1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển du lịch tại làng nghề thêu truyền thống văn lâm tại tỉnh ninh bình

117 257 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 5,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo thời gian, các làng nghề ngày một phát triển với những sản phẩm thủ công đặc thù không những góp phần vào kinh tế của địa phương mà còn đặc biệt thể hiện nét văn hóa truyền thống, b

Trang 1

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA DU LỊCH _

HỌ VÀ TÊN: TRẦN THỊ HUỆ CHI – K21HD

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

LờI CảM ƠN

Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Th.s Trần Thị Mỹ Linh, Cô đã tận tình h-ớng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em cũng vô cùng cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội đã truyền dạy cho em những kiến thức quý báu để

em có thể vận dụng vào thực tế cũng nh- nội dung khóa luận

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Bác Vũ Thanh Luân – Chủ tịch Hiệp hội làng nghề thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa L-, tỉnh Ninh Bình, cùng với các cô bác, anh chị tham gia sản xuất tại làng nghề đã chia sẻ, cung cấp cho em những thông tin và số liệu bổ ích và đáng quý trong quá trình nghiên cứu

Sinh viên tốt nghiệp

Trang 3

NHIỆM VỤ THIẾT KẾ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Họ và tên: Trần Thị Huệ Chi ĐT: 0169.9191.789…

Lớp - Khoá: B - K21 Ngành học: Quản trị kinh doanh (Hướng dẫn du lịch)

1 Tên đề tài :

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI LÀNG NGHỀ THÊU

TRUYỀN THỐNG VĂN LÂM TỈNH NINH BÌNH

2 Các số liệu ban đầu (Lý thuyết đã học và tư liệu thu thập tại cơ sở nơi thực hiện Khoá luận) :

Giáo trình, sách, tạp chí, báo và thông tin thu thập tại cơ sở thực tập

3 Nội dung các phần thuyết minh và tính toán (chi tiết đến chương, mục) :

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại làng nghề thêu Văn Lâm – tỉnh Ninh Bình Chương 3: Những giải pháp phát triển du lịch tại làng nghề thêu Văn Lâm gắn với phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình

4 Giáo viên hướng dẫn (toàn phần hoặc từng phần) : Toàn phần

5 Ngày giao nhiệm vụ Khoá luận tốt nghiệp : 30/11/2016

6 Ngày nộp Khoá luận cho VP Khoa (hạn chót) : 28/04/2017

Hà Nội, ngày 28 /04 / năm 2017

Trang 4

Trưởng Khoa Giáo viên Hướng dẫn

(Ký & ghi rõ họ tên)

Th.s Trần Thị Mỹ Linh

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, giới hạn và nhiệm vụ của đề tài 2

2.1 Mục đích 2

2.2 Giới hạn 2

2.3 Nhiệm vụ của đề tài 2

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 6

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phương pháp nghiên cứu 3

4 Những vấn đề đề xuất hoặc giải pháp của khóa luận 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Du lịch 4

1.1.1 Các khái niệm về du lịch 4

1.1.2 Các loại hình du lịch [2] 8

1.1.3 Các chức năng của du lịch [2] 9

1.2 Làng nghề truyền thống 11

1.2.1 Các khái niệm làng nghề 11

1.2.2 Phân loại làng nghề [15], [17] 13

1.2.3 Các đặc điểm của làng nghề truyền thống 14

1.2.4 Những điều kiện phát triển của làng nghề truyền thống 16

1.2.5 Vai trò của làng nghề truyền thống trong việc phát triển kinh tế - xã hội 18

1.3 Phát triển du lịch làng nghề truyền thống 19

1.3.1 Khái niệm du lịch làng nghề truyền thống 19

1.3.2 Các điều kiện để phát triển du lịch tại làng nghề truyền thống 20

1.3.3 Mối quan hệ giữa du lịch và làng nghề truyền thống 21

1.4 Tiểu kết chương 1 23

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI LÀNG NGHỀ

THÊU VĂN LÂM TỈNH NINH BÌNH 24

2.1 Tổng quan về tỉnh Ninh Bình 24

2.1.1 Vị trí địa lý 24

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 25

2.1.3 Tài nguyên du lịch [10] 26

2.2 Tổng quan về làng nghề thêu Văn Lâm 31

2.2.1 Tổng quan về làng nghề thêu Văn Lâm 31

2.2.2 Lịch sử hình thành làng nghề thêu Văn Lâm 33

2.2.3 Quá trình phát triển của làng nghề thêu Văn Lâm 35

2.2.4 Sản phẩm của làng nghề thêu Văn Lâm 37

2.3 Thực trạng phát triển du lịch tại tỉnh Ninh Bình 43

2.3.1 Lượng khách du lịch 43

2.3.2 Doanh thu ngành du lịch 46

2.3.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 46

2.4 Thực trạng phát triển du lịch ở làng nghề thêu Văn Lâm 55

2.4.1 Lượng khách du lịch 55

2.4.3 Thực trạng về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 58

2.4.4 Thực trạng về nguồn nhân lực du lịch 62

2.4.5 Thực trạng về chính sách phát triển của Nhà nước 63

2.5 Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch của làng thêu truyền thống Văn Lâm 65

2.5.1 Lợi thế 65

2.5.2 Hạn chế 65

2.6 Tiểu kết chương 2 66

Trang 7

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI LÀNG NGHỀ THÊU VĂN LÂM GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH

NINH BÌNH 67

3.1 Định hướng phát triển của làng nghề thêu Văn Lâm 67

3.1.1 Cơ sở của định hướng 67

3.1.2 Mục tiêu định hướng phát triển 67

3.1.3 Quan điểm phát triển làng nghề thêu Văn Lâm 68

3.2 Các giải pháp phát triển du lịch tại làng nghề thêu Văn Lâm gắn với phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình 71

3.2.1 Giải pháp bảo tồn, phát huy làng nghề thêu Văn Lâm gắn với phát triển du lịch văn hóa 71

3.2.2 Giải pháp về xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật 73

3.2.3 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực và giáo dục cộng đồng 75

3.2.4 Giải pháp về chính sách của Nhà nước 79

3.3 Đề xuất tour du lịch tại làng nghề thêu Văn Lâm 93

3.3.1 Chương trình tham quan đề xuất 93

3.3.2 Giá bán của tour đề xuất 95

3.3.3 Mẫu thiết kế tờ quảng cáo cho tour đề xuất 97

3.4 Tiểu kết chương 3 99

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ CỦA KHÓA LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 104

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là đất nước được thiên nhiên vô cùng ưu ái với “rừng vàng, biển bạc” cùng vô số những tài nguyên có niềm tăng phát triển du lịch Bên cạnh

đó, Việt Nam còn được biết đến với nền nông nghiệp lúa nước đã có từ rất lâu đời góp phần tạo nên tính cách con người nơi đây Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp này, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, không phải vụ mùa chính để cải thiện cuộc sống và tăng thêm thu nhập cho gia đình Theo thời gian, các làng nghề ngày một phát triển với những sản phẩm thủ công đặc thù không những góp phần vào kinh tế của địa phương mà còn đặc biệt thể hiện nét văn hóa truyền thống, bản sắc của vùng miền

Tuy nhiên, một số làng nghề đang dần bị mai một bởi cả những lí do khách quan và chủ quan; nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triển những giá trị truyền thống của làng nghề, một số tour du lịch làng nghề đang được triển khai nhưng chưa thật sự đúng hướng Do vậy, loại hình du lịch văn hóa nói chung hay du lịch làng nghề nói riêng đang là loại hình du lịch cần được quan tâm và khai thác tối đa tiềm năng, dựa trên cơ sở phát triển bền vững

Làng nghề thêu truyền thống Văn Lâm ở kinh đô Hoa Lư xưa là một làng nghề thủ công truyền thống với rất nhiều điều kiện thuận lợi và tiềm năng để phát triển du lịch Tuy vậy, việc khai thác làng nghề vẫn chưa được tận dụng hết khả năng vốn có, vẫn còn tồn tại một số mặt tiêu cực và chưa được đầu tư phát triển đúng hướng

Việc đầu tư phát triển làng nghề sẽ tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, tạo ra những sản phẩm đem lại lợi ích kinh tế cho hộ sản xuất Bên cạnh đó, việc kết hợp sản xuất sản phẩm với phát triển du lịch làng nghề sẽ hỗ trợ lẫn nhau tạo động lực cho làng nghề phát triển ở nhiều khía cạnh, đưa thương

Trang 9

hiệu làng nghề vươn xa, tiếp cận được với du khách cả trong và ngoài nước Đây cũng là hình thức lưu giữ giá trị văn hóa, bản sắc truyên thống lâu đời của làng nghề thêu Văn Lâm

Trên cơ sở đó, em đã chọn lựa đề tài cho Khóa luận tốt nghiệp là “Giải

pháp phát triển du lịch tại làng nghề thêu truyền thống Văn Lâm tại tỉnh Ninh

Lâm và họat động khai thác làng nghề kết hợp du lịch; đánh giá những thuận lợi

và khó khăn mà làng nghề đang phải đối mặt để từ đó tìm ra hướng đi, giải pháp nhằm bảo tồn, duy trì và phát triển những giá trị truyền thống của làng nghề phục vụ mục đích du lịch

2 Mục đích, giới hạn và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục đích

Trên cơ sở lí luận liên quan đến đề tài, mục đích cốt lõi của Khóa luận là nghiên cứu tổng thể làng nghề thêu truyền thống Văn Lâm, đánh giá tổng thể thực trạng và tiềm năng phát triển của làng nghề để đưa ra giải pháp nhằm phát triển tốt nhất giá trị của làng nghề phục vụ mục đích du lịch

2.2 Giới hạn

• Nghiên cứu về làng nghề thêu truyền thống Văn Lâm

• Nghiên cứu về thực trạng phát triển du lịch ở làng nghề Văn Lâm, số liệu cập nhật đến năm 2016 Tuy nhiên vẫn còn một số nội dung chưa được đầy đủ do không tìm được số liệu ở làng nghề này

2.3 Nhiệm vụ của đề tài

• Tổng quan những vấn đề lý thuyết về làng nghề truyền thống và loại hình

Trang 10

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của Khóa luận là làng nghề thêu truyền thống Văn Lâm tại tỉnh Ninh Bình Ngoài ra còn có các cơ sở phục vụ liên quan đến hoạt động du lịch tại địa bàn huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xung quanh khu vực làng nghề

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện Khóa luận tốt nghiệp, để đạt được những kết quả nghiên cứu xác thực cùng với những số liệu thống kê và thực trạng tại làng nghề, cần có hệ thống các phương pháp nghiên cưu phù hợp với từng hạnh mục nghiên cứu Các phương pháp được áp dụng bao gồm:

 Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu

 Phương pháp khảo sát thực địa

 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp

 Phương pháp bản đồ và biểu đồ

4 Những vấn đề đề xuất hoặc giải pháp của khóa luận

• Xây dựng được cơ sở lý luận về làng nghề truyền thống, du lịch làng nghề

và vận dụng vào nghiên cứu ở làng nghề thêu Văn Lâm

• Phân tích được thực trạng phát triển du lịch và khả năng khai thác phục vụ mục đích du lịch tại làng nghề Văn Lâm

• Đề xuất được một số giải pháp cụ thể để phát triển tốt nhất giá trị du lịch của làng nghề thêu Văn Lâm, góp phần đưa làng nghề trở thành điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch tại tỉnh Ninh Bình

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của Khóa luận tốt nghiệp được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch tại làng nghề thêu Văn Lâm – Ninh Bình Chương 3: Những giải pháp phát triển du lịch tại làng nghề thêu Văn Lâm gắn với phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

mà còn cả ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Du lịch không còn

là một hiện tượng riêng lẻ, đặc quyền của cá nhân hay một nhóm người, mà du lịch đã trở thành một nhu cầu phổ biến đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người Tuy nhiên, khái niệm du lịch dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau cũng sẽ có những cách hiểu khác nhau

Năm 1811, lần đầu tiên tại Anh có định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch

là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc hành trình với mục đích giải trí Ở đây sự giải trí là động cơ chính.” [2]

Năm 1930, ông Glusman (Thụy Sĩ) đã định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ

cư trú thường xuyên.” [2]

Theo định nghĩa của hai học giả Thụy Sĩ Hunziker và Kraff đã được Hiệp hội các chuyên gia du lịch thừa nhận: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và làm việc thường xuyên của họ.” [2]

Theo các tác giả McIntosh, Goeldner và Ritchie lại cho rằng khi nói đến

du lịch cần cân nhắc tới các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch để hiểu bản chất của du lịch một cách đầy đủ Các thành phần đó bao gồm: Khách du lịch, các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và dân cư địa phương

Trang 12

The cách tiếp cận này, du lịch được hiểu là: “Tổng số các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón du khách”

Ở Việt Nam, khái niệm du lịch được đã được quy định trong Luật Du lịch năm 2005 và được hiểu là: “Du lịch là các hoạt động có liên quan của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.” [2]

Theo tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): “Khách du lịch quốc tế là một ngườ lưu trú ít nhất một đêm nhưng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia cư trú thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau ngoài việc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.”

Khách du lịch nội địa: Theo tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): “Khách

du lịch nội địa là những người đang sống trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi thăm một nơi khác không phải là nơi cư trú thường xuyên tại quốc gia đó trong khoảng thời gian ít nhất 24h và không quá một năm với một mục đích nào đó ngoài việc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.”

Ở Việt Nam, khái niệm khách du lịch được quy định tại Luật Du lịch như sau: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ những trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”[7] Khách du lịch gồm khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa:

“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam người nước ngoài cư

Trang 13

trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch Khách du lịch quốc tế bao gồm khách du lịch vào Việt Nam (khách inbound) và khách du lịch ra nước ngoài (khách outbound).”[7]

“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.”[7]

 Tài nguyên du lịch:

Luật Du lịch Việt Nam quy định tại điều 4, chương 1 như sau: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.”[7]

 Sản phẩm du lịch:

Theo như khái niệm đưa ra của Luật Du lịch, sản phẩm du lịch được hiểu như sau: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch.”[7]

 Thị trường du lịch:

Thị trường du lịch được định nghĩa khái quát như sau: “Thị trường du lịch

là bộ phận của thị trường chung, một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu và toàn bộ các mối quan hệ, thông tin kinh tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch.”[7]

Trang 14

 Marketing du lịch:

“Marketing du lịch là một quá trình liên tục, nối tiếp nhau qua đó các cơ quan quản lý trong ngành công nghiệp lữ hành và khách sạn lập kế hoạch, nghiên cứu, thực hiện, kiểm soát và đánh giá các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng và những mục tiêu của công ty, của cơ quan quản lý đó Để đạt được hiệu quả cao nhất, marketing đòi hỏi sự cố gắng của mọi người trong một công ty và những hoạt động của các công ty hỗ trợ cũng có thể ít nhiều có hiệu quả.” [1]

 Tuyến du lịch:

Theo điều 25, Luật Du lịch năm 2005 quy định:

“Tuyến du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là tuyến du lịch quốc gia:

a Nối các khu du lịch, điểm du lịch, trong đó có khu du lịch, điểm du lịch quốc gia, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu quốc tế;

b Có biện pháp bảo vệ cảnh quan môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc tuyến.”[7]

“Tuyến du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là tuyến du lịch địa phương:

a Nối các khu du lịch, điểm du lịch trong phạm vi địa phương;

b Có biện pháp bảo vệ cảnh quan môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc tuyến.”[7]

Trang 15

nội địa là người Việt Nam và không được hướng dẫn cho khách du lịch là người nước ngoài.”[7]

1.1.2 Các loại hình du lịch [2]

Các loại hình du lịch được phân chia rõ ràng nhằm xác định những đóng góp kinh tế và những hạn chế của từng loại hình để từ đó có sự quản lý, điều chỉnh phù hợp Ngoài ra, việc phân chia cũng giúp cho hoạt động marketing sản phẩm được thực hiện hiệu quả và xác định được cơ cấu khách hàng mục tiêu để phục vụ Vì vậy, các loại hình du lịch được phân loại chủ yếu như sau:

 Phân loại theo mục đích chuyến đi

Du lịch thuần túy: Bản chất của du lịch là các chuyến đi để cảm nhận những giá trị tinh thần Chuyến đi có thể có mục đích thuần túy là tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh Du lịch thuần túy

có thể bao gồm các loại hình sau:

Du lịch kết hợp: ngoài mục đích du lịch thuần túy cũng có nhiều chuyến

đi với các lý do khác nhau như công tác, hội thảo, tôn giáo… Về cơ bản có các loại hình du lịch kết hợp như sau:

+ Du lịch tôn giáo

+ Du lịch thể thao kết hợp

+ Du lịch công vụ

+ Du lịch chữa bệnh

+ Du lịch thăm thân nhân

 Phân loại theo tài nguyên du lịch

Phân loại theo tài nguyên du lịch, du lịch được phân thàn hai hình thức cơ bản sau: du lịch văn hóa và du lịch sinh thái

Trang 16

+ Du lịch văn hóa “là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị van hóa truyền thống” Đây là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho du khách về lịch sử, kiến trúc, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa ở nơi họ đến thăm Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn hóa – lịch sử, bảo tàng, lễ hội của địa phương, liên hoan nghệ thuật…

+ Du lịch sinh thái “là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng phát triển bền vững” Du lịch sinh thái là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu về hệ sinh thái tự nhiên và văn hóa bản địa Địa điểm tổ chức loại hình này thường là những khu vực có hệ sinh thái còn tương đối hoang sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa bản địa được bảo tồn như các vườn quốc gia, các khu dự trữ sinh quyển, các khu bảo tồn thiên nhiên, các bản làng,…

 Phân loại theo lãnh thổ hoạt động: du lịch nội địa, du lịch quốc tế

 Phân loại theo vị trí địa lý: du lịch biển, du lịch núi, du lịch đô thị, du

lịch đồng quê,…

 Phân loại theo độ dài chuyến đi: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày,…

 Phân loại theo phương tiện vận chuyển: du lịch xe đạp, du lịch ôtô, du

lịch tàu hỏa,…

Ngoài những tiêu chí trên, du lịch còn được phân chia thành các loại hình sau:

 Phân loại theo phương tiện lưu trú: du lịch ở khách sạn, motel, nhà

nghỉ, bãi cắm trại, làng du lịch,…

 Phân loại theo phương thức hợp đồng: du lịch trọn gói, du lịch từng phần

 Phân loại theo lứa tuổi: du lịch thiếu niên, than niên, trung nên, cao niên

1.1.3 Các chức năng của du lịch [2]

Du lịch đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của con người trên rất nhiều mặt, một số chức năng chính của du lịch bao gồm:

Trang 17

- Chức năng chính trị

Chức năng chính trị của du lịch thể hiện ở vai trò của nó như một nhân tố củng cố hòa bình, thúc đẩy giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở những khu vực khác nhau trên thế giới hiểu biết và xích lại gần nhau, tạo tình hữu nghị giữa các dân tộc

- Chức năng sinh thái

Chức năng sinh thái của du lịch được thể hiện trong việc tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục môi trường thiên nhiên xung quanh

Việc tham quan các danh lam thắng cảnh và môi trường thiên niên có ý nghĩa lớn đối với du khách Nó tạo cho du khách có điều kiện hiểu biết sâu sắc

về tự nhiên, thấy được giá trị của tự nhiên đối với đời sống con người, từ đó góp phần tích cực vào việc giáo dục môi trường Du lịch và môi trường có mối quan

hệ mật thiết với nhau, du lịc góp phần bảo vệ môi trường sinh thái tạo điều kiện

Trang 18

1.2 Làng nghề truyền thống

1.2.1 Các khái niệm làng nghề

1.2.1.1 Làng nghề

Khái niệm về làng nghề được đưa ra dưới nhiều ý kiến khác nhau, trong

đó Giáo sư Trần Quốc Vượng đã định nghĩa về làng nghề như sau: “Làng nghề

là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ cũng có một số nghể phụ khác, song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghịêp, có phường, có ông trùm, ông phó cả,… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một số thị trường là vùng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ

đô, tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu, tên làng đã đi vào lịch sử với ca dao, tục ngữ.”[4]

Ngoài ra, nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng còn đưa ra quan niệm khác như sau: “Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công Ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân) Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình.”[15]

Tuy nhiên, nhìn nhận ở một góc độ khác, khái niệm làng nghề được nhận định như sau: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa

họ có mối liên kết vê kinh tế, xã hội và văn hóa.”[17]

Xét về mặt định tính, do đặc trưng nước ta là một nước với nền nông nghiệp lúa nước lâu đời, nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp nên

Trang 19

hóa để đẩy mạnh phát triển kinh tế theo đặc trưng của đất nước Ngược lại, xét

về mặt định lượng, số lương người làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu dựa vào nguồn thu nhập đó chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số dân làng

Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông

tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận một làng nghề như sau: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.”

Theo thông tư này thì các tiêu chí được dùng để công nhận một làng nghề là: số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề thủ công chiếm từ 40-50% Giá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của làng Tuy nhiên các tiêu chí này được xem xét một cách tương đối phụ thuộc vào quy mô, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm và số người lao động của từng làng nghề.[17]

1.2.1.2 Làng nghề truyền thống[5], [15], [17]

Khi nhắc tới một làng nghề thủ công truyền thống thì không chỉ chú ý tới từng mặt đơn lẻ mà phải chú trọng tới nhiều mặt trong cả không gian, thời gian Nghĩa là phải quan tâm tới tính hệ thống, toàn diện của làng nghề, trong đó yếu

tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, phương pháp, mỹ thuật và kỹ thuật

Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, noiư quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu đời, có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội hoặc là kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ

Bên cạnh đó, làng nghề thủ công truyền thống thường có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền, hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề lâu đời kiểu cha truyền con nối Tuy nhiên, sản phẩm luôn có sự cải tiến sáng tạo phù hợp với thời kỳ nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng, riêng biệt mang thương hiệu làng nghề không giống với các làng nghề khác

Trang 20

Như vậy, làng nghề truyền thống thống trước hết là làng nghề được tồn tại

và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi

có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn có ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc

1.2.2 Phân loại làng nghề[15], [17]

Việc phân loại làng nghề tương đối phức tạp do bản chất của làng nghề và

sự đa dạng Vì vậy, làng nghề có thể được phân chia dự trên hai tiêu chí sau:

Thứ nhất, phân loại theo số lượng nghề, gồm có làng một nghề và làng nhiều người Làng một nghề được hiểu là làng mà ngoài nghề nông ra chỉ có một nghề thủ công duy nhất Làng nhiều nghề là làng ngoài nghề nông ra còn có trên hai nghề khác

Thứ hai, phân loại theo tính chất nghề gồm có làng nghề truyền thống và làng nghề mới Làng nghề truyền thống là những làng có từ lâu đời và đến nay vẫn còn tồn tại Làng nghề mới là làng nghề xuất hiện do sự lan tỏa của các làng nghề truyền thống, hoặc du nhập từ nơi khác

Dựa vào đặc trưng cơ bản và sự hoạt động của các làng nghề tại các khu vực nhất định Làng nghề truyền thống được phân chia thành bốn loại chính, đó là:

- Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (gốm, sứ, dệt tơ tằm…)

- Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời sống (rèn, mộc, hàn, vật liệu xây dựng,…)

- Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng thông thường (làm nón, may mặc,…)

- Làng nghề truyền thống chuyên chế biến lương thực, thực phẩm (xay xát, chế biến thủy hải sản,…)

Trang 21

1.2.3 Các đặc điểm của làng nghề truyền thống

Đặc điểm thứ nhất, các làng nghề truyền thống thường tồn tại ở nông thôn, có mối quan hệ mật thiết với sản xuất nông nghiệp Các làng nghề ban đầu tồn tại trong các làng xã nông thôn, ác nghành thủ công nghiệp sau đó có

xu hướng tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, đan xen lẫn nhau giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp Người thợ thủ công là người nông dân trong làng xã đó

Đặc điểm thứ hai, để sản xuất ra sản phẩm cần tới các công nghệ kỹ thuật Tuy nhiên trong làng nghề truyền thống công nghệ thường thô sơ, lạc hậu, kỹ thuật thủ công được ưu tiên sử dụng Công cụ lao động trong làng nghề đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc Một số loại sản phẩm được sản xuất hoàn toàn bằng tay mặc dù hiện nay đã có từng bước cải tiến trong sản xuất, tuy nhiên cũng chỉ có vài nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong quá trình tạo ra sản phẩm của làng nghề truyền thống

Đặc điểm thứ ba, phần lớn nguyên vật liệu của các làng nghề thường có ở ngay địa phương đó, mang tính chất sẵn có tại chỗ Đây cũng được coi là một nhân tố đóng góp cho sự ra đời của các làng nghề truyền thống Bên cạnh đó, cũng có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng miền khác hoặc từ nước ngoài Tuy nhiên số lượng chỉ chiếm thiểu số

Đặc điểm thứ tư, thành phần lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào sự khéo léo, khả năng sáng tạo của những nghệ nhân Trước kia vai trò của người thợ rất lớn bởi hoàn toàn là lao động bằng tay, ngày nay do máy móc phương tiện cải tiến, áp dụng vào một số khâu sản xuất nên cũng việc cũng giảm nhẹ đi Bên cạnh đó, việc đào tạo nghề chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đình từ đời này sang đời khác, mang tính chất cha truyền con nối và trong phạm vi một làng Những năm về sau, nhiều cơ sở quóc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền thống ra đời, thay đổi phương thức truyền nghề, mở rộng và đa dạng hoá hơn xưa

Trang 22

Đặc điểm thứ năm, sản phẩm của làng nghề truyền thống mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Các sản phẩm làng nghề truyền thống có nhiều giá trị về cả thẩm mỹ và tiêu dùng tuỳ thuộc vào loại sản phẩm Các sản phẩm đều là sự kết hợp giữa những phương pháp tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân Tạo ra các sản phẩm mang những giá trị về tôn giáo, tín ngưỡng, văn hoá, bản sắc vùng miền

Đặc điểm thứ sau, thị trường – đây là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một làng nghề truyền thống Thị trường cung ứng nguyên vật liệu nhìn chung còn nhỏ hẹp, chủ yếu là mua bán tại chỗ Sau này do một số điều kiện nhất định đã hình thành một thị trường nguyên vật liệu lớn hơn từ các cá nhân, doanh nghiệp tại địa phương khác Thị trường công nghệ, trước đây còn thô sơ với những công cụ từ đơn giản tới phức tạp, dưới tác động của sự phát triển khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ mới, hiện đại vào quá trình sản xuất thay thế những hoạt động thủ công lạc hậu nhằm tăng năng suất và hiệu quả Thị trường vốn còn tương đối bé nhỏ so với sức phát triển của sản xuất với các nguồn vốn chủ yếu là vốn tự có, vốn chiếm dụng và vốn vay, ngoài ra còn có các hình thức tín dụng truyền thống như cho vay lấy lãi, lập phường hội, chơi

họ Thị trường lao động chủ yếu là lao động địa phương và mang tính thời vụ, người làm thuê tranh thủ thời điểm nống nhàn vì đa số họ là nông dân, ngày nay thì lao động chuyên môn chính làm việc thường xuyên, gắn bó với công nghiệp như một nghề chính và thành phần lao động đã mở rộng, tuyển mộ tại các địa bàn khác, Thị trường tiêu thụ sản phẩm, đây là yếu tố đảm bảo duy trì hoạt động của một làng nghề, bởi bản chất làng nghề sản xuất để đáp ứng nhu cầu của người dân, mang tính địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp Tại các làng, chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Cho đến nay, thị trường làng nghề cơ bản vẫn là các thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh và một phần cho xuất khẩu

Đặc điểm thứ bảy, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề truyền thống chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình, ngoài ra còn có một số hình

Trang 23

thức khác như tổ hợp sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần

1.2.4 Những điều kiện phát triển của làng nghề truyền thống

Trong quá trình phát triển của các làng nghề truyền thống trong giai đoạn lịch sử khác nhau luôn chịu những sự tác động của các nhân tố mà thúc đẩy hoặc ngược lại kìm hãm sự phát triển Các nhân tố này thường xảy ra khác nhau đối với từng làng nghề ở các vùng miền riêng, bao gồm có tám nhân tố như sau:

Nhân tố thứ nhất, yếu tố truyền thống: các làng nghề tồn tại, phát triền được do có sự kế tục của đời con, đời cháu, nghề được bậc tiền bối truyền lại cho lớp hậu sinh Những bí quyết nghề nghiệp trong làng nghề được giữ bí mật khắt khe Điều này không tránh khỏi sự thất truyền vì một vài nguyên nhân nào

đó Yếu tố truyền thống còn được hiểu trên khía cạnh khác nhau, đó là những tập quán, luật lệ, quy ước mà những người thợ thủ công bắt buộc phải tuân theo Chính vì thế, bên cạnh những mặt tích cực còn có những khía cạnh hạn chế cản trở việc phát triển sản xuất mở rộng trên phạm vi rộng lớn hơn Tóm lại, nhân tố truyển thống có ảnh hưởng quyết định tới sự hưng vong của làng nghề, góp phần nâng cao vị thế, khả năng cạnh tranh của sản phẩm truyền thống

Nhân tố thứ hai, yếu tố thị trường: mối quan hệ cung cầu và quy luật cạnh tranh Các làng nghề càng có khả năng thích ứng với sự thay đổi không ngừng của thị trường thì càng đạt được sự phát triển lớn hơn khi tạo ra những sản phẩm phù hợp với thị hiếu nhưng vẫn mang bản chất làng nghề, có tính cạnh tranh cao Thị trường tác động đến phương hướng phát triển, cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản phẩm và được coi là động lực thúc đẩy sản xuất của làng nghề truyền thống

Nhân tố thứ ba, nguồn nhân lực: bao gồm những nghệ nhân, thợ thủ công, người quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh Các nghệ nhân có vai trò quyết định quang trong việc dạy và truyền nghề Những người thợ thủ công là lực lượng nòng cốt thực hiện sản xuất, tạo ra sản phẩm, hàng hoá phục vụ tiêu thụ tại thị trường Tuy nhiên chất lượng nguồn lao động nhìn chung chưa cao, trình

Trang 24

độ chuyên môn và văn hoá còn thấp gây ảnh hưởng tới sự phát triển chung của làng nghề

Nhân tố thứ tư, nguồn nguyên vật liệu: có ảnh hưởng nhất định tới chất lượng và giá thành sản phẩm Chất lượng của nguyên liệu có tốt thì mới sản xuất

ra sản phẩm có chất lượng cao, tuy nhiên cần cân nhắc tới giá thành để đảm bảo sản phẩm cuối cùng đưa ra thị trường phù hợp với túi tiền của khách hàng Hiện nay, tình trạng nguồn nguyên vật liệu trong các làng nghề đang cạn dần, không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh

Nhân tố thứ năm, cơ chế chính sách: ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại và phát triển của làng nghề Trong thời kỳ trước đổi mới, nước ta phủ nhận các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Hoạt động sản xuất kinh doanh trong làng nghề đều là hợp tác, tập thể với chế độ ăn chia bình quân cho các lao động đều ngang nhau Trên thực tế chính sách này không kích thích được sự phát triển của kinh

tế nói chung và kinh tê làng nghề nói riêng Nhận thấy những hạn chế trong đường lối chính sách phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện công cuộc đổi mới mà quan trọng nhất là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Trong sự đổi mới này Đảng và Nhà nước đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh

tế Chính nhờ sự đổi mới kinh tế đã kích thích sự phát triển, mở rộng thêm nhiều thị trường mới Đồng thời trên cơ sở đổi mới chính sách kinh tế, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của làng nghề truyền thống

Nhân tố thứ sáu, nguồn vốn: là một yếu tố đóng vai trò quan trọng, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, kinh doanh của các cơ sở trong làng nghề Trước đây nguồn vốn cho làng nghề chủ yếu là vốn tự có và vay mượn của nhau với số lượng nhỏ không đủ đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh Những năm gần đây khi nền kinh tế mở cửa, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh ngày càng cấp bách hơn, nhiều hình thức tín dụng đã ra đời nhằm cung cấp vốn cho sản xuất kinh doanh gồm có hệ thống tín dụng chính thống và phi chính thống

Trang 25

Nhân tố thứ bảy, kết cấu hạ tầng: giao thông, điện, thuỷ lợi, bưu chính viễn thông, y tế, giáo dục, công trình văn hoá công cộng,… Khi cơ sở hạ tầng yếu kém thì quy mô làng nghề sẽ hạn chế khả năng mở rộng Cơ sở hạ tầng phải được xây dựng một cách đồng bộ, cân đối nếu không sẽ tạo ra khập khiễng, kìm hãm sự phát triển của làng nghề

Nhân tố thứ tám, trình độ kỹ thuật và công nghệ: do sự phát triển của xã hội, cạnh tranh tăng cao đòi hỏi các làng nghề cân nhắc và áp dụng các công nghệ mới trong quy trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh

1.2.5 Vai trò của làng nghề truyền thống trong việc phát triển kinh

tế - xã hội

Các làng nghề truyền thống ngày càng được đánh giá cao trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng, một địa phương, hay một tỉnh, thành phố Làng nghề truyền thống thể hiện vai trò quan trọng của mình ở những khía cạnh nhau như sau:

Phát triển làng nghề truyền thống là biện pháp hữu hiệu giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn

Phát triển làng nghề truyền thống góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho cư dân địa phương và xây dựng nông thôn mới

Phát triển làng nghề truyền thống đã tạo ra một khối lượng hàng hóa đa dạng phục vụ cho tiêu dùng và sản xuất với giá trị cao

Phát triển làng nghề truyền thống góp phần đa dạng hóa kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa

Phát triển làng nghề truyền thống góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống

Trang 26

1.3 Phát triển du lịch làng nghề truyền thống

1.3.1 Khái niệm du lịch làng nghề truyền thống

Trong những năm gần đây, du lịch làng nghề truyền thống ở Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách cả trong và ngoài nước Bởi lẽ, khi cuộc sống đô thị ngày một phát triển, con người có xu hướng quay trở về với những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc Du lịch làng nghề được các nhà nghiên cứu, các chuyên gia đánh giá là một loại hình du lịch văn hóa chất lượng cao bởi lẽ làng nghề truyền thống được xem như một tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa Vậy loại hình này được định nghĩa như thế nào? Trước hết cần tìm hiểu khái niệm du lịch văn hóa

Theo điều 4, chương 1, Luật Du lịch năm 2005 quy định: “Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.”[7]

Theo tiến sĩ Trần Nhạn: “Du lịc văn hóa là loại hình du lịch mà du khách muốn thẩm nhận bề dày lịch sử, di tích văn hóa, những phong tục tập quán còn hiện diện… Bao gồm hệ thống đình, chùa, nhà thờ, lễ hội, các phong tục tập quán về ăn, ở, mặc, giao tiếp…”[15]

Đối với làng nghề truyền thống thì đó là nơi chứa đựng kho tàng kinh nghiệm kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu, kỹ thuật chế tác, sự sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công truyền thống mà được biết là văn hóa phi vật thể Bên cạnh đó, làng nghề truyền thống còn mang những giá trị văn hóa vật thể như: di tích, đình, chùa làng nghề, sản phẩm thủ công của làng nghề Du lịch làng nghề truyền thống được xem là một trong các loại hình du lịch văn hóa

Tóm lại, khái niệm du lịch làng nghề truyền thống có thể hiểu là: “Du lịch làng nghề truyền thống là một loại hình du lịch văn hóa mà qua đó du khách được thẩm nhận các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có liên quan mật thiết đến một làng nghề cổ truyền của một dân tộc nào đó.”[11]

Trang 27

Cách nói khác của hoạt động du lịch làng nghề truyền thống chính là hoạt động khai thác làng nghề truyền thống phục vụ mục đích du lịch Thuật ngữ “khai thác” theo định nghĩa bởi Từ điển Bách Khoa Việt Nam có nghĩa là:

“Khai thác là việc thực hiện hoạt động để thu lấy những nguồn lợi có sẵn, tận dụng hết khả năng tiềm tàng còn chưa khám phá của đối tượng được khai thác

để phục vụ cho mục đích nhất định” Chính vì vậy, khai thác làng nghề truyền thống phục vụ mục đích du lịch là hoạt động phát huy, khơi dậy những tiềm năng vốn có của làng nghề truyền thống có giá trị đóng góp đối với hoạt động

du lịch tại địa phương

1.3.2 Các điều kiện để phát triển du lịch tại làng nghề truyền thống

Với kho tàng tri thức nghề và văn hóa làng nghề đặc biệt phong phú, các làng nghề thủ công truyền thống trên dải đất hình chữ S đang trở thành điểm đến hấp dẫn trong hành trình khám phá truyền thống văn minh - văn hiến Việt Nam của khách du lịch trong và ngoài nước Do vậy, để phát triển loại hình du lịch làng nghề truyền thống cần quan tâm chú trọng tới các yếu tố sau:

Thứ nhất, giá trị đặc trưng về văn hóa cũng như tính độc đáo trong sản phẩm của làng nghề so với những làng nghề khác Bản chất văn hóa của một làng nghề được thể hiện rõ qua thời gian, bề dày lịch sử dù cho có trải qua bao nhiêu thăng trầm và biến động xã hội Làng quê với những nét văn hóa truyền thống, những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, cuộc sống cư dân nơi đây vẫn luôn mang đậm phong thái của người Việt Nam và là địa điểm lý tưởng cho du khách quốc tế, những người muốn tìm hiểu về bản sắc đậm đà của một quốc gia giàu truyền thống văn hóa nhân văn Bên cạnh đó, các sản phẩm làng nghề mang một màu sắc đặc trưng riêng là nhân tố ảnh hưởng lớn cho sự phát triển của một làng nghề truyền thống Bởi khi nhắc tới cái tên làng nghề thì sản phẩm luôn là một tựa đề được nhắc tới gắn với một địa danh đó Khi nói tới sản phẩm người

ta nghĩ ngay tới tên một làng nghề đó chính là sự thành công, là thương hiệu, dấu ấn mà các tổ nghề, các nghệ nhân đã dày công gây dựng và gửi gắm trong các sản phẩm

Trang 28

Thứ hai, vị trí địa lý của làng nghề và môi trường nông thôn cũng là nhân

tố quan trọng Bởi hoạt động du lịch sẽ được khai thác hiệu quả nếu như có sự tiếp cận tốt Khi vị trí của một làng nghề bị cách ly và khó khăn trong việc tiếp cận thì sẽ suy giảm khả năng phát triển các hoạt động du lịch Làng nghề truyền thống gắn liền với các danh lam thắng cảnh ở các khu vực lân cận sẽ tạo điều kiện khả năng để kết nối các điểm du lịch trong tour du lịch Môi trường nông thôn sẽ đem lại cho du khách sự thư giãn, thoải mái và không gian trong lành mang đậm chất làng nghề cổ truyền

Thứ ba, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ phục vụ sản xuất sản phẩm và quy trình sản xuất truyền thống Sự kết hợp giữa công nghệ với kỹ thuật truyền thống phải hài hòa để không làm lấn át đi nét cổ truyền, bản sắc của quá trình sản xuất mà vẫn tạo ra được sản phẩm với những lợi ích kinh tế riêng Việc tham quan một làng nghề để trải nghiệm, tìm hiểu vì sao con người làm ra được sản phẩm từ những buổi xa xưa như thế nào Khi thưc hiện hoạt động du lịch tại làng nghề truyền thống, du khách phải cảm nhận được nét tinh túy, đặc sắc và sáng tạo trong từng làng nghề riêng biệt

1.3.3 Mối quan hệ giữa du lịch và làng nghề truyền thống

Du lịch và làng nghề truyền thống có mối quan hệ vô cùng khăng khít, tác động qua lại vẫn nhau Họat động du lịch góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của làng nghề truyền thống theo xu hướng tích cực và mở rộng, nâng cao chất lượng đời sống cho cư dân địa phương nơi có làng nghề Thêm vào đó, làng nghề truyền thống cũng có ảnh hưởng tích cực đối với phát triển du lịch bởi làng nghề bản chất là một tài nguyên du lịch nhân văn, có giá trị vô cùng to lớn Nếu được khai thác hợp lý và hiệu quả thì đây sẽ là nguồn tài nguyên bền vững, có khả năng thu hút khách du lịch trải nghiệm và làm phong phú đa dạng thêm cho kho tàng tài nguyên du lịch và hướng tới mục tiêu phát triển chung của xã hội

Du lịch đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển làng nghề truyền thống và ngược lại, làng nghề truyền thống cũng là nền tảng góp phần phát triển du lịch, cụ thể như sau:

Trang 29

Trước hết, hoạt động du lịch được khai thác tại làng nghề giúp giải quyết vấn đề việc làm cho cư dân bản địa và thu hút nguồn lao động từ các khu vực lân cận Từ đó, đời sống của người dân được cải thiện, nâng cao và nguồn thu nhập tăng thêm ngoài các hoạt động sản xuất thông thường

Bên cạnh đó, không chỉ tạo ra nguồn thu và cơ hội cho dân cư địa phương, du lịch còn tăng thêm những cơ hội đầu tư từ phía bên ngoài đối với làng nghề truyền thống để hỗ trợ cho sự duy trì và phát triển của làng nghề

Tiếp theo, cơ hội xuất khẩu của sản phẩm thủ công truyền thống cao hơn

và nguồn thu nhập ngoài được tăng cường bởi du khách nước ngoài có khả năng chi trả cao và hứng thú đối với những sản phẩm truyền thống Điều này góp phần làm tăng doanh thu, doanh số bán hàng của sản phẩm thủ công dưới hình thức xuất khẩu tại chỗ, không phải chịu thuế và hạn chế được rủi ro hơn so với xuất khẩu ra nước ngoài

Tác động của du lịch tới làng nghề còn được nhìn nhận ỏ việc phân phối lại nguồn thu nhập Dòng chảy tiền tệ chịu tác động, các khu vực đô thị có mức thu nhập cao chuyển một lượng tiền tới những vùng nông thôn có mức thu nhập thấp hơn Từ đó góp phần làm cân bằng và rút ngắn khoảng cách, sự bất bình đẳng giữa các vùng

Mối quan hệ giữa du lịch và làng nghề còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lĩnh vực dịch vụ và kích thích phát triển cơ sở hạ tầng trong địa bàn làng nghề truyền thống

Phát triển du lịch ở các làng nghề truyền thống còn góp phần khôi phục

và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống xưa đã bị mai một bởi ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Hoạt động du lịch của làng nghề truyền thống tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho giao lưu văn hóa giữa khách du lịch trong nước và quốc tế nhưng ở các địa phương khác nhau Thông qua du lịch, các giá trị văn hóa truyền thống được gìn giữ, bảo tồn và phát huy bởi người dân bản địa, những người nhận thức được

Trang 30

giá trị của nguồn tài nguyên nhân văn của địa phương mình, nơi đang được khai thác và phục vụ mục đích du lịch

Làng nghề truyền thống gắn với hoạt động du lịch góp phần đa dạng hóa loại hình du lịch, đưa ra thêm những lựa chọn trải nghiệm cho du khách trong và ngoài nước khám phá bản sắc Việt Nam

1.4 Tiểu kết chương 1

Chương 1 của Khóa luận Tốt nghiệp dã tổng hợp các cơ sở lý luận, trình bày những lý thuyết chung về du lịch, làng nghề và du lịch làng nghề truyền thống Trong quá trình tìm hiểu các khái niệm, vai trò, điều kiện phát triển và mối quan hệ giữa làng nghề truyền thống và hoạt động du lịch để từ đó thấy được tầm quan trọng của việc gìn giữ, bảo tồn những giá trị của làng nghề truyền thống Đồng thời nhìn ra những tiềm năng của làng nghề truyền thống để khai thác phục vụ mục đích du lịch

Đây chính là cơ sở để tìm hiểu và nghiên cứu, đánh giá những lợi thế, tiềm năng của một làng nghề truyền thống góp phần quảng bá cho làng nghề

và phát triển, duy trì hoạt động của làng nghề nhằm đạt hiệu quả cao không chỉ ở lĩnh vực sản xuất mà còn ở lĩnh vực du lịch để không làm mất đi bản sắc truyền thống vốn có, nét tinh hoa văn hóa dân tộc của làng nghề truyền thống tại địa phương

Trang 32

đồng bằng châu thổ sông Hồng, Ninh Bình là một cửa ngõ từ miền Bắc vào miền Trung và miền Nam đất nước, được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi, tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh kì thú với những dòng sông thơ mộng, những hồ nước mênh mông, tất cả như đang thầm thì câu chuyện muôn đời của non nước Nơi đây vừa là gạch nối, vừa là ngã ba của ba nền văn hóa lớn: sông Hồng- sông Mã- Hòa Bình

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Sau ngày được tái lập tỉnh (04/1992) Đảng bộ và nhân dân tỉnh Ninh Bình hoà nhập với công cuộc đổi mới chung của cả nước cùng với sự giúp đỡ của các

bộ, ngành trung ương, tỉnh Ninh Bình đã vượt lên trong nhiều lĩnh vực kinh tế -

xã hội, nền kinh tế đạt mức tăng trưởng khá

Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đã đạt được trong giai đoạn 1992 – 2011 là:[3]

- Giá trị GDP năm 2011 (Giá so sánh 1994) đạt 8.136,9 tỉ đồng, gấp 11,5 lần năm 1991

- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (Giá so sánh 1994) đạt 2.161,8 tỉ đồng, gấp gần 3,2 lần năm 1991

- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng (Giá so sánh 1994) đạt 18.142,7

tỉ đồng, gấp 52,6 lần năm 1991 Riêng sản xuất công nghiệp đạt 12.826,6 tỉ đồng, gấp 42,2 lần năm 1991

- GDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 25 triệu đồng gấp 48,5 lần năm 1991

- Trị giá hàng xuất khẩu đạt 263,7 triệu USD, gấp 140,7 lần năm 1991

- Giá trị sản xuất dịch vụ tăng 13,7%

- Số khách đến các điểm tham quan du lịch đạt 3,6 triệu khách, trong đó khách du lịch lưu trú là 233,8 nghìn lượt

- Đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân ổn định, từng bước được cải thiện Các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao có sự chuyển biến tích cực An ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội được giữ vững

Trang 33

2.1.3 Tài nguyên du lịch[10]

2.1.3.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên

Đặc điểm về địa hình kết hợp với các thành phần tự nhiên khác như hệ thống thủy văn, lớp phủ thực vật đã tạo cho Ninh Bình có được tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú Thiên nhiên đã ban tặng cho Ninh Bình nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú, nhiều hang động nổi tiếng như: Vườn quốc gia Cúc Phương với hệ động thực vật phong phú, khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long, khu du lịch sinh thái hồ Yên Thắng, Yên Đồng, Yên Thái, Đồng Chương với cảnh quan đặc sắc và tính đa dạng sinh học cao, khu du lịch Tràng An, Nhà thờ

Đá Phát Diệm, Chùa Bái Đính, sân golf hồ Yên Thắng… Đây là tiền đề quan trọng cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như du lịch sinh thái, du lịch vui chơi giải trí, du lịch chữa bệnh, du lịch văn hóa, du lịch tham quan, du lịch tâm linh, du lịch thể thao… tiêu biểu như:

- Khu du lịch Tràng An cách Cố đô Hoa Lư khoảng 4km về phía Nam, diện tích trên 1.961 ha, với quần thể hang động đặc sắc, các dải đá vôi, các thung lũng và những dòng sông, ngòi đan xen vào nhau tạo nên một không gian huyền ảo và thơ mộng, nguyên sơ và kỳ thú Tháng 9/2012, tỉnh Ninh Bình đã hoàn thành Hồ sơ di sản thế giới đối với quần thể danh thắng Tràng An và trình UNESCO

- Núi, chùa Bái Đính, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn có diện tích 390 ha, mới được hoàn thành giai đoạn I, đi vào hoạt động và khai thác năm 2009 Chùa

ở vị trí đẹp, sơn thuỷ hữu tình với năm cái “nhất”: Chùa lớn nhất, tượng đồng to nhất (100 tấn), nhiều tượng nhất (500 pho tượng La Hán), chuông to nhất, giếng ngọc lớn nhất, thể hiện tính độc đáo hiếm có của một khu du lịch văn hoá tâm linh, là một trong những điểm du lịch quan trọng của tỉnh

- Vườn quốc gia Cúc Phương, huyện Nho Quan có diện tích 22.200 ha, trong đó 1/2 là núi đá vôi cao từ 300 - 648 m so với mặt nước biển Đây là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam Vườn có hệ động thực vật phong phú, đa dạng Hiện nay, Vườn quốc gia Cúc Phương đã trở thành một trung tâm cung cấp các

Trang 34

loài thực vật quý hiếm, có giá trị kinh tế cao phục vụ cho các chương trình trồng rừng trong khu vực và trên cả nước Đến Cúc Phương đẹp nhất vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, đây là một khu rừng nguyên sinh với hệ sinh thái rừng nhiệt đới đa dạng, phong phú được bảo vệ nghiêm ngặt

- Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long là khu bảo tồn sinh cảnh đặc trưng cho hệ sinh thái núi đá ngập nước có diện tích lớn nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng (khoảng 2.643 ha) Đây cũng là nơi khoanh vùng bảo vệ loài Voọc quần đùi trắng - một loài linh trưởng quý hiếm đã được ghi trong Sách đỏ thế giới Vân Long là một vùng đất còn ít được khám phá với cảnh quan đặc biệt hấp dẫn

- Tam Cốc gồm ba hang: hang Cả, hang Hai và hang Ba thuộc thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư Du khách vào thăm Tam Cốc chỉ có một con đường thủy duy nhất, vào ra mất khoảng hơn 1 giờ đồng hồ Lúc thuyền luồn vào ba hang, du khách sẽ cảm nhận được làn không khí trong lành, mát lạnh của hương đồng gió nội, thạch nhũ từ trần hang rủ xuống lô nhô óng ánh như những khối châu ngọc kỳ ảo

- Núi Dục Thúy (núi Non Nước) tạo nên vẻ huyền diệu, sơn thủy hữu tình ngay tại trung tâm thành phố Ninh Bình Núi cao khoảng gần 70m, đỉnh tương đối bằng phẳng Thế núi như muốn nhô ra để soi trọn mình trên dòng sông Đáy, tạo thành một mái hiên hình vòm cuốn, đổ bóng che rợp một khoảng sông có chiều dài gần 50m Núi còn có một số tên gọi khác như Băng Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Sơn Thủy, Hộ Thành Sơn, Thanh Hoa Ngoại Trấn Sơn, Trấn Hải Đài

- Động Địch Lộng thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, được nhân dân phát hiện từ năm 1739 Động Địch Lộng còn có tên khác là động Nham Sơn Cảnh đẹp của Địch Lộng được Vua Minh Mạng ban tặng cho 5 chữ khi đến tham quan nơi đây - “Nam thiên đệ tam động” (động đẹp thứ 3 trời Nam)

Động Vân Trình rộng gần 3.500m2, là một động lớn nhất và đẹp nhất của tỉnh Ninh Bình, sánh ngang với động Thiên Cung ở vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) Động Vân Trình còn giữ nguyên được nét đẹp trinh nguyên, tinh khiết

Trang 35

của đá Du khách đến đây không cần phải tưởng tượng về chốn bồng lai tiên cảnh, mà chính hang đá là cảnh thần tiên hiện giữa cõi trần

- Suối nước nóng Kênh Gà, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn Núi Kênh Gà trông xa như hình một con lạc đà đang đi, nơi đây có một nguồn nước suối nóng mặn, vì thế suối có tên là Kênh Gà Nước khoáng Kênh Gà là một trong số rất ít

mỏ nước khoáng lộ thiên ở nước ta có giá trị to lớn trong y học để phòng và chữa bệnh

- Hồ Đồng Chương nằm giữa hai xã Phú Lộc và Phú Long, huyện Nho Quan Hồ Đồng Chương được ví như “Đà Lạt” của Ninh Bình Du khách đến đây sẽ thấy được vẻ đẹp hòa quyện của thiên nhiên và con người với không khí trong lành, tiếng hàng thông reo vi vút, từng đàn cò trắng bay lượn trên mặt hồ tạo nên cảnh quan thiên nhiên quyến rũ

Một số điểm du lịch hấp dẫn tại tỉnh Ninh Bình

2.1.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch lịch sử và văn hóa là những giá trị vật chất cũng như tinh thần do bàn tay và khối óc của sự đoàn kết của cộng đồng các dân tộc anh

Trang 36

em cùng chung sống ở Ninh Bình sáng tạo và gìn giữ trong dòng chảy của cuộc sống Các tài nguyên này bao gồm những di tích lịch sử - văn hóa, di tích lịch sử

- cách mạng, các làng nghề thủ công truyền thống, những giá trị văn hóa phi vật thể như văn nghệ dân gian, lễ hội thể hiện bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng của nhân dân Ninh Bình

 Nhóm các di tích lịch sử - văn hóa:

- Cố đô Hoa Lư: Là kinh đô của nhà nước phong kiến tập quyền ở nước

ta, thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, nằm trên một diện tích trải rộng khoảng 400ha Nơi đây có đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là một kiến trúc độc đáo trong nghệ thuật chạm khắc gỗ và đá của các nghệ sĩ dân gian Việt Nam ở thế kỷ XVII – XIX và Đền thờ Vua Lê Đại Hành (cách đền Vua Đinh khoảng 300m) Phía trước đền thờ Lê Đại Hành là núi Đèn, sau lưng là núi Đìa Điều đặc biệt ở đền thờ Vua Lê Đại Hành là nghệ thuật chạm khắc gỗ ở thế kỷ XVII

đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo

- Chùa Bích Động thuộc thôn Đam Khê trong, xã Ninh Hải, huyện Hoa

Lư Chùa Bích Động là một công trình kiến trúc cổ được xây dựng trên sườn núi Bích Động Điều độc đáo là chùa được xây cất ở sườn núi cao, dựa vào thế núi Toàn công trình chùa Bích Động bao gồm 3 ngôi chùa: chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng

- Đền Thái Vi (thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư): Đền thờ Trần Nhân Tông, hoàng hậu Thuận Thiên và Trần Thánh Tôn Đền Thái Vi được xây dựng theo kiểu “nội công, ngoại quốc” Trước đền có giếng Ngọc xây bằng đá xanh

- Đền Vua Đinh Tiên Hoàng (thôn Văn Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn): Thôn Văn Bòng là quê hương của Đinh Tiên Hoàng đế, vì vậy người dân nơi đây đã lập đền thờ ông Đền có quy mô nhỏ, tuy nhiên du khách đến thăm nơi đây như được trở về thăm quê hương của người anh hùng thế kỷ thứ X với nhiều huyền thoại về một thời thơ ấu của Đinh Bộ Lĩnh cùng với những người bạn thủa ấu thơ đã từng chăn trâu cắt cỏ như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ và nuôi chí lớn dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước

Trang 37

 Nhóm các lễ hội hàng năm ở tỉnh Ninh Bình:

Theo thống kê, hàng năm tỉnh Ninh Bình có khoảng 76 lễ hội truyền thống và nhiều hội làng mang đậm yếu tố dân gian, đậm đà văn hoá vùng đất châu thổ sông Hồng Những lễ hội lớn như: Lễ hội đền Đinh - Lê (lễ hội Trường Yên): Tổ chức vào ngày mồng 6 - 10 tháng 3 âm lịch hàng năm tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư (Cố đô Hoa Lư) để tưởng nhớ công đức Vua Đinh Tiên Hoàng và Vua Lê Đại Hành, bao gồm hai phần lễ và hội Lễ hội đền Thái Vi được tổ chức hàng năm từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 3 âm lịch tại thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư Đây là dịp để nhân dân Ninh Bình và nhân dân cả nước tưởng nhớ công lao các Vua Trần, những người có công lớn với dân với nước Lễ hội chùa Địch Lộng được tổ chức vào hai ngày mùng 5 và mùng 7 tháng Ba (âm lịch) tại chùa Địch Lộng thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn Lễ hội chùa Bái Đính được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng Giêng hàng năm tại thôn Sinh Dược, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn Lễ hội Báo bản Nộn Khê: Lễ hội được tổ chức vào ngày 14 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm tại đình làng Nộn Khê, xã Yên Từ, huyện Yên Mô Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ: Tổ chức vào 3 ngày, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 11 (âm lịch) tại đền Nguyễn Công Trứ thuộc xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn

 Văn hóa ẩm thực Ninh Bình:

Về văn hoá ẩm thực, từ lâu, Ninh Bình đã nổi tiếng với bún mọc Kim Sơn, rượu Lai Thành, đặc sản thịt dê, ngọc dương tửu, cá rô Tổng Trường (Hoa Lư), nem chua Yên Mạc, mắm tép Gia Viễn, cá chuối nướng Vân Long, nhất

Trang 38

hưởng thiên kim (cơm cháy), rượu cần Nho Quan… Các món ăn đặc sản trên cũng là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị hay nói một cách hình tượng văn hoá

ẩm thực như cái duyên, tô điểm cho môi trường du lịch hấp dẫn Với những giá trị tài nguyên du lịch đặc sắc, Ninh Bình thực sự là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước

2.2 Tổng quan về làng nghề thêu Văn Lâm

2.2.1 Tổng quan về làng nghề thêu Văn Lâm

2.2.1.1 Vị trí địa lý

Làng thêu ren Văn Lâm nằm cạnh trung tâm khu du lịch Tam Cốc- Bích Động thuộc xã Ninh Hải huyện Hoa Lư thành phố Ninh Bình Cách trung tâm thành phố Ninh Bình 7km, cách thủ đô Hà Nội 97km

Vị trí làng thêu Văn Lâm trên bản đồ

2.2.1.2 Khí hậu

Làng Văn Lâm thuộc khu di tích Tam Cốc có khí hậu nằm trong vùng khí hậu Ninh Bình Khí hậu là một phần quan trọng của môi trường tự nhiên, và rất

Trang 39

quan trọng đối với thời vụ du lịch Khí hậu Ninh Bình khá thuận lợi cho hoạt động du lịch

Khí hậu của vùng thuộc vùng tiểu khí hậu sông Hồng, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam và một mùa đông lạnh nhưng vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu ven biển và rừng núi Thời tiết chia làm hai mùa

rõ rệt: Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10

Theo số liệu của TCVN 4088 -85, Trạm khí tượng và thuỷ văn Ninh Bình thì khí hậu của vùng có những đặc trưng sau:

- Nhiệt độ không khí:

Nhiệt độ trung bình hàng năm là: 23,5 độ C

Nhiệt độ cực tiểu tuyệt đối là: 5,5 độ C

Nhiệt độ cực đại tuyệt đối là: 41,5 độ C

Tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 29,30 C Tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 17,90 C Tổng số giờ nắng Trung bình năm là: 1.646 giờ;

Số giờ nắng trung bình mỗi tháng là: 117,3 giờ, Tháng 6 cao nhất với 187,4 giờ; Tháng 2 thấp nhất với 24,3 giờ

Tổng nhiệt độ trung bình cả năm là hơn 8.5000C Có tới 8 – 9 tháng trong năm có nhiệt độ trung bình trên 200 C

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là: 85% và có sự chênh lệch không nhiều giữa các tháng trong năm Tháng 2 cao nhất với độ ẩm không khí là: 89%, tháng 11 có độ ẩm không khí thấp nhất với độ ẩm không khí là: 75%

- Lượng mưa trung bình năm là: 1.781 mm Trung bình một năm có 125 –

127 ngày mưa Lượng mưa trung bình mỗi tháng là: 238,8 mm Tháng 9 cao nhất với: 816 mm Tháng 1 thấp nhất là: 8,5 mm Lượng mưa tập trung vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9,10 và chiếm từ 86% - 91% tổng lượng mưa hàng năm

- Hướng gió chính thịnh hành trong năm: Mùa Đông: có hướng gió chính

là hướng Bắc và Đông Bắc; Mùa hè: có hướng Nam và Đông Nam

Ngoài ra còn có các hiện tượng thời tiết đặc biệt như: giông, bão…

Trang 40

2.2.2 Lịch sử hình thành làng nghề thêu Văn Lâm

Văn Lâm là một thôn thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, nơi có nghề

thêu ren truyền thống qua nhiều đời Nghề thêu đã được người dân Văn Lâm

lưu giữ và truyền từ đời này sang đời khác, vượt qua bao thăng trầm của lịch

sử Bằng những sợi chỉ mỏng manh đầy màu sắc, cùng với những tấm vải rộng,

hẹp nhiều kích cỡ, với đôi bàn tay khéo léo, bộ óc giàu trí sáng tạo, người Văn

Lâm đã thả hồn vào chỉ, vào vải để tạo nên những sản phẩm mang hồn thiêng

của con người, non nước một vùng quê

“ Mỹ nghệ hoa văn truyền hậu thế Tài hoa cẩm tú ngưỡng tiên sinh”

Chưa rõ nghề thêu ren ở Văn Lâm có từ bao giờ, chỉ biết từ xa xưa, người Văn Lâm đã in dấu chân khắp các miền Nam, Bắc để làm nên những sản phẩm thêu ren độc đáo

Theo các cụ thời xưa kể lại thì Làng nghề thêu Văn Lâm đã có từ lâu đời

độ một vài trăm năm nay Ngoài ra còn có thông tin khác nói rằng nghề thêu ở

Ngày đăng: 22/03/2018, 18:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w