Kết quả đánh giá hoạt tính kháng khuẩn gây bệnh Staphylococcus aureus của dòng thực khuẩn thể NA6 35 3.1.1.. Sinh viên: Nguyễn Thị DungDANH MỤC HÌNH Hình 2: Tụ cầu Staphylococcus aure
Trang 1KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
STAPHYLOCOCCUS AUREUS CỦA DÒNG THỰC KHUẨN THỂ NA6”
Người hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Hồng Hải Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Dung
Lớp : CNSH 13-02
Hà Nội - 2017
Trang 2Sinh viên: Nguyễn Thị Dung
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS
Nguyễn Thị Hồng Hải, cùng toàn thể các cán bộ Bộ môn Vi sinh – Viện Di
truyền Nông nghiệp đã tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian thực tập tại Bộ môn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Công Nghệ sinh học, Viện Đại Học Mở Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm tôi học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để tôi bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người đã luôn ở cạnh tôi, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Cuối cùng tôi kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh, Chị trong Bộ môn
Vi sinh – Viện Di truyền Nông nghiệp luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Dung
Trang 3Sinh viên: Nguyễn Thị Dung
MỤC LỤC
1.1.Khái quát chung về tình hình ngộ độc thực phẩm hiện nay 3
1.2 Vi sinh vật gây bệnh Staphylococcus aureus 8
Trang 4Sinh viên: Nguyễn Thị Dung
1.3 Tổng quan về enzym endolysin 21
1.3.4 Ứng dụng của endolysin trong công nghệ sinh học thực phẩm 26
1.4 Ảnh hưởng của các điều kiện nuôi cấy đến khả năng sinh enzym
1.4.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy 28
PHẦN 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.3.1 Các môi trường nuôi cấy chủ yếu 30
2.3.2.1 Phương pháp đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của thực khuẩn thể
Trang 5Sinh viên: Nguyễn Thị Dung
2.3.2.4 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy, thành phần môi trường tới sự phát triển và hoạt tính của dòng thực khuẩn thể NA6 33
3.1 Kết quả đánh giá hoạt tính kháng khuẩn gây bệnh Staphylococcus
aureus của dòng thực khuẩn thể NA6 35
3.1.1 Nguồn gốc và hình thái của dòng thực khuẩn thể NA6 35
3.1.2 Đánh giá hoạt tính kháng vi khuẩn gây bệnh Staphylococcus
3.2 Xác định nguồn sinh enzym endolysin có khả năng ức chế vi khuẩn
gây bệnh Staphylococus aureus của dòng thực khuẩn thể NA6 37
3.2.1 Đánh giá khả năng kháng một số vi khuẩn gây bệnh của dòng
3.2.2 Xác minh endolysin qua khả năng kháng endolysin của dòng
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH, nhiệt độ đến sự phát triển và
hoạt tính của dòng thực khuẩn thể NA6 42
Trang 6Sinh viên: Nguyễn Thị Dung
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Những đặc tính của S aureus, S epidermidis và Micrococci 11
Bảng 2: Các đặc điểm của endolysin để ứng dụng trong thực phẩm 23
Bảng 3: Đường kính vòng phân giải vi khuẩn S aureus của dòng thực
Bảng 10: Ảnh hưởng của các nguồn Nitơ đến sự phát triển và hoạt tính
Trang 7Sinh viên: Nguyễn Thị Dung
DANH MỤC HÌNH
Hình 2: Tụ cầu Staphylococcus aureus gram dương dưới kính hiển vi 9
Hình 3: Các yếu tố độc lực của Staphylococcus aureus 13
Hình 4: Cấu trúc điển hình của vách peptidoglycan của vi khuẩn
Gram dương 22
Hình 5: Hình dạng khuẩn lạc của vi khuẩn Staphylococcus aureus 35
Hình 6: Hoạt tính đối kháng với vi khuẩn gây bệnh S aureus của
Hình 7: Khả năng ức chế vi khuẩn S.aureus của TKT NA6 khi nuôi ở 350C 43
Hình 8: Khả năng phát triển và ức chế vi khuẩn gây bệnh S.aureus
của dòng TKT NA6 trên môi trường TSB có bổ sung 0,5% lactose 46
Trang 8Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 1
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay ngộ độc thực phẩm đã và đang là mối lo ngại nghiêm trọng cho
sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới Nguyên nhân là do con người sử dụng
các loại thực phẩm đã bị nhiễm các loài vi khuẩn gây bệnh hay độc tố của
chúng Mặc dù đã có công nghệ hiện đại, các phương pháp thực hành sản xuất
tốt (GMP), kiểm soát chất lượng và vệ sinh cũng như an toàn sản xuất và đánh
giá rủi ro (HACCP), nhưng số lượng các trường hợp bị ngộ độc và bị bệnh do
thực phẩm vẫn tăng lên trong suốt thập kỷ qua Ở châu Âu, mỗi năm ước tính có
hơn 380.000 người dân bị bệnh do sử dụng các sản phẩm thực phẩm nhiễm vi
khuẩn, các loại vi khuẩn gây bệnh như: Staphylococcus aureus, Salmonella và
Listeria [16]
Staphylococcus aureus là tác nhân phổ biến gây nhiễm trùng bệnh viện
cũng như trong cộng đồng dân cư với tỷ lệ mắc và tử vong cao trên toàn thế
giới S aureus khi nhiễm độc thức ăn, đồ uống do tiếp xúc giữa người mang
mầm bệnh sẽ có thể dẫn đến và viêm ruột cấp do các thức ăn có chứa độc tố ruột
của S aureus, gây mất nước và điện giải có thể dẫn tới sốc S aureus là một
trong những nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn bệnh viện, những chủng S
aureus gây nhiễm khuẩn bệnh viện thường có khả năng kháng lại nhiều kháng
sinh S.aureus còn gây hội chứng sốc nhiễm độc do tiết ra độc tố gây sốc Theo
một số cơ quan quản lý thực phẩm châu Âu, các vi sinh vật gây bệnh phổ biến
có nguồn gốc từ thực phẩm bao gồm Salmonella, Escherichia coli O157:H7, S
aureus và Listeria cùng với một số loài khác Sử dụng các chất hóa học để bảo
quản thực phẩm ít được chấp nhận vì nhiều chất bảo quản hóa học đã làm ảnh
hưởng lâu dài tới sức khỏe cộng đồng Trong số các chất bảo quản sinh học
được biết hiện nay, endolysin hiện đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa
học do nó có khả năng diệt và ức chế các vi sinh vật gây bệnh
Trang 9Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 2
Endolysins (hay tên gọi khác là lysins) là các enzym thủy phân có nguồn
gốc từ thực khuẩn thể (bacteriophage) có tác dụng phá hủy peptidoglycan của
thành tế bào vi khuẩn trong giai đoạn cuối chu trình sinh sản của thực khuẩn thể
Các enzyme này làm giảm độ mạnh cơ học của thành tế bào dẫn đến dung giải
tế bào và giải phóng ra các thực khuẩn thể thế hệ tiếp theo Do đó khi có mặt
endolysins chúng có thể phân hủy lớp peptidoglycan của thành tế bào của mọi vi
sinh vật khi chúng tiếp xúc, dẫn đến vi sinh vật bị chết, do vậy chúng được coi
như là một chất kháng sinh thực phẩm có tính tác động chọn lọc, không thay đổi
đặc điểm cảm quan, kết cấu của thực phẩm và rất an toàn cho con người
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng sinh tổng hợp enzym endolysin
có hoạt lực diệt vi khuẩn Staphylococcus aureus của dòng thực khuẩn thể
NA6”
MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu các đặc điểm sinh học và khả năng sinh tổng hợp enzym
endolysin để dòng thực khuẩn thể NA6 có hoạt lực diệt vi khuẩn gây bệnh
Staphylococcus aureus cao nhất
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1 Đánh giá hoạt tính kháng vi khuẩn gây bệnh S aureus của dòng thực khuẩn
thể NA6
2 Nghiên cứu các đặc điểm sinh học của dòng thực khuẩn thể NA6
3 Ảnh hưởng của các loại môi trường nuôi cấy (nguồn carbon, nitơ, muối
khoáng ) đến khả năng sinh tổng hợp enzym endolysin và hoạt tính kháng
khuẩn của dòng thực khuẩn thể NA6
4 Ảnh hưởng của pH, nhiệt độ đến sự phát triển và hoạt tính của dòng thực
khuẩn thể NA6
Trang 10Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 3
PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Khái quát chung về tình hình ngộ độc thực phẩm hiện nay
1.1.1 Tình hình ngộ độc thực phẩm trên thế giới
Từ năm 1973 đến năm 1987, theo thống kê của Cơ quan Kiểm soát bệnh
tật (Centers for Disease Control: CDC) tại Atlanta (Hoa Kỳ), ước tính có khoảng
500 trận dịch bệnh do thức ăn gây nên, ảnh hưởng trung bình khoảng 16.000
người mỗi năm Tuy nhiên, những con số này chưa được đánh giá một cách đầy
đủ, chưa phản ánh thật sự tầm quan trọng của vấn đề Tỉ lệ mắc bệnh hàng năm
là bao nhiêu thì không rõ, nhưng theo thống kê của các cơ quan y tế Hoa Kỳ, chỉ
riêng tại Hoa Kỳ, ước tính có khoảng 6.500.000 đến 81.000.000 lượt bệnh mỗi
năm Ở Á châu, nhiều trận dịch ngộ độc thức ăn gần đây được ghi nhận tại Nhật
và điều này làm cho nhiều quốc gia khác phải lo ngại
Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2010, một biến cố ngộ độc do vi khuẩn
E.coli nhiễm từ cải Romaine lettuce đã xảy ra tại Michigan, New York,
Tennessee và Pennsylvania, Hoa Kỳ Thủ phạm là một chủng E.coli mới, đó là
E.coli 0145 Đây là một chủng loại hiếm thấy nên ít được các nhà khoa học
quan tâm đến E.coli 0145 cũng gây bệnh tương tự như E.coli 0157:H7 Biến cố
trên đã làm cho vài chục người ngã bệnh
Vào trung tuần tháng 5 năm 2011, Châu Âu chấn động vì dịch bệnh ngộ
độc thực phẩm do E.coli 0104, một chủng làm hủy hoại xuất huyết niêm mạc
ruột Enterohemorrhagic E.coli EHEC Đây là một loại rất hiếm thấy từ xưa nay
Người ta nghi rằng nguồn lây nhiễm là từ dưa leo hữu cơ organic sản xuất từ
vùng Almeria và Malaga, thuộc Tây Ban Nha và được nhập vào các quốc gia
Châu Âu Tính đến 30/5/2011, Đức là quốc gia bị nặng nhất với gần 400 nguời
bệnh và đã có 14 tử vong và Đan Mạch có 11 tử vong Ngoài ra, dịch bệnh
cũng được thấy xuất hiện tại Thụy Điển, Anh Quốc, Hà Lan…
Trang 11Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 4
Vi khuẩn là một trong những nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm nhiều
nhất Tại nước Anh, trong 2000 ca bị ngộ độc thực phẩm riêng lẻ do vi khuẩn thì
Campylobacter jejuni chiếm 77,3 %, Salmonella 20,9 %, Escherichia coli
0157:H7 1,4 %, các vi khuẩn còn lại gây ra ít hơn 0,1 % số ca Triệu chứng ngộ
độc thực phẩm do vi khuẩn thường chỉ xuất hiện sau 12-72 giờ hoặc hơn nữa
sau khi ăn thức ăn bị nhiễm khuẩn
Hoa Kỳ: theo các số liệu của FoodNet từ năm 1996 đến 1998, CDCP ước
tính rằng hàng năm có 76 triệu ca ngộ độc thực phẩm (26 nghìn ca trên 10 vạn
dân), trong đó: 325 nghìn nhập viện (111/10 vạn dân); 5 nghìn chết (1,7/10 vạn
dân) Tổn thất gây ra bởi sự sụt giảm năng suất cùng chi phí điều trị năm 1997 là
35 tỉ Mỹ kim
Pháp: số vụ ngộ độc báo cáo từ năm 1999-2000 cho thấy: 32% số vụ là do
sản phẩm sữa và đặc biệt là phô mai, 22% do thịt, 15% do xúc xích, bánh pate;
11% do cá và hải sản; 11% do trứng và sản phẩm trứng; 9,5% do gia cầm Ngộ
độc do S.aureus đứng hàng thứ hai sau Salmonell
Những thực phẩm bị nhiễm tụ cầu và gây ngộ độc thường gặp là thịt, cá,
gà và sản phẩm của chúng, rau cải, trứng, nấm, sữa và sản phẩm từ sữa, kem,
phomai, thực phẩm lên men…[39]
Đài Loan: S aureus chiếm 30% trong số các vụ dịch từ năm 1986 đến
năm 1995, Vào tháng 6 năm 2000, vụ ngộ độc thực phẩm do tụ cầu tại một
trường trung học ở Taichung County làm 10 trong số 356 học sinh có biểu hiện
ngộ độc 2-3 giờ sau khi ăn sáng Tại Brazil, vào tháng 2 và tháng 5 năm 1999 đã
xảy ra hai vụ dịch làm 378 người bị ngộ độc do dùng phomai và sữa tươi có
nhiễm tụ cầu [48] Tại Pháp, năm 1997 người ta tìm thấy S aureus là tác nhân
gây ra 569 trong tổng số 1142 vụ ngộ độc thực phẩm [44]
Trang 12Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 5
Ở Nhật, từ năm 1994 đến năm 1998 số trường hợp ngộ độc do tụ cầu chiếm
3,1-11,9% tổng số các vụ ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Ngày 17/6/1999, 21
trong số 53 công nhân sau khi ăn trưa tại căng tin công ty ở Shizuoka Prefecter thì
có biểu hiện bệnh, trong đó có 8 trường hợp phải nhập viện
Các loại thực phẩm liên quan đến ngộ độc thực phẩm do S aureus cũng
rất khác nhau ở mỗi quốc gia Chẳng hạn ở Mỹ, 50% số vụ ngộ độc được báo
cáo từ năm 1969-1990 là từ các sản phẩm thịt, các món ăn từ thịt và đặc biệt là
thịt muối; 22% trường hợp là do gia cầm, các món ăn từ gia cầm, 8% từ sữa và
sản phẩm sữa; 7% do cá và tôm cua, ghẹ; 3,5% do trứng Số vụ ngộ độc báo cáo
từ năm 1975-1982 cho thấy: 36% do thịt; 12,3% do salad; 11,3% do gia cầm;
5,1% do bánh nướng, bánh bao và chỉ có 1,4% do sữa và sản phẩm hải sản
17,1% thực phẩm liên quan vụ ngộ độc không được biết Sự khác biệt này là do
thói quen ăn uống cũng rất khác nhau theo từng nước Tụ cầu gây ra khoảng
14% trong các vụ ngộ độc thực phẩm; và hàng năm, Mỹ mất khoảng 1,5 tỉ đôla
cho những vụ ngộ độc do tụ cầu Trong các loại độc tố gây ra các vụ ngộ độc thì
SEA là loại độc tố chiếm tỷ lệ cao nhất (77,8%), SED (37,5%) và SEB (10%)
(Normanno G.và ctv, 2005) Ngoài vấn đề viện phí còn phải mất nhiều thời gian
làm việc cũng như sản phẩm lao động của người bệnh, và cả việc phải loại bỏ
những sản phẩm bị nhiễm.…
Hầu hết các vụ ngộ độc do tụ cầu là do quá trình chế biến hoặc bảo quản
thực phẩm không tốt Tụ cầu thường nhiễm trực tiếp vào thực phẩm do tay
người chế biến bị trầy xước hay do ho, hắt hơi Việc bảo quản thực phẩm ở nhiệt
độ không phù hợp cũng rất quan trọng, một khi thực phẩm đã nhiễm tụ cầu,
chúng sẽ tăng nhanh số lượng do tụ cầu phát triển được trong khoảng nhiệt độ
rất lớn, từ 7-48oC Điều đáng lo ngại độc tố được tạo ra trong suốt quá trình phát
Trang 13Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 6
triển của tụ cầu nhưng lại không gây ảnh hưởng đến cảm quan của thực phẩm,
do đó ít được chú ý [34]
1.1.2 Tình hình ngộ độc thực phẩm tại Việt Nam
Ở Việt Nam nhiều vụ ngộ độc thực phẩm hay xảy ra, đặc biệt là ngộ độc
tập thể, rơi nhiều vào đối tượng công nhân (khi ăn, uống tại các bếp ăn tập thể
không đảm bảo vệ sinh, an toàn chất lượng thực phẩm) Theo một thống kê năm
2008, mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 250- 500 ca ngộ độc thực phẩm với 7.000
- 10.000 nạn nhân và 100 - 200 ca tử vong Có 8 triệu người ngộ độc thực phẩm
mỗi năm tại Việt Nam Đây là công bố của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về tình
hình ngộ độc thực phẩm tại Việt Nam Tuy nhiên chỉ có 8.000 người được thống
kê, phát hiện, bằng 1% số người ngộ độc thực phẩm trên thực tế
Theo số liệu từ cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, trong
những vụ dịch được tổng kết từ năm 1997 đến 2002 thì ngộ độc thực phẩm do
tác nhân vi sinh vật chiếm tỷ lệ cao từ 40-45% trong các loại gây ngộ độc, trong
số đó có nhiều vụ được xác định tác nhân là Staphylococcus aureus (Nguyễn Đỗ
Phúc và cs, 2003)
Từ năm 2002 đến 2004 theo số liệu của trung tâm y tế dự phòng đã có 77
vụ ngộ độc thực phẩm mà phần lớn nguyên nhân là do thức ăn bị nhiễm khuẩn,
chiếm 66% (Nguyễn Lý Hương và cs, 2005)
Từ dữ liệu của Hội nghị tổng kết dự án bảo đảm chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm của Cục vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2006, số vụ ngộ độc
thực phẩm ở nước ta là 164 vụ (tăng 14,6% so với năm 2005), làm 7.135 người
bị ngộ độc (tăng 65,8% so với năm 2005), trong đó có 64 vụ (38,8%) là do vi
sinh vật gây ra (Hội nghị tổng kết dự án đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm,
tháng 3/2007, Cục vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ Y tế)
Trang 14Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 7
Qua các cuộc khảo sát tình hình vệ sinh thức ăn đường phố và các thực
phẩm chế biến sẵn tại các chợ cho thấy mức độ nhiễm Staphylococcus aureus là
rất cao, phù hợp với các kết quả xét nghiệm trong các vụ ngộ độc tại thành phố
Hồ Chí Minh trong những năm qua Đáng chú ý hơn cả là ở các mẫu bánh mì
thịt nguội là 16/30 mẫu (53%), các mẫu thịt quay là 18/20 mẫu (90%) (Nguyễn
Đỗ Phúc và cs, 2003; Nguyễn Lý Hương và cs, 2005)
Một số vụ ngộ độc thực phẩm ở nước ta liên quan đến S aureus và độc tố
ruột của chúng đó là vụ ngộ độc thực phẩm của cán bộ, sinh viên khoa Địa chất
và Sinh học trường Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM vào ngày 27/7/2006
trong chuyến đi thực tế và đã ăn trưa tại Nha Trang (Khánh Hòa) Ba giờ chiều
cùng ngày, nhiều cán bộ sinh viên đau đầu, tiêu chảy, ói mửa, tất cả 105 người
phải vào bệnh viện để cấp cứu Nguyên nhân được xác định là do thức ăn chế
biến không hợp vệ sinh, lại để lâu nên đã nhiễm tụ cầu trùng vàng và đã sinh
độc tố enterotoxin Enterotoxin do tụ cầu tạo ra là loại độc tố cực mạnh gây ngộ
độc cấp tính Mấy năm gần đây, những vụ ngộ độc thức ăn do tụ cầu được phát
hiện và nói đến nhiều hơn (Đỗ Thị Hòa, 2006)
Ở Thành phố Hồ Chí Minh vụ ngộ độc xảy ra tại Trường Tiểu học Thanh
Đa-Khu phố II Cư xá-Thanh Đa, P.27, Q Bình Thạnh ngày 03/5/2006, có
khoảng 20 cháu bị ngộ độc Các món thức ăn gồm có cơm, canh cải thảo, thịt
bò, thịt heo kho tiêu, bánh flan Sau khi ăn khoảng 30 phút các cháu có triệu
chứng đau bụng, nôn ói, nhức đầu Qua xét nghiệm cho thấy trong mẫu chất nôn
đã có độc tố tụ cầu nhóm A
Vụ ngộ độc ở nhà trẻ Hồng Nhung, thị trấn Đông Dương - H Phú Quốc,
Kiên Giang ngày 2/9/2006 Thức ăn gồm có yaourt, cơm, thịt xào Các triệu chứng
cũng tương tự như nôn ói, đau bụng Kết quả kiểm tra cho thấy phần lớn các mẫu
Trang 15Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 8
thực phẩm đầu nhiễm S aureus từ 101 vi khuẩn/gam cho đến 107 vi khuẩn /gam
Trong đó độc tố được phát hiện có trong mẫu yaourt, độc tố nhóm C [4]
Ngộ độc thực phẩm không chỉ xảy ra ở nước ta mà còn xảy ra ở nhiều
nước trên thế giới kể cả những nước phát triển Theo WHO/FAO (tháng
5/2005), ngộ độc thực phẩm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người và kinh
tế, làm 1,5 tỉ lượt người bệnh, ở các nước công nghiệp 30% dân số bị ngộ độc
thực phẩm hàng năm
1.2 Vi sinh vật gây bệnh Staphylococcus aureus
1.2.1 Giới thiệu về Staphylococcus
Staphylococcus là loại cầu khuẩn, bao gồm cả giống hiếu khí
Micrococcus, Planococcus và Deinococcus, giống kị khí tùy nghi
(Staphylococcus, Stomacoccus, Streptococcus, Leuconostos, Pedio coccus,
Aerococcus và Gemella) và giống kị khí (Peptococcus, Peptostreptococcus,
Ruminococcus, Coprococcus và Sarcina) Họ Micrococcaceae gồm bốn giống:
Micrococcus, Stomacoccus, Planococcus và Staphylococcus Những đặc tính
khác nhau của cầu khuẩn Gram (+) gồm: sự sắp xếp của tế bào, hiếu khí bắt
buộc, kị khí tùy nghi hay vi hiếu khí, kị khí bắt buộc, phản ứng catalase, sự hiện
diện cytochromes, sản phẩm lên men từ quá trình kị khí, peptidoglycan, axit
eichoic trong thành tế bào vi khuẩn [47]
Trong số các loài Staphylococcus thì Staphylococcus aureus là loài thường
gặp nhất, chúng thuộc nhóm cho phản ứng coagulase dương tính Tên
Staphylococcus có nguồn gốc từ tiếng Latinh, staphylo (chùm nho) và coccus
(hạt).Staphylococci là những tế bào hình cầu Gram (+), đường kính 0,5-1,5µm,
có thể đứng riêng rẽ, từng đôi, bốn con, chuỗi ngắn (3-4 tế bào) hoặc chùm
không theo một trật tự nào cả Sự hình thành chùm thường xảy ra trong quá
trình vi khuẩn phát triển trên môi trường đặc, do kết quả của sự phân chia tế bào
Trang 16Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 9
quá nhiều Staphylococci không di động, không sinh nha bào, nang thì có mặt
trong những tế bào còn non, nhưng biến mất khi tế bào ở giai đoạn pha ổn định
Màu sắc khuẩn lạc trên môi trường không chọn lọc như tryptic soy agar (TSA)
có thể màu kem đến màu hồng sáng
S aureus là loài phổ biến nhất trong giống Staphylococcus Trong điều
kiện kị khí sự phát triển của vi khuẩn cần có amino acid và vitamin, nhưng trong
điều kiện hiếu khí cần có thêm uracil và các nguồn carbon S aureus phát triển
tốt nhất ở điều kiện hiếu khí, nhiệt độ tối thích cho sự phát triển là 35oC, nhưng
có thể phát triển được trong khoảng nhiệt độ từ 10 đến 45oC khoảng pH có thể
phát triển từ 4,5 đến 9,3, nhưng pH tối thích khoảng 7,0 đến 7,5
1.2.2 Staphylococcus aureus
1.2.2.1 Hình thái, đặc điểm sinh hóa
Staphylococcus aureus thuộc giống Staphylococcus, do đó mang những
tính chất chung của Staphylococcus S aureus là những vi khuẩn hình cầu,
không di động, gram dương, đường kính 0,5-1,5 µm, tế bào xếp thành hình
chùm nho, không di động Thành tế bào kháng với lysozyme và nhạy với
lysotaphin, một chất có thể phá hủy cầu nối pentaglycin của tụ cầu
Trang 17Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 10
S aureus là những vi khuẩn hiếu khí hay kị khí tùy nghi, có enzyme
catalase phân giải oxy già giải phóng oxy và nước:
catalase
H2O2 H2O + O2
Ngoài ra, chúng còn cho phản ứng DNAse, phosphatase dương tính, có
khả năng lên men và sinh acid từ manitol, trehalose, sucrose Tất cả các dòng S
aureus đều nhạy với Novobicine, có khả năng tăng trưởng trong môi trường
chứa đến 15% muối NaCl [5]
Một số dòng S aureus có khả năng gây tan máu trên môi trường thạch
máu, vòng tan máu phụ thuộc vào từng chủng nhưng chúng đều có vòng tan
máu hẹp hơn so với đường kính khuẩn lạc Hầu hết các dòng S aureus đều tạo
sắc tố vàng, nhưng các sắc tố này ít thấy khi quá trình nuôi cấy còn non mà
thường thấy rõ sau 1-2 ngày nuôi cấy ở nhiệt độ phòng Sắc tố được tạo ra nhiều
hơn trong môi trường có hiện diện lactose hay các nguồn hidrocacbon khác mà
vi sinh vật này có thể bẻ gãy và sử dụng [14]
Trên môi trường BP (Baird Parker), khuẩn lạc đặc trưng của S aureus có
màu đen nhánh, bóng, lồi, đường kính 1-1,5 mm, quanh khuẩn lạc có vòng sáng
rộng 2-5 mm (do khả năng khử potassium tellurite K2TeO3 và khả năng thủy
phân lòng đỏ trứng của lethinase) [34, 44] Trên môi trường MSA (Manitol salt
agar) hay còn gọi là môi trường Chapman, khuẩn lạc tròn, bờ đều và lồi, màu
vàng nhạt đến vàng đậm và làm vàng môi trường xung quanh khuẩn lạc (do lên
men đường manitol) [34]
Đa số các dòng S aureus có thể tổng hợp một hay nhiều enterotoxin trong
môi trường có nhiệt độ trên 15oC, nhiều nhất khi chúng tăng trưởng ở nhiệt độ
35-37oC [5]
Trang 18Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 11
Bảng 1 Những đặc tính của S aureus, S epidermidis và Micrococci
Đặc tính S aureus S epidermidis Micrococci
1.2.2.2 Điều kiện tăng trưởng và sự phân bố
Nhu cầu dinh dưỡng cho sự phát triển của Staphylococcus aureus thay đổi
tùy thuộc vào từng dòng S aureus có khả năng phát triển trong khoảng nhiệt độ
rất rộng, từ 7-48oC, với nhiệt độ cực thuận là 30-45oC; khoảng pH 4,2-9,3, với
độ pH cực thuận là 7-7,5; và trong môi trường chứa trên 15% NaCl Tụ cầu bền
vững khi có nồng độ đường cao, nhưng bị ức chế bởi nồng độ 60%; nồng độ từ
33-55%, tụ cầu vẫn phát triển, trong khi các vi khuẩn khác như Shigella và
Salmonella bị ức chế Ngoài ra, chúng còn có khả năng bám dính tốt trên nhiều
loại tế bào và máy móc thiết bị giúp gia tăng tính kháng của tụ cầu với sự sấy
khô và lọc thấm Chính nhờ những đặc điểm trên giúp S aureus có sự phân bố
rộng, chủ yếu được phân lập từ da, màng nhày, tóc và mũi của người và động
vật máu nóng S aureus được cho là vi khuẩn khá mạnh có thể sống tốt bên
ngoài kí chủ Vi khuẩn này còn có mặt trong không khí, bụi và trong nước dù
chúng thiếu tính di động và rất nhạy với thuốc kháng sinh và chất diệt khuẩn
Tuy nhiên, S aureus cũng khá nhạy với nhiệt độ, bị diệt ở 60oC từ 2-50 phút tùy
Trang 19Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 12
từng loại thực phẩm và là vi sinh vật cạnh tranh yếu, dễ bị các vi sinh vật khác
ức chế [8]
Có 10-50% dân số vẫn sống khỏe mạnh dù mang S aureus [8] Tuy nhiên
khả năng nhiễm vào thực phẩm và gây bệnh của S aureus cũng rất lớn do chúng
phân bố ở khắp nơi và có khả năng sinh độc tố Tụ cầu nhiễm thực phẩm vào
chủ yếu qua con đường chế biến có các công đoạn tiếp xúc trực tiếp với người
Sự hiện diện với mật độ cao của S aureus trong thực phẩm cho thấy điều kiện
vệ sinh của quá trình chế biến kém, kiểm soát nhiệt độ trong các công đoạn chế
biến không tốt Tuy nhiên, điều đó không đủ bằng chứng để cho rằng thực phẩm
đó sẽ gây độc, điều đó chỉ xảy ra khi S aureus được phân lập tạo độc tố Ngược
lại, chỉ với một lượng nhỏ S aureus tạo độc tố cũng có thể gây ngộ độc
1.2.2.3 Tính kháng thuốc kháng sinh
Hầu hết các dòng S aureus kháng với nhiều loại kháng sinh khác nhau
Một vài dòng kháng với tất cả các loại kháng sinh ngoại trừ vancomycin, và
những dòng này ngày càng tăng Những dòng MRSA (Methicilin resistant
Staphylococcusaureus) rất phổ biến và hầu hết các dòng này cũng kháng với
nhiều kháng sinh khác.Trong phòng thí nghiệm, người ta đã tìm thấy plasmid
kháng vancomycin ở Enterococcus faecalis có thể chuyển sang S aureus , và
người ta nghĩ rằng việc chuyển này có thể xảy ra ngoài tự nhiên, trong đường
tiêu hóa chẳng hạn Ngoài ra, S aureus còn kháng với chất khử trùng và chất tẩy
uế (Kenneth Todar , 2005) [28].Từ khi sử dụng penicillin vào những năm 1940,
tính kháng thuốc đã hình thành ở tụ cầu trong thời gian rất ngắn Nhiều dòng
hiện nay đã kháng với hầu hết kháng sinh thông thường, và sắp tới sẽ kháng cả
những kháng sinh mới Thật sự là trong hai năm gần đây, việc thay thế kháng
sinh cũ bằng vancomycin đã dẫn đến sự gia tăng các dòng kháng vancomycin
Trang 20Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 13
VRSA (Vancomycin Resistant Staphylococcusaureus) (Kenneth Todar , 2005)
[28]
Khảo sát tính chất chống đối kháng sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh năm
2005 cho thấy các chủng S aureus phân lập từ bệnh phẩm cho thấy có đến
94,1% chủng kháng Penicillin, 52,9% kháng Ciprofloxacin, 52% kháng
Amoxillin và 12,5% kháng Getamicin (Nguyễn Thị Kê và cs, 2006) [4]
1.2.2.4 Các yếu tố độc lực của Staphylococcus aureus
Staphylococcus aureus gây ra nhiều bệnh nhiễm trùng, tạo mủ và gây độc
ở người Thường xảy ra ở những chỗ xây xước trên bề mặt da như nhọt, gây ra
nhiều bệnh nhiễm nghiêm trọng như viêm phổi, viêm vú, viêm tĩnh mạch, viêm
màng não, nhiễm trùng tiểu và những bệnh nguy hiểm khác như viêm xương
tủy, viêm màng trong tim S aureus cũng là nguyên nhân chủ yếu của việc
nhiễm trùng vết mổ và những vụ nhiễm trùng do dụng cụ y khoa S aureus còn
gây ngộ độc thực phẩm do tạo độc tố ruột enterotoxin trong thực phẩm, và gây
hội chứng shock độc tố do chúng tạo ra siêu kháng nguyên trong máu (Kenneth
Todar, 2005) [28]
Hình 3 Các yếu tố độc lực của Staphylococcus aureus
Trang 21Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 14
S aureus tạo nhiều yếu tố độc lực:
- Protein bề mặt: thúc đẩy việc bám dính vào tế bào chủ Ngoài ra, hầu hết các
dòng đều tạo protein gắn kết fibronogen và fibronetin làm kích thích sự kết dính
các khối máu và mô bị chấn thương Các protein gắn kết chất tạo keo cũng
thường gặp ở những dòng gây bệnh viêm xương tủy và viêm khớp
- Yếu tố xâm lấn (hemolysins, leukocidin, kinase, hyaluronidase): giúp vi khuẩn
lan ra trên mô, phân hủy màng tế bào eukaryote
1.2.2.5 Các yếu tố chống lại sự tự vệ của tế bào chủ
Capsule polysaccharide: còn gọi là microcapsule do ta chỉ có thể nhìn
thấy chúng dưới kính hiển vi điện tử Trong các mẫu bệnh phẩm, S aureus có
thể tạo ra một lượng lớn polysaccharide nhưng khả năng này sẽ giảm nhanh khi
đưa chúng vào nuôi cấy trong phòng thí nghiệm Chức năng gây độc của vỏ
capsule không rõ lắm mặc dù chúng có thể ngăn chặn sự thực bào
Protein A: là protein bề mặt có thể gắn phân tử IgG nhờ vùng Fc Trong
huyết thanh, vi khuẩn sẽ gắn các phân tử IgG sai hướng làm phá hủy sự opsonin
hóa và sự thực bào Các chủng S aureus đột biến thiếu protein A cho sự thực
bào trong ống nghiệm hiệu quả hơn, và những đột biến trên mẫu nhiễm sẽ làm
giảm độc tính
Leukocidin: S aureus tạo độc tố rõ nhất trên các bạch cầu đa nhân Sự
thực bào là một cơ chế quan trọng chống lại sự nhiễm tụ cầu, do đó leukocidin là
một yếu tố gây độc
Exfoliative exotoxin: gồm hai loại ETA và ETB Chúng gây hội chứng
phỏng da ở trẻ sơ sinh (Scalded Skin Syndrome) và gây chốc lở (Bullous
Impetigo) ở cả trẻ em và người lớn
Trang 22Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 15
1.2.2.6 Khả năng gây bệnh
Tụ cầu vàng thường ký sinh ở da và mũi họng Vi khuẩn này gây bệnh
cho những người bị suy giảm đề kháng do chúng có nhiều yếu tố độc lực Tụ
cầu vàng là vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất và có khả năng gây nhiều bệnh
khác nhau (Lê Huy Chính, 2001) [1]:
- Nhiễm khuẩn da:
Do tụ cầu ký sinh trên da và niêm mạc mũi, nên nó có thể xâm nhập qua lỗ
chân lông, chân tóc hoặc các tuyến dưới da Sau đó gây nên các nhiễm khuẩn
sinh mủ : mụn nhọt, các ổ áp xe, eczema, hậu bối Mức độ các nhiễm khuẩn này
phụ thuộc vào sự đề kháng của cơ thể và độc lực của vi khuẩn Nhiễm tụ cầu
ngoài da thường gặp ở trẻ em và người suy giảm miễn dịch Đinh râu có thể gây
nên những biến chứng nguy hiểm
- Nhiễm khuẩn huyết:
Tụ cầu vàng là vi khuẩn thường gây nhiễm khuẩn đường huyết nhất Do
chúng gây nên nhiều loại nhiễm khuẩn, đặc biệt là nhiễm khuẩn ngoài da, từ đây
vi khuẩn xâm nhập vào máu gây nên nhiễm khuẩn đường huyết Ðây là một
nhiễm trùng rất nặng Từ nhiễm khuẩn đường huyết tụ cầu đi tới các cơ quan
khác nhau và gây nên các ổ áp xe (gan, phổi, não, tuỷ) hoặc viêm nội tâm mạc
Có thể gây nên các viêm tắc tĩnh mạch Một số nhiễm trùng khu trú này trở
thành viêm mãn tính như viêm xương
- Viêm phổi:
Viêm phổi do tụ cầu vàng rất ít gặp Nó chỉ xảy ra sau khi viêm đường hô
hấp do virus hoặc sau nhiễm khuẩn huyết Tuy vậy cũng có viêm phổi tiên phát
do tụ cầu vàng ở trẻ em hoặc người suy yếu.Tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân
này khá cao, vì thế nó được coi là bệnh nguy hiểm
Trang 23Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 16
1.2.2.7 Ngộ độc thực phẩm do Staphylococcus aureus
Những triệu chứng thường gặp: Staphylococcus aureus được xem là một
trong ba tác nhân chính của các vụ ngộ độc thực phẩm ở nhiều nước chỉ sau
Salmonella và Clostridium perfringens (Rosec J.P và cs, 1996; Fueyo J.M và cs,
2000 [19]; Viktoria A và cs, 2001 [54]) Triệu chứng thường gặp ở các vụ ngộ
độc do tụ cầu là buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, có hay không có tiêu chảy, ngoài
ra còn có thể bị đau đầu, chuột rút, thay đổi huyết áp Triệu chứng ngộ độc xảy
ra nhanh, từ 3-6 giờ sau khi ăn thực phẩm bị nhiễm, tùy vào lượng thực phẩm đã
dùng, lượng độc tố có trong thực phẩm và độ nhạy với độc tố cũng như sức khỏe
của từng người Thường thì các triệu chứng chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn,
khoảng 6-8 giờ (Trần Linh Thước, 2002) [5] và hết bệnh sau 1-2 ngày (Bremer
P.J và ctv, 2004)[8] Tuy nhiên khoảng 10% trường hợp người bệnh bị mất
nhiều nước cần phải nhập viện để truyền dịch
Tuy thời gian gây bệnh ngắn nhưng những vụ ngộ độc thực phẩm do tụ
cầu để lại hậu quả không nhỏ Theo đánh giá của tổ chức Y tế thế giới, hàng năm
Việt nam có khoảng trên 3 triệu ca ngộ độc thực phẩm, gây tổn hại trên 200 triệu
USD Trong những năm gần đây số vụ ngộ độc thực phẩm ở nước ta ngày càng
gia tăng Năm 2000 có 213 vụ ngộ độc thực phẩm với 4233 người mắc 59 người
tử vong (Bùi Thế Hiền, Tô Thị Thu và cs, 2003)[2]
1.2.3 Độc tố ruột enterotoxin của Staphylococcus aureus
1.2.3.1 Đặc điểm
Staphylococcal enterotoxin (SE) là những chuỗi protein đơn có trọng
lượng phân tử thấp, từ 25000-29000 dalton, mỗi chuỗi có những vị trí kháng
nguyên chuyên biệt Đặc điểm chính trong cấu trúc của độc tố là vòng cystein ở
giữa phân tử Vai trò của những vòng cystein chưa được biết rõ Tuy nhiên,
người ta chứng minh được chính những vòng cystein này giúp ổn định cấu trúc
Trang 24Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 17
phân tử và có thể góp phần vào việc kháng sự phân giải protein Theo sau vòng
cystein là chuỗi acid amin cần thiết, ban đầu người ta nghĩ rằng trình tự này là vị
trí hoạt động, nhưng những thí nghiệm thay thế amino acid vẫn chưa xác nhận
được điều này
1.2.3.2 Tính chất
SE là những protein đơn giản, hút ẩm, dễ tan trong nước và nước muối, là
những protein cơ bản, độ đẳng điện pI là 7-8,6, trừ SEG và SEH có độ đẳng điện
pI tuần tự là 5,6 và 5,7 Dù có một mức độ tương đồng giữa các SE, nhưng vẫn
có sự khác nhau giữa các trình tự amino acid làm cho các độc tố có các vị trí
kháng nguyên khác nhau (Scott E.M và cs, 2000)[ 47]
SE giàu lysine, acid aspartic, acid glutamid và tyrosine Hầu hết có vòng
cystine tạo cấu trúc thích hợp có thể liên quan đến hoạt tính gây nôn Chúng có
tính ổn định cao, kháng với hầu hết các enzyme phân hủy protein và vì thế chúng
giữ được hoạt tính trong đường tiêu hóa sau khi được ăn vào bụng Chúng còn
kháng với chymotrypsine, rennin và papain (Yves Le Loir và cs, 2003) [56] Đặc
biệt, tính bền nhiệt là một trong những tính chất quan trọng nhất của các SE
trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Chúng không bị phân hủy ở 100oC trong 30
phút (Trần Linh Thước, 2002) [5], thậm chí ở 121oC trong 28 phút thì những SE
vẫn giữ đươc hoạt tính sinh học (khi thí nghiệm trên mèo) (Naomi Balaban và
Avraham Rasooly, 2000) [37], tính kháng nhiệt của SE trong thực phẩm cao hơn
so với trong môi trường nuôi cấy (Yves Le Loir và cs, 2003) [56]
1.2.3.3 Phân loại
Số loại SE khác nhau ở nhiều tài liệu khác nhau tùy thuộc vào năm phát
hiện và vai trò của các SE trong các vụ ngộ độc thực phẩm do tụ cầu (Yves Le
Loir và cs, 2002) [56] Do số lượng SE khá lớn nên rất cần thiết phải phân loại
và sắp xếp chúng Năm 1962, người ta đã đưa ra hệ thống sắp xếp các độc tố
Trang 25Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 18
theo bảng chữ cái (Mary Sandel K và McKillip J.L., 2002) [34] Đầu tiên 5 loại
SE được tìm thấy và phân loại dựa vào tính kháng nguyên của chúng, đó là độc
tố A (SEA), độc tố B (SEB), độc tố C (SEC), độc tố D (SED) và độc tố E (SEE)
Trong đó, SEC được chia thành SEC1, SEC2, SEC3 Sau đó, các SE mới cùng
với các gen tương ứng được tìm thấy và đánh dấu từ SEG đến SER và SEU
(seg-ser, seu) (Jogensen H.J., 2004) [27].Không có độc tố SEF vì F là kí tự dùng để
chỉ TSST-1 (Scott E.M và cs, 2000[47]; Fueyo J.M., 2000 [19]) Tuy nhiên sự
liên quan giữa các SE mới này đến các vụ ngộ độc thì chưa rõ, hiện nay hầu hết
các bộ test thương mại chỉ thích hợp để xác định các độc tố từ SEA đến SEE là
các độc tố thường gặp nhất trong các vụ ngộ độc (Capucine Letetre và cs, 2003
[11]; Jorgensen H.J và cs, 2004 [27]), và theo Rosec J.P.và Gigaud O.(2002)
[45] thì có khoảng 5% các vụ ngộ độc do tụ cầu là do các độc tố enterotoxin mà
ta chưa biết gây ra
Trong các loại độc tố trên thì SEA thường gặp nhất trong các vụ ngộ độc
do tụ cầu (Tsen H.Y., 1996 [50]; Naomi Balaban và Avraham Rasooly, 2000
[37];Capucine Letetre và cs, 2003 [11]) Các dòng S aureus tạo độc tố SEA có
tần số cao nhất trong các mẫu thực phẩm (61,5%) và trên những người khỏe
mạnh (53,6%).Ngoài ra, Vernozy C.R và cs (2004) [53] cũng nhận thấy rằng
SEA là nguyên nhân của 75% các vụ ngộ độc do tụ cầu, tiếp đến là SED, SEC và
SEB, các vụ dịch do SEE thường rất ít gặp
1.2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và việc tạo độc tố SE của tụ cầu
Mặc dù SE được tạo ra ở khoảng điều kiện rất rộng nhưng cũng giống như
sự phát triển của tụ cầu, cũng có những giới hạn về nhiệt độ, độ ẩm và độ pH
làm giảm hay ức chế sự tạo độc tố của S aureus Thường thì tụ cầu phát triển
đến 106 cfu/g thì có thể tạo SE (Simeão L.C., 2002 [48]; Yves Le Loir và cs,
2003 [56]) Các dòng tụ cầu khác nhau cần các amino acid khác nhau cho sự
Trang 26Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 19
phát triển và tạo độc tố (Yves LeLoir và cs, 2003) [56] Valine thì cần thiết cho
sự phát triển, arginine và cystine cần thiết cho cả sự phát triển lẫn việc sinh độc
tố Các amino acid khác thì có nhu cầu khác nhau tuỳ từng chủng (Onoue và
Mori, 1997) [42]
Điều kiện thích hợp nhất để tạo độc tố là pH trung tính và giảm hay bị ức
chế ở pH acid, thường là khi pH < 5 và độ ẩm thấp (dưới 0,86) (Rosamund M.B
và Lee W.H., 1995) [44] Ngược lại pH kiềm cũng làm giảm khả năng tạo độc tố
SEB, SEC và SED Bên cạnh đó, Braga L.C và cs (2004) [7] cũng đã tìm thấy
rằng dịch chiết từ lựu, ngoài tác dụng kháng khuẩn còn có thể ức chế tạo độc tố
enterotoxin
Glucose cũng là một thành phần ức chế sự tạo độc tố, đặc biệt là SEB và
SEC (Yves Le Loir và cs, 2003) [56] do sự trao đổi glucose làm giảm pH Ngoài
ra, nồng độ muối cao (trên 12%) cũng làm ức chế sự tạo độc tố Đặc biệt, S
aureus rất nhạy với vi sinh vật cạnh tranh Đặc tính này được chứng minh trong
các thực phẩm lên men Genigeorgis (1989) đã chứng minh rằng khi các vi sinh
vật cạnh tranh có trong sữa với mật độ cao sẽ làm giảm tỉ lệ phát triển cũng như
tạo độc tố của tụ cầu (Yves Le Loir và cs, 2003) [56]
1.2.3.5 Những hoạt tính của độc tố SE
Các độc tố tụ cầu SE thuộc họ độc tố gây sốt, làm biểu hiện miễn dịch
và tăng nhanh số lượng tế bào T không chuyên biệt Trong số các siêu kháng
nguyên đó thì chỉ có SE là có hoạt tính gây nôn Hoạt tính siêu kháng nguyên
và hoạt tính gây nôn là hai chức năng của hai protein riêng biệt nhưng sự liên
hệ giữa hai hoạt tính này vẫn chưa được làm rõ Tuy nhiên trong hầu hết
trường hợp, hai hoạt tính này tồn tại song song nhau, những đột biến làm mất
hoạt tính siêu kháng nguyên cũng làm mất hoạt tính gây nôn (Yves Le Loir và
cs, 2003) [56]
Trang 27Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 20
1.2.3.6 Tần suất của các chủng S aureus mang gen sinh độc tố
Việc kiểm soát vi sinh vật trong thực phẩm được thực hiện một cách
thường xuyên Trong số các chủng S aureus phân lập được trong thực phẩm, thì
tỷ lệ các chủng mang gen sinh độc tố ước tính khoảng 25% (Bergdoll, 1989)
Tuy nhiên, điều đó cũng còn phụ thuộc vào từng loại thực phẩm và từng nước
khác nhau Chẳng hạn như ở Đan Mạch, các chủng S aureus phân lập từ vú bò
bị viêm chỉ có 1/414 chủng mang gen sinh độc tố (Larsen và cs, 2000) [30] Ở
Minas Gerais, Brazil, các chủng S aureus phân lập từ vú bê bị viêm thì có
54/127 chủng có khả năng sinh độc tố (Cardoso và cs, 1999) [12], chiếm tỷ lệ
42,5% ở Pháp, trong số 61 chủng phân lập từ phô mai thì có 15,9% chủng mang
gen sinh độc tố (Rosec và cs, 2002) [45] Nhưng đây là những nghiên cứu về
cách chủng có khả năng sinh độc tố từ A đến E, không bao gồm một số chủng
mang gen sinh độc tố mới phát hiện sau này
Ở Singapore, đã nghiên cứu khả năng tạo độc tố của các chủng S aureus
trên các thực phẩm nước giải khát và thức ăn nhanh cho thấy trong 111 mẫu
kiểm tra có nhiễm S aureus trong đó khi xác định khả năng sinh độc tố chiếm tỷ
lệ 33/111(29,7%) , trong đó chủng có độc tố SEA:4, SEB:13, SEC:8, SED 6,
SEA- C:2 chủng Tỷ lệ SEC là phổ biến (24%) (Ng D.L.K và Tay L., 1993)
[38]
Trong những năm gần đây , ở Đức, nghiên cứu các chủng S aureus phân
lập từ sữa bò bị viêm vú cho thấy có tới 72,8% chủng mang gen độc tố từ nhóm
SEA đến SEJ Sự gia tăng tỷ lệ chủng mang gen sinh độc tố là do một số gen
mới được phát hiện Các chủng mang gen G, I và J thường tìm thấy trong các
chủng phân lập từ vú gia súc bị viêm
Norway , đã khảo sát tạp nhiễm S aureus trong sữa bò bán thành phẩm,
cho thấy có 36 /163 (22%) chủng S aureus phân lập có khả năng sinh độc tố ruột
Trang 28Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 21
trong đó SEB: 2, SEC: 28, SED: 4 và SEA- C: 2 chủng Như vậy ở Norway tỷ lệ
xuất hiện độc tố SEA không có Tỷ lệ SEC là phổ biến (77,8%) (Jorgensen H.J v
à cs, 2005)[27]
Hiện nay tại Việt Nam cũng đang triển khai các kỹ thuật sinh học phân tử
trong việc xác định vi khuẩn S.aureus và xác định độc tố ruột bằng kỹ thuật
ELISA Kết quả cho thấy có 19/72 chủng S.aureus (26,8%) chủng có khả năng
sinh độc tố, trong đó độc tố SEA, SEB là 42%, SEC là 11% và chủng mang hai
gen SEA và SED là 5% (Nguyễn Đỗ Phúc, Nguyễn thị Kê, Trần Linh Thước,
2006) [3]
1.3 Tổng quan về enzym endolysin
1.3.1 Giới thiệu về enzym endolysin
1.3.1.1 Khái niệm
Endolysins (hay tên gọi khác là lysins) là các enzym thủy phân có nguồn
gốc từ thực khuẩn thể (bacteriophage) có tác dụng phá hủy peptidoglycan của
thành tế bào vi khuẩn trong giai đoạn cuối chu trình sinh sản của thực khuẩn thể
Các enzyme này làm giảm độ mạnh cơ học của thành tế bào dẫn đến dung giải tế
bào và giải phóng ra các thực khuẩn thể thế hệ tiếp theo Do đó khi có mặt
endolysins chúng có thể phân hủy lớp peptidoglycan của thành tế bào của mọi vi
sinh vật khi chúng tiếp xúc, dẫn đến vi sinh vật bị chết, do vậy chúng được coi
như là một chất kháng sinh thực phẩm có tính tác động chọn lọc, không thay đổi
đặc điểm cảm quan, kết cấu của thực phẩm và rất an toàn cho con người
1.3.1.2 Cấu tạo
Nhìn chung lysin có cấu trúc gồm hai domain bao gồm domain xúc tác ở
đầu N và domain gắn với vách tế bào ở đầu C Domain ở đầu N được phân thành
4 nhóm khác nhau phụ thuộc vào vị trí phân tách bao gồm: (a)
N-acetylmuramidases (lysozymes) và (b) N-acetyl-β-D-glucosaminidases
Trang 29Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 22
(glycosidases) có tác dụng thủy phân liên kết β-1-4 glycosidic ở một nửa phân tử
đường của vách tế bào (c) N-acetylmuramoyl-L-alanine amidases có tác dụng
tách liên kết amide nối nửa phân tử đường và peptide của vách tế bào vi khuẩn
(d) L-alanoyl-D-glutamate endopeptidases và interpeptidebridge-specific
endopeptidases có tác dụng là cầu nối đặc hiệu giữa các peptide của
peptidoglycan trong vách tế bào (Hình 4) (Fenton và cs, 2010) Domain liên kết
ở đầu C của hầu hết các lysin có trách nhiệm gắn enzym với một cơ chất đặc
hiệu trong vách tế bào vi khuẩn thông qua liên kết không cộng hóa trị của các
gốc carbohydrate
Hình 4 Cấu trúc điển hình của vách peptidoglycan của vi khuẩn
Gram dương Các vị trí phân cắt của các loại endolysin được đánh dấu từ 1 đến
4, trong đó (1) N-acetyl muramidases; (2) N-acetyl-β-D-glucosaminidases; (3)
N-acetylmuramoyl-L-alanine amidases; (4) L-alanoyl-D-glutamate
endopeptidases và interpeptide bridge-specific endopeptidases
1.3.1.3 Tính chất của endolysin
Một số loại endolysin có hoạt tính ổn định trong thời gian dài như Cp1-1
hoạt tính bền ở 4oC trong 6 tháng và ở 37oC trong 3 tuần (Loeffler và cs,2003)
Trang 30Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 23
[31] Endolysin KZ144 và EL188 vẫn duy trì hoạt tính khi bảo quản ở 4oC trong
- Hiệu quả loại bỏ biofilm trên bề mặt thực phẩm (ví
dụ như đối với tế bào vi khuẩn Gram dương)
- Bền nhiệt đối với sản phẩm xử lý nhiệt
+ + + +
+
2 Thực phẩm
- Không làm thay đổi đặc điểm cảm quan của thực
phẩm
- Kéo dài thời gian bảo quản
- Hiệu quả đối với tác nhân gây bệnh kháng kháng sinh
+ + +
3 Chấp thuận của cơ quan quản lý thực phẩm
- Tình trạng an toàn
- Tác nhân kháng sinh không tự sao chép
- Được người tiêu dùng và cơ quan quản lý chấp nhận
+ + +
4 Tác động kinh tế/thị trường
- Kháng sinh hiệu quả (ở mức độ nano)
- Kiểu tác động mới (phân hủy vách PGN)
- Tạo ra bằng công nghệ protein
+ + +
Trang 31Sinh viên: Nguyễn Thị Dung 24
1.3.2.4 Vai trò và ứng dụng
Trong nông nghiệp, endolysin có thể sử dụng làm thuốc trừ sâu sinh học
để phòng trừ một số bệnh hại cà chua do Streptomyces scabies, Clavibacter
michiganensis và Xanthomonas campestris Trong chế biến sữa, endolysin sử
dụng như chất bảo quản thực phẩm dùng để tiêu diệt các loài vi khuẩn bền nhiệt
(như Bacillus spp và Paenibacillus spp.) và vi khuẩn chịu lạnh như
Pseudomonas spp., giúp sữa thanh trùng không thối hỏng và kéo dài thời hạn của
sản phẩm
Đối với vật nuôi, endolysin có thể dùng để kiểm soát các bệnh đường ruột
ở gia súc, gia cầm mà không làm thay đổi hệ vi sinh đường ruột (như lysin
Ply2626 kiểm soát vi khuẩn gây bệnh C perfringens ở gia cầm) (Zimmer và cs,
2002) [58] Ngoài ra, endolysin có thể kiểm soát vi khuẩn gây bệnh viêm vú ở
tuyến vú của gia súc lấy sữa, phòng trừ nhiễm chéo thực phẩm trong quá trình
lấy sữa và giết mổ gia súc (ví dụ như endolysin Ply700 và LysH5 kiểm soát vi
khuẩn gây bệnh Streptococcus uberis và S aureus) (Celia và cs, 2008; Obeso và
cs, 2008) Trong công nghiệp lên men, endolysin như Ply511 có thể được sử
dụng để kiểm soát vi khuẩn Listeria monocytogenes làm hỏng sữa (Gaeng và cs,
2000) [22] hoặc sử dụng lysine CTP1 để kiểm soát vi khuẩn clostridium trong
quá trình chế biến phomat (Mayer và cs, 2010) [35]
1.3.3 Tổng hợp nhân tạo endolysin kháng khuẩn
Trong tự nhiên, endolysin dung giải hiệu quả và nhanh chóng tế bào vi
khuẩn chủ nhằm đảm bảo sự tồn tại của thực khuẩn thể Tuy nhiên, trong thực tế
vẫn có thể cải thiện được tác dụng của endolysin để sử dụng trong thực phẩm
hoặc trong điều trị bệnh ở người bằng công nghệ protein Công nghệ này bao
gồm việc trao đổi các domain hoặc đột biến ngẫu nhiên làm thay đổi đặc điểm
liên kết và dung giải peptidoglycan