1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật thuế tài nguyên ở việt nam thực trạng và hướng hoàn thiện từ thực tế quảng ninh

91 683 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức thu đúng, thu đủ và thu kịp thời thuế tài nguyên đối với các nguồn khai thác tài nguyên trong lãnh thổ Việt là nhiệm vụ quan trọng của Cơ quan thuế Nhà nước, nhằm góp phần ổn địn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT THUẾ TÀI NGUYÊN Ở VIỆT NAM-THỰC TRẠNG

VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN TỪ THỰC TẾ QUẢNG NINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT THUẾ TÀI NGUYÊN Ở VIỆT NAM –THỰC TRẠNG

VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN TỪ THỰC TẾ QUẢNG NINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Văn Cương Những phần trích dẫn đã được nêu trong danh mục tài liệu tham khảo, tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, khách quan của các thông tin, số liệu nêu trong luận văn

Xác nhận của Tác giả luận văn

Người hướng dẫn khoa học

TS Vũ Văn Cương Trần Thị Thu Hoài

LỜI CẢM ƠN

Trang 4

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Luật Kinh tế- Viện Đại học Mở Hà Nội, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Vũ Văn Cương đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn.Thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi rất nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài

Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, cô Khoa đào tạo Sau đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo diều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/ Cô và các bạn học viên./

Hà N ội, ngày 15 tháng 11 năm 2016

Học viên

Trần Thị Thu Hoài

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU……… 1 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÁP LUẬT

THUẾ TÀI NGUYÊN……… 5

1.1 Khái quát về thuế tài nguyên……… 5

1.2.3 Pháp luật thuế tài nguyên ở một số nước và

Nam………

25

Kết luận chương 1……… 32 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

PHÁP LUẬT THUẾ TÀI NGUYÊN Ở QUẢNG NINH……… 33 2.1 Thực trạng pháp luật thuế tài nguyên ở Việt Nam

nguyên ở Việt Nam………

nguyên tại Quảng Ninh…………

45

Trang 6

2.3 Những thách thức và vấn đề đặt ra cần giải

quyết từ thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tài nguyên

Kết luận chương 2……… 66 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP

LUẬT THUẾ TÀI NGUYÊN Ở VIỆT NAM……… 67

3.1 Những định hướng cơ bản trong hoàn thiện pháp

luật pháp luật thuế tài nguyên ở Việt Nam hiện nay

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế tài

nguyên ở Việt Nam………

68

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của Luật thuế tài

nguyên và văn bản pháp luật quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành Luật thuế tài nguyên………

69

quy định của pháp luật khác có liên quan đến thuế

Trang 7

1

LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quý giá do thiên nhiên ban tặng, thuộc sở hữu quốc gia do Nhà nước thống nhất quản lý, có vai trò quan trọng đối với con người Trong điều kiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và quốc tế hoá sâu rộng như hiện nay, nhu cầu

sử dụng tài nguyên cho phát triển kinh tế quốc dân ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết đối với mỗi quốc gia, nhất là các loại tài nguyên quý hiếm, tài nguyên không tái tạo như: dầu khí, than, đá, Bên cạnh các công cụ quản lý hành chính như: cấp phép thăm dò, khai thác, chế biến, thì thuế tài nguyên là công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, tăng thu ngân sách, định hướng sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên và thân thiện với môi trường Tổ chức thu đúng, thu đủ và thu kịp thời thuế tài nguyên đối với các nguồn khai thác tài nguyên trong lãnh thổ Việt là nhiệm vụ quan trọng của Cơ quan thuế Nhà nước, nhằm góp phần ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện chính sách phát triển kinh tế đất nước, đồng thời tạo lập được một môi trường phát triển trong lành, tránh tình trạng khai thác bừa bãi, thúc đẩy góp phần đẩy mạnh cuộc sống con người ngày càng phát triển Trước bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, việc cắt giảm thuế suất và thực hiện các chính sách ưu đãi thuế quan là quá trình tất yếu của Việt Nam, đồng thời cũng là thách thức đối với cơ quan thuế trong việc hoàn thành chỉ tiêu thu Ngân sách Nhà nước

Do đó, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế, tác giả mong muốn nghiên cứu về pháp luật thuế tài nguyên, bao gồm việc tìm hiểu một số vấn đề chung về pháp luật thuế tài nguyên, thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật thuế tài nguyên, cụ thể là ở tỉnh Quảng Ninh để tìm ra những quy định còn chưa hợp lý, những vấn đề còn hạn chế bất cập từ đó làm cơ sở đưa ra các định hướng, giải pháp kiến nghị theo hướng ngày càng hoàn thiện

hơn Vì thế tác giả chọn đề tài “Pháp luật thuế tài nguyên ở Việt Nam - Thực trạng và

hướng hoàn thiện từ thực tế Quảng Ninh” làm luận văn thạc sỹ cho mình

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 8

th ực tiễn thực thi nhìn từ trường hợp khai thác Apatit tại Lào Cai”, Trần Thanh Thủy –

Liên minh Khoáng sản, “ Sáng ki ến minh bạch trong công nghiệp khai thác (EITI): Công

c ụ khắc phục các kẽ hở chính sách và nâng cao hiệu quả thu” tại Hội thảo “Nâng cao hiệu quả thu ngân sách trong khai thác khoáng sản - Từ kinh nghiệm thực tiễn đến các giải pháp chính sách” do Liên minh Khoáng sản tổ chức ngày 13/5/2016, các bài viết Tọa đàm “Việt Nam tham gia sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai thác (EITI):

C ơ hội hay rào cản” tổ chức ngày 13/9/2015 tại Hà Nội … Hay các đề tài nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn mà thuế tài nguyên chỉ là một mục nhỏ như: Hà Trọng Đại (2009), Các công c ụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật

Hà Nội…

Qua những tài liệu nêu trên cho thấy, pháp luật thuế tài nguyên là một vấn đề khá quan trọng, có tính chất phức tạp nhưng lại không có nhiều công trình nghiên cứu Các công trình nghiên cứu được thực hiện ở quy mô nhỏ, chủ yếu là bước đầu tìm hiểu và nghiên cứu về các quy định của pháp luật, chưa có công trình nào nghiên cứu về thực trạng pháp luật hay là tìm hiểu về thực tiễn thi hành pháp luật về thuế tài nguyên ở những địa phương cụ thể diễn ra như thế nào

3.Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật thuế tài nguyên ở Việt Nam và thực tiễn thi hành luật này và cụ thể hơn là ở tỉnh Quảng Ninh Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lớn sau:

Một là, các vấn đề chung về pháp luật thuế tài nguyên

Hai là, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật thuế tài nguyên ở Quảng Ninh

Trang 9

3

Ba là, phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế tài nguyên ở Việt

Nam

3.2.Phạm vi nghiên cứu đề tài

Pháp luật về thuế tài nguyên là vấn đề khá phức tạp Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ tập trung vào tìm hiểu, đánh giá chung về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật thuế tài nguyên ở tỉnh Quảng Ninh Tìm hiểu về những khó khăn khi áp dụng thuế tài nguyên trên thực tế, từ đó đưa ra nhận xét đánh giá, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tài nguyên với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên và thân thiện với môi trường

4.Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu luận văn

4.1.Mục đích nghiên cứu luận văn

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề chung về pháp luật thuế tài nguyên ở Việt Nam, tìm hiểu về thực trạng và thực tiễn thi hành về thuế tài nguyên ở tỉnh Quảng Ninh Qua đó, tác giả đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tế đang đặt ra đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên được thực hiện tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ tài

nguyên trong tiến trình phát triển bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước

4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

+ Nghiên cứu tổng quan những vấn đề chung nhất về thuế tài nguyên và pháp luật thuế tài nguyên: Phân tích, tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế tài nguyên; khái niệm, cấu trúc của pháp luật thuế tài nguyên; tìm hiểu pháp luật thuế tài nguyên ở một số nước và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

+ Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật thuế tài nguyên ở tỉnh Quảng Ninh Từ đó, tìm ra những tồn tại, vướng mắc để làm

cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về thuế tài nguyên

Trang 10

4

+ Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật

thuế tài nguyên ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

5.Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà luận văn đặt ra, trong quá trình nghiên

cứu luận văn, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây: Phương

pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin; Hệ thống quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử… được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề chung về thuế tài nguyên và pháp luật thuế tài nguyên

Phương pháp so sánh luật học, phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê số liệu được sử dụng trong Chương 2 khi tìm hiểu thực trạng, phân tích những

ưu điểm và hạn chế các quy định về Luật thuế tài nguyên, thực tiễn thi hành pháp luật thuế tài nguyên ở tỉnh Quảng Ninh

Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp… được sử dụng trong Chương 3 khi xem xét, tìm hiểu về định hướng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế tài nguyên ở Việt Nam hiện nay

6.Kết cấu luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu với ba chương như sau:

Chương 1: Khái quát về thuế tài nguyên và pháp luật thuế tài nguyên

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật thuế tài nguyên ở Quảng Ninh

Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế tài nguyên ở Việt Nam

Trang 11

5

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÁP LUẬT THUẾ TÀI NGUYÊN 1.3 Khái quát về thuế tài nguyên

1.3.1 Khái niệm thuế tài nguyên

"Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người1" Tài nguyên bao gồm tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên do con người tạo ra

Tài nguyên do con ng ười sáng tạo ra được thể hiện dưới hình thức vật chất hoặc

phi vật chất, như: cánh rừng trồng, hồ nhân tạo, sinh vật do con người nuôi, trồng; các sản phẩm trí tuệ, bản phát minh, sáng chế, quy trình công nghệ, các giải pháp hữu ích tạo nên điều kiện tổng thể về môi trường, phương tiện, công cụ thiết yếu phục vụ cho đời sống, sản xuất của xã hội

Tài nguyên thiên nhiên: là tất cả các nguồn lực sẵn có của tự nhiên tồn tại trên trái đất, trong không gian mà con người có thể khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống, sự phát triển của mình và xã hội, bao gồm đất đai, không khí, nước, các loại năng lượng, tài nguyên rừng tự nhiên, tài nguyên biển và những khoáng sản trong lòng đất… Con người

có thể khai thác và sử dụng những lợi ích do tài nguyên thiên nhiên ban tặng để thỏa mãn những nhu cầu đa dạng của mình Tài nguyên thiên nhiên là một bộ phận thiết yếu của môi trường, có quan hệ chặt chẽ với môi trường

Trong tài nguyên thiên nhiên có thể phân chia thành các loại: Tài nguyên hữu hạn

và tài nguyên vô hạn

- Tài nguyên h ữu hạn là các loại tài nguyên có giới hạn nhất định về trữ lượng

giảm dần cùng với quá trình khai thác, sử dụng của con người Tài nguyên có thể tái tạo

và nhóm tài nguyên không thể tái tạo

+ Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v ) là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý Tuy nhiên, nếu sử

1 https://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/T%C3%A0i_nguy%C3%AAn_l%C3%A0_g%C3%AC%3F_C%C3%B3_ nh%E1%BB%AFng_lo%E1%BA%A1i_t%C3%A0i_nguy%C3%AAn_n%C3%A0o%3F

Trang 12

6

dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v

+ Tài nguyên không tái tạo: là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của một mỏ có thể cạn kiệt sau khi khai thác Tài nguyên gen di truyền có thể mất đi cùng với sự tiêu diệt của các loài sinh vật quý hiếm

- Tài nguyên vô h ạn là các loại tài nguyên có thể tự tái tạo liên tục, không cần đến

sự tác động của con người, ví dụ như sự tuần hoàn tự nhiên của nước, không khí, năng lượng mặt trời, gió, sóng, thủy triều, tài nguyên này được khai thác, thì cuối cùng quá trình tự nhiên sẽ tự tái tạo lại một cách vô tận Con người có thể lợi dụng sức đẩy của gió làm cối xay, sức nước làm thủy điện… Tuy nhiên, nếu chúng ta khai thác một cách bừa bãi thì cuối cùng nguồn tài nguyên này cũng sẽ bị cạn kiệt nhanh chóng, không thẻ tái tạo kịp như một số loài sinh, thực vật bị tuyệt chủng trước khi chưa kịp tái tạo

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn tài sản quý giá của mỗi quốc gia Đối với các quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú, nếu đợc quản lí khai thác,

sử dụng hiệu quả thì nó sẽ là nguồn lợi lớn và lâu dài cho sự phát triển của quốc gia đó Ngợc lại, nếu việc quản lí, khai thác, sử dụng tài nguyên bừa bãi, lãng phí sẽ gây ra hậu quả xấu không chỉ cho sự phát triển kinh tế mà còn gây ảnh hưởng xấu đến môi trờng sống của quốc gia đó Để bảo đảm cho việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên đạt hiệu quả, tránh việc khai thác, sử dụng bừa bãi, lãng phí, gây ảnh hởng đến môi trờng sống, các quốc gia thờng sử dụng nhiều công cụ và biện pháp quản lí khác nhau, trong đó có việc đánh thuế vào hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên

Ở Việt Nam, nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước sử dụng thuế để điều tiết đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên để tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (sau đây viết tắt là NSNN) nhằm thực hiện các mục tiêu, định hướng cho việc khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, tạo lập nguồn tài chính phục vụ cho bảo tồn, phát triển các nguồn tài nguyên

Trang 13

7

Thuế tài nguyên là khoản thu của Ngân sách nhà nước nhằm điều tiết một phần giá trị tài nguyên thiên nhiên khai thác đối với tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên hợp pháp trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tạo nguồn thu Ngân

sách nhà nước, đảm bảo quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên của Nhà nước

1.3.2 Đặc điểm của thuế tài nguyên

Thuế tài nguyên có những đặc điểm như sau:

- Là một khoản thu của NSNN đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý

- Thu trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên

- Được cấu thành trong giá bán tài nguyên mà người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền thuế tài nguyên

- Đối tượng nộp thuế là mọi tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên, không phụ thuộc mục đích sử dụng tài nguyên

Xét về bản chất, thuế tài nguyên là loại thuế gián thu Tuy nhiên, nó mang tính chất là một khoản thu về chuyển nhượng tài nguyên thiên nhiên quốc gia mà tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi khai thác tài nguyên, tương tự như trường hợp cơ sở kinh doanh phải trả tiền mua các loại tài nguyên khác về để sản xuất, kinh doanh

*Phân bi ệt thuế tài nguyên và thuế bảo vệ môi trường

Thuế bảo vệ môi trường là một loại thuế gián thu, được Quốc hội ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa nhà nước và các chủ thể có hành vi tác động tiêu cực đến môi trường thông qua việc đánh vào các sản phẩm gây tác động xấu cho môi trường trong qúa trình sử dụng nhằm phòng, chống ô nhiễm môi trường và đảm bảo phát triển bền vững

Để quản lý hiệu quả việc khai thác tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, Nhà nước quy định rõ các nghĩa vụ mà các tổ chức, cá nhân khi tiến hành khai thác tài nguyên phải tuân theo; trong đó có nghĩa vụ về thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là một công cụ kinh tế được sử dụng từ rất sớm để điều chỉnh việc khai thác tài nguyên thiên

Trang 14

8

nhiên hướng tới mục tiêu tiết kiệm, hiệu qủa, hợp lý, góp phần bảo vệ môi trường và tạo

ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước Hành vi khai thác tài nguyên là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên Nguyên tắc cơ bản để xây dựng thuế tài nguyên chính là nguyên tắc người thụ hưởng các thành phần môi trường phải trả tiền (benefit Pays principle: BPP) Tức là người hưởng thụ các thành phần môi trường phải trả tiền cho việc hưởng thụ cũng như các tác động tiêu cực đến môi trường do việc hưởng thụ các thành phần môi trường đó gây ra

Với các quy định của thuế tài nguyên một số ý kiến cho rằng thuế bảo vệ môi trường bao gồm cả thuế tài nguyên Tuy nhiên có thể thấy thuế tài nguyên có những chức năng khác quan trọng hơn bên cạnh chức năng bảo vệ môi trường Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý, do vậy, việc khai thác tài nguyên do các tổ chức, cá nhân tiến hành cần phải nộp thuế như là cách để chia sẻ phần giá trị tài nguyên được khai thác cho mục tiêu chi tiêu công cộng Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên có thể không ảnh hưởng nhiều đến môi trường nếu được tiến hành một cách khoa học, hợp lý Căn cứ tính thuế tài nguyên dựa vào giá trị tài nguyên được khai thác chứ không phải những tác động của hoạt động khai thác tài nguyên đến môi trường Đồng thời nguyên tắc cơ bản để xây dựng thuế bảo

vệ môi trường và thuế tài nguyên cũng không giống nhau

Đối với thuế bảo vệ môi trường cơ sở để ban hành mức thuế phải nộp đó chính là căn cứ vào nguyên tắc PPP: người gây ô nhiễm phải trả tiền; trong khi đó, thuế tài nguyên lại được ban hành dựa trên nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc BPP: người được hưởng lợi từ môi trường phải trả tiền Với các căn cứ trên có thể thấy không thể dùng

thuế môi trường thay thế thuế tài nguyên

1.3.3 Vai trò của thuế tài nguyên

Thuế tài nguyên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xã hội nước ta, cụ thể như sau:

-Thu ế tài nguyên là công cụ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Trang 15

9

Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước là vai trò đầu tiên của thuế Mỗi một loại thuế mà nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Trong nền kinh tế thị trường vai trò này của thuế càng nổi bậc bởi thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước

Ở Việt Nam, số thu thuế tài nguyên các năm từ 2005-2008 bình quân mỗi năm trên 23.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 15% tổng thu NSNN từ sản xuất kinh doanh trong nước (trong đó, thuế tài nguyên từ dầu khí khoảng 22.160 tỷ đồng, chiếm 95,5% tổng số thu thuế tài nguyên; thuế tài nguyên của các tài nguyên khác khoảng 1.040 tỷ đồng, chiếm 4,5% tổng số thu thuế tài nguyên [15]

Theo thống kê của Bộ Tài chính, tổng số thu thuế tài nguyên bình quân giai đoạn 2011-2014 khoảng 39,1 nghìn tỷ đồng/năm, chiếm 4,9% tổng thu NSNN Trong đó, thu

từ dầu thô khoảng chiếm 79% tổng số thu thuế tài nguyên và 21% thu từ tài nguyên khác [15]

Vai trò tạo nguồn thu của thuế tài nguyên là vai trò quan trọng Tuy nhiên để phát huy tốt vai trò này cần phải đặt thuế trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, bởi vì chính sự tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội

là cơ sở tồn tại và phát triển của thuế

- Thu ế tài nguyên góp phần tăng cường quản lý nhà nước trong việc bảo vệ, sử

d ụng hiệu quả nguồn tài nguyên quốc gia Đồng thời góp phần nâng cao nhận thức về vai trò c ủa tài nguyên đối với sự phát triển kinh tế đất nước

Thuế tài nguyên là một trong những công cụ tài chính, thể hiện vai trò sở hữu nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của các tổ chức, cá nhân

Tài nguyên thiên nhiên là tài sản quý giá do thiên nhiên ban tặng, có vai trọng quan trọng đối với con người Phần lớn các sản phẩm để phục vụ đời sống sinh hoạt của con người được sản xuất từ tài nguyên thiên nhiên Trong điều kiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và quốc tế hoá sâu rộng như hiện nay, nhu cầu sử dụng tài nguyên cho phát triển kinh tế quốc dân ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết đối với mỗi quốc gia nhất là

Trang 16

10

các lơại tài nguyên quý hiếm, tài nguyên không tái tạo như: Dầu khí, than, đá, Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, trong khi các nguồn lực để phát triển kinh tế còn thiếu và yếu, thì tài nguyên là nguồn lực đóng vai trò quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế đất nước Trong thời gian vừa qua, do sự khó khăn về mặt kinh tế, nền khoa học kỹ thuật chưa phát triển, dẫn đến sự hạn chế nhất định về công tác thăm dò, khai thác, đánh giá trữ lượng tài nguyên hiện có của đất nước Thêm vào đó, các địa phương chưa có sự quan tâm đúng mức về vai trò của nguồn lực tài nguyên Cùng với

sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, sự hội nhập quốc tế, nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế ngày càng tăng Tài nguyên được khai thác

và sử dụng ngày càng nhiều, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo; giá tài nguyên có xu hướng tăng nhanh Hoạt động kinh doanh khai thác tài nguyên thu được lợi nhuận lớn, trong khi công tác quản lý tài nguyên chưa được thực hiện một cách triệt để, hoạt động khai thác tài nguyên diễn ra tràn lan, khai thác không phép, khai thác vượt phép, xuất khẩu nguyên liệu thô diễn ra phổ biến,… dẫn đến thất thoát tài nguyên, thất thu ngân sách, gây mất ổn định xã hội và ô nhiễm môi trường Thuế tài nguyên là một trong những công cụ quan trọng trong việc quản lý tài nguyên Cùng với quy định thuế tài nguyên (trừ dầu khí) để lại ngân sách địa phương 100%, việc quy định giao cho Ủy ban nhân dân ( sau đây viết tắt là UBND) các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương quy định giá tính thuế đối với một số tài nguyên đã tạo điều kiện để cơ quan quản lý địa phương tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động khai thác tài nguyên, hạn chế khai thác không phép, gây lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường nơi khai thác Việc nâng cao nhận thức về vai trò của tài nguyên sẽ khuyến khích các địa phương lựa chọn phương thức đầu

tư khai thác, chế biến tài nguyên hợp lý và lựa chọn đường lối phát triển kinh tế xã hội thích hợp với điều kiện địa phương mình Tăng cường công tác quản lý và cấp phép khai thác, kinh doanh tài nguyên khoáng sản, lựa chọn nhà đầu tư đủ điều kiện, tiềm lực để khai thác, chế biến tài nguyên; có chính sách khuyến khích đầu tư chế biến sâu nâng cao giá trị tài nguyên Từ đó, tài nguyên ngày càng được quản lý chặt chẽ hơn, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường Như vậy, thuế tài nguyên

Trang 17

Bên cạnh các công cụ quản lý hành chính như: Cấp phép thăm dò, khai thác, chế biến, thì thuế tài nguyên là công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, tăng thu ngân sách, định hướng sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên và thân thiện với môi trường

- Thuế tài nguyên là công cụ điều tiết kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi và kích thích

s ự phát triển kinh tế

Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong điều kiện các nguồn lực để phát triển kinh tế còn chưa đủ mạnh thì tài nguyên là một trong những nguồn lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước

Trong thời gian vừa qua, sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác, chế biến tài nguyên đã cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào đáng kể cho các ngành sản xuất khác, hạn chế sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, góp phần ổn định sản xuất trong nước, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động, nâng cao đời sống nhân dân Với các ngành sản xuất: than, điện, phân bón, xi măng, giấy… là các ngành quan trọng của nền kinh tế (cung cấp phần lớn sản phẩm đầu vào cho nền sản xuất trong nước) Than là

Trang 18

12

nguyên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất: Điện, phân bón, xi măng, giấy, Điện là đầu vào cho các ngành sản xuất, sinh hoạt và dịch vụ Phân bón là đầu vào của ngành sản xuất nông nghiệp Xi măng là sản phẩm đầu vào cho ngành xây dựng Sự ổn định về giá

cả, về sản lượng cung cấp của ngành sản xuất than sẽ dẫn đến sự ổn định giá điện, giá phân bón, giá xi măng, dẫn đến ổn định giá các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu như lương thực, thực phẩm và nhiều mặt hàng quan trọng khác Thuế tài nguyên là yếu tố cấu thành trong giá bán sản phẩm Do đó, sự ổn định thuế tài nguyên cũng góp phần ổn định giá, chống lạm phát

Tài nguyên thiên nhiên thường có tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Việc phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến tài nguyên sẽ tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn, việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân tại nơi khai thác tài nguyên; do vậy, Nhà nước có cơ sở để xây dựng chính sách phát triển kinh tế vùng, miền hợp lý hơn (giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi, ), giảm sự chênh lệnh về giàu nghèo, đảm bảo ổn định xã hội Bên cạnh việc tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống dân cư, thì số thu thuế tài nguyên cũng là nguồn lực quan trọng để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tại địa phương (xây dựng điện, đường, trường, trạm, ), nâng cao đời sống vật chất tinh thần người dân nơi khai thác, phát triển kinh tế xã hội địa phương

1.4 Khái quát pháp luật thuế tài nguyên

1.4.1 Khái niệm và cấu trúc của pháp luật thuế tài nguyên

Quan hệ thuế khóa nói chung và thuế tài nguyên nói riêng bao giờ là quan hệ pháp luật để thu một loại thuế nào đó Nhà nước phải ban hành ra hệ thống các quy phạm pháp luật quy định rõ nội dung sắc thuế đó và quy định về thủ tục quản lý thu, nộp thuế Ở Việt Nam Thuế tài nguyên lần đầu tiên được ban hành vào năm 1990 dưới hình thức pháp lệnh; Luật thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25/11/2009 thay thế Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1990 và 1998 Cùng với Luật thuế Tài nguyên năm 2009, UBTVQH, Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản dưới luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế tài nguyên, cụ thể:

Trang 19

13

Bên cạnh quy định về nội dung sắc thuế tài nguyên, để quản lý thu nộp các loại thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng thì Nhà nước đã ban hành Luật quản lý thuế

và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật quản lý thuế

Như vậy có thể hiểu: Pháp luật thuế tài nguyên là bộ phận trong hệ thống pháp

lu ật thuế ở Việt Nam là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều

ch ỉnh các quan hệ thu nộp thuế phát sinh giữa Nhà nước và các chủ thể có hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên thu ộc đối tượng chịu thuế nhằm quản lý việc khai thác, sử

d ụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước, bảo đảm cho NSNN có nguồn thu để bảo vệ, tái tạo, tìm kiếm, thăm dò tài nguyên

* Cấu trúc pháp luật thuế tài nguyên

Xét về cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật thuế nói chung đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế; các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện (quy trình hành thu) hệ thống thuế

Hiện nay, việc xác định cấu trúc pháp luật thuế tài nguyên có nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên cách tiếp cận phổ biến hiện nay là căn cứ vào nội dung quy phạm pháp luật điều chỉnh thì cấu trúc pháp luật thuế tài nguyên bao gồm hai bộ phận cơ bản

sau:

- Bộ phận pháp luật quy định về nội dung sắc thuế Bộ phận pháp luật này quy định các vấn đề như: Đối tượng nộp thuế; đối tượng chịu thuế; đối tượng không thuộc diện chịu thuế; căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế; miễn giảm thuế …

- Bộ phận pháp luật quy định về quản lý thuế: gồm các quy định về đăng ký thuế,

kê khai, khấu trừ thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế và các biện pháp quản lý thuế… Các quy phạm thuộc nhóm này có trong Luật Quản

lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành

1.4.2 Khái quát về pháp luật thuế tài nguyên ở Việt Nam

Trước năm 1990, Nhà nước Việt Nam chưa có chế độ thu thống nhất đối với hoạt động khai thác tài nguyên Do đó, về mặt tài chính Nhà nước không tập trung được hết

Trang 20

14

các nguồn thu về khai thác tài nguyên cho ngân sách nhà nước Chẳng hạn, các tổ chức,

cá nhân khai thác sản phẩm của rừng tự nhiên thực hiện chế độ nộp tiền nuôi rừng; tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên khác thì thực hiện chế độ nộp tiền khai thác tài nguyên… Để khắc phục tình trạng trên, ngày 30 tháng 03 năm 1990 Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế tài nguyên với mục đích góp phần khuyến khích việc khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lí, tiết kiệm, có hiệu quả, hướng dẫn sử dụng tài nguyên theo hướng có lợi cho nền kinh tế quốc dân, góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước Đồng thời, đảm bảo cho ngân sách nhà nước có nguồn thu ổn định để thực hiện các biện pháp bảo vệ, tái tạo, tìm kiếm, thăm dò các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, góp phần bảo đảm tính công bằng giữa các đơn vị khai thác, sử dụng tài nguyên với các đơn

vị sản xuất kinh doanh khác trong nền kinh tế

Sau hơn 8 năm thực hiện Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1990, về cơ bản đạt được các mục tiêu đặt ra, tuy nhiên, bên cạnh đó, Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1990 cũng đã bộc lộ những bất cập cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Ngày 16/4/1998, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh thuế tài nguyên sửa đổi để thay thế Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1990 Ngày 22/11/2008, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 07/2008/PL-UBTVQH sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh thuế tài nguyên trên

Tổng kết quá trình thực hiện Pháp lệnh thuế tài nguyên về cơ bản đạt được mục tiêu đặt ra khi ban hành Pháp lệnh là nhằm góp phần bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước Cụ thể:

Tài nguyên là tài sản quan trọng của quốc gia và hầu hết là tài nguyên không tái tạo được cần được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế bền vững trong mối quan hệ hài hoà với giải quyết vấn đề xã hội và môi trường trước mắt cũng như lâu dài

Trang 21

- Thuế tài nguyên là một công cụ quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường công tác quản lý, giám sát quá trình hoạt động khai thác tài nguyên theo quy định của pháp luật, được sử dụng đồng thời với các công cụ quản lý khác như cấp giấy phép thăm dò, khai thác, chế biến tài nguyên

- Với mục tiêu góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thuế tài nguyên đã đạt được những kết quả nhất định Số thu thuế tài nguyên các năm từ 2005-

2008 bình quân mỗi năm trên 23.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 15% tổng thu ngân sách nhà nước từ sản xuất kinh doanh trong nước (trong đó, thuế tài nguyên từ dầu khí khoảng 22.160 tỷ đồng, chiếm 95,5% tổng số thu thuế tài nguyên; thuế tài nguyên của các tài nguyên khác khoảng 1.040 tỷ đồng, chiếm 4,5% tổng số thu thuế tài nguyên)

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, để khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới, Pháp lệnh thuế tài nguyên cũng đã bộc lộ một số hạn chế như sau:

- Về đối tượng chịu thuế: Pháp lệnh quy định về thuế tài nguyên đối với “dầu mỏ”,

“khí đốt” Tại Luật Dầu khí đã quy định “dầu thô” và “khí thiên nhiên” đối với tài nguyên dầu, khí; đồng thời Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2008 bổ sung quy định về tài nguyên “khí than” Do đó, cần quy định đối tượng chịu thuế là “Dầu thô” thay cho “Dầu mỏ”; “Khí thiên nhiên” thay cho “Khí đốt” để đảm bảo tính đồng bộ

và bổ sung thêm “khí than” vào đối tượng chịu thuế

Pháp lệnh quy định đối tượng chịu thuế là “Thuỷ sản tự nhiên”, bao gồm các loại động vật, thực vật ở biển, sông, ngòi, hồ, đầm, phá, kênh, rạch tự nhiên Trên thực tế việc

Trang 22

16

khai thác thuỷ sản tự nhiên tại các sông, ngòi, hồ, đầm, phá, kênh, rạch thì người đánh bắt chủ yếu là nông dân đánh bắt thủ công theo thời vụ Một số ít sống bằng nghề chài lưới trên sông, hồ vẫn phải làm thêm nghề khác để đảm bảo cuộc sống và một bộ phận thuộc diện hộ nghèo; Thuế tài nguyên hầu hết chỉ thu đối với thuỷ sản tự nhiên khai thác trên biển (hải sản) Do vậy, cần quy định đối tượng chịu thuế là Hải sản tự nhiên thay cho Thuỷ sản tự nhiên để đảm bảo tính khả thi

- Về đối tượng nộp thuế: Theo Pháp lệnh thì trường hợp Bên Việt Nam tham gia doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà góp vốn pháp định bằng các nguồn tài nguyên thì doanh nghiệp liên doanh không phải nộp thuế tài nguyên đối với số tài nguyên mà Bên Việt Nam dùng để góp vốn pháp định (khi đó thuế tài nguyên trở thành vốn góp của phía Việt Nam trong liên doanh) Quy định này chưa phù hợp với tình hình thực tế và chưa phù hợp với Luật Đầu tư hiện hành, theo

đó nếu doanh nghiệp liên doanh được thành lập giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thì người nộp thuế là doanh nghiệp liên doanh; nếu các nhà đầu tư tổ chức dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh để khai thác tài nguyên thì nghĩa vụ thuế tài nguyên do các bên thoả thuận trước trong hợp đồng hợp tác kinh doanh

- Về căn cứ tính thuế: Pháp lệnh thuế tài nguyên quy định: căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác, giá tính thuế và thuế suất

Căn cứ tính thuế tài nguyên đối với dầu thô, khí thiên nhiên và khí than (sau đây gọi là dầu, khí) được thực hiện theo các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Dầu khí Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2008 chỉ quy định viện dẫn: Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải nộp các khoản thuế theo quy định của pháp luật về thuế Do đó, để đảm bảo có đủ cơ sở pháp lý, cần bổ sung quy định về thuế tài nguyên đối với dầu, khí tại văn bản quy phạm pháp luật về thuế tài nguyên

- Về sản lượng tính thuế: Theo Pháp lệnh thuế tài nguyên, sản lượng tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác Sản lượng tài nguyên thương phẩm là sản lượng tài nguyên được bán ra Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều loại

Trang 23

17

tài nguyên khai thác, chưa bán ra ngay mà đưa vào để tiếp tục sản xuất ra sản phẩm khác Khi đó, sản lượng tài nguyên tính thuế được căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ và định mức tiêu hao tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm Như vậy, sản lượng tài nguyên tính thuế trong trường hợp này không phải là sản lượng tài nguyên thương phẩm, mà là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác

- Về giá tính thuế: Pháp lệnh quy định: Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên tại nơi khai thác Trường hợp tài nguyên khai thác chưa có giá bán thì Chính phủ quy định giá tính thuế tài nguyên

Trên thực tế, do chất lượng, hàm lượng tài nguyên khai thác được là khác nhau, lượng tạp chất khai thác được cùng với tài nguyên nhiều nên việc xác định giá tính thuế tài nguyên trong trường hợp tài nguyên khai thác chưa có giá bán cũng rất khác nhau và hiện nay mỗi địa phương áp dụng một cách dẫn đến sự không thống nhất về giá tính thuế

Vì vậy, cần có quy định về nguyên tắc xác định giá tính thuế của các loại tài nguyên để các địa phương có cơ sở áp dụng thống nhất

Quá trình thực hiện Pháp lệnh cho thấy có rất ít tài nguyên được bán tại nơi khai thác mà chủ yếu tài nguyên được bán sau khi đã chế biến, sàng tuyển, phân loại, chọn lọc Hơn nữa, việc xác định “giá bán tài nguyên tại nơi khai thác” như tại tỉnh, huyện hoặc xã để xác định giá tính thuế là vấn đề gây tranh cãi trong quá trình thực hiện Vì

vậy, để khắc phục nhược điểm này, cần quy định: “Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác”

- Về miễn, giảm thuế: Theo Pháp lệnh, dự án thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư quy định tại Luật Khuyến khích đầu tư trong nước có khai thác tài nguyên (trừ dầu, khí) được giảm tối đa 50% thuế tài nguyên trong ba năm đầu kể từ khi bắt đầu khai thác Hiện tại Luật Khuyến khích đầu tư trong nước không còn hiệu lực; hơn nữa, Luật Đầu tư ban hành năm 2005 đã quy định thống nhất về chính sách ưu đãi giữa các loại hình đầu tư Do vậy, cần sửa đổi nội dung này để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật

Pháp lệnh cũng cho miễn thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng vào sản xuất thuỷ điện không hoà vào mạng lưới điện quốc gia Tuy nhiên hiện nay, có nhiều

Trang 24

- Về đăng ký, kê khai, nộp thuế: Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 và bãi bỏ các quy định về quản lý thuế trong các luật, pháp lệnh về thuế mà Luật Quản lý thuế có quy định Vì vậy, những nội dung về quản lý thuế tại Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành cần phải sửa đổi lại cho phù hợp với Luật Quản lý thuế

Qua tổng kết đánh giá tình hình thực hiện Pháp lệnh thuế tài nguyên cho thấy, Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1998 có 21 Điều, trong đó: Cần bãi bỏ 11 Điều; Cần phải sửa đổi, bổ sung 10 Điều; Đồng thời Nhà nước cần phải có chính sách quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế - xã hội Việc tăng cường công tác quản lý, thu thuế tài nguyên, góp phần tăng thu cho ngân sách để có nguồn kinh phí cho việc cải tạo môi trường; xây dựng, sửa chữa hạ tầng quanh khu vực khai thác, nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của nguồn tài nguyên quốc gia Như vậy, để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế của chính sách thuế tài nguyên hiện hành, đảm bảo xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn và các Luật có liên quan, cần thiết phải ban hành Luật thuế tài nguyên

Ngày 25/11/ 2009, Quốc Hội đã ban hành Luật Thuế tài nguyên, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2010 để thay thế cho pháp lệnh thuế tài nguyên trước đó

Trên cơ sở Luật Thuế tài nguyên đã được ban hành, ngày 14/05/2010 Chính phủ ban hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế tài nguyên Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/ 07/2010, hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế tài nguyên và hướng dẫn thi hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP của Chính phủ

Trang 25

19

Ngày 26 tháng 11 năm 2014 Quốc hội ban hành Luật số: 71/2014/QH13 sửa đổi,

bổ sung một số điều của các Luật về thuế

Ngoài ra, để điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế tài nguyên, Nhà nước còn ban hành các quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác để điều chỉnh quan hệ thuế này cho phù hợp như: Luật dầu khí

Nội dung chính của pháp luật thuế tài nguyên hiện hành:

* Đối tượng chịu thuế:

Là các loại tài nguyên thiên nhiên được phân thành các nhóm sau:

- Khoáng sản kim loại

- Khoáng sản không kim loại

- Dầu thô

- Khí thiên nhiên, khí than

- Sản phẩm của rừng tự nhiên, trừ động vật

- Hải sản tự nhiên, bao gồm động vật và thực vật biển

- Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất, trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp

- Yến sào thiên nhiên

- Tài nguyên khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định

Trang 26

* Căn cứ tính thuế: Thuế tài nguyên được tính dựa trên 3 căn cứ là: sản lượng tài

nguyên tính thuế, giá tính thuế và thuế suất

- Sản lượng tài nguyên tính thuế

+ Đối với tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế

+ Đối với tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của từng chất thu được sau khi sàng tuyển, phân loại

+ Đối với tài nguyên khai thác không bán mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm

+ Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất thủy điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không có hợp đồng mua bán điện được xác định theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận

+ Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối (m3) hoặc lít (l) theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam

+ Đối với tài nguyên được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động, không thường xuyên, sản lượng tài nguyên khai thác dự kiến trong một năm có giá trị

Trang 27

21

dưới 200.000.000 đồng thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo mùa vụ hoặc định kỳ để tính thuế Cơ quan thuế phối hợp với cơ quan có liên quan ở địa phương xác định sản lượng tài nguyên khai thác được khoán để tính thuế

- Giá tính thuế: Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng

Trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán thì giá tính thuế tài nguyên được xác định theo một trong những căn cứ sau:

- Giá bán thực tế trên thị trường khu vực của đơn vị sản phẩm tài nguyên cùng loại nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định;

- Trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định

Giá tính thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể như sau:

- Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện là giá bán điện thương phẩm bình quân;

- Đối với gỗ là giá bán tại bãi giao; trường hợp chưa xác định được giá bán tại bãi giao thì giá tính thuế được xác định căn cứ vào giá tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định;

- Đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu là giá xuất khẩu;

- Đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than là giá bán tại điểm giao nhận Điểm giao nhận là điểm được thỏa thuận trong hợp đồng dầu khí mà ở đó dầu thô, khí thiên nhiên, khí than được chuyển giao quyền sở hữu cho các bên tham gia hợp đồng dầu khí

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể giá tính thuế đối với tài nguyên chưa xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên, trừ dầu thô, khí thiên nhiên, khí than

và nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện

- Thuế suất: Biểu khung thuế suất thuế tài nguyên được quy định như sau:

Trang 28

22

Số TT Nhóm, loại tài nguyên Thuế suất (%)

6 Vôn-phờ-ram (wolfram), ăng-ti-moan (antimoan) 7-25

7 Chì, kẽm, nhôm, bô-xít (bouxite), đồng, ni-ken (niken) 7-25

8 Cô-ban (coban), mô-lip-đen (molipden), thủy ngân, ma-nhê

(magie), va-na-đi (vanadi) 7-25

9 Khoáng sản kim loại khác 5-25

II Khoáng sản không kim loại

1 Đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình 3-10

2 Đá, trừ đá nung vôi và sản xuất xi măng; sỏi; cát, trừ cát làm

4 Gờ-ra-nít (granite), sét chịu lửa 7-20

5 Đô-lô-mít (dolomite), quắc-zít (quartzite) 7-20

6 Cao lanh, mi-ca (mica), thạch anh kỹ thuật, cát làm thủy tinh 7-15

7 Pi-rít (pirite), phốt-pho-rít (phosphorite), đá nung vôi và sản xuất

8 A-pa-tít (apatit), séc-păng-tin (secpentin) 3-10

9 Than an-tra-xít (antraxit) hầm lò 4-20

10 Than an-tra-xít (antraxit) lộ thiên 6-20

13 Kim cương, ru-bi (rubi), sa-phia (sapphire) 16-30

14 E-mô-rốt (emerald), a-lếch-xan-đờ-rít (alexandrite), ô-pan (opan)

15 Adít, rô-đô-lít (rodolite), py-rốp (pyrope), bê-rin (berin), sờ-pi-nen (spinen), tô-paz (topaz) 12-25

16 Thạch anh tinh thể màu tím xanh, vàng lục, da cam; cờ-ri-ô-lít (cryolite); ô-pan (opan) quý màu trắng, đỏ lửa; phen-sờ-phát

(fenspat); birusa; nê-phờ-rít (nefrite)

12-25

17 Khoáng sản không kim loại khác 4-25

IV Khí thiên nhiên, khí than 1-30

V Sản phẩm của rừng tự nhiên

Trang 29

VII Nước thiên nhiên

1 Nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp 8-10

2 Nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện 2-5

3 Nước thiên nhiên dùng cho sản xuất, kinh doanh, trừ nước quy định tại điểm 1 và điểm 2 Nhóm này

(Ngu ồn: Khoản 1, Điều 7, Luật số: 45/2009/QH12 Luật thuế tài nguyên năm 2009)

Thuế suất cụ thể đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than được xác định lũy tiến từng phần theo sản lượng dầu thô, khí thiên nhiên, khí than khai thác bình quân mỗi ngày

Bi ểu thuế tài nguyên đối với dầu thô và khí thiên nhiên được quy định như sau:

STT Sản lượng khai thác

Thuế suất (%)

Dự án khuyến khích đầu tư Dự án khác

I Đối với dầu thô

2 Trên 20.000 thùng đến 50.000 thùng/ngày 9 12

3 Trên 50.000 thùng đến 75.000 thùng/ngày 11 14

4 Trên 75.000 thùng đến 100.000 thùng/ngày 13 19

Trang 30

2 Trên 5 triệu m3 đến 10 triệu m3/ngày 3 5

3 Trên 10 triệu m3/ngày 6 10

Ngu ồn:Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số

1084/2015/UBTVQH13 ngày 10/12/2015 c ủa Ủy ban thường vụ Quốc hội)

Thuế tài nguyên thu từ dầu, khí được nộp bằng dầu khí hoặc nộp bằng tiền, tùy theo lựa chọn của cơ quan thuế Cơ quan thuế thông báo cho tổ chức cá nhân khai thác dầu khí trước 6 tháng về nộp thuế bằng tiền hay bằng dầu khí.

Căn cứ vào quy định trên, Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên trong từng thời kỳ bảo đảm các nguyên tắc sau:

- Phù hợp với danh mục nhóm, loại tài nguyên và trong phạm vi khung thuế suất

do Quốc hội quy định;

- Góp phần quản lý nhà nước đối với tài nguyên; bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp

lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên;

- Góp phần bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước và bình ổn thị trường

*Kê khai, nộp thuế: Người nộp thuế tài nguyên thực hiện đăng ký, kê khai, tính

và nộp thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế

* Miễn, giảm thuế:

- Người nộp thuế tài nguyên gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ gây tổn thất đến tài nguyên đã kê khai, nộp thuế thì được xét miễn, giảm thuế phải nộp cho số tài nguyên bị tổn thất; trường hợp đã nộp thuế thì được hoàn trả số thuế đã nộp hoặc trừ vào

số thuế tài nguyên phải nộp của kỳ sau

- Miễn thuế đối với hải sản tự nhiên

- Miễn thuế đối với cành, ngọn, củi, tre, trúc, nứa, mai, giang, tranh, vầu, lồ ô do

cá nhân được phép khai thác phục vụ sinh hoạt

Trang 31

25

- Miễn thuế đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện của hộ gia đình,

cá nhân tự sản xuất phục vụ sinh hoạt

- Miễn thuế đối với nước thiên nhiên do hộ gia đình, cá nhân khai thác phục vụ sinh hoạt

- Miễn thuế đối với đất khai thác và sử dụng tại chỗ trên diện tích đất được giao, được thuê; đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình an ninh, quân sự, đê điều

- Trường hợp khác được miễn, giảm thuế do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định

1.4.3 Pháp luật thuế tài nguyên ở một số nước và những kết luận được rút ra cho Việt Nam

1.Afganistan 2

Đối tượng chịu thuế Tất cả các tài nguyên trên hoặc dưới bề mặt, trừ

hydrocarbons và nước

C ơ sở tính thuế: Thuế tính trên tổng doanh thu,

Thu ế suất: Từ 5% doanh thu gộp với các tài nguyên công nghiệp cho

tới 10% áp dụng với các loại đá quý

2 Ấn Độ:

Đối tượng chịu thuế Các loại tài nguyên

C ơ sở tính thuế Giá bán

Thu ế suất:

+ Đá quý: 10%; Apatit: 5% ; + Phosphat: 11%; + Asbestos:

726 rupees/tấn; + Barytes: 7,5%; Bio xit: 0,35%; + Cadmium: 10%; + Đá : 15% ; Đất sét: 21 rupees/tấn; + Chro-mit: 7,5%; Đồng: 3,2%; + Kim cương: 10%; Vàng: 0,5%; +

Đá graphit: 225 rupees/tấn; + Quặng sắt: 24 rupees/tấn; + Chì: 5% ; + Quặng măng-gan: 3%; + Nic-ken: 0,1%; Thuế TNDN: 35%

3/ Sri-lanka

Đối tượng chịu thuế Khoáng sản ở bất cứ dạng lỏng, rắn hay khí, nằm trên hay

dưới mặt đất, gồm cả muối và than bùn nhưng không tính

2-3

http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=432&TabIndex

=3&TaiLieuID=763

Trang 32

26

hydro-carbons

C ơ sở tính thuế Tính trên tổng doanh thu

Thu ế suất: áp dụng là 0,5% tổng doanh thu

4/ Trung Quốc:

Đối tượng chịu thuế Các loại tài nguyên

C ơ sở tính thuế Giá bán

Thu ế suất: + Dầu mỏ 8-30 NDT/tấn; + Khí đốt thiên nhiên 2-15

NDT/nghìn m3; + Than 0-3-5 NDT/tấn; + Các loại quặng thô quặng phi kim khác 0- 5-20 NDT/tấn hoặc m3; + Quặng thô quặng kim loại đen 2-30 NDT/tấn; + Quặng thô quặng kim loại màu 0-4-30 NDT/tấn; + Muối: Muối rắn 10-60 NDT/tấn; Muối lỏng 2-10 NDT/tấn ; Thuế TNDN: Trung ương 33%; Địa phương 3%

5/ Mông Cổ

Đối tượng chịu thuế Áp dụng với việc khai thác tất cả các loại tài nguyên thiên

nhiên trừ nước, xăng dầu và gas tự nhiên

C ơ sở tính thuế Giá bán ấn định dựa trên giá bán trong nước và quốc tế

Thu ế suất: Than đá và các tài nguyên phổ biến: 2.5% giá bán của thành

phẩm khai thác từ quyền khai thác mở được bán, đặt mua hoặc sử dụng; Với các sản phẩm khác áp dụng mức thuế suất 5.0 %; Đá quý : 5% -7.5%;

6 Myanma:

Đối tượng chịu thuế Kim loại quý, khoáng sản công nghiệp, đá

C ơ sở tính thuế Giá bán hoặc giá tham chiếu quốc tế (nếu có)

Thu ế suất: - Vàng, bạc, platin, iridi, palladi, rutherni, rhodi, tantalu,

columbi, niobi, urani, thori và các kim loại quý khác: 4% 5%;

Kẽm, đồng, chì , thiếc, Vonfram, nickel, antimony, alumini, arsen, bismuth, cadi, chromi, cobalt, mangan and và các kim loại khác: 3% - 4%:

- Khoáng sản công nghiệp và đá:1% - 3%

7 Lào:

Đối tượng chịu thuế Các loại tài nguyên

C ơ sở tính thuế Doanh thu

Trang 33

27

Thu ế suất: 3%-5% doanh thu theo hợp đồng ký khai thác doanh nghiệp

ký kết với Chính phủ; Thuế TNDN: 35%

8 Philippines:

Đối tượng chịu thuế Các loại tài nguyên;

C ơ sở tính thuế Doanh thu

Thu ế suất: 5% trên doanh thu khai thác quặng; Thuế TNDN: 32%

9 Bờ biển Ngà:

Đối tượng chịu thuế Các loại tài nguyên;

C ơ sở tính thuế tính trên doanh thu

Thu ế suất: Kim loại: 2-4% ; Kim loại quý : 1.5 -3% tuỳ loại; Đá quý,

kim cương: 5% ; Không đánh thuế với nguyên vật liệu xây dựng; Thuế TNDN: 35%

10.Nam Phi:

Đối tượng chịu thuế Các loại tài nguyên

C ơ sở tính thuế tính trên doanh thu

Thu ế suất: Từ 0,5% đến 5% trên doanh thu khai thác quặng;

Thuế TNDN: 43%

11 Zambia:

Đối tượng chịu thuế Các kim loại cơ bản: Đá quý, kim loại quý; Khoáng sản khác

C ơ sở tính thuế Tổng giá trị (giá bán FOB) tại điểm xuất khẩu từ Zambia

hoặc điểm nhận hàng trong nội địa Zambia

Thu ế suất: 3% tổng giá trị với các kim loại cơ bản được phép khai thác

theo quy định tại giấy phép; 5% tổng giá trị đá quý hoặc kim loại quý theo quy định tại giấy phép; 2% tổng giá trị với các khoáng sản khác Thuế suất có thể là thỏa thuận trong các hiệp định về phát triển

12 Boswana:

Đối tượng chịu thuế Vật ở dạng rắn, lỏng hay khí, trừ xăng dầu và nước tự nhiên

thuộc sở hữu công cộng hay tư nhân theo mục đích sử dụng quy định tại Luật sử dụng nước

C ơ sở tính thuế Dựa trên tổng giá trị thị trường của tài nguyên, được xác định

là giá bán nhận được tại mỏ

Thu ế suất: Đá quý: 10%; Kim loại quý: 5%; Các tài nguyên và sản

phẩm tài nguyên khác: 3%

Thuế tài nguyên được nộp trên một tài nguyên hoặc thương

Trang 34

28

phẩm theo hóa đơn thanh toán

13 Cônggô:

Đối tượng chịu thuế Tập hợp các yếu tố hình thành một hóa chất tự nhiên, đơn

giản hay phức tạp, vô cơ hoặc hữu cơ, thường tổn tại ở dạng chất rắn, và trong một vài trường hợp đặc biệt dưới dạng chất lỏng hoặc khí

C ơ sở tính thuế - Dựa trên doanh thu bán tài nguyên trừ đi chi phí vận

chuyển, phân tích … Giá bán phải cao hơn hoặc bằng với giá có thể nhận được từ việc bán thành phẩm cho bên thứ 3

- Các loại chi phí được giảm trừ: a) Chi phí thuê nhà xưởng phục vụ hoạt động khai thác; b) Chi phí chung cho việc bảo trì các thiết bị khai thác; c) Tiền lương, tiền công, tiền thưởng, trợ cấp cho người lao động tại khu khai thác mỏ; d) Lãi suất vốn vay từ bên thứ ba; e) Chi phí vận chuyển, bảo hiểm môi giới, hoa hồng; f) Lợi nhuận chia cho các cổ đông của doanh nghiệp; g) Lương của Hội đồng quản trị công ty liên doanh

Thu ế suất: - 0.5% áp dụng với sắt hoặc hợp kim sắt

Thu ế suất: Các mức thuế suất khác nhau đối với các loại khoáng sản

nhưng đều dưới 5% trên giá bán quặng khai thác

Trang 35

29

Đối tượng chịu thuế Các loại tài nguyên

C ơ sở tính thuế Giá bán

Thu ế suất: -Khoáng sản kim loại: 2 USD/hecta/năm;

-Khoáng sản không kim loại: 1 USD/hecta/năm

- Thuế TNDN: 30%

17 Agentina:

Đối tượng chịu thuế Các loại tài nguyên

C ơ sở tính thuế Doanh thu

Thu ế suất: - Một số tỉnh thu với mức thuế suất dưới 3% trên doanh thu

bán sản phẩm khai thác trừ đi các chi phí sàng tuyển, phân loại quặng

- Một số tỉnh không thu

-Thuế TNDN: 40%

18 Bolivia:

Đối tượng chịu thuế Các loại tài nguyên

C ơ sở tính thuế Doanh thu

Thu ế suất: Dưới 9% trên doanh thu khai thác

Thuế TNDN: 25%

19 Brazil:

Đối tượng chịu thuế Các loại tài nguyên

C ơ sở tính thuế Doanh thu

Thu ế suất: - Vàng: 3%; - Khoáng sản khác: Bio-xít, măng gan là 3%;

+ Quặng sắt, hoá chất, than và các khoáng chất khác là 2%; + Các loại đá quý là 0,2%;

- Thuế TNDN: 33%

20 Mỹ: (Bang Colorado)

Đối tượng chịu thuế

C ơ sở tính thuế Doanh thu

Thu ế suất: 2,25%/ doanh thu khai thác quặng

Trang 36

30

phóng xạ - Than đá - Khoáng sản kim loại

C ơ sở tính thuế Với các khoảng sản xuất khẩu, thuế tài nguyên phải nộp khi

giao hàng trên tàu, thuyền hoặc máy bay

Các khoáng sản được sử dụng trong nước, thuế tài nguyên được tính dựa trên giá tài nguyên thế giới

Thu ế suất: - Với quặng bôxit và quặng sắt: 3% giá trị quặng

- Các loại khác: 5% giá trị

23 Salomon:

Đối tượng chịu thuế "Khoáng sản" có nghĩa là bất kỳ chất được tìm thấy trong tự

nhiên hay trên trái đất hình thành tùy thuộc vào quá trình tự nhiên, địa chất, nhưng không bao gồm xăng dầu

C ơ sở tính thuế Dựa trên nguyên lý giá trị thị trường của tài nguyên tại nơi

khai thác

Thu ế suất: Thuế suất thuế tài nguyên do Bộ Tài chính quy định

24 Kazactan:

Đối tượng chịu thuế Các kim loại, hợp kim, đá quý, phi kim, nguyên vật liệu

C ơ sở tính thuế Tổng giá bán: được tính toán dựa vào giá trị của tài nguyên

Thu ế suất:

3,5% với Kim loại và hợp kim; 4,5% với Kim loại quý hiếm; 4% với kim loại quý như: bạc, vàng, platin thương phẩm; giá bán trung bình trong từng thời kỳ hoặc giá trao đổi kim loại

và platinoit; 3,5% Kim loại bào mòn: scandi, germani, rubiđi, xezi, catmi, indi, talli, selen, telua, hafini, reni, osimi; 3% với các nguyên tố phóng xạ: rađi, thori, urani Phí kim: Than chứa bitu, Đá tan, từ 1.5%- 2.5% Nguyên vật liệu; 7% với

Đá quý: 2% với đá trang sức: ngọc bích, lazurit, 1,5% với

Đá kỹ thuật: Kim cương,

Đối tượng chịu thuế - Sắt và hợp kim sắt, đá alumi, đá quý, ngọc, bùn, kim loại

hiếm, than bùn chữa bệnh, kim loại quý, gas

C ơ sở tính thuế - Phi kim loại, muối, nước khoáng % quota của giá trị sản

phẩm

Trang 37

31

Thu ế suất: 2% áp dụng với sắt và hợp kim sắt, đá alumi, đá quý, ngọc,

bùn, kim loại hiếm, than bùn chữa bệnh, kim loại quý, gas 6% ápdụng với phi kim loại

6% áp dụng cho đá, trừ các loại đá trang trí có quota 10%; 8% với muối

27 Hungary 3 :

Đối tượng chịu thuế - Khoáng sản nguyên liệu là các nguyên liệu có ích cho hoạt

động khoa học và kỹ thuật - Tài nguyên khoáng sản: được xác định theo các tính toán về địa chất, công nghệ khai thác

và nền công nghiệp khai khoáng

C ơ sở tính thuế là giá trị của nguyên khoáng sản nguyên liệu

Thu ế suất: 12% của giá trị thu được từ số lượng khoáng sản nguyên liệu,

khai thác trên cơ sở cấp phép chính thức - 5% của giá trị thu được từ số lượng khoáng sản khai thác nguyên vật liệu trên

cơ sở cấp giấy phép chính thức, - 0% với khai thác sâu mỏ khoáng sản rắn

- 2% của giá trị thu được từ số lượng khoáng sản khai thác nguyên vật liệu trên cơ sở chính thức cấp giấy phép

- 2% với khai thác năng lượng dưới đất Không nộp thuế tài nguyên với: Hoạt động khai thác sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường

(Ngu ồn: Tài liệu tham khảo kinh nghiệm nước ngoài về thuế với hoạt động khai thác tài

nguyên do B ộ Tài chính cung cấp kèm tờ trình Dự thảo Luật thuế tài nguyên)

Từ việc nghiên cứu, tham khảo pháp luật thuế tài nguyên ở một số quốc gia trên thế giới, chúng tôi rút ra kết luận như sau:

Th ứ nhất:Các nước khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện về nguồn tài nguyên và

chiến lược khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên để quy định phương thức đánh thuế tài nguyên khác nhau và không có một chuẩn mực chung

2-3

http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=432&TabIndex

=3&TaiLieuID=763

Trang 38

32

Th ứ hai: Trong các nước khảo sát, có nước thu thuế tài nguyên (Natural resources

tax), có nước áp dụng phân chia sản phẩm thu được (royalty); có nước áp dụng thuế suất

% theo doanh thu, có nước áp dụng thuế tuyệt đối tính trên sản lượng khai thác

Th ứ ba: Việc tham khảo pháp luật thuế tài nguyên ở các nước khác nhau cũng cần

thiết để so sánh xem xét và đánh giá hoặc điều chỉnh chính sách thuế tài nguyên của Việt Nam trong điều kiện cụ thể và bối cảnh chung của thế giới Còn việc lựa chọn pháp luật hay kinh nghiệm quốc gia nào đó áp dụng máy móc cho Việt Nam là không mang tính thông lệ và không phù hợp

Kết luận chương 1

Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, mang tính chất là một khoản thu về chuyển nhượng tài nguyên thiên nhiên quốc gia mà tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi khai thác tài nguyên, tương tự như trường hợp cơ sở kinh doanh phải trả tiền mua các loại tài nguyên khác về để sản xuất, kinh doanh Sự ra đời của Luật thuế tài nguyên với mục tiêu là một trong những công cụ tài chính, thể hiện vai trò sở hữu nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của các tổ chức, cá nhân Thông qua việc kê khai, nộp thuế tài nguyên,

cơ quan quản lý nhà nước theo dõi tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, từ

đó có thể quản lý chặt chẽ hơn, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên, bảo

vệ môi trường

Trang 39

33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THUẾ

TÀI NGUYÊN Ở QUẢNG NINH 2.3 Thực trạng pháp luật thuế tài nguyên ở Việt Nam hiện nay

2.3.1 Về hệ thống pháp luật thuế tài nguyên hiện hành

Thuế tài nguyên ở Việt Nam ra đời từ năm 1990 cho đến nay được 26 năm, đây là loại thuế gián thu, đánh vào sản phẩm khai thác chịu thuế là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, như: Khoáng sản kim loại; Khoáng sản không kim loại; Dầu thô; Khí thiên nhiên; Sản phẩm của rừng tự nhiên; Hải sản tự nhiên (động vật và thực vật); Tài nguyên thiên nhiên khác Trên thực tế, để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của đất nước, Nhà nước ta đã áp dụng một cách hợp lý việc huy động thuế với cách điều tiết thông qua giá tính thuế và thuế suất Việc điều chỉnh chính sách thuế tài nguyên cũng là yêu cầu được đặt ra thường xuyên nhằm làm cho hành lang pháp lý hoàn chỉnh và phù hợp hơn Luật thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25/11/2009 thay thế Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1998 là một bước quan trọng hoàn thiện pháp luật về thuế Tài nguyên Cùng với Luật thuế Tài nguyên năm 2009, UBTVQH, Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tương đối đầy đủ

để triển khai thực hiện, cụ thể: Ngay sau khi Luật thuế Tài nguyên ban hành; Ủy ban thường vụ Quốc hội có Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH12 ngày 19/4/2010 của về việc ban hành Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên Chính phủ ban hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên Bộ Tài chính trong phạm vi chức năng của mình cũng đã ban hành Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010 Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên và hướng dẫn thi hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP của Chính phủ

Trong quá trình thực hiện do tình hình kinh tế xã hội có thay đổi đòi hỏi các văn bản pháp luật trên được tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung thay thế cho phù hợp với tình hình mới… Cụ thể:

Trang 40

34

Ngày 16/12/2013 Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 về biểu mức thuế suất thuế tài nguyên thay thế cho Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH12 ngày 19/4/2010;

Ngày 26/ 11/2014 Quốc hội có ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 trong đó có quy định tại Điều 4: Sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 gồm các nội dung: Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 2; Sửa đổi khoản 5 Điều 9 Luật thuế Tài nguyên năm 2009 Trên cơ sở đó Chính phủ ban hành Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/ 02/2015 Hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế; Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 152 /2015/TT-BTC ngày 02/10/2015 Hướng dẫn về thuế tài nguyên (thay thế Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010 của Bộ Tài chính kể từ ngày 20/11/2015);

Ngày 10 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số: 1084/2015/UBTVQH13 về việc ban hành Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên (Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 thay thế Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội) Và mới đây Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 12/2016/TT-BTC ngày 20/01/2016 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 7 Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02/10/2015 hướng dẫn về thuế tài nguyên

Qua đây có thể đánh giá, hệ thống pháp luật về thuế tài nguyên ở Việt Nam đã thường xuyên được hoàn thiện để đáp ứng được yêu cầu thực tiễn với hàng loạt các văn bản pháp luật được sửa đổi, bổ sung hoặc được thay thế bằng văn bản pháp luật mới điều

đó cho thấy: Trong những năm qua Nhà nước Việt Nam đã rất chú trọng đến công tác thu NSNN trong khai thác tài nguyên Pháp luật thuế tài nguyên ban hành được liên tục cập nhật tình hình và sửa đổi cho phù hợp với thực tế phát sinh, phù hợp thông lệ quốc tế, nâng cao tính pháp lý và đảm bảo đạt được mục tiêu quản lý Hệ thống chính sách thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên ở Việt Nam là khá đầy đủ và đồng bộ so với thông

lệ quốc tế, đảm bảo phù hợp với quy hoạch ngành, lãnh thổ và chiến lược phát triển kinh

tế xã hội của nhà nước Ngoài thuế tài nguyên, còn có các khoản thu khác trực tiếp và

Ngày đăng: 22/03/2018, 19:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w