Trần Vũ Hải, “Một số vấn đề về việc ban hành luật thuế môi trường ở Việt Nam” Tạp chí luật học số 4/2009; “Luật thuế môi trường – giải pháp quản lý và bảo vệ môi tr ường” của Nguyễn Qua
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT
NAM – TỪ THỰC TIỄN QUẢNG NINH
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ: VŨ BẠCH DƯƠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT
NAM - TỪ THỰC TIỄN QUẢNG NINH
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ : VŨ BẠCH DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ VĂN CƯƠNG
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp cao học được hoàn thành tại Viện Đại học Mở Hà Nội
Có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
và sâu sắc đến Viện Đại học Mở Hà Nội, khoa đào tạo sau đại học, đặc biệt là TS
Vũ Văn Cương đã trực tiếp hướng dẫn tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý
giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài " Hoàn thiện
pháp lu ật thuế Bảo vệ môi trường ở Việt Nam – Từ thực tiễn Quảng Ninh”
Xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo, các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành Luật kinh tế cho bản thân tác giả trong khóa học 2014 – 2016 vừa qua Tác giả trân trọng cảm ơn gửi tới đồng chí Nguyễn Văn Bốn – Trưởng phòng tài nguyên và Môi trường Thành phố Cẩm Phả và đồng chí Nguyễn Vũ Trụ Tuyến – Chi Cục trưởng chi Cục Thuế thành phố Cẩm Phả lời cảm ơn chân thành đã giúp tác giả trong việc thu thập số liệu cơ bản, cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài tốt nghiệp
Tác giả rất mong nhận được sự bổ sung, đóng góp, phê bình của quý Thầy
Cô, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Vũ Bạch Dương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do tôi thực hiện, dưới sự giúp đỡ khoa học của người hướng dẫn khoa học Tiến sĩ Vũ Văn Cương Những phần trích dẫn đã được nêu trong danh mục tài liệu tham khảo, tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, khách quan của các thông tin, số liệu nêu trong luận văn
Người hướng dẫn khoa học
Trang 5MỤC LỤC
1
6
1.1 Khái quát về thuế bảo vệ môi trường……… … … 6
1.1.1 Nguồn gốc ra đời của thuế môi trường……….…… … …… 6
1.1.2 Khái niệm về thuế bảo vệ môi trường……….…….…….……… 7
1.1.3 Đặc điểm của thuế bảo vệ môi trường……….………….……….… 11
1.1.4 Vai trò của thuế bảo vệ môi trường……….….… …… ………… 13
1.2 Khái quát về pháp luật thuế bảo vệ môi trường……….…….………… 15
1.2.1 Những cơ sở chính trị pháp lý và sự cần thiết của việc ban hành pháp luật thuế bảo vệ môi trường ……….…… ……… 15
1.2.2 Khái niệm và cấu trúc pháp luật thuế bảo vệ môi trường……… 21
1.2.3 Pháp luật thuế môi trường ở một số nước và kinh nghiệm được rút ra cho Việt Nam trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường……….…… 23
Kết luận chương 1……….………… 27
Chương 2: THỰC TRẠNG PHA#P LUẠT VA THỰC TIE)N THI HANH PHA#P LUẠT NAY……… ……… 28
2.1 Thực trạng pháp luật về thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 28 2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về thuế bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay ……… 54
2.2.1 Đặc thù của Quảng Ninh ……….……….… 54 2.2.2.Những kết quả đã đạt được trong thực thi pháp luật thuế bảo vệ môi trường …
56
2.2.3 Những hạn chế, bất cập phát sinh từ thực tiễn thi hành pháp luật thuế
Trang 6bảo vệ môi trường……….… ……….… 59
Kết luận chương 2……… ……… 63
Chương 3: NHƯNG ĐỊNH HƯƠ#NG VA CA#C GIAI PHA#P HOAN THIẸN PHA#P LUẠT THUE BAO VẸ MOI TRƯƠNG Ơ VIẸT NAM… ……… 64
3.1 Những định hướng cơ bản trong hoàn thiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay ……….……… 64
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế bả vệ môi trường….……….……
68 3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi của Luật thuế bảo vệ môi trường……… ……… 73
Kết luận chương 3 ……… ……….……… 80
KẾT LUẬN……… ……… 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ……… 82
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới Tốc độ phát triển kinh tế quá nhanh chóng và sự bùng nổ dân số thế giới đã khiến môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm nặng nề Ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu mà không phải của riêng quốc gia hay của lãnh thổ nào
Việt Nam đang thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nhịp độ ngày càng cao Phát triển đã mang lại những thành tựu kinh tế – xã hội to lớn cho đất nước, tuy nhiên một trong những mặt trái là chất lượng môi trường ngày càng xấu đi Năm 2016, liên quan đến ô nhiễm môi sinh
và biến đổi khí hậu, Việt Nam đang phải đối đầu với một số hiện tượng thật sự đáng lo ngại, đó là hiện tượng nhiễm độc biển ở miền Trung làm cá chết hàng loạt (do chất thải của Công ty trách nhiệm hữu hạn gang thép Formosa Hà Tĩnh), nạn hạn hán ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Tây, đi cùng với tình trạng xâm nhập mặn ở vùng Tây Nam Bộ Đây là đợt hạn hán nghiêm trọng nhất trong vòng 100 năm qua, với 13 tỉnh thành tại Đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm mặn, gây nên tình trạng thiếu nước uống và tác động nặng nề đến sản xuất nông nghiệp Tỉnh Quảng Ninh cũng là một trong những địa phương chịu thiệt hại nặng nề về môi trường do tốc độ đô thị hóa nhanh cùng với sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp mới Hơn 30 triệu m3 nước thải chưa qua xử lý từ hoạt động khai thác than hàng năm thải trực tiếp ra môi trường đã làm bẩn nguồn sinh thủy Suy giảm rừng, nguồn sinh vật bị hủy diệt, bồi lắng biến đổi luồng lạch, phá vỡ cảnh quan là nguy cơ được báo trước Hiện tượng xói mòn, sạt lở xảy ra
Trang 8khá phổ biến, đe dọa đến tính mạng, phá hủy tài sản, hoa màu của nhân dân và các công trình công cộng
Nhận thức và xác định rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường của một quốc gia, Việt Nam đang cố gắng bắt kịp thế giới trong vấn đề đẩy lùi ô nhiễm môi trường bằng việc sử dụng tổng hợp các biện pháp khác nhau như tuyên truyền giáo dục, biện pháp hành chính và biện pháp kinh tế, trong đó có Luật thuế bảo
vệ môi trường Luật Thuế bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua ngày 15/11/2010 và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012, được coi
là công cụ hữu hiệu để ngăn chặn các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, điều hoà các quan hệ lợi ích giữa xã hội và doanh nghiệp, khuyến khích ý thức tiết kiệm, giảm bớt sự lãng phí trong quá trình khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường Tuy nhiên, trong quá trình thực thi trên thực tế, luật cũng đã lộ rõ nhiều bất cập gây khó khăn cho các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện
Bảo vệ môi trường là việc làm chung của tất cả mọi người, không phải của riêng Nhà nước hay của riêng một cá nhân nào Do đó, tác giả mong muốn nghiên cứu về pháp luật thuế bảo vệ môi trường, bao gồm việc tìm hiểu một số vấn đề chung về pháp luật thuế bảo vệ môi trường, thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật thuế bảo vệ môi trường, cụ thể là ở tỉnh Quảng Ninh để tìm ra những quy định còn chưa hợp lý, những vấn đề còn hạn chế bất cập từ đó làm cơ
sở đưa ra các định hướng, giải pháp kiến nghị theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn, góp một phần nhỏ vào công cuộc bảo vệ môi trường Vì thế tác giả chọn đề
tài “Hoàn thiện pháp luật về thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam– Từ thực tiễn
Quảng Ninh” làm luận văn thạc sĩ cho mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 9Hiện nay, các đề tài nghiên cứu về Luật thuế bảo vệ môi trường còn khá khiêm tốn Phần lớn các công trình chỉ dừng lại ở quy mô những bài viết đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật Thuế bảo vệ môi trường như bài viết của ThS Trần
Vũ Hải, “Một số vấn đề về việc ban hành luật thuế môi trường ở Việt Nam” (Tạp chí luật học số 4/2009); “Luật thuế môi trường – giải pháp quản lý và bảo vệ môi
tr ường” của Nguyễn Quang Tuấn – Lê Thị Thảo (Tạp chí nghiên cứu lập pháp số
13/2008)… Hay các đề tài nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn mà thuế môi trường
chỉ là một mục nhỏ như: Hà Trọng Đại (2009), Các công cụ kinh tế trong quản lý
và b ảo vệ môi trường, Khóa luận tốt nghiệp… Về các đề tài nghiên cứu trực tiếp
vào các quy định luật thuế bảo vệ môi trường của Việt Nam hiện nay không nhiều, cụ thể là một số đề tài được triển khai ở quy mô khóa luận tốt nghiệp như:
Nguyễn Thị Hoa (2010), Bước đầu tìm hiểu về thuế bảo vệ môi trường ở Việt
Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội; Bùi Thị Duyên
(2012), Đánh giá luật thuế bảo vệ môi trường dưới lăng kính kinh tế học pháp
lu ật, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội; Phạm Thị Thanh
Huyền (2012), Pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam – Những vấn đề lý
lu ận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội…
Qua những tài liệu nêu trên cho thấy, thuế bảo vệ môi trường là một vấn
đề khá quan trọng, có tính chất phức tạp nhưng lại không có nhiều công trình nghiên cứu Các công trình nghiên cứu được thực hiện ở quy mô nhỏ, chủ yếu là bước đầu tìm hiểu và nghiên cứu về các quy định của pháp luật, chưa có công trình nào nghiên cứu về thực trạng pháp luật hay là tìm hiểu về thực tiễn thi hành pháp luật về thuế bảo vệ môi trường ở những địa phương cụ thể diễn ra như thế
nào
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 10*Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Luật thuế bảo vệ môi trường và thực tiễn thi hành luật này và cụ thể hơn là ở tỉnh Quảng Ninh Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lớn sau:
Một là, các vấn đề chung về pháp luật thuế bảo vệ môi trường
Hai là, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành Luật thuế bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Ninh
Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường
* Phạm vi nghiên cứu đề tài
Pháp luật về thuế bảo vệ môi trường là vấn đề khá phức tạp Trong phạm
vi luận văn, tác giả chỉ tập trung vào tìm hiểu, đánh giá chung về thực trạng pháp luật thuế bảo vệ môi trường và thực tiễn thi hành pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Ninh Bước đầu nhìn nhận những khó khăn trong thực trạng
áp dụng thuế bảo vệ môi trường trong thực tế, đưa ra nhận xét đánh giá và có cơ
sở để kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường với mục đích nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện
nay
4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
*Mục đích nghiên cứu luận văn
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề chung về pháp luật thuế bảo vệ môi trường, tìm hiểu về thực trạng và thực tiễn thi hành về thuế BVMT ở tỉnh Quảng Ninh Qua đó, tác giả đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này nhằm đáp ứng tốt hơn yêu
Trang 11cầu thực tế đang đặt ra đối với việc bảo vệ môi trường trong tiến trình phát triển
bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước
* Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể sau:
+ Nghiên cứu tổng quan những vấn đề chung nhất về thuế bảo vệ môi trường và pháp luật thuế bảo vệ môi trường: Phân tích cơ sở lý luận; cơ sở chính trị pháp lý của thuế bảo vệ môi trường; nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn áp dụng luật thuế môi trường của một số quốc gia trên thế giới
+ Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Ninh Từ đó, tìm ra những tồn tại, vướng mắc để làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về thuế bảo vệ môi trường
+ Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp
luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà luận văn đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản
sau đây: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin; Hệ thống quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trang 12Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử… được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề chung về thuế bảo vệ môi trường và pháp luật thuế bảo vệ môi trường
Phương pháp so sánh luật học, phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê số liệu được sử dụng trong Chương 2 khi tìm hiểu thực trạng, phân tích những ưu điểm và hạn chế các quy định về Luật thuế bảo vệ môi trường, thực tiễn thi hành pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Ninh
Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp… được sử dụng trong Chương 3 khi xem xét, tìm hiểu về định hướng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
6 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, luận văn được kết cấu với ba chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về thuế bảo vệ môi trường và pháp luật
về thuế bảo vệ môi trường
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thuế
bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay
Chương 3: Những định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế
bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Trang 131.1 Khái quát về thuế bảo vệ môi trường
1.1.1.Nguồn gốc ra đời của thuế bảo vệ môi trường
Thuế tồn tại qua các hình thái xã hội có Nhà nước Thuế là nguồn thu chủ yếu, ổn định của Ngân sách Nhà nước, là công cụ kinh tế vô cùng quan trọng trong điều hành, phát triển kinh tế – xã hội quốc gia Thuế là một hình thức động viên, phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo pháp luật của Nhà nước quy định nhằm đáp ứng những khoản chi tiêu cần thiết của Nhà nước trong quá trình quản lý và phát triển xã hội Trong lĩnh vực môi trường, thuế cũng là công cụ kinh tế quan trọng để quản lý và bảo vệ môi trường Có thể nói rằng, thuế môi trường là công cụ kinh tế lâu đời nhất trong quản lý và bảo vệ môi trường
Cho tới nay, trên thế giới đã xuất hiện một số loại thuế môi trường hoặc các loại thuế có liên quan tới bảo vệ môi trường Nền móng của thuế môi trường chính là thuế môi trường được Giáo sư Arthur C.Pigou (1877-1959) của Trường Đại học Cambrige từ 1908 – 1944 đưa ra trong tác phẩm “Kinh tế học phúc lợi”
từ những năm 1920 (được gọi là thuế Pigou) Ông là người đầu tiên có sáng kiến
áp dụng cách tiếp cận kinh tế và việc giải quyết ngoại ứng do ô nhiễm môi trường thông qua việc đưa ra ý tưởng về đánh thuế với những người gây ô nhiễm Thuế Pigou là một giải pháp có tính chất giáo khoa cổ điển để giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường vì mức thuế tối ưu chính bằng với mức chi phí
xử lý ô nhiễm của doanh nghiệp Theo đó, nguyên tắc đánh thuế môi trường được xác định là: “Mức thuế ô nhiễm (mức thuế môi trường) tính cho mỗi đơn vị
s ản phẩm gây ra ô nhiễm có giá trị bằng chi phí ngoại ứng do đơn vị sản phẩm
Trang 14gây ô nhi ễm gây ra tại mức sản lượng tối ưu xã hội 1 ” Có thể thấy, về bản chất, thuế Pigou đánh trực tiếp vào người tạo ra ảnh hưởng xấu tới môi trường, làm tăng chi phí tạo ra ảnh hưởng của họ Đồng thời, nguồn thu từ thuế được sử dụng vào việc khắc phục những hậu quả do ảnh hưởng xấu đó gây ra Mục tiêu của việc áp dụng thuế môi trường là nhằm tạo ra số thu để trang trải cho những tổn hại do ô nhiễm môi trường tạo nên và các biện pháp để làm giảm ô nhiễm môi trường trong tương lai, đồng thời thay đổi hành vi của các cá nhân và doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường
1.1.2 Khái niệm về thuế bảo vệ môi trường
Khái niệm thuế môi trường có thể được hiểu theo các cách khác nhau tùy thuộc vào phạm vi tiếp cận Theo đó, khái niệm thuế môi trường thường được tiếp cận dưới hai góc độ Cụ thể, theo nghĩa rộng, thuế môi trường là toàn bộ các khoản thuế mà chủ thể nộp thuế phải đóng góp liên quan đến việc tác động tới môi trường thông qua hành vi của mình Dưới góc độ này, thuế môi trường được hiểu là thuế liên quan đến môi trường, bao gồm các loại thuế như thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt (đối với các sản phẩm gây ô nhiễm như ô tô, thuốc lá…), thuế thu nhập doanh nghiệp (ví dụ như sử dụng công nghệ sạch, khai thác tài nguyên quý hiếm…) Theo nghĩa hẹp, thuế môi trường được hiểu là loại thuế riêng biệt được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới hình thức văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ thuế giữa Nhà nước và các chủ thể có hành vi tác động tiêu cực tới môi trường Như vậy, thuế môi trường là loại thuế mà các
NXB.Thống kê trang 100
Trang 15chủ thể có khả năng tác động tiêu cực tới môi trường phải nộp nhằm phòng, chống ô nhiễm môi trường và đảm bảo phát triển bền vững2
Trên thế giới hiện nay, theo cách tiếp cận của đa số các nước thì thay vì cố gắng đưa ra một định nghĩa chính thức về thuế môi trường, các nước có khuynh hướng tập trung vào những căn cứ tính thuế có liên quan đặc biệt tới môi trường
và coi như những loại thuế có căn cứ tính thuế như vậy đều là thuế môi trường Trong một số trường hợp, căn cứ tính thuế là sự đo lường hoặc ước lượng số lượng phát thải của những chất gây ô nhiễm, ví dụ như NOx hay SO2… Tuy nhiên, khi việc đo lường trực tiếp sự phát thải như vậy tỏ ra khó khăn và tốn kém, người ta sẽ sử dụng một căn cứ tính thuế mang tính đại diện cho nó, chẳng hạn như xăng hoặc dầu Đơn cử như cơ quan thống kê châu Âu (EURROSTAT)
đã đưa ra một định nghĩa về thuế môi trường theo cách tiếp cận thống kê như
sau: “Một loại thuế được xếp vào loại thuế môi trường nếu căn cứ tính thuế là
m ột đơn vị vật chất (hoặc đại diện cho nó) của một vật gì đó đã được chứng
minh s ẽ gây ra một tác động có hại đặc biệt đến môi trường 3 ” Theo định nghĩa này, người ta cũng đưa ra một số căn cứ tính thuế tiêu biểu để xác định loại thuế nào đó có phải là thuế môi trường hay không như: Đo lường hoặc ước lượng sự thải ra không khí như N0x (hợp chất oxit nitơ), S02 (điôxít lưu huỳnh); Những chất phá hoại tầng Ozon (như khí CFC chloro-fluoro-carbon) hoặc Halon; Đo lường hoặc ước lượng sự thải ra nước như BOD (nhu cầu oxy hóa), COD (nhu cầu oxy hóa học); Một số sự gây ô nhiễm cho nước không có nguồn cố định (ví
dụ như thuốc trừ sâu, phân bón…); Tiếng ồn (ví dụ như tiếng ồn sinh ra khi máy bay cất cánh…); Sản phẩm năng lượng ( ví dụ như xăng, dầu…); Phương tiện
Trang 16giao thông (ví dụ như ô tô, xe máy…); Tài nguyên thiên nhiên (ví dụ như nước, khoáng sản4…)
Theo quan điểm của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development: OECD), thuế môi trường là phương pháp đơn giản nhất để đưa giá cả vào việc sử dụng môi trường và họ không có sự phân biệt giữa thuế và phí môi trường Thuế và phí môi trường được thể hiện ở hai dạng đó là thuế, phí đánh vào nguồn ô nhiễm và thuế phí đánh vào sản phẩm5 Trong đó, thuế, phí đánh vào nguồn ô nhiễm là loại thuế, phí đánh vào sự thải ra chất ô nhiễm vào bầu không khí, nguồn nước, môi trường đất và sự phát
ra tiếng ồn Thuế chất thải được tính toán dựa trên khối lượng và nồng độ chất thải Thuế ô nhiễm chất thải được áp dụng rộng rãi ở các nước OCED trong những lĩnh vực cụ thể của nước thải và rác thải, kiểm soát bầu không khí và giảm tiếng ồn Thuế, phí đánh vào sản phẩm là loại thuế phí đánh vào các sản phẩm gây nguy hại cho môi trường trong quá trình sản xuất, sử dụng và tiêu hủy Chúng có thể được áp dụng vào các dạng sản phẩm gây ra các vấn đề về môi trường bởi lượng chất độc hại và độc tố có trong chúng, ví dụ như phốt pho, kim loại nặng… Thuế, phí đánh vào sản phẩm có thể thay thế cho thuế, phí đánh vào nguồn ô nhiễm trong trường hợp việc xác định thuế trực tiếp từ nguồn ô nhiễm khó khăn Thuế, phí đánh vào sản phẩm có thể áp dụng đối với nguyên liệu thô, sản phẩm trong quá trình sản xuất hoặc sản phẩm đã hoàn thiện Phương pháp này nhằm mục đích giảm thiểu những tác động xấu đến môi trường của mỗi một giai đoạn trong quá trình tạo ra, tiêu thụ và sử dụng sản phẩm Mức thuế đánh vào sản phẩm sẽ phản ánh được chi phí môi trường trong mỗi quá trình Thuế
Trang 17đánh vào sản phẩm được áp dụng rộng rãi ở các nước OECD (như thuế đánh vào nhiên liệu, phân bón, thuốc trừ sâu6…)
Như vậy, nhìn một cách tổng quát thì hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không có sự phân biệt một cách rạch ròi giữa thuế và phí bảo vệ môi trường Dưới góc độ ngôn ngữ học, thuế và phí trong tiếng Anh và tiếng Pháp đều sử dụng một từ “tax” hoặc “taxe” Các khoản thu có tính chất bắt buộc áp dụng cho các chủ thể có khả năng tác động tiêu cực đến môi trường đều gọi chung theo tiếng anh là: “Environment tax” Thuế hay phí môi trường đều là khoản thu đánh vào những hoạt động gây ô nhiễm môi trường và sức khỏe con người như hoạt động xả thải vào môi trường, khai thác các vật chất gây ảnh hưởng đến môi trường, sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường như thuốc
lá, thuốc trừ sâu…Mục đích thu thuế hay phí bảo vệ môi trường cuối cùng đều là nhằm mục đích khắc phục hậu quả của việc làm ô nhiễm môi trường7. Do đó, thuế môi trường trên thế giới sẽ được hiểu theo nghĩa rộng, tức là các khoản thu
có tính chất bắt buộc áp dụng cho các chủ thể có khả năng tác động tiêu cực đến môi trường bao gồm: thuế phí đánh vào nguồn ô nhiễm môi trường, căn cứ vào lượng chất ô nhiễm và mức độ bị hủy hoại của môi trường; thuế, phí đánh vào sản phẩm trong quá trình sản xuất và sử dụng có thể gây nguy hại cho môi trường
Cách tiếp cận ở Việt Nam thì không giống như hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế môi trường được hiểu theo nghĩa hẹp, có tên gọi là thuế bảo vệ môi trường Pháp luật Việt Nam có sự phân biệt khá rõ ràng, cụ thể giữa thuế bảo vệ môi trường và phí bảo vệ môi trường Theo đó, tại khoản 1 Điều 2 Luật thuế bảo
Trang 18
vệ môi trường 2010 đã nêu định nghĩa về thuế bảo vệ môi trường như sau: “Thuế
b ảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây
g ọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường” Khoản 1
Điều 148 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về phí bảo vệ môi trường
như sau: “Tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc làm phát sinh tác động
x ấu đối với môi trường phải nộp phí bảo vệ môi trường” Như vậy, căn cứ theo
quy định của pháp luật, có thể thấy phí bảo vệ môi trường và thuế bảo vệ môi trường là hai khoản thu khác nhau có đối tượng và mục đích khác nhau Với thuế bảo vệ môi trường pháp luật đánh vào họat động sản xuất, nhập khẩu một số sản phẩm gây tác động lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người, trong khi đó phí bảo vệ môi trường đánh vào hành vi xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường Về đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường thì người tiêu dùng là người chịu thuế, người sản xuất, kinh doanh là người nộp thuế thay cho người tiêu dùng (thuế bảo vệ môi trường là thuế gián thu); trong khi đó, đối với phí bảo vệ môi trường người sản xuất vừa là người chịu phí vừa là người nộp phí, mức phí phải nộp phụ thuộc vào mức độ gây ô nhiễm môi trường của chất thải Phí mang tính hoàn trả trực tiếp, về nguyên tắc mức phí phải nộp phải bù đắp chi phí xử lý ô nhiễm Hiện nay, căn
cứ theo sự phân biệt này của pháp luật nên tùy từng đối tượng mà pháp luật quy định áp dụng thuế hay phí bảo vệ môi trường nhằm mục đích tạo ra nguồn thu để
bù đắp tổn thất gây ra cho môi trường Như vậy, có thể thấy thuế và phí sẽ đánh vào các đối tượng khác nhau và ở những công đoạn khác nhau Mặc dù hiện nay
hệ thống phí hiện hành còn nhiều bất cập, tuy nhiên với cách tiếp cận về thuế và phí hiện nay thuế bảo vệ môi trường không thể và không cần thiết phải thay thế cho các loại phí liên quan đến môi trường
Trang 19Trên cơ sở phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm thuế bảo vệ môi trường
như sau: “Thuế bảo vệ môi trường là một loại thuế gián thu, được thể hiện dưới
d ạng luật do Quốc hội thông qua nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa
nhà n ước và các chủ thể có hành vi tác động tiêu cực đến môi trường bằng việc đánh vào các sản phẩm gây tác động xấu cho môi trường trong quá trình sử
d ụng nhằm phòng, chống ô nhiễm môi trường và đảm bảo phát triển bền vững”
1.1.3 Đặc điểm của thuế bảo vệ môi trường
Thuế bảo vệ môi trường là một trong các loại thuế của hệ thống thuế quốc gia, chính vì vậy, thuế bảo vệ môi trường cũng có những đặc điểm chung của thuế như: Là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách nhà nước; Gắn với yếu tố quyền lực nhà nước; Không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp; Do cơ quan lập pháp, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành… Bên cạnh đó, thuế bảo vệ môi trường còn có những đặc điểm riêng, cụ thể:
Thứ nhất, Thuế bảo vệ môi trường bản chất là loại thuế gián thu thu hàng hóa mà khi sử dụng nó gây ô nhiễm môi trường nhằm hạn chế sản xuất, nhập khẩu, tiêu dùng hàng hóa này Tức là đối tượng nộp thuế và đối tượng gánh chịu thuế không đồng thời là một, ở đây có sự chuyển dịch số tiền thuế phải nộp từ người có nghĩa vụ nộp thuế sang người sử dụng hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường thông qua việc cộng số thuế vào giá cả hàng hóa, dịch vụ Như vậy, số thuế phải nộp là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ của đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường Cũng như các loại thuế gián thu khác, thuế bảo vệ môi trường không trực tiếp gây ra phản ứng tiêu cực từ người nộp thuế như các khoản thuế trực thu đánh vào các nguồn thu nhập
từ vốn, lao động… mà về lâu dài còn góp phần làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và nền kinh tế Với đặc điểm này của thuế bảo vệ môi
Trang 20trường giúp phân biệt với các khoản thuế trực thu như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp Do đó khi xác định một loại thuế phải nộp có phải
là thuế bảo vệ môi trường hay không trước hết phải xác định đó phải là thuế gián thu chứ không phải là thuế trực thu
Thứ hai, đối tượng chịu thuế là một số loại hàng hóa mà khi sử dụng nó gây ô nhiễm môi trường (dịch vụ không là đối tượng chịu thuế) Thuế bảo vệ môi trường tương tự như thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ đánh một lần vào khâu sản xuất, khẩu nhập khẩu hàng hóa chịu thuế
Thứ ba, mục tiêu của thuế bảo vệ môi trường là động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu để giải quyết vấn đề môi trường nhằm hạn chế sản xuất, nhập khẩu, tiêu dùng hàng hóa này; Đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, khuyến khích phát triển kinh tế đi liền giảm ô nhiễm môi trường; Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, từ đó góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của tổ chức, cá nhân trong sản xuất nhập khẩu và tiêu dùng nhằm giảm phát thải ô nhiễm tại nguồn Như vậy, bên cạnh các mục đích chung giống như những loại thuế khác như tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội, thuế bảo vệ môi trường có mục đích chính là bảo vệ môi trường Việc lấy tên
“Luật thuế bảo vệ môi trường” thể hiện rõ bản chất, mục tiêu của thuế này đó là
góp phần bảo vệ môi trường, gìn giữ những gì xung quanh chúng ta trước tác động gây hại của các vật chất khiến môi trường có khuynh hướng xấu đi bằng cách đánh thuế vào các sản phẩm gây hại đến môi trường Đặc điểm này của thuế bảo vệ môi trường giúp chúng ta có thể phân biệt với các loại thuế gián thu khác như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng… vốn được xem là có gánh một phần trách nhiệm bảo vệ môi trường Đơn cử như thuế
Trang 21xuất nhập khẩu mục đích riêng của nó là bảo hộ sản xuất và tiêu dùng trong nước; thuế tiêu thụ đặc biệt mục đích cơ bản là hướng dẫn tiêu dùng xã hội… Việc thu thuế bảo vệ môi trường với các sản phẩm thuộc đối tượng chịu thuế là những sản phẩm có hại nhất định cho môi trường nhằm tạo ra một nguồn tài chính để có thể chi cho việc bảo vệ môi trường, đồng thời tác động đến ý thức của người sử dụng sản phẩm có hại cho môi trường, khuyến khích người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm thay thế thân thiện hơn, giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với môi trường
Thứ tư, cách thức tính thuế bảo vệ môi trường có nét đặc trưng so với các loại thuế khác Thuế bảo vệ môi trường được tính dựa trên căn cứ tính thuế là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối, đây là cách tính của hầu hết các quốc gia trên thế giới và nó thực sự phù hợp với mục đích bảo vệ môi trường được đặt ra khi ban hành sắc thuế Khác với các loại thuế gián thu khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất Mặc dù giá tính thuế của mỗi loại thuế này được quy định không giống nhau nhưng về cơ bản đều có căn cứ vào giá cả hàng hóa, dịch vụ của đối tượng chịu thuế Sở dĩ thuế bảo vệ môi trường áp dụng cách tính thuế khác các loại thuế gián thu trên là xuất phát từ mục đích bảo vệ môi trường của
nó, nếu thuế bảo vệ môi trường cũng căn cứ theo giá tính thuế và thuế suất thì mục đích bảo vệ môi trường của sắc thuế này không đạt được vì trong giá cả của hàng hóa dịch vụ - cơ sở để xác định giá tính thuế không phản ánh được mức độ gây hại của nó đối với môi trường Có những sản phẩm giá cả rất rẻ nhưng mức
độ tác động đến môi trường theo hướng tiêu cực lại vô cùng lớn Do đó, nếu đánh thuế dựa trên giá cả của sản phẩm sẽ không phản ánh được khả năng bảo vệ môi trường khi thu loại thuế này
Trang 221.1.4.Vai trò của thuế bảo vệ môi trường
Thuế bảo vệ môi trường được ban hành được áp dụng trong thực tiễn có ý nghĩa vai trò hết sức quan trọng trong xã hội hiện nay ở nước ta, nó tạo ra khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định điều chỉnh toàn diện các hành vi tác động tiêu cực đến môi trường, khắc phục hạn chế trong các chính sách thu trước đây, tạo nguồn lực tài chính bù đắp chi phí bảo vệ môi trường, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển bền vững, đồng thời đáp ứng việc thực hiện cam kết quốc tế phù hợp với xu thế phát triển của thế giới
Thứ nhất, tăng thu cho ngân sách, giảm thiểu hiệu ứng tiêu cực của hệ thống thuế thu nhập hiện hành Thuế bảo vệ môi trường là một trong những nguồn thu tạo ra nguồn tài chính cho nhà nước Mặc dù việc đặt ra thuế bảo vệ môi trường mục đích chính không phải để thu tiền của nhân dân nhưng không thể phủ nhận việc thu thuế bảo vệ môi trường sẽ tạo ra một nguồn thu cho ngân sách nhà nước Điều này là cần thiết, bởi vì để khắc phục hậu quả do hành vi gây
ô nhiễm của các chủ thể đòi hỏi nhà nước phải có phương tiện, công cụ nhất định
mà cụ thể ở đây là nguồn tài chính đủ lớn để có thể gìn giữ, tái tạo môi trường Trên cơ sở đó, nhà nước có thể huy động được nguồn tài chính cần thiết từ những người có hành vi gây ô nhiễm cho môi trường (trong hạn mức) để đầu tư vào các hoạt động phục vụ cho việc gìn giữ môi trường xanh, sạch, đẹp
Thứ hai, về mặt xã hội, thuế bảo vệ môi trường là một công cụ kinh tế có khả năng tác động vào hành vi tiêu dùng, ý thức của người dân; thông qua đó, phần nào nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường của các thành viên trong xã hội Môi trường mặc dù có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng có ý thức bảo vệ môi trường một cách tích cực Hiện nay, không ít người “đối xử” với môi trường theo cách “cha chung không
Trang 23ai khóc” Do đó, việc nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vấn đề bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết Trên thực tế, con người sẽ không thực hiện các hành
vi không đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình, xã hội Do đó, thông qua thuế bảo vệ môi trường, tức là đánh trực tiếp vào lợi ích kinh tế của người tiêu dùng nhà nước có thể định hướng xử sự cho người tiêu dùng theo hướng thân thiện hơn với môi trường, để họ có thể nhận thức được tác hại, cũng như lựa chọn các sản phẩm không gây hại cho môi trường
Thứ ba, khuyến khích sản xuất hàng hóa thân thiện với môi trường, thúc đẩy đổi mới, cải cách công nghệ Thông qua thuế bảo vệ môi trường, các hàng hóa gây hại cho môi trường càng nhiều sẽ phải chịu thuế bảo vệ môi trường càng cao, điều này đội giá thành sản phẩm lên nhiều lần, tác động phần nào vào thói quen, lựa chọn tiêu dùng của người dân Do đó, đòi hỏi các nhà sản xuất trong nhiều trường hợp phải tích cực nghiên cứu, tìm hiểu, ứng dụng, đổi mới công nghệ nhằm mục đích sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường để cắt giảm được khoản thuế bảo vệ môi trường phải gánh chịu nhằm “lôi kéo” khách hàng, nâng cao lợi nhuận thu được
1.2 Khái quát về pháp luật thuế bảo vệ môi trường
1.2.1 Những cơ sở chính trị pháp lý và sự cần thiết của việc ban hành pháp luật thuế bảo vệ môi trường
Thứ nhất, xuất phát từ tình hình ô nhiễm môi trường hiện nay:
Hiện nay, cuộc sống đang phát triển ngày càng hiện đại, đời sống vật chất
và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên, đối lập với nó, tình trạng ô nhiễm môi trường lại có những diễn biến phức tạp Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề không chỉ của riêng một vùng nào, mà ở khắp nơi, cả nông thôn, thành thị, miền núi, miền biển, cả các nguồn nước và không khí… Theo
Trang 24nghiên cứu của các tổ chức bảo vệ môi trường, ở nước ta, 70% các dòng sông, 45% vùng ngập nước, 40% các bãi biển đã bị ô nhiễm, hủy hoại về môi trường; 70% các làng nghề ở nông thôn đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng Cùng với đó, tình trạng nước biển xâm nhập vào đất liền; đất trống, đồi núi trọc
và sự suy thoái các nguồn gien động thực vật đang có chiều hướng gia tăng là hệ
quả của việc hủy hoại môi trường
Hiện trạng môi trường tiếp tục xuống cấp nêu trên là những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam trong thời gian tới Nếu không kịp thời có các giải pháp giảm dần lượng phát thải chất độc hại thì nguy cơ ô nhiễm sẽ ngày càng gia tăng và rất có thể nền kinh tế sẽ phải trả giá quá đắt nếu không có sự quan tâm đúng mức Do vậy, việc ban hành và áp dụng thuế bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết Đây sẽ là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các hành vi xã hội theo hướng tích cực, thân thiện hơn với môi trường
Thứ hai, xuất phát từ sự kém hiệu quả của các biện pháp tài chính về bảo
v ệ môi trường:
Trước khi Luật thuế BVMT được ban hành, nước ta chưa có một sắc thuế riêng về bảo vệ môi trường để thu vào hàng hoá khi sử dụng gây ô nhiễm môi trường nhằm hạn chế sản xuất và tiêu dùng hàng hóa loại này Chính phủ đã ban hành và thực thi nhiều biện pháp tài chính nhằm khuyến khích nhà đầu tư tham gia trực tiếp các hoạt động xử lý ô nhiễm môi trường, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài nguyên và huy động một phần đóng góp của đối tượng xả thải vào việc khôi phục môi trường Các biện pháp này được thực hiện trong một
số loại thuế như thuế đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp và thông qua các khoản phí, lệ phí
Trang 25thu đối với các hoạt động liên quan tới môi trường như: Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, phí bảo
vệ môi trường đối với chất thải rắn Các khoản thu phí bảo vệ môi trường đã tạo thêm nguồn thu, góp một phần chi đầu tư giải quyết các vấn đề về môi trường, đồng thời góp phần thay đổi nhận thức và hành vi của tổ chức, cá nhân trong việc giữ gìn môi trường, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong cộng đồng Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được như nêu trên, các chính sách thuế, phí hiện hành cũng có một số hạn chế như sau:
- Về chính sách phí: Các loại phí bảo vệ môi trường hiện hành mới đạt mục tiêu huy động đóng góp một phần của những đối tượng xả thải vào môi trường mà không tự mình xử lý chất thải; hỗ trợ thêm chi phí làm sạch môi trường Nguồn thu từ phí còn rất hạn chế Tổng thu các khoản phí bảo vệ môi trường năm 2008 là 1.224 tỷ đồng Nếu tính cả số thu từ phí xăng dầu 9.000 tỷ đồng/năm thì tổng số thu là 10.224 tỷ đồng/năm Hàng năm, Nhà nước dành 1% tổng chi ngân sách nhà nước (tương đương 4.000 tỷ đồng) để chi sự nghiệp bảo
vệ môi trường, chưa kể đến kinh phí cho các dự án đầu tư xử lý chất thải và vệ sinh môi trường đô thị Nhu cầu tài chính cho bảo vệ môi trường hiện hành rất lớn Tính riêng nhu cầu cho các đề án tổng thể cải tạo môi trường và chương trình xử lý ô nhiễm ở các làng nghề, khu công nghiệp vào khoảng 17.678 tỷ đồng/năm Nếu tính cả nhu cầu đầu tư xử lý chất thải sinh hoạt tại các khu vực dân cư tập trung, đầu tư phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản, thì nhu cầu tài chính cho bảo vệ môi trường còn cao hơn nữa8
- Về chính sách thuế: Trước khi có Luật thuế bảo vệ môi trường, trong các chính sách thuế, mục tiêu bảo vệ môi trường không phải là mục tiêu chính, vì
trường;
Trang 26vậy việc khuyến khích đầu tư sản xuất sản phẩm thân thiện môi trường, khuyến khích đầu tư vào các dự án làm sạch môi trường, không thu thuế nhập khẩu hoặc thu mức thuế suất thấp khi mua các sản phẩm, thiết bị liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường đã góp một phần vào mục tiêu bảo vệ môi trường nhưng chưa tác động trực tiếp đến hành vi tiêu dùng và hoạt động sản xuất các sản phẩm gây tác động xấu đến môi trường9
Các khoản phí bảo vệ môi trường là một công cụ kinh tế tác động trực tiếp đến đối tượng gây ô nhiễm (phí thu vào nguồn gây ô nhiễm) nhưng vì các loại phí có tính pháp lý thấp, mức thu thấp nên tác dụng còn chưa mạnh Vì vậy, cần thiết phải xây dựng chính sách thuế riêng về bảo vệ môi trường để thu vào các sản phẩm gây ô nhiễm, những sản phẩm mà việc sử dụng chúng gây tác động xấu tới môi trường10
Thứ ba, xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây
d ựng và hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường luôn được xác định là một chủ trương, chính sách lớn, nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước Điều 29 Hiến pháp năm 1992 quy định “Các cơ quan Nhà
n ước, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, các đoàn thể xã hội và tất cả các cá
nhân ph ải tuân thủ các quy định của Nhà nước về việc sử dụng hợp lý các tài
s ản thiên nhiên, và bảo vệ môi trường”; Điều 112 Luật Bảo vệ môi trường quy
định “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh một số sản phẩm gây
tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người thì phải nộp thuế
Trang 27b ảo vệ môi trường”
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 được Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng thông qua đã khẳng định quan điểm phát triển đất nước là
“Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực
hi ện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X “Ngăn chặn hành vi huỷ hoại và gây ô nhiễm môi
tr ường, khắc phục tình trạng xuống cấp môi trường Hoàn chỉnh pháp luật,
t ăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên”
Mục tiêu chiến lược của chính sách về môi trường trong Chiến lược bảo
vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, cũng được
xác định rõ “Tiếp tục phòng ngừa ô nhiễm, tăng cường bảo tồn đa dạng sinh
h ọc, chú trọng sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi
tr ường”
Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị cũng nêu rõ quan điểm về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước “Bảo vệ môi trường là một trong những vẫn đề sống còn của
nhân lo ại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân;
góp ph ần quan trọng vào việc phát triển kinh tế- xã hội, ổn định chính trị, an
ninh qu ốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế ”
Thứ tư, sự cần thiết phải đưa ra các yếu tố ngoại ứng vào giá nhằm
nâng cao nh ận thức của tổ chức, cá nhân đối với việc bảo vệ môi trường:
Cùng với nguyên nhân xuất phát từ khiếm khuyết của pháp luật cũng như việc triển khai thực hiện trên thực tế thì ý thức của tổ chức, cá nhân trong vấn đề bảo vệ môi trường ở nước ta còn hạn chế Hầu hết mọi người nhận thức được môi trường đang diễn biến xấu đi từng ngày, tuy nhiên không hiếm gặp các hình
Trang 28ảnh như xả rác bừa bãi trên đường phố, thờ ơ với các hành vi phá hoại môi trường, không quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường và cho rằng đó là công việc của Nhà nước Trừ số ít những cá nhân có ý thức bảo vệ môi trường một cách tích cực thì hầu hết mọi người đều “đối xử” với môi trường họ đang sống hàng ngày theo kiểu “cha chung không ai khóc” Chính vì vậy cần thiết phải nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ môi trường, có như thế khả năng gìn giữ môi trường mới được nâng cao một cách đáng kể Nhận thức được vấn đề đó nước ta hiện nay đã sử dụng nhiều biện pháp tích cực nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao nhận thức của người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường như triển khai các chương trình tuyên truyền vì môi trường xanh, sạch, đẹp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các bài giảng ở trường Ngoài ra, một trong những biện pháp phát huy hiệu quả tích cực trong khả năng nâng cao ý thức của người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường chính là đánh vào kinh tế của chính người dân Bởi khi thực hiện một hành vi nhất định có khả năng tước đoạt đi một lợi ích kinh tế dù nhiều dù ít thì con người cũng sẽ hạn chế thực hiện Cùng với thời gian thói quen xử sự tích cực cũng được thiết lập dần dần, theo đó nhận thức của con người cũng được nâng cao
Mặt khác việc đưa các yếu tố ngoại ứng vào giá thành sản phẩm là thực sự cần thiết Tức là tính thuế vào các sản phẩm gây tác động xấu đến môi trường là một đòi hỏi khách quan Trước khi Luật thuế bảo vệ môi trường có hiệu lực thì trong giá bán hàng hóa chưa được cộng thêm chi phí về thuế môi trường, do đó, khi người tiêu dùng sử dụng hàng hóa gây ô nhiễm môi trường chưa thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” Chính vì vậy, thuế bảo vệ môi trường
sẽ là “kênh” buộc người có hành vi gây ô nhiễm phải thực hiện nguyên tắc trên bằng cách đưa chi phí ngoại ứng vào giá của sản phẩm
Trang 29Chúng ta biết rằng, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp khi sản xuất ra sản phẩm đều hạch toán những chi phí đã bỏ ra để mua các yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp như tài sản cố định, nguyên vật liệu, năng lượng, vốn, nhân lực…để chuyển vào giá bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng Tuy nhiên, một thực tế đặt ra là các chi phí mà doanh nghiệp hạch toán thường không phải là toàn bộ chi phí xã hội cần thiết để hình thành nên sản phẩm, trong đó có chi phí bù đắp hợp lý tổn thất mang đến cho môi trường Khi giá bán hàng hóa, dịch vụ không phản ánh hết chi phí xã hội sẽ dẫn đến những bất lợi cho xã hội như đánh giá của thị trường sẽ méo mó, không chính xác, tạo cơ hội trục lợi cho cá nhân và doanh nghiệp trong khi đó đẩy bất lợi về phía xã hội Chi phí xã hội dành cho việc khôi phục, chống ô nhiễm, bảo
vệ môi trường lại đặt lên “vai” nhà nước thay vì người có hành vi gây ô nhiễm
Từ thực trạng này, thuế bảo vệ môi trường sẽ đưa chi phí ngoại ứng vào giá thành sản phẩm, nhờ đó chi phí cá nhân của các nhà sản xuất và chi phí xã hội sẽ thu hẹp được khoảng cách Các mức giá vì thế cũng sẽ trở nên chính xác hơn, công bằng hơn trên thực tế
Thứ năm, phù hợp xu hướng chung của thế giới là phát triển kinh tế bền
v ững và để thực hiện các cam kết của Nhà nước ta với cộng đồng quốc tế về bảo
v ệ môi trường
Những năm gần đây, khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm bộc lộ rõ tính thiếu bền vững của hệ thống kinh tế thế giới cũng như mô hình tăng trưởng của nhiều nước là “tăng trưởng trước, làm sạch sau” Vì vậy, xu hướng phát triển kinh tế bền vững, ít gây ô nhiễm ngày càng được quan tâm và trở thành một trong những ưu tiên của nhiều nước
Trang 30Để chung tay vì nhân loại, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã tham gia vào các cam kết quốc tế có lợi cho sự an toàn của toàn cầu, Việt Nam cũng không là ngoại lệ Các cam kết quốc tế có ảnh hưởng nhất định đến pháp luật của hầu hết các quốc gia, trong đó có thuế bảo vệ môi trường Chẳng hạn, chất HCFC được sử dụng trong một số lĩnh vực công nghiệp như: làm lạnh, điều hoà không khí… Sự phát thải chất HCFC vào khí quyển, làm ô nhiễm bầu không khí,
là nguyên nhân chính làm suy giảm tầng ôzôn và gây hiệu ứng nhà kính Nước ta
đã tham gia ký kết Nghị định thư Montreal về hạn chế sử dụng các chất làm suy giảm tầng ôzôn Theo đó, các nước đang phát triển (trong đó có nước ta) sẽ phải loại trừ hoàn toàn việc sử dụng HCFC vào năm 2030 Mức tăng trưởng của ngành công nghiệp làm lạnh và điều hoà không khí với lượng tiêu thụ các chất HCFC tăng nhanh liên tục sẽ đặt ra nhiều thách thức cho tiến trình loại trừ HCFC ở nước ta Việc đưa chất HCFC vào đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường sẽ góp phần vào việc thực hiện cam kết Nghị định thư Montreal ở Việt Nam, khuyến khích doanh nghiệp giảm dần sử dụng HCFC bằng việc chuyển đổi công nghệ sản xuất11
Việc ban hành luật thuế bảo vệ môi trường là cần thiết nhằm tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định điều chỉnh toàn diện các hành vi tác động tiêu cực đến môi trường; khắc phục hạn chế trong chính sách thu hiện hành; tạo nguồn lực tài chính bù đắp chi phí bảo vệ môi trường; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển bền vững; đồng thời đáp ứng việc thực hiện cam kết quốc
tế, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới
Với những lý do nêu trên, Ngày 15/11/2010 Quốc hội nước CHXHCNVN
trường;
Trang 31đã ban hành Luật thuế bảo vệ môi trường số: 57/2010/QH12 nhằm đảm bảo các mục tiêu, yêu cầu sau:
M ột là, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, khuyến khích phát
triển kinh tế đi liền giảm ô nhiễm môi trường, phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay và những năm tới
Hai là, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, từ đó góp phần thay đổi nhận thức, hành vi của tổ chức, cá nhân trong sản xuất và tiêu dùng nhằm giảm phát thải ô nhiễm tại nguồn
Ba là, tăng cường quản lý nhà nước, thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện cam kết của Chính phủ với cộng đồng quốc tế
B ốn là, các quy định trong Luật rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ quản lý
N ăm là, động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu để giải
quyết vấn đề môi trường, đồng thời phải đảm bảo tính cạnh tranh của nền kinh
tế, của các sản phẩm chủ yếu của Việt Nam
1.2.2 Khái niệm và cấu trúc pháp luật thuế bảo vệ môi trường
Quan hệ thuế khóa bao giờ là quan hệ pháp luật để thu một loại thuế nào
đó Nhà nước phải ban hành ra hệ thống các quy phạm pháp luật quy định rõ nội dung sắc thuế đó và quy định về thủ tục quản lý thu, nộp thuế Ở Việt Nam Thuế bảo vệ môi trường lần đầu tiên được xuất hiện Luật Thuế bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 15/11/2010, tại kỳ họp thứ 8 và được Chủ tịch nước ký Lệnh số 14/2010/L-CTN về việc công bố Luật thuế bảo vệ môi trường vào ngày 29/11/2010 Ngoài ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản dưới luật để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế này cụ thể:
Trang 32- Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 ngày 14/7/2011 của UBTVQH về biểu thuế bảo vệ môi trường; Nghị quyết số 888A/2015/UBTVQH13 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 1269/2011/UBTVQH12 về biểu thuế bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 67/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/08/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường;
- Nghị định 69/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/09/2012 quy định sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 2 Nghị định 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 08 năm
2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường;
- Thông tư 152/2011/ TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành nghị định số 67/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/08/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường;
- Thông tư 60/2015/TT-BTC ngày 27/04/2015 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/08/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường;
- Thông tư 30/2013/TT-BTC ngày 18/03/2013 hướng dẫn hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường đối với túi ni lông làm bảo bì đóng gói sẵn hàng hóa theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 /01/2013 của Chính phủ
Bên cạnh quy định về nội dung sắc thuế bảo vệ môi trường, để quản lý thu nộp các loại thuế nói chung và thuế bảo vệ môi trường nói riêng thì Nhà nước đã ban hành Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật quản lý thuế
Như vậy có thể hiểu: Pháp luật thuế bảo vệ môi trường là bộ phận trong
h ệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà
Trang 33n ước ban hành điều chỉnh các quan hệ thu nộp thuế phát sinh giữa nhà nước và
các ch ủ thể có hành vi sản xuất hoặc nhập khẩu các sản phẩm khi sử dụng gây
tác động xấu cho môi trường
* Cấu trúc pháp luật thuế bảo vệ môi trường
Xét về cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật thuế nói chung đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế; các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện (quy trình hành thu) hệ thống thuế Những quy định về nội dung của hệ thống thuế thực chất là những quy định nhằm xác định ai là người nộp thuế và số thuế
mà họ phải nộp, các ưu đãi về thuế (Trường hợp hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế…Những quy định này liên quan đến chủ thể nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế và thường được quy định rất đầy đủ, chi tiết trong Luật Thuế
Hiện nay, việc xác định cấu trúc pháp luật thuế bảo vệ môi trường có nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên cách tiếp cận phổ biến hiện nay là căn
cứ vào nội dung quy phạm pháp luật điều chỉnh thì cấu trúc pháp luật thuế
BVMT bao gồm hai bộ phận cơ bản sau:
- Bộ phận pháp luật quy định về nội dung sắc thuế Bộ phận pháp luật này
quy định các vấn đề như: Đối tượng nộp thuế; đối tượng chịu thuế;đối tượng
không thuộc diện chịu thuế; căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế; hoàn thuế, miễn giảm thuế …
- Bộ phận pháp luật quy định về quản lý thuế: gồm các quy định về đăng
ký thuế, kê khai, khấu trừ thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế và các biện pháp quản lý thuế… Các quy phạm thuộc nhóm này có trong Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 341.2.3 Pháp luật thuế môi trường ở một số nước – kinh nghiệm được rút
ra cho Việt Nam trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường
Hai công cụ được nhiều nước trên thế giới sử dụng là phí và thuế bảo
vệ môi trường nhằm giúp tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước khi đưa chi phí môi trường vào trong giá thành sản phẩm theo nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” Ở nhiều nước trên thế giới thì thuế bảo vệ môi trường được sử dụng từ ngân sách của Chính phủ còn phí thì sử dụng đề chi cho hoạt động bảo vệ môi trường như thu gom, xử lý chất thải…
* Thuế môi trường ở Hà Lan
Mục đích của việc áp dụng chế độ tăng, giảm thuế môi trường là nhằm khuyến khích tiêu thụ sản phẩm an toàn về môi trường Việc sử dụng thuế đối với xăng ở Hà Lan là một ví dụ điển hình Xăng không pha chì chịu thuế 0,1 ECU cho 100 lít (khoảng 0,004 USD/một gallon) sẽ khuyến khích người tiêu dùng dùng xăng không pha chì Hay việc giảm thuế đối với khí đốt (gas) để khuyến khích dùng khí đốt đun nấu thay thế cho việc dùng than, dầu, vì than, dầu gây ô nhiễm hơn khí đốt ở các nước12
*Thuế và phí bảo vệ môi trường ở Thụy Điển
Việc đánh thuế phát thải khí sulfur tại Thụy Điển thực hiện năm 1991 làm cho hàm lượng S của nhiên liệu dầu mỏ giảm xuống thấp hơn 50% tiêu chuẩn quy định, hàm lượng S của dầu nhẹ cũng giảm xuống thấp hơn 0,076% thấp hơn một nửa giới hạn quy định 0,2%, đồng thời kích thích nhà máy sử dụng nhiên liệu áp dụng các biện pháp giảm thải ô nhiễm Việc đánh thuế khí sulfur đã đem lại những kết quả khả quan trong kiểm soát ô nhiễm Ước tính
Trang 35
có tác động làm giảm 30% lượng phát thải trong thời gian từ năm 1989 đến năm 199513 Hơn thế nước này cũng sử công cụ thuế môi trường trong kiểm soát ô nhiễm Loại thuế này áp dụng cho tất cả hoạt động gây ô nhiễm như:
sử dụng năng lượng, hoạt động gây ô nhiễm, sử dụng tài nguyên, sử dụng các phương tiện giao thông Thụy Điển còn áp dụng các biện pháp khuyến khích
về thuế, bao gồm ưu đãi thuế, khấu hao nhanh các khoản đầu tư công nghiệp vào thiết bị làm giảm ô nhiễm14
* Thuế môi trường ở Trung Quốc
Trung Quốc thực hiện thu thuế môi trường đối với than đá có hàm lượng lưu huỳnh và cấm sản xuất, bán, sử dụng túi ni lông có độ dày nhỏ hơn 0,025mm15 Bên cạnh đó, Trung quốc từ nhiều năm nay đã có một hệ thống phí phạt do vi phạm tiêu chuẩn môi trường Hệ thống này có tới 100 mức phí đánh vào các nguồn gây ô nhiễm đối với nước thải, khí thải, phế thải, tiếng ồn và các loại khác Mức phí ô nhiễm được căn cứ vào lượng và nồng độ của các chất thải
ra môi trường Tuy nhiên, nhược điểm của hệ thống này là mức phí đặt ra quá thấp nên đã hạn chế tác động tích cực, khiến người gây ô nhiễm ít thay đổi hành
vi của mình Nguồn thu được từ phí đã được dùng để trợ cấp cho các doanh nghiệp để họ thực hiện biện pháp kiểm soát và xử lý ô nhiễm Hệ thống phí này hiện nay đã được cải cách theo hướng dành 80% nguồn thu từ phí đưa vào quỹ môi trường của địa phương để cho doanh nghiệp vay ưu đãi để xử lý ô nhiễm, 20% còn lại dùng để duy trì bộ máy kiểm soát và chi phí thực hiện chương trình
15 Kinh nghiệm quo?c te? veC thue? bảo vệ môi trường, tài liệu được kèm theo trong tờ trı̀nh của Chı́nh phủ trı̀nh QH;
Trang 36này, bao gồm cả đào tạo cán bộ môi trường, mua sắm và vận hành các thiết bị quan trắc, đo đạc16
* Thuế môi trường ở Phần Lan
Phần Lan áp dụng thu thuế môi trường đối với cac đối tượng: xăng không chì là 0,628 Euro/lít, Mazut là 0.198 Euro/lít, Dầu nhiên liệu nặng là 0,032 Euro/lít, Diesel là 0,344 Euro/lít, Than đá, than cốc là 0,0006 Euro/G Căn cứ tính thuế được áp dụng theo thuế suất nhân với số lượng17
* Thuế, phí môi trường ở Hàn Quốc
Thuế môi trường ở Hàn Quốc đánh vào các mặt hàng như sau Diesel với 23,3KRW/lít, Dầu nhẹ với 9KRW/lít, xăng không chì là 94,5KRW/lít18
Phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm được Hàn Quốc áp dụng từ năm 1983 đối với chất thải khí và nước thải Ban đầu, thu phí được áp dụng dưới dạng phạt
do không thực hiện cam kết Cơ quan môi trường (hiện nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) của Hàn Quốc được quyền phạt tiền các cơ sở gây ô nhiễm nếu vi phạm tiêu chuẩn môi trường và sau khi có yêu cầu phải có biện pháp xử lý nếu vẫn tiếp tục thải vượt quá tiêu chuẩn cho phép Từ năm 1986, biện pháp này được thay thế bằng thu phí đối với phần thải vượt tiêu chuẩn Mức phí được xác định trên cơ sở nồng độ chất gây ô nhiễm, vị trí thải ô nhiễm, thời gian vượt tiêu chuẩn cho phép và tùy thuộc vào số lần vi phạm tiêu chuẩn Đến năm 1990, số phí này được điều chỉnh cao hơn chi phí vận hành hệ thống xử lý ô nhiễm để có tác dụng khuyến khích giảm ô nhiễm19
Trang 37
* Kinh nghiệm được rút ra cho Việt Nam trong xây dựng và hoàn thiện Luật thuế bảo vệ môi trường
Kinh nghiệm của nước ngoài về sử dụng các công cụ kinh tế vào hoạch định chính sách thuế bảo vệ môi trường cho thấy: đối với các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường như Việt Nam, do điều kiện luật pháp, thể chế chưa hoàn thiện, trình độ dân trí chưa cao nên có nhiều vấn đề đặt ra cần cân nhắc kỹ trong xây dựng và hoàn thiện Luật thuế bảo vệ môi trường như sau:
Thứ nhất, Việt Nam không phải là quốc gia đầu tiên trên thế giới xây dựng Luật thuế bảo vệ môi trường Khi chúng ta bắt tay vào việc xây dựng Luật thuế bảo vệ môi trường thì nhiều quốc gia khác trên thế giới đã thực thi và có nhiều thành công trong việc triển khai áp dụng thuế về môi trường Do đó, việc tham khảo các nước khác để xây dựng một Luật thuế về môi trường để có thể thực thi có hiệu quả trên thực tế là cần thiết Nhờ vào kinh nghiệm thành công của các nước, Việt Nam có thể xác định dễ dàng hơn các đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế… Trên thực tế, pháp luật về thuế môi trường của nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả những nước kinh tế phát triển, có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến cũng chỉ quy định một số sản phẩm, hàng hóa khi
sử dụng hoặc nhập khẩu có mức độ gây ô nhiễm lớn Hầu hết các sản phẩm thuộc đối tượng chịu thuế trong Luật thuế bảo vệ môi trường của Việt Nam cũng được quy định trong Luật thuế về môi trường của một số nước khác
Thứ hai, việc sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường phải được thực hiện từng bước, cẩn trọng Thực tế cho thấy đối với các nước đang phát triển, do điều kiện luật pháp, chính sách, thể chế chưa hoàn thiện, cộng với trình độ dân trí hạn chế… cho nên việc sử dụng các công cụ kinh tế
Trang 38trong bảo vệ môi trường phải được thực hiện từng bước, cẩn trọng dựa trên những cân nhắc kỹ lưỡng về kinh tế, kỹ thuật, xã hội, chính trị… sao cho phù hợp, tránh nóng vội Cơ sở để xác định mức thuế là cần phải nắm được chi phí hoạt động của người gây ô nhiễm, phải có hệ thống giám sát ô nhiễm (monitoring), các điều kiện địa lý, tỷ lệ lạm phát… Đây thực sự là vấn đề khó xác định đối với cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm về bảo vệ môi trường Căn cứ để tính mức thuế phải đầy đủ, toàn diện
Thứ ba, Cần thiết phải xây dựng một số cơ chế phân phối và trợ cấp
đối với một số ngành một số đối tượng nhất định Dựa trên kinh nghiệm của các nước thì có thể thấy pháp luật về công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường
có thể gây tác động tiêu cực tới khu vực thu nhập thấp và để khắc phục tình trạng đó thì có thể áp dụng các biện pháp để giảm nhẹ gánh nặng thông qua các ngành có mức độ giảm thuế, ưu đãi, tín dụng hoặc trợ cấp nhất định như trợ cấp giá điện cho người nghèo ở vùng sâu, vùng xa hay miền núi nhằm giảm thiểu việc đốt than, củi gây ô nhiễm không khí…
Kết luận chương 1
Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường Sự ra đời của Luật thuế bảo vệ môi trường với mục tiêu nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội từ đó góp phần làm thay đổi hành vi của tổ chức, cá nhân, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đầu tư, sản xuất và tiêu dùng của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực của sản xuất, tiêu dùng đến môi trường, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái về môi trường và tạo thêm nguồn thu cho hoạt động khôi phục môi trường là có cơ
Trang 39sở, cần thiết và phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội hiện tại của Việt Nam và xu hướng phát triển kinh tế của thế giới
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở QUẢNG NINH HIỆN NAY 2.1 Thực trạng pháp luật về thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
Luật thuế bảo vệ môi trường là một trong những sắc thuế mới được Quốc hội khóa XII ban hành ngày 15/11/2010 tại Việt Nam Luật thuế bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 Hiện nay đã có khá đầy đủ các văn bản của Chính phủ, Bộ Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Sau đây là nội dung chủ yếu được đánh giá cụ thể như sau:
2.1.1 Về tên gọi
Tên gọi của sắc thuế bảo vệ môi trường cũng có khá nhiều ý kiến tranh cãi
về vấn đề này Có ý kiến đề xuất cho rằng sắc thuế này nên lấy tên gọi là “thuế
môi tr ường”, “thuế chống ô nhiễm môi trường” hoặc “thuế bảo vệ môi trường” Cuối cùng, sắc thuế lấy tên gọi chính thức là thuế bảo vệ môi trường với mục
đích làm nổi bật vai trò của việc đặt ra loại thuế mới này Tuy nhiên, theo chúng tôi việc đặt tên sắc thuế là thuế môi trường có lẽ hợp lý hơn Khẳng định này xuất phát từ những lý do sau:
+ Một là, tên gọi thuế môi trường có tính bao quát hơn, không những đảm bảo người gây ô nhiễm phải nộp thuế mà còn có thể mở rộng chủ thể được hưởng lợi từ môi trường cũng có nghĩa vụ đóng góp20 Với tên gọi thuế bảo vệ môi trường có thể thấy mục đích chính ở đây là “bảo vệ” - tức là chống lại các hành vi gây ảnh hưởng xấu đến môi trường chứ chưa đề cập được nội dung nghĩa
vụ của những người không có hành vi “gây ô nhiễm” nhưng được hưởng sự
môi tr ường, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội;