1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính ở tỉnh bắc ninh thực trạng và giải pháp

92 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định của Luật đất đai năm 2013, nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp quyền sử dụng đất tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở, nếu các bên tranh chấp không h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

THÔNG QUA THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Ở TỈNH BẮC NINH-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

NGUYỄN VIẾT LÂM

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

THÔNG QUA THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Ở TỈNH BẮC NINH-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

NGUYỄN VIẾT LÂM

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS HOÀNG THẾ LIÊN

HÀ NỘI-2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết luận,

số liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ tin cậy Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố

Hà Nội ngày tháng năm 2016

Nguyễn Viết Lâm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học, Viện đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Hoàng Thế Liên người đã định hướng đề tài và nhiệt tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thiện luận văn

Cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Nguyễn Viết Lâm

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN………i

LỜI CẢM ƠN………ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……….………v

LỜI MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.Mục đích nghiên cứu 3

4.Phương pháp nghiên cứu 3

5.Tính mới của đề tài 4

6.Kết cấu của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THÔNG QUA THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 6

1.1.Khái quát về tranh chấp quyền sử dụng đất 6

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp quyền sử dụng đất 6

1.1.2 Nguyên nhân tranh chấp quyền sử dụng đất 10

1.2.Khái quát về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính 12

1.2.1.Khái niệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính 12

1.2.2.Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất 14

1.2.3.Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất 16

1.3.Những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính 16

1.3.1 Hòa giải tranh chấp đất đai 16

1.3.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính 20

1.3.3 Căn cứ để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính……… 25

1.3.4 Trình tự giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính tại UBND, Bộ tài nguyên môi trường 27

1.3.5 So sánh giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính và thủ tục tố tụng 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THÔNG QUA THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở BẮC NINH 33

Trang 6

2.1.Khái quát về tỉnh Bắc Ninh 33

2.1.1.Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 33

2.1.2.Tình hình kinh tế, xã hội 35

2.2.Khái quát tình hình quản lý sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 37

2.2.1.Đặc điểm đất đai 37

2.2.2.Tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 39

2.3.Khái quát về tình hình tranh chấp đất đai ở Bắc Ninh 41

2.4.Thực trạng giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất theo thủ tục hành chính ở Bắc Ninh 42

2.4.1.Thành tựu đạt được 42

2.4.2.Những tồn tại, vướng mắc 48

2.5.Nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Bắc Ninh 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THÔNG QUA THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 61

3.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính 61

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính 62

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính 65

3.3.1 Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất 65

3.3.2 Hoàn thiện cơ chế tổ chức giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính ……… 67

3.3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 81

Trang 7

8 Tranh chấp quyền sử dụng đất : TCQSDĐ

9 Sở tài nguyên và môi trường : STN&MT

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng,

là nền tảng để xây dựng cơ sở kinh tế, khu dân cư, công trình văn hóa – xã hội, an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia Trong suốt quá trình lịch sử, đất đai còn là điều kiện sinh tồn của con người, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ của khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh

Trong thời gian qua, tình trạng tranh chấp quyền sử dụng đất diễn ra ngày càng gia tăng về số lượng cũng như phức tạp về tính chất Các tranh chấp đất đai phổ biến trên thực tế là: tranh chấp do lấn, chiếm đất, tranh chấp quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất, tranh chấp đất đai trong các vụ ly hôn,…Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này do: việc quản lý đất đai còn nhiều thiếu sót, sơ hở trong việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất., việc lấn chiếm đất đai ngày càng phổ biến nhưng không được ngăn chặn kịp thời,… Từ những bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ đất đai có thể gây ra nhiều hệ lụy xấu cho xã hội Do đó, từ lâu Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm tới vấn đề giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, điều đó được thể hiện qua việc trong Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 và gần đây nhất là Luật đất đai năm 2013 đều có những quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất Theo quy định của Luật đất đai năm 2013, nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp quyền sử dụng đất tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở, nếu các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải Chỉ khi hòa giải ở cơ sở không thực hiện được, thì tùy từng trường hợp Luật quy định Tòa án nhân dân hoặc

Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giải quyết Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề giải

Trang 10

quyết tranh chấp đất đai thông qua thủ tục hành chính có ý nghĩa hết sức quan trọng

Từ trước đến nay, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứ về vấn đề này, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc phân tích vấn đề giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ở mức độ khái quát chung, mà chưa nghiên cứu, phân tích chi tiết ở một địa phương cụ thể Với mong muốn, từ việc nghiên cứu thực trạng ở một địa phương cụ thể, bài viết sẽ mang lại cái nhìn chi tiết, khách quan hơn từ đó đưa ra được các giải pháp để nâng cao hiệu quả việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính nói chung Trong bài viết này, tác giả lựa chọn Bắc Ninh là địa phương để nghiên cứu, bởi Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ - khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh của cả nước, tạo cho Bắc Ninh nhiều lợi thế về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cùng với đó là sự xuất hiện của nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế, lợi ích kinh tế từ quyền sử dụng đất cao, dẫn đến nhiều tranh chấp về quyền sử dụng đất Với những

ý nghĩa trên, tác giả xin lựa chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính ở tỉnh Bắc Ninh- thực trạng và giải pháp” làm

luận văn tốt nghiệp của mình

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính tại Bắc Ninh

Đề tài nghiên cứu thực trạng giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính tại Bắc Ninh để làm rõ những kết quả đạt được và đưa ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghiên cứu để tìm ra những nguyên nhân, khó khăn tồn tại và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính tại Bắc Ninh

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 11

Trong khuôn khổ có hạn của luận văn thạc sĩ Luật học, đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật thực định, các nguyên tắc pháp lý cũng như các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính

Luận văn đã tiếp cận và phân tích, bình luận các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai,… Qua việc nghiên cứu những quy định của pháp luật, tác giả mong muốn làm rõ, cụ thể các vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính để làm rõ những kết quả đạt được trong công tác thực thi pháp luật tại Bắc Ninh Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những đánh giá, nêu ra những khó khăn, nguyên nhân và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính tại Bắc Ninh

3 Mục đích nghiên cứu

Trong bài viết này, tác giả làm rõ một số vấn đề lí luận về tranh chấp quyền sử dụng đất, thủ tục hành chính trong việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất Bên cạnh đó bài viết đi sâu nghiên cứu về thực trạng giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính ở tỉnh Bắc Ninh từ đó đề ra các giải pháp để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ở Bắc Ninh nói riêng và trong phạm vi cả nước nói chung

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn dựa trên: Phương pháp luận về duy vật biện chứng, lịch sử chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối chính sách của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền

Trên cơ sở đó, với mục tiêu tìm hiểu và đánh giá thực tiễn thực hiện Luật đất đai 2013 về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính tại Bắc Ninh, luận văn còn sử dụng các phương pháp sau:

Trang 12

Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích và đánh giá: Phân tích, tổng hợp

số liệu, dữ liệu thu thập được tại Bắc Ninh để đánh giá, phân tích thực trạng giải

quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính

Phương pháp so sánh: Phương pháp này sử dụng để đối chiếu với các quy

định của pháp luật, tìm ra những bất cập, chưa phù hợp, chưa thống nhất trong Luật đất đai 2013 về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính, điểm chưa phù hợp của quy định pháp luật với thực tiễn thi hành

Phương pháp tổng hợp, phân tích, quy nạp, diễn dịch: được sử dụng khi

nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này Luận văn đã tiếp cận, thu thập, thừa kế những thông tin, tài liệu tổng kết thi hành Luật đất đai 2013 của Bộ tài nguyên và môi trường, các số liệu thực tế tại Bắc Ninh đã công bố để trên cơ sở đó phân tích, đánh giá pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính, đồng thời nhận diện những tồn tại, bất cập của pháp luật về vấn đề này, đề xuất giải pháp phù hợp theo mục tiêu đề ra

5 Tính mới của đề tài

Tiếp tục kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước, Luận văn đi tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện và tập trung về pháp luật giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam Trong đó tập trung đi sâu vào nghiên cứu quá trình thực hiện Luật đất đai 2013 và Nghị định hướng dẫn về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính tại tỉnh Bắc Ninh Bên cạnh đó, luận văn nêu ra thực trạng và nêu ra những thành tựu, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính tại Bắc Ninh và đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn chế tồn tại

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm các phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính bao gồm 3 chương cơ bản sau:

Trang 13

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở pháp lí về tranh chấp và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính

Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính ở Bắc Ninh

Chương3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính

Trang 14

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÍ VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THÔNG QUA THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

1.1 Khái quát về tranh chấp quyền sử dụng đất

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp quyền sử dụng đất

Khái niệm

Trong bất kì xã hội nào, đất đai luôn có vai trò, vị trí quan trọng đối với con người, góp phần quyết định sự phát triển phồn vinh của đất nước Cùng với sự phát triển của sản xuất và đời sống, nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng phong phú và đa dạng hơn Xuất phát từ lợi ích của các tầng lớp trong xã hội, và dựa trên đòi hỏi của việc xây dựng và phát triển đất nước, Nhà nước sử dụng pháp luật để điều chỉnh các tranh chấp đất đai nhằm tạo lập một môi trường pháp lý lành mạnh cho hoạt động khai thác và sử dụng đất có hiệu quả Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý vững chắc, để giải quyết dứt điểm và có hiệu quả những tranh chấp đất đai nảy sinh

Để hiểu được tranh chấp quyền sử dụng đất là gì trước tiên cần phải hiểu thế nào là tranh chấp đất đai?

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng; “Tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai

về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lí và sử dụng đất” [15, tr.74], cũng có

quan điểm cho rằng: “tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn về lợi ích, về

quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”[14, tr.455]

Trong khi đó, theo quy định tại khoản 24, Điều 3 Luật đất đai năm 2013 thì

quy định: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” Luật đất đai năm 2013 xác định

tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ; quyền ở đây có thể được hiểu

là quyền quản lý, quyền sử dụng đất đai giữa các bên trong quan hệ đất đai Sở dĩ tranh chấp đất đai chỉ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ bởi vì sau Hiến Pháp năm

Trang 15

1980 ra đời, Nhà nước trở thành đại diện chủ sở hữu duy nhất, đối với toàn bộ đất đai trong cả nước Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý được ghi nhận tại Điều 53, 54 Hiến pháp 2013; Điều 4 Luật đất đai năm 2013 Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai Đất đai là một bộ phận quan trọng của lãnh thổ quốc gia Việt Nam, được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta

đã bỏ ra biết bao công sức khai phá, cải tạo đất, cũng như xương máu để gìn giữ từng tấc đất của quốc gia Vì vậy, đất đai phải thuộc sở hữu chung của toàn dân, không thể thuộc về bất cứ một cá nhân, tổ chức nào Nhà nước với những đặc trưng vốn có của mình, là thiết chế trung tâm của hệ thống chính trị, là công cụ để nhân dân thực hiện quyền lực nhân dân dưới hình thức dân chủ đại diện Vì vậy, Nhà nước là thiết chế đại diện cho nhân dân (chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai ở nhà nước ta) thực hiện quyền chủ sở hữu đối với đất đai Nhà nước có chức năng thống nhất quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Như vậy, tranh chấp đất đai hiểu theo nghĩa rộng là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất Trong thực tế tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền

sử dụng một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ [22] Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết

Xuất phát từ yếu tố đất đai là một loại tài sản đặc biệt, không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp và căn cứ vào tính chất pháp lý của tranh chấp đất đai

thì tranh chấp đất đai bao gồm: Tranh chấp quyền sử dụng đất; Tranh chấp quyền

và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất; Tranh chấp về mục đích sử dụng

Theo đó, tranh chấp quyền sử dụng đất là một dạng của tranh chấp đất đai

Như vậy, tranh chấp quyền sử dụng đất có thể hiểu là: Loại tranh chấp do một bên

Trang 16

tự ý thay đổi hoặc do hai bên không thống nhất xác định với nhau về ranh giới sử dụng đất

Phân loại tranh chấp quyền sử dụng đất

Tranh chấp quyền sử dụng đất là loại tranh chấp xảy ra trong quá trình các bên thực hiện việc quản lý và sử dụng đất, nó bao gồm các loại sau [23, tr.12 -13]:

Thứ nhất, tranh chấp về ranh giới giữa những vùng đất được phép quản lý và

sử dụng Loại tranh chấp này thường là do các bên sử dụng đất không thỏa thuận được với nhau hoặc là do một bên tự ý thay đổi ranh giới sử dụng trong quá trình đất đai được chuyển nhượng qua tay nhiều người, cho thuê, cho thuê lại, cũng có thể là do sai sót từ phía cơ quan nhà nước trong quá trình đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Thứ hai, tranh chấp quyền sử dụng đất trong quan hệ thừa kế. Loại tranh chấp này phát sinh trong trường hợp người chết có quyền sử dụng đất đai nhưng khi chết không để lại di chúc hoặc có để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp một phần hay toàn bộ mà các đồng thừa kế lại không tự thỏa thuận được với nhau nên khởi kiện ra tòa Loại tranh chấp này thường có tài sản gắn liền với đất

Thứ ba, tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn Quyền sử dụng đất

có được trong thời kỳ hôn nhân do nhận chuyển nhượng, được Nhà nước giao đất, được tặng cho, hoặc được thừa kế Khi ly hôn hai người không tự thỏa thuận được với nhau nên phát sinh tranh chấp Loại tranh chấp này cũng thường có tài sản gắn liền với đất

Thứ tư, tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất. Loại tranh chấp này phát sinh trong trương hợp trước đây họ có quyền sử dụng đất nhưng do cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ nay không chịu trả hoặc do chính sách pháp luật của Nhà nước thời kỳ trước đã chia, cấp cho người khác nên nay họ khởi kiện để đòi lại Đây cũng là loại tranh chấp thường gắn với tài sản trên đất

Thứ năm, tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền trên đất của dòng họ, nhà thờ, thánh thất, chùa chiền Do hoàn cảnh đất nước, do yếu tố lịch sử

Trang 17

để lại, các cơ sở này được nhà nước mượn, trưng dụng vào các mục đích khác nhau không trả nay họ đòi lại

Thứ sáu, tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện, xã với nhau Đây thường là những tranh chấp diễn ra ở các khu vực có vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế địa phương nhưng tại đây sự phân chia ranh giới hành chính chưa rõ ràng dẫn đến tranh chấp phát sinh

Đặc điểm của tranh chấp quyền sử dụng đất

Tranh chấp quyền sử dụng là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa các bên trong quan hệ đất đai Quan hệ đất đai lại là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự [23, tr.10], nên bên cạnh những đặc điểm chung của tranh chấp dân sự nói chung và tranh chấp đất đai nói riêng, thì tranh chấp quyền sử dụng đất có những đặc điểm sau:

Về chủ thể: Chủ thể của quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất là các cá

nhân, tổ chức, hộ gia đình tham gia quan hệ đất đai với tư cách là chủ thể quản lý hoặc sử dụng đất đai mà không phải là chủ thể quyền sở hữu đất đai Bởi như phân tích ở trên, Nhà nước là thiết chế đại diện cho nhân dân thực hiện quyền chủ sở hữu đối với đất đai Các chủ thể khác chỉ có quyền quản lý, sử dụng đất đai, quyền này được xác lập trên quyết định giao đất, cho thuê đất, được Nhà nước cho phép chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng

Về nội dung tranh chấp quyền sử dụng đất: trong nền kinh tế thị trường, đất

đai không còn là một tư liệu sản xuất mà còn là một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại lớn Hoạt động quản lý, sử dụng đất trong nền kinh tế kinh tế thị trường, diễn ra rất đa dạng, phức tạp Điều đó dẫn đến những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý, sử dụng đất đai cũng trở nên gay gắt, phức tạp hơn Tranh chấp quyền sử dụng đất là việc các bên có tranh chấp xem ai là người có quyền sử dụng và quản lý đối với diện tích đang có tranh chấp

Trang 18

Về đối tượng của tranh chấp quyền sử dụng đất: do đất đai thuộc sở hữu toàn

dân, Nhà nước là đại diện cho nhân dân thực hiện quyền chủ sở hữu nên khách thể của tranh chấp quyền sử dụng đất là quyền quản lý và sử dụng đất

Về hậu quả: tranh chấp quyền sử dụng đất gây ra nhiều hệ quả xấu Tranh

chấp quyền sử dụng đất có thể lôi kéo nhiều người tham gia, gây mất ổn định về chính trị, xã hội, gây mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai Tranh chấp quyền sử dụng đất không những ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của bản thân các chủ thể tranh chấp, mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, xã hội

1.1.2 Nguyên nhân tranh chấp quyền sử dụng đất

Tranh chấp về quyền sử dụng đất đang diễn ra ngày càng nhiều về số lượng và phức tạp về tính chất Vấn đề đặt ra là cần phải xác định rõ có những nguyên nhân nào dẫn đến tranh chấp quyền sử dụng đất, để từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp để hạn chế tranh chấp về quyền sử dụng đất

Về mặt khách quan:

Từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự thay đổi cơ chế quản lý làm cho đất đai ngày càng trở nên có giá trị Dưới góc độ kinh tế, đất đai được coi như một loại hàng hóa trao đổi trên thị trường theo quy luật cung cầu [34], quy luật giá trị điều này đã tác động đến tâm lý của nhiều người dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho thuê, cho mượn, đã bị tịch thu hoặc giao cho người khác sử dụng hoặc khi thực hiện một số chính sách về đất đai ở các giai đoạn trước đây mà không có các văn bản xác định việc sử dụng đất ổn định của họ Mặc khác, từ trước tới nay, nước ta đã trải qua nhiều cuộc cách mạng cải cách ruộng đất, đặc biệt qua hai lần điều chỉnh ruộng đất vào các năm 1977-1978 và 1982-1983 với chính sách chia cấp đất theo kiểu bình quân, dẫn đến những xáo trộn lớn về mặt ranh giới, số lượng, mục đích sử dụng đất

• Về mặt chủ quan:

Thứ nhất về chính sách và pháp luật quản lý đất đai còn nhiều hạn chế Chính sách đất đai và các chính sách khác có liên quan đến đất đai chưa đồng bộ, có mặt

Trang 19

không rõ ràng và đang còn biến động Thực tế áp dụng các chính sách đất đai còn tùy tiện dẫn đến tình trạng: Người có khả năng sản xuất nông nghiệp thì thiếu ruộng đất, ngược lại, người có ruộng lại không có khả năng hoặc nhu cầu sản xuất, để đất đai hoang hóa hoặc sử dụng đất kém hiệu quả Bên cạnh đó, chính sách đất đai mới chủ yếu điều chỉnh các quan hệ kinh tế – xã hội và ruộng đất trong nông nghiệp nông thôn Trong khi nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi chính sách đất đai bao quát rộng và toàn diện trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đầu tư, du lịch, qui hoạch, giao thông, kinh doanh bất động sản… chứ không bó hẹp trong nông nghiệp, nông thôn Vì vậy, trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, nhu cầu sử dụng, chuyển nhượng, kinh doanh đất đai ở các lĩnh vực, các vùng ngày càng lớn đã phát sinh nhiều vấn đề mà chính sách đất đai khó giải quyết Đặc biệt, thị trường bất động sản trong thời gian qua biến động khó lường gây lúng túng nhiều phía từ các tầng lớp dân cư, nhà đầu tư và cả những người làm chính sách Pháp luật về quản lý đất đai mặc dù đã ban hành nhiều hệ thống văn bản pháp luật và chính sách đất đai tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập, việc thay đổi thường xuyên, thiếu thống nhất, còn chồng chéo văn bản pháp luật do nhiều cấp khác nhau ban hành (từ trung ương đến địa phương) làm cho việc quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn; hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý đất đai thiếu tính thống nhất từ trên xuống dưới

Thứ hai về công tác quản lý đất đai: Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn bị buông lỏng, nhiều sơ hở, nhiều địa phương giải quyết còn tùy tiện, vi phạm quy định của pháp luật Trong cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hóa cao độ, Nhà nước phân công, phân cấp cho quá nhiều ngành, dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ, chưa có sự đồng bộ Trong cơ chế thị trường, mặc dù Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, có sự phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý đất đai khá rõ Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều sai phạm, non kém về trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai Điều này góp phần làm xuất hiện nhiều tranh chấp đất đai phức tạp, khó giải quyết

Hệ thống hồ sơ địa chính chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, nên thiếu căn cứ pháp lý và

Trang 20

thực tế để xác định quyền sử dụng và quản lý đất đai của tổ chức, cá nhân, đặc biệt

là ở những vùng mà quan hệ đất đai phức tạp và có nhiều biến động Trong nhiều trường hợp, việc tranh chấp đất đai lại bắt nguồn từ những tài liệu lịch sử của chế độ

cũ để lại [24, tr.8] Hơn nữa, việc giao đất lại không được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, nên hồ sơ đất đai không đồng bộ và bị thất lạc Quy hoạch sử dụng đất đai chưa đi vào nề nếp, nên nhiều trường hợp sử dụng đất không hợp lý khó bị phát hiện Khi phát hiện thì lại không được xử lý kịp thời Nhiều địa phương còn có những nhận thức lệch lạc về chính sách đất đai, quản lý đất đai còn nặng về biện pháp mệnh lệnh hành chính mà chưa chú ý đến biện pháp quản lý về mặt kinh tế

1.2 Khái quát về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục

hành chính

1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và giải quyết tranh

chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính

1.2.1.1 Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất

Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “giải quyết” được hiểu là “làm cho không

còn vấn đề nữa

Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất được hiểu là tổng hợp những cách thức, biện pháp được áp dụng để loại bỏ các mâu thuẫn, bất đồng về quyền sử dụng đất giữa các chủ thể trong quá trình tham gia vào các quan hệ đất đai

Như vậy, giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là việc phân xử quyền sử dụng đất đang tranh chấp thuộc về chủ thể nào Hoạt động giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất mang những đặc điểm sau:

Về chủ thể của họat động giải quyết tranh chấp QSDĐ: là các bên tranh chấp

và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết Tùy từng trường hợp mà chủ thể trong quan hệ giải quyết tranh chấp QSDĐ lại khác nhau Nếu khi tranh chấp phát sinh, các bên tranh chấp có thể tự thỏa thuận với nhau hoặc thông qua hòa giải cơ sở

để hòa giải, loại bỏ mâu thuẫn giữa họ thì trong trường hợp này hoàn toàn không có

Trang 21

bên thứ ba hoặc có sự tham gia của người thứ ba với tư cách là tổ hòa giải cơ sở [23.tr15]

Trường hợp các bên không tự hòa giải được với nhau thì họ có thể gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn (UBND cấp xã) nơi có tranh chấp để yêu cầu UBND làm trung gian hòa giải giữa các bên Trong trường hợp này thì chủ thể là các bên tranh chấp và UBND xã, phường, thị trấn và các tổ chức xã hội là trung gian hòa giải tranh chấp

Trường hợp tranh chấp đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà một bên hoặc các bên không nhất trí có thể yêu cầu TAND hoặc UBND cấp huyện hoặc UBND cấp tỉnh giải quyết Theo đó, chủ thể trong trường hợp này là các bên tranh chấp và TAND hoặc UBND cấp huyện hoặc UBND cấp tỉnh

Về khách thể của hoạt động GQTCQSDĐ: là các quan hệ trong tranh chấp

quyền sử dụng đất Đối tượng của hoạt động này là bản thân tranh chấp đã phát sinh giữa các bên Hoạt động GQTCQSDĐ là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên tranh chấp thông qua hình thức và thủ tục thích hợp tiến hành giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng về QSDĐ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ

Hình thức giải quyết: GQTCQSDĐ có ba hình thức giải quyết đó là hòa giải

tranh chấp, GQTCQSDĐ theo thủ tục hành chính và GQTCQSDĐ theo thủ tục tố tụng dân sự

1.2.1.2. Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính

GQTCQSDĐ theo thủ tục hành chính là hình thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba là UBND cấp huyện hoặc UBND cấp tỉnh – cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước Khi TCQSDĐ đã được hòa giải ở UBND cấp xã mà một trong các bên không thống nhất thì có thể gửi đơn đến UBND cấp huyện, cấp tỉnh để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình UBND cấp huyện, cấp tỉnh căn cứ và pháp luật GQTCĐĐ và pháp luật có liên quan để ban hành quyết định giải quyết tranh chấp cho các bên

Trang 22

Hoạt động giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của UBND là một nội dung của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, là hoạt động giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể sử dụng đất phát sinh trong quá trình quản lý của UBND Hai mặt hoạt động này có tác động qua lại, gắn bó hữu cơ với nhau trong thể thống nhất của công tác quản lý nhà nước về đất đai Hoạt động GQTCQSDĐ đảm bảo pháp chế, kỷ cương và hiệu quả của hoạt động chấp hành và điều hành Theo Luật đất đai 2013 đã quy định UBND có chức năng giải quyết các tranh chấp đất đai Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh GQTCQSDĐ bằng phương pháp mệnh lệnh hành chính

1.2.2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự tham gia của nhiều thành phần kinh

tế, quan hệ pháp luật đất đai đã trở nên đa dạng, phức tạp dẫn đến các tranh chấp quyền sử dụng đất phát sinh ngày càng nhiều và phức tạp Vì vậy, vấn đề đặt ra là việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định mà thực tế đã đặt ra Để làm được điều này, việc giải quyết tranh chấp quyền

sử dụng đất phải được thực hiện dựa trên những nguyên tắc sau:

1.2.2.1 Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất

quản lý

Theo ghi nhận tại Điều 54, Hiến pháp 2013 : “Đất đai là tài nguyên đặc biệt

của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật” Cũng theo quy định tại Điều này: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất Người sử dụng đất được chuyển

quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật Quyền

sử dụng đất được pháp luật bảo hộ” Cụ thể hóa quy định của Hiến Pháp năm 2013,

Luật đất đai năm 2013 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại

diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người

sử dụng đất theo quy định của Luật này” Như vậy, có thể khẳng định đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Các tổ chức, hộ gia đình và

cá nhân chỉ là những người được Nhà nước giao quyền sử dụng đất chứ không có

Trang 23

quyền sở hữu đối với đất đai Do đó, đối tượng của mọi tranh chấp đất đai phát sinh chỉ là quyền quản lý và quyền sử dụng đất chứ không phải là quyền sở hữu đối với đất đai Khi giải quyết các tranh chấp đất đai, bên cạnh việc bảo vệ quyền sử dụng đất cho người dân, chúng ta cũng phải tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là người đại diện

1.2.2.2 Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất; ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội

Từ trước đến nay, trong bất kì văn bản pháp luật nào cũng đều thừa nhận và bảo vệ quyền của người sử dụng đất Theo quy định của Luật Đất đai 2013 người

sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Việc tôn trọng các quyền của người sử dụng đất và tạo điều kiện để họ phát huy tối đa các quyền đó là nguyên tắc quan trọng của Luật Đất đai Bởi nếu lợi ích của người sử dụng đất không được đảm bảo, thì việc sử dụng đất không thể mang lại hiệu quả kinh tế cao; các vấn đề tranh chấp, khiếu nại quyền sử dụng đất sẽ gây nhiều bất ổn, ảnh hưởng tới tình hình kinh tế, xã hội của đất nước Việc tôn trọng, bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất còn thể hiện trong việc tôn trọng quyền tự do thỏa thuận, thương lượng của họ trên cơ sở các quy định của pháp luật Do vậy, hòa giải trở thành cách thức và cũng là nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai quan trọng và đạt hiệu quả nhất, được Nhà nước khuyến khích áp dụng Bên cạnh đó, do tranh chấp quyền sử dụng đất phát sinh nhiều hệ quả tiêu cực, do

đó việc giải quyết các tranh chấp đất đai phải nhằm vào mục đích bình ổn các quan

hệ xã hội Hạn chế để mâu thuẫn, tranh chấp kéo dài gây bất ổn tình hình kinh tế, chính trị ở địa phương

1.2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa

Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc xuyên suốt mọi hoạt động Khi giải quyết tranh chấp đất đai các chủ thể có thẩm quyền phải chú ý và tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật đã quy định Đồng thời, phát hiện và giải quyết kịp thời các vi phạm pháp luật về đất đai, tránh

Trang 24

tình trạng để tranh chấp đất đai kéo dài, làm ảnh hưởng tới tâm lý và lợi ích của người dân

1.2.3 Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất

Như đã phân tích ở trên, tranh chấp quyền sử dụng đất gây ra nhiều hệ quả xấu, do đó việc giải quyết tranh chấp đất đai có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với các bên tranh chấp quyền sử dụng đất mà còn có ý nghĩa đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giúp các chủ thể sử dụng đất biết rõ quyền và nghĩa vụ của họ ở đâu Tránh tình trạng bất hòa, mâu thuấn kéo dài gây hậu quả nghiêm trọng giữa các bên tranh chấp, góp phần đảm bảo ổn định

an ninh, trật tự xã hội

Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất còn là công cụ quan trọng trong việc thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về đất đai Thông qua việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất mà quan hệ pháp luật đất đai được điều chỉnh phù hợp với lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hội, lợi ích nhân dân Trên cơ sở quy đinh của pháp luật, việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giúp phục hồi, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bên bị xâm hại, đồng thời buộc bên có hành vi vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý do hành vi của họ gây ra Từ đó, củng cố niềm tin của người dân vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước; tăng cường pháp chế trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai Quá trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất còn giúp các cơ quan chức năng rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý đất đai nói chung Bên cạnh đó, nâng cao pháp chế, pháp luật là công cụ để bảo vệ nền pháp chế

1.3 Những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng

đất thông qua thủ tục hành chính

1.3.1 Hòa giải tranh chấp đất đai

Hòa giải về tranh chấp đất đai là việc động viên, thuyết phục, hướng dẫn, giúp

đỡ các bên trong tranh chấp đất đai đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau nhằm tạo sự đoàn kết, giữ vững tình làng, nghĩa xóm, phòng ngừa hạn chế vi phạm pháp luật, đảm bảo trật tự an toàn xã hội tại địa phương, thông qua hòa giải

Trang 25

[23, tr.20] Vì những ưu điểm của nó mà nhà nước khuyến khích các bên trong quan

hệ tranh chấp quyền sử dụng đất trước tiên tự hòa giải với nhau hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở Cụ thể, khoản 1, Điều 202, Luật đất đai năm 2013 quy định: “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa

giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở”.

1.3.1.2 Hòa giải ở cơ sở

Hòa giải ở cơ sở cũng là một biện pháp giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất mà Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp quyền sử dụng đất thực hiện Hòa giải ở cơ sở là việc cán bộ hòa giải, hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết tranh chấp với nhau những tranh chấp để giữ gìn sự đoàn kết, củng cố tình làng, nghĩa xóm, xóa bỏ bất đồng, mâu thuẫn [22, tr34]

Chủ thể tiến hành hòa giải là một hoặc một số tổ viên tổ hòa giải tiến hành Trong trường hợp cần thiết, tổ viên Tổ hòa giải có thể mời người ngoài tổ hòa giải tham gia hòa giải Tổ hòa giải ở cơ sở được thành lập trên cơ sở quyết định của Ủy ban nhân dân xã, hoạt động trên cơ sở phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân

Trang 26

dân; tôn trọng sự tự nguyện của các bên; khách quan, công minh, có lý, có tình; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích cộng đồng; kịp thời chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra

Trình tự hòa giải ở cơ sở được thực hiện qua ba giai đoạn: trước khi hòa giải, trong khi hòa giải và kết thúc hòa giải Trước khi tổ chức hòa giải cán bộ hòa giải cần làm dịu căng thẳng giữa các bên tranh chấp, tránh để xảy ra xô xát, cãi cọ, tiến hành thu thập thông tin, xác minh nguyên nhân tranh chấp; lựa chọn thời gian, địa điểm phù hợp để tiến hành hòa giải Trong khi hòa giải, cán bộ hòa giải tiếp xúc, trao đổi với các bên tranh chấp để tìm ra nguyên nhân mâu thuẫn; gặp gỡ các bên tranh chấp, phân tích vụ việc dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật; phong tục, tập quán ở địa phương để phân tích cho các bên tranh chấp thấy rõ đúng, sai Trong quá trình hòa giải, nếu thấy cần thiết, hòa giải viên và một trong các bên khi được

sự đồng ý của bên kia có thể mời người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng, chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc; đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải Hòa giải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói với sự có mặt của các bên Trong trường hợp các bên có người khuyết tật thì có sự hỗ trợ phù hợp để

có thể tham gia hòa giải Hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai theo ý kiến thống nhất của các bên Hòa giải có thể kết thúc khi các bên đạt được thỏa thuận hoặc một bên hoặc các bên yêu cầu chấm dứt hòa giải Hòa giải viên có thể quyết định kết thúc hòa giải khi các bên không thể đạt được thỏa thuận và việc tiếp tục hòa giải cũng không thể đạt được kết quả

1.3.1.3 Hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã

Khoản 2, Điều 202, Luật đất đai năm 2013 quy định: “2 Tranh chấp đất đai

mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp

xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải” Như vậy, hòa giải là bước tiền đề để giải

quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, tuy nhiên nếu các bên tranh chấp không hòa giải được thì có quyền gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để

Trang 27

hòa giải Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan quản lí nhà nước ở địa phương, do đó việc quy định Ủy ban nhân dân xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải là phù hợp Cũng theo quy định tại Điều 202, Luật đất đai năm 2013 quy định chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết

tranh chấp đất đai Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các

bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp Trong trường hợp hòa giải ở cơ sở thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Như vậy, theo quy định tại Điều 202 của Luật Đất đai năm 2013 thì tranh chấp quyền sử dụng đất phải qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp Đây là căn cứ để Tòa án xem xét thụ lý đơn khởi kiện, trong trường hợp có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất Cụ thể, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ

sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “ Tòa án chỉ xem xét, thụ lý

tranh chấp đất đai khi tranh chấp đất đó đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã,

Trang 28

phường, thị trấn Trường hợp tranh chấp đất đai chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, thì Tòa án căn cứ vào quy định tại điểm d khoản 1

Điều 168 của BLTTDS để trả lại đơn khởi kiện và hướng dẫn đương sự tiến hành

thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp”[khoản 2, điều 8] Tuy nhiên, không phải loại tranh chấp quyền sử dụng đất nào cũng phải tiến hành hòa giải ở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, theo mục

b, khoản 3, Điều 8, Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP quy định: “Đối với tranh chấp

liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền

sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì không phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục hoà giải theo quy định của BLTTDS

Giá trị pháp lý của hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện biểu hiện ở chỗ cơ quan nhà nước có thẩm quyền có sự công nhận đối với kết quả hòa giải tranh chấp Đặc trưng này cho thấy sự khác biệt giữa hình thức hòa giải này với các loại hình tự hòa giải và hòa giải ở cơ sở đối với tranh chấp quyền sử dụng đất – vốn là các hình thức hòa giải thuần túy trong nội bộ cộng đồng dân xư mà không có bất kì sự can thiệp nào từ phía Nhà nước Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, việc hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện không phải là việc giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan có thẩm quyền Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đóng vai trò trung gian, hòa giải giúp đỡ các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp

1.3.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính

Hòa giải ở cơ sở là thủ tục bắt buộc trong tranh chấp quyền sử dụng đất Tuy nhiên không phải tranh chấp nào cũng được hòa giải thành Do đó, Điều 203, Luật đất đai năm 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất như sau:

Trang 29

“ Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1 Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết”

2 Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ

được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định

Tuy nhiên, đề tài này tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất theo thủ tục hành chính

Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính được thực hiện đối với tranh chấp mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không

có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 đồng thời đương sự lựa chọn nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền

Các loại giấy chứng nhận gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( thường gọi là sổ đỏ) có hai loại: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Luật đất đai năm

Trang 30

1993 quy định để công nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Luật đất đai năm 2003 (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) quy định để công nhận quyền sử dụng đất và ghi nhận nhà ở, công trình kiến trúc, cây rừng, cây lâu năm Giấy chứng nhận quyền

sở hữu nhà ở (thường gọi là giấy hồng) có ba loại: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Nghị định 60/CP của Chính phủ quy định để công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất tại đô thị; hai loại giấy hồng mới do Luật nhà ở năm 2005 quy định là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở để công nhận quyền sở hữu nhà ở của chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là người sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở để công nhận

cả quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở của chủ sở hữu nhà ở, đồng thời là người sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do Nghị định 95/2005/NĐ-CP quy định để công nhận quyền sở hữu công trình xây dựng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản

Các loại giấy tờ Điều 100 Luật đất đai năm 2013 quy định bao gồm: những giấy tờ

về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng

ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất; Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật; Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ

Trang 31

quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất Về cơ bản, các giấy tờ quy định tại điều 100 Luật Đất đai 2013 vẫn giữ nguyên nội dung các quy định tại khoản 1,2 và khoản 5 điều 50 Luật Đất đai 2003 Tuy nhiên, Luật đất đai

2013 còn bổ sung một số trường hợp sau: Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ; Giấy tờ được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành; Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am,

từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này Như vậy, Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chỉ giải quyết về những tranh chấp mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 và khi đương sự nộp đơn yêu cầu UBND giải quyết Xét về bản chất, đây là những tranh chấp về việc xác định ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp Do đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một các loại giấy tờ quy định để làm căn cứ chứng minh quyền

sử dụng đất, nên việc xác định ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp cần phải căn cứ vào thông tin, số liệu, hồ sơ địa chính từng thửa đất cũng như nắm rõ nguồn gốc sử dụng đất mà các thông tin này do cơ quan hành chính nhà nước quản lý Vì

là cơ quan trực tiếp quản lý các quan hệ đất đai nên dễ dàng tìm ra được sai phạm trong quá tình sử dụng đất và kết quả giải quyết tranh chấp đất đai sẽ nhanh chóng, đảm bảo được tính khách quan, chính xác

1.3.2.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp huyện

Theo khoản 3, điều 203, Luật đất đai năm 2013 quy định: “Trường hợp đương

sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với

nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Trang 32

hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;…”

Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện

có thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau Có thể thấy, các tranh chấp giữa các chủ thể hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thường là những tranh chấp đơn giản, dễ giải quyết Bên cạnh đó việc quản lý đất đai của các chủ thể này cũng do Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết nên cũng thuận tiện cho công tác tìm kiếm thông tin, chứng cứ giải quyết tranh chấp

Cũng theo quy định trên, nếu một trong các bên tranh chấp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính

1.3.2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Theo khoản 3, điều 203, Luật đất đai năm 2013 quy định: “Trường hợp đương

sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

b)Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;”

Căn cứ vào quy định trên có thể xác định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh

có thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất mà bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Có thể thấy quan hệ sử dụng đất đai của các chủ thể nói trên khá phức tạp Khi giải quyết tranh chấp thì cũng là cả một vấn đề, không thể giải quyết hời hợt Để đảm bảo được kết quả giải quyết tranh chấp là khách quan, chính xác thì

Trang 33

khả năng cũng như thẩm quyền của chủ thế giải quyết phải được bảo đảm Có thể đơn cử ví dụ về tranh chấp của chủ thể là cơ sở tôn giáo, mà cơ quan có thẩm quyền không đủ chuyên môn cũng như kinh nghiệm để giải quyết thì sẽ mang theo một hệ lụy khó lường sau đó Vấn đề tôn giáo luôn nóng, từ đó không đảm bảo được niềm tin của họ vào cơ quan Nhà nước Đối với các tranh chấp mà chủ thể có yếu tố nước ngoài cũng khá nhạy cảm, phải đảm bảo được công tác giải quyết phải chính xác vì các yếu tố ngoại giao cũng như phát triển kinh tế Do vậy những tranh chấp khó khăn, phức tạp như vậy theo quy định pháp luật hiện hành giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết là hợp lý vì đây là cơ quan quản lý ở cấp cao hơn và khả năng về nghiệp vụ cũng như chuyên môn cũng được bảo đảm để hoàn thành tốt công việc [19, tr11].Trong trường hợp, nếu một trong các bên tranh chấp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp Tỉnh thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính

Việc phân chia chủ thể để Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh giải quyết tranh chấp chủ yếu dựa vào tính chất cũng như quá trình sử dụng đất của các chủ thể này Do tính chất và hiện trạng sử dụng đất là khác nhau mà khi có tranh chấp phát sinh cũng sẽ ở mức độ phức tạp khác nhau và phải nhờ đến cơ quan có thẩm quyền có đầy đủ khả năng cũng như trình độ để giải quyết.Tương tự như quy định tại Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 quy định chủ thể có thẩm quyền

giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là Chủ tịch Ủy ban nhân dân

Quy định này mang tính thiết thực, quy định trách nhiệm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất cụ thể cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân Từ đó, mang đến nhiều thuận lợi cho chủ thể tranh chấp cũng như chủ thể giải quyết tranh chấp Hiệu quả giải quyết công việc nhanh chóng hơn [21, tr16]

1.3.3 Căn cứ để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính

Trang 34

Theo Điều 91 Nghị định 43/2014/ NĐ-CP quy định về việc giải quyết tranh chấp khi các bên không có giấy chứng nhận hoặc không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 thì được thực hiện dựa theo các căn cứ sau:

- Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đất đai đưa ra;

- Thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích

đất đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa

phương;

- Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

- Chính sách ưu đãi người có công của Nhà nước;

- Quy định của pháp luật về giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng

đất

Dựa vào các căn cứ nói trên để cơ quan có thẩm quyền giải quyết được tranh chấp đất đai Vì là tranh chấp mà đương sự lại không có giấy tờ nào để chứng minh nguồn gốc sử dụng đất nên phải dựa vào nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của các đương sự để chứng minh

Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất Nguồn gốc sử dụng đất có thể là do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất…nhưng lại không có giấy tờ chứng minh được nguồn gốc này Từ đó thì các đương sự phải chứng minh được cho cơ quan có thẩm quyền thấy được nguồn gốc

sử dụng và diện tích đất mình đang sử dụng là hợp pháp Bên cạnh đó, có thể nguồn gốc sử dụng đất là do khai hoang thì phải chứng minh được quá trình khai hoang, có thể chứng minh từ quá trình sử dụng đất, hay chứng minh của các hộ lân cận, hay của chính quyền địa phương là diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của mình Bên cạnh đó, hồ sơ địa chính cũng là công cụ hỗ trợ hữu hiệu cho việc xác minh nguồn gốc đất, vì hồ sơ địa chính được lập chi tiết đến từng thửa đất theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn

Trang 35

Về vấn đề quy định pháp luật về giao đất, cho thuế đất Vấn đề này được pháp luật quy định khá cụ thể Và tất nhiên khi giao hay cho thuê đất đến chủ thể nào thì

hồ sơ luôn được lưu lại, nhưng các chủ thể này đã không còn giấy tờ chứng minh cho việc giao hay thuê đất nữa Nhưng như vậy vẫn có chứng cứ bảo đảm rằng việc

Các căn cứ nói trên là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền dựa vào để giải quyết tranh chấp Các căn cứ này được pháp luật quy định khá rõ ràng và chi tiết, hỗ trợ tích cực cho việc giải quyết tranh chấp đất đai Khi các bên đương sự không có giấy

tờ chứng minh quyền sử dụng đất thì để tìm ra được nguồn gốc đất là của chủ thể nào thì đó là một thách thức lớn Do vậy, các căn cứ này là tiền đề cho việc giải quyết tranh chấp đất đai [23, tr27]

1.3.4 Trình tự giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính tại UBND, Bộ tài nguyên môi trường

Trình tự giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính

sẽ được áp dụng đối với những tranh chấp mà các đương sự không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định và lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND Căn cứ vào quy định của pháp luật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền sẽ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất theo trình tự thủ tục nhất định Trình tự giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính tại

Ủy ban nhân dân được quy định cụ thể tại Điều 89 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn một số điều của Luật đất đai 2013 như sau:

Trang 36

Bước 1: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Ủy ban

nhân dân cấp có thẩm quyền (UBND cấp huyện hoặc UBND cấp tỉnh) Cá nhân, tổ chức hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu của Bộ phận tiếp nhận hồ sơ của UBND

Bước 2: Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả tiếp nhận hồ sơ và chuyển cho cơ

quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao trách nhiệm giải quyết Cơ quan phối hợp với để giải quyết tranh chấp là Ủy ban nhân dân cấp xã; Phòng tài nguyên môi trường và các phòng ban của UBND cấp huyện đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện; Sở tài nguyên và môi trường, các phòng ban của UBND cấp tỉnh đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh

Bước 3: Cơ quan tham mưu thẩm tra, xác minh vụ việc, tổ chức hòa giải giữa

các bên tranh chấp, tổ chức cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai (nếu cần thiết) và hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai

Hồ sơ giải quyết tranh chấp gồm có: đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai; biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã; biên bản làm việc với các bên tranh chấp và người có liên quan; biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp; biên bản cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp hòa giải không thành; biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp; trích lục bản đồ, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ liên quan đến diện tích đất tranh chấp và các tài liệu làm chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp; báo cáo đề xuất và dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp hoặc dự thảo quyết định công nhận hòa giải thành

Bước 4: Cơ quan tham mưu chuyển quyết định giải quyết tranh chấp hoặc

quyết định công nhận hòa giải thành cho Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả để trả cho tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan

Chủ tịch Ủy ban nhân dân sẽ ra quyết định giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất sau khi xem xét hết các căn cứ để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất

và có sự tham mưu, hỗ trợ của cơ quan giúp việc là cơ quan Tài nguyên môi trường

và cơ quan thanh tra

Trang 37

Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành Điều 203, Luật đất đai năm 2013 cũng quy định trong trường hợp tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết, nếu một trong các bên tranh chấp không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính Trường hợp tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết, nếu một trong các bên tranh chấp không đồng ý với quyết định giải quyết thì

có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính Việc giải quyết khiếu nại quyết định giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới lên cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp được xem như là việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất lần hai

Thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân các cấp mặc dù được quy định tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP tuy nhiên trên thực tế áp dụng mỗi địa phương có những quy trình khác nhau dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, không thống nhất khi giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất Về vấn đề thời hạn, thời hiệu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất cũng chưa có quy định cụ thể [23, tr.55] Bởi thực tế, tranh chấp quyền sử dụng đất là một dạng tranh chấp phức tạp, bên cạnh đó các bên tranh chấp lại không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất; mặt khác nguồn gốc đất thường được sử dụng qua nhiều chủ thể khác nhau, do đó các

cơ quan có thẩm quyền cũng gặp khó khăn khi giải quyết tranh chấp quyền sử dụng Luật đất đai 2013 cũng có quy định nếu đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp lần đầu thì vẫn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội trong việc lựa chọn phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất

Trang 38

Ngoài ra, Điều 90 Nghị định 43/2014/NĐ-CP còn có quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp tại Bộ tài nguyên và môi trường Giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của Bộ tài nguyên và môi trường được thực hiện tương tự các bước giải quyết tại UBND

1.3.5 So sánh giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính và thủ tục tố tụng

Tranh chấp quyền sử dụng đất do UBND hay do TAND đều hướng đến mục đích là giải quyết được các mâu thuẫn, bất hòa liên quan đến quyền sử dụng đất Bên cạnh đó, thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã luôn là thủ tục bắt buộc đối với quá trình giải quyết tranh chấp của hai chủ thể này

Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tại UBND và TAND có cùng mục đích nhưng khác nhau về tính chất của quá trình giải quyết tranh chấp Theo đó, giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất theo thủ tục tố tụng và theo thủ tục hành chính

có những điểm khác biệt sau:

Thứ nhất, về căn cứ để xác định thẩm quyền Theo Điều 203 Luật đất đai

2013 thì giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của TAND là các tranh chấp mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều

100 của Luật đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết hoặc tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai 2013 thì đương sự cũng có thể lựa chọn khởi kiện tại TAND Giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyển của UBND khi Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự lựa chọn giải quyết tại UBND

Thứ hai, về trình tự giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất Thẩm quyền của TAND được thực hiện theo thủ tục tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự Khi tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND trình tự giải quyết được thủ hiện theo pháp luật đất đai

Trang 39

Thứ ba, kết quả giải quyết tranh chấp Bản án là kết quả cuối cùng cho công tác giải quyết tranh chấp của Tòa án và bản án được đảm bảo giá trị pháp lý Bản án

có hiệu lực thi hành và đảm bảo thi hành theo quy định của Luật thi hành án dân sự

2008 và nếu không thi hành bản án thì đương sự phải chịu chế tài của pháp luật Khi UBND ra quyết định giải quyết tranh chấp thì không có một văn bản nào quy định

là đương sự nếu không thực hiện theo quyết định thì có phải chịu một biện pháp cưỡng chế nào hay không

Trang 40

Chương 1 tác giả tập trung vào phân tích những vấn đề lý luận về tranh chấp quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất Đồng thời, phân tích những quy định của Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành về thẩm quyền, căn cứ cũng như trình tự giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất thông qua thủ tục hành chính Từ đó có thể thấy sự thay đổi của Luật đất đai 2013 và Luật đất đai 2003 về trường hợp giải quyết tranh chấp đất đai thông qua thủ tục hành chính Theo Luật đất đai 2013 đối với trường hợp các bên tranh chấp không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có các giấy tờ theo quy định tại Luật đất đai thì các bên có thể lựa chọn giải quyết tại Tòa án hay UBND

UBND là cơ quan quản lý đất đai ở địa phương trong phạm vi thẩm quyền được pháp luật quy định có trách nhiệm thực hiện chức năng GQTCQSDĐ tại địa phương mình Việc giao cho UBND giải quyết tranh chấp đối với trường hợp này là hợp lý bởi UBND có chức năng quản lý đất đai trên địa bàn Từ đó, UBND thực hiện chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý về đất đai

Ngày đăng: 22/03/2018, 18:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w