1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm

97 392 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm, phân tích các thiếu sót, hạn chế của pháp luật sẽ tạo điều kiện thuận lợi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT

VỀ BẢO VỆ ĐỘNG, THỰC VẬT RỪNG QUÝ HIẾM

HỌ VÀ TÊN: HOÀNG TUẤN ANH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT

VỀ BẢO VỆ ĐỘNG, THỰC VẬT RỪNG QUÝ HIẾM

HỌ VÀ TÊN: HOÀNG TUẤN ANH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ THỊ DUYÊN THỦY

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi là: Hoàng Tuấn Anh, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Viện Đại học

Mở Hà Nội Tôi xin cam đoan rằng; Toàn bộ số liệu, kết quả nghiên cứu và nội dung trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào tại Việt Nam

Tôi xin cam đoan rằng: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Ngày……tháng……năm 2016

Tác giả

Hoàng Tuấn Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Viện đào tạo sau Đại học, tập thể giảng viên khoa Luật Kinh tế - Viện Đại học Mở Hà Nội, luôn dành cho tôi những điều kiện hết sức thuận lợi để hoàn thành luận văn này

Tôi xin tỏ lòng kính trọng và chân thành biết ơn TS Vũ Thị Duyên Thủy đã nhận lời hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy phản biện, quý thầy trong hội đồng chấm luận văn đã đồng ý đọc, duyệt và đóng góp ý kiến để tôi hoàn chỉnh luận văn và nghiên cứu trong tương lai

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu: 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ ĐỘNG, THỰC VẬT RỪNG QUÝ, HIẾM 6

1.2 Bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm 14

1.2.1 Những yếu tố tác động tiêu cực đến các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm 14

1.2.2 Hậu quả của các yếu tố tác động tiêu cực đến các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm 20

1.2.3 Các biện pháp bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm 23

1.3 Pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm 25

1.3.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm [54; tr 26-33] 25

1.3.2 Nội dung của pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý, hiếm 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ ĐỘNG VẬT, THỰC VẬT QUÝ, HIẾM 33

2.1 Các quy định pháp luật về điều tra và lập Danh mục động vật, thực vật rừng quý hiếm 33

2.2 Các quy định pháp luật về bảo tồn hệ sinh thái rừng 40

2.3 Các quy định pháp luật về khai thác, chế biến, kinh doanh động vật, thực vật rừng quý hiếm 43

Trang 6

2.3.1 Các quy định đối với động vật, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 43

2.3.2 Các quy định đối với động vật, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ưu tiên bảo vệ 46

2.4 Các quy định pháp luật về nuôi, trồng động vật, thực vật rừng quý hiếm 50 2.5 Các quy định pháp luật về xuất, nhập khẩu động vật, thực vật hoang dã quý, hiếm 56

2.5.1 Quy định pháp luật về xuất, nhập khẩu động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm 56

2.5.2 Quy định pháp luật về xuất, nhập khẩu động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ 60

2.6 Các quy định pháp luật về xử lí vi phạm pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý hiếm 62

2.6.1 Trách nhiệm hành chính 62

2.6.2 Trách nhiệm hình sự 66

2.6.3 Trách nhiệm dân sự 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ ĐỘNG, THỰC VẬT RỪNG QUÝ, HIẾM 72

3.1 Yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện các quy định pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm ở Việt Nam 72

3.1.1 Đảm bảo thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững 72

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm ở Việt Nam 75

3.2.1 Các giải pháp pháp lý 75

3.2.2 Nhóm các giải pháp khác 79

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc Nam là một trong những nước có đa dạng sinh học cao thứ 16 trên thế giới, về các loài động vật, thực vật và vi sinh vật, do sự phong phú về các dạng địa hình, khí hậu Trong đó, hệ sinh thái rừng ở Việt Nam khá phong phú với các kiểu rừng kín vùng cao, rừng kín vùng thấp, rừng thưa với hệ thực vật vô cùng phong phú Bên cạnh tính đa dạng cao của các loài sinh vật trong các hệ sinh thái thì sự giảm sút ngay càng nhiều các cá thể, các loài trong tự nhiên là vấn đề đáng báo động ở Việt Nam Năm 2007, Việt Nam có 880 loài động, thực vật được ghi vào Sách đỏ Tuy nhiên, đến nay, đã có 10 loài động vật bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên Các nhà khoa học đã xác nhận trong khoảng 2 thập kỷ qua, có những loài động vật sau đây đã tuyệt chủng ở Việt Nam: Tê giác hai sừng (còn gọi là tê giác Sumatra); Lợn vòi; Cầy rái cá; Cá chình Nhật; Cá chép gốc; Cá lợ thân thấp; Hươu sao; Cá sấu hoa cà; Tê giác một sừng Hơn 100 năm qua không có ghi nhận nào về linh trưởng

bị tuyệt chủng trên toàn thế giới Tuy nhiên, Việt Nam đang có nguy cơ nhận “danh hiệu” là “quốc gia đầu tiên có linh trưởng bị tuyệt chủng”, Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) - Chương trình Việt Nam vừa cảnh báo vào cuối năm 2015 [49]

Để bảo vệ hệ sinh thái rừng và nguồn gen động, thực vật rừng cũng như sự phong phú về các loài động, thực vật rừng, Việt nam đã ban hành một hệ thống tương đối đầy đủ các quy định của về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm Hệ thống quy định về về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm được ban hành tương đối sớm và liên tục được bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với tình hình thực tế và phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Tuy nhiên, do hệ thống các quy định pháp luật về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm không tránh khỏi những thiếu sót, bất cập dẫn đến hiệu quả thực tế trong bảo vệ các loài quý, hiếm không được như mong muốn

Trang 8

Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật về bảo

vệ động, thực vật rừng quý, hiếm, phân tích các thiếu sót, hạn chế của pháp luật sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tiến trình hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm góp phần bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học của tự nhiên là một việc làm cần thiết cả về lý luận và thực tiễn

Do đó, em chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm”

làm Luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Bảo vệ môi trường là một lĩnh vực khá rộng mà đã có không ít các tác giả nghiên cứu đến Tuy vậy, số lượng tác giả nghiên cứu vấn đề bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm không nhiều Về vấn đề pháp luật đa dạng sinh học có các công trình sau:

1) Khóa luận tốt nghiệp

- Nguyễn Kim Thanh Xuân, Khía cạnh pháp lý của việc bảo vệ đa dạng sinh

học ở Việt Nam, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, năm bảo vệ: 2011

- Trần Thị Vui, Pháp luật Việt Nam về đa dạng sinh học - thực trạng và hướng

giải quyết, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, năm bảo vệ: 2013

2) Luận văn thạc sỹ:

Về pháp luật đa dạng sinh học có các công trình sau:

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà với đề tài Thực

trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về đa dạng sinh học, Trường Đại học Luật Hà nội, năm 2001

- Luận văn Thạc sỹ “Luật bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam” của tác giả

Đặng Thị Thu Hải, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2006

- Luận văn thạc sỹ luật học của Bùi Thu Hà, Pháp luật về bảo vệ động vật

hoang dã ở Việt Nam, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2015

Trang 9

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Phạm Mai Trang, “Pháp luật về kiểm

soát loài ngoại lai xâm hại tại Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà nội, năm 2015

Về pháp luật bảo vệ và phát triển rừng có các công trình sau:

- “Pháp luật bảo vệ môi trường rừng ở Việt Nam – Thực trạng và phương hướng

hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hải Âu, Trường Đại học Luật Hà nội, 2001

- "Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay" của

Nguyễn Thanh Huyền, Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2007, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà nội

- “Hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay”,

Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thanh Huyền, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà nội, 2012

3) Các công trình nghiên cứu

Liên quan đến pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, đã có một số nghiên cứu như:

- “Báo cáo rà soát,đánh giá văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo tồn

đa dạng sinh học” của tác giả Trương Hồng Quang, Viện khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) thực hiện năm 2009;

- Chuyên đề “Thành tựu và thách thức qua 5 năm thực hiện Luật Đa dạng sinh học” của GS.TS Đặng Huy Huỳnh công bố năm2013;

- Bài viết “Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, thực trạng và tồn tại trước khi có Luật Đa dạng sinh học”, của TS Nguyễn Văn Tài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 133 năm 2008;

- Bài viết “Pháp luật về đa dạng sinh học một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam”, của Thạc sĩ Huỳnh Thị Mai, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số

133 năm 2008

- “Báo cáo tóm tắt về khung pháp lý và chính sách về quản lý bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm”, Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật và Chính sách phát

Trang 10

triển bền vững phối hợp với Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Hà nội, năm 2014

Cho tới thời điểm hiện nay, chưa có luận văn, luận án nào về pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống các quy định pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm, từ đó xem xét, đánh giá về thực tiễn pháp luật và thi hành pháp luật về bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm, chỉ ra những ưu điểm, những bất cập trong quy định của pháp luật và thực thi pháp luật để trên cơ sở đó đưa ra hướng hoàn thiện quy định pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quan điểm, luận điểm của Đảng, Nhà nước về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm; các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm; Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm trong thời gian qua

5 Phạm vi nghiên cứu:

Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm và thực tiễn áp dụng nhằm đánh giá, xác định và đưa ra giải pháp để thực hiện hiệu quả pháp luật về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm tại Việt Nam Mặc dù các loài ngoại lai, trong đó có loài ngoại lai xâm hại, cũng ảnh hưởng tới các loài động, thực vật rừng quý, hiếm Tuy nhiên, với khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả sẽ không đề cập tới các vấn đề của pháp luật kiểm soát lài ngoại lai trong mối quan hệ với bảo

vệ các loài động, thực vật rừng quý, hiếm

6 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin:

Trang 11

Để nghiên cứu có hiệu quả những vấn đề do đề tài đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đây là nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận văn để đưa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm bảo tính khách quan

+ Phương pháp tiếp cận hệ thống: vấn đề nghiên cứu được đặt trong mối quan

hệ tổng quan, tiếp cận từ tổng thể đến chi tiết, từ lý luận tới thực tiễn, từ chính sách pháp luật đến thực tiễn triển khai chính sách và thi hành pháp luật

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích nhằm làm rõ các quy định của pháp luật về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm; làm rõ thực trạng tình hình thực thi pháp luật về bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá và đề xuất giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm

Ngoài những phương pháp trên, đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê, diễn dịch, quy nạp, so sánh, logic, để nghiên cứu và làm sáng tỏ nội dung của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

Cùng với phần lời nói đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm

Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ động, thực vật rừng quý hiếm

Trang 12

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ ĐỘNG, THỰC VẬT RỪNG QUÝ, HIẾM

1.1 Khái niệm động, thực vật rừng quý, hiếm

Sự phong phú và đa dạng của các loài động vật, thực vật trên trái đất là kết quả của quá trình tiến hóa qua hàng trăm triệu năm của các loài sinh vật Sự tồn tại của một loài sinh vật phụ thuộc vào nhiều điều kiện phức tạp của môi trường sống Tác nhân gây nên chọn lọc là khí hậu, nguồn thức ăn, kẻ thù, đối thủ cạnh tranh, nơi ở…Kết quả của quá trình chọn lọc là sự tồn tại và phát triển của các cá thể mang nhiều biến dị có lợi, thích nghi cao với môi trường Đồng thời là sự hạn chế sinh sản

và dẫn đến suy giảm số lượng, thậm chí dẫn đến diệt vong của các cá thể loài không thích nghi được với sự biến đổi môi trường sống Như vậy, động vật, thực vật hoang

dã giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với cân bằng hệ sinh thái Chúng bao gồm các loài động, thực vật hoang dã thông thường và động, thực vật hoang dã quý hiếm Trong cuộc sống hàng ngày, những từ “quý”, “hiếm” cũng được nhắc đến nhiều trong đời sống con người “Quý” dùng để chỉ những thứ, những vật có giá trị hoặc những thứ cần được coi trọng, cần được bảo vệ “Hiếm” được nhắc đến khi nói tới những thứ, những vật ít có, ít gặp, ít thấy Theo Từ điểm bách khoa toàn thư của Viện từ điển học và Bách khoa toàn thư thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam [57] thì: “Động, thực vật quý hiếm được giải nghĩa: trong từng khu vực hoặc trong lãnh thổ của từng nước đều có những loài động thực vật được xếp vào loại động, thực vật quý hiếm Do giá trị đặc biệt về kinh tế, về thẩm mĩ hoặc về khoa học mà chúng đã bị khai thác quá mức, hoặc do môi trường sống như rừng, đất ngập nước, vv bị huỷ hoại, hoặc đối với một số loài có vùng phân bố hẹp thì do chúng không thích nghi được với điều kiện môi trường biến đổi và không đủ sức cạnh tranh giữa các loài và cả với các loài nhập nội nên số lượng của chúng giảm dần và

Trang 13

đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt nếu không có biện pháp tích cực bảo vệ chúng” và

“Chim, thú quý hiếm là những loài chim, thú có giá trị kinh tế, khoa học, thẩm mĩ…, số lượng còn rất ít do bị săn bắn quá mức, có nguy cơ tuyệt chủng”

Luật Bảo vệ và phát triển rừng 1992 và các văn bản hướng dẫn thi hành có sử dụng khái niệm “động vật rừng, thực vật rừng quý, hiếm” và có đưa ra khái niệm

“động vật rừng, thực vật rừng quý, hiếm” tại Điều 1 Nghị định 18-HĐBT ngày 17 tháng 1 năm 1992 của Hội đồng Bộ trường Quy định danh mục thực vật rừng, động

vật rừng quý, hiếm và chế độ bảo vệ Theo đó, “Thực vật rừng, động vật rừng quý,

hiếm gồm những loại có giá trị đặc biệt về khoa học, kinh tế và môi trường, có số lượng, trữ lượng ít hoặc đang có nguy cơ bị diệt chủng

Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành không còn sử dụng khải niệm “thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm” nữa mà thay thế bằng khái niệm “thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý, hiếm” Theo Điều 3

khoản 14 Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 thì “Loài thực vật rừng, động vật rừng

nguy cấp, quý, hiếm là loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học

và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng thuộc Danh mục các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” So sánh khái

niệm này với khái niệm “thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm” được quy định tại

Điều 1 Nghị định 18-HĐBT ngày 17 tháng 1 năm 1992 của Hội đồng Bộ trường trước đây thì không có sự khác biệt về tiêu chí để xác định loài thực vật rừng, động động vật rừng “quý, hiếm” hoặc “nguy cấp quý, hiếm” Tuy nhiên, khi sử dụng cụm

từ “nguy cấp quý, hiếm” thì các nhà làm luật đã nhấn mạnh tính cấp thiết của việc xây dựng và thực hiện các quy định “riêng” để bảo vệ các loài này

Tại Điều 3 mục 20 Luật Đa dạng sinh học 2008 cũng có quy định: “Loài nguy

cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là loài hoang dã, giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặc văn hóa - lịch sử mà số lượng còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng”

Trang 14

So sánh với khái niệm “Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 thì khái niệm “Loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” của Luật Đa dạng sinh học 2008 có một số khác biệt sau đây:

Thứ nhất, các loài thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ có

phạm vi đối tương rộng hơn, bao gồm tất cả các loài động, thực vật hoang dã (trong

đó có thực vật và động vật rừng) và “giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu”

Thứ hai, Cấp độ bảo vệ của pháp luật đối với “loài nguy cấp, quý, hiếm được

ưu tiên bảo vệ” cao hơn so với các “loài nguy cấp, quý, hiếm” vì khái niệm này xác định “ưu tiên bảo vệ”

Như vậy, xét về các khái niệm này thì chúng ta có 03 khái niệm: “loài quý, hiếm”, “loài nguy cấp, quý, hiếm” và “loài nguy cấp, quý, hiếm ưu tiên bảo vệ” Các văn bản pháp luật hiện hành không còn sử dụng khái niệm “loài quý, hiếm” nữa

mà chỉ còn sử dụng hai khải niệm “loài nguy cấp, quý, hiếm” và “loài nguy cấp, quý, hiếm ưu tiên bảo vệ” với mức độ ưu tiên bảo vệ khác nhau Do đó, phụ thuộc vào nội dung trình bày, tác giả luận văn sẽ sử dụng những khái niệm tương ứng Mặc dù có sự khác biệt nhất định nhưng cả ba khái niệm này đều có những đặc điểm chung, đó là:

tế và môi trường

Các loài động vật, thực vật hoang dã, trong đó có động vật, thực vật rừng quý, hiếm, là một bộ phận cấu thành nên đa dạng sinh học nên các giá trị của đa dạng sinh học cũng là những giá trị của các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm

Các giá trị này có những biểu hiện sau đây:

+) Giá trị về kinh tế:

Một số lợi ích từ các loài động thực vật là có thể đong đếm được bằng giá trị kinh tế

Trang 15

Theo ước tính có khoảng 80.000 loài thực vật có thể ăn được, trong số đó khoảng dưới 20 loài đang cung cấp 90% lương thực cho toàn thế giới Nếu những loài chưa được tận dụng còn lại được dự trữ hay bảo tồn thì con người sẽ có đủ thức

ăn cho số dân đang không ngừng tăng lên [40]

Mặc dù hầu hết các nguồn thực ăn của con người hầu hết được đáp ứng bởi các nguồn từ động vật nuôi, thực vật và cá, tuy nhiên, các loài động thực vật hoang

dã cũng là nguồn dinh dưỡng quan trọng của con người 80% nguồn protein trong thức ăn hàng ngày của những người dân bản địa và những người mới đến định cư ở Huallaga Central Region tại Peru có nguồn gốc từ các loài động vật hoang dã Ở phía Bắc của Alaska năm 1974, chỉ những người dân Anaktuvuk Pass tiêu thụ trung bình 755 kg thịt từ các loài động vật hoang dã, chiếm khoảng 88% nhu cầu dinh dưỡng trong bữa ăn của họ Ở Nicaragoa, động vật hoang dã cung cấp tới 98% lượng thịt và cá tiêu thụ của người Miskito Indians Nghiên cứu về hoạt động săn bắn và tiêu thụ thịt động vật tại Sarawak ước tính tổng lượng thịt khoảng 18.000 tấn Thậm chí cả ở các nước công nghiệp hoá như Hoa Kỳ, môn thể thao săn bắn các loài động vật móng guốc cỡ lớn ước tính khoảng 150.000 tấn thịt mỗi năm Rất nhiều các loài động vật hoang dã được sử dụng làm thức ăn, cung cấp rất nhiều các dưỡng chất cần thiết như protein, chất béo và dầu Nguồn protein động vật rồi rào nhất là từ các động vật cỡ trung bình cho đến cỡ lớn Những người đi săn cũng thường săn bắn các loài thú hơn là chim và bò sát [38]

Nhiều loài sinh vật tưởng chừng như vô dụng cũng đang bắt đầu cho thấy những lợi ích quan trọng trong ngành nông nghiệp Những người nông dân đang sử dụng côn trùng và các loài động vật ăn sâu bọ để tiêu diệt sâu bọ gây hại cho mùa màng cũng như sử dụng các giống cây trồng chứa các độc tố tự nhiên đẩy lùi các loài côn trùng gây hại Chúng được gọi là thiên địch và trong nhiều trường hợp, đây

là biện pháp thay thế không những an toàn, hiệu quả mà còn thân thiện với môi trường và ít tốn kém hơn các loại thuốc hóa học tổng hợp

Trang 16

Các loài động, thực vật hoang dã quý, hiếm hoặc có nguồn gốc từ động, thực vật hoang dã còn mang lại nhiều lợi ích cho ngành công nghiệp như cung cấp lông,

da (các loài thú và bò sát như trâu, bò, cừu cá sấu…), cung cấp mật hay sáp (các loài côn trùng), các loài sản phẩm quý như ngọc trai…

+) Giá trị về khoa học:

Hiện có khoảng 10 tới 15 triệu loài sinh vật sinh sống trên hành tinh của chúng

ta [40] Đây là nguồn tài nguyên sinh học lớn cho các nhà nghiên cứu khoa học nhằm phục vụ mục đích của con người

Về mặt y, dược học, hiện nay, đã có 119 chất hoá học tinh chế từ 90 loài thực vật có mạch bậc cao được sử dụng trong dược học hiện đại trên toàn thế giới và ngày càng phát hiện thêm nhiều cây con có khả năng cứu loài người khỏi các bệnh tật hiểm nghèo

Nền y học dân tộc dựa chính vào việc sử dụng các cây cỏ, là cơ sở của việc bảo vệ sức khoẻ ban đầu cho 80% dân các nước đang phát triển Mặc dù cây cỏ hoang dã đã được sử dụng rộng rãi trong việc chữa bệnh trên khắp thế giới nhưng mới chỉ có 2 % của 270.000 loài thực vật có mạch bậc cao được nghiên cứu một cách đầy đủ, trong đó có nhiều loài có triển vọng Ước tính việc buôn bán các loại thuốc có nguồn gốc từ cây cỏ thiên nhiên và từ vi sinh vật trên toàn thế giới thu lợi khoảng 40 tỷ đôla Mỹ/năm [38]

Qua quá trình chọn lọc tự nhiên để sinh tồn, các loài động, thực vật có những khả năng mà con người chưa biết tới Thông qua việc tiến hành nghiên cứu các loài động, thực vật hoang dã về các vấn đề như hình thể, cơ chế vận động, tính chất lý, hóa học Con người chế tạo ra các sản phẩm có tính ưu việt cao, có nhiều lợi ích cho con người, ví dụ như [41]:

Tàu cao tốc của Nhật Bản không chỉ gây ấn tượng bởi tốc độ, độ bền mà nó còn gây ấn tượng bởi thiết kế hiện đại, tinh tế Tuy vậy, ít người biết rằng chiếc tàu này được lấy cảm hứng từ một loài động vật hoang dã, đó là chim bói cá Để được

Trang 17

giảm thiểu tiếng ồn tối đa, các kỹ sư thiết kế đã thiết kế đầu tàu dài và hẹp, giống như cái mỏ của chim bói cá

Sau khi vất vả gỡ những quả gai móc trên lông con chó của mình, kỹ sư người Thụy Sĩ, George de Mestral nảy ra ý tưởng phát minh khóa dán băng móc nhỏ, được gọi là Velcro

Được phát triển tại Đại học Massachusetts, Geck Skin là một loại vật liệu được

mô hình hóa sau khi các nhà khoa học phân tích cấu trúc đặc biệt của chân tắc kè, đây là một loại vật liệu cực kỳ mạnh mẽ, có khả năng bám dính, giữ được trọng lượng khoảng 317 kg trên bề mặt mịn màng

Chiếc xe ô tô Mercedes-Benz bionic ra đời vào năm 2005 là một trong những phương tiện hiệu quả nhất do hình thước và hình dạng của mình Tuy vậy, hiếm ai biết rằng thiết kế của chiếc xe này là bản sao hình dạng khí động học của cá hộp vàng Được phát triển bởi Đại học Michigan cho một dự án quân sự, chiếc máy bay

do thám tự động điều khiển từ xa này lấy cảm hứng từ loài dơi, động vật chuyên săn đêm và có đôi tai cực kỳ thính

Lấy cảm hứng từ màu ánh kim của cánh bướm, màn hình tinh thể của sách điện tử phản ánh sáng này giúp bảo vệ con mắt của người dùng, chống mỏi mắt, nhức mắt vô cùng hiệu quả

Lấy cảm hứng từ da cá mập, cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ - NASA đã thiết

kế tàu thuyền có những vệt gờ, tăng tốc độ và khả năng chịu đựng va đập của tàu thuyền lên nhiều lần

Một số loài nhện có khả năng tuyệt vời để bảo vệ tấm mạng nhện mà mình kỳ công xây dựng với một lớp phủ phản chiếu tia cực tím Bằng cách này, những con chim sẽ không bay vào mạng nhện và phá nát nó Kỹ sư người Đức đã lấy cảm hứng sáng tạo từ loài nhện và phát minh ra kính Ornilux, loại kính được ép sợi phản chiếu tia UV mắt người không nhìn thấy nhưng chim lại nhận biết rất rõ, giúp những con chim không bị đâm đầu vào kính và chết oan uổng

Trang 18

Để tăng hiệu suất của đèn LED, làm cho bóng đèn sáng hơn, các nhà khoa học

đã thiết kế hình dạng của bóng đèn giống như thân dưới phát sáng của đom đóm Thật đáng ngạc nhiên, bóng đèn sáng hơn gấp 55%

+) Giá trị về môi trường

Các loài thực vật có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà khí hậu địa phương, khí hậu vùng và ngay cả khí hậu toàn cầu Trong khuôn khổ địa phương, cây cối cung cấp bóng mát và khuyếch tán hơi nước làm giảm nhiệt độ không khí khi thời tiết nóng nực Cây cối trong vườn, trong công viên còn có tác dụng chắn gió và hạn chế sự mất nhiệt từ các toà nhà lớn trong điều kiện khí hậu lạnh giá Nhiều loại sinh vật hoang dã lưu giữ nguồn gen những đặc tính quý giá như:

- Sức chống chịu đối với sâu bệnh cao;

- Chống chịu đối với sự thay đổi kỹ thuật trồng trọt (ví dụ như phản ứng đối với thuốc trừ sâu);

- Có các loại gen có năng suất cao hơn (ví dụ kích thước của hạt thóc lớn hơn…);

- Có các đặc tính về chất lượng (ví dụ như sự thay đổi về lượng protein hay dầu) Các loài cây con mà chúng ta đang nuôi trồng luôn cần được bổ sung những tính trạng di truyền mới lấy từ các cây, con hoang dã là những bà con gần gũi sống trong thiên nhiên bằng cách lai giống Trong điều kiện thiên nhiên, các loài hoang

dã đã tiếp tục được biến hoá, thay đổi để thích nghi với những điều kiện sống mới như thay đổi khí hậu và có khả năng chống chịu với những loại bệnh mới Các loài

đó là nguồn cung cấp các gen mới để cải tạo các cây, con nuôi trồng của con người Tiềm năng của ĐDSH được đánh giá một cách rõ ràng qua ví dụ sau: Vào năm

1970, một sinh viên người Mêhicô khám phá được một giống ngô hoang dã ở miền trung Jalisco, có tên khoa học là Zea diplopirennis Giống ngô mới này kháng được nhiều bệnh của ngô và là giống ngô duy nhất trong số các loại ngô được trồng có khả năng sinh trưởng lâu năm Gen của giống ngô này được ghép vào giống ngô

Trang 19

thuần chủng, có khả năng tăng sản lượng ngô trồng trên thế giới đạt giá trị hàng tỷ đôla Loài ngô này đã được phát hiện kịp thời trước khi bị phá đi làm nương rẫy trong khi chỉ còn sót lại khoảng 10 ha [38]

Với những nguy cơ đe dọa các loài động vật, thực vật hoang dã, các giá trị về kinh tế, khoa học, môi trường của chúng sẽ bị mất đi vĩnh viễn, nếu những loài này

bị tuyệt chủng và sẽ có các loài sinh vật bị mất đi trước lúc chúng ta biết được giá trị của chúng

Thứ hai, các loài động vật, thực vật có số lượng ít hoặc rất ít hoặc có nguy

cơ tuyệt chủng cao trong tự nhiên

Việc đánh giá số lượng “ít hoặc rất ít hoặc có nguy cơ tuyệt chủng” của các

loài động vật, thực vật nhìn chung tương đối phức tạp Tất cả các loài, các cá thể sống đều là một bộ phận của mạng lưới phức tạp, cân bằng một cách tinh vi gọi là sinh quyền Sinh quyền trên trái đất được tạo bởi vô số các hệ sinh thái – bao gồm các loài động vật, thực vật và các yếu tố phi sinh vật khác có mối tương tác hữu cơ với nhau Khó có thể biết hết được những tác động qua lại giữa các yếu tố này với nhau nhưng có thể thấy rằng, sự suy giảm hoặc mất đi một loài, một yếu tố sẽ gây nên phản ứng dây chuyền, làm ảnh hưởng tới rất nhiều loài khác trong hệ sinh thái

và sinh quyển Cho tới nay, vẫn chưa có tiêu chí rõ rang, thống nhất để đánh giá thế

nào là “loài động vật, thực vật có số lượng ít hoặc rất ít trong tự nhiên” Có thể hiểu chung nhất về loài động vật, thực vật có số lượng ít hoặc rất ít trong tự nhiên”

là những loài mà số lượng ở thời điểm nào đó bị suy giảm một cách đáng kể so với

số lượng của nó tồn tại trong hệ sinh thái với điều kiện bình thường

“Loài động vật, thực vật có có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên” có thể hiểu là những loài có nguy cơ biến biến mất trong tự nhiên Theo Điều 3 Luật Đa

dạng sinh học 2008 thì “Loài bị đe dọa tuyệt chủng là loài sinh vật đang có nguy cơ

bị suy giảm hoàn toàn số lượng cá thể” và “Loài bị tuyệt chủng trong tự nhiên là

loài sinh vật chỉ còn tồn tại trong điều kiện nuôi, trồng nhân tạo nằm ngoài phạm vi phân bố tự nhiên của chúng”

Trang 20

Như vậy, “Loài động vật, thực vật có có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên”

là loài sinh vật đang có nguy cơ suy giảm hoàn toàn số lượng cá thể trong tự nhiên

1.2 Bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm

Từ khi sự sống bắt đầu hình thành trên Trái đất, rất nhiều loài sinh vật đã xuất hiện và biến mất do những thay đổi về các điều kiện vật lý cũng như sinh học của tự nhiên Nhiều người cho rằng việc các loài biến mất là một phần tất yếu của quy luật

tự nhiên Thế nhưng nhiều bằng chứng khoa học đã chỉ ra rằng tốc độ tuyệt chủng của các loài trong thời gian gần đây nhanh hơn gấp nhiều lần so với trước kia Hiện tại, có khoảng 1.556 loài được xác định là có nguy cơ tuyệt chủng hoặc gần tuyệt chủng và cần được bảo vệ Các khu rừng nhiệt đới – nơi trú ẩn của một nửa

số sinh vật hiện tồn tại trên trái đất cũng đang bị thu hẹp hàng trăm nghìn ha mỗi năm Vô số loài đã biến mất khi môi trường sống của chúng bị phá hủy Nói cách khác, tốc độ tuyệt chủng của các loài hiện nay không hoàn toàn là do tự nhiên nữa [40] Việc bảo tồn sự đa dạng của các loài động thực vật trong tự nhiên, trong đó có các loài động vật, thực vật quý, hiếm, đang là vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết

Để có thể đề ra những biện pháp bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm, cần xem xét những nguyên nhân, những yếu tố tác động tiêu cực tới đời sống của các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm và hậu quả của nó đối với các loài này và đối với đời sống của con người

Theo điều 3 khoản 1 Luật Bảo vệ môi trường 2014, “Môi trường là hệ thống

các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” Như vậy, các yếu tố vật chất tự nhiên là nhóm yếu tố tạo nên môi trường Sự xuất hiện và tồn tại của nó không phụ thuộc vào sự xuất

Trang 21

hiện, ý muốn chủ quan của con người Các yếu tố vật chất tự nhiên chính bao gồm: đất, nước, ánh sáng, không khí, nhiệt độ…

Môi trường tự nhiên luôn vận động và không ngừng thay đổi Những thay đổi này sẽ tác động tới các loài động vật, thực vật rừng nói chung, các loài quý, hiếm nói riêng ví chính môi trường tự nhiên chính là nới cư trú cửa chúng

Trong các yếu tố môi trường, có những yếu tố cần thiết cho đời sống của sinh vật, cũng có những yếu tố tác động có hại Tập hợp các yếu tố tác động cần thiết cho sinh

vật mà thiếu nó sinh vật không thể tồn tại được, gọi là các điều kiện sinh tồn của sinh

vật. Các yếu tố cơ bản như: đất, nước, ánh sáng, không khí, nhiệt độ… nếu thuận lợi sẽ

là những yếu tố thúc đẩy quá trình phát triển của các loài động vật, thực vật rừng Ngược lại, những diễn biến bất lợi của các yếu tố cơ bản này sẽ ảnh hưởng tới hệ sinh thái và có thể làm cho những loài động, thực vật bị diệt chủng [48]

Trái đất được hình thành và trải qua nhiều cuộc kiến tạo, các lục địa vỡ ra, sát nhập và hình thành nên các đại dương… Khí hậu cũng đổi thay nhiều lần, nhiều chu

kỳ băng giá rồi hâm nóng toàn cầu xảy ra, nước biển dâng lên sụt xuống không biết bao nhiêu lần Cứ mỗi lần biến đổi như vậy, một số chủng loại sinh vật bị tuyệt chủng, nhưng đồng thời một số khác được tiến hóa nẩy sinh nhiều chủng loại mới, cấu trúc tiến bộ hơn, để thích ứng môi trường mới Chủng loại được đa dạng hóa, càng về sau càng phong phú [35] Chẳng hạn như sự xuất hiện và diệt chủng của loài khủng long là một ví dụ

Khoảng 230 triệu năm trước, khủng long (Dinosaurs) xuất hiện từ loài bò sát (Reptiles), tuy nhiên vào khoảng 200 triệu năm trước một số chủng loại khủng long

bị tuyệt chủng, một số loài khủng long khác sống sót chiếm ưu thế trong loài động vật trên trái đất Động vật có vú ra đời bắt đầu với những động vật nhỏ như chuột

mỏ nhọn

Khoảng 65 triệu năm trước, một thiên thạch khổng lồ có đường kính 10 km bắn vào trái đất mà dấu vết là hố Chisxulub còn hiện nay Các mảnh vỡ, bụi và hơi

Trang 22

nước che khuất mặt trời tối đen ngăn cản quang hợp Các động vật to xác và khủng long không cánh bị tuyệt chủng [35]

Môi trường thay đổi như hạn hán, lũ lụt, biến đổi khí hậu và thiên tai khác cũng có thể tác động không nhỏ tới đến sự tồn tại các loài động, thực vật hoặc làm mất đi hoặc sẽ làm cho sinh thái mỗi loài phải tự tiến hóa, phát triển để thích nghi với môi trường mới

Một ví dụ là sự tăng nhiệt độ trái đất do biến đổi khí hậu Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc có nguy cơ tuyệt chủng Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C nữa Sự mất mát này là do mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa, do nạn phá rừng và do nước biển ấm lên Các nhà sinh vật học nhận thấy đã có một số loài động vật di cư đến vùng cực để tìm môi trường sống có nhiệt độ phù hợp Ví dụ như là loài cáo đỏ, trước đây chúng thường sống ở Bắc Mỹ thì nay đã chuyển lên vùng Bắc cực [37]

Phụ thuộc vào đặc điểm sinh thái của mối loài và mối quan hệ của nó với các loài khác mà sự tồn tại về số lượng của các loài là khác nhau Có thể thấy, tác động của các yếu tố sinh thái lên sinh vật rất đa dạng Một số yếu tố chủ đạo ảnh hưởng mạnh mẽ và quyết định lên hoạt động sống của sinh vật, số khác ảnh hưởng yếu hơn, ít hơn Một số ảnh hưởng nhiều mặt, số khác chỉ ảnh hưởng một số mặt nào đó của quá trình sống Về mặt số lượng, người ta chia những tác động của các yếu tố sinh thái thành các bậc: i) Bậc tối thiểu (minimum): nếu yếu tố sinh thái đó thấp hơn nữa thì sẽ gây tử vong cho sinh vật; ii) Bậc tối ưu (optimum): tại điều kiện này hoạt động của sinh vật đạt tối ưu; iii) Bậc tối cao (maximum): nếu yếu tố sinh thái đó cao hơn nữa thì sẽ gây tử vong cho sinh vật

Các yếu tố sinh thái tác động lên sinh vật hoặc loại trừ chúng khỏi vùng đang sống nếu như chúng không còn thích hợp, còn trong trường hợp bình thường ảnh hưởng đến các hoạt động sống của sinh vật như sinh sản, sinh trưởng, di cư… và

Trang 23

chính các yếu tố sinh thái đã làm cho các sinh vật xuất hiện các thích nghi về tập tính, về sinh lý, về hình thái Các loài sinh vật muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện môi trường nhất định, đều phải có độ thích nghi nhất định [45]

Mối quan hệ giữa các loài động, thực vật trong tự nhiên là hết sức chặt chẽ, là một trong những yếu tố có tác động đến đời sống, sự tồn tại, phát triển của chúng

Vì thế, khi một loài động vật nào đó bị săn bắn đến mức tận diệt, thì các loài động vật khác cũng bị ảnh hưởng theo Ví dụ như sự tuyệt chủng của một loài động vật săn mồi sẽ dẫn đến kết quả là sự phát triển quá mạnh của những loài động vật ăn cỏ khác, dẫn đến sự suy giảm trong quần thể thực vật ở hệ sinh thái đó Ngược lại, sự suy giảm của các loài động vật ăn cỏ sẽ dấn đến sự sụt giảm trong số lượng của các loài động vật ăn thịt, bởi không còn đủ thức ăn Ví dụ, rất nhiều loài động vật, như voi chẳng hạn, chịu trách nhiệm rất lớn trong việc phát tán hạt cây, vì thế mà khi voi

bị tuyệt chủng ở một khu vực nào đó, thì thực vật ở nơi đó kém phát triển và sự đa dạng sinh học giảm đi Những thay đổi trong quần thể thực vật ở nơi đó về lâu dài

sẽ ảnh hưởng đến các loài động vật khác trong chuỗi thức ăn – và vòng tuần hoàn suy giảm này sẽ cứ thế tiếp diễn [56]

Có thể thấy, môi trường tự nhiên và mối quan hệ giữa các loài trong tự nhiên

có thể ảnh hưởng tiêu cực đến các loài động thực vật quý, hiếm Tuy nhiên, những

sự biến đổi của tự nhiên diễn ra từ từ, có những trường hợp với thời gian rất dài (trường hợp nóng lên hoặc lạnh đi của trái đất chẳng hạn) và đồng thời tự nhiên cũng sẽ có những “giải pháp” để dung hòa các ảnh hưởng đó, ví dụ thông qua biến đổi và thích nghi của các loài Trên thực tế, mối đe dọa nghiêm trọng hiện nay đối với các loài động vật, thực vật quý, hiếm (trong đó có động vật, thực vật rừng quý, hiếm) là do sự tác động của con người

Những hành vi của con người được coi là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến sự tồn tại của các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Một số

Trang 24

dạng hành vi cơ bản tác động tiêu cực đến các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm, bao gồm:

Một là, hành vi khai thác rừng bừa bãi, săn bắt, buôn bán, kinh doanh trái phép các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm

Rừng được coi là nơi cưu trú và sinh sống của các loài động vật, thực vật nói chung và các loài động vật, thực vật quý, hiếm nói riêng Rừng giống như một ngôi nhà bao bọc sự an toàn, bảo vệ sự sống cho tất cả các loài động vật, thực vật bởi rừng không chỉ cung cấp nơi ở mà còn cung cấp nguồn dinh dưỡng, thức ăn cho các loài thực vật, động vật Các loài động vật, thực vật khó có thể sống sót nếu mất đi môi trường sống của mình

Tình trạng khai thác rừng bừa bãi đã làm cho các loài động vật, thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng

Trong những năm vừa qua sự mất mát về các loài, sự suy thoái của các hệ sinh thái tự nhiên trên thế giới, nhất là rừng nhiệt đới đã diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng thấy, mà nguyên nhân chính là do tác động của con người Đến nay đã có hơn 40% diện tích rừng nhiệt đới nguyên thuỷ bị huỷ diệt, trung bình hàng năm khoảng 6 - 7 triệu hecta đất trồng trọt bị mất khả năng sản xuất do nạn xói mòn

Ở Việt nam, các hoạt động của con người như chặt phá rừng (kể cả rừng ngập mặn), đốt rừng làm rẫy, chuyển đổi đất rừng sang sử dụng vào các mục đích khác… làm suy giảm và mất đi nơi sinh sống của các loài động vật, thực vật Những vùng

bị mất rừng đã mất đi hoặc thu hẹp lại môi trường sống hay nơi cư trú của các loài Việc mất đi một diện tích rừng có chất lượng cao từ trước đến nay là một nguyên nhân cơ bản làm suy giảm đa dạng sinh vật trên cạn ở Việt Nam, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loài bị diệt chủng hoặc có nguy cơ bị diệt chủng [43] Các loài động vật, thực vật quý, hiếm có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường Chính bởi các giá trị này mà chúng trở thành có giá trị lớn trên thị trường

- có thể là thị trường hợp pháp hoặc bất hợp pháp nên các loài động vật, thực vật quý, hiếm trở thành đối tượng của hoạt động săn bắt, buôn bán, kinh doanh trái phép

Trang 25

Ngoài mục đích kinh doanh, nhu cầu “không chính đáng” của người dân về các món ăn, đồ uống chế biến từ động vật, thực vật rừng quý, hiếm hoặc hoạt động nuôi nhốt vì những mục đích khác nhau như nhằm thu được một số sản phẩm từ chúng (nuôi gấu lấy mật) hoặc nuôi, trồng động thực vật làm cảnh cũng như nhu cầu

sử dụng các sản phẩm từ động vật, thực vật rừng quý, hiếm cũng làm gia tăng nhu cầu khai thác rừng, săn bắt, buôn bán, kinh doanh trái phép các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm

Từ đây, các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm bị khai thác quá mức và từ

đó có loài đã rơi vào tình trạng tuyệt chủng hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng

Hai là, Hành vi du nhập loài ngoại lai

Theo khoản 18 Điều 3 Luật ĐDSH năm 2008, loài ngoại lai là loài xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn không phải là môi trường sống tự nhiên của chúng mà được

du nhập từ nơi khác vào Đặc điểm này trái ngược hoàn toàn với loài bản địa vốn là loài

tạo nên quần xã sinh vật cơ bản nhất của hệ sinh thái tại quốc gia đó, đã thích nghi lâu đời với điều kiện tự nhiên của một khu vực, một nước, hay một vùng sinh thái

Con đường du nhập của loài ngoại lai rất phong phú và đa dạng mà chủ yếu thông qua hai con đường chính: du nhập tự nhiên và du nhập có sự can thiệp của con người [47]

Du nhập tự nhiên là con đường du nhập thông qua khả năng di chuyển nhằm phát tán giống nòi và mở rộng khu vực phân bố như: sự di chuyển chủ động của các động vật di động có khả năng vận động; sự phán tán hạt phấn, bào tử, hạt cây nhờ gió, nước của thực vật; sự dịch chuyển bị động của vi sinh vật, hạt giống nhờ sự di trú của các động vật…Nói cách khác khả năng du nhập tự nhiên của sinh vật là rất đa dạng Các quá trình du nhập này diễn ra qua hàng triệu năm tạo nên sự phân bố sinh vật khá phức tạp, mang tính chọn lọc, đấu tranh sinh tồn một cách tự nhiên trên trái đất

Con đường du nhập có sự can thiệp của con người diễn ra phức tạp hơn Bắt đầu bằng việc khai khẩn các vùng đất mới, con người đã làm tác nhân quan trọng trong việc vận chuyển và du nhập các loài sinh vật Bên cạnh đó cùng với sự phát

Trang 26

triển của giao thông vận tải và hoạt động thương mại giữa các nước, các địa phương, con người đã mang theo một cách vô tình hay hữu ý các loài sinh vật từ nơi này đến nơi khác, thậm chí đến cả những vùng rất xa quê hương của chúng Nhiều loài khác lại được du nhập cho một mục đích hẹp như nghiên cứu khoa học, làm cảnh rồi sau đó được phát tán ra ngoài Như vậy, con người cũng đã chủ động du nhập nhiều loài sinh vật nhằm phục vụ cho các mục đích như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp…Thông qua những con đường khác nhau đó, các loài sinh vật đã bị (hoặc được) đem ra khỏi môi trường sống của chúng, di chuyển đến một môi trường sống mới và trở thành sinh vật ngoại lai [53] Việc di nhập nhiều giống mới một cách tràn lan có thể là nguy cơ tiềm tàng làm các giống bản địa bị mai một Tác hại ngay lập tức có thể thấy do một số trường hợp phát triển tự phát, nhiều loài sinh vật đưa vào nước ta bằng nhiều con đường không qua kiểm dịch, thiếu hiểu biết và chưa có thử nghiệm khoa học nên một số loài như ốc bươu vàng (Pomacea spp.) từ khi được di nhập vào Việt Nam đã phát triển thành nạn dịch phá hoại lúa nghiêm trọng Tại vùng Đồng Tháp Mười và vườn Quốc gia U Minh Thượng, các loài thực vật hoang dại đã được di nhập vào đây như cây Trinh nữ (Mimosa sp.), cây Mai dương (Mimosa figo), cây dây leo (Centrosoma pubescen) thuộc họ Fabaceae; cỏ Lông tây (Brachiara mutica) thuộc họ Poaceae, cây leo Mikunia microcantha thuộc

họ Asleraceae Các loài cây hoang dại này có khả năng lan truyền và đã rất phát triển, lấn át các loài thực vật bản địa khu vực này [43]

1.2.2 Hậu quả của các yếu tố tác động tiêu cực đến các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm

số lượng, có những loài đã bị diệt chủng làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học Ước tính 5 - 10% số loài động thực vật trên thế giới có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng vào khoảng giữa những năm 1990 đến 2020, và số loài bị tuyệt chủng sẽ tăng lên đến 25% vào khoảng năm 2050 [35]

Trang 27

“Chỉ khoảng một trăm năm trước thôi, có hơn một trăm triệu tê giác từng sống

Châu Phi Thế nhưng hiện nay, nạn săn trộm đã khiến cho tê giác tuyệt chủng hoàn toàn ở Mozambique, gần như toàn bộ các nước ở Tây Phi, và rất nhiều khu vực khác trên toàn lãnh thổ của lục địa đen Số liệu thống kê cho thấy con người đã xóa sổ 97% tổng số tê giác ở Châu Phi, chỉ trong vòng 100 năm qua! Theo WWF (World Wildlife Fund) thì loài hổ – từng được tìm thấy ở gần như tất cả các nước Châu Á, thì hiện nay đã mất đi 93% lãnh thổ sinh sống và cũng giống như tê giác, 97% số lượng hổ đã bị xóa sạch chỉ trong vòng 100 năm” [56]

Ở Việt Nam, theo Bộ Tài nguyên-Môi trường và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc cho biết: theo kết quả điều tra của các nhà sinh học, từ năm 1996 đến năm

2006, ở nước ta có 152 loài động vật và thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng; trong đó đáng chú ý các loài tê giác hai sừng, heo vòi, cầy rái cá, hươu sao,

cá chép gốc, cá sấu hoa cà hầu như không tồn tại trong tự nhiên mà chỉ còn một số

cá thể [58] Việt Nam là nơi cư trú của 10% các loài động, thực vật trên thế giới, trong đó có 28 loài động vật có vú, 10% loài chim, 21% loài bò sát và lưỡng cư đang bị suy giảm và đe dọa Nguyên nhân chủ yếu của sự suy giảm quần thể của các loài là do nạn buôn bán và săn bắn bất hợp pháp, dẫn đến nhiều loại động vật nguy cấp, quý, hiếm đã tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng [31] Hơn 100 năm qua không có ghi nhận nào về linh trưởng bị tuyệt chủng trên toàn thế giới Tuy nhiên, Việt Nam đang có nguy cơ nhận “danh hiệu” là “quốc gia đầu tiên có linh trưởng bị tuyệt chủng”, Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI) - Chương trình Việt Nam vừa cảnh báo vào cuối năm 2015 [50]

Theo thông tin từ Sách đỏ Việt nam năm 2007 [59], tổng số loài động, thực vật quý, hiếm đang bị đe dọa là 882 loài (418 loài động vật và 464 loài thực vật) Trong

đó, một số loài coi như đã tuyệt chủng như tê giác một sừng, tê giác hai sừng, bò xám, heo vòi, cây rái cá, hươu sao… Nhiều loài giống cây trồng, vật nuôi có giá trị cao về khoa học, bảo tồn, kinh tế đang có nguy cơ tuyệt chủng cao Một số giống vật nuôi bản địa cũng đang bị đe dọa tuyệt chủng cao như lợn ỉ gộc, lơn ba xuyên,

Trang 28

gà Hồ Có thể thấy, số loài đe dọa bị tuyệt chủng có thể còn lớn hơn do danh sách được lập trên cơ sở những loài có đủ thông tin được cung cấp

Việc một số loài đã bị tuyệt chủng hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc suy giảm về số lượng trong tự nhiên đã và sẽ ảnh hưởng tới đa dạng sinh học Hệ sinh thái tự nhiên phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ giữa các loài động, thực vật và mối quan hệ của chúng lên môi trường sống Vì thế mà, khi một loài động vật nào đó bị săn bắn đến mức tận diệt, thì các loài động vật khác cũng bị ảnh hưởng theo

Như đã trình bày ở trên, các loài động, thực vật quý, hiếm có những giá trị đối với đời sống của con người, như giá trị về kinh tế, khoa học, môi trường… Do đó, một loài động, thực vật nào đó bị tuyệt chủng thì đồng nghĩa với việc con người sẽ mất đi những giá trị tương ứng đối với các loài động, thực vật

Các loài động, thực vật quý, hiếm còn có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì các hệ sinh thái Các hệ sinh thái này có vai trò quan trọng, không thể thiếu đối với đời sống của con người Do đó, sự suy giảm hoặc mất đi của các loài động, thực vật quý, hiếm sẽ tạo nên sự mất cân bằng sinh thái và từ đó tác động tiêu cực đến đời sống của con người

Các ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống của con người có thể rất đa dạng Từ việc mất đi thu nhập của người dân sống dựa vào đa dạng sinh học hoặc ảnh hưởng đến kinh tế của một vùng, một ngành kinh tế, thậm chí là một đất nước

Việc săn bắt, tiêu thụ động vật hoang dã còn gây ra những dịch bệnh nguy hiểm cho con người, như một lượng lớn dịch bệnh lây lan có căn nguyên từ động vật Dịch SARS lan tràn ở Hong Kong bắt nguồn từ một người muốn “thử” ăn thịt thú rừng được buôn bán ở chợ đen Dịch Ebola, một trong những dịch bệnh đáng sợ nhất thế giới, lan tràn ở Châu Phi cũng liên hệ trực tiếp với nạn săn trộm và tiêu thụ thịt động vật hoang dã – hay chính xác hơn là thịt linh trưởng Bên cạnh đó, cúm gà (H5N1), Khỉ thủy (Monkey pox), West Nile (dịch virus tây sông Nin), Heartwater

Trang 29

Disease cũng là những ví dụ điển hình cho thấy mối liên hệ giữa việc buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã [56]

1.2.3 Các biện pháp bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm

Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng – Trung tâm

từ điểm học xuất bản năm 2004 thì “Bảo vệ là chống lại sự xâm phạm để gữi cho luôn được nguyên vẹn” Như vậy, theo nghĩa này, bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm là chống lại sự xâm phạm đến các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm để gữi cho chúng luôn được nguyên vẹn”

Bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm cũng là một hoạt động bảo

vệ môi trường, mặc dù nội dung của khái niệm hoạt động bảo vệ môi trường rộng hơn khái niệm bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm vì các loài này chỉ

là một thành phần, một bộ phận của môi trường Do đó, khái niệm hoạt động bảo vệ môi trường cũng có thể được xem xét để giải thích cho khái niệm bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Theo quy định tại Điều 3 khoản 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”

Từ đây có thể đưa ra định nghĩa “Bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm”

Các biện pháp bảo vệ môi trường cũng được áp dụng để bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm, bao gồm:

Thứ nhất, Biện pháp tổ chức - chính trị

Chính trị được coi là một trong những biện pháp quan trọng của bảo vệ môi trường Đảng cộng sản Việt Nam đưa vấn đề môi trường vào cương lĩnh, chiến lược hành động của mình không nhằm mục đích tranh cử hay giành quyền lực chính trị mà

Trang 30

nhằm làm tăng thêm chính chất toàn diện, đúng đắn và khả thi của cương lĩnh, chiến lược đó để trên cơ sở nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội [24; tr 23] Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/6/2013 trong đó đưa ra nhận định: “Tài nguyên chưa được quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững, một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt”, “Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ vàđời sống nhân dân” và từ đó đưa ra một trong các nhiệm vụ cụ thể, trọng tâm là “Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã, các giống cây trồng, cây dược liệu, vật nuôi có giá trị, loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng”

Thứ hai, Biện pháp kinh tế

Sử dụng biện pháp kinh tế là sử dụng đến những đòn bẩy lợi ích kinh tế Thực chất của phương pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường là việc dùng những lợi ích vật chất để kích thích chủ thể thực hiện những hoạt động có lợi cho môi trường, cho cộng đồng [54; tr 24] Một trong những biện pháp kinh tế là việc áp dụng các biện pháp trừng phạt về mặt kinh tế đối với các đối tượng cua hành vi vi phạm pháp luật môi trường, trong đó có hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm

Thứ ba, Biện pháp tuyên truyền - giáo dục

Ý thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường sẽ được nâng cao thông qua các hoạt động tuyên truyền và giáo dục Vai trò của giáo dục đặc biệt quan trọng Khi con người đã có ý thức tự giác thì việc bảo vệ môi trường sẽ dễ dàng được thực hiện một cách có hiệu quả Đó chính là thực chất và ý nghĩa của biện pháp giáo dục [54; tr 25] Biện pháp này đặc biệt quan trọng nhằm thay đổi nhận thức và hành vi khai thác, săn bắt, đặc biệt là tiêu thụ động vật, thực vật rừng hoang dã quý, hiếm trái phép Bởi không có nhu cầu tiêu thụ thì sẽ giảm hoặc không có hành vi khai thác, săn bắt

Trang 31

Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/6/2013 xác định nhiệm vụ trong thời gian tới là: Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, tạo dư luận xã hội lên án và thống nhất nhận thức

về việc phải xử lý nghiêm các hành vi sử dụng lãng phí tài nguyên, đốt phá rừng… săn bắt, tiêu thụ động vật hoang dã

Thứ tư, Biện pháp pháp lí

Khó có thể liệt kê hết các biện pháp mà các quốc gia đã thực hiện để bảo vệ có hiệu quả môi trường Tuy nhiên, khi nói đến bảo vệ môi trường, chúng ta không thể không kể đến biện pháp pháp lí [54; tr26 ] Cũng như các vấn đề bảo vệ môi trường nói chung, với các vấn đề phát sinh trong bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm thì không thể không sử dụng biện pháp pháp lý Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/6/2013 xác định nhiệm vụ trong thời gian tới là “Chú trọng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về … quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và các lĩnh vực có liên quan như

… xử lý vi phạm hành chính, dân sự theo hướng bổ sung, kết hợp khắc phục các chồng chéo, xung đột pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ

1.3 Pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm

1.3.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm [54; tr 26-33]

Các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa sau đây về luật môi trường: “Luật môi

trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lí điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ

sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người”[54; tr 40]

Trang 32

Các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm là một bộ phận cấu thành nên đa dạng sinh học và là một trong những thành phần môi trường Vì giá trị về kinh tế, khoa học, môi trường của chúng nên con người vừa phải tiến hành bảo vệ kết hợp với khai thác, sử dụng một cách hợp lý sao cho các loài động, thực vật rừng quý, hiếm vẫn có thể “đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”

Do đó, có thể đưa ra định nghĩa “pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý,

hiếm là là một bộ phận, một chế định của luật môi trường bao gồm các nhóm quy

định pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình bảo

vệ, khai thác, sử dụng các loài động, thực vật rừng quý, hiếm nhằm bảo vệ một cách

có hiệu quả môi trường sống của con người trên cơ sở phát triển bền vững

Vai trò của pháp luật trong bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm

có vị trí đặc biệt quan trọng Chính con người trong quá trình khai thác các yếu tố của môi trường đã làm mất sự cân bằng sinh thái Vì vậy, muốn bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm trước hết phải tác động đến con người Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Ý nghĩa của pháp luật trong bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm thể hiện qua những khía cạnh sau:

- Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi bảo

vệ, khai thác và sử dụng các các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Sự tác động của con người làm ảnh hưởng tiêu cực tới sự tồn tại và phát triển các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Pháp luật với tư cách là công cụ điều tiết các hành vi của các thành viên trong xã hội có tác dụng rất lớn trong việc định hướng quá trình bảo vệ, khai thác và sử dụng các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Con người bảo vệ, sử dụng và khai thác các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm dựa trên

Trang 33

những cơ sở khoa học và pháp lý vững chắc thì sẽ hạn chế những tác hại, ngăn chặn được sự suy thoái đa dạng sinh học

- Pháp luật quy định các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính để buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc bảo vệ, khai thác và sử dụng các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Việc đưa ra các yêu cầu mang tính pháp lý để định hướng hành vi bảo vệ, khai thác và sử dụng các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm ý nghĩa quan trọng Tuy nhiên, không phải trong mọi tình huống các quy định này được tự giác tuân thủ và chấp hành Bằng các chế tài hình sự, hành chính, dân sự, pháp luật tác động tới những hành vi vi phạm Các chế tài này hoặc cách ly những kẻ vi phạm nguy hiểm khỏi xã hội hoặc

áp dụng những hậu quả vật chất, tinh thần đối với họ Các chế tài hình sự, hành chính, dân sự được sử dụng trong lĩnh vực bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm vừa có tác dụng ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật vừa có tác dụng giáo dục công dân tôn trọng pháp luật

- Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân bảo

vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Hoạt động bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm là công việc rất khó khăn và phức tạp cần có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và cá nhân Pháp luật có tác dụng rất lớn trong việc tạo ra

cơ chế hoạt động hiệu quả cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Cụ thể là thông qua pháp luật, Nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Chẳng hạn, Nhà nước bằng Luật bảo vệ và phát triển rừng quy định quyền hạn của tổ chức kiểm lâm trong việc bảo vệ rừng Theo đó, các nhân viên kiểm lâm, hạt trưởng kiểm lâm, chi cục trưởng kiểm lâm có quyền phạt hành chính đối với hành vi phá hoại rừng, khai thác, săn bắt trái phép các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm

Trang 34

1.3.2 Nội dung của pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý, hiếm

Có thể có những cách tiếp cận khác nhau, với những tiêu chí khác nhau và từ

đó các nhóm nội dung pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý, hiếm cũng khác nhau

Một là, nếu tiêu chí phân loại là đối tượng thì pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý, hiếm có thể chia thành hai nhóm: i) Quyền hạn, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước và ii) Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có những hoạt động liên quan đến các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm

Hai là, nếu tiêu chí phân loại là nội dung quy định để bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm thì pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý, hiếm có thể chia thành các nhóm quy định sau đây: 1) Các quy định pháp luật về điều tra và lập Danh mục động, thực vật rừng quý hiếm; 2) Các quy định pháp luật về bảo tồn

hệ sinh thái rừng; 3) Các quy định pháp luật về khai thác, sử dụng động, thực vật rừng quý hiếm; 4) Các quy định pháp luật về nuôi, trồng động, thực vật rừng quý hiếm; 5) Các quy định pháp luật về xuất, nhập khẩu động, thực vật rừng quý hiếm; 6) Các quy định pháp luật về xử lí vi phạm pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý, hiếm

Vì quyền hạn, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước và quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có những hoạt động liên quan đến các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm có thể được lồng ghép trong các nhóm quy định trên

Do đó, luận văn sẽ tiếp cận nội dung pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý, hiếm theo cách tiếp cận thứ hai Từ đây, pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý, hiếm bao gồm các nội dung sau:

Thứ nhất, Các quy định pháp luật về điều tra và lập Danh mục động, thực vật

rừng quý hiếm

Trang 35

Trên cơ sở điều tra có bản trên thực tế, các cơ quan có thẩm quyền mới có cơ

sở khoa học để lập những Danh mục khác nhau liên quan đến các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm

Việc lập Danh mục các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm hoặc các loài động vật, thực vật rừng nguy cấp quý, hiếm hoặc các loài động vật, thực vật rừng nguy cấp quý, hiếm ưu tiên bảo vệ có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các loài này Đây là cơ sở khoa học, pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

và áp dụng các quy chế bảo vệ khác nhau đối với những loại có mức độ quý, hiếm khác nhau và nhu cầu bảo vệ khác nhau

Từ năm 1963, Liên minh IUCN thường xuyên phát hành Sách đỏ là danh sách

về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới Trong đó, các loài động vật hoang dã được chia thành các cấp độ nguy cấp như sau:

- Extinct EX (tuyệt chủng)

- Extinct in the Wild EW (tuyệt chủng trong tự nhiên)

- Critically Endangered CR (cực kỳ nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng)

- Endangered EN (nguy cấp cao)

- Vulnerable VU (bị đe dọa, sắp nguy cấp)

- Near Threatened NT (sắp bị đe dọa hoặc nguy cơ nhẹ)

- Least Concern LC (ít quan tâm)

- Data Deficient DD (không đủ dữ liệu)

- Not Evaluated NE (không phân loại hoặc không đánh giá)

Thứ hai, Các quy định pháp luật về bảo tồn hệ sinh thái rừng

Các quy định bảo tồn hệ sinh thái rừng được áp dụng để bảo vệ đối với tất cả các loài động vật, thực vật rừng trong hệ sinh thái đó, không phân biệt là loài thông thường hay loài quý, hiếm Tuy nhiên, với những hệ sinh thái là môi trường sống của các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm, đặc biệt những loài có nguy cơ tuyệt chủng cao thì Nhà nước, thông qua pháp luật, phải có biện pháp bảo vệ đặc biệt Với những hệ sinh thái này, pháp luật cần quy định thành lập những khu bảo tồn

Trang 36

loài Việc bảo tồn cả hệ sinh thái có ý nghĩa bảo vệ môi trường sống tự nhiên của các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm và do đó cũng có tác dụng đặc biệt quan trọng trong bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Việc thực hiện các hoạt động tại những khu bảo tồn này cần theo nguyên tắc không được làm “ảnh hưởng quá mức cho phép tới các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm”

thực vật rừng quý, hiếm

Bên cạnh việc bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm thông qua hình thức bảo tồn thì các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm còn sinh sống, sinh trường ngoài những khu bảo tồn đã được thành lập Do đó, để bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm cần xây dựng những quy định nhằm bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm sinh sống trong tự nhiên ngoài khu bảo tồn Các quy định này được xây dựng dựa trên cơ sở giá trị về kinh tế, khoa học và môi trường của các loài này; trên cơ sở mức độ quý, hiếm của loài và quan điểm phát triển bền vững

Việc nuôi trồng nhân tạo cũng là một hình thức bảo tồn Theo Công ước về đa dạng sinh học thì hình thức này được gọi là bảo toàn ngoại vi Tuy nhiên, pháp luật cần quy định về nguồn gốc hợp pháp của các loài động vật, thực vật quý, hiếm được phép nuôi, trồng; điều kiện về cơ sở vật chất, con người của cơ sở nuôi trồng …

quý hiếm

Với những mục đích khác nhau, hoạt động xuất, nhập khẩu động vật, thực vật quý, hiếm, trong đó có động vật, thực vật rừng quý, hiếm là một nhu cầu tất yếu, khách quan Tuy nhiên, những hoạt động này có nguy cơ gây ảnh hưởng tới đa dạng sinh học, tới các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm Nếu không kiểm soát hoạt động xuất khẩu động vật, thực vật rừng quý, hiếm thì từ đây sẽ tạo ra nhu cầu khai thác bất hợp pháp các loài này để xuất khẩu.Do đó, việc xây dựng những quy định

Trang 37

nhằm kiểm soát hoạt động xuất, nhập khẩu động vật, thực vật rừng quý hiếm và loài ngoại lai là cần thiết

thực vật rừng quý, hiếm

Trách nhiệm pháp lý được đặt ra khi có tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Việc xây dựng, ban hành và áp dụng trách nhiệm pháp lý không chỉ mang tính chất trừng phạt đối với những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật mà còn có tính chất phòng ngừa chung

Với thực trạng các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm hiện nay và với tình trạng vi phạm pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý, hiếm diễn ra trong thời gian qua thì việc xây dựng, ban hành và áp dụng các quy định pháp luật về xử lí vi phạm pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý, hiếm là hết sức cần thiết Các trách nhiệm pháp lý này bao gồm trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Các loài thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm là loài thực vật, động vật có

giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên

hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng

Hiện nay đang có 03 khái niệm: “loài quý, hiếm”, “loài nguy cấp, quý, hiếm”

và “loài nguy cấp, quý, hiếm ưu tiên bảo vệ” Các văn bản pháp luật hiện hành không còn sử dụng khái niệm “loài quý, hiếm” nữa mà chỉ còn sử dụng hai khải niệm “loài nguy cấp, quý, hiếm” và “loài nguy cấp, quý, hiếm ưu tiên bảo vệ” với

mức độ ưu tiên bảo vệ khác nhau

Các yếu tố tác động tiêu cực tới đời sống của các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm bao gồm cả những yếu tố tự nhiên và yếu tố do hoạt động của con người Các yếu tố này tác động tiêu cực tới các loài động vật, thực vật quý, hiếm và đối với đời sống của con người

Bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm, bao gồm các biện pháp như: bện pháp tổ chức - chính trị, biện pháp kinh tế, biện pháp tuyên truyền - giáo dục, biện pháp pháp lí

Pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm là là một bộ phận, một chế định của luật môi trường bao gồm các nhóm quy định pháp luật điều chỉnh các quan

hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình bảo vệ, khai thác, sử dụng các loài động, thực vật rừng quý, hiếm nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người trên cơ sở phát triển bền vững

Pháp luật bảo vệ động, thực vật rừng quý, hiếm gồm các nhóm quy định sau đây: 1) Các quy định pháp luật về điều tra và lập Danh mục động, thực vật rừng quý hiếm; 2) Các quy định pháp luật về bảo tồn hệ sinh thái rừng; 3) Các quy định pháp luật về khai thác, sử dụng động, thực vật rừng quý hiếm; 4) Các quy định pháp luật

về nuôi, trồng động, thực vật rừng quý hiếm; 5) Các quy định pháp luật về xuất, nhập khẩu động, thực vật rừng quý hiếm và loài ngoại lai; 6) Các quy định pháp luật

về xử lí vi phạm pháp luật bảo vệ động vật, thực vật rừng quý, hiếm

Trang 39

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ ĐỘNG VẬT,

THỰC VẬT QUÝ, HIẾM2.1 Các quy định pháp luật về điều tra và lập Danh mục động vật, thực vật rừng quý hiếm

Theo pháp luật Việt Nam các danh mục các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm bao gồm các danh mục sau:

loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm)

Như đã trình bày ở phần 1.1 Khái niêm động vật, thực vật rừng quý, hiếm, các văn bản pháp luật hiện hành không còn sử dụng khải niệm “thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm” nữa mà khái niệm này chỉ được sử dụng khi các cơ quan khoa học điều tra, khảo sát và xuất bản Sách đỏ Việt nam

Ngày 26/6/2008 tại Hà Nội đã công bố Sách Đỏ Việt Nam 2007 Đây là công trình do Viện KH-CN Việt Nam phối hợp với Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) thực hiện với sự tài trợ của Quỹ SIDA (Thụy Điển) Theo Sách Đỏ Việt Nam 2007, tổng số các loại động - thực vật hoang dã trong thiên nhiên đang bị de dọa hiện nay đã tăng lên 882 loài (418 loài động vật và 464 loại thực vật), tăng 167 loài so với thời điểm năm 1992 Trong phần động vật, nếu như Sách Đỏ Việt Nam

1992, nhìn chung mức độ bị đe dọa của các loài chỉ mới dừng lại ở hạng “nguy cấp”, thì đến thời điểm này đã có tới 9 loài động vật được xem đã tuyệt chủng ở lãnh thổ Việt Nam, cụ thể là: tê giác 2 sừng, bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá chép gốc, cá chình Nhật, cá lợ thân thấp, cá sấu hoa cà, hươu sao Các loài này hiện chỉ còn tồn tại ở tình trạng nuôi dưỡng, nhưng đã tuyệt chủng ở thiên nhiên Hiện có tới

116 loài động vật được coi là “rất nguy cấp”, tăng hơn nhiều so với 71 loài ở năm

1992 Trong hệ thực vật, loài lan hài Việt Nam đã tuyệt chủng ở thiên nhiên, điều

Trang 40

mà trước đây chưa từng có Cũng như động vật, theo Sách Đỏ Việt Nam 2007, có tới 196 loài thực vật đang “nguy cấp”, trong đó có 45 loài đã “rất nguy cấp” [39] Trên thể giới, Sách đỏ IUCN hay gọi tắt là Sách đỏ (tiếng Anh là IUCN Red List of Threatened Species, IUCN Red List hay Red Data List) là danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới Danh sách này được giám sát bởi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources, IUCN) Sách đỏ IUCN công bố văn bản năm 2004 (Sách đỏ 2009) vào ngày 17 tháng 11, 2004 Văn bản này đã đánh giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài,giống, chi và quần thể Trong

đó, 15.503 loài nằm trong tình trạng nguy cơ tuyệt chủng gồm 7.180 loài động vật, 8.321 loài thực vật, và 2 loài nấm Danh sách cũng công bố 784 loài loài tuyệt chủng được ghi nhận từ năm 1500 Như vậy là đã có thêm 18 loài tuyệt chủng so với bản danh sách năm 2000 Mỗi năm một số ít các loài tuyệt chủng lại được phát hiện và sắp xếp vào nhóm DD Ví dụ, trong năm 2002 danh sách tuyệt chủng đã giảm xuống 759 trước khi tăng lên như hiện nay Phiên bản 2008 được phát hành ngày 6 tháng 10 năm 2008 trong Đại hội Bảo tồn Thế giới ở Barcelona có một số sửa đổi so với phiên bản 2007 và 2006 [60]

Danh mục được công bố trong Sách đỏ do các cơ quan khoa học lập và công

bố nên có giá trị về mặt khoa học, mang tính chất cảnh báo đến cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp và cộng đồng Các loài có tên trong Sách đỏ chỉ mang tính cảnh báo và xét về mặt nguyên tắc sẽ không được pháp luật bảo vệ nếu không được đưa vào những danh mục mang tính pháp lý Trên thực

tế, các nhà làm luật căn cứ vào danh mục được công bố trong Sách đỏ để cân nhắc, xem xét đưa vào danh mục cần bảo vệ của pháp luật

Hoạt động lập Danh mục các loài động vật, thực vật rừng nguy cấp quý, hiếm

có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng quý, hiếm, là cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các quy định bảo vệ động vật, thực vật rừng

Ngày đăng: 22/03/2018, 19:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w