1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế ở việt nam

71 387 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể đến một số các quốc gia có quy định về trường hợp hợp đồng lao động có thể bị chấm dứt khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ như: Luật Hợp đồng lao động của Trung Quốc 20

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÌ LÝ DO KINH TẾ Ở VIỆT NAM

CHỬ MINH TOÀN

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÌ LÝ DO KINH TẾ Ở VIỆT NAM

CHỬ MINH TOÀN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN HIỀN PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

1 Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.Tiến sĩ Nguyễn Hiền Phương

2 Mọi tham khảo, dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố

3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin chịu trách nhiệm

Hà N ội, ngày tháng năm 2016

Học viên

Chử Minh Toàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Khoa Sau đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội

và sự đồng ý hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hiền Phương, tôi đã thực hiện

đề tài luận văn thạc sĩ: “Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do

kinh tế ở Việt Nam”

Để hoàn thành khóa luận này, trước tiên tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô giáo, PGS.TS Nguyễn Hiền Phương, người đã tạo mọi điều kiện, động viên và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Sau đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội; các đồng nghiệp đã tận tình truyền đạt kiến thức cũng như tạo điều kiện trong quá trình tôi học tập tại trường

Tôi cũng xin cảm ơn bạn bè và đặc biệt là gia đình đã luôn bên tôi, cổ vũ

và động viên tôi những lúc khó khăn để có thể vượt qua và hoàn thành tốt luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Chử Minh Toàn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÌ LÝ DO KINH TẾ 5

1.1 Khái niệm chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 5

1.1.1 Định nghĩa chấm dứt hợp đồng lao động 5

1.1.2 Định nghĩa chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 7

1.1.3 Đặc điểm của chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 9

1.2 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 11

1.3 Tác động của việc chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 15

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÌ LÝ DO KINH TẾ 20

2.1 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 20

2.1.1 Chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế 20

2.1.2 Chấm dứt hợp đồng lao động khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp 23

2.1.3 Chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động vì lý do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước 25

2.2 Trình tự thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 26

2.3 Hậu quả pháp lý trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 33

Trang 6

2.3.1 Trường hợp người sử dụng lao động chấm dứt hợp pháp 33

2.3.2 Trường hợp người sử dụng lao động chấm dứt trái pháp luật 37

2.3.3 Trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động vì lý do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 41

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÌ LÝ DO KINH TẾ 42

3.1 Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 42

3.1.1 Kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 42

3.1.2 Những tồn tại trong thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 44

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 53

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 53 3.2.2 Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 60

KẾT LUẬN 61

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hợp đồng lao động là một chế định pháp lý được thừa nhận và quy định từ lâu trong hệ thống pháp luật lao động nước ta Nhất là khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới cùng với việc phát triển nền kinh thế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc thiết lập hợp đồng lao động trước khi bắt đầu một quan hệ lao động lại càng trở nên quan trọng nhằm đảm bảo quyền

và lợi ích hợp pháp của các bên Trên thực tế nếu muốn giao kết hợp đồng lao động thì pháp luật đòi hỏi phải có sự đồng thuận từ cả hai bên, nhưng việc chấm dứt hợp đồng trong nhiều trường hợp thì chỉ cần ý chí đơn phương của một bên

Một trong những trường hợp người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đó là chấm dứt vì lý do kinh tế Đặt trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào các thể chế kinh tế quốc tế, dẫn đến sự cạnh tranh trong nền kinh tế ngày càng tăng, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những thay đổi chiến lược để tồn tại Nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hay sự thay đổi cơ cấu tổ chức,

cơ cấu sản phẩm mà buộc phải cắt giảm nhân công, thu hẹp sản xuất để có thể duy trì hoạt động Tuy vậy, hiện nay tình trạng lạm dụng quyền chấm dứt hợp đồng vì lý do kinh tế ngày một nhiều hơn, những vi phạm trong việc chấm dứt hợp đồng về căn cứ, thủ tục chấm dứt hay giải quyết quyền lợi cho người lao động chưa đúng pháp luật vẫn đang diễn ra Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự bền vững của quan hệ lao động, vấn đề an ninh việc làm cho người lao động, cũng như sự ổn định và phát triển của đời sống kinh tế, xã hội Xuất phát từ nhận thức tầm quan trọng của nội dung chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế, đặc biệt trong tình hình đất nước ta đang tiến hành đổi mới các quy định pháp luật để đáp ứng với nhu cầu và phù hợp với

Trang 8

thực tế xã hội hiện nay, tôi đã chọn vấn đề “Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế ở Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

chương trình đào tạo thạc sỹ tại Khoa Luật - Viện Đại học Mở Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Ở Việt Nam, đề tài liên quan đến chế định hợp đồng lao động và chấm dứt hợp đồng lao động là một đề tài được nhiều tác giả nghiên cứu Trong số

đó có thể kể đến như: Luận văn: Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao

động của người sử dụng lao động theo pháp luật lao động Việt Nam - Thực

tr ạng và giải pháp của tác giả Trần Hữu Phúc do PGS.TS Đào Thị Hằng hướng dẫn; hay Luận văn: Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm

d ứt hợp đồng lao động - Thực trạng và một số kiến nghị của Nguyễn Ngọc

Hanh do TS Phạm Công Bảy hướng dẫn

Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu trên đều phần nào đề cập đến chế định về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế, nhưng chưa có một công trình nào thực sự đi sâu nghiên cứu về vấn đề này Đặc biệt, kể từ khi Bộ luật lao động 2012 , cùng với nhiều văn bản hướng dẫn như Nghị định 05/2015/NĐ-CP hay Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 05/2015,… ra đời đặt ra yêu cầu về mặt lý luận nghiên cứu cũng như thực tiễn thực hiện các quy định về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế Tác giả có thể khẳng định, công trình nghiên

cứu “Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế ở Việt

Nam” là hoàn toàn độc lập, và không phải là sự lặp lại của bất cứ công trình

nghiên cứu hay tài liệu nào

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được những kết quả sau đây:

M ột là, làm sáng tỏ hơn một số đề lý luận về chấm dứt hợp đồng lao

động vì lý do kinh tế, trong đó chỉ ra khái niệm, đặc điểm về chấm dứt hợp

Trang 9

đồng lao động vì lý do kinh tế trong pháp luật Việt Nam, cũng như có sự so sánh, nghiên cứu pháp luật một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này

Hai là, làm rõ thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế, về căn cứ chấm dứt, thủ tục chấm dứt, quyền lợi của người lao động trong trường hợp chấm dứt hợp đồng; từ đó đưa

ra những đánh giá về quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này

Ba là, phân tích thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế, đánh giá ưu điểm và hạn chế của việc thực thi các quy định này, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện về quy định cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về chấm dứt

hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật Việt Nam về

đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế và thực trạng thực thi

các quy định pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

Về phạm vi, đề tài tập trung vào nghiên cứu các quy định pháp luật lao động Việt Nam về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế, thủ tục thực hiện, và giải quyết các hậu quả pháp lý khi chấm dứt hợp đồng lao động vì lý

do kinh tế, từ đó nhằm đề xuất các giải pháp khả thi góp phần hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế trên thực tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục đích đã đặt ra, đề tài được triển khai nghiên cứu với phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu bao gồm: luận giải, phân tích, lịch sử, so sánh luật học, đối chiếu, bình luận, tổng hợp, quy nạp

Trang 10

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài Danh mục từ viết tắt; Danh mục bảng biểu, Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành ba chương: Chương 1: Khái quát chung về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

VÌ LÝ DO KINH TẾ 1.1 Khái niệm chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

1.1.1 Định nghĩa chấm dứt hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động là chế định trung tâm và quan trọng nhất của Bộ luật lao động bởi nó điều chỉnh quan hệ lao động- mối quan hệ chủ yếu nhất thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật lao động Hơn nữa trong mối quan hệ với các chế định khác của pháp luật lao động, hợp đồng lao động luôn giữ vai trò là cơ sở làm phát sinh các chế định này Có thể nói hợp đồng lao động là nền tảng để hình thành nên những quan hệ liên quan đến quan hệ lao động như quan hệ về tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động

Theo quy định tại Điều 15 BLLĐ năm 2012 thì:“Hợp đồng lao động là

s ự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có

tr ả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ

lao động”

Hợp đồng lao động là hình thức biểu hiện của quan hệ lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động Việc xác lập, thực hiện hay chấm dứt quan hệ lao động cá nhân chịu sự điều chỉnh của pháp luật nhìn chung đều dựa trên hợp đồng lao động như một cơ sở pháp lý cơ bản và quan trọng nhất Thông thường quan hệ lao động là quan hệ mang tính ổn định, lâu dài Tuy nhiên, ổn định, lâu dài không có nghĩa quan hệ lao động là một hiện tượng bất biến mà là một hiện tượng động, nghĩa là nó có quá trình phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt khi xuất hiện những sự kiện pháp lý nhất định Trong nền kinh tế thị trường, khi mà các quan hệ lao động không còn mang nặng tính hành chính, mệnh lệnh được thiết lập và bảo đảm bằng biên chế nhà nước như trước đây mà thay vào đó là tính tự nguyện, bình đẳng, thì hợp đồng lao

Trang 12

động là sự kiện pháp lý chủ yếu và phổ biến nhất làm phát sinh quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường bởi vì nó thể hiện được sự tự do ý chí của cả hai bên

Chính sự tự nguyện, bình đẳng mà bản thân chế độ hợp đồng lao động

đã tạo thuận lợi cho người lao động có thể dễ dàng lựa chọn công việc phù hợp Ở một mặt nào đó đã đảm bảo quyền tự do việc làm cho người lao động,

họ không nhất thiết phải làm việc cho doanh nghiệp hay một công ty suốt cả cuộc đời Cũng như vậy, người sử dụng lao động cũng không chịu áp lực buộc phải cộng tác với người lao động trong suốt một thời gian dài Các bên

có thể thoả thuận hoặc một trong các bên có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi xuất hiện các điều kiện được pháp luật quy định Theo đó, mọi sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một hợp đồng lao động đều sẽ kéo theo việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật lao động theo hợp đồng

Chấm dứt hợp đồng lao động là một sự kiện có ảnh hưởng rất lớn đến

sự tồn tại của quan hệ lao động Với sự kiện này, các chủ thể trong quan hệ hợp đồng lao động sẽ được giải phóng khỏi những quyền và nghĩa vụ đã từng ràng buộc họ trước đó, đồng thời cũng có thể gây ra những hậu quả xấu không những ảnh hưởng đến lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động mà còn ảnh hưởng đến lợi ích chung của nhà nước và xã hội Chính vì tầm quan trọng đó mà pháp luật về lao động luôn chú ý và có những quy định rất chặt chẽ trong vấn đề này

Như vậy, có thể thấy chấm dứt hợp đồng lao động thực chất là việc chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động Kể từ thời điểm chấm dứt các bên không thực hiện các quyền và nghĩa

vụ theo thoả thuận trong hợp đồng Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về chấm dứt HĐLĐ như sau: “Chấm dứt hợp đồng lao động là sự

Trang 13

vi ệc một trong hai bên hoặc cả hai bên trong quan hệ lao động không tiếp tục

th ực hiện hợp đồng lao động, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên đã

tho ả thuận trong hợp đồng lao động”

1.1.2 Định nghĩa chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

Chấm dứt hợp đồng lao động có thể xuất phát từ ý chí của một bên trong quan hệ lao động, hoặc dựa trên cơ sở thống nhất ý chí của hai bên, hoặc cũng có thể chấm dứt do ý chí của bên thứ ba Dù là trường hợp chấm dứt nào, hậu quả pháp lý đều là dẫn đến chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong hợp đồng Nhìn chung, người lao động hay người sử dụng lao động đều được pháp luật cho phép chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp nhất định Xuất phát từ mục tiêu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động, đặc biệt là bảo

vệ quyền lợi, an toàn về thu nhập cho người lao động, mà pháp luật đặt ra những giới hạn đối với quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động

Trong điều kiện hình thành nên quan hệ lao động dựa trên nền tảng coi sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, nhìn chung, tuân theo những quy luật của thị trường lao động Thực tế cho thấy, khi nền kinh tế gặp phải những khó khăn, lâm vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng; nhiều đơn vị sử dụng lao động buộc phải thu hẹp sản xuất, hay cơ cấu lại về tổ chức, thì nhu cầu sử dụng lao động cũng sẽ bị giảm sút Điều này dẫn đến việc một số đơn vị sử dụng lao động sẽ buộc phải cắt giảm lao động, cho nhiều người lao động thôi việc Chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế được hiểu là chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động mà nguyên nhân xuất

phát từ lý do kinh tế Lý do kinh tế ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng và

ngh ĩa hẹp

Trang 14

Nếu theo nghĩa hẹp, lý do kinh tế được hiểu là sự suy thoái, khủng

hoảng của nền kinh tế, hay thực hiện chính sách tái cơ cấu nền kinh tế của nhà nước ảnh hưởng đến doanh nghiệp khiến người lao động bị mất việc làm Cách hiểu này chưa bao quát được hết tác động của nền kinh tế thị trường tới các doanh nghiệp hiện nay Trên thực tế, những yếu tố khách quan của nền

kinh tế dẫn đến sự thay đổi trong các doanh nghiệp là hết sức đa dạng và

phong phú Kéo theo đó là những thay đổi tất yếu của doanh nghiệp để có thể duy trì và phát triển Thực tế cho thấy không phải lúc nào người sử dụng lao động cũng buộc phải duy trì quan hệ lâu dài với người lao động mà vì lý do khách quan của nền kinh tế buộc họ phải chấm dứt quan hệ lao động Trong

cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn được đặt trong tình trạng cạnh tranh gay gắt Bởi vậy, để tồn tại và phát triển, những thay đổi về chức năng, cơ cấu, quy mô, công nghệ, thu hẹp sản xuất… của doanh nghiệp đã trở thành hiện thực tất yếu đôi khi nằm ngoài cả mong muốn, dự định của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh, những thay đổi trong chính sách pháp luật, sự suy thoái của nền kinh tế, sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh mới, kinh doanh thua lỗ, rủi ro từ thiên tại, hoả hoạn đều có thể tác động tới hoạt động bình thường của doanh nghiệp và đặt doanh nghiệp vào yêu cầu cần có sự thay đổi

Theo ngh ĩa rộng lý do kinh tế ở đây không chỉ bao gồm sự khủng

hoảng, suy thoái của nền kinh tế mà còn bao gồm cả những trường hợp vì lý do kinh tế khiến doanh nghiệp phải cần phải có sự thay đổi để tồn tại và phát triển Chẳng hạn như việc tái cơ cấu bộ máy tổ chức, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất, kinh doanh Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp có bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả buộc phải tổ chức lại cho gọn nhẹ, để có thể dễ dàng linh hoạt, thích ứng với những thay đổi của thị trường Hoặc việc doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất, kinnh doanh, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, nhân công trong

Trang 15

sản xuất Sau khi tiến hành cải cách, việc thừa nhân công là khó tránh khỏi khiến doanh nghiệp phải lên phương án cắt giảm số lao động bị thừa

Một số doanh nghiệp lựa chọn phương án sáp nhập, hợp nhất lại với nhau để tăng sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Sau khi các doanh nghiệp đã tiến hành hợp nhất, sáp nhập việc thừa nhân lực là khó tránh khỏi

Do đó, doanh nghiệp bắt buộc phải lên phương án sử dụng lao động hợp lý, hiệu quả bằng cách cho thôi việc đối với những người lao động dôi dư

Bên cạnh đó, quá trình cổ phần hoá đối với một số doanh nghiệp nhà nước cũng là một trong những nhân tố dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với nhiều người lao động Quá trình cổ phần hoá đã góp phần giảm mạnh số lượng doanh nghiệp nhà nước, cải thiện cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo hướng tích cực Để hoạt động hiệu quả hơn, các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần đã tiến hành cải cách lại bộ máy hợp lý, sử dụng hiệu quả về mặt nhân công, tránh tình trạng cồng kềnh trong bộ máy quản lý như trước đây Việc cắt giảm, giải thể một hay một số phận không cần thiết là điều

dễ hiểu và hợp lý

Như vậy, để bao quát được hết những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế trên thực tế, cần phải nghiên cứu, xem xét chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế theo nghĩa rộng.Tức là, chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế gồm: do sự tác động của nền kinh tế; do sự thay đổi cơ cấu, công nghệ; hay do hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp

1.1.3 Đặc điểm của chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

Th ứ nhất, chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế làm chấm dứt

hi ệu lực pháp lý của HĐLĐ đã ký kết trước thời hạn, hoặc trước khi công việc được thỏa thuận trong hợp đồng được hoàn thành

Trong quan hệ pháp luật về hợp đồng, thông thường quyền của bên này

sẽ tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Do đó, việc xác lập hợp

Trang 16

đồng chỉ có thể xảy ra khi có sự đồng thuận, thống nhất ý chí của cả hai bên

và nhằm hướng tới một lợi ích nhất định Đối với NLĐ, lợi ích đó là tiền lương, là những chế độ phúc lợi, còn đối với NSDLĐ đó là những khoản lợi nhuận của doanh nghiệp Do đó, khi những lợi ích đó không được đảm bảo thì việc duy trì HĐLĐ đã ký kết không còn có ý nghĩa và cần thiết nữa Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế, người sử dụng lao động phải đối diện với những áp lực về tái cơ cấu bộ máy doanh nghiệp, hay thay đổi công nghệ, quy trình sản xuất, hoặc bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế, những áp lực này buộc người sử dụng lao động phải đứng trước lựa chọn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với một bộ phận người lao động, để duy trì được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đảm bảo việc làm cho những người lao động còn lại Việc chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động là đơn phương và quan hệ lao động chấm dứt trước thời hạn hai bên đã thỏa thuận Nhìn chung, pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận quyền được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động khi có sự dư thừa lao động Có thể thấy rằng, trong trường hợp này, người sử dụng lao động căn

cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà tự đưa ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với nhiều người lao động, không phụ thuộc vào ý chí hay sự chấp thuận của người lao động

Th ứ hai, nguyên nhân dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng lao động vì lý

do kinh t ế chủ yếu xuất phát từ rủi ro mang tính khách quan

Chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế là quyền của người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động khi doanh nghiệp bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế buộc phải thu hẹp sản xuất, hoặc có những thay đổi về cơ cấu công nghệ, thay đổi về tổ chức bộ máy, Những nguyên nhân về kinh tế ở đây là khách quan, không phụ thuộc

Trang 17

vào việc chủ sử dụng lao động mong muốn hay không, và cũng không xuất phát từ lỗi của người lao động Người sử dụng lao động buộc phải thực hiện việc chấm dứt hợp đồng lao động, cắt giảm nhân lực để duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp Bởi nếu không thực hiện cắt giảm lao động, thì doanh nghiệp có khả năng phải chấm dứt hoạt động, giải thể hay phá sản Do vậy, lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và những người lao động tiếp tục làm việc sẽ được ưu tiên hơn so với lợi ích của một bộ phận người lao động bị chấm dứt hợp đồng

Th ứ ba, chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế đặt ra yêu cầu

ph ải hỗ trợ cho người lao động quay lại thị trường lao động

Chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế hợp pháp đặt ra những yêu cầu về căn cứ pháp lý cũng như thủ tục thực hiện Về mặt thủ tục, để tránh trường hợp người sử dụng lao động lạm dụng quyền hạn, trước khi người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động vì lý

do kinh tế, họ cần phải thực hiện nhiều bước khác nhau để chứng minh việc chấm dứt hợp đồng được xem xét cẩn thận và chỉ là biện pháp cuối cùng, bắt buộc khi không còn biện pháp nào khác Chẳng hạn như theo pháp luật Việt Nam, người sử dụng lao động buộc phải tham vấn ban chấp hành công đoàn, xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động, đào tạo lại để giúp người lao động thích nghi với tình hình doanh nghiệp sau khi tái cơ cấu, sáp nhập,

… Sau khi thực hiện phương án sử dụng lao động mà vẫn không thể sắp xếp được việc làm cho người lao động, thì chủ sử dụng có nghĩa vụ thanh toán trợ cấp mất việc làm cho người lao động

1.2 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

Do tính tất yếu của nền kinh tế nên luật lao động của các nước đều thừa nhận chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế, việc xác định lý do kinh tế

để chấm dứt hợp đồng lao động gồm: Hoạt động kinh doanh thực tế của doanh nghiệp, những thay đổi về cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, thay đổi cơ

Trang 18

cấu công nghệ để đáp ứng yêu cầu biến động nhanh của nền kinh tế,… Có thể khái quát những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế phổ biến như sau:

i Chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp thay đổi trong

sản xuất, phong cách quản lý hoặc thay đổi máy móc, cơ cấu, công nghệ

Thay đổi cơ cấu, công nghệ được hiểu là thay mới một phần hoặc toàn

bộ máy móc thiết bị có năng suất lao động cao hơn; thay một số khâu hoặc toàn bộ quy trình sản xuất tiên tiến có năng suất lao động cao hơn; thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít hơn; sử dụng công nghệ tiên tiến có năng suất, chất lượng cao hơn thay thế công nghệ lạc hậu; thay đổi cơ cấu tổ chức: sáp nhập, giải thể một số bộ phận của đơn vị Những thay đổi đó dẫn tới việc một số lượng nhân công bị thừa ra, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ cắt giảm nhân công, thông qua việc chấm dứt

hợp đồng lao động với nhiều người lao động để giảm chi phí hoạt động

Đây là một trong những trường hợp mà rất nhiều quốc gia coi là điều kiện để người sử dụng lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động một cách hợp pháp Có thể kể đến một số các quốc gia có quy định về trường hợp hợp đồng lao động có thể bị chấm dứt khi doanh nghiệp thay đổi

cơ cấu, công nghệ như:

Luật Hợp đồng lao động của Trung Quốc (2007) có quy định một trong các trường hợp mà doanh nghiệp được cắt giảm lao động đó là trường hợp

“có thay đổi trong sản xuất, phong cách quản lý hoặc đổi mới công nghệ”

(Điều 41).1

Bộ luật lao động của Liên Bang Nga (2001) cũng quy định: “…Trường

h ợp cắt giảm số lượng hoặc bộ máy của doanh nghiệp, người lao động phải đảm nhận công việc không phù hợp với trình độ, tay nghề thì việc chấm dứt

1 Nguyễn Thị Hoa Tâm (2013), Pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động - những vấn đề lý

lu ận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật TP.HCM

Trang 19

h ợp đồng lao động tiến hành theo thủ tục nhận xét được quy định về tiêu

chu ẩn lao động, có tham khảo ý kiến đại kiện người lao động…” (Chương

XIII từ điều 77-80).2

Phần 121, chương 11, Đạo luật Bảo hộ lao động năm 1998 của Thái

Lan nói rõ: “Trường hợp ông chủ muốn chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do

tái c ấu trúc doanh nghiệp, sản xuất, phân phối hoặc các quy trình dịch vụ do

c ơ khí hoá hay thay đổi máy móc, công nghệ mà phải giảm lao động, đoạn 2

ph ần 17 sẽ không được áp dụng, và ông chủ phải thông báo cho Thanh tra

lao động và người lao động mà hợp đồng lao lao động bị chấm dứt ngày

ch ấm dứt lý do chấm dứt và tên lao động bị chấm dứt không chậm hơn 60

ngày k ể từ ngày chấm dứt” 3

Theo quy định tại Điều 30, Đạo luật bảo vệ việc làm (Employment Protection Act) của Cộng hòa Liên bang Đức cũng quy định người sử dụng lao động được quyền chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh doanh bao gồm các trường hợp: doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, doanh nghiệp tái cấu trúc hoặc doanh nghiệp giảm nhu cầu sử dụng lao động.4

Như vậy, mặc dù cách diễn đạt, từ ngữ sử dụng không hoàn toàn giống nhau, nhưng về nội dung hầu hết các nước đều cho phép người sử dụng lao động có thể chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động trong trường hợp doanh nghiệp vì lý do khách quan của nền kinh tế mà phải cơ cấu lại doanh nghiệp, thay đổi công nghệ cho phù hợp dẫn đến phải cắt giảm lao động để có thể duy trì sự hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp đó

Trang 20

ii Chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp có sự sắp xếp lại doanh nghiệp (sáp nhập, hợp nhất) hoặc thay đổi quyền quản lý, chủ sở hữu của doanh nghiệp

Trong điều kiện kinh tế đòi hỏi doanh nghiệp phải có sức cạnh tranh, sức mạnh thị trường, về vốn thì mới có thể duy trì và phát triển thì việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ liên kết lại với nhau để tạo nên sức mạnh lớn hơn là hiện tượng thường xuyên Sau khi liên kết lại, doanh nghiệp sẽ tiến hành sắp xếp lại bộ máy để tăng tính hiệu quả hoạt động của mình Hậu quả dẫn đến việc thừa lao động cũng là điều tất yếu Do đó, trong trường hợp này cho phép người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động với những người lao động mà người sử dụng lao động không thể bố trí việc làm là hợp lý

Một số quốc gia lấy lý do trên làm căn cứ để người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động như:

Theo Bộ luật lao động của Liên Bang Nga (2001), chấm dứt hợp đồng lao động theo đề nghị của người sử dụng lao động có thể được thực hiện trong

các trường hợp sau: “…Do sự thay đổi chủ sở hữu (trong quan hệ với người

lãnh đạo, người phó của người lãnh đạo và kế toán trưởng);…” 5

Điều 25 Luật tiêu chuẩn lao động của Hàn Quốc (1997) quy định: “Sa

th ải người lao động trong các trường hợp như: chuyển nhượng, mua đứt và

sáp nh ập kinh doanh nhằm tránh các khó khăn về tài chính được xem là nhu

c ầu quản lý khẩn cấp.Trong trường hợp này, chủ doanh nghiệp phải nỗ lực

h ết sức để tránh sa thải người lao động và phải chọn người lao động sẽ bị sa

th ải bằng cách đưa ra các chuẩn sa thải hợp lý và công bằng…” 6

Điều 163 Luật của nước Cộng hoà Indonesia số 13 năm 2003 về nhân

lực cũng quy định: “Doanh nghiệp chấm dứt quan hệ lao động với người lao

Trang 21

động/nhân công trong trường hợp có sự thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Sáp

nh ập, hợp nhất hoặc thay đổi sở hữu của doanh nghiệp và người lao động/

công nhân không t ự nguyện tiếp tục công việc của họ, người lao động/công

nhân có quy ền nhận thanh toán tiền trợ cấp thôi việc một lần theo quy định

t ại khoản 2 điều 156, tiền thưởng cho thời gian phục vụ một lần theo quy định

t ại khoản 3 điều 156 và tiền bồi thường theo quy định tại khoản 4 Điều 156” 7

Tuy nhiên, cũng có nhiều quốc gia không coi đây là căn cứ để chấm dứt hợp đồng lao động, ví dụ như theo Điều 75 Bộ luật lao động của Liên Bang

Nga năm 2001:“Việc thay đổi khi chuyển quyền sở hữu không phải là căn cứ

để chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động Trong trường hợp người

lao động từ chối tiếp tục làm việc liên quan đến chuyển quyền sở hữu thì hợp đồng lao động được chấm dứt

Vi ệc thay đổi quyền quản lý, hoặc sắp xếp lại doanh nghiệp (sáp nhập,

chia tách,…) c ũng không phải là cơ sở để chấm dứt hợp đồng lao động với

ng ười lao động, Trừ trường hợp người lao động từ chối tiếp tục làm việc” 8

Với trường hợp này, nhận thấy không phải hầu hết các quốc gia đều ghi nhận nó làm căn cứ để người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động Nguyên nhân có thể xuất phát từ việc quốc gia đó ưu tiên bảo vệ quyền lợi cho người lao động hay người sử dụng lao động

1.3 Tác động của việc chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

Hiện nay với sự ảnh hưởng sâu sắc của khủng hoảng kinh tế thế giới, không những ở Việt Nam mà ở nhiều quốc gia rất nhiều các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đồng loạt giải thể, phá

Trang 22

sản, cắt giảm lao động với số lượng lớn, người sử dụng lao động bỏ trốn Hiện tượng trên đã gây ra phản ứng dây chuyền hoang mang, lo sợ cho đông đảo lực lượng lao động, nhất là tại các khu công nghiệp, khu chế xuất

Với những trường hợp đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động như hết hạn hợp đồng, người lao động hay người sử dụng lao động vi phạm hợp đồng lao động, các bên trong quan hệ lao động đã có sự chủ động khi chấm dứt hợp đồng lao động Ngược lại, với trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế, người lao động thường rơi vào thế bị động Bởi vì đây

là trường hợp mà người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng với người lao động, khi mà quan hệ lao động vẫn đang diễn ra bình thường, việc thay đổi trong doanh nghiệp chỉ do người sử dụng lao động quyết định, nên việc người lao động bị mất việc là hoàn toàn bị động bất ngờ

Với thực tế đó, khi người sử dụng lao động quyết định chấm dứt hợp đồng với người lao động thì bên cạnh một bộ phận lớn lao động ngậm ngùi chấp nhận thì một bộ phận không nhỏ không chấp nhận đã kéo tới các trụ sở công ty, các cơ quan chức năng để đòi quyền lợi cho mình Vì vậy mà tranh chấp về lao động xảy ra nhiều trong thực tế ảnh hưởng đến cả người lao động, người sử dụng lao động và sự ổn định của xã hội

Bất cứ hiện tượng nào cũng tồn tại cả hai mặt của nó, chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế cũng không nằm ngoài quy luật đó Không thể phủ nhận những tác động tích cực của nó, nhưng bên cạnh đó có những mặt trái không thể tránh khỏi

Đối với người lao động:Có thể thấy trong việc chấm dứt hợp đồng lao

động vì lý do kinh tế, đối tượng bị tác động, ảnh hưởng trực tiếp nhất là người lao động và người thân của họ Về mặt tích cực, nó giúp cho người lao động năng động hơn, dễ thích nghi hơn với những thay đổi của thị trường lao động

Do đó, chấm dứt hợp đồng lao động với người sử dụng lao động sẽ tạo cho

Trang 23

người lao động có cơ hội tìm được một công việc mới với môi trường làm việc phù hợp với điều kiện và trình độ chuyên môn của mình Đồng thời người lao động được làm nhiều công việc nên trình độ được nâng cao, có kinh nghiệm tốt hơn Tuy nhiên, chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế cũng

có những ảnh hưởng tiêu cực đối với người lao động Cụ thể, trong điều kiện kinh tế có nhiều biến động như hiện nay, đa số doanh nghiệp đều cố gắng tinh giản cơ cấu, thay đổi công nghệ và tìm mọi cách để tiết kiệm chi phí Điều này dẫn đến một thực tế là, trong cơ cấu kinh tế số lao động có nhu cầu về làm việc lớn hơn nhiều nhu cầu thuê lao động tại các doanh nghiệp, công ty,

vì thế việc tìm kiếm lại cho mình một công việc phù hợp, ổn định đem lại thu nhập là một vấn đề rất khó khăn và nan giải, từ đó đồng nghĩa với việc người lao động sẽ không có thu nhập để nuôi sống bản thân mình và gia đình của họ

Đối với người sử dụng lao động: Trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế là một trường hợp mà người sử dụng có thể được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động Mặc dù là một quyền, nhưng khi thực hiện quyền này nó cũng ảnh hưởng đến cả chính người

sử dụng lao động theo cả hai chiều hướng Cụ thể, về mặt tích cực: Chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển Chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp này thể hiện quyền quản lý của người sử dụng lao động với người lao động cũng như đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp người sử dụng lao động loại bỏ được những rào cản, gánh nặng trong quá trình hoạt động, đảm bảo quyền tự do kinh doanh, quyền tự định đoạt của người sử dụng lao động Tuy nhiên, việc chấm dứt này cũng có những tác động tiêu cực bởi chấm dứt hợp đồng vì lý do kinh tế thường là chấm dứt với nhiều người lao động nên có thể gây ảnh hưởng không tốt, khiến người lao động có phản ứng tập thể mang tính tiêu cực, và dễ

Trang 24

dẫn đến tranh chấp lao động tập thể, có thể gây thiệt hại không nhỏ cho người

sử dụng lao động

Đối với xã hội: Sự thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật lao động

không chỉ ảnh hưởng đến riêng người lao động, người sử dụng lao động mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến xã hội theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Về tác động tích cực: Chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế chính

là việc loại bỏ những người lao động không còn phù hợp với điều kiện kinh doanh, loại bỏ những rào cản làm ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp đó Chính điều đó đã gián tiếp thúc đẩy nền kinh tế nói chung và quan

hệ lao động nói riêng phát triển Tuy nhiên, chấm dứt hợp đồng lao động vì lý

do kinh tế cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội bởi, khi người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động sẽ dẫn đến việc người lao động không có việc làm, số lượng này ngày càng nhiều sẽ tạo

ra nạn thất nghiệp, sẽ trở thành gánh nặng của Nhà nước khi phải giải quyết vấn đề việc làm và các vấn đề an sinh xã hội cho những người lao động đó Bên cạnh đó, từ việc mất việc làm của người lao động còn có thể gây ra những bất ổn trong quan hệ lao động, tranh chấp lao động,… ảnh hưởng rất lớn đến trật tự, an ninh xã hội

Trang 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế là một trường hợp chấm dứt phổ biến trên thực tế và được pháp luật hầu hết các quốc gia thừa nhận như một trong những quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động Tùy từng quốc gia khác nhau mà pháp luật đưa ra những giới hạn nhất định về căn cứ cũng như thủ tục chấm dứt hợp đồng Nhìn chung, chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế bao gồm những trường hợp như: thay đổi cơ cấu tổ chức, công nghệ, khủng hoảng kinh tế hay do sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp Việc chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế xuất phát từ những rủi ro mang tính khách quan của nền kinh tế, dẫn đến chủ

sử dụng lao động phải đơn phương chấm dứt hợp đồng với nhiều người lao động trong doanh nghiệp, và do vậy, để bảo hộ việc làm, đảm bảo an sinh cho người lao động, pháp luật các quốc gia cũng quy định những nghĩa vụ về tài chính của chủ sử dụng đối với những người lao động bị thôi việc Việc chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế một mặt giúp cho doanh nghiệp chủ động trong vấn đề nhân sự, cắt giảm những chi phí về lao động, giúp cho người lao động năng động và thích nghi hơn với thị trường lao động; mặt khác, cũng gây những ảnh hưởng nhất định đến an sinh của người lao động, đến an ninh việc làm và sự ổn định của xã hội

Tóm lại, chương 1 đã đưa ra một số quan điểm, cung cấp cái nhìn khách quan và khái quát nhất về các vấn đề lý luận liên quan đến chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế và pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế Qua đó làm tiền đề cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

Trang 26

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHẤM DỨT

HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÌ LÝ DO KINH TẾ 2.1 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

2.1.1 Chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi

cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

Chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi

cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế là một trường hợp chấm dứt thường xuyên diễn ra trong thực tế Vì vậy, pháp luật điều chỉnh vấn đề này đưa ra những quy định rất rõ ràng về căn cứ cũng như thủ tục chấm dứt để đảm bảo người sử dụng lao động không lạm quyền và chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với người lao động Cụ thể, theo quy định tại khoản 1 và khoản

2 Điều 44 BLLĐ quy định như sau:

“1 Tr ường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm

c ủa nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây

d ựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của

B ộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng

Trong tr ường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được

vi ệc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất

vi ệc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này

2 Trong tr ường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ

m ất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực

hi ện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này

Trong tr ường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được

vi ệc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc

làm cho ng ười lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.”

Trang 27

Để làm rõ căn cứ chấm dứt , xác định rõ trường hợp nào được coi là

“Thay đổi cơ cấu, công nghệ và lý do kinh tế”, Nghị định 05/2015/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động đã giải thích chi tiết về thuật ngữ nay Theo đó, thay đổi cơ cấu,

công nghệ được hiểu bao gồm một trong các trường hợp sau “a) Thay đổi cơ

c ấu tổ chức, tổ chức lại lao động;

b) Thay đổi sản phẩm, cơ cấu sản phẩm;

c) Thay đổi quy trình, công nghệ, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh

doanh g ắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động” 9

Như vậy, có thể hiểu thay đổi cơ cấu, công nghệ bao gồm các trường hợp như: Thay mới một phần hoặc toàn bộ máy móc thiết bị có năng suất lao động cao hơn; thay một số khâu hoặc toàn bộ quy trình sản xuất tiên tiến có năng suất lao động cao hơn; thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến

sử dụng lao động ít hơn; sử dụng công nghệ tiên tiến có năng suất, chất lượng cao hơn thay thế công nghệ lạc hậu; thay đổi cơ cấu tổ chức: sáp nhập, giải

thể một số bộ phận của đơn vị

Còn lý do kinh tế theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 của Bộ luật Lao động 2012 được xác định là một trong các trường hợp sau đây:

“a) Kh ủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế;

b) Th ực hiện chính sách của Nhà nước khi tái cơ cấu nền kinh tế hoặc

th ực hiện cam kết quốc tế.” 10

Pháp luật hiện hành cho phép người sử dụng lao động được phép chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc

vì lí do kinh tế Đây chính là trường hợp người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động một cách hợp pháp

9 Điều 13- Nghị định 05/2015/NĐ-CP

10 Điều 13, Nghị định 05/2015/NĐ-CP

Trang 28

và gọi lý do chấm dứt hợp đồng ở đây chính là lý do kinh tế Bởi vì trong bối cảnh nền kinh tế thị trường với rất nhiều biến động, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau gay gắt như hiện nay, việc doanh nghiệp bắt buộc phải có sự thay đổi quy trình công nghệ, hay điều chỉnh lại cơ cấu, tổ chức… để có thể tồn tại và phát triển là điều tất yếu trong nền kinh tế nói chung

Trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế theo điều 44 BLLĐ, người sử dụng lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động Đây là một quy định phù hợp với tình hình phát triển thực tế khi mà công nghệ khoa học phát triển một cách chóng mặt như hiện nay Đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, lạm phát tăng cao vẫn đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi cơ cấu công nghệ sản xuất nhằm giảm chi phí đầu vào Hay doanh nghiệp buộc phải thu hẹp hoạt động sản xuất, kinh doanh vì áp lực từ môi trường kinh doanh khách quan bên ngoài, ví dụ như khủng hoảng kinh tế trong nước hoặc toàn cầu, dẫn đến nhiều doanh nghiệp bị giảm giá trị, bị mua lại, hoặc nhiều doanh nghiệp bị giảm doanh thu, lợi nhuận Việc duy trì hợp đồng lao động với số lượng lớn lao động khi việc sản xuất kinh doanh đối với người sử dụng lao động đang trong tình trạng trì trệ là việc làm không cần thiết Pháp luật cho phép chủ sử dụng lao động được chấm dứt hợp đồng lao động đối với nhiều người lao động, tuy nhiên, cũng có những quy định điều kiện chấm dứt chặt chẽ Việc Nghị định 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ giới hạn cụ thể các trường hợp được coi là thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế sẽ hạn chế được việc doanh nghiệp lợi dụng căn cứ này để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động một cách tuỳ tiện

Trang 29

2.1.2 Chấm dứt hợp đồng lao động khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp

Sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp là những trường hợp mà doanh nghiệp có sự thay đổi rất lớn về cơ cấu tổ chức, về chủ sở hữu Căn cứ

vào Luật doanh nghiệp năm 2014, Hợp nhất doanh nghiệp được hiểu là

trường hợp hai hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất), đồng thời

chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất; Sáp nhập doanh nghiệp là

trường hợp một hoặc một số công ty (sau đâu gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đâu gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhật, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập Đây là những trường hợp mà doanh nghiệp buộc phải lựa chọn khi có những thay đổi trong phương thức tổ chức kinh doanh Vì những lý do khó khăn về kinh tế, hay vì lý do khách quan khác xuất phát từ nền kinh tế mà doanh nghiệp buộc phải thay đổi cấu trúc của doanh nghiệp để có thể tiếp tục tồn tại Có nhiều động cơ khiến doanh nghiệp lựa chọn phương án sáp nhập, hợp nhất Chẳng hạn như có doanh nghiệp đang phát triển mạnh muốn tiếp quản các địch thủ nhỏ hơn của mình để trở nên lớn mạnh hơn nữa; hoặc cũng

có trường hợp, một công ty nhỏ muốn mở rộng, nhưng lại bị hạn chế do thiếu vốn và phải tìm kiếm một đối tác lớn hơn để lấy được khoản đầu tư cần có Một số công ty có thể muốn tiết kiệm chi phí bằng cách kết hợp các đơn vị sản xuất, đôi khi trên phạm vi toàn thế giới Một số công ty khác thì sáp nhập

để tự vệ, để đáp trả các công ty khác đang đe doạ vị trí cạnh tranh của mình

Trong quá trình sản xuất kinh doanh không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi, nhất là trong một nền kinh tế quá nhiều biến động như hiện nay Do vậy, một doanh nghiệp có thể rơi vào trường hợp thua lỗ vì những lý do khách

Trang 30

quan của nền kinh tế, nhưng lại không có khả năng để thay đổi công nghệ, cũng như cùng doanh nghiệp khác hợp tác để vực dậy dẫn đến khả năng để tồn tại là rất mong manh, hay nội bộ doanh nghiệp không thống nhất được phương án khắc phục Dẫn đến nhiều nhà đầu tư muốn chia, tách doanh nghiệp nhằm giảm tối đa những thiệt hại cho mình, hay có thể độc lập hơn trong vấn đề quyết định hướng đi của doanh nghiệp sau khi chia tách Khi đó quy mô doanh nghiệp không được như ban đầu dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng với người lao động là tất yếu

Mặc dù việc cơ cấu lại doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay là chính đáng, nhưng không vì thế mà thiếu đi sự quản lý chặt chẽ của luật pháp Bởi

vì, nếu pháp luật quy định không cụ thể, rõ ràng thì người sử dụng lao động

có thể sẽ lợi dụng những kẽ hở của pháp luật, viện dẫn cho thôi việc hàng loạt người lao động ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động cũng như gây bất ổn thị trường.Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo điều 45

Bộ luật lao động 2012, có thể thấy rằng, Bộ luật lao động với mục đích bảo vệ người lao động luôn ưu tiên lợi ích hợp pháp của người lao động lên hàng đầu tuy nhiên lợi ích đó phải nằm trong mối tương quan với các lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động Trong các trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với người lao động Đây được xem

là việc thể hiện sự bảo hộ của nhà nước về vấn đề việc làm cho người lao động Tuy nhiên, trên thực tế, khi một số doanh nghiệp đưa ra quyết định tổ chức lại doanh nghiệp: Nhiều khả năng, điều này phản ánh thực tế mô hình hoạt động cũ không đạt hiệu quả dẫn đến việc thua lỗ và phải tổ chức lại Do

đó, trong trường hợp này chủ doanh nghiệp mới vẫn phải gánh chịu hậu quả của doanh nghiệp cũ và dường như không đủ khả năng sử dụng tiếp một khối

Trang 31

lượng lao động quá lớn lúc trước Việc Bộ luật lao động quy định doanh nghiệp được phép cho người lao động thôi việc trong trường hợp này là hợp

lý, giúp doanh nghiệp giảm bớt những khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh

2.1.3 Chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động vì lý do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước

Trong giai đoạn hiện nay, nhà nước đang từng bước thoái vốn khỏi nhiều doanh nghiệp và hình thức thoái vốn được áp dụng rộng rãi nhất chính

là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Số lượng doanh nghiệp được cổ phần hóa trong một vài năm gần đây luôn ở mức cao, năm 2013 là 74 doanh nghiệp, năm 2014 là 143 doanh nghiệp, và năm 2015 có đến 159 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa Điều này đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới phương thức quản lý, quản trị; đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh; huy động vốn, mở rộng sản xuất, kinh doanh, tiến tới phát triển bền vững Thông qua cổ phần hóa, các doanh nghiệp nhà nước đã thu hút được các nhà đầu tư chiến lược, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có tiềm lực về tài chính, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý… Tuy nhiên, một yếu tố cần được xét đến trong quá trình cổ phần hóa, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, đó là yếu tố việc làm của người lao động Với những thay đổi mạnh mẽ về chủ sở hữu doanh nghiệp cũng như trong quản lý, điều hành, nhiều người lao động trong doanh nghiệp tỏ ra chưa thể thích nghi được với tình hình mới

Theo quy định tại Nghị định số 02/VBHN-BTC ngày 12/01/2016 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, trong trường hợp Doanh nghiệp nhà nước thực hiện tái cơ cấu, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp thì người sử dụng lao động kế tiếp có nghĩa vụ kế thừa trách

nhiệm đối với người lao động Cụ thể, về nguyên tắc: “Doanh nghiệp cổ phần

Trang 32

hóa có trách nhi ệm sắp xếp, sử dụng tối đa số lao động tại thời điểm quyết định cổ phần hóa và giải quyết chế độ cho người lao động nghỉ việc, thôi việc

theo quy định hiện hành

Công ty c ổ phần có nghĩa vụ kế thừa mọi trách nhiệm đối với người lao động từ doanh nghiệp cổ phần hóa chuyển sang; có quyền tuyển chọn, bố trí

s ử dụng lao động và phối hợp với các cơ quan liên quan giải quyết chế độ

cho ng ười lao động theo quy định của pháp luật.” 11

Như vậy, trước khi cổ phần hóa, doanh nghiệp đã có nghĩa vụ phải sắp xếp, sử dụng tối đa số lao động, đồng thời cũng cần xem xét, giải quyết chế

độ cho những người lao động thôi việc Sau khi cổ phần hoá, công ty cổ phần

có trách nhiệm kế thừa nghĩa vụ của doanh nghiệp nhà nước đối với người lao động Lúc này, công ty cổ phần cần tiến hành xem xét, thay đổi cơ cấu, tổ chức, sử dụng lao động theo nhu cầu nhằm mục đích đạt được hiệu quả cao hơn trong kinh doanh, sản xuất so với trước đây Thực tế cho thấy, trường hợp này dẫn đến nhiều người lao động không thể thích nghi được với tình hình mới của công ty, buộc phải chấm dứt quan hệ lao động Khi đó, công ty cổ phần có nghĩa vụ giải quyết chế độ cho người lao động theo quy định của

pháp luật

2.2 Trình tự thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế

 Trình tự, thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động do thay đổi cơ

cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

Trong trường hợp người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế, để đảm bảo chấm dứt đúng pháp luật, ngoài việc phải đảm bảo các căn cứ chấm dứt, họ cũng phải tuân theo quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục chấm dứt Cụ thể theo quy định tại Điều 44 Bộ luật lao động 2012:

11 Khoản 1, Điều 10, Nghị định 02/2016/VBHN-BTC ngày 12/01/2016

Trang 33

“1 Tr ường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm

c ủa nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây

d ựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của

B ộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng

Trong tr ường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được

vi ệc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất

vi ệc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này

2 Trong tr ường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ

m ất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực

hi ện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này

Trong tr ường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được

vi ệc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc

làm cho ng ười lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này

3 Vi ệc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể

lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước

v ề lao động cấp tỉnh.”

Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp có sự thay đổi cơ cấu công nghệ, hoặc vì lý do kinh tế, khiến nhiều người lao động có khả năng mất việc làm, thì trước tiên, doanh nghiệp phải lập phương án sử dụng lao động, ưu tiên đào tạo lại NLĐ để tiếp tục sử dụng Quá trình lập phương án sử dụng lao động cần phải tham vấn ý kiến của công đoàn Trong phương án sử dụng lao động phải xác định rõ:

“a) Danh sách và s ố lượng người lao động tiếp tục được sử dụng,

ng ười lao động đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng;

b) Danh sách và s ố lượng người lao động nghỉ hưu;

Trang 34

c) Danh sách và s ố lượng người lao động được chuyển sang làm việc

không tr ọn thời gian; người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động;

d) Bi ện pháp và nguồn tài chính bảo đảm thực hiện phương án.” 12 Sau khi người sử dụng lao động xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động mà vẫn không thể sắp xếp được việc làm cho những người lao động trong doanh nghiệp, dẫn đến phải cho thôi việc từ hai lao động trở lên, thì người sử dụng lao động phải thông báo với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở, và thông báo cho cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh, thường là

Sở Lao động, Thương binh và Xã hội về việc chấm dứt hợp đồng lao động

Bộ luật lao động 2012 cũng quy định rất rõ thời hạn báo trước cho cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh là 30 ngày Theo quy định tại Điều 7, Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 Hướng dẫn thực hiện một số điều

về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động, thông báo đến

cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh cần có những nội dung sau:

“a) Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động và người đại diện theo

pháp lu ật của người sử dụng lao động;

b) T ổng số lao động; số lao động cho thôi việc;

c) Lý do cho ng ười lao động thôi việc; thời điểm người lao động thôi việc;

d) Kinh phí d ự kiến chi trả trợ cấp mất việc làm.”

Sau thời hạn 30 ngày, người sử dụng lao động được quyền chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, tuy nhiên, để đảm bảo chấm dứt đúng pháp luật, người sử dụng lao động cần thanh toán cho người lao động trợ cấp mất việc làm cũng như làm các thủ tục chốt sổ bảo hiểm cho người lao động,…

12 Điều 46 Bộ luật lao động 2012

Trang 35

 Trình tự, thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động trong trường

hợp sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, hợp tác xã; chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp:

Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác

xã thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục sử dụng

số lao động hiện có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động Như vậy, về mặt thủ tục, khác với trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do thay đổi cơ cấu công nghệ, hoặc vì lý do kinh tế, người sử dụng lao động có thể ngay lập tức xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, trước tiên người sử dụng có nghĩa vụ tiếp tục sử dụng số lao động hiện có, đồng thời phải tiến hành sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động cho phù hợp với tình hình mới của doanh nghiệp Sau đó, nếu không sử dụng hết số lao động hiện có, thì người

sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật lao động

Trong trường hợp chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, thì người sử dụng lao động trước đó phải lập phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật lao động

Sau khi xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động mà người

sử dụng lao động vẫn phải cho người lao động thôi việc, thì người sử dụng lao động phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động Căn cứ và mức tính trợ cấp mất việc tương tự như trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

do thay đổi cơ cấu, công nghệ, hoặc vì lý do kinh tế

Về trình tự, thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế: Nhìn chung, các căn cứ và thủ tục để người sử dụng lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động một cách hợp pháp đã được Bộ luật lao động quy định khá đầy đủ và rõ ràng cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho người sử

Ngày đăng: 22/03/2018, 19:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w