1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về quản lý vốn nhà nước trong các doanh nghiệp việt nam

95 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 916,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh thựctrạng sử dụng nguồn vốn nhà nước tại DN thì cơ chế, chính sách quản lý DNNNcòn nhiều bất cập như: hệ thống quản trị nội bộ DN chưa đáp ứng được các yêu cầuquản lý, giám sát

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN

VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN QUANG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VŨ ĐẶNG HẢI YẾN

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫncủa TS.Vũ Đặng Hải Yên Những ý kiến, nhận định khoa học của người khác đều đượcghi chú xuất xứ rõ ràng, đầy đủ

Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bốtrong bất kỳ công trình nào của các tác giả khác

Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực, chuẩn xác của nội dụngluận văn./

Tác giả

Nguyễn Văn Quang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa sau đại học Viện đại học

mở đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Vũ Đặng Hải Yên người đãđịnh hướng đề tài và nhiệt tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, tìm hiểu vàhoàn thiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn học viên cùng lớp, những ngườithân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập,nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016

Tác giả Luận văn

Nguyễn Văn Quang

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TRONG DOANH NGHIỆP 7

1.1 Khái quát về vốn nhà nước trong doanh nghiệp 7

1.1.1 Khái niệm về vốn 7

1.1.2 Khái niệm vốn nhà nước trong doanh nghiệp 10

1.1.3 Đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong doanh nghiệp 13

1.2 Khái quát về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp 16

1.2.1 Khái niệm quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp 16

1.2.2 Nguyên tắc quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp 17

1.2.3 Vai trò quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp 20

1.2.4 Nội dung quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp 21

1.3 Mô hình quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới 27

1.3.1 Mô hình của Trung Quốc 27

1.3.2 Mô hình của Singapore 31

1.3.3 Mô hình của New Zealand 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TRONG DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 37

2.1 Thực trạng về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp 37

2.1.1 Quy định về đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong doanh nghiệp 37

2.1.2 Quy định về quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong doanh nghiệp 43

2.1.3 Quy định về phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp có vốn nhà nước 54

Trang 5

2.2 Thực trạng quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay 56

2.2.1 Tình hình quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp 56

2.2.2 Tồn tại, nguyên nhân 61

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 70

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ở Việt Nam 70

3.1.1 Củng cố hệ thống pháp luật về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp 70

3.1.2 Bảo đảm phù hợp với nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về doanh nghiệp 71

3.1.3 Đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam 72

3.1.4 Đảm bảo phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế 73

3.1.5 Xác định mô hình quản lý vốn nhà nước chuyên nghiệp và tập trung 74

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp 75

3.2.1 Hoàn thiện phương thức pháp luật trong quản lý vốn tại các doanh nghiệp 75

3.2.2 Kiến nghị xác định mô hình quản lý vốn nhà nước 79

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới của đất nước, đa dạng hóa hình thức sở hữu là mộttrong những vấn đề mấu chốt của đổi mới nền kinh tế Từ xuất phát điểm chỉ côngnhận hai thành phần kinh tế cơ bản là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, đến naymọi công dân, mọi tổ chức kinh tế, các nhà đầu tư đã được đầu tư, sản xuất, kinhdoanh theo các hình thức do luật định và được pháp luật bảo hộ Lý do về sự đổimới này nằm ở vị trí cũng như vai trò của doanh nghiệp đối với sự phát triển củanền kinh tế quốc gia Doanh nghiệp là công cụ thực hiện chính sách công nghiệphóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế lên bước phát triển cao hơn, giá trị gia tăng cao hơn.Ngoài ra, kinh tế nhà nước, bao gồm doanh nghiệp, giữ vai trò chủ đạo trong nềnkinh tế, nên doanh nghiệp vẫn luôn luôn được coi là xương sống của nền kinh tế

Mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác nhau đượckhuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấuthành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đổi mới

cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanhnghiệp; chuyển các DNNN kinh doanh sang hoạt động theo cơ chế công ty tráchnhiệm hữu hạn hoặc CTCP; bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủtrong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật;xóa bỏ bao cấp của nhà nước đối với doanh nghiệp đã làm cho các thành phần kinh

tế phát triển và góp phần ổn định xã hội

Tuy nhiên trên thực tế hoạt động của các doanh nghiệp được đầu tư vốn bởinhà nước trong thời gian qua có nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn vàkhông mang lại hiệu quả trong việc quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.Mặc dù được trao cho những đặc quyền, ưu đãi về vốn, tài nguyên và được bảo hộ

vô điều kiện, nhưng các con số thống kê chính thức cho thấy, đóng góp DNNN gópvốn đầu tư trong nền kinh tế không đáng kể thậm chí luôn tồn tại nợ xấu Báo cáocủa Ủy ban Kinh tế của Quốc hội công bố mới đây cũng khẳng định, yếu kém củaDNNN đã gây tác động tiêu cực lên "bức tranh" nợ xấu Tính đến cuối 2012, nợ xấu

Trang 7

của DNNN (chưa tính Vinashin) chiếm 11,8% tổng nợ xấu của hệ thống tổ chức tíndụng; ước tính nợ xấu của DNNN khoảng 24.950 tỷ đồng Con số này chưa baogồm nợ xấu của Vinashin tại các tổ chức tín dụng trong nước và nợ đã được cơ cấulại theo Quyết định 780/2012/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Bên cạnh thựctrạng sử dụng nguồn vốn nhà nước tại DN thì cơ chế, chính sách quản lý DNNNcòn nhiều bất cập như: hệ thống quản trị nội bộ DN chưa đáp ứng được các yêu cầuquản lý, giám sát hiệu quả sử dụng các nguồn lực được Nhà nước giao; tính tuân thủpháp luật, chế độ quản lý tài chính, công khai, minh bạch thông tin của các DNchưa được quan tâm đúng mức; sự tách bạch giữa nhiệm vụ kinh doanh với nhiệm

vụ công ích của DN chưa rõ ràng; sự phân công, thực thi vai trò đại diện chủ sở hữutrong DNNN còn phân tán, chồng chéo; quá trình tổ chức, cơ cấu lại khu vựcDNNN tiến hành chậm, kéo dài

Xuất phát từ thực trạng quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp nêu trên,

tôi quyết định chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về quản lý vốn nhà nước trong các doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài bảo vệ luận văn thạc sĩ,

chuyên ngành Luật kinh tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến quản lý vốn nhà nước ở các doanh nghiệp, đã có nhiềucông trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, theo phạm vi nghiên cứu khácnhau Cụ thể:

- Nghiên cứu được coi là sớm nhất và sâu nhất về vấn đề vốn trong cổ phần

hóa DNNN được tác giả Lê Chi Mai thực hiện năm 1993 "vấn đề vốn trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước" (1993), trong đó tác giả đã nêu lên bức tranh về khủng

hoảng vốn trong kinh tế quốc doanh mà có thể giải quyết bằng cách cổ phần hóa,đồng thời tác giả cũng đề xuất các kiến nghị về các điều kiện để hình thành mô hìnhtạo vốn và quản lý vốn trong các DNNN trong kinh tế quốc doanh mà có thể giảiquyết bằng cách cổ phần hóa

- Luận án tiến sĩ: "Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp sau cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước", tác giả Nguyễn Thị Thu Hương, năm 2009 Với nội dung

Trang 8

đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm quản lý có hiệu quả vốn nhà nước tạicác doanh nghiệp sau cổ phần hóa DNNN.

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2009 của Bộ tài Chính do PGS.TS

Nguyễn Đăng Nam làm chủ nhiệm đề tài "Chính sách và cơ chế quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp giai đoạn đến 2020", tuy nhiên đề tài nghiên cứu khoa

học mới chỉ đề cập chính sách quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trên góc độquản lý nhà nước mà không nghiên cứu trên góc độ quản lý của chủ sở hữu

- Luận án tiến sĩ "Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với Tổng công ty

91 phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn

Xuân Nam, năm 2005 Nội dung chủ yếu của công trình là đánh giá thực trạng và đềxuất giải pháp đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản của các tổng công ty 91 pháttriển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam

Gần đây nhất, đã có một số công trình nghiên cứu như: “Đổi mới quản lý vốn nhà nước tại các CTCP trên địa bàn Hà Nội” (luận văn thạc sĩ kinh tế của Ngô Văn Mơ); “Đổi mới quản lý vốn nhà nước tại DNNN ở nước ta hiện nay” (luận văn thạc

sĩ Ngô Thị Ngọc Anh); “Đổi mới quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp của tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay” (luận văn thạc sĩ Trần Công Tỏ) Tuy

nhiên, những đề tài này chưa đề cập sâu vai trò của người đại diện quản lý phần vốnnhà nước trong mô hình Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)cũng như mối quan hệ giữa chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanh nghiệp, nhất

là trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên mới chỉ tiếp cận ở góc độ kinh tế vềquản lý vốn hoặc trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể Vì vậy, chưa có nghiêncứu nào đưa ra được bức tranh toàn cảnh về thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn

về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay Do đó, trongtoàn bộ quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã tiếp cận vấn đề quản lý vốn nhà nướctrong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật một cách toàn diện, xuyên suốt hệthống các quy định có liên quan, đồng thời so sánh với quy định pháp luật cũ cũng nhưcủa một số nước trên thế giới Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hoàn thiệnpháp luật doanh nghiệp, tạo sự đồng bộ về mặt pháp lý cũng như thống nhất trong việc

Trang 9

áp dụng các quy định pháp luật về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp theo quyđịnh của pháp luật.

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn:

Thứ nhất, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận khái quát về vốn nhà nước,

thẩm quyền chủ sở nhà nước trong hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tưtại doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, giámsát vốn nhà nước trong doanh nghiệp

Thứ hai, luận văn đánh giá thực trạng pháp luật về quản lý vốn nhà nước

trong doanh nghiệp

Thứ ba, trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã được nghiên cứu, luận văn đưa ra

định hướng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý vốn nhà nước trongdoanh nghiệp tại Việt Nam

Nhiệm vụ của luận văn:

- Xác định nội dung và làm rõ một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm

có liên quan tới vốn nhà nước trong doanh nghiệp, thẩm quyền chủ sở hữu nhà nướctrong các hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong doanh nghiệp, phân phốilợi nhuận vốn nhà nước trong doanh nghiệp, hoạt động giám sát vốn nhà nước trongdoanh nghiệp, khái lược quy định pháp luật về hoạt động quản lý vốn nhà nướctrong doanh nghiệp ở Việt Nam

- Phân tích, làm rõ các hạn chế, bất cập, đánh giá thực trạng pháp luật vềquản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ở Việt Nam

- Từ những vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực trạng đưa ra một số kiếnnghị hoàn thiện pháp luật quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ở Việt Namtrong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan tới lýluận về vốn góp của nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, pháp luật về quản lý vốngóp của nhà nước trong doanh nghiệp ở Việt Nam, thực trạng pháp luật về quản lývốn nhà nước trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay từ góc độ thực hiện quyền

Trang 10

chủ sở hữu nhà nước và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý vốnnhà nước đầu tư vào doanh nghiệp ở Việt Nam.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Tồntại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời giữa chúng có mối liên hệ biện chứng.Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hình thành từ một

cơ sở hạ tầng phù hợp Pháp luật được coi là tấm gương phản chiếu xã hội, còn vềphần mình, xã hội được coi là cơ sở thực tiễn của pháp luật Về lý thuyết và thựctiễn cho thấy, các qui định của pháp luật phù hợp với sự phát triển của các điều kiệnkinh tế, văn hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụngpháp luật; từ đó tạo cơ sở cho xã hội ổn định và phát triển

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu quản lý

vốn nhà nước trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật qua các thời kỳ ởViệt Nam;

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn

đề liên quan đến quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp theo quy định của phápluật và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trongluận văn;

+ Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu qui định của pháp

luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam cũng như pháp luật củamột số nước khác qui định về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp Qua đó,phân tích nét tương đồng và đặc thù của pháp luật Việt Nam qui định về quản lývốn nhà nước trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, phù hợp với điềukiện về kinh tế, văn hóa, xã hội và tập quán của Việt Nam;

+ Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn

hoạt áp dụng pháp luật, với các số liệu cụ thể giải quyết các vấn đề từ quan hệ quản

lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Tìm ra mối liên hệ

Trang 11

giữa các qui định của pháp luật với thực tiễn áp dụng đã phù hợp hay chưa? Các lýdo? Từ đó mà xem xét nội dung qui định của pháp luật về quản lý vốn nhà nướctrong doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, với thực tiễn của đời sống xã hộinhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này.

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đâu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp.Chương 2: Pháp luật và thực trạng về quản lý vốn nhà nước trong doanhnghiệp Việt Nam

Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý vốnnhà nước trong doanh nghiệp Việt Nam

Trang 12

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC

TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về vốn nhà nước trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về vốn

Trong quá trình tiến hành triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ tổchức kinh tế hay doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển được đều cần phải cónguồn tài chính đủ mạnh Đây được coi là một trong ba yếu tố quan trọng giúpdoanh nghiệp có thể duy trì hoạt động của mình Chủ thể kinh doanh không chỉ cóvốn mà còn phải biết vận động không ngừng phát triển đồng vốn đó Vốn là mộttrong những nhân tố quan trọng bậc nhất đối với quá trình tăng trưởng và phát triểnkinh tế của mọi quốc gia Việt Nam là quốc gia đang phát triển điều đó có nghĩarằng nhu cầu vốn của nước ta rất lớn nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước Vì vậy, nhận thức và vận dụng đúng đắn phạm trù vốn sẽ là tiền đề thúcđẩy việc khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng để đầu tư phát triển nền kinh tế hộinhập tốt vào nền kinh tế thế giới

Hiện nay cũng như trong lịch sử phát triển kinh tế, khái niệm vốn được tiếpcận dưới nhiều góc độ khác nhau:

Theo quan điểm của Mác, “Vốn (tư bản) là giá trì đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất” Định nghĩa này phản ánh tầm khái quát của

vốn, theo đó C.Mác đã chỉ ra được cụ thể bản chất và chức năng của tư bản (vốn)trong phát triển kinh tế Bản chất của tư bản là giá trị; chức năng của tư bản là sinhlời Nhưng do vướng phải những hạn chế nhất định về điều kiện khách quan thời kỳ

đó nên C.Mác đã quan niệm rằng chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trịthặng dư cho nền kinh tế Trong những giai đoạn phát triển tiếp theo của nền kinh

tế, các nhà khoa học đại diện cho các trường phái nghiên cứu khác nhau bổ sungthêm các yếu tố mới trong định nghĩa về vốn kinh doanh

Ngày nay, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn không chỉ là yếu tố cần thiếtđối với quá trình sản xuất của các nước phát triển mà còn là yếu tố đóng vai trò

Trang 13

quan trọng của hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển Vì vậy, phạmtrù vốn trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học tiếp tục nghiên cứu vàtiếp cận nó trên nhiều bình diện khác nhau.

Theo Paul.A.Samuelson – nhà kinh tế học theo trường phái “Tân cổ điển” đãthừa kế quan niệm của trường phái cổ điển về yếu tố sản xuất để phân chia các yếu

tố đầu vào của quá trình sản xuất thành ba bộ phận: Đất đai – lao động – vốn Theo

ông, vốn là các hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới.

Sau này, David Begg có bổ sung thêm về định nghĩa của vốn, theo ông: Vốn bao gồm có vốn hiện vật (tiền, các giấy tờ có giá trị của doanh nghiệp) Nhìn

chung, Samuelson và Begg đều có chung một luận điểm cơ bản về vốn là các yếu tốđầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiênquan điểm của David cho thấy ông đang đồng nhất vốn kinh doanh là tài sản củadoanh nghiệp Thực chất vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ Tài sản doanhnghiệp sử dụng để huy động vào quá trình sản xuất nhằm mục đích sinh lời Tài sảncủa doanh nghiệp không chỉ có vốn kinh doanh biểu hiện dưới hình thức tiền tệ màcòn có các cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp cũng như các quyền tài sản khác Quan điểm này của ông còn khá giản đơn

và không phản ánh đúng bản chất, mục tiêu vốn kinh doanh hướng tới

Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, trong ấn phẩm “Chú giải thuật ngữ kế toán

Mỹ”, tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho rằng, vốn là "tổng số tiền biểu hiện nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức".1

Dưới góc độ nhân tố đầu vào, trong tác phẩm Lịch sử tư tưởng kinh tế,

I.Đ.Udanxốp và F.I.Pôlianxki kết luận: Vốn là “một trong ba yếu tố đầu vào phục

vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, vốn) Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ sản xuất (tức là máy móc, công cụ, thiết bị, nhà cửa, kho dự trữ thành phẩm hoặc bán thành phẩm)”.2

1Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín (1994), Chú giải thuật ngữ kế toán Mỹ, Nxb Đồng Nai.

2Phạm Thị Khanh (2004), Huy động vốn trong nước phát triển nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội.

Trang 14

Còn theo Từ điển Luật học, vốn là tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá đượcthành tiền có thể sử dụng trong kinh doanh, khả năng sử dụng được trong kinhdoanh là tiêu chí cơ bản để đánh giá tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá đượcthành tiền có giá trị là vốn, đối với tiền phải tích tụ đến mức nhất định thì mới

có thể sử dụng trong kinh doanh với tư cách là vốn, đối với tài sản nếu chỉthuần túy có giá trị và giá trị sử dụng mà không có khả năng chuyển đổi thànhtiền và sử dụng trong kinh doanh thì cũng không có giá trị là vốn, đối với cácquyền tài sản, nếu không có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt để hạch toántrong kinh doanh thì không thể dùng để đầu tư nên cũng không được xem làvốn Vốn là tiền để thực hiện các hoạt động đầu tư, cơ chế hình thành vốn và

sử dụng vốn của các tổ chức, cá nhân được quy định trong nhiều văn bảnpháp luật như: Luật ngân sách nhà nước, Luật doanh nghiệp, Bộ luật dân sự.3

Nói chung, vốn là tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động sản xuất

- kinh doanh để tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai Nghĩa là, vốn luôn gắn với sự vận động và đảm nhiệm chức năng sinh lời.

Vốn có những đặc điểm sau:

- Vốn tồn tại dưới nhiều hình thái cụ thể: tài sản hữu hình, tài sản vô hình và

tài sản tài chính Nhưng, hình thái giá trị - tiền tệ với tư cách vốn là loại vốn linhhoạt, biến hoá nhất trong nền kinh tế thị trường Thị trường không những là nơi diễn

ra các hoạt động đa dạng của vốn mà còn là nơi để vốn bộc lộ khả năng sinh lời củachúng Khả năng sinh lời vừa là mục đích cuối cùng của việc đầu tư kinh doanhđồng vốn, vừa là phương tiện để vốn tiếp tục vận động với quy mô ngày càng được

mở rộng ở chu kỳ kinh doanh tiếp theo Sự vận động của vốn trên thị trường tuânthủ quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường Song, với khả năng nhận thức,con người có thể nắm bắt, vận dụng quy luật khách quan, tạo ra những kênh huyđộng vốn một cách có hiệu quả, đáp ứng mục đích sản xuất - kinh doanh của mình

- Vốn là hàng hóa đặc biệt Nhu cầu vốn đầu tư được xem là cơ sở phát sinh

quan hệ cung - cầu về vốn trên thị trường Như vậy, vốn hiển nhiên là đối tượngtrao đổi, mua bán trên thị trường Với tư cách là hàng hoá, vốn có hai thuộc tính: giá

Trang 15

trị và giá trị sử dụng; có chủ sở hữu và là một trong những yếu tố đầu vào của quátrình sản xuất.

Tính đặc biệt của "hàng hoá vốn" thể hiện ở chỗ: vốn có khả năng sinh lời.Với tư cách là hàng hoá đặc biệt, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn tách rờinhau Đặc điểm này của vốn không có ở các loại hàng hoá thông thường Chủ sởhữu vốn sẽ nhận được một khoản lợi tức (giá bán hay lãi suất quyền sử dụng vốn)khi bán quyền sử dụng vốn cho người mua (các nhà đầu tư) Nhà đầu tư khi muaquyền sử dụng vốn phải bỏ ra một khoản gọi là chi phí (giá mua quyền sử dụngvốn) Nhờ có sự tách rời giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn làm cho vốntrở nên linh hoạt trong lưu thông và sinh lời

- Vốn có mối quan hệ mật thiết với thời gian chủ sở hữu vốn nhượng lạiquyền sử dụng vốn cho nhà đầu tư trong một khoảng thời gian xác định Sau khivốn trải qua chu kỳ vận động, nó quay về tay chủ sở hữu, với một lượng giá trị lớnhơn Lượng giá trị lớn hơn đó là lợi tức của chủ sở hữu vốn hay là lãi suất phải trảcủa nhà đầu tư khi sử dụng vốn Mức lãi suất được tính bằng tỷ lệ phần trăm so vớilượng vốn khi chủ sở hữu vốn nhượng, bán quyền sử dụng vốn theo đơn vị thời gian(tháng, quý, năm ), phù hợp với nền kinh tế thị trường Sự tách rời giữa quyền sởhữu vốn và quyền sử dụng vốn, gắn với khoảng thời gian xác định tất yếu dẫn đếnquá trình tích tụ, tập trung vốn từ những khoản tiết kiệm nhỏ, lẻ; những đồng tiềnchưa có cơ hội đầu tư trở thành vốn và chuyển chúng đến tay các nhà đầu tư Mặtkhác, trong nền kinh tế thị trường, khi tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh,các nhà đầu tư luôn chú trọng tới yếu tố thời gian Bởi vì, các yếu tố như giá cả, lạmphát, lãi suất, tỷ giá biến động thường xuyên, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quảsản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, bất kỳ một nhà đầu tư nào, khi xácđịnh hiệu quả đầu tư cũng phải đưa toàn bộ chi phí và thu nhập về cùng một thờiđiểm để so sánh, tính toán các chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ suất doanh lợi/ vốn, tỷ suấtdoanh lợi/doanh thu, vòng quay của đồng vốn, vv Điều đó cắt nghĩa được tại saovốn luôn có giá trị về mặt thời gian (gắn với thời gian)

1.1.2 Khái niệm vốn nhà nước trong doanh nghiệp

Kinh tế nhà nước dựa trên sở hữu nhà nước về tư liệu sản xuất, về vốn…Ởnước ta hiện nay sở hữu nhà nước được hiểu là sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại

Trang 16

diện Sở hữu nhà nước là trình độ thấp hơn của sở hữu toàn dân Trong thời kỳ quá

độ lên CNXH và trong giai đoạn XHCN chỉ mới có sở hữu nhà nước Nhà nước đạidiện cho toàn dân sở hữu những tài nguyên thiên nhiên, của cải, tài sản, tư liệu sảnxuất, vốn, ngân sách nhà nước…, của toàn dân, của toàn xã hội Nhà nước khôngnhững sở hữu mà còn nhân danh toàn dân, toàn xã hội tổ chức quản lý, sử dụng vàphân phối những sản phẩm được tạo ra từ những tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngânsách nhà nước… Nhưng muốn thực hiện được điều đó phải thực hiện được lợi íchkinh tế của sở hữu nhà nước Nếu không có lợi ích kinh tế thì sở hữu nhà nước chỉ

là danh nghĩa Điều đó đòi hỏi phải có cơ chế giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền

sở hữu của Nhà nước đối với những tài nguyên, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngânsách nhà nước… của chung, của toàn dân, của toàn xã hội với quyền sử dụng chúngcủa các doanh nghiệp được giao quyền sử dụng và việc phân phối sản phẩm, giá trịmới được tạo ra nhờ những tài nguyên, tài sản, tư liệu sản xuất, vốn, ngân sách nhànước… thuộc sở hữu nhà nước giao cho các doanh nghiệp sử dụng

Chủ sở hữu vốn trong các doanh nghiệp là những người đầu tư vốn để hìnhthành hoặc phát triển mở rộng doanh nghiệp Tùy theo từng loại hình doanh nghiệpkhác nhau mà chủ thể sở hữu trong doanh nghiệp có thể khác nhau Sự khác biệtgiữa vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp với vốn đầu tư của các chủ sở hữu khácchính là ở đặc điểm sở hữu nhà nước của vốn so với các chủ thể sở hữu khác, chủthể sở hữu nhà nước có những đặc điểm khác biệt

Thứ nhất, nhà nước là một hệ thống rộng, trong đó về mặt tổ chức nhà nước

bao gồm nhiều cơ quan và bộ máy quản lý khác nhau Do đó, khi bàn tới nhà nướcnhư một chủ thể sở hữu thì chủ thể này khó xác định cụ thể Hầu hết các quốc giatrên thế giới đều quan niệm và quy định cơ quan hành pháp (Chính phủ) thống nhấtthực hiện các chức năng chủ sở hữu đối với vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.Tuy nhiên về bản chất, Chính phủ cũng chỉ là chủ sở hữu được ủy quyền, chủ sởhữu đó cũng không có đầy đủ các đặc điểm và quyền của chủ sở hữu đích thực

Thứ hai, quan niệm về chủ sở hữu vốn nhà nước cũng rất khác nhau ở các hệ

thống kinh tế khác nhau Có quốc gia chỉ coi nhà nước Trung ương mới là chủ thể

sở hữu nhà nước, còn các chính quyền địa phương thì không có vai trò này Hiện

Trang 17

nay Việt Nam lại coi chủ thể sở hữu nhà nước là toàn bộ hệ thống nhà nước từ cấpTrung ương đến địa phương.

Thứ ba, do chủ thể sở hữu nhà nước có nhiều cấp quản lý từ trung ương đến

địa phương nên việc thực hiện quyền quản lý, giám sát sử dụng vốn nhà nướcthường được thực hiện thông qua bộ máy hành chính Cơ chế trách nhiệm cá nhân,động cơ để đạt được mục tiêu và áp lực kiểm tra, giám sát không được rõ ràng nhưđối với các chủ thể sở hữu khác, vì vậy thường có sự buông lỏng quản lý việc quản

lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp

Thứ tư, từ đặc điểm nhà nước đầu tư vốn không chỉ có mục tiêu kinh tế mà

còn có mục tiêu chính trị, an ninh, văn hóa, xã hội, nên việc đầu tư, sử dụng vốn nhànước của chủ sở hữu nhà nước khó phân định rõ ràng, dẫn tới tình trạng đầu tư dàntrải, thua lỗ

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước cũng là một chủ thể đầu tư, việc nhànước đầu tư vốn và các doanh nghiệp đã hình thành nên khái niệm vốn nhà nước Cụthể, tại khoản 8, Điều 3, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất,

kinh doanh tại doanh nghiệp 2014 quy định: “Vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.”

Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước: đây chính là nguồn chi phát triển

kinh tế - xã hội của ngân sách nhà nước, đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọngtrong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Các khoản chi kinh tế

- xã hội được pháp luật thừa nhận hiện nay gồm: chi đầu tư xây dựng các công trìnhkết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các khoản chi đầu tư phát triển khác; chi đầu tư

và hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của nhà nước; chi

để nhà nước góp vốn cổ phần hoặc liên doanh và các doanh nghiệp hoạt động trongcác lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nước; chi bổ sung dự trữ nhà nước 4

4Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật ngân sách nhà nước, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội

Trang 18

Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước: được xác định là thành phần

chủ đạo trong nền kinh tế, các DNNN vẫn nắm giữ một khối lượng vốn khá lớn.Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vựckinh tế nhà nước với sự tham gia của các DNNN vẫn đóng một vai trò chủ đạotrong nền kinh tế nhiều thành phần.Với chủ trương tiếp tục đổi mới DNNN, hiệuquả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích lũy của cácDNNN ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư củatoàn xã hội

Vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh và vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được xác định là vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp nhà nước trong

trường hợp các khoản vốn vay đã được Nhà nước trả nợ thay, được Nhà nước quyếtđịnh chuyển thành vốn cấp của Nhà nước cho doanh nghiệp theo quyết định của cấp

có thẩm quyền.5

1.1.3 Đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong doanh nghiệp

Pháp luật về đại diện thương mại đóng vai trò quan trọng trong hệ thốngpháp luật thương mại Các quốc gia có nền kinh tế thị trường đều quan tâm xâydựng và phát triển hệ thống pháp luật về đại diện thương mại, tạo tiền đề hành langpháp lý cho sự ổn định và phát triển của chế định này, thông qua đó thúc đẩythương mại phát triển Tại Việt Nam, đại diện thương mại vẫn còn là lĩnh vực khámới mẻ và chưa có tiềm năng phát triển thành ngành nghề chuyên nghiệp Tuynhiên, thuật ngữ này đã ra đời cũng như phát triển cùng với hệ thống pháp luật dân

sự và thương mại trong nước

Cụ thể về định nghĩa, khoản 1 Điều 134 BLDS 2015 quy định: Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Như vậy, đại diện là quan hệ pháp luật gồm có hai bên chủ thể là người đạidiện và người được đại diện Người đại diện là người nhân danh người được đại

5 Khoản 3 Điều 4 Nghị định 91/2015/NĐ-CP Về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng

Trang 19

diện xác lập quan hệ với người thứ ba, vì lợi ích của người được đại diện Ngườiđược đại diện là người tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ quan hệ do người đại diệnxác lập, thực hiện đúng thẩm quyền đại diện Người được đại diện rất đa dạng, cóthể là các cá nhân hoặc tổ chức.

Còn pháp luật thương mại đưa ra định nghĩa về đại diện cho thương nhân tại

Điều 141 Luật thương mại 2005: Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện Đại diện cho thương

nhân là một loại đại diện ủy quyền với điểm đặc thù khác với đại diện trong dân sự,những điểm khác biệt cụ thể là:

- Quan hệ đại diện cho thương nhân phát sinh giữa bên đại diện và bên giaođại diện và trong quan hệ này, cả hai bên đều phải là thương nhân Bên giao đạidiện là một thương nhân có quyền thực hiện những hoạt động thương mại nhất định

mà mình muốn ủy quyền Bên đại diện cho thương nhân cũng phải là thương nhânthực hiện hoạt động đại diện một cách chuyên nghiệp

- Bản chất hoạt động đại diện cho thương nhân là bên giao đại diện ủy quyềncho bên đại diện thay mặt và nhân danh bên giao đại diện thực hiện một số giaodịch thương mại và bên đại diện sẽ được hưởng thù lao sau khi hoàn thành côngviệc được giao Do đó, trong phạm vi ủy quyền bên đại diện được giao dịch với bênthứ 3 và mọi hành vi do bên đại diện thực hiện trực tiếp mang lại hậu quả pháp lýcho bên giao đại diện Bên giao đại diện phải chịu mọi trách nhiệm về các cam kết

do bên đại diện thực hiện trong phạm vi ủy quyền

- Hoạt động đại diện cho thương nhân quy định trong Luật thương mại có mụcđích sinh lời Việc thiết lập quan hệ đại diện cho thương nhân là để đại diện thay mặt

và nhân danh bên giao đại diện tìm kiếm, xác lập quan hệ thương mại cho bên thứ ba

Do vậy, quan hệ giưa bên đại diện và bên giao đại diện thể hiện sự ràng buộc chặtchẽ, quan hệ đại diện thường không thực hiện trong những thương vụ hợp tác nhanhchóng mà tồn tại trong quan hệ hợp tác lâu dài giữa đôi bên

Trang 20

- Nội dung của hoạt động đại diện cho thương nhân do các bên tham gia quan

hệ thỏa thuận Các bên có thể thỏa thuận về việc bên đại diện được thực hiện các hoạtđộng thương mại nào thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện

Theo quy định pháp luật thì Nhà nước là chủ sở hữu của vốn nhà nước trongdoanh nghiệp Tuy nhiên, với tính chất là thiết chế quyền lực chính trị với tổ chứcphức tạp nên nhà nước giao cho cơ quan nhất định với chức năng xác định làm đạidiện cho mình trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu vốn nhà nướctại doanh nghiệp - Chính phủ thực hiện thống nhất tổ chức thực hiện quyền, nghĩa

vụ của chủ sở hữu đối với vốn nhà nước Thủ tướng chính phủ ủy quyền cho cơquan, cá nhân thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với vốn nhànước đầu tư trong doanh nghiệp

Đối với từng loại hình doanh nghiệp, đại diện vốn nhà nước trong doanhnghiệp đó được xác định như sau:

- Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm vào

Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diệnchủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp

- Người đại diện phần vốn của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn là cá nhân được doanh

nghiệp ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm của doanh nghiệpđối với phần vốn của doanh nghiệp đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệmhữu hạn

- Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là cá nhân được cơ quan đại diện chủ sở

hữu ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sởhữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty tráchnhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Người trực tiếp đại diện phần vốn nhà nước hoặc người đại diện theo ủyquyền tại doanh nghiệp sau cổ phần hóa do đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước cử đểthực hiện quyền của cổ đông phần vốn nhà nước trong doanh nghiệp Người đại

Trang 21

diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa được đại diện chủ sở hữugiới thiệu để ứng cử chức danh ban quản lý, điều hành hoặc ban kiểm soát tại doanhnghiệp sau cổ phần hóa, được thay mặt chủ sở hữu tham dự và biểu quyết các vấn

đề liên quan đến quyền cổ đông trong các kỳ họp đại hội cổ đông, HĐQT doanhnghiệp sau cổ phần hóa Người đại diện chịu trách nhiệm hướng doanh nghiệp hoạtđộng theo đúng mục tiêu, định hướng của nhà nước và bảo toàn phát triển phần vốnnhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa Người đại diện chịu trách nhiệmtrước chủ sở hữu về các nhiệm vụ được giao Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhànước hay đối với doanh nghiệp có một phần vốn nhà nước đầu tư, chế độ quản lý,

sử dụng vốn và tài sản gắn với việc thực hiện thẩm quyền của cơ quan chủ sở hữu,

cơ quan quản lý và cơ quan điều hành

1.2 Khái quát về quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp

Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình theo nhữngquy luật, định luật hay những quy tắc tương ứng nhằm để cho hệ thống hay quátrình đó vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích

đã định trước Như vậy, quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp có thể hiểu là hệ thống các phương pháp và công cụ sử dụng để điều khiển, định hướng hoạt động đầu tư, sử dụng và giám sát việc sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển số vốn nhà nước trong doanh nghiệp.

Nhà nước với vai trò chủ sở hữu, thực hiện việc quản lý vốn Nhà nước tạiDNNN bằng các công cụ chủ yếu sau đây:

 Bằng hệ thống pháp luật: Như Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luậtquản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, các văn bản pháp luậthướng dẫn chế độ quản lý tài chính tại các DNNN, các công cụ tài chính vĩ mô như:chính sách thuế, lãi suất, tỷ giá

- Bộ Tài chính (Cục Tài chính doanh nghiệp)

- Sở Tài chính (Phòng Tài chính doanh nghiệp)

Trang 22

Bộ máy quản lý tài chính doanh nghiệp thực hiện chức năng kiểm tra, giámsát việc chấp hành pháp luật Nhà nước trong sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp Đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn pháp luật giúp cho các doanh nghiệpthực hiện đúng các chế độ, chính sách tài chính quy định hiện hành của Nhà nước

Đội ngũ quản lý của các CTCP Nhà nước (Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toántrưởng…) Các doanh nghiệp thông qua bộ máy kế toán, kiểm toán nội bộ, các hìnhthức công khai hoạt động tài chính… để thực hiện nhiệm vụ quản lý vốn Nhà nước

đã giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng Đồng thời, các doanh nghiệp phảichịu trách nhiệm trước Nhà nước trong việc quản lý vốn, bảo toàn và phát triển vốnNhà nước tại doanh nghiệp

1.2.2 Nguyên tắc quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp

Tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Nguyên tắc này đòi hỏi việc đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanhnghiệp phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để vàchính xác Tuân thủ pháp luật là đòi hỏi bắt buộc đối với nhà nước Mặt khác việcthực hiện nguyên tắc này cũng sẽ góp phần kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nướcmột cách hiệu quả, ngăn chặn tình trạng lợi dụng quyền lực về sở hữu vốn để trụclợi, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của những chủ thể liên quan khác trongdoanh nghiệp nhà nước có sở hữu vốn Ở khía cạnh khác, việc tuân thủ pháp luật sẽtạo ra sự thống nhất, đồng bộ, tránh chồng chéo, trùng lặp hoặc thiếu sót trong quátrình tổ chức quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành

Chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là một bộ phận của hệ thống

kế hoạch hóa Nếu phân chia theo góc độ nội dung, hệ thống kế hoạch hóa bao gồm

bộ phận cấu thành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là: chiến lược phát triển,quy hoạch phát triển, kế hoạch phát triển và các chương trình, dự án phát triển Kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội là một công cụ để quản lý và điều hành vĩ mô nềnkinh tế quốc dân, nó xác định một cách có hệ thống những hoạt động nhằm phát

Trang 23

triển kinh tế xã hội theo những mục tiêu, chỉ tiêu và các cơ chế chính sách sử dụngtrong một thời kỳ nhất định.6

Các công cụ này là sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trườngnhằm khắc phục được những thất bại của thị trường, hướng hoạt động thị trườngvào những mục tiêu xã hội cần có Đặc trưng của các công cụ này khác với cácnhóm khác ở chỗ đây là phương pháp quản lý nền kinh tế của nhà nước có mục tiêu.Chúng còn giúp huy động và phân bổ nguồn lực khan hiếm nhằm thực hiện các mụctiêu ưu tiên, những vấn đề mang tính bức xúc mà xã hội cần có và khi đó các nguồnlực khan hiếm trong đó có vốn sẽ được phân bổ phù hợp với nhu cầu trong dài hạncủa đất nước và địa phương Các kế hoạch, chính sách kinh tế còn là công cụ để thuhút các nguồn tài trợ từ nước ngoài

Vì vậy, xuất phát từ vai trò của doanh nghiệp đối với sự phát triển của nềnkinh tế quốc dân cần thiết hoạt động quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp dưới

sự điều chỉnh của đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước cần thiết phải có sự thống nhất

phù hợp với những chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành.

- Đầu tư vốn nhà nước để hình thành và duy trì doanh nghiệp ở những khâu,công đoạn then chốt trong một số ngành, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế kháckhông tham gia hoặc thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, duy trì tỷ lệ

cổ phần, vốn góp theo quy định tại Điều 10 và Điều 16 của Luật quản lý sử dụngvốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp 2014

Tại doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội;doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh;doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên; doanh nghiệp ứng dụngcông nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vựckhác và nền kinh tế Tiếp tục duy trì tỷ lệ cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại công

ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thuộc một trong cáctrường hợp không thu hút được các nhà đầu tư Việt Nam và nước ngoài

6 PGS-TS Ngô Thắng Lợi, Giáp trình Kế hoạch hóa phát triển, NXB Đại học Kinh tế quốc dân

Trang 24

đối với doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hộihoặc trường hợp cần thiết phải duy trì để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

- Cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước không can thiệptrực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động quản lý,điều hành của người quản lý doanh nghiệp

- Quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp phải thông qua người đạidiện chủ sở hữu trực tiếp hoặc người đại diện phần vốn nhà nước; bảo đảm doanhnghiệp sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, bình, đẳng, hợp tác và cạnhtranh theo pháp luật

- Cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đạidiện phần vốn nhà nước chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanhnghiệp, bảo đảm hiệu quả, bảo toàn và gia tăng giá trị vốn nhà nước đầu tư vàodoanh nghiệp; phòng, chống dàn trải, lãng phí, thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước

và doanh nghiệp

Công khai, minh bạch trong đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Thẩm quyền quản lý, sử dụng vốn và tài sản được giao cho cơ quan quản

lý, điều hành theo Luật doanh nghiệp và điều lệ công ty Đại diện theo pháp luậtnhân danh doanh nghiệp ký kết và đôn đốc thực hiện hợp đồng Kết quả thu, chiliên quan tới các giao dịch mua bán hàng hóa, thanh toán gắn với việc chuyển dịchquyền sở hữu và sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp được tổ chức kế toándoanh nghiệp ghi nhận trên các tài khoản kế toán Đây là căn cứ để xác định doanhthu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp việc minh bạch hóa thông tin về tàichính giúp cho cơ quan chủ sở hữu và cơ quan quản lý đánh giá kết quả thực hiệnnghị quyết và quyết định đã ban hành cũng như kiểm tra, giám sát hoạt động của

cơ quan và người điều hành

Phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Trong hoàn cảnh hội nhập thế giới hiện nay, Việt Nam tham gia ký kết và trởthành thành viên của rất nhiều Điều ước quốc tế liên quan đến kinh doanh thương

Trang 25

mại điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp Và về nguyên tắc quy định tại Điều 26

Công ước Viên 1969 quy định: “Tất cả điều ước có hiệu lực ràng buộc các thành viên và phải được các thành viên tự nguyện thi hành với thiện chí” Sự tận tâm,

thiện chí của các chủ thể ký kết vừa là cơ sở, vừa là đảm bảo quan trọng để chủ thể

ký kết tự ràng buộc mình những nghĩa vụ thực hiện các quy định của Luật điều ướcnói chung và Luật điều ước quốc tế nói riêng với tính chất là các cam kết quốc tếtồn tại song hành cùng các điều khoản thỏa thuận trong điều ước

Các điều ước quốc tế được thừa nhận là những thước đo giá trị hợp phápcũng như cơ sở xây dựng của các quy phạm pháp quốc gia thành viên khác bởi tínhchất điều chỉnh mang tầm quốc tế của nó cũng như Điều ước quốc tế là kết quả cuốicùng của quá trình thỏa thuận hệ thống quy phạm điều chỉnh vấn đề nhất định Vìvậy, quy phạm pháp luật quốc gia thành viên đều phải có nội dung phù hợp với điềuước quốc tế Nếu có sự mâu thuẫn giữa hai dạng quy phạm pháp luật này thì quyđịnh pháp luật quốc gia thành viên mặc nhiên vô hiệu

1.2.3 Vai trò quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp

Đảm bảo hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh sử dụng vốn nhà nước một cách có hiệu quả

Mục tiêu đầu tiên cũng là mục tiêu cuối cùng của mỗi doanh nghiệp khi tiếnhành hoạt động sản xuất kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận hay nói cách khác là tối

đa hóa giá trị doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phảitìm các biện pháp khai thác và sử dụng một cách triệt để những nguồn lực bên tronglẫn bên ngoài của doanh nghiệp Chính vì vậy, đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốnluôn được doanh nghiệp đặt lên hàng đầu, đó là mục tiêu trung gian tất yếu để đạtđược mục tiêu cuối cùng bới vốn có vai trò mang tính quyết định đối với quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong điều kiện ngân sách nhànước có hạn thì việc đầu tư sao cho hiệu quả, giảm thiểu khả năng mất vốn, mất khảnăng thanh toán và tránh tổn thất nghiêm trọng cho ngân sách của nhà nước là yêucầu cơ bản và thiết yếu

Do đó, nhiệm vụ đặt ra hiện nay của các cơ quan quản lý là phải quản lý chặtchẽ nguồn vốn nhà nước trong các doanh nghiệp để đồng vốn Nhà nước giao cho

Trang 26

doanh nghiệp được sử dụng một cách hiệu quả và kinh doanh có lãi Chính vì vậy,công tác quản lý vốn tại các doanh nghiệp có vốn Nhà nước là việc làm cấp bách,vừa để ổn định doanh nghiệp sau CPH, vừa để xây dựng chiến lược tăng trưởngkinh tế tại doanh nghiệp một cách lâu dài.

Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước với tư cách chủ sở hữu vốn trong doanh nghiệp

Với tư cách là chủ thể đem lại nguồn vốn duy trì hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp và đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển bền vững Nêncũng như các chủ thể góp vốn khác, Nhà nước có quyền tham gia một cách có hiệuquả và hợp pháp trong việc kiểm soát đồng vốn của mình được sử dụng như thế nàocũng như được hưởng các quyền lợi dành cho thành viên góp vốn như: được nhậncác thông báo có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, tham dự các cuộc họpcủa thành viên doanh nghiệp, định đoạt phần vốn góp của mình…

1.2.4 Nội dung quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp

Quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong doanh nghiệp

Nhà nước sử dụng vốn đầu tư của nhà nước để hình thành mới một doanhnghiệp, hoặc đầu tư bổ sung cho các doanh nghiệp hiện đang hoạt động đều phảixác định người có quyền quyết định đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp Theokinh nghiệm của các nước trên thế giới, thường có hai mô hình quản lý vốn nhànước trong doanh nghiệp dạng cơ bản:

Mô hình thứ nhất là Quốc hội luôn là cơ quan có thẩm quyền quyết định cuốicùng trong việc thành lập mới một DNNN, kể cả DNNN hoạt động theo luật riêng

và DNNN dưới hình thức công ty TNHH, CTCP hoạt động theo luật doanh nghiệp,

ví dụ ở New Zealand, Phần Lan, Thụy Điển Cơ sở của cơ chế này xuất phát từ vị trí

và vai trò của Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước chịutrách nhiệm về việc sử dụng các nguồn vốn ngân sách có nguồn gốc từ việc đóngthuế của người dân Do đó Quốc hội là chủ sở hữu thực sự của vốn nhà nước đầu tưtại doanh nghiệp, quốc hội có quyền trong việc ra quyết định đầu tư hay rút vốn đầu

tư ở các doanh nghiệp Tuy nhiên cơ chế này chỉ thực hiện được ở những nhà nước

Trang 27

nào mà số lượng doanh nghiệp nhà nước đầu tư vốn không lớn, vì với số lượng ít thìQuốc hội mới có thể thực hiện được quyền này.

Mô hình thứ hai xác định Chính phủ là người được giao thực hiện chức năngchủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, đồng thời Chính phủ cũng làngười trực tiếp ra quyết định đầu tư vốn vào doanh nghiệp và rút vốn ra khỏi doanhnghiệp, các quốc gia áp dụng mô hình này như Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc….Việc đầu tư vốn có thể là hình thành mới một doanh nghiệp, hoặc đầu tư vốn bổsung, theo các mô hình này, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định đầu tư vào nhữngdoanh nghiệp lớn ở Trung ương Việc quyết định đầu tư các doanh nghiệp thuộcngành hoặc địa phương được thực hiện theo cơ chế ủy quyền Theo đó, Thủ tướngChính phủ ủy quyền quyết định đầu tư cho người đứng đầu mối chủ sở hữu vốn nhànước đầu tư tại doanh nghiệp như Bộ chủ quản, hoặc cơ quan chuyên trách về quản

lý vốn nhà nước, hoặc công ty đầu tư vốn nhà nước Sau đó những đại diện chủ sởhữu vốn nhà nước lại tiếp tục ủy quyền cho các đại diện vốn nhà nước tại các doanhnghiệp Quyền quyết định đầu tư tăng, giảm vốn nhà nước tại doanh nghiệp đượcquy định như sau: đối với đại diện chủ sở hữu do thủ tướng Chính phủ phân cấp ủyquyền thì do cơ quan này xem xét, quyết định; đối với trường hợp Tổng công ty,công ty nhà nước độc lập là đại diện chủ sở hữu phần vốn tại doanh nghiệp sau cổphần hóa thì tổng công ty, DNNN độc lập xem xét, quyết định trên nguyên tắc:người quyết định phương án đầu tư vốn vào doanh nghiệp đồng thời là người quyếtđịnh bổ sung vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp hoặc quyết định giảm phầnvốn nhà nước vào doanh nghiệp

- Hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước bao gồm:hoạt động sử dụng vốn trực tiếp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh thôngthường và hoạt động sử dụng vốn gián tiếp

- Hoạt động sử dụng vốn trực tiếp: sử dụng vốn đầu tư, xây dựng, muasắm tài sản cố định, tài sản lưu động và các yếu tố khác để phục vụ hoạt động sảnxuất kinh doanh của công ty

- Hoạt động sử dụng vốn gián tiếp: đầu tư vốn vào các công ty khác,góp vốn liên doanh liên kết với các công ty khác, mua một phần hoặc toàn bộ công

Trang 28

ty khác, đầu tư thành lập doanh nghiệp mới,… Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhànước: doanh nghiệp được quyền sử dụng vốn nhà nước đã đầu tư vào hoạt động sảnxuất kinh doanh của mình theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn Doanh nghiệpphải xây dựng cơ chế quản lý sử dụng vốn tuân thủ theo các quy định của Nhànước Đối với doanh nghiệp có một phần vốn nhà nước đầu tư, việc ra quyết định sửdụng vốn thuộc thẩm quyền của doanh nghiệp và luôn phải tuân thủ theo nguyên tắcbảo toàn và phát triển vốn.

Quản lý phân chia lợi nhuận trong doanh nghiệp có vốn nhà nước đầu tư

Lợi nhuận là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận được sau khi đã trừ đi các chiphí liên quan đến đầu tư đó, là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí.Lợi nhuận là nguồn tích lũy quan trọng để doanh nghiệp bổ sung vốn kinh doanh,tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh Vì nguồn chủ yếu chocác quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính… đều được lấy từ lợi nhuận Nhờ

có lợi nhuận doanh nghiệp mới có nguồn để đầu tư đổi mới công nghệ, tang nặngsực sản xuất, hoàn thiện sản phẩm, hạ giá thành để tăng tính cạnh tranh hàng hóatrong thị trường trong xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa khỏi sự thua thiệt Mốitương quan giữa vốn và lợi nhuận là mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ cho nên nội dungquản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp cần thiết bao gồm cả hoạt động quản lýphân chia lợi nhuận

Về cơ bản, mô hình phân phối lợi nhuận được thực hiện như sau: Lợi nhuậntrước thuế thu nhập: chuyển lỗ các năm trước để đảm bảo bù đắp vốn cho hoạt độngsản xuất kinh doanh Thời hạn được chuyển lỗ do nhà nước quy định tại Luật thuếthu nhập doanh nghiệp Ở Việt Nam hiện nay doanh nghiệp được chuyển lỗ trongthời gian 5 năm Nếu hết thời hạn chuyển lỗ theo quy định mà doanh nghiệp chưachuyển hết lỗ, số lỗ còn lại doanh nghiệp phải sử dụng lợi nhuận sau thuế của cácnăm tiếp theo để bù đắp; nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; bù đắp khoản lỗ của cácnăm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế; lập quỹ dự phòng để

bù đắp những tổn thất có thể xảy ra trong tương lai; lập quỹ đầu tư phát triển để đápứng nhu cầu vốn cho đầu tư, mở rộng tương lai; đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng khác

Trang 29

nhau của chủ sở hữu như trích quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ khen thưởng banđiều hành, chia lãi, chia cổ tức…

Đối với công ty cổ phần, việc phân phối lợi nhuận được thể hiện thông quachính sách cổ tức Chính sách cổ tức thể hiện quyết định của công ty giữa việc trảlợi nhuận cho cổ đông so với việc tái đầu tư lợi nhuận vào chính công ty đó Chínhsách cổ tức có tác động nhất định đến giá cổ phần trên thị trường, dẫn đến ảnhhưởng đến lợi ích của chủ sở hữu Phân phối lợi nhuận sau thuế phải ưu tiên chomục tiêu bảo toàn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, trước hết phải được dùng để

bù đắp các khoản lỗ không được khấu trừ từ lợi nhuận trước thuế năm trước, cáckhoản chi phí bất hợp lý, hợp lệ theo chế độ tài chính hiện hành

Phương thức phân phối cổ tức của các công ty cổ phần được thành lập từ cổphần hóa DNNN nói chung và đặc biệt là đối với các doanh nghiệp cổ phần hóa cóphần vốn nhà nước giữ cổ phần chi phối đều thực hiện việc tổ chức phân phối lợinhuận như đối với DNNN Chỉ khi đến giai đoạn chia cổ tức mới thực hiện như quyđịnh của Luật Doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước đầu tư, nhà nước là chủ sở lợinhuận sau thuế Về cơ bản, nhà nước dành một lợi nhuận sau thuế để trích lập hữuduy nhất của doanh nghiệp Nhà nước có toàn quyền đối với việc sử dụng quỹ dựphòng tài chính; trích quỹ đầu tư phát triển để tái đầu tư thay thế, đổi mới máy mócthiết bị, bổ sung vào vốn cho doanh nghiệp; trích quỹ khen thưởng phúc lợi để khenthưởng, khuyến khích, đảm bảo phúc lợi chung cho người lao động trong doanhnghiệp Phần lợi nhuận còn lại sẽ được đưa về một quỹ chung của nhà nước, quỹnày là tập hợp lợi nhuận sau thuế được chia cho chủ sở hữu là nhà nước từ cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước Đối với những doanh nghiệp có cổ phầnvốn góp của nhà nước, nhà nước tham gia vào việc phân phối lợi nhuận sau thuế với

tư cách là một trong các chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước là chủ sở hữu sẽ đượchưởng lợi nhuận sau thuế theo tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước trong doanh nghiệp Việcphân chia lợi nhuận sau thuế sẽ tuân thủ theo quy định của doanh nghiệp

Trang 30

Giám sát vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp

Giám sát tài chính doanh nghiệp theo nghĩa rộng là hoạt động giám sát đốivới quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp đượctiến hành bởi chủ sở hữu, chủ nợ, cơ quan, tổ chức nội bộ và cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền Còn theo nghĩa hẹp, giám sát tài chính doanh nghiệp làhoạt động của tổ chức nội bộ nhằm kiểm tra, xem xét tính hợp lý, hợp pháp trongquyết định tạo lập, quản lý, sử dụng vốn và tài sản của cơ quan quản lý, điềuhành doanh nghiệp.7

Để thực hiện nội dung giám sát việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp;việc xác định vốn đầu tư, cân đối kế hoạch nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn để đầu

tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội của việc đầu tưvốn nhà nước vào doanh nghiệp, việc quyết định chủ trương đầu tư, trình tự, thủ tụcquyết định đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; việc thực hiện quyền, tráchnhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu trong đầu tư vốn nhà nước vào doanhnghiệp thì cơ quan đại diện chủ sở hữu phải thực hiện phân tích, đánh giá việc đầu

tư vốn nhà nước để:

- Thành lập doanh nghiệp nhà nước

- Bổ sung vốn điều lệ đối với doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động

- Bổ sung vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn haithành viên trở lên

- Mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp

Cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm đánh giá tính phù hợp của việcđầu tư vốn nhà nước theo mục tiêu và phạm vi đầu tư vốn nhà nước, đánh giá tínhtuân thủ về trình tự, thủ tục, theo từng trường hợp cụ thể về thẩm quyền quyết địnhthành lập doanh nghiệp, thẩm quyền quyết định chủ trương và quyết định đầu tưvốn nhà nước; đánh giá nguồn vốn, cân đối kế hoạch nguồn vốn và sử dụng nguồnvốn nhà nước để đầu tư; đánh giá, so sánh chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hộicủa doanh nghiệp nhà nước được thành lập giữa thực tế với Đề án: Thành lập doanh

Trang 31

nghiệp nhà nước; Bổ sung vốn điều lệ đối với doanh nghiệp nhà nước đang hoạtđộng; Bổ sung vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn haithành viên trở lên; Mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp Trường hợp hiệuquả thực tế thấp hơn hiệu quả trong Đề án, cơ quan đại diện chủ sở hữu phải giảithích nguyên nhân và đề xuất giải pháp; đánh giá việc thực hiện quyền và tráchnhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu trong việc đầu tư vốn nhà nước.

Để thực hiện giám sát tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, cơ quan đại

diện chủ sở hữu thực hiện giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn; giám sát việcquản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp; giám sát kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; giám sát chấp hành pháp luật về đầu tư,quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; ban hành và thực hiện quy chếquản lý tài chính của doanh nghiệp; giám sát việc cơ cấu lại vốn nhà nước đầu tư tạidoanh nghiệp, cơ cấu lại vốn của doanh nghiệp đầu tư tại công ty con, công ty liênkết; giám sát thực hiện chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng, phụ cấp trách nhiệm

và quyền lợi khác đối với người lao động, người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soátviên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Lao động

Nội dung giám sát tài chính công ty con, công ty liên kết gồm i) tình hình sảnxuất kinh doanh;ii) hiệu quả đầu tư vốn; iii) khả năng thanh toán nợ đến hạn, hệ số

nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu; iv) việc chuyển nhượng vốn đã đầu tư Trên cơ sởBáo cáo tài chính của công ty con, công ty liên kết, doanh nghiệp xây dựng Báo cáotình hình đầu tư vào công ty con, công ty liên kết và nộp cho cơ quan đại diện chủ

sở hữu và cơ quan tài chính cùng cấp

Nội dung giám sát vốn của doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài gồm i) tìnhhình đầu tư vốn ra nước ngoài và thu hồi vốn đầu tư về Việt Nam, tiến độ thực hiện

dự án tại nước ngoài; ii) tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các dự án đầu tư ra nước ngoài Doanh nghiệp lập Báo cáo tình hình đầu tư vốn

ra nước ngoài và thu hồi vốn đầu tư và Báo cáo tình hình tài chính và kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các dự án đầu tư tại nước ngoài

Trang 32

1.3 Mô hình quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới

1.3.1 Mô hình của Trung Quốc

Cải cách sở hữu vốn Nhà nước trong các DNNN ở Trung Quốc đã thực hiện

từ năm 1978 cho đến nay Từ thực tiễn quản lý, các nhà khoa học và lãnh đạo TrungQuốc đã cho rằng để nâng cao hiệu quả của các DNNN thì phải đi xa hơn, từ chỗchia tách quyền sở hữu và quyền kinh doanh, tới chỗ phân chia bản thân quyền sởhữu, để qua đó biến các DNNN thành những người sở hữu tư liệu sản xuất vớinhững quyền tương ứng cả về việc sử dụng tài sản lẫn việc thu và sử dụng lợinhuận

Ở Trung Quốc trước đây, tài sản nhà nước (TSNN) thường được nhận thứcmột cách đơn giản là bao gồm toàn bộ các xí nghiệp, doanh nghiệp do nhà nước bỏvốn thành lập nên Tuy nhiên cùng với việc đi sâu cải cách DNNN, vấn đề TSNN

đã được nhận thức lại một cách đầy đủ và khoa học hơn Theo đó, TSNN khôngphải là một khái niệm đơn thuần để chỉ các DNNN mà đó là một thể tổng hợp củahai bộ phận cấu thành, bao gồm các tài sản mang tính kinh doanh và các tài sảnkhông mang tính kinh doanh

- Các TSNN mang tính kinh doanh, chỉ toàn bộ các doanh nghiệp 100% vốnnhà nước, các doanh nghiệp do nhà nước nắm cổ phần khống chế và lượng cổ phầntrong các doanh nghiệp có sự tham gia đầu tư của nhà nước

- Các TSNN không mang tính kinh doanh, chủ yếu gồm 3 dạng chính là: tàinguyên thiên nhiên; hàng hoá công cộng (cơ sở hạ tầng, tài sản công của các đơn vịhành chính sự nghiệp, y tế, giáo dục ) và các tài sản tồn tại dưới dạng tiền tệ

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề cải cách thể chế quản lý TSNN,đặc biệt là thể chế quản lý ngày càng thích ứng với sự vận hành của thể chế kinh tếthị trường, sau hai thập niên cải cách, các nhà hoạch định cải cách ở Trung Quốc đã

đề ra nguyên tắc mới cho việc xây dựng thể chế quản lý TSNN, theo đó: nhà nước

sở hữu, quản lý phân theo các cấp, trao quyền kinh doanh và phân công giám sát.Nguyên tắc cơ bản của thể chế kinh tế thị trường xác định: "Ai là chủ sở hữu, người

đó đầu tư, người đó chịu trách nhiệm và được hưởng lợi; do vậy, những can thiệp

Trang 33

mang tính mệnh lệnh hành chính, không tuân theo các quy luật kinh tế cơ bản sẽkhông thể thích ứng với vòng quay của kinh tế thị trường".8

Khu vực DNNN của Trung Quốc bao gồm các doanh nghiệp do nhà nước sởhữu toàn bộ vốn và các doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát (nhà nước nắm trên50% cổ phần) Trong những năm cải cách, Trung Quốc đã thực hiện nhiều biệnpháp như phòng lợi, nhường quyền, nắm to buông nhỏ, xây dựng chế độ doanhnghiệp hiện đại với sự tách quyền sở hữu với quyền kinh doanh Qua đó, tỷ trọngcủa khu vực DNNN giảm đi đáng kể.9

Mục tiêu và phương thức đầu tư của nhà nước tại các doanh nghiệp: Loại

DNNN độc quyền đầu tư nhằm đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia như côngnghiệp vũ khí, khí tài quân sự quan trọng, đảm bảo dự trữ quốc gia, sản xuất tiền vàmột số lĩnh vực khác có liên quan đến quốc phòng và an ninh Nhà nước đầu tư100% vốn điều lệ cho loại doanh nghiệp này và khu vực dân doanh không đượcphép tham gia đầu tư Loại DNNN ưu tiên đầu tư: những hạng mục xây dựng hạtầng cơ sở lớn có lợi ích xã hội mà khu vực ngoài nhà nước không đủ sức hoặckhông muốn tham gia; những ngành, lĩnh vực đòi hỏi nhiều vốn như luyện kim, hóachất; các ngành dịch vụ quan trọng như tài chính, bảo hiểm, đường sắt, hàng không,bưu chính viễn thông Những loại doanh nghiệp này có thể do nhà nước đầu tư toàn

bộ hoặc cùng các thành phần kinh tế khác đầu tư

Loại doanh nghiệp mà nhà nước cần đầu tư hướng dẫn và chính sách thúc đẩyphát triển, các ngành khoa học mũi nhọn có độ rủi ro cao nhưng có ý nghĩa chiếnlược trong phát triển kinh tế của quốc gia như công nghệ vi mạch, công nghệ sinhhọc, công nghiệp vũ trụ…

Loại doanh nghiệp khai thác tài nguyên không tái sinh cần đầu tư quy mô lớn,thời gian thu hồi vốn chậm mà các thành phần kinh tế khác không đủ sức đầu tư vàchưa muốn các nhà đầu tư nước ngoài chiếm phần lớn cổ phần: như than, dầukhí…loại doanh nghiệp này vốn nhà nước giữ vai trò chủ đạo

8Phạm Sĩ Thành (2005), Con đường phát triển doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc từ 1949 đến 2004, Nxb

Thế giới, Hà Nội

9Phan Thị Thanh Hòa (2010), Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận án

tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội.

Trang 34

Tuy nhiên tùy theo sự thay đổi của từng giai đoạn phát triển kinh tế của đấtnước và môi trường kinh tế, nhà nước sẽ điều chỉnh thứ tự ưu tiên và phạm vi hoạtđộng của khu vực kinh tế nhà nước Chức năng của chính phủ trung ương và chínhquyền địa phương được quy định khác nhau; phạm vi, mục tiêu hoạt động của cácdoanh nghiệp trực thuộc cũng không giống nhau Các doanh nghiệp trực thuộcchính phủ quản lý hoạt động chủ yếu trong những ngành nghề mang tính chiến lược

và quốc gia; hoạt động của các doanh nghiệp thuộc địa phương mang tính công ích,tính địa phương

Đối với vốn nhà nước trong những doanh nghiệp sau cổ phần hóa theo môhình của tập đoàn Đầu tư và phát triển Trung Quốc (SDIC) cho phép tách chức năngquản lý kinh tế - xã hội và quyền sở hữu tài sản thông qua cơ chế nhà nước thựchiện vai trò cổ đông tại doanh nghiệp, nhà nước chỉ nắm giữ số ít những doanhnghiệp then chốt với quy mô doanh mục tinh gọn và thực hiện giao khoán chỉ tiêu

về lợi nhuận cho doanh nghiệp Tổ chức thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nướcViệc phân công, phân cấp thực hiện quyền chủ sở hữu với vốn nhà nước tại DNNNnhư sau:

Quốc Vụ Viện đại diện cho nhà nước thực hiện chức năng nhiệm vụ của ngườiđầu tư vốn đối với các DNNN cỡ lớn, các DNNN nắm cổ phần khống chế, các doanhnghiệp có cổ phần của nhà nước trong những lĩnh vực mang tính huyết mạch của nềnkinh tế và có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia Chính quyền nhân dân tỉnh, khu tự trị,thành phố trực thuộc và chính quyền nhân dân các khu kinh tế mở, các Châu tự trị đạidiện nhà nước thực hiện chức năng đầu tư vốn đối với các DNNN, các DNNN nắm

cổ phần khống chế và các doanh nghiệp có cổ phần nhà nước không do Quốc VụViện đại diện nhà nước chịu trách nhiệm đầu tư vốn

Để quản lý và giám sát việc sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệplớn ở Trung Ương, Trung Quốc đã thành lập Ủy ban giám sát và quản lý tài sản nhànước (SASAC), Ủy ban là cơ quan ngang Bộ trực thuộc Hội đồng nhà nước đượcthành lập với mực tiêu thực hiện chức năng của người đầu tư vốn, giám sát, quản lýtài sản nhà nước tại doanh nghiệp nhằm phân định rõ giữa quyền quản lý nhà nước

Trang 35

với quyền chủ sở hữu nhà nước, tách bạch quản lý nhà nước với quản lý doanhnghiệp Quyền hạn và nghĩa vụ của SASAC được quy định gồm:

- Thực hiện trách nhiệm của một nhà đầu tư theo quy định của pháp luật giámsát và quản lý tài sản nhà nước tại doanh nghiệp; tăng cường quản lý có hiệu quả tàisản nhà nước

- Giám sát và quản lý việc bảo toàn, phát triển giá trị tài sản nhà nước tại cácdoanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý thông qua chế độ báo cáo thống kê và kiểmtoán; hình thành và cải tiến hệ thống chỉ tiêu đánh giá bảo toàn, phát triển giá trị tàisản nhà nước; bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư nhà nước

- Hướng dẫn và thúc đẩy quá trình cái cách và tái cấu trúc DNNN; Thúc đẩyhình thành và vận hành hệ thống quản trị BNNN hiện đại; đề xuất chiến lược điềuchỉnh cơ cấu kinh tế nhà nước

- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, đánh giá, thưởng phạt các nhà quản lý điều hành caocấp của DNNN theo quy định của pháp luật và theo kết quả hoạt động của họ; hìnhthành hệ thống lựa chọn cán bộ quản lý điều hành doanh nghiệp theo đòi hỏi củakinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và quản trị doanh nghiệp hiện đại

- Theo các quy định của pháp luật có liên quan, SASAC thay mặt nhà nướcthành lập các hội đồng giám sát để giám sát hoạt động của doanh nghiệp và chịutrách nhiệm quản lý hoạt động hàng ngày của các hội đồng này

- Đề xuất các chính sách và quy định pháp luật cho công tác quản lý tài sảnnhà nước; định hướng và giám sát công tác quản lý tài sản nhà nước ở địa phươngtheo quy định của pháp luật; thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Hộiđồng nhà nước

Ở các địa phương (tỉnh, thành phố, khu tự trị) cũng thành lập một tổ chứctương tự như SASAC trung ương để điều hành quản lý và giám sát tài sản nhà nướctrong DNNN địa phương

Cơ quan giám sát quản lý tài sản nhà nước của chính quyền cấp trên chỉ đạo vàgiám sát đôn đốc công tác giám sát quản lý tài sản nhà nước của chính quyền cấpdưới Cơ quan giám sát quản lý tài sản nhà nước báo cáo với chính quyền cùng cấp về

Trang 36

công tác giám sát quản lý tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp, thực trạng bảotoàn và tăng tài sản nhà nước và các công việc trọng đại khác.

Như vậy, quyền sở hữu và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp đượcchuyển dần từ cơ quan nhà nước sang cơ quan nắm quyền đầu tư vốn Điểm mạnhcủa mô hình SASAC:

- Giám sát DNNN thông qua cơ chế cử ban giám sát tại doanh nghiệp Bangiám sát chỉ được tham dự các cuộc họp ban lãnh đạo doanh nghiệp nhưng khôngđược đưa ra ý kiến và can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp

- Thực hiện giao khoán chỉ tiêu về lợi nhuận cho các doanh nghiệp theo kếhoạch từ đầu năm

1.3.2 Mô hình của Singapore

Singapore thành lập các công ty đầu tư tài chính nhà nước để thực hiệnchức năng đại diện chủ sở hữu và quản lý phần vốn thuộc sở hữu của Chínhphủ đó chính là Temasek Holding limited (để quản lý các doanh nghiệp công),Health Corporation of Singapore (để quản lý các bệnh viện nhà nước đã đượccông ty hóa).10

Temasek Holdings Limited là một tập đoàn đầu tư vốn của nhà nước thuộc

Bộ tài chính, có chức năng thực hiện đầu tư vốn vào các công ty theo chiến lượcphát triển kinh tế của Chính phủ Singapore, đại diện chủ sở hữu nhà nước và quản

lý phần vốn thuộc sở hữu của Chính phủ đầu tư tại các doanh nghiệp

Hoạt động của Temasek

Nguồn vốn do Temasek quản lý bao gồm nguồn vốn nhà nước cấp ban đầu,các nguồn vốn từ bán tài sản nhà nước, bán công ty nhà nước, cổ tức thu được từcác công ty mà Temasek đầu tư Về bản chất Temasek hoạt động như một quỹ đầu

tư chuyên nghiệp, được chủ động đầu tư vốn vào các doanh nghiệp có triển vọng,tại ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp thông qua việc tái cơ cấu, đưa ra nhữnghoạch định chiến lược hay những quyết định quan trọng khác Ngoài ra, Temasekcòn dùng lợi nhuận thu được từ các công ty để đầu tư theo yêu cầu của Chính phủ,

10Bùi Văn Huyền (2009), "Doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước ở Xingapo", Nghiên cứu kinh tế, 11(378),

Trang 37

theo đề nghị của các công ty hoặc gửi ngân hàng khi chưa sử dụng Mục tiêu hoạtđộng của Temasek là đem lại giá trị tối đa cho các cổ đông, trong đó có cổ đông nhànước thông qua việc nâng cao giá trị các khoản đầu tư trong danh mục.

Tùy theo tỷ lệ vốn của mình tại các công ty mà Temasek tiến hành quản lýcông ty, thực hiện việc bổ nhiệm, miễn nhiệm lãnh đạo công ty, phê duyệt phương ánđầu tư kinh doanh, yêu cầu báo cáo tài chính và báo cáo hoạt động sản xuất kinhdoanh, giám sát hoạt động của các công ty với tư các cổ đông Temasek rất chú trọngđến việc bổ nhiệm nhân sự của mình tại HĐQT của những công ty có vốn góp củaChính phủ do Temasek quản lý nhằm đảm bảo các công ty này hoạt động tốt và phùhợp với chiến lược của mình, đồng thời nhằm giám sát hiệu quả và chiến lược của cáccông ty, nhưng không tham gia vào hoạt động hàng ngày của các công ty đó Thôngqua sử dụng quá trình tiến cử, tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp và công khai tàichính, Temasek nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng quàn trị của các công ty

có vốn đầu tư của Chính phủ

Về tổ chức và quan hệ với các cơ quan Nhà nước, Temasek trực thuộc Bộ tài

chính Bộ Tài chính giao Temasek thay mặt Bộ để quản lý vốn nhà nước tại các công

ty mà nhà nước đầu tư Thành viên HĐQT và Tổng giám đốc Temasek do Bộ trưởng

Bộ Tài chính bổ nhiệm và miễn nhiệm Điểm đáng lưu ý là phần lớn các thành viêncủa Temasek đề không xuất thân từ các quan chức chuyên nghiệp, mà là những nhàkinh tế hay các nhà kinh doanh cha truyền con nối Do đó lãnh đạo Temasek luônmang đầu óc kinh doanh trong mọi hoạt động Temasek chỉ báo cáo Bộ Tài chính cácquyết định đầu tư vượt quá quyền hạn của mình và báo cáo định kỳ theo yêu cầu của

Bộ tài chính Các Bộ quản lý ngành không có quan hệ chỉ đạo với vai trò của chủ sởhữu đối với Temasek Tương tự, các công ty vốn góp của Temasek (chủ yếu là nhữngCTCP hình thành từ công ty nhà nước) không chịu sự chi phối của Bộ quản lý ngànhtrừ chức năng quản lý nhà nước Temasek được coi là mô hình hoạt động thành công

ở khu vực châu Á Mô hình của Temasek phù hợp với điều kiện của Singapore,Temasek được quyền chủ động trong việc đầu tư và rút vốn đầu tư khỏi doanhnghiệp Temasek chủ yếu mang ý nghĩa thuần túy kinh doanh.11

11Phan Thị Thanh Hòa (2010), Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận án

tiến sĩ Kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội.

Trang 38

1.3.3 Mô hình của New Zealand

Nhà nước New Zealand luôn duy trì sự tham gia vào các hoạt động kinh tế,tuy phương thức thực hiện có sự thay đổi qua các thời kỳ Hiện nay, nhà nước NewZealand đã chuyển từ vai trò người điều hành kinh doanh sang tư cách của nhà đầu

tư và tùy thuộc đặc điểm của tượng đầu tư mà có các mục tiêu khác nhau Quốc hội

là cơ quan thông qua danh mục định các DNNN Toàn quyền New Zealand quyếtđịnh thành lập DNNN trên cơ sở đề nghị của hội đồng liên bang và bằng nguồnngân sách được Quốc hội phân bổ.12

Luật DNNN 1986 của New Zealand không có quy định riêng về quyền củachủ sở hữu đối với DNNN Do các DNNN tổ chức dưới hình thức công ty TNHHnên vấn đề này đã được quy định tại Luật Công ty 1993, theo đó, chủ sở hữu nhànước thực hiện các quyền đối với doanh nghiệp với tư cách là thành viên góp vốn

và thông qua Hội đồng thành viên

Theo Luật DNNN 1986, người đứng tên của vốn nhà nước tại DNNN là các

Bộ trưởng của Chính phủ Hoàng gia và được gọi là Bộ trưởng nắm vốn của DNNNgồm Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ quản lý ngành Luật DNNN cũng quy định hai

Bộ trưởng nắm vốn này luôn giữ phần vốn góp ngang nhau, mỗi Bộ trường nắm giữ50% vốn điều lệ Tuy nhiên trong thực tế thì Bộ trưởng quản lý ngành là thành viênthường trực, Bộ trưởng Bộ Tài chính chỉ tham gia như là người thứ hai Các bộtrưởng nắm vốn không có quyền chuyển đổi sở hữu vốn góp của DNNN do mìnhđứng tên, cũng không có quyền cho phép DNNN chia hay bổ sung thêm vốn gópmới cho bất kỳ đối tượng nào khác không phải là Bộ trưởng nắm vốn

Cơ chế thực hiện các quyền của chủ sở hữu nhà nước

- Các Bộ trưởng nắm vốn bổ nhiệm và miễn nhiệm thành viên HĐQT doanhnghiệp và thành viên HĐQT chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng nắm vốn về hoạtđộng quản lý công ty của họ Bộ trưởng nắm vốn chịu trách nhiệm trước Quốc hội

về hoạt động của DNNN

12Phan Thị Thanh Hòa (2010), Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở Việt Nam, Luận án

Trang 39

- HĐQT là cơ quan quản lý cao nhất của công ty, đại diện cho chủ sở hữu,thực hiện mục đích và định hướng phát triển của công ty HĐQT chịu trách nhiệmvới Bộ trưởng nắm giữ vốn trong khung khổ một bản thỏa ước về mục tiêu hoạtđộng của DNNN Bản thỏa ước này có tính chất như một bản hợp đồng quản lý giữa

Bộ trưởng nắm vốn với HĐQT và theo điều lệ doanh nghiệp

Bản thỏa ước này bao gồm các thông tin cho năm tài chính và hai năm tiếptheo: mục tiêu của nhóm (gồm DNNN và các công ty con (nếu có)); bản chất vàphạm vi hoạt động; mức và tỷ lệ vốn chủ sở hữu nhà nước trên tổng tài sản; cơ chế

về hạch toán; chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động (tỷ suất lợi nhuận) và các chỉ tiêu kháctheo đó, có thể đánh giá hoạt động của nhóm so với mục tiêu đề ra; các nguyên tắcxác định cổ tức hàng năm cùng ước tính về số lượng hay tỷ lệ thu nhập sau thuếhàng năm (theo nguồn vốn và theo doanh thu) dự định sẽ chia cho nhóm; loại thôngtin DNNN sẽ cung cấp cho các Bộ trưởng nắm vốn trong năm tài chính đó; quytrình cần tuân thủ trước khi DNNN hoặc công ty con góp tiền, mua hoặc đầu tưbằng các hình hình thức khác để có quyền sở hữu cổ phiếu của bất kỳ doanh nghiệpnào khác… Bộ trưởng quản lý ngành sẽ phải gửi bán thỏa ước này cho Quốc hội

Để giúp cho các Bộ thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu và giám sáthoạt động của DNNN, New Zealand thành lập Ủy ban tư vấn giám sát DNNN(CCMAU) trực thuộc Bộ tài chính Hoạt động của CCMAU có tính chất độc lập,CCMAU có nhiệm vụ tư vấn cho chủ sở hữu nhà nước về thành lập công ty nhànước mới; tư vấn về tái cơ cấu nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, tìm kiếm và cungcấp danh mục các ứng viên cho HĐQT, đồng thời giúp các Bộ giám sát hoạt độngcủa các DNNN; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng quản lý giữa bộ trưởngnắm vốn và HĐQT công ty cũng như mục tiêu quản lý, kế hoạch kinh doanh

Quốc hội là cơ quan giám sát quyền đại diện chủ sở hữu do các Bộ trườngthực hiện Việc giám sát được thực hiện trên cơ sở thông tin về mục tiêu của doanhnghiệp sở hữu nhà nước trong năm tài chính đó và hai năm tiếp theo; các thông tincủa báo cáo tài chính đã được kiểm toán và báo cáo kiểm toán

Như vậy, dựa trên kinh nghiệm quản lý vốn nhà nước của các nước trên, bàihọc đối với Việt Nam:

Trang 40

Thứ nhất, nhà nước chỉ đầu tư vốn vào các doanh nghiệp hoạt động trong

những lĩnh vực quan trọng

Thứ hai, xác định và tách bạch chức năng, quyền hạn của đại diện chủ sở hữu

vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, không can thiệp vào hoạt động của DNNN

Thứ ba, quyền của đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp sẽ tùy

thuộc vào mức độ đầu tư vốn của nhà nước, đối với doanh nghiệp 100% vốn nhànước đầu tư thì nhà nước sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn Đối với DNNN đầu tư mộtphần vốn, thì quyền của cổ đông hay người góp vốn là ngang bằng như nhau

Thứ tư, giám sát của chủ sở hữu nhà nước đầu tư, tập trung vào việc đánh giá

kết quả thực hiện các mục tiêu Biện pháp giám sát nhấn mạnh tới cơ chế minh bạchhóa thông tin về các phần vốn đầu tư của nhà nước tại doanh nghiệp

Ngày đăng: 22/03/2018, 18:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w