nhà thầu trong hoạt động chỉ định thầu
Mục đích của các nhà thầu là bán được sản phẩm của mình muốn tức giá chào thầu sau khi đã hiệu chỉnh sửa lỗi Trước khi đưa ra giá chào chỉ định thầu, các nhà thầu phải nghiên cứu giá thành sản phẩm của mình, đồng thời phải tìm hiểu kỹ
về nội dung, khối lượng công việc cần thực hiện trong hồ sơ yêu cầu đưa ra mức giá hợp lý thì mới có cơ hội trúng chỉ định thầu
Khác với các hình thức khác có nhiều nhà thầu tham gia vào quá trình đấu thầu, trong quy trình thực hiện chỉ định thầu, bản thân nhà thầu đã được xác định là đảm bảo năng lực tổ chức nhân sự thi công, năng lực tài chính lành mạnh, có kinh nghiệm đã thực hiện các công trình tương tự về tính chất, nội dung quy mô để được tham gia và quá trình chỉ định thầu (với chỉ định thầu rút gọn nhà thầu được mời đến thương thảo hoàn thiện hợp đồng làm cơ sở trình người có thẩm quyền phê duyệt chỉ định thầu ký hợp đồng triển khai; được nhận hồ sơ yêu cầu với quy trình chỉ định thầu thông thường) nhà thầu cần phát huy tối đa khả năng cạnh tranh bằng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình hạ giá thành sản phẩm thi công trong thời gian ngắn nhất
Trang 2414
- Đối với những nhà thầu liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật thương mại, bí quyết công nghệ riêng thì chỉ định thầu là cách giúp họ tự khẳng định mình và sự thành công sẽ mang lại cho nhà thầu cơ hội lớn hơn để tiếp tục phát triển
1.1.3.3 Đối với Nhà nước trong hoạt động chi định thầu
Thông qua chỉ định thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước có thể khắc phục ngay những hậu quả từ các tình huống trường hợp khẩn cấp Những điều đó giúp Nhà nước phát huy đúng được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường: tổ chức thị trường xây dựng, giữ vững sự bình yên ổn định của xã hội
Tại Việt Nam thời gian qua, hình thức chỉ định thầu xây dựng đã từng bước khẳng định vai trò quan trọng đối với nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng công trình Công tác chỉ định thầu tại Việt Nam (1994 - 2015), hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chỉ định thầu đang ngày càng hoàn thiện và đồng bộ, góp phần thiết lập môi trường minh bạch, tạo cơ sở cho việc lựa chọn nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm thực hiện các gói thầu sử dụng vốn nhà nước, đem đến hiệu quả cao hơn trong đầu tư công, phòng chống tham nhũng, tiết kiệm không nhỏ cho ngân sách nhà nước Song song với việc hoàn thiện khung pháp lý, công tác kiểm tra, giám sát
về chỉ định thầu cũng được triển khai hiệu quả
1.2 Khái quát pháp luật về chỉ định thầu
1.2.1 Khái niệm pháp luật chỉ định thầu
Hình thức lựa chọn nhà thầu bằng chỉ định thầu được thực hiện trong môi trường xác định Môi trường chỉ định thầu bao gồm tập hợp các yếu tố có tác động, chi phối hình thức chỉ định thầu, VD trong đó có pháp luật về đấu thầu trong hoạt động xây dựng; Pháp luật về xây dựng; Pháp luật về Tài chính; Pháp luật về Phòng cháy chữa cháy Trong bối cảnh đất nước ta đang tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu
cơ bản đưa nước ta thành nước công nghiệp vào năm 2020 Để hoàn thành sứ mệnh
đó nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng, điện đường trường trạm, các công trình dân
sự, công nghiệp được đầu tư từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước, hay nguồn vốn xã hội hóa (có một phần nhỏ vốn ngân sách) từ nguồn vốn vay ODA, nguồn đầu tư
Trang 2515
nước ngoài FDI trong đó có các dự án gói thầu đặc thù cần triển khai trong tình huống khẩn cấp, gói thầu cần giữ bí mật đảm bảo an ninh chính trị, quốc gia chính là cơ sở cho sự ra đời pháp luật về chỉ định thầu
Thực tiễn cho thấy trong công tác tổ chức chỉ định thầu các gói thầu của dự
án từ nguồn Ngân sách nhà nước, hoặc công tư, nguồn ODA các Quốc gia đều chú trọng đến việc minh bạch hóa quy trình thực hiện, tăng cường công tác quản lý giám sát, nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả các gói thầu, trong đó công việc được đặc biệt coi trọng là xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật về chỉ định thầu Pháp luật chỉ định thầu là một bộ phận của pháp luật về Đấu thầu nói chung, gồm tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hình thức chỉ định thầu, vừa có tính khái quát vừa có tính cụ thể
Quy phạm pháp luật về chỉ định thầu có tính khái quát vì nó là tập hợp các quy tắc, quy định chung, dùng để áp dụng trong tất cả các hoạt động lựa chọn nhà thầu bằng hình thức chỉ định thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của mình trong cả một quy trình tổ chức thực hiện chỉ định thầu Đồng thời cũng rất cụ thể, bởi nó là khuân mẫu, chuẩn mực quy định cụ thể để điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động chỉ định thầu
Về lí luận từ quan điểm hệ thống có thể xem xét khái niệm về pháp luật chỉ định thầu theo hai mức độ: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, pháp luật chỉ định thầu bao gồm tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện chỉ định thầu Trong chỉ định thầu phát sinh nhiều quan hệ tại các giai đoạn khác nhau, trong đó cơ bản phải kể đến là:
+ Quan hệ giữa nhà nước và Bộ chủ quản hoặc đơn vị được trực tiếp giao quản lý tổ chức chỉ định thầu gói thầu;
+ Quan hệ giữa Bộ ngành chủ quan và chủ đầu tư, nhà thầu;
+ Quan hệ giữa chủ đầu tư và nhà thầu được xét duyệt đề nghị phê duyệt chỉ định thầu;
Trang 26xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện chỉ định thầu Từ quan điểm truyền thống của lí luận pháp luật ở Việt Nam, pháp luật chỉ định thầu theo nghĩa rộng là một bộ phận của pháp luật Đấu thầu, bao gồm các quy phạm được quy định trong các văn bản pháp luật thuộc nhiều văn bản khác nhau (như Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Tài chính, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp ) Nói cách khác, pháp luật chỉ định thầu theo nghĩa rộng là một lĩnh vực pháp luật, chứa đựng quy phạm thuộc văn bản khác nhau, điều chỉnh quá trình tổ chức thực hiện và tiến hành hoạt động chỉ định thầu với hạn mức không quá 500 tr đồng trong các lĩnh vực dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, dịch vụ công và không quá 1 tỷ đồng với gói thầu hỗn hợp xây lắp, vật tư y tế, sản phẩm công
Theo nghĩa hẹp, đối tượng điều chỉnh của pháp luật chỉ định thầu là các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến quy trình chỉ định thầu có sử dụng nguồn vốn ngân sách, vốn của doanh nghiệp nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án Ngoài ra, đối tượng điều chỉnh của pháp luật chỉ định thầu là các tổ chức, cá nhân không thuộc phạm vi điều chỉnh nêu trên nhưng lựa chọn áp dụng pháp luật chỉ định thầu thì phải tuân thủ các quy định có liên quan của pháp luật chỉ định thầu Từ phân tích ở trên, có thể định nghĩa:
Pháp luật chỉ định thầu là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình
tổ chức thực hiện chỉ định thầu
Với cách hiểu về pháp luật chỉ định thầu như đã phân tích ở trên thì pháp luật
chỉ định thầu là một bộ phận của Luật Đấu thầu và có mối liên hệ chặt chẽ với một
Trang 2717
số văn bản pháp luật khác, bởi chỉ định thầu là một hoạt động đặc thù liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống VD: Chỉ định thầu một gói thầu xây lắp, chất lượng công trình xây dựng ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người dân, để tham gia được vào hoạt động xây dựng Luật Dân sự cũng như Luật Doanh nghiệp
có các quy định về năng lực kinh nghiệm các thành phần tham gia hoạt động chỉ định thầu ; Luật Xây dựng quy định chi tiết về cách thức trình tự lập thiết kế kỹ thuật, dự toán thi công, quản lý trong quá trình xây dựng nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng; Luật Tài chính quy định về trách nhiệm nghĩa vụ tài chính của Chủ đầu tư, nhà thầu được chỉ định thầu xây dựng với Nhà nước ; Luật Phòng cháy chữa cháy quy định chi tiết về thiết kế kỹ thuật cũng như phương án thi công nghiệm thu bàn giao phương án cảnh báo cũng như chữa cháy với các công trình xây dựng
1.2.2 Nội dung về pháp luật chỉ định thầu
Pháp luật chỉ định thầu quy định những vấn đề pháp lý cho hoạt động chỉ định thầu như chuẩn bị chỉ định thầu, tổ chức chỉ định thầu, đánh giá, thẩm định phê duyệt kết quả chỉ định thầu, thương thảo ký hợp đồng triển khai Với chức năng cơ bản là đảm bảo an toàn pháp lý cho hoạt động chỉ định thầu, pháp luật chỉ định thầu
có nội dung chủ yếu quy định về những vấn đề sau:
a Chủ thể có liên quan đến hoạt động chỉ định thầu;
Một trong những đặc trưng của quan hệ pháp luật đấu thầu nói chung và
quan hệ pháp luật chỉ định thầu nói riêng là tính xác định về cơ cấu chủ thể Xuất phát từ tính chất của hoạt động đấu thầu quy định quản lý nhà nước về đấu thầu; trách nhiệm của các bên có liên quan và quy trình thực hiện chỉ định thầu, để bảo vệ lợi ích của nhà nước, các tổ chức cá nhân tham gia, pháp luật chỉ định thầu xây dựng quy định những chủ thể được tham gia vào quan hệ chỉ định thầu và những điều kiện cần đáp ứng để tham gia quan hệ đó Các chủ thể đáp ứng các điều kiện
do pháp luật quy định để tham gia quan hệ chỉ định thầu được xác định là đảm bảo năng lực kinh nghiệm Chủ thể cơ bản của quan hệ pháp luật chỉ định thầu là "Chủ đầu tư hoặc cơ quan được giao quản lý gói thầu" và "Nhà thầu" bao gồm:
Trang 2818
* Chủ đầu tư:
Là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức được giao thay mặt chủ sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án Chủ đầu tư là chủ thể đóng vai trò trung tâm điều phối hoạt động của các bên liên quan trong suốt quá trình chỉ định thầu Chủ đầu tư sẽ quyết định tự mình đứng ra tổ chức đấu thầu hoặc
ủy quyền cho một pháp nhân đại diện đứng ra tổ chức đấu thầu
Tùy thuộc vào điều kiện năng lực, tổ chức bộ máy của mình, nếu đảm bảo năng lực kinh nghiệm tự tổ chức thực hiện chỉ định thầu, chủ đầu tư thành lập: + Bên mời thầu: là tổ chức có đủ năng lực và kinh nghiệp được chủ đầu tư sử dụng ủy quyền , thay mặt chủ đầu tư trực tiếp thực hiện quy trình chỉ định thầu + Tổ chuyên gia: Được bên mời thầu thành lập với chức năng nhiệm vụ giúp bên mời thầu đánh giá hồ sơ đề xuất của nhà thầu tham gia chỉ định thầu, tùy theo tính chất và mức độ phức tạp của gói thầu, thành phần tổ chuyên gia đấu thầu bao gồm các chuyên gia về lĩnh vực kỹ thuật, tài chính, thương mại, pháp lý và các lĩnh vực có liên quan và phải thỏa mãn các yêu cầu của pháp luật về năng lực kinh nghiệm để tham gia đấu thầu
+ Phòng ban, cá nhân tham gia công tác thẩm định kết quả đánh giá HSĐX của tổ chuyên gia làm cơ sở trình chủ đầu tư phê duyệt kết quả chỉ định thầu: Nếu đảm bảo năng lực kinh nghiệm chủ đầu tư có thể giao trực tiếp cho cá nhân hoặc phòng ban có chức năng làm công tác thẩm định báo cáo đánh giá HSĐX này * Nhà thầu:
Nhà thầu trong hoạt động chỉ định thầu là: cá nhân, tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân, năng lực và kinh nghiệm đã được chủ đầu tư xác định là đáp ứng các quy định nói trên để tham gia chỉ định thầu Nhà thầu trong hoạt động chỉ định thầu có thể là cá nhân hoặc tổ chức Trong trường hợp chỉ định thầu tư vấn nhà thầu
có trường hợp là cá nhân Nhà thầu là các tổ chức kinh tế, Công ty có chức năng xây dựng trong chỉ định thầu xây lắp, là nhà cung cấp trong đấu thầu mua sắm hàng hoá, là nhà tư vấn trong đấu thầu tuyển chọn tư vấn, là nhà đầu tư trong đấu thầu lựa
Trang 2919
chọn đối tác đầu tư Nhà thầu trong nước là nhà thầu có tư cách pháp nhân Việt Nam hoạt động hợp pháp tại Việt Nam
b Đối tượng của pháp luật chỉ định thầu
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật chỉ định thầu là các quan hệ trong hoạt
động chỉ định thầu Bản chất của quan hệ chỉ định thầu là một loại quan hệ xã hội, phát sinh trong quá trình tổ chức chỉ định thầu Quan hệ chỉ định thầu diễn ra giữa các chủ thể trong quá trình đánh giá năng lực nhà thầu để được ghi nhận là đảm bảo năng lực kinh nghiệm tham gia vào quá trình chỉ định thầu Các quan hệ này khi được điều chỉnh bởi pháp luật thì trở thành quan hệ pháp luật chỉ định thầu
Xét về góc độ lí luận pháp luật, quan hệ pháp luật chỉ định thầu là các quan
hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình tham gia hoạt động chỉ định thầu Và được điều chỉnh bởi pháp luật đấu thầu nói chung và pháp luật chỉ định thầu nói riêng
Vậy đối tượng của pháp luật chỉ định thầu là các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia vào công tác chỉ định thầu xây dựng, mua sắm thiết bị, dịch vụ tư vấn, dịch vụ công hoặc có liên quan đến hoạt động chỉ định thầu như: Chủ đầu tư dự
án đầu tư phát triển sử dụng vốn nhà nước của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập có sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật Ngoài ra với trường hợp gói thầu chỉ định thầu từ nguồn vốn vay ưu đãi ODA, FDI theo thông lệ quốc tế, bên cho vay sẽ giới thiệu chỉ định thầu trực tiếp cá nhân tổ chức trong và ngoài nước do bên cho vay xác định là đủ năng lực kinh nghiệm để thực hiện gói thầu
c Các trường hợp áp dụng hình thức chỉ định thầu
Trong quá trình thực hiện pháp luật chỉ định thầu, các chủ thể phải tôn trọng
và tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về điều kiện để áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu bằng hình thức chỉ định thầu, đúng như bản chất của hình thức này là trong tình huống khẩn cấp chủ đầu tư trong thời gian ngắn nhất xác định ngay được nhà
Trang 3020
thầu để tổ chức ký hợp đồng triển khai nhanh công việc bảo đảm thời gian lựa chọn nhà thầu; giá gói thầu; nhanh chóng hoàn thành gói thầu như: Trong các tình huống khẩn cấp cần khắc phục ngay hậu quả do thiên tai, dịch bệnh, các trường hợp bất khả kháng; Trong tình huống bất ngờ cần triển khai nhằm mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia, biên giới quốc gia, hải đảo; Cần mua sắm hàng hóa khẩn cấp để hỗ trợ nhân dân, cứu đói, phòng ngừa trừ dịch bệnh
Ngoại trừ những dự án gói thầu có tính chất đặc thù được Thủ tướng chính phủ phê duyệt như gói thầu cần đảm bảo yếu tố bí mật; gói thầu liên quan đến an ninh quốc gia chủ đầu tư chỉ được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu bằng hình thức chỉ định thầu khi gói thầu thỏa mãn điều kiện về tình huống được áp dụng hoặc đáp ứng hạn mức được áp dụng theo quy định của luật định
d Quy trình chỉ định thầu
Trong quy trình thực hiện chỉ định thầu, điều quan trọng là các bước trình tự
để thực hiện, đó là căn cứ để chủ đầu tư hoặc cơ quan được giao trực tiếp quản lý gói thầu xác định được nhà thầu có đủ năng lực kinh nghiệm để thực hiện gói thầu, với nhà thầu là các tiêu chí, yêu cầu cần thực hiện để chứng minh có đủ năng lực kinh nghiệm, cũng như giá trị thực hiện để trúng chỉ định thầu
Về quy trình thực hiện chỉ định thầu các quốc gia trên thế giới có quy định
khác nhau, tùy thuộc vào tính chất kỹ thuật gói thầu, cũng như mặt bằng phát triển của các tổ chức kinh tế tham gia vào chỉ định thầu có thể yêu cầu khác nhưng về cơ bản quy trình thực hiện chỉ định thầu có các bước cơ bản như:
+ Bước 1: Chuẩn bị đấu thầu
+ Bước 2: Tổ chức đấu thầu
+ Bước 3: Đánh giá hồ sơ đề xuất
+ Bước 4: Thẩm định HSĐX làm cơ sở trình người có thẩm quyền phê duyệt kết quả chỉ định thầu
+ Bước 5: Thông báo kết quả chỉ định thầu
+ Bước 6: Thương thảo hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng
Trang 3121
đ Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hoạt động chỉ định thầu
Pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ các bên trong hoạt động chỉ định thầu: Quyền và nghĩa vụ các bên trong hoạt động chỉ định thầu chính là sự thỏa thuận các bên về việc phân chia lợi nhuận và trách nhiệm các bên trong hợp đồng Theo đó các bên thỏa thuận các điều khoản phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình cũng như các quy định pháp luật Các điều khoản này phải được quy định một cách cụ thể và dễ hiểu vì nó ảnh hưởng đến kết quả mong muốn đạt được của hai bên và khả năng xảy ra tranh chấp khi kết quả hoàn thành không đạt yêu cầu, về cơ bản quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư cũng như nhà thầu được xác định như sau:
* Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư
Mạc dù cả chủ đầu tư và nhà thầu đều có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ chỉ định thầu, người ta thường quan tâm hơn đến nghĩa vụ của nhà thầu, bởi nhà thầu là bên trực tiếp thực hiện hợp đồng, ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của chủ đầu tư, tuy nhiên hoạt động chỉ định thầu có tính chất đặc thù do đó quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư cũng có một số điểm đặc biệt như sau:
- Quyền của chủ đầu tư:
+ Do tính chất của hình thức chỉ định thầu, chủ đầu tư xác định chỉ một nhà thầu đảm bảo năng lực, kinh nghiệm thực hiện gói thầu chi định thầu xây dựng vào
để tiến hành thương thảo hoặc chỉ một nhà thầu nhận HSYC gói thầu
+ Quyền không chấp nhận hợp đồng do nhà thầu ký không đúng thẩm quyền,
do nhà thầu cố ý xác lập, thực hiện nội dung công việc của hợp đồng vượt quá thẩm quyền cho phép
+ Quyền yêu cầu nhà thầu cung cấp thông tin liên quan đến việc thực hiện công việc xây dựng trong hợp đồng đã ký; Quyền đưa ra những chỉ dẫn và yêu cầu nhà thầu phải tuân thủ những chỉ dẫn đó
- Nghĩa vụ của chủ đầu tư
+ Chủ đầu tư phải thông báo cho nhà thầu về kết quả chỉ định thầu và việc thương thảo ký hợp đồng triển khai
Trang 3222
+ Nghĩa vụ cung cấp tài sản, tài liệu, thông tin cần thiết để nhà thầu thực hiện công việc được giao
+ Nghĩa vụ trả thù lao và các chi phí hợp lý khác cho nhà thầu
* Quyền và nghĩa vụ của nhà thầu
Theo Luật Thương mại 2005 do quan hệ giữa bên đại diện và bên giao đại diện (bản chất ở đây là quan hệ giữa chủ đầu tư và nhà thầu) được thiết lập thông qua hợp đồng nên các quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định thông qua các điều khoản của hợp đồng, ngoài ra còn có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác)
- Nghĩa vụ của chủ nhà thầu:
Theo luật thương mại, bên đại diện hay nhà thầu có các nghĩa vụ sau:
+ Thực hiện hoạt động thương mại với danh nghĩa và lợi ích của chủ đầu tư, phải tuân thủ nguyên tắc thực hiện hợp đồng trung thực, hoàn thành công việc được giao theo đúng thiết kế kỹ thuật gói thầu đã được cấp thẩm quyền của chủ đầu tư phê duyệt, bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình, thực hiện theo tinh thần hợp tác, bảo đảm tin cậy lẫn nhau
+ Nhà thầu có nghĩa thường xuyên thông báo cho bên giao đại diện về kết quả thực hiện công việc được giao
+ Nhà thầu phải tuân thủ chặt chẽ những chỉ dẫn của chủ đầu tư nếu chỉ dẫn
đó không vi phạm quy định của pháp luật Nghĩa vụ này đòi hỏi trong phạm vi công việc được giao nhà thầu phải tuân theo mọi chỉ dẫn của chủ đầu tư
+ Bảo quản tài liệu, tài sản của mình hoặc được chủ đầu tư giao để thực hiện hoạt động chỉ định thâu xây dựng được giao
+ Không được tiết lộ hoặc cung cấp cho người khác các bí mật đến nội dung công việc được giao theo thỏa thuận đã ký trong hợp đồng
- Quyền của nhà thầu:
+ Quyền hưởng thù lao: Nhà thầu được hưởng thù lao đối với với hợp đồng
đã giao kết, trong thực tiễn trong hoạt động xây dựng các bên có thỏa thuận phương
Trang 33e Xử lý vi phạm trong hoạt động chỉ định thầu
Vi phạm pháp luật trong hoạt động chỉ định thầu khi các chủ thể trong quá trình thực hiện chỉ định thầu do vô ý hoặc cố ý câu kết làm trái các quy định về quản lý nhà nước với hoạt động chỉ định thầu xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước hoặc một trong các bên tham gia hoạt động chỉ định thầu nhằm trục lợi, hay vì động
cơ cá nhân làm méo mó sai lệch bản chất chỉ định thầu, ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công trình thì phải bị xử lý theo quy định của pháp luật chỉ định thầu nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về hoạt động chỉ định thầu và quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Trường hợp đối với cán bộ công chức có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu còn bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
1.3 Các nguyên tắc của chỉ định thầu
Chỉ định thầu có những nguyên tắc cơ bản sau đây mà pháp luật về đấu thầu chỉ định thầu quy định như sau:
(1) Nguyên tắc coi trọng hiệu quả
Trang 34(2) Nguyên tắc dữ liệu đầy đủ
Chỉ định thầu là cả một quá trình phải trải qua nhiều giai đoạn, giai đoạn trước làm tiền đề cho giai đoạn sau, các giai đoạn liên quan mật thiết với nhau Do vậy các giai đoạn của chỉ định thầu phải được chuẩn bị hết sức cẩn thận, đầy đủ,
VD với nhà thầu xây dựng do liên quan nhiều tới các công trình qui mô lớn và đòi hỏi cao về kỹ thuật và công nghệ Mỗi giai đoạn đòi hỏi các bên phải cung cấp những thông tin, dữ liệu cụ thể Những dữ liệu này là cơ sở đánh giá hồ sơ dự thầu
Dữ liệu đưa ra không đầy đủ, chuẩn xác gây ra những hậu quả khó lường như: Hoãn
tổ chức đấu thầu để bổ sung, đấu thầu lại hay hủy bỏ gây lãng phí Việc thực hiện nghiêm túc nguyên tắc này góp phần đảm bảo thành công của đấu thầu xây dựng
(3) Nguyên tắc đánh giá khách quan
Đây là nguyên tắc quan trọng trong chỉ định thầu nói chung cũng như trong đấu thầu XDCB nói riêng Nguyên tắc này đòi hỏi phải được thực hiện xuyên suốt quy trình chỉ định thầu từ việc đánh giá hồ sơ đề xuất phải đảm bảo sự bình đẳng, những tiêu chuẩn đánh giá cũng phải đuợc ghi rõ ràng, cụ thể trong hồ sơ yêu cầu Nguyên tắc này cũng yêu cầu HSYC phải đuợc đánh giá khách quan bởi một tổ chuyên gia có đầy đủ năng lực, phẩm chất Kết quả đánh giá HSĐX cũng phải được công khai và giải thích lý do các nhà thầu vì sao hồ sơ của họ đuợc lựa chọn hoặc bị loại để hạn chế tranh chấp phát sinh
(4) Nguyên tắc trách nhiệm phân minh
Nguyên tắc này được thực hiện xuyên suốt trong quá trình chỉ định thầu, được ghi nhận rõ ràng trong hợp đồng Trên thực tế, các bên khi tham gia vào qua
hệ chỉ định thầukhông chỉ liên quan đến nhau về quyền lợi mà còn cả nghĩa vụ, họ luôn nhận thức được trách nhiệm của mình trong cả quá trình Nguyên tắc này đảm
Trang 35(6) Nguyên tắc tôn trọng các điều ước quốc tế
Khi tiến hành chỉ định thầu các gói thầu từ nguồn vốn vay ODA, FDI có liên quan đến các điều ước quốc tế mà chúng ta đã tham gia thì áp dụng điều ước
đó Nếu khi thực hiện các văn bản, thỏa thuận đã kí sử dụng vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế hoặc của nước ngoài mà có quy định liên quan đến chỉ định thầunhưng khác với quy định của pháp luật Việt Nam thì áp dụng theo văn bản, thỏa thuận đã
ký giữa các bên
Kết luận Chương 1:
Trong Chương 1 tác giả đã trình bày khái quát về chỉ định thầu và pháp luật chỉ định thầu, trong đó nêu ra các khái niệm cơ bản, nội dung về pháp luật chỉ định thầu phân tích làm rõ khái niệm, đặc điểm cũng như vai trò của hình thức lựa chọn nhà thầu bằng chỉ định thầu trong hệ thống nền kinh tế nước ta
Đây chính là tiền đề để chúng ta có cái nhìn tổng quan về hệ thống pháp luật chỉ định thầu ở nước ta hiện nay
Trang 3626
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHỈ ĐỊNH ĐẤU THẦU Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI BỘ CÔNG AN
2.1 Thực trạng pháp luật về chỉ định thầu
2.1.1 Chủ thể có liên quan đến hoạt động chỉ định thầu
Các chủ thể có liên quan đến hoạt động chỉ định thầu được quy định trong văn bản pháp luật Việt Nam là: người có thẩm quyền, chủ đầu tư, bên mời thầu, tổ
chuyên gia đấu thầu, nhà thầu, cơ quan, tổ chức thẩm định Tất cả các chủ thể có tác
động qua lại, liên hệ chặt chẽ với nhau đảm bảo được những quy tắc trong quá trình
thực hiện quy trình chỉ định thầu
Bên mời thầu: được quyết định thành lập từ chủ đầu tư
Theo quy định của Luật Đấu thầu 2013 (Điều 4): Bên mời thầu là cơ quan, tổ chức có chuyên môn và năng lực để thực hiện các hoạt động đấu thầu như Chủ đầu
tư hoặc tổ chức do chủ đầu tư quyết định thành lập hoặc lựa chọn; đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng nguồn vốn mua sắm thường xuyên; đơn vị mua sắm tập trung hay
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức trực thuộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn
Chủ đầu tư công trình: là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức được giao thay
mặt chủ sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án (Điều 4 - Luật Đấu thầu 2013) Chủ đầu tư là chủ thể đóng vai trò trung tâm điều phối hoạt động của các bên liên quan trong suốt quá trình đầu tư xây dựng công trình Chủ đầu tư sẽ quyết định tự mình đứng ra tổ chức đấu thầu hoặc ủy quyền cho một pháp nhân đại diện đứng ra tổ chức đấu thầu
Như vậy để có bên mời thầu thì trước đó cần phải xác định được chủ đầu tư Quyết định đầu tư của người có thẩm quyền sẽ cho phép xác định được chủ đầu tư Ngay từ khi hình thành dự án, chủ đầu tư là người đề xuất ý tưởng và định hướng mục tiêu của dự án Nhà thiết kế là người giúp chủ đầu tư thể hiện ý tưởng và mục tiêu bằng khả năng sáng tạo kết hợp các yếu tố kỹ thuật Nhà thầu thi công là người
Trang 3727
giúp chủ đầu tư hiện thực hóa các ý tưởng này thành sản phẩm, đó là công trình xây dựng Vì vậy, chủ đầu tư chính là người có tiếng nói quyết định trong việc điều tiết hợp lý các khoản chi phí đầu tư thông qua các quyết định của mình Để giảm chi phí đầu tư, nâng cao hiệu quả các công trình xây dựng, chủ đầu tư phải quan tâm đến các biện pháp sau:
● Nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình thông qua việc xác định ý tưởng, mục tiêu hình thành dự án sao cho thiết thực và hiệu quả nhất Có khả năng tiếp thu các yêu cầu kỹ thuật và biết lắng nghe, phân tích các đề xuất kỹ thuật của các nhà tư vấn
● Chọn lựa các nhà tư vấn khảo sát, thiết kế có năng lực, có đạo đức nghề nghiệp và khả năng phân tích kỹ thuật tốt
● Lựa chọn các nhà thầu thi công có năng lực kỹ thuật, kinh nghiệm chuyên môn và có biện pháp thi công theo hướng cơ giới hóa cao
● Thể hiện rõ vai trò của chủ đầu tư trong giai đoạn thi công xây dựng thông qua công tác giám sát thi công
Khác với lựa chọn bên nhận thầu (còn gọi nhà thầu) trong cung cấp hàng hóa
là chọn hàng hóa đã có sẵn, người mua có thể tiếp cận bằng trực giác, việc lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng mang bản chất của một chuỗi các hành động nhằm chọn ra người làm ra sản phẩm xây dựng Hơn nữa, tại thời điểm đấu thầu, do sản phẩm xây dựng mới chỉ được thể hiện trên các bản vẽ, sẽ được hình thành theo một thời gian nhất định nên sau khi đã chọn được nhà thầu, đòi hỏi phải có sự tham gia, giám sát của chủ đầu tư Bởi vậy, vấn đề chất lượng, tiến độ thi công, giá cả của sản phẩm, dịch vụ xây dựng phụ thuộc rất nhiều vào nhà thầu sẽ làm ra sản phẩm và quan hệ hợp đồng giữa chủ đầu tư với nhà thầu
Từ nhận thức này, có thể hiểu nhà thầu là chủ thể trung tâm của hoạt động đấu thầu xây dựng, cần có sự xem xét kỹ lưỡng cả về tư cách pháp lý và các biểu hiện của năng lực thực tế Theo Khoản 22, Điều 3, Luật Xây dựng thì nhà thầu được lựa chọn là tổ chức, cá nhân, phải có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động xây dựng Xét
Trang 38kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình; tổng thầu lập dự án đầu tư xây dựng công trình, thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình; nhà thầu chính trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để thực hiện phần việc chính của một loại công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình; nhà thầu phụ trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng với nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng để thực hiện một phần công việc của nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng
Nhà thầu có thể tham gia dự thầu độc lập hoặc tham gia liên danh với nhà thầu khác để cùng dự thầu Trong trường hợp liên danh phải có thỏa thuận giữa các thành viên tham gia liên danh về trách nhiệm chung và riêng đối với công việc trong gói thầu và phải có người đứng đầu liên danh Ví dụ như trong trường hợp sau: bên mời thầu tổ chức đấu thầu rộng rãi trong nước gói thầu xây dựng đường cao tốc Có
10 hồ sơ dự thầu, trong đó có một hồ sơ dự thầu mà đơn dự thầu nêu rõ đây là hồ sơ
dự thầu của liên danh gồm 3 công ty A+B+C và công ty A được cử đứng đầu liên danh Trong quá trình đánh giá, bên mời thầu không tìm thấy văn bản thỏa thuận liên danh của 3 công ty A+B+C mà chỉ thấy 2 văn bản thỏa thuận liên danh như sau:
- Thỏa thuận liên danh giữa công ty A+B có nội dung A đứng đầu và chịu trách nhiệm thực hiện 50% giá trị gói thầu, còn B thực hiện 50% giá trị còn lại của gói thầu
- Thỏa thuận liên danh giữa công ty A+C có nội dung A đứng đầu đảm nhận thực hiện 70% giá trị gói thầu còn C đảm nhận thực hiện 30% giá trị gói thầu
Trang 3929
Bên mời thầu đã loại hồ sơ mời thầu của nhà thầu liên danh A+B+C này với lý
do không hợp lệ Vậy trong trường hợp này cách xử lý của bên mời thầu là có phù hợp không? Và câu trả lời đó là: việc bên mời thầu loại hồ sơ dự thầu trên là hợp lý Với tư cách nhà thầu liên danh A+B+C trong tình huống trên đây là không đảm bảo theo quy định và do vậy là không hợp lệ
Như vậy đây chính là một bài học cho các nhà thầu, cần ghi nhớ khi tham gia
dự thầu với tư cách nhà thầu liên danh thì phải có văn bản thỏa thuận liên danh với đầy đủ tên và chữ ký của từng thành viên trong liên danh, nơi và ngày ký thỏa thuận liên danh, nội dung vụ việc cụ thể, phân chia cho từng thành viên để bảo đảm thực hiện công việc của gói thầu, trách nhiệm chung và riêng của từng thành viên trong việc thực hiện gói thầu, tên người đứng đầu liên danh làm đầu mối để giải quyết các vấn đề liên quan đến quá trình đấu thầu
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền là cơ quan ký kết hợp đồng với nhà đầu tư (theo Điều 4, Luật Đấu thầu năm 2013)
Tổ chuyên gia: là nhóm các chuyên gia, tư vấn do bên mời thầu lập hoặc thuê, có trách nhiệm giúp bên mời thầu thực hiện các công việc có liên quan trong quá trình đấu thầu Tùy theo tính chất và mức độ phức tạp của gói thầu, thành phần
tổ chuyên gia đấu thầu bao gồm các chuyên gia về lĩnh vực kỹ thuật, tài chính, thương mại, hành chính, pháp lý và các lĩnh vực có liên quan Các điều kiện cần và
đủ để một cá nhân tham gia là thành viên của tổ chuyên gia: có chứng chỉ tham gia khóa học về đấu thầu; có trình độ chuyên môn liên quan đến gói thầu; am hiểu các nội dung cụ thể tương ứng của gói thầu; có tối thiểu 03 năm công tác trong lĩnh vực liên quan đến nội dung kinh tế, kỹ thuật của gói thầu
Theo Điều 4, Luật Đấu thầu năm 2013 quy định Tổ chuyên gia gồm các cá nhân có năng lực, kinh nghiệm được bên mời thầu hoặc đơn vị tư vấn đấu thầu thành lập để đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất và thực hiện các nhiệm vụ khác trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng gồm Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp
Trang 40Cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư là cơ quan, tổ chức
có chuyên môn phù hợp với tính chất, nội dung của dự án và được người quyết định đầu tư giao nhiệm vụ thẩm định
Người quyết định đầu tư là cá nhân hoặc người đại diện theo pháp luật của
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có thẩm quyền phê duyệt dự án và quyết định đầu tư xây dựng (Điều 3, Luật Xây dựng năm 2014)
Sự tương tác giữa các chủ thể đã hình thành nên các mối quan hệ khác nhau trong hoạt động chỉ định thầu Những quan hệ này được pháp luật điều chỉnh, quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ các bên
2.1.2 Đối tượng của chỉ định thầu
Là các tổ chức cá nhân tham gia vào hoạt động chỉ định thầu, như người có
thẩm quyền, chủ đầu tư, bên mời thầu, cơ quan thẩm định, tổ chuyên gia, nhà thầu
Không thể phủ nhận việc chỉ định thầu có một số mặt lợi như rút ngắn được thời gian xây dựng công trình do không mất thời gian đấu thầu Tuy nhiên, mục tiêu này chỉ đạt được khi nhà đầu tư thật sự có năng lực Song, bài học từ các dự án chỉ định thầu trước đây cho thấy cái mất nhiều hơn cái được Điểm qua một vài dự án chỉ định thầu trước đây như một số gói thầu thi công dự án đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên làm chậm trễ, do sang nhượng thầu trái phép Dự án gây nhiều tai tiếng trong dư luận là dự án sửa mặt cầu Thăng Long (Hà Nội) cũng do được chỉ định thầu, chỉ ba tháng sau khi sửa chữa, mặt cầu lại xuất hiện nhiều vết nứt lớn, Bộ GTVT lại phải tốn thêm kinh phí để sửa chữa lại
Một dự án lớn khác cũng do chỉ định thầu là gói thầu 6B (thi công nạo vét, đào mới kênh tắt và bờ kè bảo vệ) của dự án tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu