Nhằm giúp cho người dân và các doanh nghiệp được biết về những quy định mới của Luật trọng tài thương mại và có thể áp dụng hiệu quả chúng vào giải quyết tranh chấp cho mình, đặc biệt vi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
TRON VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ : 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN TRIỀU DƯƠNG
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Lu ận văn là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng
d ẫn khoa học của TS Nguyễn Triều Dương Các số liệu, quan điểm tham khảo được trình bay trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và được trình bày rõ
ràng K ết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác
Tác gi ả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn./
Tác giả
Nguyễn Xuân Trường
LỜI CẢM ƠN
Trang 4Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại Viện Đại học Mở Hà Nội, đến nay tôi đã hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp Để có được kết quả đó, trước hết tôi
vô cùng cám ơn TS Nguyễn Triều Dương, là người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình lựa chọn đề tài, xác định hướng nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo của Khoa đào tại sau đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện để tôi có nhiều thuận lợi trong học tập và thực hiện luận văn này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn quý cơ quan, các đồng nghiệp, các thành viên trong đại gia đình, bạn bè đã động viên ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp
đỡ tôi tập trung nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Luận văn là công trình nghiên cứu nghiêm túc, khoa học của bản thân, nhưng do khả năng còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô, độc giả quan tâm đến vần đề này để luậnvăn của tôi hoàn thiện hơn nữa
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5LỜI CẢM ƠN ……… ii
MỤC LỤC……… ……… iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ……… ……….……… vi
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU ……… ………… vii
PHẦN MỞ ĐẦU ……… 01
1 Lý do chọn đề tài ……… 01
2 Mục đích nghiên cứu ……… ……… 02
3 Phạm vi nghiên cứu ………….……… 02
4 Phương pháp nghiên cứu ……… 02
5 Cơ cấu luận văn ……… 03
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ……… 04
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của BPKCTT trong tố tụng trọng tài ……… 04
1.1.1 Khái quát về tố tụng trọng tài thương mại ……… 04
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của BPKCTT trong tố tụng trọng tài ………… 07
1.1.3 Ý nghĩa của việc áp dụng BPKCTT trong tố tụng trọng tài ……… 12
1.2 Cơ sở ghi nhận về BPKCTT trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ……… 14
1.2.1 Cơ sở lý luận 14
1.2.2 Cơ sở thực tiễn ……… 15
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại trong hệ thống pháp luật Việt Nam ……… 19
Kết luận chương 1 ……… 26
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI ……… 27
2.1 Quyền yêu cầu, trách nhiệm các bên yêu cầu áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại ……… 27
2.1.1 Quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT ……… 27
2.1.2 Trách nhiệm của các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời …… 29
2.2 Thời điểm yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ……… 30
2.3 Các BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại ……… 31
2.4 Thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ……… 41
2.5 Trình tự, thủ tục áp dụng BPKCTT ……… 44
2.6 Thẩm quyền, thủ tục thay đổi, bổ sung, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời 47 2.7 Hiệu lực của quyết định về BPKCTT ……… 47
2.8 Thi hành quyết định BPKCTT của trọng tài thương mại 48
2.9 Trách nhiệm do áp dụng BPKCTT không đúng ……… 51
2.9.1 Trách nhiệm của chủ thể đưa ra yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng …… 52
2.9.2 Trách nhiệm của chủ thể ra quyết định áp dụng BPKCTT không đúng 53
2.10 Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về BPKCTT ……… 56
Kết luận Chương 2 ……… 58
Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ……… 59
Trang 63.1 Thực tiễn áp dụng BPKCTT trong tố tụng trọng tài ……… 59
3.2 Kiến nghị hoàn thiện luật về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp bằng tố tụng trọng tài ……… 61
Kết luận chương 3 ……… 78
KẾT LUẬN ……… 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 81
BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
LTTTM2010 Luật Trọng tài thương mại năm 2010
TTDS Tố tụng dân sự
HĐTT Hội đồng trọng tài
BLTTDS Bộ Luật tố tụng dân sự
BPKCTT Biện pháp khẩn cấp tạm thời
LTHA Luật thi hành án
PLTTTM Pháp lệnh trọng tài thương mại
TTTM Trọng tài thương mại
PLTTGQVADS Pháp lệnh giải quyết các vụ án dân sự
PLTTGQVAKT Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Trang 8Nội dung Trang
Bảng
1.1
Tỷ lệ các vụ án kinh doanh thương mại được áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời trên tổng số các vụ việc được Tòa án
giải quyết từ năm 2012 đến năm 2015
60
Biểu đồ
2.1
Tỷ lệ kinh doanh thương mại có áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời được thụ lý qua các năm 61
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 9
1 Lý do chọn đề tài
Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội và pháp luật Sự chuyển hướng của nền kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khiến cho các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp, cần được giải quyết theo các phương thức mới phù hợp Sự ra đời của tố tụng trọng tài là một tất yếu trong việc
đa dạng hóa các cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại
Dù vậy trọng tài trước nay ở nước ta vẫn chưa thật sự phổ biến Luật Trọng tài thương mại 2010 ra đời là sự phù hợp cả yêu cầu của xã hội và chính sách đường lối của nước ta, trên sự kế thừa những quy định đã có của pháp lệnh trọng tài kết hợp với thực tế phát triển của xã hội, tăng hiệu quả hoạt động của trọng tài thương mại trong việc giải quyết các tranh chấp, góp phần làm giảm tải hoạt động xét xử của tòa án
Luật trọng tài thương mại 2010 quy định rất nhiều điểm mới và tiến bộ hơn
so với pháp lệnh trọng tài Và những điểm mới rõ nét nhất là thể hiện mối quan hệ giữa trọng tài và tòa án trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp trong các lĩnh vực kinh doanh, thương mại Luật trọng tài thương mại đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ pháp lý quan trọng này: xác định rõ tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài và liệt kê nội dung thẩm quyền của tòa án trong quan hệ với trọng tài, trong đó việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài là một trong những điểm rõ rệt nhất của Luật trọng tài thương mại 2010
Nhằm giúp cho người dân và các doanh nghiệp được biết về những quy định mới của Luật trọng tài thương mại và có thể áp dụng hiệu quả chúng vào giải quyết tranh chấp cho mình, đặc biệt việc làm rõ bản chất pháp lý, trình tự thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài là vấn đề hết sức cần thiết
Do đó, học viên đã chọn đề tài: “Pháp luật về các biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong vi ệc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại” để làm luận văn tốt
nghiệp của mình với mong muốn góp phần bảo đảm phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đạt hiệu quả tốt nhất
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài; phân tích, luận giải để tìm hiểu những điểm mới về trình tự thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài theo quy định của Luật trọng tài thương mại 2010, chỉ ra một số điểm tích cực và những hạn chế còn tồn tại của Luật trọng tài thương mại 2010; phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về BPKCTT và nâng cao hiệu quả áp dụng BPKCTT trong tố tụng trọng tài trên thực tế
3 Phạm vi nghiên cứu
Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài theo quy định Luật Trọng tài thương mại 2010 là một vấn đề mới và chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ đề cập đến một số vấn đề lý luận về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài; một số khía cạnh pháp lý và thực tiễn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài theo quy định của Luật trọng tài thương mại 2010 và có liên hệ với quy định của một số quy định trước đây; quy định hiện hành có liên quan như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế 1994 , Pháp lệnh về trọng tài thương mại 2003, Luật thương mại 2005, Luật thi hành án 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; BLTTDS năm 2015; Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước 2011
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Trong quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải
5 Cơ cấu luận văn
Trang 11Luận văn được kết cấu thành 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Trong đó, phần nội dung của luân văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại và một số kiến nghị
Trang 12Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của BPKCTT trong tố tụng trọng tài
1.1.1 Khái quát về tố tụng trọng tài thương mại
Tố tụng trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên thỏa thuận đưa những tranh chấp ra trước một trọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài để giải quyết và trong tài sau khi xem xét vụ việc sẽ đưa ra một phán quyết ràng buộc các bên tranh chấp Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là hình thức giải quyết thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng cách đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện
So với các phương phức giải quyết khác, tố tụng trọng tài có các đặc điểm sau:
- Trọng tài thương mại là loại hình tổ chức phi chính phủ, hoạt động theo pháp luật và điều lệ trọng tài Trọng tài có quyền phán quyết như tòa án, quyết định của trọng tài được bảo đảm cưỡng chế thi hành
- Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán Thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể phán quyết thoát ly những yếu tố đã thỏa thuận, có thể nói về nguyên tắc thẩm quyền của trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật
- Hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp cao Phiên họp giải quyết tranh chấp không diễn ra công khai
- Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực thi hành đối với các bên Nếu một trong các bên không thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phán quyết trọng tài
Trang 13- Được sự hỗ trợ của tòa án
Xuất phát từ các đặc điểm nêu trên nên so với các phương thức giải quyết khác, tố tụng trọng tài có những ưu điểm sau đây:
- Việc giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài thương mại có ưu điểm nổi bật so với tòa án ở chỗ nhanh gọn, kín đáo và phán quyết của trọng tài là có giá trị chung thẩm, tức có hiệu lực cuối cùng Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án hay kháng cáo Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét xử Khi tuyên phán quyết xong, Hội đồng trọng tài hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại
- Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật: Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín, nếu các bên không quy định khác Tính bí mật thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh
- Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục: Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên Cách thức lựa chọn trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình tố tụng Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng trọng tài xét xử vụ kiện đã được các bên lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện đó Trọng tài viên - người chủ trì phân xử tranh chấp theo suốt vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy, họ có cơ hội tìm hiểu tình tiết vụ việc Điều này có lợi ngay cả khi các bên muốn hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận
- Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng, linh hoạt cho các bên Với trọng tài, các bên thông thường được tự do lựa chọn thủ tục, thời gian, địa điểm phương thức giải quyết tranh chấp theo phương thức tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép Điều này có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp
Trang 14- Tiết kiệm thời gian, công sức: Tính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi các bên không thể lãng phí thời gian, điều mà các tòa án sẽ rất khó đáp ứng được do luôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khả năng ách tắc hồ sơ Giải quyết tranh chấp bằng tòa án cho phép các bên được quyền kháng án cũng làm cho tiến độ bị kéo dài Trong thực tế, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, ví dụ như giải quyết tranh chấp bằng VIAC thường kéo dài tối đa là 6 tháng, còn tại tòa án có thể kéo dài hàng năm trời
- Duy trì được quan hệ đối tác: Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà khí lâu dài giữa các bên tranh chấp Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối tác Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹ nhàng
- Trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các chuyên gia: Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên ngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ … Tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Toà án
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của BPKCTT trong tố tụng trọng tài
* Khái niệm về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại tòa án cũng như tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án hay tại Trọng tài thương mại thì việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự luôn được đặt lên hàng đầu Ðể thực thi điều này, cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp phải đảm bảo cho việc giải quyết
vụ tranh chấp được diễn ra khách quan và quá trình thi hành bản án hoặc phán quyết (gọi chung là thi hành án) phải được bảo đảm theo đúng pháp luật Tuy nhiên, quá trình từ khi khởi kiện đến khi thụ lý, giải quyết, đưa ra bản án (hoặc phán quyết) và thi hành án chiếm một khoản thời gian khá dài Ðặc biệt, là đối với những tranh chấp thương mại phức tạp và có giá trị tài sản lớn thì thời gian này trên thực tế còn
Trang 15có thể kéo dài hơn thời gian giải quyết các tranh chấp thông thường Trên thực tế,
để giải quyết được một vụ tranh chấp thương mại cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp không thể đưa ra kết luận vội vàng mà phải trải qua một trình tự, thủ tục theo luật định Trong khoản thời gian ấy, cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp cần phải nhận định, đánh giá chứng cứ, lắng nghe lời trình bày, tranh luận của các bên mới
có thể đưa ra một bản án (hoặc phán quyết) khách quan, đúng đắn Vì thời gian để giải quyết một vụ tranh chấp thương mại là quá dài nên có thể dẫn đến chứng cứ bị hủy hoại, tài sản bị tẩu tán, quyền và lợi ích của đương sự không được đảm bảo làm ảnh hướng nghiêm trọng đến giải quyết tranh chấp và quá trình thi hành án
Do có xung đột lợi ích giữa các đương sự nên có thể đương sự thực hiện các hành vi tiêu cực như hủy hoại chứng cứ, tẩu tán tài sản, nhằm gây ra những khó khăn nhất định cho bên còn lại và cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp, thi hành
án Do đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp phải đưa ra các biện pháp ngăn chặn kịp thời các hành vi tiêu cực này nhằm bảo đảm cho
vụ tranh chấp được giải quyết một cách khách quan, bảo vệ quyền lợi của đương sự, đảm bảo cho thi hành án Biện pháp này được gọi là biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT)
Trong tố tụng dân sự (TTDS) xét một cách tổng thể có thể thấy: “Biện pháp
kh ẩn cấp tạm thời là biện pháp tòa án quyết định áp dụng trước khi thụ lý hoặc
trong quá trình gi ải quyết vụ việc dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không thể khắc
ph ục được và đảm bảo cho việc thi hành án” 1 Tuy nhiên, nếu nhìn ở khía cạnh áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại thì có thể thấy rằng, ngoài tòa án, trọng tài thương mại cũng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại nên Hội đồng trọng tài cũng có quyền áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại theo quy định của LTTTM 2010 Vì vậy, trên cơ sở khái niệm về BPKCTT trong tố tụng dân sự, chúng ta có thể rút ra khái niệm BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại như sau:
Bi ện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp thương mại là
bi ện pháp do Thẩm phán, Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng trước khi thụ lý
ho ặc trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu cấp
1 Tưởng Duy Lượng , Pháp luật TTDS và thực tiễn xét xẻ, Nxb Chính trị quốc gia năm 2009, tr225
Trang 16bách c ủa các đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không
th ể khắc phục được và đảm bảo cho thi hành án
Về tính chất, có thể xem BPKCTT là một biện pháp mang tính chất tình thế, tạm thời giúp cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp có thể can thiệp một cách kịp thời vào vụ tranh chấp, giúp quá trình giải quyết vụ tranh chấp được diễn ra khách quan, thông qua đó bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, bảo toàn tài sản thi hành
án
Tuy nhiên, nếu xét về khía cạnh thủ tục tố tụng có thể hiểu BPKCTT chỉ là một công đoạn tố tụng rút ngắn, giản đơn nhằm giúp cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp can thiệp kịp thời và nhanh chóng vào những tranh chấp Quy trình áp dụng BPKCTT chỉ là một phần phụ phái sinh, có tính chất bổ trợ cho một thủ tục tố tụng chính sẽ và đang được cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp thụ lý, giải quyết
Vì vậy, việc áp dụng hay không áp dụng BPKCTT không làm ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp thương mại.2
* Đặc điểm các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài
BPKCTT chỉ là một trong những biện pháp có thể được áp dụng trong quá trình tố tụng nhằm đảm bảo cho quá trình giải quyết tranh chấp thương mại được diễn ra khách quan và không gặp trở ngại Do đó, để phân biệt giữa BPKCTT với các biện pháp khác trong tố tụng trọng tài chúng ta phải dựa vào những đặc điểm đặc trưng riêng biệt để nhận biết Ðó là tính khẩn cấp và tính tạm thời
- Tính khẩn cấp
BPKCTT dù nhìn ở bất kỳ góc độ nào thì cũng có đặc điểm cơ bản nhất đó
là tính khẩn cấp Tính khẩn cấp của BPKCTT được thể hiện ở những phương diện sau:
+ Th ứ nhất, BPKCTT chỉ được áp dụng khi vụ tranh chấp kinh doanh,
th ương mại đang có sự khẩn cấp
2 PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài, tạp chí Nghiên cứu pháp
lu ật, số 23/2010
Trang 17Can thiệp nhanh chóng, xử lý nhanh và hiệu quả tức thì là những ưu điểm
mà BPKCTT mang lại đối với những vụ tranh chấp thương mại đặt ra những yêu cầu cấp bách Như một giải pháp tình thế tạm thời, BPKCTT được cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại sử dụng để đáp ứng yêu cầu cấp thiết của việc giải quyết, bảo vệ ngay tức thời những chứng cứ có thể bị hủy hoại, tài sản
và quyền lợi của các bên tranh chấp Chính vì thế mà không phải lúc nào cơ quan,
tổ chức giải quyết tranh chấp cũng có thể áp dụng BPKCTT một cách tùy tiện, mà
nó chỉ được áp dụng khi và chỉ khi vụ tranh chấp đang có tính khẩn cấp Một khi sự khẩn cấp không còn thì BPKCTT sẽ bị hủy bỏ
Một vụ tranh chấp được xem là có sự khẩn cấp khi vụ tranh chấp đã thụ lý hoặc đang giải quyết phát sinh những sự kiện pháp lý cấp bách đòi hỏi cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp phải can thiệp ngay lập tức, nếu không quyền và lợi ích của các bên tranh chấp không được đảm bảo, chứng cứ bị đe dọa dẫn đến quá trình giải quyết vụ tranh chấp gặp trở ngại Thế nhưng, để đánh giá một sự kiện pháp lý như thế nào để vụ án được xem là cấp bách thì pháp luật vẫn chưa có bất kì ghi nhận nào cụ thể Vì thế việc đánh giá sự khẩn cấp chỉ dựa vào yếu tố chủ quan của chủ thể phát sinh nhu cầu áp dụng BPKCTT Chẳng hạn, trong vụ tranh chấp về thanh toán tiền hàng giữa hai công ty X và Y Với ý định tẩu tán số hàng đã mua công ty X đã rao bán số hàng này Trong trường hợp này rõ ràng tài sản tranh chấp đang có nguy cơ bị tẩu tán, vụ tranh chấp đang khẩn cấp nhưng vì luật chưa ghi nhận sự việc như thế nào được gọi là khẩn cấp nên nếu nhận thấy sự cấp bách cần ngăn chặn ngay hành vi của công ty X thì công ty Y có thể gửi đơn yêu cầu được áp dụng BPKCTT Tóm lại, dù nhìn nhận ở khía cạnh nào thì BPKCTT cũng chỉ được
áp dụng khi vụ án có sự khẩn cấp
+ Th ứ hai, thời hạn ra quyết định áp dụng BPKCTT rất nhanh chóng
Cần khẳng định lại rằng BPKCTT chỉ là một phần phụ, một thủ tục phái sinh trong một trình tự thủ tục tố tụng chung giải quyết tranh chấp Cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp ra quyết định áp dụng BPKCTT trên cơ sở vụ tranh chấp đang có sự khẩn cấp Vì thế, thủ tục áp dụng BPKCTT không thể nào giống như thủ tục giải quyết vụ tranh chấp theo tố tụng trọng tài được, bởi sẽ tốn rất nhiều thời gian làm mất đi tác dụng của BPKCTT Do đó, việc ra quyết định áp dụng BPKCTT phải được thực hiện trong một thủ tục nhanh chóng và gấp rút, nếu không
Trang 18việc áp dụng BPKCTT sẽ không còn ý nghĩa trên thực tế Mặc dù vậy, cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp cũng không thể quá rấp rút, lơ là trong việc cho áp dụng BPKCTT Một khi BPKCTT được áp dụng nó sẽ có tác dụng ngay tức khắc, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên nên phải hết sức cân nhắc, không thể áp dụng BPKCTT chỉ trên cơ sở đơn yêu cầu của các bên tranh chấp mà phải trải qua sự xem xét kỹ lưỡng Ðó là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp đóng vai trò là “trọng tài” cần phải bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tranh chấp nhưng cần lưu ý thời gian quyết định BPKCTT cũng không nên quá lâu
+ Th ứ ba, BPKCTT được thi hành rất nhanh
Một vụ tranh chấp thương mại được xem là đã giải quyết xong không chỉ dừng lại ở bản án (hoặc phán quyết) mà cần phải thực hiện xong quá trình thi hành án.Khi đó, quyền lợi của đương sự mới xem là được đảm bảo Nếu thi hành án
không được thì việc giải quyết vụ tranh chấp chỉ dừng lại trên “giấy” Ðối với
BPKCTT cũng vậy, khi có nhu cầu cấp bách thì đương sự mới yêu cầu áp dụng hoặc cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp nhận thấy vụ tranh chấp có sự cấp bách nên cho áp dụng BPKCTT để bảo vệ ngay quyền lợi của các bên tranh chấp Nếu việc thi hành án không được hay chậm trễ thì mặc nhiên việc áp dụng BPKCTT sẽ
trở nên vô nghĩa, trái lại còn có thể gây “tác dụng phụ” Có thể thấy, BPKCTTT
được áp dụng khi khẩn cấp thì việc thi hành án cũng phải được đảm bảo và nhanh chóng Việc đảm bảo phải được thực hiện bằng việc cưỡng chế nhà nước nếu bên chấp hành BPKCTT không thực hiện có như thế BPKCTT mới phát huy tối đa tính khẩn cấp của nó
Trang 19muốn bán căn nhà thì công ty bất động sản A đã yêu cầu được áp dụng BPKCTT để cấm chuyển dịch quyền về phía căn nhà Lúc này, việc yêu cầu áp dụng BPKCTT của A là hoàn toàn có căn cứ, tuy nhiên ngay sau đó B đã dùng số tiền tương đương với nghĩa vụ để cam kết thực hiện nghĩa vụ khi thua kiện Như vậy, thời điểm hiện tại sự khẩn cấp đã không còn vì khả năng thi hành án đã được đảm bảo Mặt khác của tính tạm thời là những quyết định về BPKCTT chỉ là thủ tục tố tụng rút ngắn tạm thời mang tính chất bổ trợ cho thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp kinh thương mại đang diễn ra nên việc cho hay không cho áp dụng BPKCTT sẽ không ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của quá trình giải quyết tranh chấp
Như vậy, có thể khẳng định tính khẩn cấp và tính tạm thời là hai đặc điểm quan trọng để phân biệt BPKCTT với các biện pháp khác của quá giải quyết các tranh chấp thương mại
1.1.3 Ý nghĩa của việc áp dụng BPKCTT trong tố tụng trọng tài
Bảo vệ quyền và lợi ích của hợp pháp của đương sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và tố tụng trọng tài Trên thực tế, vì xung đột
về lợi ích nên có những trường hợp đương sự thực hiện việc tẩu tán tài sản, hủy bỏ chứng cứ,nhằm gây khó khăn cho bên còn lại trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ và tạo ra các trở ngại cho cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp Ðặc biệt, đối với các tranh chấp thương mại phức tạp, có giá trị tài sản lớn thì những hành vi này rất dễ xảy ra, nhanh hơn và tinh vi hơn Vì thế, việc áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại nhằm mục đích giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản tranh chấp, bảo vệ chứng cứ Từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và đảm bảo thi hành án Không chỉ thế, BPKCTT còn mang nhiều ý nghĩa đối với việc giải quyết tranh chấp thương mại như:
- Th ứ nhất, giúp cho việc giải quyết vụ tranh chấp được chính xác, chống
l ại các hành vi gây trở ngại trong quá trình giải quyết
Ðiều này khẳng định tầm quan trọng của BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại Nếu không có quy định về BPKCTT thì trong những trương hợp cấp bách như chứng cứ bị “đe dọa”, đương sự đang có hành vi tiêu cực làm ảnh
Trang 20hưởng đến tính chất đúng đắn của vụ tranh chấp thì cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp sẽ rơi vào tình thế bị động vì không có biện pháp để can thiệp kịp thời và hữu hiệu Khi đó tính chất vụ tranh chấp sẽ bị thay đổi, dẫn đến việc giải quyết không đúng với tính chất ban đầu của nó và như thế mục đích của hoạt động tố tụng thương mại xem như chưa đạt được
- Th ứ hai, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
c ũng như những người phụ thuộc vào họ sớm ổn định cuộc sống
Khi nhận thấy vụ tranh chấp có sự cấp bách thì đương sự có thể yêu cầu áp dụng BPKCTT để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ðây là ý nghĩa to lớn
mà BPKCTT mang lại Nó không chỉ cho phép cá nhân, tổ chức có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn giúp bảo toàn tài sản để thi hành án Ðiều này giúp cho tổ chức sớm ổn định hoạt động, giúp cá nhân và gia đình họ sớm
ổn định cuộc sống Tránh trường hợp có bản án (hoặc phán quyết) nhưng không thể thi hành án vì tài sản bị tẩu tán, khi ấy đương sự rõi vào tình trạng khó khăn khi quyền lợi vẫn chưa thể được đảm bảo
Ví dụ: Công ty A và công ty B tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán tiền cho
một hợp đồng lô hàng có giá trị lớn Việc công ty A không thanh toán tiền hàng đã làm cho công ty B gặp rất nhiều khó khăn có thể dẫn đến nguy cơ vỡ nợ Về phía công ty A họ đã bán hết lô hàng chuyển vào tài khoản của công ty và đang có dấu hiệu rút hết tiền để thực hiện hợp đồng khác Trong trường hợp này nếu công ty B không kịp thời yêu cầu áp dụng BPKCTT thì dù thắng kiện công ty B cũng khó thu hồi nợ và có thể dẫn đến vỡ nợ Tuy nhiên, nếu áp dụng BPKCTT phong tỏa tài khoản của công ty A kịp thời thì khả năng thu hồi nợ của công ty B sẽ được đảm bảo, giúp công ty B tránh được nguy cơ vỡ nợ và sớm ổn định hoạt động
- Th ứ ba, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật từ sự áp dụng linh hoạt
BPKCTT
BPKCTT chỉ áp dụng khi vụ án đang có sự khẩn cấp Khi có những nhu cầu cấp bách thì đương sự mới có thể yêu cầu áp dụng BPKCTT Ðiều này tránh sự tùy tiện trong việc áp dụng BPKCTT Mặt khác, Nếu BPKCTT đã được áp dụng mà sau một thời gian sự khẩn cấp ấy đã không còn thì cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp cũng sẽ hủy bỏ việc áp dụng BPKCTT Sự linh hoạt này giúp hạn chế tối đa tình trạng đương sự lạm dụng BPKCTT để gây khó khăn, trở ngại cho bên còn lại,
Trang 21ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Từ đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của công dân
1.2 Cơ sở ghi nhận về BPKCTT trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
1.2.1 Cơ sở lý luận
Cùng với sự hình thành và phát triển của các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thì các tranh chấp, vi phạm về các quan
hệ này xảy ra là một tất yếu và có xu hướng ngày càng gia tăng Tuy nhiên, sau sự
vi phạm, tranh chấp đó là tình trạng thờ ơ trước tình trạng cấp bách của người khác hoặc tâm lý trốn tránh việc khắc phục thiệt hại, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ
đã đòi hỏi sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp nhằm mục đích ngăn chặn các hành vi đó Biện pháp khẩn cấp tạm thời là một trong số các biện pháp được áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại để bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích của đương sự trong trường hợp chứng cứ bị đe dọa, tài sản tranh chấp có nguy cơ bị tẩu tán Người viết đã tập trung phân tích các vấn đề lý luận chung về BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại như đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại trong mục 1.1 Qua đó, giúp người đọc hiểu rõ hơn về những đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại
Một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài để tạo sự khác biệt với giải quyết tranh chấp này tại tòa
án là việc giải quyết bằng trọng tài phải bảo đảm sự chủ động và tính tự giác của các bên tranh chấp nên trong một số trường hợp bên có nghĩa vụ có cơ hội để lợi dụng sự chủ động này để tẩu tán hay hủy hoại nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ là điều tất yếu Vì vậy, việc áp dụng BPKCTT trong tố tụng trọng tài còn cấp thiết hơn trong tố tụng dân sự
Mặt khác, việc giải quyết vụ việc thương mại chỉ có ý nghĩa khi các phán quyết của Trọng tài được thi hành trên thực tế BPKCTT ra đời chính là để đảm bảo khả năng phán quyết của Trọng tài được thực thi có hiệu quả nhất Để ngăn chặn hành vi hủy hoại bằng chứng, tẩu tán tài sản khi có đơn yêu cầu hoặc trong một số trường hợp đặc biệt HĐTT tự mình áp dụng BPKCTT nhằm ngăn chặn kịp thời
Trang 22những hành vi đó, tạo điều kiện cho việc điều tra, xét xử để HĐTT đưa ra được phán quyết cuối cùng và thi hành trên thực tế.
Các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Trọng tài đã là một bước tiến mới phản ánh một nền tố tụng dân chủ, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại nói chung và trong việc giải quyết tranh chấp dân sự nói riêng là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ
Theo quy định của Luật trọng tài thương mại thì các bên trong vụ tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài hoặc tòa án có thẩm quyền áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Luật trọng tài thương mại hoặc các BPKCTT khác theo quy định của pháp luật nếu hai bên không có thỏa thuận nào khác; Bên yêu cầu áp dụng BPKCTT có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài hoặc tòa án nơi BPKCTT được áp dụng xem xét và ra quyết định áp dụng BPKCTT Việc yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài hoặc khước từ quyền giải quyết tranh chấp trọng tài
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
- Th ứ nhất, việc giải quyết vụ việc trong kinh doanh, thương mại là nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Cũng như các quy định khác, quy định về BPKCTT ra đời nhằm bảo vệ cho các đương sự khi quyền và lợi ích của họ
bị xâm hại Như đã phân tích ở trên, BPKCTT áp dụng đúng lúc sẽ kịp thời ngăn chặn được những hành vi vi phạm pháp luật của một số người có các hành vi vi phạm, qua đó bảo toàn được chứng cứ, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự
- Th ứ hai, thực tiễn xét xử và thi hành án cho thấy rất nhiều trường hợp nếu
không áp dụng BPKCTT thì khó có thể giải quyết được vụ việc dân sự cũng như đảm bảo cho việc thi hành án Bởi lẽ, trong một số trường hợp do sự chậm chế có các biện pháp can thiệp mà tài sản bị tẩu tán, chứng cứ bị hủy hoại, gây ra rất nhiều khó khăn cho công việc điều tra xét xử và công tác thi hành án cũng gặp rất nhiều khó khăn
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển Đó là một
Trang 23trong những phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, theo đó các bên chọn một chủ thể không phải là tòa án giúp mình giải quyết tranh chấp đã phát sinh Thương mại là một lĩnh vực đặc thù, các tranh chấp không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên trong tranh chấp mà còn có thể ảnh hưởng đến người khác, do đó đòi hỏi việc giải quyết các tranh chấp này theo phương thức nào là hợp
lý và thuận lợi cho tất cả là vấn đề cần nhất Việc đưa vụ án ra tòa án xét xử là trường hợp bất khả kháng nhất thường chỉ là giải pháp cuối cùng được chọn lựa, không ai muốn đưa nhau ra tòa, vừa tốn thời gian, vừa rắc rối kéo dài, đồng thời làm mất đi quan hệ giao thương không còn gắn kết như lúc đầu Do đó, Trọng tài là một phương thức tối ưu và thiết thực trong việc này Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại có ưu thế hơn so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác bởi tố tụng trọng tài được đánh giá là linh hoạt, bảo đảm tốt hơn quyền định đoạt của các bên, cơ chế này đảm bảo bí mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp cho các thương nhân có liên quan tới vụ tranh chấp Tố tụng trọng tài có thủ tục đơn giản, đảm bảo giải quyết nhanh chóng các tranh chấp, tiết kiệm thời gian và tiền bạc Với rất nhiều
ưu thế so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác như vậy nhưng cũng giống như phương thức giải quyết tranh chấp tại tòa án mục đích cuối cùng của tố
tụng trọng tài là “xác định sự thật khách quan về vụ tranh chấp”.Vì vậy, như khi
tham gia tố tụng tại tòa án, khi tham gia tố tụng trọng tài, các chủ thể tham gia tố tụng có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, nếu như tố tụng tòa án, thủ tục
tố tụng đã được pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng thì tố tụng trọng tài, các bên có quyền chủ động trong việc xây dựng, lựa chọn thủ tục tố tụng Khi các bên chọn trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp thì việc tuân theo các quy tắc của thủ tục tố tụng trọng tài do mình đã chọn lựa là yêu cầu bắt buộc Trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, nếu các bên thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc trực tiếp bị xâm phạm thì có quyền yêu cầu chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng một hoặc một số BPKCTT Trong tố tụng trọng tài hiện nay, theo quy định của luật có hai chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng các BPKCTT là Hội đồng trọng tài và tòa án Các bên đương sự có thể yêu cầu một trong hai nơi trên ra quyết định áp dụng các BPKCTT nhằm giải quyết các yêu cầu cấp bách, bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm việc thi hành án Quy định này của
Trang 24Luật là sự tiếp thu quy định của Luật mẫu UNCITRAL được thông qua năm 2006 nhằm giúp cho tố tụng trọng tài vận hành có hiệu quả hơn
Các quy định về việc áp dụng BPKCTT trong tố trọng tài được quy định trong luật Trọng tài thương mại 2010 (LTTTM 2010), từ Điều 48 đến Điều 53 LTTTM, về bản chất các quy định này là luật riêng so với quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Trong tố tụng trọng tài khi giải quyết các tranh chấp
sẽ áp dụng trước tiên các quy định của LTTTM 2010, nếu các quy định đó thiếu hoặc chưa rõ ràng cụ thể thì cần áp dụng các nguyên tắc chung về BPKCTT trong tố tụng dân sự Trong tố tụng dân sự nói chung, tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm quyền ra quyết định áp dụng các BPKCTT, còn trong tố tụng trọng tài có thêm một chủ thể khác bên cạnh tòa án là Hội đồng trọng tài cũng có thẩm quyền ra các quyết định này
Khi các tranh chấp phát sinh, các bên chọn tố tụng trọng tài làm con đường giải quyết tranh chấp thì khi yêu cầu áp dụng BPKCTT có thể chọn một trong hai nơi trên để gửi yêu cầu
Các BPKCTT trong tố tụng trọng tài được quy định cụ thể ở khoản 2 Điều
49 của Luật TTTM 2010 gồm: “Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;
C ấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tố tụng trọng
tài; Kê biên tài s ản đang tranh chấp; Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt
b ất kỳ tài sản của một bên hoặc các bên tranh chấp; Yêu cầu tạm thời về việc trả
ti ền giữa các bên; Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh
ch ấp”
Các BPKCTT này cũng có nội dung tương tự như đã giải thích ở tố tụng dân sự nói chung Sự ra đời của LTTTM 2010 nâng thêm một bước, tư cách của Hội đồng trọng tài Việc áp dụng BPKCTT như tòa án đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng BPKCTT của Hội đồng trọng tài nhằm bảo đảm cho mục đích nhu cầu cấp bách của đương sự, không còn phụ thuộc nhiều vào tòa án trong việc áp dụng các BPKCTT và đề cao tố tụng trọng tài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, giảm tải cho công việc xét xử của tòa án, tiết kiệm được thời gian để giải quyết những công việc quan trọng và cấp bách
Trang 25Theo quy định của pháp luật hiện hành, đa phần các tranh chấp được giải quyết bằng tố tụng trọng tài làm con đường giải quyết đều là tranh chấp trong lĩnh vực thương mại hoặc ít nhất một bên hoạt động trong lĩnh vực thương mại Tranh chấp trong lĩnh vực hoạt động thương mại là tranh chấp lợi ích tư, vì vậy, cho phép các bên có quyền chấp nhận những thiệt hại người khác gây ra cho mình Do đó, việc áp dụng các BPKCTT tuy giải quyết được nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo đảm được việc giải quyết vụ án và thi hành án nhưng có thể dẫn đến thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba Do vậy, pháp luật quy định buộc người yêu cầu
áp dụng BPKCTT phải thực hiện biện pháp bảo đảm, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng và người thứ ba đồng thời cũng tránh được việc lạm dụng của việc yêu cầu áp dụng BPKCTT Đây là điểm khác trong việc áp dụng BPKCTT giữa tố tụng tòa án và tố tụng trọng tài Trong tố tụng tòa án, chỉ có vài BPKCTT nhất định mới cần phải thực hiện biện pháp bảo đảm, còn trong tố tụng trọng tài bắt buộc áp dụng biện pháp bảo đảm cho tất cả các BPKCTT
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại trong hệ thống pháp luật Việt Nam
1.3.1 Từ ngày 01/01/1990 đến ngày 01/7/2003
Ngày 01/01/1990 Pháp lệnh giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQVADS) bắt đầu có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật TTDS ở Việt Nam Đây cũng được xem là văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận BPKCTT trong giải quyết vụ án Tại pháp lệnh này, BPKCTT được quy định tại chương VIII gồm 2 điều: 41 và 42
Theo đó, để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự hoặc để bảo
vệ chứng cứ thì tòa án tự mình áp dụng, viện kiểm sát hoặc đương sự có thể yêu cầu
áp dụng các BPKCTT sau đây: “Buộc một bên phải thực hiện việc cấp dưỡng; Giao
ng ười chưa thành niên cho cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức chăm nom; Trả tiền
l ương hoặc tiền công lao động; Kê biên tài sản đang tranh chấp để tránh việc tẩu
tán; C ấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp; Cho thu hoạch và bảo quản sản vật đang tranh chấp; Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện một số hành vi nhất định”
Trang 26Thời điểm để đương sự có thể gửi đơn, Viện kiểm sát gửi văn bản cho tòa
án để yêu cầu áp dụng BPKCTT là trước khi mở phiên tòa Việc tòa án cho áp dụng hay không BPKCTT sẽ dựa trên lời trình bày của người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến biện pháp đang được xem xét Trong trường hợp tòa án nhận thấy vụ án đang có sự khẩn cấp và việc áp dụng BPKCTT là cần thiết thì tòa án có thể tự mình cho áp dụng BPKCTT để can thiệp nhanh chóng và kịp thời Quyết định về BPKCTT sẽ được thi hành ngay Đương sự được quyền khiếu nại, Viện kiểm sát được quyền kiện nghị đến Chánh án của tòa án đang giải quyết và Chánh án phải xem xét, trả lời khiếu nại, kiến nghị trong 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn
Có thể nói, lần đầu tiên BPKCTT được ghi nhận trong một chương riêng của Pháp lệnh đã cho thấy được tầm quan trọng của BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ án Tuy nhiên, vì lần đầu được ghi nhận nên vẫn còn nhiều thiếu soát, hạn chế như không thể thay đổi BPKCTT, không quy định về biện pháp đảm bảo, thời hạn xem xét ra quyết định áp dụng BPKCTT và trách nhiệm bồi thường khi áp dụng không đúng Mặc dù vậy, việc quy định BPKCTT đã phần nào đáp ứng được nhu cầu cấp bách thực tế của đương sự trong việc giải quyết vụ án lúc bấy giờ
Tiếp theo PLTTGQVADS, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQVAKT) có hiệu lực ngày 01/7/1994 tiếp tục ghi nhận về BPKCTT tại
chương VIII từ Điều 41 đến Điều 44 bao gồm các BPKCTT sau đây: “Kê biên tài
s ản đang tranh chấp, phong tỏa tài khoản; Cấm hoặc buộc đương sự, tổ chức, cá
nhân khác th ực hiện một số hành nhất định; Cho thu hoạch và bảo quản sản vật có
liên quan đến tranh chấp; Cho bán sản phẩm, hàng hóa dễ hư hỏng”
Nhìn chung PLTTGQVAKT cũng quy định tương tự như PLTTGQVADS
về chủ thể, thời điểm yêu cầu, cách thức yêu cầu, thời điểm thi hành BPKCTT, khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc áp dụng BPKCTT Tuy nhiên, so với PLTTGQVADS thì PLTTGQVAKT đã có một số điểm mới tích cực đáng ghi nhận
như: (i)Quy định thời hạn xem xét ra quyết định áp dụng BPKCTT của tòa án là 03 ngày; (ii)Có thể thay đổi BPKCTT đã được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án; (iii)Lần đầu tiên trách nhiệm bồi thường của bên yêu cầu, áp dụng BPKCTT
được ghi nhận
Những thay đổi trên đã khắc phục một phần những hạn chế của PLTTGQVADS Việc quy định thời hạn quyết định áp dụng BPKCTT đã tránh tình trạng chậm trễ của tòa án; Sự linh hoạt của BPKCTT đã được thể hiện bằng việc có
Trang 27thể thay đổi, hủy bỏ BPKCTT và trách nhiệm bồi thường được đặt ra để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, tránh tình trạng áp dụng BPKCTT một cách tùy tiện
Tóm lại, trong giai đoạn này BPKCTT bước đầu được ghi nhận trong các văn bản TTDS của nước ta nhưng lại nằm tản mạn ở các văn bản pháp luật về giải quyết các vụ án thuộc các lĩnh vực khác nhau Hầu hết các văn bản này chỉ ghi nhận một cách khái quát chưa thật sự đầy đủ về BPKCTT, từ đó chưa thật sự phát huy hết vai trò, hiệu quả của BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ án
1.3.2 Từ ngày 01/7/2003 đến ngày 01/01/2005
Giai đoạn này đánh dấu bước phát triển mới của BPKCTT khi được quy định áp dụng trong giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại Pháp lệnh về Trọng tài thương mại có hiệu lực ngày 01/7/2003 đã dành 4 điều (từ Điều 33 đến Điều 36) để ghi nhận BPKCTT Theo đó, các bên đương sự không trực tiếp yêu cầu HĐTT áp dụng BPKCTT mà thông qua tòa án cấp tỉnh nơi HĐTT thụ lý tranh chấp
Các BPKCTT được ghi nhận bao gồm: “Bảo toàn chứng cứ trong trường hợp
ch ứng cứ đang bị tiêu hủy hoặc có nguy cơ bị tiêu hủy; Kê biên tài sản tranh chấp;
C ấm chuyển dịch tài sản tranh chấp; Cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp;
Kê biên và niêm phong tài s ản ở nơi gửi giữ; Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng”
Nhìn chung những quy định về BPKCTT cũng tương tự với những Pháp
lệnh ở giai đoạn trước nhưng có một số điểm mới sau đây: (i)Bên yêu cầu áp dụng
BPKCTT phải cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn
cứ (ii)Biện pháp bảo đảm được đặt ra đối với bên yêu cầu áp dụng BPKCTT để
tránh tình trạng lạm dụng BPKCTT gây thiệt hại cho phía đương sự bên kia
(iii)Thời hạn để Thẩm phán được phân công phải xem xét và ra quyết định áp dụng BPKCTT là 05 ngày kể từ ngày nhận được giao
Như vậy, có thể nói trong giai đoạn này BPKCTT đã được quy định khá hoàn chỉnh, là tiền đề để các văn bản pháp luật về Tố tụng trọng tài ở giai đoạn sau hoàn thiện hơn
Trang 28có hiệu lực ngày 01/01/2005 Điều này đã đánh dấu một thành tựu vượt bậc của hoạt động lập pháp ở nước ta nói chung và lĩnh vực TTDS nói riêng Kể từ đây BPKCTT cũng có những thay đổi cho phù hợp hơn với BLTTDS 2004 và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Những quy định về BPKCTT trong các pháp lệnh trước đó đã được tổng hợp lại quy định chung trong chương VIII (từ Điều
99 đến Điều 126) của BLTTDS 2004, khắc phục được tình trạng nằm tản mạn, rải rác ở các Pháp lệnh trước đó Theo đó các BPKCTT bao gồm 12 biện pháp và 1
điều khoản dự phòng: “Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức
trông nom, nuôi d ưỡng, chăm sóc, giáo dục; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa
v ụ cấp dưỡng; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính
m ạng, sức khỏe bị xâm phạm; Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương,
ti ền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho
ng ười lao động; Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao động; Kê
biên tài s ản đang tranh chấp; Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; Cho thu hoạch,
cho bán hoa màu ho ặc sản phẩm hàng hóa khác; Phong tỏa tài khoản tại ngân
hàng, t ổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ;
Phong t ỏa tài sản của người có nghĩa vụ; Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành
vi nh ất định; Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định”
Chủ thể có quyền yêu cầu được mở rộng hơn so với các Pháp lệnh trước đó khi cho phép người đại hiện hợp pháp của đương sự, các cơ quan, tổ chức khởi kiện
vì quyền và lợi ích của người khác được yêu cầu áp dụng BPKCTT Tuy nhiên, lại không quy định Viện kiểm sát có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT Cũng như các Pháp lệnh trước, tòa án cũng có thể tự áp dụng BPKCTT nếu xét thấy cần thiết nhưng chỉ trong một số trường hợp luật định
Thời điểm yêu cầu áp dụng: Trước khi thụ lý vụ án cùng thời điểm nộp đơn khởi kiện hoặc trong quá trình giải quyết vụ án Thay đổi này giúp bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự kịp thời
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do áp dụng không đúng BPKCTT được quy định rõ ràng hơn và bổ sung căn cứ hủy bỏ BPKCTT để tránh tình trạng thực hiện theo cảm tính và việc lợi dụng BPKCTT để gây khó khăn cho đương sự bên kia
Trang 29Trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT được quy định rõ ràng hơn tạo điều kiện cho công dân dễ dàng tiếp cận quy định pháp luật để tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi cần thiết
Có thể nói BLTTDS 2004 là văn bản ghi nhận một cách đầy đủ nhất về BPKCTT trong giải quyết vụ án dân sự nói chung ở nước ta Những điểm mới của BLTTDS 2004 đã phát huy được hiệu quả quan trọng của BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ án
Trong giai đoạn này ngoài sự phát triển của BLTTDS 2004 còn có một văn bản pháp luật tiêu biểu khác quy định về BPKCTT trong giai đoạn này là Luật Trọng tài thương mại 2010 có hiệu lực ngày 01/01/2011 Kế thừa và phát huy những quy định về BPKCTT trong Pháp lệnh TTTM 2003, LTTTM 2010 tiếp tục ghi nhận BPKCTT trong phương thức giải quyết tranh chấp tại TTTM Các BPKCTT có sự thay đổi cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bao gồm các biện pháp sau đây: “Cấm thay đổi hiện đang tài sản đang tranh chấp; Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi làm ảnh hưởng đến quá trình tố tụng tại trọng tài;
Kê biên tài sản đang tranh chấp; Yêu cầu bảo tồn, cất giữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp; Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên; Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp”
Thẩm quyền áp dụng BPKCTT của HĐTT: Nếu như Pháp lệnh về Trọng tài thương mại 2003 trước đó không ghi nhận quyền áp dụng BPKCTT của HĐTT thì đến LTTTM 2010, HĐTT đã có quyền áp dụng BPKCTT
Tóm lại, giai đoạn này BPKCTT trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã và đang được hoàn thiện rất tích cực ngày càng phát huy sự linh hoạt và hiệu quả của
nó trong quá trình giải quyết vụ án Từ đó, đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của đương sự
1.3.4 Từ 01/01/ 2015 đến nay
Kế thừa những thành tựu của BLTTDS 2004 về BPKCTT đem lại, sự ra đời của BLTTDS 2015 có hiệu lực từ 01/7/2016, đem lại một không khí mới, bắt kịp với sự phát triển của nền kinh tế mở cửa
Trang 30Những điểm mới của BLTTDS 2015 đã phát huy được hiệu quả quan trọng của BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ án BLTTDS đã sửa đổi bổ sung theo hướng dẫn chiếu tới các quy định tương ứng của Bộ luật dân sự Kể từ đây BPKCTT cũng có những thay đổi cho phù hợp hơn với BLTTDS và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Những quy định về BPKCTT chung trong chương VIII (từ Điều 99 đến Điều 126) của BLTTDS 2004, đã được bổ sung theo hướng nhu cầu phát sinh trong tình hình thực tế của vụ án dân sự Theo đó các BPKCTT bao gồm 16 biện pháp và 1 điều khoản dự phòng, tăng hơn so với BLTTDS 2004 ( từ Điều 115 đến Điều 132) của BLTTDS 2015 Cụ thể:
1 Giao ng ười chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người
có khó kh ăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom,
nuôi d ưỡng, chăm sóc, giáo dục
2 Bu ộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng
3 Bu ộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính
m ạng, sức khoẻ bị xâm phạm
4 Bu ộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo
hi ểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh
ngh ề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho
ng ười lao động
5 T ạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động
6 Kê biên tài s ản đang tranh chấp
7 C ấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp
8 C ấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
9 Cho thu ho ạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác
10 Phong t ỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà
n ước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ
11 Phong t ỏa tài sản của người có nghĩa vụ
12 C ấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định
Trang 3113 C ấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ
14 C ấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình
15 T ạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu
th ầu
16 B ắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án
17 Các bi ện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định
Có thể nói BLTTDS 2015 là văn bản ghi nhận một cách đầy đủ nhất về BPKCTT trong giải quyết vụ án dân sự nói chung ở nước ta Những điểm mới của BLTTDS 2015 đã phát huy được hiệu quả quan trọng của BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ án Là một tiền đề cấp thiết để pháp luật có thể sửa đổi, bổ sung Luật trọng tài thương mại trong thời gian tới
Kết luận chương 1
Tại Chương 1, tác giả đã tập trung phân tích một số vấn đề lý luận về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Việc phân tích này đã góp phần khẳng định sự cần thiết và ý nghĩa quan trọng của các biện pháp khẩn cấp trong việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, đồng thời giúp chúng ta có cơ sở khoa học để đánh giá và bình luận về các quy định của pháp luật hiện hành về BPKCTT trong tố tụng trong tài tại Chương 2 của luận văn Có thể thấy rằng, mặc dù ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, pháp luật có những quy
Trang 32định khác nhau, song các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là hết sức quan trọng và cần thiết
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI
Trong giải quyết tranh chấp thương mại, BPKCTT là giải pháp hữu hiệu để bảo vệ chứng cứ và tài sản tranh chấp trong những trường hợp cấp bách Ðể BPKCTT phát huy tốt hiệu quả, pháp luật cần thiết phải có những quy định thật cụ thể và rõ ràng về quyền yêu cầu, về thời điểm yêu cầu cũng như trình tự, thủ tục để
áp dụng BPKCTT trong các giai đoạn giải quyết tranh chấp thương mại
2.1 Quyền yêu cầu, trách nhiệm các bên yêu cầu áp dụng BPKCTT
Trang 33trong giải quyết tranh chấp thương mại
2.1.1 Quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT
* Cơ sở pháp lý của quyền yêu cầu
Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “Nhà nước
C ộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” Vì vậy, mọi công dân đều phải sống và làm việc theo đúng pháp luật; nghĩa là công dân chỉ được làm những gì mà pháp luật không cấm và cho phép Ðể công dân biết và làm theo đúng pháp luật thì luật phải quy định những quyền và nghĩa vụ của công dân trong từng trường hợp cụ thể Nói cách khác, pháp luật phải tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cũng như cách thức để họ tự bảo vệ mình khi quyền và lợi ích đó bị xâm phạm
Việc cho phép công dân được yêu cầu cơ quan thẩm quyền áp dụng BPKCTT là một trong những cách thức để công dân tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi nó có nguy cơ bị xâm phạm trong quá trình giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp thương mại nói riêng Theo đó, khoản 1 Ðiều 48 LTTTM 2010 cho phép các bên tranh chấp có quyền yêu cầu HÐTT áp dụng BPKCTT trong giải quyết tranh chấp, có thể chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
* Chủ thể có quyền yêu cầu
Việc yêu cầu áp dụng BPKCTT xuất phát từ nhu cầu cấp bách của người yêu cầu nên hơn ai hết chính họ là người nhận biết được sự cấp bách đó Cơ quan thẩm quyền ít khi tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT mà hầu hết dựa trên cơ
sở đơn yêu cầu Tuy nhiên, vì BPKCTT có tác động không nhỏ đến các bên tranh chấp nên không phải ai cũng có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT mà pháp luật sẽ giới hạn lại và chỉ ghi nhận quyền yêu cầu của một số chủ thể nhất định
Theo Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 thì “Trong quá trình Hội đồng
tr ọng tài giải quyết vụ tranh chấp, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
h ại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, thì các bên có quyền làm đơn đến Toà án
c ấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý vụ tranh chấp yêu cầu áp dụng một hoặc một
s ố biện pháp khẩn cấp tạm thời” Trong tố tụng trọng tài theo PLTTTM 2003, chỉ
Trang 34có một chủ thể duy nhất là tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT tòa án có thẩm quyền là tòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài thụ lý giải quyết vụ
tranh chấp Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 LTTTM 2010 quy định “Các bên
tranh ch ấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài, tòa án áp dụng biện pháp khẩn
c ấp tạm thời theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật có liên
quan, tr ừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” Hội đồng trọng tài có thẩm
quyền là Hội đồng trọng tài được lựa chọn cho việc giải quyết tranh chấp, còn tòa
án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT là tòa án do các bên thỏa thuận hay tòa án nơi BPKCTT cần được áp dụng trong trường hợp không có sự thỏa thuận Và quyền yêu cầu này là không giới hạn, trong trường hợp yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT thì không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài
Với sự ra đời của LTTTM 2010, trong tranh chấp sử dụng trọng tài làm phương pháp giải quyết các bên có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài hoặc tòa án ra quyết định áp dụng các BPKCTT nhằm mục đích bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho mình trong trường hợp cấp bách, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục
Việc đưa ra yêu cầu áp dụng các BPKCTT là công việc của các bên, bởi các bên trong tranh chấp là người hiểu rõ nhất nội tình của vụ việc và các bên có quyền lợi và chịu trách nhiệm về hậu quả của việc áp dụng đó Đó cũng là quyền của các bên được công nhận trong tố tụng trọng tài Các bên có quyền yêu cầu hoặc không yêu cầu áp dụng BPKCTT và tự do trong việc chọn lựa nơi yêu cầu áp dụng BPKCTT để phù hợp với việc yêu cầu đó LTTTM 2010 ra đời làm tăng thêm sự chọn lựa nơi yêu cầu áp dụng cho các bên trong việc yêu cầu áp dụng các BPKCTT, rút ngắn được thời gian hơn so với thời điểm trước đây Các bên trong tranh chấp đã
có thể yêu cầu trực tiếp nơi giải quyết tranh chấp giải quyết yêu cầu của mình trường hợp yêu cầu Hội đồng trọng tài - không phải nhất thiết qua tòa án như trước Đây là một trong những điểm mới tích cực của LTTTM 2010 trong việc áp dụng BPKCTT so với trước đó
Tuy nhiên, cần mở rộng phạm vi của việc áp dụng BPKCTT theo hướng có thể áp dụng sớm vào thời điểm trước khi có tố tụng trọng tài Điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế là có những trường hợp các bên có thỏa thuận trọng tài nhưng các bên chưa khởi kiện ra trọng tài, tuy nhiên vì những lý do khách quan nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, ví dụ: nhằm bảo vệ tài sản có thể bị hư hỏng, một bên có
Trang 35nhu cầu áp dụng BPKCTT Đây là điểm mà nhà làm luật có thể xem xét và bổ sung quy định này cho phù hợp hơn trong thời gian sắp tới
2.1.2 Trách nhiệm của các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Theo Điều 36 PLTTTM 2003 quy định: “Bên yêu cầu áp dụng biện pháp
kh ẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình Trong trường hợp
bên yêu c ầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và gây thiệt hại cho
bên kia, cho ng ười thứ ba thì phải bồi thường”
Quy định của LTTTM 2010 về trách nhiệm của bên yêu cầu áp dụng
BPKCTT là sự lập lại của PLTTTM 2003: “Bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
c ấp tạm thời phải chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình Trong trường hợp bên yêu
c ầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và gây thiệt hại cho bên kia
ho ặc cho người thứ ba thì phải bồi thường” 3 Đây là quy định không mới của luật nhưng phù hợp với thực tế giải quyết tranh chấp BPKCTT là những biện pháp được chủ thể có thẩm quyền ban hành nhằm giải quyết theo yêu cầu cấp bách của các bên trong tranh chấp nhằm bào vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên yêu cầu Quyết định áp dụng BPKCTT không phải là quyết định giải quyết về nội dung của
vụ tranh chấp mà nó chỉ là giải pháp cho tình thế khẩn cấp Việc chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT là dựa trên cơ sở có đơn yêu cầu của các bên trong tranh chấp Thông thường khi có đơn yêu cầu tòa án, Hội đồng trọng tài mới xem xét và quyết định có áp dụng hay không áp dụng BPKCTT nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích của bên yêu cầu Nếu sau này, việc áp dụng BPKCTT được xác định là không đúng, gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại chính là người đã đưa ra yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng Điều này đặt ra cho chủ thể yêu cầu áp dụng BPKCTT suy nghĩ đắn đo tính hợp lý về việc yêu cầu của mình và phải lường trước được về trách nhiệm mà mình phải gánh chịu trong trường hợp có thiệt hại xảy ra do việc yêu cầu này
2.2 Thời điểm yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trên thực tế, khi nhận thấy tranh chấp đang xảy ra có sự khẩn cấp, cần sự can thiệp nhanh chóng của cơ quan thẩm quyền thì đương sự mới yêu cầu áp dụng
3 Điều 52 LTTTM 2010
Trang 36BPKCTT Vì vậy, việc quy định thời điểm yêu cầu áp dụng BPKCTT cũng cần phải linh hoạt để đáp ứng được nhu cầu cấp bách của đương sự, bởi lẽ sự khẩn cấp có thể xảy ra bắt cứ lúc nào, trước hoặc trong quá trình thụ lý giải quyết tranh chấp, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bất cứ lúc nào và việc áp dụng BPKCTT sẽ phát huy hiệu quả tích cực, kịp thời Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại TTTM thì LTTTM 2010 lại không quy định thời điểm cụ thể các bên tranh chấp có thể yêu cầu áp dụng BPKCTT mà chỉ quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, ngay sau khi bên yêu cầu đã thực hiện biện pháp bảo đảm thì HÐTT xem xét ra quyết định áp dụng BPKCTT 4 Như vậy, chúng ta có thể suy luận các bên tranh chấp chỉ có thể yêu cầu áp dụng BPKCTT khi HÐTT được thành lập Nói cách khác, khi phát sinh tranh chấp và yêu cầu TTTM giải quyết, khi đương sự nhận thấy tình hình đang khẩn cấp cũng không thể gửi yêu cầu áp dụng BPKCTT ngay đến Trung tâm trọng tài mà phải đợi HÐTT được thành lập Như vậy, nếu một trong các bên đương sự cố ý trì hoãn thì thời gian để HÐTT được thành lập thì có thể thời gian để yêu cầu áp dụng BPKCTT cũng mất khoảng 1- 2 tháng, đủ để bên còn lại tẩu tán tài sản và hủy hoại chứng cứ Ðể khắc phục khó khăn trong giai đoạn này, đương sự có thể lựa chọn phương án thứ hai là gửi đơn đến tòa án để yêu cầu áp dụng BPKCTT thay vì chờ đợi HÐTT được thành lập Đây
là bất cập cần phải được khắp phục nhằm phát huy vai trò của BPKCTT trong tố tụng trọng tài
2.3 Các BPKCTT trong giải quyết tranh chấp thương mại
Mọi BPKCTT đều có “tính năng” và “phạm vi” tác động riêng của nó, để phát huy hết hiệu quả của nó thì nhất thiết chúng ta phải lựa chọn áp dụng biện pháp phù hợp với tình hình khẩn cấp thực tế đang xảy ra của vụ án Nghĩa là, khi có nhu cầu cấp bách xảy ra chủ thể yêu cầu phải xác định được cần áp dụng biện pháp nào
để tác động nhanh nhất, hiệu quả nhất đến đối tượng để ngăn chặn kịp thời và tránh những hậu quả nghiệm trọng có thể xảy ra Mặc dù vậy, không phải đương sự muốn
áp dụng biện pháp KCTT đó theo ý muốn là được mà phải đưa ra được những căn
cứ để chứng minh việc áp dụng biện pháp đó là cần thiết và thực hiện biện pháp đảm bảo (nếu có) thì khi đó cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp mới có thể cho
4 Khoản 4 Điều 50 LTTTM2010
Trang 37áp dụng biện pháp mà đương sự yêu cầu, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được và để bảo đảm thi hành án…
Gọi là biện pháp khẩn cấp tạm thời bởi lẽ nó đòi hỏi phải được xử lý rất nhanh, thi hành ngay không bị kháng cáo, kháng nghị Dù vậy, nó không phải là quyết định cuối cùng về giải quyết quan hệ đang có tranh chấp, nó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định và nó có thể bị thay đổi, hủy bỏ với một thủ tục đơn giản, nhanh gọn trước, trong khi diễn ra việc xét xử hoặc sau khi Hội đồng trọng tài
* Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
Trong quá trình giải quyết việc tranh chấp, Hội đồng trọng tài, có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp này khi hội tụ đầy đủ các điều kiện như:
- Đối tượng mà đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải
là tài sản đang có tranh chấp;
- Người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản hoặc người khác đang có hành vi làm thay đổi hiện trạng của tài sản như phá hủy, tháo dỡ, lắp ghép xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản;
- Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã thực hiện nghĩa vụ bảo đảm tài chính
Đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này phải đưa ra tài liệu, chứng cứ chứng minh bên đang chiếm hữu, giữ tài sản đang có hành vi làm thay đổi hiện trạng tài sản Hội đồng trọng tài hoặc Thẩm phán phải xem xét các yêu cầu, các căn cứ mà đương sự đã đưa ra để quyết định có áp dụng biện pháp khẩn cấp đó hay không
Trang 38* Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến quá trình
tố tụng trọng tài
Trong quá trình trọng tài giải quyết tranh chấp, nếu thấy đương sự nào đó đang có hành vi (hành động hoặc không hành động) mà hành vi đó sẽ có tác động gây bất lợi cho quá trình tố tụng thì đương sự bên kia có quyền yêu cầu trọng tài hoặc tòa án áp dụng biện pháp cấm hoặc buộc bên tranh chấp thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định Khi có đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp này, nếu thấy yêu cầu đó là chính đáng và đương sự đã xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp này thì trọng tài hoặc tòa án phải áp dụng ngay
* Kê biên tài sản đang tranh chấp
Kê biên tài sản chỉ áp dụng cho trường hợp người chiếm giữ tài sản đang có tranh chấp có hành vi tẩu tán, cất giấu tài sản đang có tranh chấp gây khó khăn trong việc xem xét, giải quyết của Hội đồng trọng tài hoặc thi hành án sau này, thì theo yêu cầu của một trong các bên đương sự Hội đồng trọng tài hoặc tòa án có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp này
Tài sản kê biên có thể thu giữ bảo quản tại cơ quan thi hành án hoặc lập biên bản giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Hội đồng trọng tài hoặc tòa án Khi lập biên bản kê biên phải ghi rõ ngày, giờ, loại tài sản, mô tả đầy đủ, chính xác tình trạng tài sản Nếu cơ quan, người thứ ba được giao quản lý tài sản kê biên có thể được hưởng thù lao theo quy định của pháp luật
Trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản, người có đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT là các tài sản đang có tranh chấp mà không phải là tất cả tài sản của đương sự trong vụ án thương mại, theo quy định này ta có thể hiểu rằng nếu như tài sản mà đương sự cần phải dùng để thi hành nghĩa vụ, nhưng tài sản đó không phải
là tài sản đang có tranh chấp thì Hội đồng trọng tài cũng không thể áp dụng được biện pháp này, đương sự có thể lợi dụng điều này để tẩu tán những tài sản đang không nằm trong phạm vi của quy định này; BPKCTT này chỉ được áp dụng trong trường hợp khi có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu
Trang 39tán, hủy hoại tài sản Quy đinh này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, ví dụ như, khi có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản tranh chấp có hành vi tẩu tán thì biện pháp mới được áp dụng hoặc BPKCTT này sẽ được áp dụng khi mà hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản đang tranh chấp chưa xảy ra trên thực tế, mới có căn cứ cho thấy có hành vi tẩu tán thì sẽ được áp dụng BPKCTT này
Trên thực tế, khi được lựa chọn các hình thức giao bảo quản tài sản kê biên, Chấp hành viên đã lựa chọn hình thức bảo quản (đối với tất cả các tài sản là động sản) tại kho của Cơ quan thi hành án Vì việc bảo quản tài sản tại kho của Cơ quan thi hành án có nhiều thuận lợi và thực sự đem lại hiệu quả trong công tác thi hành
án, hạn chế được hiện tượng tẩu tán tài sản kê biên như trước đây Từ đó buộc họ phải lựa chọn biện pháp thi hành có lợi cho họ, đó là việc tự nguyện thi hành để họ sớm nhận lại tài sản đang do Cơ quan thi hành án thu giữ
* Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một hoặc các bên tranh chấp
Có những tài sản đang tranh chấp hoặc có liên quan đến tranh chấp, nếu không xử lý kịp thời sẽ làm hư hỏng, mất giá trị, giảm giá trị hoặc làm biến dạng tài sản, thì theo yêu cầu của một trong các bên tranh chấp có thể áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời “bảo tồn, cất giữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một
ho ặc các bên tranh chấp” thì Hội đồng trọng tài hoặc tòa án sẽ áp dụng biện pháp
này khi các bên đương sự đã đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp này
* Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên
Để kịp thời xử lý những nhu cầu cấp bách của đương sự, dù hai bên còn đang có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, về hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ đang phải chờ Hội đồng trọng tài phán xử, thì theo yêu cầu của một trong các bên tranh chấp, Hội đồng trọng tài hoặc tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về việc trả tiền giữa các bên tranh chấp khi bên yêu cầu đã chứng minh yêu cầu
áp dụng biện pháp này là chính đáng, cần thiết
* Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp
Dù tố tụng trọng tài được diễn ra trong thời gian không dài so với tố tụng tại tòa án, nhưng nó vẫn cần một khoảng thời gian nhất định Lợi dụng thời gian tố
Trang 40tụng trọng tài đang diễn ra một bên tranh chấp có thể có hành vi bán, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho tài sản đang có tranh chấp, hành vi này đe dọa gây ra những thiệt hại cho đương sự khác hoặc gây khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp, xử lý tài sản tranh chấp Do đó, khi có yêu cầu của một trong các bên đương
sự áp dụng biện pháp khẩn cấp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang có tranh chấp thì Hội đồng trọng tài hoặc tòa án phải áp dụng biện pháp này
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật Trọng tài thương mại, có biện pháp chỉ là một hành vi, một đối tượng, một hoạt động chuyển dịch, một hành động cần ngăn chặn hoặc buộc phải thực hiện, cấm thực hiện, nhưng có BPKCTT có quy định kép, nên chứa đựng nhiều nội dung, nhiều hành vi, hoạt động cần điều chỉnh bằng biện pháp khẩn cấp tạm thời Ví dụ: Biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại điểm b khoản 2 Điều 49 Luật Trọng tài thương mại điều chỉnh hai loại hành vi trái ngược nhau; đó là “cấm” thực hiện một hoặc một số hành vi hoặc “buộc” thực hiện một hoặc một số hành vi; còn biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại điểm d khoản 2 Điều 49 Luật Trọng tài thương mại lại điều chỉnh rất nhiều hoạt động khác nhau đó là: hoạt động về bảo tồn, hoạt động
về cất giữ, hoạt động giao dịch: bán, hành vi định đoạt Do đó, khi áp dụng BPKCTT không phải bê nguyên xi toàn bộ các hành vi, các hoạt động, các nội dung trong các điểm, khoản quy định biện pháp kép đó mà chỉ nêu những hành vi, hoạt động nào cần điều chỉnh, ngăn chặn theo yêu cầu của đương sự Nếu thực tế đang diễn ra hoặc sẽ diễn ra tất cả các hành vi, hoạt động được quy định trong BPKCTT
đó và một bên yêu cầu áp dụng biện pháp ngăn chặn toàn bộ các hành vi, hoạt động đang hoặc sẽ diễn ra được quy định trong BPKCTT đó thì mới ghi nguyên văn tất
cả hành vi, hoạt động được quy định trong điểm, khoản quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời đó
* Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác
Xuất phát từ thực tiễn, yêu cầu của tình hình chính trị, xã hội, ngoài những biện pháp quy định theo Luật trọng tài thương mại, pháp luật còn quy định một số biện pháp khác được quy định tại khoản 13, Điều 102 BLTTDS 2004 được sửa đổi,bổ sung năm 2011 và khoản 17 Điều 114 BLTTDS 2015 như biện pháp niêm phong, thu giữ, cấm di chuyển trong giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, biện pháp bắt giữ tàu bay, tàu biển Ví dụ, trong pháp lệnh bắt giữ tàu bay, quy