1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn xét xử tại toà án nhân dân thành phố ninh bình, tỉnh ninh bình

99 614 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toà án nhân dân tối cao, Số 3/2012; Nhóm công trình nghiên cứu về những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết TCKDTM: Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh theo BLTTDS

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH,

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

NGƯỜI CAM ĐOAN

LÃ HOÀNG GIÁP

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được thực hiện tại Viện đại học Mở Hà Nội Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của các thầy cô giáo trong trường

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Hữu Tráng

đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình

Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong thời gian học vừa qua

Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CAC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 9

1.1 Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại 9

1.1.1 Khái niệm tranh chấp KD-TM 9

1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại 10

1.2 Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 11

1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 11

1.2.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ngoài Tòa án hiện nay 12

1.2.2.1 Hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng thương lượng…… 13

1.2.2.2 Hòa giải 14

1.2.2.3 Trọng tài 14

1.2.2.4 So sánh phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án với Thương lượng, Hòa giải và Trọng tài 16

1.3 Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 18

1.3.1 Các quy định pháp luật về hình thức (pháp luật Tố tụng) trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 18

1.3.2 Quy định của pháp luật nội dung áp dụng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 19

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 20

1.4.1 Môi trường pháp lý 20

1.4.2 Điều kiện cơ sở vật chất, chất lượng nguồn nhân lực 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH 25 2.1 Khái quát về thành phố Ninh Bình và Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình… 25 2.2 Thực trạng giải quyết án tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình 26

2.2.1 Tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình 26 2.2.2 Những thuận lợi cơ bản trong thực tiễn giải quyết tranh chấp Kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình 28 2.2.3 Những khó khăn, hạn chế và vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình…… 30

2.3 Nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế, bất cập trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án 55

2.3.1 Nguyên nhân từ những hạn chế trong các quy định của pháp luật 55

2.3.1.1 Sự chồng chéo về thẩm quyền trong xét xử tranh chấp kinh doanh thương mại……… 55 2.3.1.2 Sự phân loại chưa hợp lý giữa thẩm quyền xét xử tranh chấp kinh doanh thương mại và tranh chấp dân sự ở tòa án các cấp 56

2.3.2 Nhận thức pháp luật của các chủ thể trong tranh chấp kinh doanh thương mại còn nhiều hạn chế 57 2.3.3 Năng lực giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án…… 61

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63 CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 64 3.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật 64

3.1.1 Sớm ban hành văn bản hướng dẫn làm rõ hơn nội hàm của khái niệm tranh chấp KDTM 64 3.1.2 Kiến nghị làm rõ hơn quy định tại khoản 4 Điều 29 BLTTDS 65 3.1.3 Kiến nghị cần có văn bản hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn các quy định về chứng minh và chứng cứ 66 3.1.4 Kiến nghị bổ sung một số quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như cần hướng dẫn cụ thể chi tiết hơn chế định này 69

Trang 7

3.1.5 Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến giải quyết tranh

chấp về tài chính, ngân hàng 72

3.1.6 Kiến nghị cần nhanh chóng ban hành văn bản hướng dẫn quy định về cấp, tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án và ban hành Luật Thừa phát lại 74

3.1.7 Kiến nghị nâng cao chất lượng ban hành các văn bản về hoạt động kinh doanh thương mại cũng như sửa đổi, bổ sung một số quy định lien quan đến hoạt động kinh doanh thương mại 75

3.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án 79

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến pháp luật 81

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83

KẾT LUẬN 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

5 KDTM Kinh doanh thương mại

6 TCKDTM Tranh chấp kinh doanh thương mại

7 TAND Tòa án nhân dân

8 TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

9 TNHH Trách nhiệm hữu hạn

10 UBND Ủy ban nhân dân

11 UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc Hội

12 VKS Viện kiểm sát

Trang 9

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển đặc biệt khi nước ta đã gia nhập

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các quan hệ kinh doanh, thương mại (KDTM) ngày càng đa dạng, phong phú và mang những diện mạo sắc thái mới Tương ứng với sự đa dạng phong phú của các quan hệ này, các tranh chấp kinh doanh, thương mại (TCKDTM) ngày càng muôn hình muôn vẻ và với số lượng lớn Đáp ứng yêu cầu giải quyết các TCKDTM của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế, pháp luật đã quy định nhiều phương thức giải quyết TCKDTM như: thương lượng, hòa giải, giải quyết theo thủ tục Trọng tài, giải quyết theo thủ tục tư pháp Ở Việt Nam các đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết TCKDTM bằng Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hoà giải Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng con đường Toà án vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm đó là: vướng mắc từ phía pháp luật chưa phù hợp, dẫn đến việc áp dụng không đạt được tính thuyết phục; hướng dẫn của ngành cũng như quan điểm giải quyết không thống nhất giữa các cấp tòa án làm cho hoạt động xét xử của Toà án gặp nhiều khó khăn vướng mắc Mặc dù pháp luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung, nhưng các quy định về thẩm quyền giải quyết TCKDTM của Tòa án vẫn chưa được khắc phục Hơn nữa, trong Nhà nước pháp quyền cũng đòi hỏi hoạt động xét xử của Toà án phải đảm bảo công minh, nhanh chóng, chính xác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng án, giải quyết án kéo dài, dễ gây phiền hà, mệt mỏi cho các bên đương sự, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc tiếp tục đẩy nhanh quá trình cải cách kinh tế và cải cách nền hành chính quốc gia, công cuộc cải cách tư pháp cũng đang được Đảng và Nhà nước tích cực triển khai, coi đây là khâu đột phá quan trọng, thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Điều này được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về “chiến lược cải cách tư

Trang 10

pháp đến năm 2020” Công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta đã và đang đặt ra một loạt vấn đề lý luận và thực tiễn cần được giải quyết một cách hợp lý và thoả đáng, trong đó có vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nói chung cũng như tạo lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các chủ thể kinh doanh, kể cả việc giải quyết vấn đề đặt ra về tố tụng kinh

tế, dân sự nói riêng sao cho thích hợp hiện cũng cần được quan tâm thích đáng nhằm tìm ra phương hướng giải quyết đúng đắn, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong giai đoạn hiện nay Nói một cách khác, vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động xét xử của Toà án đối với việc giải quyết các TCKDTM Đây là một trong số những nội dung cơ bản, quan trọng trong việc cải cách và trên nền tảng đó, hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị và hội nhập quốc tế Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm

về lý luận cũng như thực tiễn, tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vụ án kinh tế theo tinh thần cải cách tư pháp là hết sức cần thiết và vẫn có tính thời sự, rất được quan tâm trong khoa học pháp lý ở Việt Nam hiện nay Trong bối cảnh đó, tác giả đã chọn đề tài

“Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình” để làm đề tài cho luận văn thạc

sĩ Luật kinh tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu

về vấn đề giải quyết TCKDTM tại Tòa án theo những khía cạnh khác nhau Nhằm đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tác giả chia các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài thành nhóm như sau:

Trang 11

Nhóm công trình nghiên cứu làm rõ lí luận của việc giải quyết TCKDTM: Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam, Viện đại học Mở Hà Nội, … Các bài tạp chí chuyên ngành luật học như: Giải quyết TCKDTM theo quy định của BLTTDS 2004 (Viên Thế Giang, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12/2005); Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng con đường Tòa án (Nguyễn Vũ Hoàng, NXB Thanh niên, năm 2003); Về mở rộng thẩm quyền của toà án cấp huyện trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại theo Bộ luật tố tụng dân sự của tác giả

Vũ Thị Hồng Vân (Tạp chí Kiểm sát Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 01/2006); Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của tác giả Dương Nguyệt Nga (Toà

án nhân dân Toà án nhân dân tối cao, Số 16/2007); Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của toà án theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 của tác giả Vũ Thị Hồng Vân (Tạp chí Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 4/2008); Tranh chấp lao động hay tranh chấp kinh doanh thương mại?của tác giả Vũ Thị Thu Hiền (Tạp chí Toà án nhân dân Toà án nhân dân tối cao, Số 24/2009); Có cần thiết phân biệt "Tranh chấp dân sự" với "Tranh chấp kinh doanh, thương mại" trong quá trình giải quyết tại toà án? Của tác giả Đặng Thanh Hoa (Tạp chí Dân chủ

và Pháp luật Bộ Tư pháp, Số 9/2011); Về bài viết "Tranh chấp lao động hay tranh chấp kinh doanh thương mại?" của tác giả Phạm Công Bảy (Tạp chí Toà án nhân dân Toà án nhân dân tối cao, Số 3/2012);

Nhóm công trình nghiên cứu về những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết TCKDTM: Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh theo BLTTDS và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành (Phan Chí Hiếu, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2005); Xác định thẩm quyền giữa toà án và trọng tài trong quá trình thụ lí vụ án dân sự giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại toà

án và một số kiến nghị hoàn thiện của tác giả Bùi Thành Trung (Tạp chí Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 12/2014); Xác định địa chỉ của người bị kiện khi tòa án thụ lý vụ án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại của tác giả Bùi Thành Trung (Tạp chí Kiểm sát Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 4/2015);

Trang 12

Những vướng mắc khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án của tác giả Vũ Gia Trưởng (Tạp chí Luật sư Việt Nam Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Số 3/2016.); Tranh chấp và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch của tác giả Vũ Thị Lan Anh (Tạp chí Nghề Luật Học viện Tư pháp, Số 3/2016.); Về việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại vào thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động thương mại của tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga (Tạp chí Toà án nhân dân Toà án nhân dân tối cao, Số 9/2006); Một số khó khăn khi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại toà án của tác giả Vũ Đức Hoàng (Tạp chí Toà án nhân dân Toà án nhân dân tối cao, Số 19/2010); Một số kiến nghị liên quan đến quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh (Tạp chí Nghề Luật Học viện Tư pháp, Số3/2010); Thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án của tác giả Triệu Thị Huỳnh Hoa (Tạp chí Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân tối cao, Số 19/2012);

Nhóm công trình nghiên cứu kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết các TCKDTM bằng tòa án: Hoàn thiện các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy ( Tạp chí Kiểm sát Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 22/2014); Hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của tòa án của tác giả Nguyễn Duy Phương (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Viện nghiên cứu lập pháp, Số 1/2015); Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án - Một số kiến nghị của tác giả Lê Văn Thiệp (Tạp chí Kiểm sát Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 5/2016); Thẩm quyền quyết định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh quốc tế của trọng tài - một số lưu ý khi lựa chọn trọng tài quy chế của tác giả Mai Minh Hương (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Bộ Tư pháp, Số chuyên đề Pháp luật về Doanh nghiệp/2012); Các luận án tiến sỹ như luận án “Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Toà án ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn

Trang 13

Thị Kim Vinh; luận án “Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân đối với các vụ việc KDTM theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Tiến; Một số luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM như: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân cấp huyện” của tác giả Nguyễn Vũ Hoàng; “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Toà án theo Bộ luật tố tụng dân sự - Những điểm mới và các vấn đề đặt ra cho thực tiễn thi hành” luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Bùi Nguyễn Phương Lê; “Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự - Những vướng mắc

và giải pháp khắc phục” luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Cung Mỹ Anh; “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án theo quy định của pháp luật hiện hành” luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Khuất Thu Hương; Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án nhân dân - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động, luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Phạm Thị Ban; Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài và toà án dưới góc độ so sánh, luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Cao Thị Thanh Thuỷ;.…

Các công trình trên đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, nhất là pháp luật TTDS và các luật liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại; về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM trong thời gian qua Các công trình nghiên cứu cũng đưa ra nhiều giải pháp có giá trị trong việc góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các tranh chấp KDTM Đây là những tri thức quan trọng mà luận văn có thể kế thừa trong quá trình nghiên cứu của mình Tuy nhiên, vấn đề về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại rất rộng, các công trình nghiên cứu trên chỉ giải quyết được một số mặt chứ chưa đưa ra các giải pháp tổng thể để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động giải quyết TCKDTM Hơn nữa nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang tiếp tục được đặt ra và có nhu cầu giải quyết hoặc chưa được cập nhật trong pháp luật hiện hành Đây là vấn đề cấp thiết đặt ra trong tiến trình hoàn thiện hệ thống

Trang 14

pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng ở nước ta Đặc biệt, chưa

có một công trình nào nghiên cứu quá trình giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Vì vậy đề tài nghiên cứu này sẽ đi sâu nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp KDTM của TAND thành phố Ninh Bình

để kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài nghiên cứu cần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Làm rõ một số vấn đề lí luận và pháp luật về tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

- Từ các vụ việc thực tế tại TAND thành phố Ninh Bình, phân tích làm rõ quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án, phân tích làm rõ những bất cập, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật của Toà án để giải quyết các TCKDTM

- Kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết các TCKDTM tại tòa án

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là quá trình giải quyết các TCKDTM từ thực tiễn TAND thành phố Ninh Bình Cụ thể luận văn nghiên cứu quá trình tòa án

áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành để giải quyết các TCKDTM

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu các vụ án

về tranh chấp kinh doanh thương mại được giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011, đặc biệt đi sâu nghiên cứu điển hình một số vụ án về tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình giai đoạn 2012-2016, từ đó khái quát các hạn chế, bất cập, khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các TCKDTM tại TAND thành phố Ninh Bình để kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết TCKDTM tại tòa án có đối chiếu với những quy định mới trong BLTTDS năm 2015

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại

Các phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu trong đề tài bao gồm các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, hệ thống hóa pháp luật, suy luận logic, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu bản án, quy nạp, diễn dịch Các phương pháp được sử dụng phù hợp với từng nội dung của các phần trong luận văn nhằm bảo đảm các kết quả nghiên cứu là khách quan và có độ tin cậy cao

Trang 16

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

- Đề tài đã làm rõ được lí luận và pháp luật về tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

- Đề tài đã phân tích làm rõ quá trình giải quyết các TCKDTM tại TAND thành phố Ninh Bình, phân tích làm rõ những bất cập, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các TCKDTM

- Đề tài đã kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết các TCKDTM tại tòa án

7 Kết cấu

Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận và pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án;

Chương 2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình;

Chương 3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Trang 17

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

1.1 Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại

1.1.1 Khái niệm tranh chấp KD-TM

Trong đời sống xã hội thường ngày, thuật ngữ tranh chấp được biết đến tương đối rộng rãi Bản thân mỗi người trong xã hội nói riêng hoặc các chủ thể trong quan hệ xã hội, kinh tế…nói chung (bao gồm cá nhân, tổ chức) luôn có xu hướng đề cao và tìm cách tối đa hóa lợi ích của mình, do vậy không tránh khỏi việc phát sinh mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi với những chủ thể khác Do vậy tranh chấp tồn tại như một phần tất yếu của đời sống xã hội

Khái niệm tranh chấp được giải thích, mô tả trong nhiều tài liệu, có thể lấy một số ví dụ về khái niệm tranh chấp như sau: Tranh chấp thường là đấu tranh giằng

co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên [60] hoặc Tranh chấp được hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng về các quyền yêu cầu hay quyền, sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược của bên kia [18, tr9]; Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt,

“Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có mâu thuẫn, bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lực giữa hai bên” [62, tr1024]; Tác giả Viên Thế Cương đưa ra định nghĩa “Tranh chấp kinh doanh được hiểu là những mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc với các bên có liên quan khi họ tham gia quan hệ kinh doanh, phát sinh do một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ pháp lý của mình” [8; tr 11]

Tranh chấp KDTM được hiểu là những tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh và thương mại, cụ thể: Theo quy định tại khoản 2 điều 4 Luật Doanh nghiệp

năm 2005 (LDN 2005): “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất

cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung

Trang 18

ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Theo quy định tại khoản 1 điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005):“Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu

tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”

Có thể thấy hoạt động kinh doanh và hoạt động thương mại được quy định

và điều chỉnh bởi những văn bản pháp luật khác nhau, tuy nhiên cả hai đều có cùng nội hàm chỉ rõ việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, cung ứng các dịch vụ…với mục đích chính là sinh lợi nhuận, do vậy hai hoạt động này đã được BLTTDS 2004 gọi chung là hoạt động kinh doanh, thương mại, đồng thời xây dựng chung một quy trình khi giải quyết tranh chấp là hoàn toàn phù hợp Khái niệm “tranh chấp về hợp đồng kinh tế” như Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế đã không còn phù hợp, được thay thế bằng khái niệm “tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại” trong BLTTDS 2004 và Bộ luật cũng đã liệt kê chi tiết hơn các hành vi kinh doanh, thương mại nào có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân

Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa về tranh chấp kinh doanh

thương mại: Tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể trong các hoạt động kinh doanh thương mại

1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại

Do tranh chấp kinh doanh thương mại là một tranh chấp pháp lý liên quan tới hoạt động kinh doanh thương mại, do vậy nó có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể Mâu thuẫn được hiểu là trạng thái xung đột, đối xứng nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tranh chấp Quan hệ kinh doanh thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ kinh doanh thương mại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh Trong hoạt động kinh doanh thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được những mục đích đề ra Do đó, việc phát sinh những mâu

Trang 19

thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu Tranh chấp kinh doanh thương mại là sự biểu hiện ra bên ngoài, là sự phản ánh của những xung đột về mặt lợi ích kinh tế của các bên [60,tr408]

- Thứ hai: Những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phải phát sinh từ hoạt động kinh doanh thương mại

Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp Tranh chấp thương mại phải là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động

nhằm mục đích sinh lợi khác Nói cách khác “Tranh chấp Kinh doanh thương mại luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh của các chủ thể” [60,tr408]

- Thứ ba: Các tranh chấp kinh doanh thương mại chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân (cá nhân kinh doanh, pháp nhân) với nhau Ngoài thương nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại, trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thương nhân) cũng

có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại khi trong các giao dịch bên không có mục đích sinh lợi chọn áp dụng luật thương mại Trên thực tế, hoạt động kinh doanh thương mại cũng chủ yếu diễn ra giữa các doanh nghiệp với nhau, do vậy phần lớn các chủ thể này cũng là các doanh nghiệp Giáo trình Luật kinh tế (2011) của Viện đại học Mở Hà

Nội xác định đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại “Các chủ thể trong tranh chấp kinh doanh thương mại thường là các doanh nghiệp” [60,tr408].

1.2 Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Tranh chấp kinh doanh thương mại là hệ quả phát sinh trực tiếp từ các quan

hệ kinh doanh thương mại Khi tham gia quan hệ kinh doanh thương mại, bản thân

Trang 20

các chủ thể đều hướng đến mục đích lợi nhuận, do vậy khi phát sinh tranh chấp kinh doanh thương mại tức là các bên xác định lợi ích trực tiếp của mình đang bị xâm phạm hoặc sẽ bị xâm phạm Các tranh chấp này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân các bên tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cả cộng đồng kinh doanh Đây là phản ứng mang tính chất dây truyền, do vậy nếu không được giải quyết một cách triệt để, nhanh chóng, khoa học, đảm bảo quyền lợi của các bên thì sẽ tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và bản thân các chủ thể trong quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng Vì vậy khi xảy ra tranh chấp các bên sẽ nhanh chóng tìm cách để giải quyết các xung đột, mâu thuẫn phát sinh để sớm quay lại với hoạt động sản xuất kinh doanh một cách bình thường, hạn chế tối đa tác động của tranh chấp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của bản thân cũng như ổn định tình hình của cộng đồng kinh doanh

Do các tranh chấp kinh doanh thương mại thường phát sinh giữa các chủ thể trong quan hệ kinh doanh thương mại, nên đây thường là những tranh chấp mang tính chất tư, các bên thường có quyền lựa chọn cho mình một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp và hữu hiệu nhất

Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là cách thức, phương pháp cũng như các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp phát sinh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội [56, tr.287]

1.2.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ngoài Tòa án hiện nay

Trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay, song hành cùng sự phát triển của kinh tế xã hội, là sự phát triển đa dạng, phong phú của các quan hệ kinh doanh thương mại, bên cạnh mặt tích cực của nó, cũng không tránh khỏi mặt tiêu cực, đó

là phát sinh mâu thuẫn về lợi ích giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ này Do vậy, các tranh chấp xảy ra là điều không tránh khỏi Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần giải quyết những tranh chấp phát sinh bằng cách nào để đảm bảo được các yêu cầu như nhanh chóng, thuận lợi, giữ được bí mật kinh doanh, chi phí thấp nhất,…

Trang 21

Ở Việt Nam hiện nay, ngoài phương thức giải quyết bằng Tòa án được sử dụng tương đối rộng rãi thì pháp luật cũng công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại khác đó là: Thương lượng, hòa giải, thủ tục tố tụng trọng tài Theo đó khi có tranh chấp kinh doanh thương mại xảy ra, các chủ thể

có thể lựa chọn việc giải quyết tranh chấp bằng một trong các hình thức này

1.2.2.1 Hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng thương lượng

Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh không cần đến vai trò của người thứ ba Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình bày quan điểm, chính kiến, bàn bạc, tìm các biện pháp thích hợp, và đi đến thống nhất thỏa thuận để tự giải quyết các bất đồng [60, tr410]

Trên thực tế đây là hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phổ biến nhất, bởi lẽ việc thực hiện đơn giản, không bị ràng buộc bởi những thủ tục pháp lý phức tạp, ít tốn kém và không ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các bên Pháp luật Việt nam khuyến khích các bên áp dụng hình thức này trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Một yêu cầu đặt ra khi sử dụng phương thức thương lượng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại đó là đòi hỏi các bên phải thực sự có thiện chí, trung thực và hợp tác, đồng thời cũng phải rất am hiểu về chuyên môn, về pháp luật.[60, tr410]

Để sử dụng phương thức thương lượng, khi có tranh chấp xảy ra, mỗi bên có thể chỉ định những cá nhân, tổ chức của mình nắm vững nhất các nội dung cần giải quyết trong tranh chấp để bàn bạc, đàm phán với đối tác, bày tỏ rõ thái độ, ý chí, quan điểm của mình Kết quả của thương lượng thường là những thỏa thuận hoặc cam kết về các giải pháp cụ thể để giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng Tuy vậy điểm yếu của phương thức này là những thỏa thuận, cam kết này không có cơ chế pháp lý để đảm bảo thi hành, việc thực hiện các thỏa thuận, cam kết chủ yếu dựa vào ý chí, thiện chí của chính bản thân các chủ thể trong quan hệ

Trang 22

1.2.2.2 Hòa giải

“Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp mà trong đó các bên trong quá trình thương lượng có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định là vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột, chấm dứt tranh chấp bất hòa”

[60,tr411-412 ]

Đặc trưng của việc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ngoài tố tụng cũng là đề cao tính tự nguyện thực hiện cam kết của các bên và yêu cầu bên thứ ba (được sử dụng làm trung gian hòa giải) phải là người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực tranh chấp, am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm thực tiễn và thực sự khách quan, độc lập với các chủ thể trong quan hệ tranh chấp, đủ độ tin cậy

và uy tín Bên làm nhiệm vụ trung gian hòa giải có nhiệm vụ giải thích cho các bên trong quan hệ tranh chấp bản chất của thủ tục hòa giải, các quy ước đối với các bên tham gia hòa giải Cũng giống như Thương lượng, kết quả hòa giải phụ thuộc rất lớn vào ý chí, thiện chí của các bên tranh chấp cũng như uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng hòa giải của trung gian hòa giải; việc thực thi kết quả hòa giải cũng không có một cơ chế pháp lý để bảo đảm thi hành cam kết

1.2.2.3 Trọng tài

“Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện” [60, tr415 ]

Đây là phương thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến, đặc biệt ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển Để phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng do vậy yêu cầu tất yếu phải có phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài Thông qua hoạt động của trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài, với tư cách của bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng, sung đột về lợi ích bằng việc đưa ra những phán quyết

có giá trị bắt buộc thực hiện giữa các bên

Trang 23

Tại Việt Nam, căn cứ pháp lý để quy định thủ tục áp dụng hình thức giải quyết bằng trọng tài thương mại được quy định trong Luật Trọng tài thương mại năm 2010 Đây là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại có nhiều ưu điểm nổi bật so với hai phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải, đó là với giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài thì tính chất ràng buộc thực thi cao hơn, thủ tục trọng tài đơn giản, nhanh chóng, đảm bảo tính bí mật và giữ uy tín trong kinh doanh cho các chủ thể trong quan hệ tranh chấp

Theo quy định, để áp dụng được hình thức giải quyết này, các bên phải có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận này được các bên lập ra trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, đồng thời thỏa thuận đó phải chưa bị hoặc không bị tuyên bố vô hiệu

Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức là trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận để giải quyết tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong tranh chấp Trọng tài thường trực là phương thức trọng tài được thành lập có tổ chức, trụ sở cố định, có các trọng tài viên hoạt động theo điều lệ tổ chức và quy tắc tố tụng riêng

Ưu điểm nổi bật của phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài đó là tính linh hoạt, quyền chủ động của các chủ thể được đề cao, thời gian giải quyết nhanh chóng, đảm bảo bí mật Hoạt động trọng tài được tiến hành trên nguyên tắc các quyết định của trọng tài không được công bố công khai rộng rãi Phán quyết trọng tài là phán quyết mang tính chung thẩm

Bên cạnh những ưu điểm, hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại cũng bộc lộ một số nhược điểm:

Đầu tiên phải nói đến đó là chi phí cho hoạt động trọng tài tương đối cao, không tính toán được trước do vậy đối với những vụ việc kéo dài thì kéo theo chi phí cũng tăng theo

Thứ hai các quyết định trọng tài không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách thuận lợi như việc thi hành quyết định, bản án của Tòa án

Trang 24

1.2.2.4 So sánh phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án với Thương lượng, Hòa giải và Trọng tài

Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài hay Tòa án đều là những phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nhằm hướng tới một mục đích chung

đó là giải quyết các tranh chấp mà cụ thể là giải quyết các mâu thuẫn phát sinh

Với sự đa dạng của tranh chấp kinh doanh thương mại do vậy việc lựa chọn một hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp với từng vụ việc cụ thể của các chủ thể cũng không giống nhau mà linh hoạt, phù hợp với tính chất, yêu cầu của những vụ việc đó

- Với Hòa giải: Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng hòa giải

có nhiều ưu điểm nổi bật như thủ tục đơn giản, nhanh gọn, chi phí thấp và đặc biệt quyền định đoạt giữa các bên được đề cao, có thể lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải cũng như địa điểm hòa giải

Hòa giải không bị gò bó về mặt thời gian cũng như trình tự thủ tục, đồng thời nếu các bên tranh chấp có thể hòa giải được thì vấn đề quan hệ mang tính thân thiện, các bên có thể vẫn duy trì được quan hệ trong hợp tác kinh doanh vì lợi ích cả hai bên

Hòa giải cũng đạt được mục đích là dàn xếp vụ việc sao cho hai bên không bên nào bị đặt vào tình huống bị thua cuộc dẫn đến phải đối đầu nhau

Trong quá trình tố tụng tại Tòa án, hòa giải cũng là một thủ tục bắt buộc trong quá trình chuẩn bị xét xử Ngoài ra trong tất cả các giai đoạn, kể cả ngay tại phiên tòa, vấn đề hòa giải cũng được khuyến khích các bên thực hiện; điều này thể hiện mối quan hệ bình đẳng trong tranh chấp dân sự nói chung Như vậy thủ tục hòa giải được lồng ghép trong tố tụng Tòa án khi giải quyết tranh chấp dân sự nói chung, tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng Tuy nhiên có những điểm khác biệt giữa hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại với hòa giải là một khâu trong hoạt động tố tụng Tòa án Thể hiện đối với hòa giải

là phương pháp giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại thì các bên được chủ

Trang 25

động trong việc tìm kiếm hòa giải viên, thời gian, địa điểm hòa giải nhưng khi hòa giải là một giai đoạn trong tố tụng Tòa án thì các bên không có quyền lựa chọn người giải quyết

- Với thương lượng: Nhược điểm lớn nhất của thương lượng cũng như hòa giải với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

đó là phụ thuộc vào ý chí của các bên tranh chấp Việc thương lượng có thành công hay không phụ thuộc gần như hoàn toàn vào ý chí chủ quan, sự hiểu biết cũng như thái độ thiện chí của các bên tranh chấp

Kết quả của thương lượng không được đảm bảo bằng một cơ chế pháp lý mang tính bắt buộc, nên dù các bên có đạt được thỏa thuận thì việc thực thi thỏa thuận cũng phải phụ thuộc ý chí và sự tự nguyện của các bên

- Với Trọng tài: Phương thức trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp Kinh doanh thương mại phổ biến được áp dụng trên thế giới, đặc biệt những nước phát triển, tuy nhiên ở Việt Nam, việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài thương mại lại chưa thực sự phổ biến, các doanh nghiệp chưa đặt nhiều niềm tin vào các trọng tài viên cũng như hiệu quả của hoạt động tố tụng trọng tài và hiệu lực của các Quyết định trọng tài Thông thường khi sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, các nhà kinh doanh thường quan tâm đến ưu điểm của nó, thể hiện như sau:

Khi giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án, các bên phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc tố tụng của Tòa án cũng như sự sắp xếp của Tòa

án, Hội đồng xét xử, Thẩm phán trong phạm vi thẩm quyền mà luật tố tụng đã quy định; ngược lại bằng phương thức trọng tài, các bên được chủ động lựa chọn cho mình những chuyên gia thực sự trong lĩnh vực tranh chấp

Trình tự giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài thường diễn ra nhanh chóng, đơn giản, gọn nhẹ hơn Tòa án

Tính bảo mật cao hơn so với Tòa án (vì Tòa án khi xét xử phải đảm bảo nguyên tắc công khai)

Trang 26

Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng bên cạnh đó, phương thức trọng tài cũng tồn tại không ít những nhược điểm so với phương thức Tòa án, cụ thể như sau:

Việc thi hành phán quyết trọng tài không phải lúc nào cũng thuận lợi bởi quyết định trọng tài không có tính cưỡng chế cao như quyết định hay bản án của Tòa án;

Phạm vi giải quyết tranh chấp của trọng tài chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực tranh chấp thương mại Ngoài ra trọng tài còn bị hạn chế về thẩm quyền ví dụ như trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì vẫn phải thực hiện thông qua Tòa án

Một điểm lưu ý, thể hiện tính quyền lực nhà nước cao của Tòa án đó là Tòa

án có quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định trọng tài, khi một trong các bên không hài lòng với quyết định trọng tài thì có quyền yêu cầu Tòa án hủy quyết định trọng tài;

Tòa án còn có quyền thụ lý yêu cầu cho công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

Như vậy có thể nhận thấy, mặc dù có nhiều cách thức khác nhau để giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, việc so sánh giữa các phương thức chỉ mang tính chất tương đối, tùy từng trường hợp cụ thể mà mỗi phương thức sẽ phát huy được vai trò của mình, phù hợp với sự lựa chọn của các chủ thể tham gia quan

Trang 27

Tòa án Tòa án cần thiết phải thiết lập một quy trình tố tụng phù hợp với các quy định mà luật hình thức đặt ra Những quy định này đưa ra nhằm đảm bảo sự công bằng trong xét xử và tính nghiêm minh của luật pháp trong cả quá trình tố tụng.[64]

Ở nước ta, Bộ luật tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý quy định các thủ tục được

áp dụng để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án, đặt ra những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, các trình tự tố tụng từ khi khởi kiện đến khi thụ lý, giải quyết vụ án; phân định thẩm quyền giải quyết vụ án của các Tòa án; quyền hạn trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền –nghĩa vụ của

cá nhân, tổ chức người tham gia tố tụng; quy định các nguyên tắc cơ bản về thi hành án…nhằm đảm bảo việc giải quyết các tranh chấp nhanh chóng, chính xác, công minh, đúng pháp luật

Trước năm 2004, thủ tục tố tụng được phân chia thành nhiều loại như tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng dân sự, các thủ tục này được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án Dân

sự 1989; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động 1996…Nhưng kể từ năm 2004, Bộ luật tố tụng dân sự ra đời đã thay thế toàn bộ những văn bản trên, tập trung tất cả các thủ tục trong một bộ luật duy nhất Đây thực sự là một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực lập pháp và công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta, phù hợp với xu thế phát triển chung cũng như tương thích với hệ thống Tòa án trong thời kỳ đổi mới

Năm 2015 tiếp tục đánh dấu một bước lớn trong cải cách tư pháp, lập pháp của nước ta Với việc ra đời Bộ luật tố tụng dân sự 2015, có hiệu lực từ ngày 01/ 6/

2016 các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự ngày càng chặt chẽ hơn, khắc phục những điểm chưa hoàn thiện của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004

1.3.2 Quy định của pháp luật nội dung áp dụng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

Luật nội dung quy định khung pháp lý, các quy định pháp luật nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của thể nhân và pháp nhân Luật nội dung cũng được biết

Trang 28

đến là một nguồn luật điều chỉnh quan hệ pháp luật giữa cá nhân với cá nhân hoặc giữa cá nhân với nhà nước, nhằm chỉ rõ quyền và trách nhiệm của mỗi bên.[64]

Để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, không chỉ sử dụng một

mà cùng lúc có thể phải áp dụng nhiều ngành luật nội dung, có quan hệ mật thiết với nhau như Bộ luật dân sự, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật các tổ chức tín dụng,…cũng như hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành

Tùy theo từng vụ việc cụ thể mà việc áp dụng pháp luật nội dung nào sẽ được lựa chọn để giải quyết Ví dụ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng thì chắc chắn phải sử dụng đến Luật các tổ chức tín dụng, các quy định của ngân hàng nhà nước

về vay và cho vay trong các tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp; các tranh chấp liên quan đến hoạt động thương mại đương nhiên phải áp dụng các quy định của Luật thương mại, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thương mại…

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

Quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án được thực hiện thông qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau, do vậy cũng chịu nhiều tác động trên nhiều mặt

1.4.1 Môi trường pháp lý

Theo quan điểm của TS Chu Hải Thanh – Phó giám đốc Học viện tư pháp,

trong bài viết “Môi trường pháp lý lành mạnh thì doanh nghiệp khỏe” đăng trên

Tamnhin.net ngày 10/ 6/ 2014 thì môi trường pháp lý có các yếu tố cấu thành: Thứ nhất là Lập pháp; Thứ hai hiểu và thực thi pháp luật; Thứ ba là hệ thống các cơ quan, tổ chức quản lý; Thứ tư là dịch vụ pháp lý

Hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án hiện nay chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các quy định pháp luật Trình tự thủ tục giải quyết được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, để giải quyết nội dung tranh chấp thì tùy thuộc từng quan hệ pháp luật sẽ có những ngành luật tương ứng để áp dụng giải quyết

Trang 29

Như vậy các quy định pháp luật nội dung, hình thức hay gọi chung là môi trường pháp lý nói chung tác động rất nhiều đến hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án Vì vậy để hoạt động này đạt hiệu quả cao, đòi hỏi pháp luật phải đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với thực tế, có tính dự báo và

có nội dung rõ ràng Một môi trường pháp lý hoàn hảo sẽ góp phần tạo điều kiện cho việc giải quyết của Tòa án được nhanh chóng, chính xác, đạt chất lượng cao; góp phần tích cực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp, mang lại nguồn lợi cho chính doanh nghiệp và người lao động nói riêng, đồng thời góp phần mang lại lợi ích lớn cho cộng đồng doanh nghiệp, tập thể lao động cũng như cho xã hội Đây chính là sự thể hiện vai trò quan trọng của hoạt động lập pháp

Ngoài ra, khi tiến hành giải quyết mỗi vụ án tranh chấp KDTM thì các bên đương sự có thể cung cấp cho tòa án hoặc tòa án thu thập các tài liệu chứng cứ đảm bảo đầy đủ, phản ánh chân thực những bất đồng, mâu thuẫn từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ Chỉ khi có đầy đủ các tài liệu này thì tòa án mới đánh giá đúng và chính xác được nội dung tranh chấp và phân xử đúng đắn, công bằng, khách quan Tuy nhiên, trên thực tế việc cung cấp chứng cứ của đương sự hoặc tòa án tự mình thu thập chứng cứ chưa thực sự đạt hiệu quả, do đó gây cản trở cho hoạt động giải quyết tranh chấp KDTM Các bên đương sự vì các lý do khác nhau đã cố tình che giấu các chứng cứ chân thực hoặc thậm chí trong nhiều trường hợp thực tế các bên đương sự còn cố tình tạo ra chứng cứ giả mạo nhằm che giấu sự thực, đánh lạc hướng cơ quan tòa án, dẫn đến nhiều phán quyết sai lầm của tòa án khiến cho vụ án không được đánh giá khách quan, gây mất niềm tin trong cộng đồng doanh nghiệp đối với phán quyết của tòa án Vấn đề này thể hiện yếu tố thứ hai được đề cập ở trên, đó chính là vấn đề hiểu biết pháp luật, thực thi pháp luật của bản thân các chủ thể trong quan hệ KDTM

1.4.2 Điều kiện cơ sở vật chất, chất lƣợng nguồn nhân lực

Trong hoạt động của Tòa án nói chung, điều kiện cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ trong nâng cao chất lượng giải quyết án, tạo hình ảnh tốt đối với các nhà kinh doanh khi lựa chọn Tòa án là một hình thức giải quyết

Trang 30

tranh chấp kinh doanh thương mại

Mặt khác, do tính chất đặc biệt, là cơ quan duy nhất trong bộ máy nhà nước, được nhân danh Nhà nước trong hoạt động của mình, do vậy để tạo nên sức mạnh quyền lực, tính nghiêm trang, uy nghi, đòi hỏi Tòa án phải được trang bị những cơ

sở vật chất tốt như cơ sở hạ tầng, trang thiết bị làm việc,…

Hiện nay trên thực tế nhiều tòa án cấp huyện trong cả nước còn chưa có trụ

sở làm việc hoặc trụ sở đã xuống cấp nghiêm trọng, trụ sở chật chội thiếu thốn trang thiết bị làm việc Kinh phí hoạt động eo hẹp do chi theo định mức nhà nước cấp, không có bất cứ nguồn thu nào; chế độ đối với cán bộ, thẩm phán, thư ký trong hệ thống tòa án chưa tương xứng với vị trí, trách nhiệm mà họ đảm nhiệm do vậy cũng làm ảnh hưởng phần nào đến hiệu quả công việc của hệ thống tòa án nói chung Trong khi đó hàng năm, số lượng các vụ án đều tăng làm cho công việc của Tòa án nhiều nơi rơi vào tình trạng quá tải

Về chất lượng nguồn nhân lực: Ở đây không chỉ đánh giá chất lượng của Thẩm phán, hội thẩm, thư ký cùng kiểm sát viên mà đánh giá rộng cả đối với đội ngũ luật sư, trợ giúp viên pháp lý cũng như những nhân sự làm trong các cơ quan,

tổ chức thực hiện công tác hỗ trợ cho Tòa án thực hiện nhiệm vụ giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Trên thực tế, trình độ của Thẩm phán, đặc biệt là Thẩm phán sơ cấp trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại còn nhiều hạn chế, chưa đồng đều giữa các vùng, các khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Do hệ thống Tòa án biên chế theo ngạch công chức, chịu sự điều chỉnh của luật cán bộ công chức thuộc biên chế nhà nước, do vậy chịu ảnh hưởng rất lớn

từ những tồn tại của xã hội trước, tư duy nặng nề, chậm thay đổi so với sự phát triển của kinh tế xã hội, do vậy cần thiết phải xây dựng, kiện toàn và bổ sung đội ngũ cán

bộ, Thẩm phán, nâng cao chất lượng hoạt động của Tòa án; xây dựng, đào tạo đội ngũ thẩm phán, thư ký, cán bộ Tòa án đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng cao trong hoạt động nghiệp vụ của Tòa án nói chung và trong lĩnh vực giải quyết án tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng

Trang 31

Trong quá trình tìm hiểu việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án, một điều thường hay xảy ra đó là các bản án, quyết định của tòa cấp sơ thẩm thường bị kháng cáo, kháng nghị, có một phần nguyên nhân là do Thẩm phán, thư ký chưa được đào tạo chuyên sâu về tranh chấp kinh doanh thương mại, chưa tạo tính chuyên nghiệp cho thẩm phán, thư ký Tại tỉnh Ninh Bình, duy nhất đến thời điểm này chỉ có Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình phân công công việc cho Thẩm phán, Thư ký theo hướng chuyên sâu, với việc phân nhóm Thẩm phán, Thư ký giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, với 3 thẩm phán và 01 lãnh đạo phụ trách Còn các huyện, thị xã, thành phố còn lại chưa áp dụng được cách phân chia công việc chuyên môn hóa như vậy

Song song với trình độ năng lực của Thẩm phán, thư ký, cán bộ Tòa án, sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại cũng rất lớn Đặc điểm của Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử phần lớn đều không được đào tạo chuyên sâu lĩnh vực pháp luật do vậy có nhiều hạn chế, trong quá trình xét xử, chưa thể hiện được hết vai trò của mình trong việc tham gia Hội đồng xét xử Mặt khác do thời gian tiếp xúc, nghiên cứu hồ sơ không nhiều thường chỉ 1 đến 2 buổi trước khi xét xử, do vậy không nắm rõ nội dung tranh chấp, dẫn đến chất lượng của các quan điểm đánh giá của cá nhân các Hội thẩm cũng bị hạn chế

Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, vai trò của luật sư, trợ giúp pháp lý ngày càng được đề cao Người dân nói chung đang có xu thế sử dụng nhiều hơn sự trợ giúp từ luật sư, trợ giúp pháp lý trong giải quyết các tranh chấp, đó

là một trong những thuận lợi trong việc giải quyết tranh chấp nói chung và lĩnh vực kinh doanh thương mại nói riêng Tuy nhiên một vấn đề khác phát sinh, đó là trình

độ của đội ngũ luật sư trong lĩnh vực tranh chấp kinh doanh thương mại hiện nay chưa cao, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay phần lớn luật sư hoạt động trực tiếp trên địa bàn đều là những cán bộ công chức trong các khối ngành tư pháp như Công

an, Tòa án, Viện kiểm sát…sau khi nghỉ chế độ tham gia hoạt động luật sư, do vậy thường tuổi cao, khả năng tiếp nhận những thông tin mới không kịp thời, vẫn bị ảnh hưởng bởi suy nghĩ cũ Do đó, hiệu quả hỗ trợ giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại chưa đạt được như mong muốn

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể trong các hoạt động kinh doanh thương mại Ngoài việc mang những đặc điểm chung cơ bản về tranh chấp nói chung, Tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng có những đặc điểm riêng cơ bản về tính chất, nội dung, chủ thể cũng như cách thức giải quyết tranh chấp không hoàn toàn giống các tranh chấp khác phát sinh trong đời sống dân sự … Có nhiều phương thức để giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại như Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài hay Tòa

án, với mỗi một phương thức đều có những ưu, nhược điểm và những hạn chế nhất định Ở Việt Nam, phương thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Tòa

án nhân dân được coi là phương thức tối ưu mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Việc giải quyết này dựa trên những quy định pháp luật về tố tụng là Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành như các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; đồng thời cũng áp dụng các quy định pháp luật nội dung, tùy theo từng quan hệ pháp luật tranh chấp

cụ thể như Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật các tổ chức tín dụng…Trên

cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tranh chấp kinh doanh thương mại cũng như pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Chương 1 này

để làm nền tảng đi sâu phân tích những vấn đề thực tiễn, thông qua các ví dụ thực tế được trình bày chi tiết trong Chương 2 của luận văn này

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ

NINH BÌNH

2.1 Khái quát về thành phố Ninh Bình và Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình

Thành phố Ninh Bình là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và du lịch của tỉnh Ninh Bình Thành phố Ninh Bình hiện là đô thị loại II, nằm cách thủ

đô Hà Nội 93 km về phía nam, tại đầu mối giao thông của 3 tuyến đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, Ninh Bình - Thanh Hóa - Vinh và Ninh Bình - Hải Phòng -

Hạ Long Thành phố cũng nằm ở vị trí giao điểm của quốc lộ 1A với quốc lộ 10 và Quốc lộ 38B đi qua các tỉnh vùng duyên hải Bắc Bộ Theo quy hoạch đô thị Ninh Bình, thành phố Ninh Bình đang được xây dựng trở thành một trung tâm dịch vụ,

du lịch và là đô thị đầu mối giao thông ở cửa ngõ của miền Bắc; diện tích thành phố hiện nay là 4.836,49 ha và 160.166 nhân khẩu (năm 2014), mật độ 3.312 người/km²

Tỷ lệ tăng dân số trung bình là 3,6%/năm Thành phố Ninh Bình gồm 14 đơn vị hành chính trực thuộc, 11 phường và 3 xã Với vị trí chính trị, địa lý và kinh tế thuận lợi, trong những năm qua các hoạt động phát triển kinh tế có rất nhiều điều kiện phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Ninh Bình luôn dẫn đầu toàn tỉnh, kinh tế xã hội ngày càng được nâng cao Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, các hoạt động kinh doanh trên địa bàn ngày càng tăng về số lượng, quy mô, do vậy cũng không tránh khỏi việc phát sinh ngày càng nhiều các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại [65]

Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình có vị trí thuận lợi, được đặt tại trung tâm Địa lí – Chính trị của cả tỉnh Với biên chế là 31 người, trong đó Thẩm phán trực tiếp tham gia công tác xét xử là 12; thư ký tòa án 12 người; ngoài ra để phù hợp với mô hình Tòa án cấp huyện đã được quy định trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đã được thành lập bộ phận văn phòng với chức năng nhiệm vụ theo quy định của Tòa án nhân dân tối cao, đồng thời Lãnh đạo tòa án thành phố nhìn nhận vấn đề chuyên môn hóa sâu đối với từng loại việc là

Trang 34

vô cùng quan trọng, do vậy đã phân công các thẩm phán, thư ký theo nhóm với nội dung công việc cụ thể của từng nhóm: Nhóm thẩm phán, thư ký chuyên sâu giải quyết án Dân sự, Hành chính, Kinh doanh thương mại; nhóm thẩm phán, thư ký chuyên sâu giải quyết án Hình sự; nhóm thẩm phán, thư ký chuyên sâu giải quyết án Hôn nhân gia đình

2.2 Thực trạng giải quyết án tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình

2.2.1 Tình hình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình

Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển tích cực của kinh tế, xã hội nói chung thì những tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế toàn cầu cũng ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế xã hội chung của nước ta Tỉnh Ninh Bình, thành phố Ninh Bình cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực đó, biểu hiện thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp tại Tòa án với tỷ lệ thụ lý, giải quyết án tranh chấp

về kinh doanh thương mại trong những năm gần đây luôn có chiều hướng nhiều hơn, đa dạng hơn về loại việc và phức tạp hơn về tính chất của tranh chấp Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đã thường xuyên nhận được sự quan tâm, chỉ đạo, giúp đỡ của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, cấp ủy và chính quyền địa phương Cán bộ Tòa án đã phát huy sức mạnh đoàn kết, hăng hái thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác trong những năm gần đây Số lượng vụ án giải quyết tăng lên, việc giải quyết của Toà án cũng đạt được tỷ lệ rất cao, đặc biệt trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Kết quả đó đã góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi, duy trì ổn định và phát triển kinh

tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Cụ thể:

- Năm 2012: Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình đã thụ lý tổng số 524 vụ, việc các loại, giải quyết 506 vụ, việc; đạt tỷ lệ giải quyết chung 96,6% Tổng số thụ

lý các loại án Kinh doanh – thương mại là 15 vụ, đã giải quyết 13/15 vụ, đạt 86,7%.[46]

Trang 35

- Năm 2013: Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình đã thụ lý tổng số 553 vụ, việc các loại, giải quyết 501 vụ, việc; đạt tỷ lệ giải quyết chung 91 % So với năm

2012, số thụ lý tăng 29 vụ Tổng số thụ lý các loại án Kinh doanh – thương mại là

lệ giải quyết chung 88,4 % Tổng số thụ lý các loại án Kinh doanh – thương mại là

34 vụ, đã giải quyết 27 vụ đạt 79% Tỷ lệ giải quyết án chắc chắn còn tăng lên do tháng 9 là tháng tổng kết công tác năm của hệ thống Tòa án

Trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2016, số vụ việc tranh chấp kinh doanh thương mại mà Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đã thụ lý là 160

vụ, tổng số vụ tranh chấp KDTM đã giải quyết là 132 vụ (chiếm tỷ lệ 82,5%) Trong tổng số 160 vụ việc đã thụ lý từ thời điểm thống kê 2012 đến 30/8/2016, dẫn đầu là loại việc tranh chấp đầu tư tài chính ngân hàng với 124 vụ (chiếm tỷ lệ 77,55%), tranh chấp mua bán hàng hóa 17 vụ (chiếm tỷ lệ 10,6%), tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua 5 vụ (chiếm tỷ lệ 3,1%), tranh chấp bảo hiểm 4 vụ (chiếm

tỷ lệ 2,5%), tranh chấp hợp đồng dịch vụ 2 vụ (chiếm tỷ lệ 1,25%), tranh chấp hợp đồng đại lý 2 vụ (chiếm tỷ lệ 1,25%), tranh chấp mua bán cổ phiếu 1 vụ (chiếm tỷ lệ 0,625%), tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa 1 vụ (chiếm tỷ lệ 0,625%), tranh chấp khác 4 vụ (chiếm tỷ lệ 2,5%) Có thể nhận thấy loại án tranh chấp kinh

Trang 36

doanh thương mại mà Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đang giải quyết chiếm

tỷ lệ đa số thuộc lĩnh vực đầu tư tài chính ngân hàng mà cụ thể là các tranh chấp về hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp Các loại tranh chấp khác mặc dù có xuất hiện nhưng không nhiều, chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong tổng số các vụ việc Điều này cũng dễ lý giải bởi lẽ mặc dù trong những năm gần đây kinh tế xã hội của Ninh Bình có những bước phát triển vượt bậc, từ đô thị loại III đã được nâng cấp lên đô thị loại II, tuy nhiên các ngành kinh tế phát triển chưa rộng, chưa phong phú, do vậy các tranh chấp phát sinh cũng không ngoài sự phát triển mở rộng đó

Theo những thông tin thực tế trên địa bàn thành phố Ninh Bình trong thời gian qua, tình hình kinh tế xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực hơn Tuy vậy, những tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế còn hiển hiện trong nền kinh tế của thành phố, thể hiện trong việc nhiều doanh nghiệp chưa giải quyết được những khó khăn, tồn tại do làm ăn thua lỗ, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Con số này mặc

dù chưa được công bố chính thức nhưng cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ Vì vậy, trong thời gian tới khả năng số lượng các tranh chấp kinh doanh thương mại sẽ còn tiếp tục tăng lên chứ không chỉ dừng lại ở con số như đã thống kê ở trên

2.2.2 Những thuận lợi cơ bản trong thực tiễn giải quyết tranh chấp Kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình

Như đã phân tích ở mục 2.1, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đóng trên địa bàn thành phố Ninh Bình, là đơn vị trung tâm của cả tỉnh về chính trị, hành chính và kinh tế, do vậy trong quá trình giải quyết các tranh chấp nói chung, tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng có rất nhiều điều kiện thuận lợi mà vị tri địa

lý mang lại

Thứ nhất: việc tập trung phần lớn các cơ quan chuyên môn của cả tỉnh, các

đơn vị trong khối ngành tư pháp, các cơ quan chính quyền có tính tập trung cao tại khu vực, đặc biệt rất gần Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, do vậy việc kết nối để giải quyết các vấn đề phát sinh có liên quan thường thuận tiện hơn rất nhiều so với các đơn vị huyện, thành phố xa Ví dụ, trong quá trình giải quyết án có những

Trang 37

trường hợp cần có ý kiến của Ủy ban thẩm phán tỉnh thì cán bộ Tòa án thành phố rất

dễ dàng để đi lại vì ở cùng trên địa bàn thành phố, với khoảng cách hơn 4km Hoặc trường hợp cần xác minh thu thập chứng cứ về lĩnh vực đất đai thì có thể trực tiếp làm việc tại Trung tâm lưu trữ của Sở tài nguyên môi trường để thu thập, không tốn kém thời gian đi lại vì quãng đường cũng chỉ khoảng 5 km

Thứ hai: Phần lớn Thẩm phán hiện đang công tác tại Tòa án nhân dân thành

phố Ninh Bình, đều là những người đã được lựa chọn kỹ với yêu cầu khắt khe hơn

và luôn là lực lượng nòng cốt, là những hạt nhân quy hoạch các chức danh lãnh đạo trong toàn tỉnh Với quan điểm hiệu quả và chất lượng công việc được đặt lên hàng đầu, trong những năm vừa qua, lãnh đạo Tòa án thành phố đã tách thành các tổ thẩm phán chuyên trách, mảng tranh chấp kinh doanh thương mại được ghép cùng với mảng tranh chấp dân sự để tạo tính chuyên môn hóa cao, các thẩm phán có nhiều điều kiện nghiên cứu chuyên sâu hơn về lĩnh vực mình giải quyết Ngoài việc sắp xếp hợp lý các vị trí công tác, cơ quan cũng tạo điều kiện để các thẩm phán, cán

bộ công chức trong đơn vị được học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, thể hiện bằng việc cơ quan đề xuất với Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đồng thời tạo điều kiện công việc để cán bộ, thẩm phán tham gia các lớp trung – cao cấp lý luận chính trị, cao học, cử nhân…, hiện tại trong cơ quan có 3 thạc sỹ,

3 người đang học và 1 đang trong quá trình bảo vệ luận văn thạc sỹ

Thứ ba: Sự phát triển của kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố góp phần

không nhỏ cho quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình Thể hiện thông qua việc các thương nhân, các doanh nghiệp và nhà kinh doanh nói chung đã tiếp cận với nền kinh tế thị trường, bản thân họ khi tham gia hoạt động kinh doanh cũng chủ động hơn trong việc tìm hiểu các quy định, các rủi ro pháp lý trong các mối quan hệ pháp lý, họ đánh giá được những lợi ích cũng như những thiệt hại trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại do vậy sẽ đưa ra những quyết định phù hợp, giải quyết tranh chấp thuận lợi hơn

Trang 38

2.2.3 Những khó khăn, hạn chế và vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình

Tại thời điểm này Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2011) sau nhiều năm thực hiện đã bộc lộ rõ nhiều vướng mắc, thiếu sót, trong khi Luật Tố tụng dân sự 2015 mới có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, vì vậy, thực tiễn áp dụng chưa nhiều thời gian Do đó, việc phân tích những, hạn chế và trong thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình dựa trên tinh thần áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2011)

Từ thực tiễn, giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án trên địa bàn thành phố Ninh Bình chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong điều kiện hiện nay Nguyên nhân xuất phát từ việc các chủ thể kinh tế ngại yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp bởi vì thời gian giải quyết dài, qua nhiều cấp xét xử ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh; xét xử công khai dẫn đến bí mật kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp không được đảm bảo; chi phí công sức bỏ

ra để tham gia tố tụng Tòa án hiều hơn so với hiệu quả đạt được Bên cạnh đó, các quy định pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa còn có những hạn chế nhất định ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết của Tòa án Trong phạm vi nghiên cứu luận văn của mình, tác giả xin đưa ra những vướng mắc và khó khăn trong giải quyết án tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án thành phố Ninh Bình, cụ thể như sau:

Thứ nhất: Khó khăn trong việc xác định thẩm quyền giải quyết TCKDTM của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS

Khoản 1 Điều 29 BLTTDS quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo hướng liệt kê 14 loại việc đồng thời đưa ra một số tiêu chí để phân biệt giữa tranh chấp được liệt kê tại khoản 1 Điều 29 như: Mua bán hàng hóa; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý;… Việc phân chia thẩm quyền dân sự theo loại việc về tranh chấp kinh doanh, thương mại

Trang 39

theo cách liệt kê như trên là chưa thoả đáng Tuy cách liệt kê này có ưu điểm là chỉ

ra các loại tranh chấp KDTM cụ thể, rõ ràng để áp dụng Tuy nhiên, phương pháp liệt kê lại có nhược điểm là không thể liệt kê được đầy đủ các loại tranh chấp kinh doanh, thương mại trong thực tiễn Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển trong xu thế hội nhập của nước ta thì tất yếu nảy sinh những loại tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại Vì vậy các nhà làm luật không thể dự liệu hết được những dạng tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể phát sinh trong tương lai Hệ quả tất yếu là chỉ những tranh chấp phát sinh trong 14 lĩnh vực kinh doanh, thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án BLTTDS quy định 14 loại việc kinh doanh, thương mại, trong khi đó quan hệ kinh doanh, thương mại còn có nhiều hoạt động khác như: Ủy thác mua bán hàng hóa, đại diện thương nhân, quảng cáo thương mại, giám định, đấu giá, đấu thầu nếu nhìn nhận dưới góc độ của Luật Thương mại thì đây đều là những hoạt động thương mại nhưng khi có các tranh chấp liên quan đến các hoạt động này xảy ra lại không được BLTTDS quy định rõ có phải là tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án không

Tương tự như vậy, việc liệt kê các tranh chấp về xây dựng, mua bán cổ phiếu, trái phiếu; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm, thăm dò, khai thác là chưa đầy đủ theo quy định của các luật chuyên ngành về các lĩnh vực này Ví dụ, cùng là các dịch vụ trung gian thương mại nhưng chỉ có dịch vụ đại diện và dịch vụ đại lý được quy định trong BLTTDS, dịch vụ ủy thác mua bán hàng hóa và dịch vụ môi giới thương mại lại không được quy định Các dịch vụ thương mại khác như gia công hàng hóa, dịch vụ logistic, các dịch vụ liên quan đến xúc tiến thương mại như quảng cáo, hội chợ, triển lãm… cũng chưa được quy định Điều này dẫn đến tình trạng, khi tranh chấp phát sinh từ việc ký kết và thực hiện các hợp đồng dịch vụ này thì phần căn cứ về thẩm quyền sẽ phải căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 29 BLTTDS về cung ứng dịch vụ hay khoản 4 Điều 29 về các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại

mà pháp luật có quy định?

Trang 40

Trên địa bàn thành phố Ninh Bình, trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến nay, số lượng vụ việc gặp phải khó khăn này tuy không nhiều, chỉ 4 vụ án trên tổng

số 160 vụ, tuy nhiên điều này lại gây nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình

giải quyết Ví dụ điển hình tại Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình:

Công ty A là công ty làm môi giới cho Công ty B mua hàng hóa là đồ thủ công mỹ nghệ tại Ninh Bình, hưởng hoa hồng, đồng thời cũng làm môi giới cho Doanh nghiệp tư nhân X bán sản phẩm đồ mỹ nghệ cho khách hàng và hưởng hoa hồng Công ty A và Doanh nghiệp X ký hợp đồng môi giới với nội dung Công ty A mua của Doanh nghiệp X 200 sản phẩm, tổng giá trị là 1.500.000.000đ bao gồm cả 5% tiền hoa hồng của Công ty A Thực hiện hợp đồng, Doanh nghiệp X đã làm thủ tục xuất lô hàng cho Công ty B Công ty B đã gửi cho Doanh nghiệp X số tiền 1.500.000.000 đồng, nhưng Doanh nghiệp X không thanh toán tiền hoa hồng cho Công ty A Công ty A khởi kiện yêu cầu Doanh nghiệp X phải thanh toán tiền hoa hồng là 5% giá trị lô hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng, tiền hoa hồng của Công

ty B chi cho Công ty A mà A đã gửi vào tài khoản của Doanh nghiệp X và tiền lãi suất của hai khoản trên tính từ thời điểm thanh toán

Nhận được đơn khởi kiện của Công ty A, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đã căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng về thẩm quyền để thụ lý và giải quyết vụ việc Vụ việc được xác định không thuộc một trong 14 loại việc được liệt kê trong Điều 29 BLTTDS, tuy nhiên căn cứ vào pháp luật chuyên ngành thì vụ việc nêu trên được xác định là tranh chấp kinh doanh, thương mại và thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân theo thủ tục TTDS

Phân tích vụ việc này cho thấy, công ty A được xác định làm trung gian cho mối quan hệ mua bán giữa công ty B và doanh nghiệp X, và công ty A có thỏa thuận với công ty B và doanh nghiệp X về việc được hưởng hoa hồng từ việc làm trung gian của mình Đối chiếu quan hệ này phù hợp với quy định tại Luật thương mại, thì quan hệ giữa công ty A với công ty B và doanh nghiệp X là quan hệ thuộc các hoạt động trung gian thương mại, mà cụ thể đó là hoạt động môi giới thương

Ngày đăng: 22/03/2018, 18:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm