1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại từ thực tiễn xét xử của toà án nhân dân thành phố sơn la, tỉnh sơn la

94 746 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 755,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành về pháp luật cũng có không ít bài viết về đề tài này như Giải quyết TCKDTM theo quy định của BLTTDS 2004 Viên Thế Giang, Tạp chí Nhà nước và Pháp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KNH DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA- TỈNH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA- TỈNH

SƠN LA

HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN: LÊ THỊ MAI ANH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN HỮU TRÁNG

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Học viên xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng học viên Trong quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn, học viên có tham khảo một số bài viết, tài liệu của các tác giả khác, các nguồn trích dẫn tham khảo, thông tin từ các buổi hội thảo đã đƣợc chỉ ra trong mục Danh mục tài liệu tham khảo Các ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đƣợc đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Học viên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến

PGS.TS Trần Hữu Tráng, người đã nhiệt tình trực tiếp chỉ dẫn tôi trong suốt quá

trình thực hiện luận văn, hướng dẫn tôi xác định được hướng đi, khắc phục được những hạn chế và giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn để hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy,cô trong Viện Đại học Mở, đặc biệt

là các thầy, cô trong Khoa Đào tạo Sau Đại học đã cho tôi những kiến thức bổ trợ,

vô cùng có ích trong những năm học vừa qua, cũng như giúp tôi có kiến thức để thực hiện luận văn của mình

Cuối cùng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, những người

đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Học viên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài 4

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 9

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Những đóng góp mới của đề tài 6

7 Cơ cấu Luận văn 6

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 1.1 Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại 7

1.2 Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại 11

1.3 Vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại 14

1.4 Một số tiêu chí để đánh giá hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án 16

1.5 Một số yếu tố tác động tới việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân 21

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26

Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA 28

2.1 Khái quát về Tòa án nhân dân Thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La 28

2.3 Tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án nhân dân thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La và các kết quả đạt được 30 2.4 Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh

Trang 6

doanh, thương mại ở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La 36

2.5 Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La 58

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64

Chương 3 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA 66

3.1 Hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án 66

3.2 Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng, đội ngũ luật sư, đồng thời tăng cường bảo đảm các điều kiện làm việc 71

3.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật; nâng cao trình độ hiểu biết của các chủ thể kinh doanh 75

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 76

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

2 BPKCTT Biện pháp khẩn cấp tạm thời

3 TCKDTM Tranh chấp kinh doanh, thương mại

4 GQTCKDTM Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

9 TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

12 VKSND Viện kiểm sát nhân dân

13 VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, đặc biệt khi nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và mới đây là đàm phán gia nhập thành công Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), các quan hệ kinh doanh, thương mại (KDTM) ngày càng đa dạng, phong phú và mang những diện mạo, sắc thái mới Tương ứng với sự đa dạng, phong phú của các quan hệ này, các tranh chấp kinh doanh, thương mại (TCKDTM) ngày càng muôn hình muôn vẻ và với số lượng lớn Đáp ứng yêu cầu giải quyết các tranh chấp KDTM của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế, thực tiễn đã hình thành nhiều phương thức giải quyết tranh chấp KDTM như: thương lượng, hòa giải, giải quyết theo thủ tục Trọng tài, giải quyết theo thủ tục tư pháp (Tòa án) Ở Việt Nam, các đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án như một giải pháp cuối cùng nhằm bảo

vệ hiệu quả các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hoà giải

Theo số liệu đánh giá của ngành Tòa án, hàng năm mỗi đơn vị Tòa án cấp quận huyện thụ lý hàng trăm vụ án lớn nhỏ liên quan đến tranh chấp KDTM [52,

53, 54, 55, 56] Từ năm 2005 trở lại đây, Tòa án áp dụng chủ yếu BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2011), Luật Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2005… cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành để giải quyết các tranh chấp KDTM Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp KDTM cũng bộc lộ nhiều vướng mắc do hệ thống văn bản hướng dẫn còn thiếu đồng bộ, chậm được ban hành

và chưa phù hợp, dẫn đến cách hiểu không thống nhất và việc vận dụng không đạt hiệu quả mong muốn Điều này làm cho hoạt động xét xử của Tòa án gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, dẫn đến nhiều bản án bị sửa, bị hủy Do đó, trong điều kiện hiện nay, nghiên cứu về giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử ở Tòa án có ý nghĩa về lí luận cũng như thực tiễn, nhất là khi hàng loạt các văn bản pháp luật mới được ban hành có điều chỉnh về vấn đề này đã lần lượt ra đời và có hiệu lực như

Trang 10

BLTTDS 2015, Luật Doanh nghiệp 2014… với nhiều thay đổi quan trọng

Xuất phát từ những yêu cầu trên, học viên đã chọn đề tài ''Giải quyết tranh chấp

kinh doanh, thương mại từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Sơn

La - tỉnh Sơn La'' làm đề tài luận văn tốt nghiệp với mong muốn làm rõ các vấn đề

lý luận về giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án và đánh giá thực tiễn thi hành tại TAND thành phố Sơn La, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các tranh chấp KDTM tại Tòa án nói chung và tại TAND thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La nói riêng

2 Tì nh hì nh nghiên cứu đề tài

Các vấn đề liên quan đến tranh chấp KDTM và giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án không phải là vấn đề mới trong khoa học pháp lí Việt Nam Ngay từ đầu những năm 1990, đã có những đề tài nghiên cứu của các cơ quan Nhà nước như: Trọng tài Kinh tế Nhà nước, Bộ Tư pháp… Tiếp đó, nhiều cơ sở đào tạo luật như Đại học Luật Hà Nội, Khoa luật Đại học Quốc gia… đã cập nhật vấn đề này vào giáo trình của mình nhằm giới thiệu các loại hình tài phán kinh tế cho sinh viên

Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ và khía cạnh khác nhau như: Khóa

luận tốt nghiệp của Bùi Thái Hà ''Giải quyết tranh chấp về hợp đồng trong KDTM

tại Tòa án- những vấn đề lí luận, thực tiễn'', Luận văn thạc sĩ Luật học của Cung

Mỹ Anh ''Giải quyết tranh chấp KDTM theo qui định của BLTTDS- Những vướng

mắc và giải pháp khắc phục'' (năm 2008), Luận văn thạc sĩ Luật học của Phạm Thị

Ban ''Giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND- Thực trạng và giải pháp nâng cao

hiệu quả hoạt động''(năm 2012), đến Luận án Tiến sỹ ''Giải quyết tranh chấp kinh

tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam'' của Đào Văn Hội (năm 2003)

Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành về pháp luật cũng có không ít bài viết về đề

tài này như Giải quyết TCKDTM theo quy định của BLTTDS 2004 (Viên Thế Giang, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12/2005); “Giải quyết tranh chấp thương

mại quốc tế bằng con đường Tòa án” (Nguyễn Vũ Hoàng, NXB Thanh niên, năm

2003); “Về mở rộng thẩm quyền của toà án cấp huyện trong việc giải quyết các

Trang 11

tranh chấp kinh doanh, thương mại theo BLTTDS” của tác giả Vũ Thị Hồng Vân

(Tạp chí Kiểm sát Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 01/2006); “Các phương thức

giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Dương Nguyệt Nga ( Tạp chí Toà án

nhân dân.Toà án nhân dân tối cao, Số 16/2007); “Về thẩm quyền giải quyết tranh

chấp kinh doanh, thương mại của toà án theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004” của

tác giả Vũ Thị Hồng Vân (Tạp chí Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, Số

4/2008); “Tranh chấp lao động hay tranh chấp kinh doanh, thương mại” của tác giả

Vũ Thị Thu Hiền (Tạp chí Toà án nhân dân Toà án nhân dân tối cao, Số 24/2009);

Có cần thiết phân biệt "Tranh chấp dân sự" với "Tranh chấp kinh doanh, thương mại" trong quá trì nh giải quyết tại toà án của tác giả Đặng Thanh Hoa (Tạp chí Dân

chủ và Pháp luật Bộ Tư pháp, Số 9/2011); Về bài viết "Tranh chấp lao động hay

tranh chấp kinh doanh, thương mại?" của tác giả Phạm Công Bảy (Tạp chí Toà án

nhân dân Toà án nhân dân tối cao, Số 3/2012); “Hoàn thiện các quy định về biện

pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án” của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy ( Tạp

chí Kiểm sát Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 22/2014); “Hoàn thiện quy định

về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của tòa án” của tác

giả Nguyễn Duy Phương (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Viện nghiên cứu lập pháp,

Số 1/2015); “Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

tại tòa án - Một số kiến nghị ” của tác giả Lê Văn Thiệp (Tạp chí Kiểm sát Viện

Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 5/2016); “Thẩm quyền quyết định thẩm quyền giải

quyết tranh chấp kinh doanh quốc tế của trọng tài - một số lưu ý khi lựa chọn trọng tài quy chế” của tác giả Mai Minh Hương (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Bộ Tư

pháp, Số chuyên đề Pháp luật về Doanh nghiệp/2012) “Những vướng mắc khi giải

quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án” của Vũ Gia Trưởng (năm 2016)…

Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập đến thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp KDTM dưới góc độ và những khía cạnh khá chi tiết và đầy đủ về loại

hình tài phán Tòa án ở Việt Nam Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu được

Trang 12

tiến hành cách đây nhiều năm, nền kinh tế của nước ta hiện nay đang từng bước đổi mới, phát triển hòa nhập vào nền kinh tế thế giới khi Việt Nam đã là thành viên của

tổ chức thương mại thế giới WTO và mới đây là thành viên của Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) Đồng thời là sự ra đời của 2 văn bản luật rất quan trọng trong lĩnh vực KDTM là BLTTDS 2015 và Luật Doanh nghiệp 2014 Bởi vậy, vấn đề này vẫn cần được nghiên cứu, đặc biệt là việc nghiên cứu gắn với một địa phương nhất định Đó cũng là cơ hội để Luận văn này có thể đóng góp cho khoa học pháp lí hiện nay những điểm mới và thiết thực

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nhận thức đầy đủ lý luận của việc giải

quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án, cũng như nghiên cứu, làm rõ các vấn đề thực tiễn hoạt động xét xử các loại án KDTM tại Tòa án nhân dân Thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La, Luận văn hướng đến mục đích đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử các tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân Thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để Luận văn đạt được những mục đích đã đề ra thì việc nghiên cứu phải thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau đây:

+ Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lí luận về tranh chấp KDTM và giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND;

+ Thứ hai, đánh giá toàn diện và khách quan thực trạng áp dụng pháp luật

trong quá trình giải quyết tranh chấp KDTM của TAND thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La;

+ Thứ ba, chỉ ra các phương hướng cụ thể, đề xuất các giải pháp góp phần

tăng cường hiệu quả giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án của TAND thành phố Sơn La nói riêng và các tòa án nói chung

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trên cơ sở phân tích một số nội dung chủ yếu của BLTTDS 2004 (đối chiếu với BLTTDS 2015) về thẩm quyền giải quyết và trình tự, thủ tục giải quyết tranh

Trang 13

chấp KDTM, Luận văn chủ yếu tập trung vào việc phân tích, đánh giá các qui định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND, phân tích thẩm quyền giải quyết KDTM của Tòa án, phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM qua số liệu thống kê các vụ án tranh chấp KDTM được giải quyết của TAND thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La những năm gần đây Tuy nhiên, do tính bao quát của đề tài, Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu một số vấn đề bức xúc, cần thiết liên quan đến pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM bằng TAND thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La, từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án Cũng cần lưu ý rằng, trong quá trình nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND thành phố Sơn La giai đoạn 2011-2015, là giai đoạn mà nhiều quy định của pháp luật, đặc biệt là quy định của BLTTDS chưa có hiệu lực pháp luật Vì vậy, khi đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND thành phố Sơn La giai đoạn 2011-2015, tác giả vẫn phân tích những hạn chế của pháp luật đang có hiệu lực ở giai đoạn này Ở phần kiến nghị hoàn thiện pháp luật, tác giả sẽ chỉ rõ những vướng mắc, bất cập nào trong quy định của pháp luật đã được khắc phục trong văn bản luật mới

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác- Lênin để phân tích mối quan hệ giữa thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở, mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật, của Lí luận Nhà nước và Pháp luật trong điều kiện kinh tế hiện nay

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước, của Tòa án trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển kinh tế để các qui định đó có thể đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp KDTM hiện nay Bên cạnh đó, Luận văn còn sử dụng những phương pháp như phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, khảo sát thực tiễn, nghiên cứu điển hình, nghiên cứu bản

án, quy nạp, diễn dịch, suy luận logic… để giải quyết vấn đề đặt ra Các phương

Trang 14

pháp này được sử dụng phù hợp với mỗi nội dung nghiên cứu

6 Những đóng góp mới của đề tài

Tác giả luận văn với mong muốn là công trình nghiên cứu có ít nhiều giá trị

về mặt lí luận cũng như thực tiễn để làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động giảng dạy pháp lí cũng như tạo ra những gợi ý có giá trị cho các nhà lập pháp để hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM Cụ thể, đề tài có một

- Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp KDTM của TAND thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La nói riêng và công tác giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nói chung

7 Cơ cấu Luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh, thương mại và

giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của

Tòa án nhân dân thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết tranh

chấp kinh doanh thượng mại tại Tòa án nhân dân thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

1.1 Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại

1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại

Tranh chấp KDTM là một trong những hệ quả của hoạt động thương mại, là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn ra trong nền kinh tế thị trường Do tính chất thường xuyên cũng như hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng đã sớm quy định các phương thức giải quyết tranh chấp KDTM

Tranh chấp thương mại (hay tranh chấp kinh doanh, thương mại) là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế - xã hội ở các nước trên thế giới [67, tr.52] Khái niệm này mới được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta trong mấy năm gần đây

và ngày càng chiếm giữ vị trí “thống lĩnh” thay thế khái niệm tranh chấp kinh tế -

một khái niệm quen thuộc của nền kinh tế kế hoạch

Thuật ngữ "tranh chấp" nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về

quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan [74, tr.7] Những bất đồng, mâu thuẫn này có thể phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật điều chỉnh nên chúng được gọi theo ngành luật đó Ví dụ: Tranh chấp về tiền lương giữa người lao động và người sử dụng lao động được gọi là tranh chấp lao động Tương

tự như vậy, tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai đều là những tranh chấp có liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các bên Do đó chúng được gọi là tranh chấp kinh tế theo nghĩa rộng

Tại Việt Nam, khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được quy định

Trang 16

trong Luật Thương mại năm 1997 Tại Điều 238 Luật Thương mại quy định: "Tranh

chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại” Theo đó, nội hàm hoạt động

thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 rất hẹp so với quan niệm quốc tế về thương mại

Luật Thương mại năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 đã đưa ra một định nghĩa về hoạt động thương mại tương đối giản đơn Tuy nhiên định nghĩa này cũng đã hàm chứa và lột tả được nội hàm của hoạt động thương mại

Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: "Hoạt động thương mại là hoạt

động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu

tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Theo định

nghĩa này, quan niệm về hoạt động thương mại được mở rộng bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi

Theo Khoản 16 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2014 thì: “Kinh doanh là

việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư

từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”.BLTTDS 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 đã liệt kê các tranh chấp

về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (BLTTDS 2015 thì không liệt kê mà chỉ đưa ra khái niệm) Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 không

sử dụng thuật ngữ “tranh chấp thương mại” độc lập mà sử dụng chung thuật ngữ

“tranh chấp kinh doanh, thương mại” nhưng nội dung của các tranh chấp về kinh

doanh, thương mại được quy định tại Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự thực chất là các tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật Thương mại năm 2005 Điều này cho thấy, mặc dù có sự khác nhau về cách thức biểu đạt và ngôn ngữ sử dụng nhưng nhìn chung quan niệm về hoạt động thương mại và tranh chấp thương mại được thể hiện qua các quy định trong các văn bản pháp luật tương đối nhất

quán

Luật Trọng tài thương mại cũng xác định thẩm quyền giải quyết các tranh

Trang 17

chấp của Trọng tài thương mại, bao gồm: (i) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; (iii) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài

Từ việc tiếp cận trên, có thể hiểu: Tranh chấp kinh doanh, thương mại là

những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại

1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại

- Thứ nhất, tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột)

về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể Mâu thuẫn được hiểu

là trạng thái xung đột, đối xứng nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tranh chấp Quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh [18, tr.9].Trong hoạt động thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được những mục đích đề ra

Do đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu

- Thứ hai, những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phải phát sinh từ hoạt động thương mại Căn cứ phát sinh tranh chấp

thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp Tranh chấp KDTM phải là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác [18,

tr.9]

- Thứ ba, các tranh chấp thương mại chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân (cá nhân kinh doanh, pháp nhân) với nhau Ngoài thương

Trang 18

nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại, trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thương nhân) cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại khi trong các giao dịch bên không có mục đích sinh lợi chọn áp dụng luật thương mại Khoa học pháp lý gọi giao dịch này là giao dịch hỗn hợp (hành vi hỗn hợp) Về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân không phải là hoạt động thương mại thuần túy, nhưng bên không nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng luật thương mại thì quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan

hệ pháp luật này phải được quan niệm là tranh chấp thương mại [18, tr.10] Một quy tắc được pháp luật của Pháp và nhiều quốc gia áp dụng để giải quyết loại tranh chấp này đó là căn cứ vào bị đơn là thương nhân hay không phải là thương nhân Nếu bị đơn là thương nhân thì nguyên đơn (bên có hành vi dân sự) có thể chọn Tòa Thương mại hoặc Tòa Dân sự để giải quyết vụ tranh chấp Trường hợp nguyên đơn chọn Tòa Thương mại thì các quy định khắt khe hơn của luật thương mại được áp dụng để giải quyết vụ tranh chấp Ngược lại, bị đơn không phải là thương nhân thì nguyên đơn (bên có hành vi thương mại) chỉ có quyền kiện ra Tòa Dân sự và luật dân sự được áp dụng để giải quyết vụ tranh chấp mà các quy định của luật thương mại không thể áp dụng cho đối phương không phải là thương nhân [18, tr.10]

Ngoài ra, Khoản 3 Điều 29 BLTTDS 2004 có quy định về một loại tranh chấp không diễn ra giữa các thương nhân với nhau, đó là tranh chấp giữa các công

ty và thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi

hình thức tổ chức của công ty Trong BLTTDS 2015 cũng bổ sung thêm các tranh chấp như: Tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và được bảo vệ tập thể (cho phù hợp với Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng); Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty… Tóm lại, chủ thể của tranh chấp KDTM rất đa dạng, nhưng đa phần là các thương nhân, có đăng ký kinh doanh

Trang 19

- Thứ tư, nội dung của tranh chấp KDTM thường liên quan tới lợi í ch vật chất của các bên trong hoạt động KDTM Nói cách khác, tranh chấp KDTM có nội

dung liên quan đến lợi ích vật chất của các tranh chấp Lợi ích vật chất đó thường được xem xét dưới góc độ là giá trị của tranh chấp KDTM Và nếu so với các tranh chấp khác trong xã hội thì tranh chấp KDTM thường là loại tranh chấp có giá trị lớn [18, tr.11]

1.2 Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Ở đâu có hoạt động kinh doanh, thương mại thì ở đó có khả năng phát sinh tranh chấp Tranh chấp là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh, vì vậy giải quyết các tranh chấp phát sinh được coi là tự thân của các quan hệ kinh tế Ở

góc độ khái quát chung: Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là việc lựa

chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải toả các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được [18, tr.12]

1.2.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Pháp luật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh sau: Thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án Theo đó, khi xảy ra tranh chấp kinh doanh các bên có thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp thương lượng với nhau Trong trường hợp không thương lượng được, việc giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua phương thức hòa giải, Trọng tài hoặc Tòa án

Thương lượng

Là phương thức được các bên tranh chấp lựa chọn trước tiên và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại được giải quyết bằng phương thức này Nhà nước khuyến khích áp dụng phương thức tự thương lượng để giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các

Trang 20

bên [21, tr.5]

Hòa giải

Là việc các bên tiến hành thương lượng giải quyết tranh chấp với sự hỗ trợ của bên thứ ba là hòa giải viên Kết quả hòa giải phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp và uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng của trung gian hòa giải, quyết định cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp không phải của trung gian hòa giải mà hoàn toàn phụ thuộc các bên tranh chấp [21, tr.6]

Tòa án

Giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế Trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh, Tòa án phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những nguyên tắc cơ bản; trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại Tòa án, thi hành bản án, quyết định của Tòa án; quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan,… Đây chính là thủ tục tố tụng Tòa án [21, tr.8] Ở hầu hết các quốc gia, cùng với việc ban hành những đạo luật về nội dung, Nhà nước cũng ban hành những quy định về thủ tục tố tụng để Tòa án giải quyết các tranh chấp kinh doanh Như vậy, tố tụng Tòa án chính là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để

Trang 21

giải quyết các tranh chấp kinh doanh bằng Tòa án

1.2.3 Những yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

- Thứ nhất, yêu cầu phải nhanh chóng; thuận lợi; không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh được thực hiện theo chu trình sản

xuất khép kín, vì vậy ở bất kỳ một công đoạn nào xảy ra trục trặc đều ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình kinh doanh Hơn nữa, kinh doanh, thương mại là một quan hệ mang đậm màu sắc kinh tế, yếu tố lợi nhuận là yếu tố luôn được đặt lên hàng đầu

Và một trong các yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của các chủ thể trong quan hệ KDTM là vấn đề quỹ thời gian Thời gian có thể ảnh hưởng tới giá hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ, quy mô, khả năng luân chuyển hàng hóa, dịch vụ ở các thời điểm khác nhau là rất khác nhau, ảnh hưởng rất lớn tới lợi nhuận Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp KDTM, dường như thời gian luân chuyển của các hoạt động thương mại của hai bên và thậm chí là cả bên thứ ba bị ngưng trệ, làm mất đi rất nhiều lợi thế của các bên xảy ra tranh chấp trên thương trường, giữa một nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt Vậy nên, việc rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp, nhanh chóng giải quyết tranh chấp để các bên tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình là yếu tố tối quan trọng và cần thiết trong giải quyết tranh chấp KDTM Nhanh chóng, kịp thời nhưng phải dứt điểm, đạt hiệu quả thi hành cao nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên [14, tr.8]

- Thứ hai, giải quyết tranh chấp KDTM phải đảm bảo tôn trọng tối đa quyền

tự định đoạt của các bên KDTM cũng là một hoạt động mang đậm màu sắc dân sự

ở sự tự do, tự nguyện và bình đẳng Vậy nên, trong giải quyết tranh chấp KDTM, sự tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên, về phương thức, thời hạn, thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp là vô cùng quan trọng (trừ một số ràng buộc pháp lý bắt buộc các bên trong tranh chấp và chủ thể giải quyết tranh chấp phải tuân thủ) [14, tr.8]

- Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp phải giữ được uy tín, bí mật kinh doanh

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, không bên nào được đưa ra bất kỳ một thông

Trang 22

tin nào ngoài phạm vi giải quyết tranh chấp nhằm hạ uy tín hay ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của đối phương trên thương trường, trước công luận, hay trước tổ chức giải quyết tranh chấp Mặt khác, giải quyết tranh chấp phải bảo đảm các yếu tố

bí mật trong kinh doanh Trong hoạt động kinh doanh để có được thành công thì các chủ thể đều có những bí quyết riêng của mình, vì vậy họ không muốn đề người khác biết Khi mà quyền kinh doanh được coi là hợp pháp thì quyền giữ bí mật trong kinh doanh cũng được pháp luật bảo hộ [14, tr.9]

- Thứ tư, có thể khôi phục và duy trì các quan hệ làm ăn lâu dài Tranh chấp

KDTM thường xảy ra giữa các đối tác, các bạn hàng của nhau và đa phần là các đối tác chiến lược, bạn hàng lâu năm hay các chủ thể kinh doanh uy tín của họ trên thương trường Nên mặc dù giữa các bên có tranh chấp về mặt lợi ích, nhưng họ vẫn muốn hợp tác lâu dài với nhau, ràng buộc, nương tựa lẫn nhau Vậy nên sau khi tranh chấp được giải quyết, có thể hàn gắn, khôi phục lại quan hệ làm ăn với nhau

[14, tr.9]

- Thứ năm, giải quyết được tranh chấp với chi phí thấp nhất về tiền bạc và

thời gian Chi phí để bỏ ra giải quyết tranh chấp cũng là chi phí kinh doanh, vì vậy

khi phát sinh tranh chấp là nảy sinh thêm chi phí Đặt ra yêu cầu phải hạn chế ở mức thấp nhất các chi phí không mang lại hiệu quả kinh doanh này Các bên nên lựa chọn giải quyết với chi phí thấp nhất, đồng thời các cơ quan giải quyết tranh chấp cũng phải tính đến yêu cầu này để đặt ra những quy định phù hợp, tạo niềm tin cho người kinh doanh [14, tr.10]

1.3 Vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Thứ nhất, Toà án có vai trò hỗ trợ Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Toà án, Trọng tài thương mại là các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bổ sung lẫn nhau Thực tế hoạt động của các Trung tâm Trọng tài thương mại cần có sự phối hợp của Toà án Luật Trọng tài thương mại năm 2010

Trang 23

(Luật TTTM) đã ra đời để khắc phục những mặt hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của Toà án trong việc hỗ trợ các Trung tâm Trọng tài thương mại

- Đối với việc thay đổi Trọng tài viên

Theo khoản 3 Ðiều 43 của Luật TTTM thì Toà án hỗ trợ và chỉ hỗ trợ việc thay đổi Trọng tài viên trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng Trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất

từ chối giải quyết tranh chấp

- Xem xét khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng Trọng tài về thẩm quyền

Trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Hội đồng Trọng tài về thẩm quyền thì một hoặc các bên đương sự có quyền khiếu nại quyết định này ra Toà án Trong trường hợp nếu Toà án quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài thì các bên đương sự có quyền khởi kiện ra Toà án có thẩm quyền theo thủ tục chung

- Về việc triệu tập người làm chứng

Ðây là một quy định mới của Luật TTTM Theo quy định của Điều 48 thì Hội đồng Trọng tài có quyền triệu tập nguời làm chứng đến phiên họp Nếu nguời làm chứng không đến thì Hội đồng Trọng tài có quyền đề nghị Toà án có thẩm quyền triệu tập người làm chứng đến phiên họp theo quy định của BLTTDS

- Về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo Luật TTTM thì Hội đồng Trọng tài có quyền áp dụng BPKCTT khi có một hoặc các bên đương sự yêu cầu Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Hội đồng Trọng tài chỉ có quyền ra quyết định áp dụng một số BKCTT được liệt kê tại Điều 49 của Luật TTTM và Hội đồng Trọng tài chỉ có thể ra quyết định áp dụng BPKCTT sau khi Hội đồng Trọng tài đã thành lập Các trường hợp khác do Tòa án thực hiện Vì vậy, khi yêu cầu áp dụng BPKCTT, các bên cần lưu ý để gửi đơn yêu cầu tới đúng

Trang 24

cơ quan có thẩm quyền Trên thực tế, Luật TTTM đã dự liệu và phân định phạm vi thẩm quyền áp dụng BPKCTT giữa Hội đồng Trọng tài và Tòa án nhằm tránh tình trạng xung đột về thẩm quyền, nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc trong mọi trường hợp các bên đều có thể làm đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Nguyên tắc của Luật là nếu Hội đồng Trọng tài đã áp dụng BPKCTT thì Tòa án sẽ từ chối, trừ trường hợp những nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài Nếu Tòa án đã áp dụng BPKCTT thì Hội đồng Trọng tài phải từ chối

- Đăng ký phán quyết Trọng tài vụ việc

Ðây là quy định mới với Pháp lênh Trọng tài thương mại năm 2003 Theo Điều 62 Luật TTTM, Toà án nơi Hội đồng Trọng tài vụ việc giải quyết tranh chấp

có trách nhiệm đăng ký phán quyết Trọng tài vụ việc khi có yêu cầu một hoặc các bên tranh chấp

- Huỷ phán quyết Trọng tài

Toà án nơi Hội đồng Trọng tài đã ra phán quyết có thẩm quyền xem xét để huỷ phán quyết Trọng tài theo quy định tại khoản 2 Ðiều 69 của Luật TTTM khi có một hoặc các bên tranh chấp yêu cầu

Thứ hai, Tòa án đưa ra phán quyết có tính chính xác và tính khả thi cao

Ưu điểm nổi bật của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là tính quyền lực nhà nước Tòa án là cơ quan tư pháp có quyền nhân danh ý chí quyền lực của nhà nước khi xét xử các vụ tranh chấp Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,

tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải chấp hành Trong trường hợp bản án không được tự

nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế bởi quyền lực nhà nước

1.4 Một số tiêu chí để đánh giá hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

Muốn nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương

Trang 25

mại, trước tiên cần xác định hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp KDTM đến đâu, từ đó, tìm được các nguyên nhân và giải pháp để nâng cao hiệu quả Hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp được đánh giá trên nhiều góc độ [14]:

1.4.1 Nhìn từ phía Tòa án

Tòa án là cơ quan giữ vị trí trung tâm, chủ động tiến hành các hoạt động tố tụng Sản phẩm cuối cùng mà Tòa án đưa ra là phương án giải quyết tranh chấp cho các bên Phương án này thể hiện một cách chính xác nhất hiệu quả của quá trình giải quyết tranh chấp KDTM Để đánh giá các sản phẩm đầu ra của Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp KDTM, có thể đưa ra hai chỉ tiêu là số lượng và chất lượng

Chỉ tiêu số lượng

Chỉ tiêu số lượng là một chỉ tiêu đánh giá khá đơn giản, đó là đánh giá thông qua tỷ lệ các tranh chấp mà Tòa án đã giải quyết trong một đơn vị thời gian nhất định Chỉ tiêu này có thể thấy thông qua hai tiêu chí là (i): Tỷ lệ số lượng các tranh chấp KDTM đã được giải quyết trên Tổng số các tranh chấp KDTM mà Tòa án thụ

lý giải quyết hoặc (ii): Thời gian trung bình để giải quyết một vụ tranh chấp KDTM Hai tiêu chí này thực chất là một Thời gian trung bình giải quyết một vụ tranh chấp KDTM càng ngắn thì cũng có nghĩa tổng số các vụ tranh chấp KDTM sẽ được giải quyết trong một đơn vị thời gian càng nhiều và ngược lại

Thông thường, mỗi năm, ngành Tòa án Việt Nam đều có những báo cáo tổng kết trong đó thống kê số lượng các vụ án KDTM đã được giải quyết và tổng số các

vụ án đã được thụ lý Từ đó cho thấy một bức tranh tổng quát về tình hình giải quyết tranh chấp trong một năm và hiệu quả làm việc của các Tòa án Nếu chỉ dựa theo chỉ tiêu số lượng thì hiệu quả càng cao khi số lượng đầu ra càng lớn, thời gian trung bình giải quyết một vụ việc càng ngắn và ngược lại Tuy nhiên, chỉ tiêu số lượng có một điểm yếu là phản ánh không đầy đủ được thực chất của sản phẩm Có thể Tòa án trong một năm giải quyết được rất nhiều các vụ tranh chấp KDTM nhưng các phương án giải quyết hoặc không thể thi hành hoặc các bên không tìm

Trang 26

được lợi ích thiết thân của mình trong phương án đó thì cũng không thể nói quá trình giải quyết tranh chấp đã đạt hiệu quả Vì vậy, để bổ sung cho chỉ tiêu số lượng, cần phải có chỉ tiêu chất lượng để đánh giá sản phẩm đầu ra

Chỉ tiêu chất lượng

Chỉ tiêu chất lượng là chỉ tiêu đánh giá phức tạp, thực chất là một hỗn hợp các chỉ tiêu đánh giá, mà mỗi chỉ tiêu đó chỉ mang lại một khía cạnh về chất lượng của quá trình giải quyết tranh chấp KDTM Có thể chỉ ra một số các chỉ tiêu này như sau: (i): Tỷ lệ các tranh chấp bị kháng cáo, kháng nghị trên tổng số các tranh chấp đã được giải quyết Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hài lòng của các bên trong quan hệ tranh chấp đối với phương án mà Tòa án đưa ra Nếu mức độ hài lòng của

họ tốt hoặc vừa phải, chắc chắn họ sẽ không kháng cáo phán quyết của Tòa và ngược lại (ii): Tỷ lệ các tranh chấp bị giải quyết lại bởi cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm theo chiều hướng hủy án sơ thẩm hoặc sửa cơ bản án sơ thẩm Chỉ tiêu

này có thể nói lên các “sản phẩm lỗi” của quá trình giải quyết Các sản phẩm lỗi này

đã bị phát hiện và khắc phục (iii): Tỷ lệ các phương án không thể thi hành trên tổng

số các phương án giải quyết tranh chấp Chỉ tiêu này phản ánh những "sản phẩm" tuy đã được đưa ra nhưng không phù hợp với tình hình thực tế, không thể "tiêu thụ" được

Đánh giá kết hợp có lưu ý sự khác biệt

Cần đánh giá hiệu quả dựa trên sự kết hợp của cả 2 yếu tố chất lượng và số lượng, không nên quá coi trọng bất cứ một mặt nào Bởi lẽ, nếu chỉ coi trọng số lượng thì sẽ dẫn tới hiện tượng chạy đua mà bỏ qua chất lượng của việc giải quyết

và như vậy thì chỉ tạo ra bệnh thành tích thông qua các số liệu ở bề nổi, còn bản thân kết quả giải quyết tranh chấp thì lại không được quan tâm Chỉ coi trọng vào số lượng sớm muộn cũng dẫn tới sự suy giảm số lượng vì chất lượng không có thì không thể tạo ra niềm tin của các bên giải quyết tranh chấp Ngược lại, nếu chỉ quan tâm đến chất lượng, có thể dẫn tới các Tòa án kéo dài thời gian giải quyết và số lượng các vụ việc được giải quyết không cao Số lượng các tranh chấp sẽ càng ngày

Trang 27

càng tăng dần, đa dạng và phức tạp theo sự phát triển của nền kinh tế Quá trình giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi cần nhanh chóng để không cản trở hoặc làm mất cơ hội kinh doanh của các doanh nhân Như vậy, nếu chỉ quan tâm đến chất lượng mà không quan tâm đến việc đốc thúc tốc độ giải quyết và nâng cao số lượng vụ việc cần được giải quyết thì cũng như việc chỉ chú trọng đến cái tiểu tiết của từng vụ việc mà không chú trọng tới cái đại cục của cả nền kinh tế

1.4.2 Nhìn từ phía các đương sự

Trước hết, đối với các doanh nhân, họ coi giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cũng chỉ là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp Do đó, với tâm lý vốn có của mình sẽ chỉ ra cho họ biết, phương thức giải quyết tranh chấp nào là hiệu quả nhất, phương thức nào có thể tối đa hóa được lợi ích mang lại và tối thiểu hóa chi phí bỏ ra Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cũng được lựa chọn trên nguyên tắc đó một cách không ngoại lệ Khi có tranh chấp KDTM xảy ra, họ sẽ căn cứ vào tỷ lệ lợi ích thu được với chi phí bỏ ra để theo đuổi vụ kiện để quyết định có hay không lựa chọn Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp Lợi ích thu được từ việc giải quyết tranh chấp có thể được tính bởi công thức: L = G – C, trong

đó:

L: là lợi ích mà doanh nhân thu được từ việc giải quyết của Tòa án để khôi phục lại các quyền và lợi ích của mình;

G: Là giá trị kỳ vọng của doanh nghiệp được hưởng từ hoạt động kinh doanh

nếu tranh chấp không xảy ra (thường đó chính là giá trị mà hợp đồng mang lại);

C: Là chi phí mà doanh nhân phải bỏ ra để theo đuổi vụ kiện Các khoản chi phí mà Doanh nhân bỏ ra để theo đuổi vụ kiện bao gồm:

- Chi phí cơ hội là giá trị cơ hội tốt nhất đã bị bỏ qua khi họ theo đuổi vụ kiện (C1);

- Chi phí đi lại để theo kiện, thuê luật sư, chuẩn bị các tài liệu, giấy tờ để có thể được tòa chấp nhận (C2);

Trang 28

- Án phí phần có thể bị bác yêu cầu và phí thi hành án nếu bên phía đối tác không tự nguyện chấp hành phán quyết của Tòa (C3);

- Các chi phí “ngầm” và các chi phí khác mà doanh nghiệp có thể phải bỏ ra

để thúc đẩy nhanh chóng vụ kiện (C4) Đối với nền tư pháp minh bạch và các thẩm phán có quyền độc lập thì chi phí này không có hoặc rất thấp Như vậy, tổng các khoản chi phí C sẽ là:

C = C1 + C2 + C3 + C4

Như vậy L sẽ được tính trực tiếp bởi công thức: L = G – (C1 + C2 + C3 + C4) Căn cứ vào khoản lợi ích L này để các doanh nhân quyết định lựa chọn có dùng Tòa án làm phương thức giải quyết tranh chấp KDTM hay không hoặc dùng phương thức khác (như Trọng tài, hoặc vận động gây áp lực từ phía các cơ quan khác như công an, như ủy ban, các cơ quan hành chính quyền lực khác …) hoặc từ

bỏ khoản lợi ích này để đi kiếm cơ hội khác nếu nó quá nhỏ Tỷ lệ Lợi ích / chi phí (L/C) sẽ biểu hiện hiệu quả giải quyết tranh chấp của Tòa án Nếu tỷ lệ này càng cao, có nghĩa là hiệu quả giải quyết càng lớn và ngược lại

1.4.3 Nhìn từ phía cộng đồng Doanh nhân

Nhìn từ phía cộng đồng các Doanh nhân lại có cách đánh giá hiệu quả giải quyết tranh chấp KDTM một cách hoàn toàn khác Cách đáng giá này không chi tiết vào các chỉ số cụ thể như cách đánh giá nhìn từ phía Tòa án, cũng không có những toan tính cụ thể như nhìn từ phía các đương sự đang có tranh chấp cần cầu viện tới Tòa án Cách đánh giá này đơn giản chỉ dựa vào sự tín nhiệm của cộng đồng Doanh nhân vào Tòa án Sự tín nhiệm này có thể xuất phát bởi: (i): Truyền thống giải quyết tranh chấp của giới Doanh nhân Truyền thống này được tạo ra từ những đặc điểm tâm lý, đặc điểm kinh doanh và lịch sử ra đời của giới Doanh nhân; (ii): Kinh nghiệm thực tiễn từ các vụ việc giải quyết tranh chấp KDTM bằng con đường Tòa

án Từ các tranh chấp KDTM cụ thể đối với các Doanh nhân mà Tòa án đã giải quyết, mỗi Doanh nhân sẽ có cách đánh giá riêng về hiệu quả của Tòa án và cách đánh giá của đa số các Doanh nhân sẽ tạo ra sự đánh giá của cộng đồng; (iii): Sự tin

Trang 29

tưởng của cộng đồng Doanh nhân rằng phán quyết của Tòa có tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh doanh Các Doanh nhân hợp với nhau thành một cộng đồng vừa có

sự hợp tác vừa có sự cạnh tranh Ngay trong sự hợp tác kinh doanh đã tiềm ẩn những yếu tố có thể gây ra tranh chấp Và, khi tranh chấp xảy ra, nếu đưa đến Tòa

án, cộng đồng Doanh nhân trông đợi ở Tòa án như đại diện cho công lý, đưa ra một phương án làm tiền lệ cho các Doanh nhân trong các ứng xử tiếp theo Một sự giải thích hợp lý của Tòa án hoặc một cách đánh giá của Tòa án sẽ có tác dụng điều chỉnh hành vi của các Doanh nhân trong hoạt động kinh doanh làm giảm thiểu các tranh chấp có thể xảy ra và do đó sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển Tóm lại: quá trình giải quyết tranh chấp của Tòa án thực chất là quá trình cung cấp dịch vụ cho xã hội Nếu dịch vụ tốt, sẽ có được lòng tin của khách hàng và ngược lại Như vậy, hiệu quả giải quyết tranh chấp của Tòa án được đánh giá qua lòng tin và sự tín nhiệm của giới Doanh nhân đối với uy tín và phương án giải quyết

của Tòa

1.5 Một số yếu tố tác động tới việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân

Để có thể nhìn nhận đúng đắn và có những tác động hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án, cần đánh giá đúng những yếu tố tác động, khi đó, ta sẽ có đủ những cơ sở và phương hướng tác động vào từng khâu, từng quá trình mà không bị sợ sai lầm Đồng thời, dưới sự phân tích các yếu tố tác động cả từ bên trong và bên ngoài, chúng ta có cái nhìn hệ thống, tìm ra được các chi tiết còn yếu kém hoặc không phù hợp để tạo ra sự đồng bộ, hài hòa cho cả hệ thống [14]

1.5.1 Các yếu tố tác động từ bên trong

Nhìn trong nội bộ hệ thống thì các yếu tố tác động bên trong gồm có: các quy định về luật nội dung; các quy định về luật thủ tục; các tài liệu chứng cứ mà các bên

có thể xuất trình, năng lực của nguời giải quyết

Thử so sánh việc giải quyết tranh chấp KDTM với quá trình chế tạo một sản phẩm

Trang 30

Với sự đơn giản nhất, làm ra một sản phẩm bị ảnh hưởng bới những yếu tố như là: các nguyên vật liệu đầu vào; máy móc thiết bị để gắn kết những nguyên liệu đó thành sản phẩm; công nghệ (quy trình) để sản xuất ra sản phẩm; sau cùng là tay nghề của người thợ chế tạo ra sản phẩm đó Tất cả các yếu tố này có tác động một cách đồng thời tới chất lượng đầu ra của sản phẩm Nếu nguyên vật liệu không tốt hoặc máy móc/thiết bị hư cũ, hoặc công nghệ lạc hậu hoặc tay nghề người thợ yếu kém đều ảnh hưởng tới chất lượng của sản phẩm được làm ra Một sự so sánh dường như khập khiễng, nhưng những gì đúng với việc sản xuất có vẻ đúng như đối với việc giải quyết tranh chấp KDTM Các nguyên vật liệu đầu vào tương ứng với các tài liệu, chứng cứ mà các bên có được khi xuất trình cho Tòa án để yêu cầu giải quyết tranh chấp; Các máy móc/thiết bị để gắn kết các nguyên vật liệu đầu vào tương ứng với các quy định của luật nội dung; quy trình/công nghệ tương ứng với các quy định từ luật thủ tục và cuối cùng tay nghề của người thợ tương ứng với năng lực/trình độ của người Thẩm phán Kết quả là, đối với việc sản xuất, đầu ra là sản phẩm hoàn hảo và làm hài lòng người dùng Kết quả của việc giải quyết tranh chấp KDTM là đưa ra được một phương án hợp lý (có thể đạt được thông qua sự hòa giải hoặc xét xử), có lợi cho xã hội, tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh

và thúc đẩy thương mại phát triển Cũng thông qua phương án đó, lợi ích của xã hội, của nhà nước được đảm bảo; quyền và các lợi ích hợp pháp của các bên được

bảo vệ, được khôi phục

Như vậy, để có kết quả đầu ra tốt đối với việc giải quyết tranh chấp, cần các điều kiện đầy đủ như: (i): Các tài liệu, chứng cứ đầu vào mà các bên xuất trình cho Tòa án đầy đủ bao nhiêu thì Tòa án càng có những căn cứ và đánh giá chính xác so với sự thật khách quan bấy nhiêu; (ii): Các quy định của luật nội dung rõ ràng và đầy đủ tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án áp dụng pháp luật đánh giá chứng cứ và giải quyết tranh chấp một cách đúng đắn; (iii): Các quy định của luật tố tụng khoa học

và hợp lý sẽ tạo ra các công đoạn làm việc hợp lý, không bị trùng lắp vừa có tác dụng thúc đẩy thời gian giải quyết nhanh chóng, vừa có tác dụng đảm bảo được chất lượng đầu ra; (iv): Năng lực, trình độ của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân sẽ là

Trang 31

trung tâm của sự kết nối và đưa ra phương án giải quyết tranh chấp tối ưu

1.5.2 Các yếu tố tác động từ bên ngoài

Ngoài những yếu tố tác động từ bên trong quá trình giải quyết tranh chấp KDTM còn có những tác động từ phía bên ngoài tới quá trình giải quyết tranh chấp Những yếu tố này có tác động không trực tiếp nhưng lại gián tiếp tạo ra môi trường

lành mạnh để quá trình giải quyết tranh chấp có thể diễn ra thuận lợi hoặc khó khăn

Sự phát triển của nền kinh doanh – thương mại

Sự phát triển của nền kinh doanh, thương mại tạo ra sự muôn mặt trong quá trình giải quyết tranh chấp KDTM Thực tiễn chỉ ra rằng, nền kinh tế - thương mại phải phát triển đến một mức nhất định thì hoạt động giải quyết tranh chấp KDTM mới trở thành một hoạt động giải quyết tranh chấp đặc thù, thoát khỏi quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự thông thường

Đối với nền kinh tế kém phát triển và mang tính tự cung, quan hệ hợp đồng dường như không tồn tại Các loại hợp đồng chỉ đơn thuần với những nội dung như vay nợ, mua bán Sự phát triển của nền kinh tế đã dẫn tới vô vàn các hình thức do Doanh nhân sáng tạo như tín dụng, đầu tư, sở hữu trí tuệ Những hình thức sáng tạo đó đã mang lại cho hoạt động giải quyết tranh chấp vẻ mặt mới, đặc thù hơn và cũng phức tạp hơn

Quan điểm của giới Doanh nhân với việc giải quyết tranh chấp bằng con đường Toà án

Quan điểm của giới Doanh nhân ảnh hưởng rất lớn tới việc giải quyết tranh chấp bằng con đường Toà án có được trở nên phổ biến hay kém phổ biến Tất nhiên,

sự cầu viện công lý luôn là điều cần thiết, nhưng đó có phải phương án mà các bên tham gia cho là thoả đáng và ưa thích hay không là vấn đề cần xem xét

Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng con đường Toà án có rất nhiều ưu điểm không ai có thể phủ nhận, tuy nhiên, nó có thích hợp hay không, hay nói cách khác,

nó có bám rễ được vào lòng xã hội hay không một phần rất ảnh hưởng từ truyền

Trang 32

thống của xã hội Đối với xã hội Tây Âu có truyền thống phân quyền với sự độc lập của Toà án, giới Doanh nhân đã có một thời gian rất dài được làm quen với các phương thức tố tụng bởi Toà án Toà án là thiết chế sinh ra để bảo vệ pháp luật và các quyền tự do kinh doanh, nghĩa vụ hợp đồng của giới Doanh nhân Do đó, các tranh chấp được cầu viện công lý tới Toà án là điều hết sức bình thường Trái lại, đối với xã hội Á đông, sự tách bạch giữa một cơ quan hành chính và một cơ quan tư

pháp là không có Những vị phán quan học hành thi cử, tiến thân từ “kẻ sĩ” dường như xa lạ đối với giới thương nhân Thêm vào đó, tư tưởng đạo nho “ức thương,

trọng nông” đã xếp vị trí của người thương nhân xuống hạng bét trong xã hội đã lấy

đi sự tin tưởng của các doanh nhân truyền thống vào các cơ chế công Bởi vậy, có thể thấy, ở các nước Á đông chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo Trung hoa, phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án không được mấy ưa chuộng

Phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường Toà án chỉ có thể trở nên phổ biến khi nó lấy được sự tin tưởng từ phía các Doanh nhân và thông qua đó, dần dần thay đổi tư duy truyền thống Chỉ khi ấy, phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường Toà án mới được đánh giá là hiệu quả khi so sánh với các phương thức giải quyết tranh chấp khác

Hệ thống cơ quan bổ trợ tư pháp đối với việc giải quyết tranh chấp KDTM

Theo từ điển Tiếng Việt, từ “Bổ trợ” có nghĩa là “giúp thêm vào, phụ thêm

vào cho đầy đủ hơn, tốt hơn” Như vậy, Bổ trợ tư pháp có thể hiểu là hoạt động

giúp thêm vào để bảo vệ pháp luật được tốt hơn Nghĩa của từ là như vậy, nhưng trong giới hạn của đề tài này, họa động Bổ trợ tư pháp chỉ được tác giả đề cập đến trong phạm vi hẹp là hoạt động giúp thêm cho Tòa án khi có giải quyết các tranh chấp

Tư pháp hiện đại chỉ ra rằng, hoạt động tư pháp và Bổ trợ tư pháp luôn gắn liền với nhau Nhà nước đề cao việc bảo vệ pháp luật bao nhiêu thì cũng đề cao hoạt động Bổ trợ tư pháp bấy nhiêu Một trong những đặc trưng của Nhà nước pháp

Trang 33

quyền luôn tạo điều kiện cho hoạt động tư pháp và hoạt động Bổ trợ tư pháp song song cùng phát triển

Sự tồn tại của các cơ quan bổ trợ tư pháp không những giúp cho Toà án mà còn giúp cho các công dân bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích của mình Các hoạt động Bổ trợ tư pháp sẽ góp phần làm bôi trơn và hỗ trợ cho guồng máy giải quyết tranh chấp được chạy thông suốt

Hoạt động đó có thể được kể ra là:

- Hoạt động giám định, định giá

- Hoạt động của luật sư và tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý

- Hoạt động thi hành các bản án, quyết định của Toà án

- Hoạt động phát mại tài sản

Đó là một số hoạt động Bổ trợ tư pháp mang tính chất cổ điển và thường xuyên hỗ trợ cho hoạt động giải quyết tranh chấp của Toà án Toàn án, về bản chất,

là cơ quan có rất ít sức mạnh vật chất Sức mạnh của nó nằm ở trí tuệ, sự phán đoán

và lòng yêu công bằng Vì thế, để cho các phán quyết của Toà án, cũng như hoạt động của Toà án được thông suốt, đòi hỏi phải có sự bổ trợ của các cơ quan, tổ chức khác Nếu những sự bổ trợ này không có hoặc không hiệu quả thì quá trình giải quyết tranh chấp của Toà án cũng chỉ có tác dụng trên giấy mà không có tác dụng thực tiễn

Đứng về mặt xã hội, các cơ quan bổ trợ tư pháp cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các công dân bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Nhờ

có luật sư, nhờ có hoạt động công chứng hoạt động giám định, hoạt động thi hành

án, hoạt động tư vấn và trợ giúp pháp lý mà công dân có điều kiện để thực hiện các quyền nội dung của mình trên thực tế, có thể tạo ra các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho các yêu cầu hợp pháp của mình Sự tồn tại và phát triển của các cơ quan

bổ trợ tư pháp có ý nghĩa tạo ra một nền tư pháp chuyên nghiệp, đồng bộ

Các cơ sở vật chất để phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp KDTM

Trang 34

Các cơ sở vật chất đóng vai trò không nhỏ trong việc thúc đẩy quá trình giải quyết tranh chấp trở nên thuận lợi và nhanh chóng Với những điều kiện vật chất nghèo nàn, Toà án khó có thể đáp ứng được công việc giải quyết tranh chấp trong thời kỳ mới

Thời đại về thông tin điện tử đã cho phép các bên dược phép giao dịch qua mạng điện tử, sử dụng các chữ ký điện tử, các quá trình thanh toán điện tử

Càng ngày, những chứng cứ mà các bên cung cấp càng trở nên phong phú, không chỉ có văn bản viết mà còn có tài liệu nghe được, nhìn thấy, phần mềm Tất

cả những chứng cứ và tài liệu ấy đòi hỏi người giải quyết không chỉ có trình độ mà phải còn được cung cấp những công cụ để có thể thẩm định, xem xét được những chứng cứ ấy Mặt khác, có những công cụ lao động hiện đại, được hỗ trợ về thông

tin, tài liệu sẽ có tác dụng như “cánh tay nối dài” giúp cho Thẩm phán có thể thực

hiện công việc một cách dễ dàng hơn

Điều kiện về phòng xử, phòng hoà giải, phòng làm việc, các công cụ lao động không chỉ ảnh hưởng đến năng suất lao động của Thẩm phán mà còn ảnh hưởng cả tới các đương sự, và tồi tệ hơn, có thể làm suy giảm đi sự uy nghiêm của hoạt động tố tụng

Do đó nâng cao các điều kiện về cơ sở vật chất của Tòa án cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng tích cực đến việc giải quyết tranh chấp

Trang 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi

và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia các quá trình của hoạt động KDTM Để giải quyết tranh chấp KDTM, có rất nhiều phương thức khác nhau như: thương lượng, hòa giải, Trọng tài thương mại hay Tòa án Mỗi phương thức lại có những ưu điểm

và hạn chế nhất định Tùy vào nhu cầu cụ thể và sự thỏa thuận của các bên tranh chấp mà trong mỗi vụ tranh chấp KDTM khác nhau, họ lại lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp KDTM khác nhau Trong đó, giải quyết tranh chấp KDTM thông qua Tòa án dường như là phương pháp cuối cùng được các bên lựa chọn

Việc giải quyết tranh chấp KDTM bằng con đường Tòa án là việc các bên tranh chấp đã lựa chọn bên thứ ba là cơ quan tài phán công (Tòa án) để giải quyết tranh chấp của mình Phương thức này đảm bao cho phán quyết cuối cùng có khả năng thi hành cao nhất bởi tính cưỡng chế của quyền lực nhà nước Nhưng hạn chế của phương thức này là làm mối quan hệ đôi bên tranh chấp thường trở nên căng thẳng, khó duy trì quan hệ lâu dài, chi phí cao, ảnh hưởng tới uy tín trên thương trường và phải thực hiện theo những thủ tục cứng nhắc luật định rất mất thời gian

và tốn nhiều công sức, chi phí theo kiện

Tuy nhiên, Tòa án vẫn là con đường giải quyết các tranh chấp KDTM không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của bất kỳ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam Thủ tục giải quyết các tranh chấp KDTM trong pháp luật Việt Nam không được quy định riêng biệt như trước đây trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, mà chúng được Tòa án áp dụng thủ tục chung về giải quyết các vụ án dân sự (theo nghĩa rộng) trong BLTTDS 2004 (sửa đổi năm 2011) và mới đây là BLTTDS 2015 Tuy nhiên, thủ tục giải quyết các tranh chấp KDTM tại Tòa án vẫn

có những đặc thù riêng so với thủ tục chung bởi đặc trưng riêng của tranh chấp KDTM như: Thời hạn chuẩn bị xét xử ngắn hơn; Tòa Kinh tế là Tòa chuyên trách giải quyết các tranh chấp KDTM; trước khi xem xét thẩm quyền giải quyết của Tòa

án, vấn đề rất quan trọng là phải xem xét về thỏa thuận Trọng tài của các bên…

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA

2.1 Khái quát về Tòa án nhân dân Thành phố Sơn La - tỉnh Sơn La

2.1.1 Cơ cấu, tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân thành phố Sơn La

Tòa án nhân dân thành phố Sơn La- tỉnh Sơn La là một TAND cấp huyện (cấp sơ thẩm) trong hệ thống Tòa án của Việt Nam nên có đầy đủ chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của TAND nói chung quy định tại Điều 2 Luật tổ chức TAND năm

Đầu năm 2015, biên chế có mặt tại đơn vị tổng số 18 người; trong đó có 03 Thẩm phán trung cấp; 07 Thẩm phán sơ cấp, 04 Thư ký và 04 chức danh khác Tập thể ban lãnh đạo cơ quan đã được kiện toàn gồm có 01 Chánh án và 02 Phó Chánh

án Cuối năm 2015, đầu năm 2016, do 01 Phó chánh án nghỉ hưu nên cơ quan chỉ còn lại 02 Thẩm phán trung cấp, trong đó có 01 Chánh án, 1 Phó Chánh án và vị trí

Trang 37

Phó Chánh án còn lại vẫn bị khuyết Số lượng Thư ký tăng từ 04 người lên 05 người (trong đó có 01 Thư ký vừa làm Thư ký vừa đảm nhiệm công việc kế toán ở đơn vị) Tất cả các Thẩm phán và Thư ký đều có trình độ cử nhân luật [57;58;59;60;61]

2.1.2 Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La

Vì TAND thành phố Sơn La là Tòa án nhân dân cấp huyện nên chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các tranh chấp KDTM thuộc phạm vi khoản 1 Điều 29

BLTTDS 2004 (khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015): “Tranh chấp phát sinh trong

hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.” Các tranh chấp KDTM quy định tại các

khoản 2, 3, 4, 5 Điều 30 BLTTDS 2015 không thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của TAND cấp huyện như TAND thành phố Sơn La, mà thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế TAND cấp tỉnh (Tòa Kinh tế TAND tỉnh Sơn La)

Hiện nay, TAND thành phố Sơn La chưa có các Tòa chuyên trách nên Chánh

án Tòa án nhân dân thành phố Sơn La có trách nhiệm tổ chức công tác xét xử và phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của TAND thành phố Sơn La về tranh chấp KDTM…

2.2 Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án

2.2.1 Pháp luật Tố tụng

Luật tố tụng chỉ ra một khung pháp lý với những quy định pháp luật về quy trình để giải quyết một tranh chấp KDTM Luật hình thức bao gồm nhiều phần quy định quá trình đưa vụ án ra xét xử tại Tòa án Tòa án cần tuân thủ quy trình tố tụng

mà luật hình thức đã quy định Những quy định này đưa ra nhằm đảm bảo sự công bằng trong xét xử và tính nghiêm minh của luật pháp trong cả quá trình tố tụng

Ở nước ta, BLTTDS quy định các thủ tục được áp dụng để giải quyết các tranh chấp KDTM tại Tòa án BLTTDS quy định rõ những nguyên tắc cơ bản trong

tố tụng dân sự, các trình tự tố tụng từ khi khởi kiện đến khi thụ lý, giải quyết vụ án;

Trang 38

phân định thẩm quyền giải quyết vụ án của các Tòa án; quyền hạn trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền –nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức người tham gia tố tụng; quy định các nguyên tắc cơ bản về thi hành án…nhằm đảm bảo việc giải quyết các tranh chấp nhanh chóng, chính xác, công minh, đúng pháp luật

Trước năm 2004, thủ tục tố tụng được phân chia thành nhiều loại như tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng dân sự, các thủ tục này được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án Dân

sự 1989; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996…Kể từ năm 2004, BLTTDS ra đời đã thay thế những văn bản trên, quy định tất cả các thủ tục trong một bộ luật duy nhất Đây là một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực lập pháp và công cuộc cải cách tư pháp ở nước

ta Năm 2015 tiếp tục đánh dấu một bước tiến mới trong cải cách tư pháp của nước

ta, đó là sự ra đời BLTTDS 2015, có hiệu lực từ ngày 01/ 6/ 2016 So với bộ luật cũ, các quy định của BLTTDS 2015 tiến bộ hơn, khắc phục những điểm tồn tại, hạn chế của BLTTDS 2004

2.2.2 Pháp luật nội dung

Luật nội dung quy định quyền và nghĩa vụ của thể nhân và pháp nhân Luật nội dung điều chỉnh quan hệ pháp luật giữa cá nhân với cá nhân hoặc giữa cá nhân với nhà nước, nhằm chỉ rõ quyền và trách nhiệm của mỗi bên Để giải quyết các tranh chấp KDTM, không chỉ sử dụng một mà có thể phải áp dụng nhiều ngành luật nội dung, có quan hệ mật thiết với nhau, như Bộ luật dân sự, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật các tổ chức tín dụng,…cũng như hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành các luật này

Tùy theo từng vụ việc cụ thể mà Tòa án sẽ áp dụng pháp luật nội dung phù hợp để giải quyết Ví dụ trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại thì chắc chắn phải

sử dụng Luật Thương mại, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thương mại…

2.3 Tì nh hì nh giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án nhân dân thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La và các kết quả đạt được

Trang 39

2.3.1 Tổng quát chung về thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án nhân dân thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La giai đoạn 2011 – 2015

Bảng 2.1 Số lượng vụ án kinh doanh, thương mại mà Tòa án nhân dân thành phố

Sơn La đã tiếp nhận và giải quyết giai đoạn 2011 – 2015

Tổng số vụ

án KDTM

đã giải quyết

Tổng số vụ

án KDTM bị Tòa án cấp trên huỷ

Tổng số vụ

án KDTM bị Tòa án cấp trên sửa

Bảng 2.2 Các loại tranh chấp về hợp đồng kinh doanh, thương mại đã được Tòa án

nhân dân thành phố Sơn La thụ lý giai đoạn 2011 - 2015

Năm Hợp đồng

tín dụng

Hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng xây dựng cơ bản

Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa

Tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty

Trang 40

Theo số liệu thống kê, trung bình một năm, Tòa án nhân dân thành phố Sơn

La giải quyết được từ 250 đến 300 vụ án nói chung Trong giai đoạn từ 2011 đến năm 2015, Toà án nhân dân thành phố Sơn La đã giải quyết 64 vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại Trong đó tranh chấp về hợp đồng thương mại có 62 vụ bao gồm: [62;63;64;65;66]

- Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa có 24 vụ, chiếm 38,7% Tranh chấp này tăng mạnh từ năm 2011-2013 và giảm dần trong 2 năm 2014, 2015;

- Tranh chấp về hợp đồng tín dụng là 28 vụ chiếm 45,16% Trong những năm qua, tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng tăng dần đều từ năm 2011 đến 2015;

- Về tranh chấp hợp đồng xuất nhập khẩu ủy thác có 4 vụ (chiếm 6,45%);

- Về tranh chấp trong thành lập, hoạt động, giải thể Công ty có 1 vụ là về việc tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Hà với Công ty cổ phần Hòa Thanh (chiếm 1,61%);

- Về tranh chấp liên quan đến mua bán Cổ phiếu, Trái phiếu không có vụ nào;

- Về tranh chấp hợp đồng xây dựng cơ bản có 5 vụ (chiếm 8,06%)

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và các thống kê, báo cáo của TAND thành phố Sơn La, tôi thấy các tranh chấp về hợp đồng thương mại là có số vụ cao nhất và chiếm tuyệt đại đa số (62/64 vụ), trong đó hoà giải được 16 vụ, chiếm tới 25,80%

Ngày đăng: 22/03/2018, 18:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm