Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt được vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại yếu kém ảnh hưởng đến quyền dân chủ của công dân, tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai hiện nay vẫn chưa có chi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
TÊN ĐỀ TÀI Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
từ thực tiễn tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LƯỜNG TIẾN QUYNH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
TÊN ĐỀ TÀI
Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
từ thực tiễn tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN LƯỜNG TIẾN QUYNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lường Tiến Quynh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo Khoa sau đại học - Viện Đại học mở Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Mộc Châu, Thanh tra huyện Mộc Châu, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mộc Châu, đã giúp đỡ, tạo điều kiện và cung cấp những số liệu, tài liệu cần thiết để nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Phương đã dành nhiều thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh bản Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích
lệ, sẻ chia, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong cuộc sống cũng như trong quá trình học tập, nghiên cứu!
Hà Nội, ngày 05 tháng 9 năm 2016
Tác giả Luận văn: Lường Tiến Quynh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Mở đầu ……… ……… 1
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO ĐẤT ĐAI 1.1 Một số lý luận về khiếu nại, tố cáo……….… 8
1.2 Quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai 11
1.3 Kết luận chương I……… 43
Chương II: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYÊN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA 2.1 Khái quát về tình hình quản lý và sử dụng đất, khiếu nại tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La ……… 44
2.2 Đánh giá thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai trên địa bàn huyện Mộc Châu.……… 69
2.3 Kết luận chương II……… ……… 81
Chương III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA 3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai ……….……… 82
3.2 Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ……… 92
3.3 Kết luận chương III………… ……… 98
Kết luận……… …… 100
Danh mục tài liệu tham khảo……….………….……… 102
Trang 6HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
CNQSD: Chứng nhận quyền sử dụng
KN, TC: Khiếu nại, tố cáo
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại, tố cáo về đất đai là một hiện tượng xã hội gắn liền với lịch sử ra đời của Nhà nước và pháp luật Trong tiến trình phát triển đó, tùy mức độ khác nhau nhưng Nhà nước luôn là chủ thể có nghĩa vụ tiếp công dân và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân
Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền dân sự - chính trị cơ bản của công dân, có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống các quyền cơ bản của công dân Đảm bảo cho công dân thực hiện quyền này chính là hình thức chủ yếu để nhân dân trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội Sau khi giành chính quyền, quyền khiếu nại,
tố cáo của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Nhà nước ta Điều này thể hiện rõ nguyên tắc: “Quyền lực nhân dân” trong công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện hiện nay do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo Đó chính là phương hướng, mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đang nỗ lực hướng tới Không thể có dân chủ, không thể có công bằng thật sự nếu như không thường xuyên quan tâm mở rộng sự tham gia của nhân dân vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
Trong thời gian qua, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta từng bước phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng lên rõ rệt Quyền dân chủ của nhân dân không ngừng được phát huy Đặc biệt sự mở rộng dân chủ trong Đảng, trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội đã tạo ra bầu không khí dân chủ thực sự trong các tầng lớp xã hội, mở ra con đường cho nhân dân lao động vươn tới mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Một trong những vấn đề bức xúc mà các cấp, các ngành tập trung giải quyết
có hiệu quả các khiếu nại, tố cáo của công dân Trong thời gian qua các cấp, các ngành đã tập trung chỉ đạo và tổ chức tiếp công dân, xem xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân và đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, nhiều vụ việc khiếu
Trang 8nại, tố cáo của công dân đã được giải quyết, xem xét kịp thời, đúng chính sách, pháp luật, qua đó góp phần vào việc duy trì trật tự, kỷ cương, pháp luật, giữ vững sự ổn định an ninh chính trị - xã hội của Đất nước
Cùng với những thành tựu đạt được về kinh tế, xã hội, cả nước và tỉnh Sơn
La nói chung, huyện Mộc Châu nói riêng đã có nhiều đổi mới, từng bước hoàn thiện
cơ chế chính sách, pháp luật để tổ chức thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo của công dân nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của Nhà nước được đảm bảo, pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm minh, giữ vững lòng tin của dân đối với Đảng, Nhà nước
Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt được vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại yếu kém ảnh hưởng đến quyền dân chủ của công dân, tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai hiện nay vẫn chưa có chiều hướng giảm, số người đi khiếu nại, tố cáovề lĩnh vực đất đai còn nhiều, tính chất khiếu nại, tố cáo ngày càng gay gắt và phức tạp, nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo đất đai tồn đọng và vượt lên cấp trên; công tác tiếp công dân ở địa phương còn là hình thức; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai còn chậm, thiếu chặt chẽ, thiếu đồng bộ; một số vụ việc đã được giải quyết đúng chính sách, pháp luật nhưng không được tổ chức thi hành; tình trạng vi phạm pháp luật còn phổ biến
Nguyên nhân của tình trạng trên là do: Một mặt công dân chưa hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình trong khiếu nại, tố cáo Mặt khác các cấp các ngành chưa tuân thủ đúng thẩm quyền, trách nhiệm của mình theo đúng quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất hiện nay là
hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo, Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn chưa đảm bảo tính tính toàn diện, chặt chẽ và đầy đủ Đó là những vấn đề cần được nghiên cứu và giải quyết một cách khoa học và phù hợp với thực tiễn hiện nay
Trang 9Vì những lý do đó, tôi chọn đề tài: “Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh
vực đất đai từ thực tiễn tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La” làm chuyên đề tốt nghiệp
thạc sỹ Luật kinh tế
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử hình thành và phát triển nhân loại nói chung và lịch sử phát triển dân tộc Việt Nam nói riêng, các nhà kinh điển triết học, chính trị học và các nhà khoa học xã hội tuy đứng trên những quan điểm khác nhau để nghiên cứu về quyền con người, đó là quyền được sống, được tự do, bình đẳng, dân chủ cho đến khi Nhà nước xuất hiện cùng với pháp luật được ra đời Quyền con người được ghi nhận trong các văn bản pháp luật, trong các tuyên bố của Cách mạng tư sản phương Tây Năm 1689, Nghị viện Anh đã thông qua Luật về con người Hiến pháp năm 1787 của Hoa Kỳ đã liệt kê danh mục các quyền của con người: Quyền tự do báo chí; quyền bất khả xâm phạm về thân thể và chổ ở; cấm bắt người, khám người trái phép; quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng Vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII quyền con người được coi là quyền
tự nhiên Đầu thế kỷ XX, quyền con người được quốc tế hoá, được ghi nhận bằng văn bản pháp luật quốc tế Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tuyên ngôn về quyền con người
Trong chế độ Xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta, quyền con người nói chung
và quyền khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng không những được Nhà nước ghi nhận, mở rộng mà Nhà nước còn tạo điều kiện để nhân dân dễ dàng thực hiện,
từ việc quy định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đến việc nghiên cứu thiết lập cơ chế tái phân cấp hành chính, mở ra cho người dân có khả năng khởi kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan công quyền tại Toà án Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân ngày càng được đảm bảo thực hiện, quá trình giải quyết ngày càng công khai, dân chủ Tuy nhiên, những gì chúng ta đang cố gắng thực hiện và kết quả đạt được như mong muốn vẫn còn là một khoảng cách, số lượng các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và phản ánh ngày một tăng Việc giải quyết chưa đat hiệu quả
Trang 10mong muốn là điều đáng phải suy nghĩ Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quan Đó là tình trạng thiếu trách nhiệm trong hoạt động công vụ nhất là các lĩnh vực đụng chạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Phương thức giải quyết khiếu kiện mà chúng ta đang áp dụng thực ra chưa thích hợp và hiệu quả, làm cho
vụ việc kéo dài, không có điểm dừng là thực trạng đáng báo động hiện nay
Đề cao trách nhiệm và thái độ phục vụ của nhân dân đang là đòi hỏi bức bách của quá trình cải cách nền hành chính và hoàn thiện bộ máy nhà nước theo định hướng pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Đứng trên phương diện đó thì cần phải thấy rằng: Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là trách nhiệm của toàn bộ bộ máy Nhà nước, thậm chỉ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng
Như vậy, quyền khiếu nại, tố cáo liên quan chặt chẽ đến các quyền và nghĩa
vụ khác của công dân, chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các quyền cơ bản của công dân trên tất cả các lĩnh vực đời sống chính trị xã hội Công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là điều kiện để các quyền khác được ghi nhận không bị xâm hại, hay nói một cách khác, bất kỳ một vi phạm nào đối với quyền và nghĩa vụ của công dân đều có thể dẫn đến việc công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình Trên cơ sở đó, việc xác định một cơ chế và đưa ra những giải pháp cụ thể nào đó nhằm giải quyết có hiệu quả những khiếu nại, tố cáo sẽ là điều kiện để công dân thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm
Ngay từ khi mới độc lập, Nhà nước ta đã ghi nhận việc khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 và Hiến pháp 2012 tiếp tục ghi nhận và khẳng định việc khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, đồng thời Nhà nước cũng tạo mọi điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
Trong các năm qua, vấn đề khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai đã được nhiều tác giả nghiên cứu Thời gian qua đã có các công trình nghiên cứu, sách báo pháp lý và các bài viết liên quan đến vấn đề này dưới góc độ lý luận và thực tiễn
Trang 11như: Sách chuyên khảo, Tiến sỹ Doãn Hồng Nhung, Kỹ năng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam (2014), nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội; Sách chuyên khảo, Tiến sỹ Doãn Hồng Nhung, Pháp luật về thanh tra
và xử lý vi phạm pháp luật đất đai ở Việt Nam (2013), nhà xuất bản Xây dựng; Sách chuyên khảo, Viện khoa học thanh tra, Thanh tra Chính phủ, Khiếu nại, tố cáo hành chình và giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính ở Việt Nam hiện nay (2012); Luận văn thạc sỹ, Trần Ngân Hà, Pháp luật về giải quyết khiếu nại tố cáo ở Việt Nam (2013), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sỹ, Nguyễn Thị Hồng Thơm, Hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước ở Ninh Bình hiện nay (2010), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sỹ, Phạm Anh Tuấn, Cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam hiện nay và vấn đề hoàn thiện (2011), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Chuyên đề tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai và các bài viết liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo
về lĩnh vực đất đai trên các trang báo: Bài viết “Giải quyết khiếu nại, tố cáo phải biến nhận thức thành hành động” trên trang www.thanhtra.gov.vn; bài viết “ Cần đổi mới mô hình giải quyết khiếu nại, tố cáo trên trang www.thanhtravietnam.vn; bài viết “Giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị trên trang www.noichinh.com; bài viết “ Khiếu nại,tố cáo về lĩnh vực đất đai vẫn tăng” trên trang www.dangcongsan.vn đã thể hiện sự quan tâm của các cấp chính quyền, của xã hội đến vấn đề nóng bỏng này Tuy nhiên, kể từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành thì chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào
đề cập đến vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại địa bàn huyện Mộc
Châu, tỉnh Sơn La
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu và phân tích cơ sở lý luận của giải quyết khiếu nại, tố cáo Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng công tác tiếp công dân, tình hình khiếu nại, tố cáo
Trang 12và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở địa phương, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở
huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo
về đất đai ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
4 Phạm vi nghiên cứu
Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai của công dân là vấn đề rộng và phức tạp gắn liền với những bước phát triển kinh tế và biến động xã hội, vì vậy, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản, rút ra một
số bài học kinh nghiệm và đặc biệt trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của công dân ở huyện
Mộc Châu, tỉnh Sơn La Thời gian nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2015
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La với mục đích đưa ra các luận cứ khoa học và những quan điểm, giải pháp lý luận, thực tiễn nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chínhcũng như tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về giải quyết khiếu nại hành chính
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập về giải quyết khiếu nại hành chính
Trang 13Luận văn cũng có thể phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn giải quyết khiếu nại hành chính; giúp cán bộ, công chức và Nhân dân nâng cao nhận thức về giải quyết khiếu nại hành chính để từ đó có hành xử đúng đắn trong khiếu
nại hành chính và hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Tiếp cận, nghiên cứu đề tài trên phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác - Lê Nin
Phương pháp cụ thể: Tiến hành khảo sát thực tế các đối tượng nghiên cứu
để thu thập thông tin, số liệu, tài liệu… nhằm thống kê, tổng hợp dữ liệu, số liệu để làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng khiếu nại, tố cáo và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo ở từng cơ quan, đơn vị
Tổng hợp nguồn dữ liệu đã có của các năm trước, sử dụng các phương pháp như xác xuất thống kê, lô gic học…để phân tích những vấn đề nghiên cứu, đồng thời sử dụng phương pháp diễn giải, quy nạp để hệ thống hóa, đánh giá, nhận định,
luận giải và đưa ra được kết luận, đề xuất giải quyết các vấn đề nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO ĐẤT ĐAI
1.1 Một số vấn đề lý luận về khiếu nại, tố cáo
1.1.1 Khái niệm khiếu nại, tố cáo
Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận tại điều 30 của Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Đây là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội như là một phản ứng của con người trước một quyết định, một hành vi nào đó mà người khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó là không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Dưới góc độ pháp
lý, khiếu nại được hiểu là: “việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (khoản 1, điều 2, Luật khiếu nại năm 2011) Từ khái niệm có thể thấy rằng khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc
là đề nghị của cán bộ, công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Cùng với khiếu nại, quyền tố cáo của công dân đã được tiếp tục ghi nhận trong Hiến pháp (cũng tại điều 30), Luật tố cáo và nhiều văn bản pháp luật khác Khái niệm tố cáo có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ pháp
lý, tố cáo được hiểu: “là việc công dân theo thủ tục báo cho cơ quan, tổ chức, cá
Trang 15nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức,
cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” (khoản 1, điều 2, Luật tố cáo năm 2011) Như vậy, công dân dù bị ảnh hưởng trực tiếp hay không bị ảnh hưởng bởi hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của việc tố cáo đều có quyền thực hiện việc
tố cáo khi biết được có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội Công dân có thể cung cấp các thông tin về hành vi vi phạm pháp luật cho các cơ quan Nhà nước, nhưng khác với khiếu nại ở chỗ là tố cáo luôn được gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo một trình tự thủ tục do pháp luật quy định và người tố cáo luôn là chủ thể xác định, có những quyền, nghĩa vụ được quy định trong Luật khiếu nại, Luật tố cáo Khi công dân thực hiện quyền tố cáo thì giữa họ với cơ quan Nhà nước sẽ phát sinh những quan hệ pháp luật nhất định và họ phải chịu trách nhiệm về những thông tin mà mình cung cấp Nội dung tố cáo của công dân rất đa dạng và phức tạp; có tố cáo về những việc làm trái pháp luật của cán bộ, công chức trong bộ máy Nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ; có những tố cáo về những sai phạm trong công tác quản lý của các cơ quan, trong đó có cơ quan quản lý hành chính Nhà nước Ngoài ra, công dân có thể tố cáo các hành vi vi phạm về đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức… Khi thực hiện quyền tố cáo là công dân đã thực hiện quyền làm chủ của mình trong việc xây dựng và củng cố bộ máy Nhà nước làm cho bộ máy Nhà nước ngày càng phát huy hiệu quả trong quản lý Nhà nước, quản lý
xã hội; hay nói rõ hơn thực hiện quyền tố cáo chính là việc tỏ rõ trách nhiệm của công dân không chỉ trong việc giám sát hoạt động quản lý của Nhà nước để xây dựng bộ máy Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh mà còn đối với cả việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước để đây thực sự là những “người đại biểu của nhân dân”, góp phần ngăn chặn, tiến tới loại trừ những hành vi quan liêu, hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu quần chúng của một bộ phận cán bộ công chức Nhà nước
1.1.2 So sánh khiếu nại, tố cáo
Trang 16Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện Quá trình phát triển của pháp luật và do những đòi hỏi của thực tiễn mà khiếu nại và tố cáo dần dần có sự phân biệt, nhất là kể từ khi ban hành pháp lệnh về khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 và qua một thời gian đã dẫn đến việc xuất hiện hai đạo luật: Luật khiếu nại và Luật tố cáo riêng biệt vào năm 2011 Khiếu nại và tố cáo đều là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, là biện pháp ngăn chặn và loại trừ vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cá nhân, tổ chức và Nhà nước đồng thời đây cũng là phương tiện pháp lý thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Người khiếu nại và người tố cáo đều phải có nghĩa vụ “trình bày trung thực về nội dung sự việc” Do vậy, việc phân định giữa khiếu nại và tố cáo là công việc không hề đơn giản ngay cả đối với những người thường xuyên phải
xử lý đơn thư hay các vụ việc nhận được Sự phức tạp có thể do nhiều nguyên nhân:
Do quy định của pháp luật không thật rõ ràng; do sự lẫn lộn giữa khiếu nại và tố cáo, vô tình hay cố tình, của người đưa đơn
Chính vì khiếu nại và tố cáo không giống nhau cho nên Pháp lệnh giải quyết khiếu nại, tố cáo, Luật khiếu nại, tố cáo trước đây và Luật khiếu nại, Luật tố cáo hiện hành đã quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo khác với thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại Tuy nhiên, điểm khác nhau cơ bản giữa
tố cáo và khiếu nại là:
Về chủ thể: Chủ thể thực hiện quyền tố cáo theo quy định trong Luật tố cáo chỉ là công dân Như vậy, khác với khiếu nại, chủ thể khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức đều có quyền khiếu nại Việc thực hiện quyền tố cáo chỉ quy định cho đối tượng là cá nhân nhằm cá thể hóa trách nhiệm của người tố cáo, nếu có hành vi
cố ý tố cáo sai sự thật thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật
Về đối tượng: Đối tượng bị khiếu nại gồm quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan hành chính Nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức,
Trang 17còn đối tượng của tố cáo rộng hơn, bao gồm mọi hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ
cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Bao gồm, hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi vi phạm pháp luật về quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực
Về mục đích: Về cơ bản, mục đích của tố cáo là bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, trong khi đó khiếu nại nhằm bảo vệ hoặc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp nhằm bảo vệ quyền lợi của chính bản thân người tố cáo 1
1.2 Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
1.2.1 Khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
1.2.1.1 Khái niệm khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Khiếu nại về đất đai là việc công dân, cơ quan, tổ chức theo thủ tục do Luật khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.2
Như vậy, khiếu nại về đất đai là một khái niệm dùng để chỉ việc khiếu nại của các cá nhân hoặc tổ nhằm hướng tới lợi ích của họ trong lĩnh vực đất đai
Tố cáo về đất đai là việc công dân theo thủ tục do luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật đất đai của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.3
1
Viện khoa học Thanh tra, Thanh tra Chính phủ (2012), Khiếu nai, tố cáo hành chính và giải quyết khiếu nại,
tố cáo hành chính ở Việt Nam hiện nay
2 http://www.hoidapluatdatdai.com/2014/09/quyen-khieu-naito-cao-ve-at-ai-phan-1.html
3 http://www.hoidapluatdatdai.com/2014/09/quyen-khieu-naito-cao-ve-at-ai-phan-1.html
Trang 18Ví dụ:
- Uỷ ban nhân dân huyện giao đất không đúng thẩm quyền
- Người sử dụng đất sử dụng sai mục đích, huỷ hoại đất đai
Tóm lại, khiếu nại, tố cáo về đất đai là việc công dân (cơ quan, tổ chức) đê nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét kết luận vê nội dung tố cáo hoặc xem xét lại những quyết định hành chính, hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng những hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
1.2.1.2 Đặc điểm của khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
- Khiếu nại, tố cáo là những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp Việc Hiến pháp ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo của công dân cho thấy
vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của quyền năng pháp lý này Xét trên phương diện
lý thuyết thì thực hiện khiếu nại, tố cáo chính là phương thức quan trọng để công dân, cơ quan, tổ chức bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể và các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Thông qua việc sử dụng quyền khiếu nại, quyền tố cáo mà các quyền cơ bản khác như: quyền được học hành, quyền tự do tín ngưỡng, quyền bầu cử sẽ được bảo đảm và thực hiện Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết hiệu quả các khiếu nại, tố cáo nên Đảng và Nhà nước
ta luôn quan tâm tới công tác này Những năm qua, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã đề cập đến việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo Trên cơ sở
đó, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo Quyền khiếu nại, tố cáo cũng là một quyền dân chủ cơ bản của người sử dụng đất bởi lẽ Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Hơn nữa, đất đai ở nước ta thuộc sử hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu, thay mặt nhân dân thực hiện hoạt động quản lý đất đai để đảm bảo cho đất đai được
sử dụng hợp lý, phục vụ cho lợi ích của chủ sở hữu đích thực là toàn dân, cũng như phục vụ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi người sử dụng đất Bởi vậy, bất kỳ
cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khi có đủ căn cứ đều có quyền khiếu nại, tố cáo những
Trang 19gì mà mình cho là trái pháp luật nói chung, pháp luật đất đai nói riêng, xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác và của toàn xã hội
Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực hành chính, chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, và lĩnh vực tự do của cá nhân Quyền này được đảm bảo bằng nghĩa vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và những người có chức vụ
- Khiếu nại, tố cáo cùng có căn cứ là sự vi phạm pháp luật Đó là các quyết định, hành vi hành chính của các cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền hoặc bất
kỳ hành vi của bất kỳ cá nhân tổ chức, cơ quan nào trái hoặc vi phạm pháp luật đất đai, xâm phạm hoặc đe doạ xâm phạm tới các quyền và lợi ích hợp pháp của người
sử dụng đất cũng như của toàn xã hội
Khi thực hiện khiếu nại, tố cáo người khiếu nại, tố cáo đều hướng tới mục đích là chấm dứt những hành vi vi phạm, trái pháp luật ấy; yêu cầu phục hồi các quyền và lợi ích bị xâm hại, bồi thường thiệt hại về vật chất, danh dự do những hành
vi đó gây ra, xử lý đúng pháp luật các cá nhân, tổ chức đã vi phạm, góp phần củng
cố pháp chế xã hội chủ nghĩa và lập lại kỷ cương xã hội
- Nội dung của khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai rất phong phú và đa dạng Các hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm rất nhiều nội dung: ban hành các văn bản qui phạm hành chính về quản lý, sử dụng đất đai, và tổ chức thực hiện văn bản đó; xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất; quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quản lý giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; quản lý tài chính về đất đai…Chính vì thế mà nội dung của khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai cũng rất phong phú và đa dạng
- Khi xảy ra khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của người sử dụng đất và hoạt động quản lý đất đai của Nhà nước Khi khiếu
Trang 20nại, tố cáo xảy ra, bản thân người sử dụng đất không thể thực hiện được các quyền lợi của mình đối với đất đai, không thực hiện được các nghĩa vụ đối với Nhà nước Còn cơ quan Nhà nước sẽ khó khăn trong hoạt động quản lý Nhà nước của mình về đất đai, vì việc thực thi các quyết định, hành vi hành chính về đất đai bị đình trệ
Về phương diện kinh tế, khi có khiếu nại, tố cáo, các hoạt động kinh doanh, sản xuất liên quan tới đất đai sẽ bị ngừng trệ Không những vậy, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai thường kéo dài gây ra những thiệt hại không nhỏ về của cải vật chất cho cả người sử dụng đất cũng như cho toàn xã hội
Về mặt chính trị xã hội, khiếu nại, tố cáo xảy ra có tác động không nhỏ tới tâm lý, tinh thần của nhân dân, gây mất ổn định trong các mối quan hệ xã hội, nhất
là các mối quan hệ xã hội giữa cơ quan Nhà nước với người sử dụng đất Không những vậy, khiếu nại, tố cáo xảy ra, nếu không được giải quyết đúng đắn, kịp thời, triệt để còn gây mất niềm tin trong không ít bộ phận nhân dân, làm cho những chính sách, đường lối của Nhà nước không được thực hiện một cách triệt để
Bởi vậy, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm góp phần giữ vững trật tự xã hội và mang lại công bằng cho mỗi người dân
Giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo về đất đai còn góp phần bảo đảm cho pháp luật đất đai được chấp hành nghiêm chỉnh, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường hiệu quả của công tác quản lý đất đai
1.2.1.3 Phân loại khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Phân loại đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được tiến hành theo quy định tại Thông tư 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh như sau:
Thứ nhất, phân loại theo nội dung đơn, bao gồm:
- Đơn khiếu nại
- Đơn tố cáo
Trang 21- Đơn kiến nghị, phản ánh
- Đơn có nhiều nội dung khác nhau
Thứ hai, phân loại theo điều kiện xử lý, bao gồm đơn đủ điều kiện xử lý, đơn không đủ điều kiện xử lý
- Đơn đủ điều kiện xử lý là đơn đáp ứng các yêu cầu sau đây:
+ Đơn dùng chữ viết là tiếng việt và được người khiếu nại, người tố cáo, người kiến nghị, phản ánh ghi rõ ngày, tháng, năm viết đơn; họ, tên, địa chỉ, chữ ký hoặc điểm chỉ của người viết đơn
+ Đơn khiếu nại phải ghi rõ tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân
bị khiếu nại, nội dung, lý do khiếu nại và yêu cầu của người khiếu nại
+ Đơn tố cáo phải ghi rõ nội dung tố cáo; cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị
tố cáo, hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo
+ Đơn kiến nghị, phản ánh phải ghi rõ nội dung kiến nghị, phản ánh
+ Đơn chưa được cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận đơn xử lý theo quy định của pháp luật hoặc đã được xử lý nhưng người khiếu nại, người tố cáo được quyền khiếu nại, tố cáo tiếp theo quy định của pháp luật
- Đơn không đủ điều kiện xử lý:
+ Là đơn không đáp ứng các yêu cầu tại điểm a, khoản 2, điều 6, Thông tư 07/2014/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ
+ Đơn đã được gửi cho nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong đó đã gửi đến đúng cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc đúng người có thẩm quyền giải quyết + Đơn đã được hướng dẫn một lần về cùng nội dung
Thứ ba, phân loại theo thẩm quyền giải quyết:
- Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị
- Đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị
Trang 22Thứ tư, phân loại đơn theo số lượng người khiếu nại, người tố cáo, người kiến nghị, phản ánh:
- Đơn có họ, tên, chữ ký của một người
- Đơn có họ, tên, chữ ký của nhiều người (từ 05 người trở lên)
Thứ năm, phân loại đơn theo giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn:
- Đơn có kèm theo giấy tờ, tài liệu gốc
- Đơn không kèm theo giấy tờ, tài liệu gốc
Thứ sáu, phân loại theo thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị
- Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính Nhà nước (bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ; Ủy ban nhân dân các cấp và (cơ quan, tổ chức trực thuộc Ủy ban nhân dân các cấp hoặc của cơ quan hành chính khác)
- Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan dân cử, gồm đơn thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; các Ban của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Hội đồng nhân dân các cấp và các ban của Hội đồng nhân dân các cấp
- Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tiến hành tố tụng, thi hành án; đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo
- Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của đơn vị sự nghiệp công lập
- Đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của doanh nghiệp Nhà nước
Trong phạm vi của bài viết, tác giả tiến hành phân loại khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai theo nội dung đơn khiếu nại, tố cáo đất đai
* Phân loại khiếu nại trong lĩnh vực đất đai:
Trang 23Dựa trên thực trạng khiếu nại trong lĩnh vực đất đai của nước ta hiện nay, có thể chia khiếu nại thành 4 loại chính là:
Thứ nhất, là khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ tái định cư
Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội đất nước, Nhà nước đã tiến hành thu hồi đất, giải phóng mặt bằng phục vụ cho các dự án phát triển Tuy nhiên vấn đề bồi thường và hỗ trợ và tiến hành tái định cư cho những diện bị thu hồi đất ở nhiều địa phương gặp không ít khó khăn, vướng mắc Một số dự án chưa có khu tái định cư hoặc chưa giải quyết tái định cư đã quyết định thu hồi đất ở Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường không đủ để mua nhà ở mới tại khu tái định
cư Giá đất bồi thường thấp hơn giá đất cùng loại trên thị trường, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị, khu dân cư nông thôn Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để nhận chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp tương tự hoặc không đủ để nhận chuyển nhượng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp để chuyển sang làm ngành nghề khác Nhìn chung các địa phương chưa coi trọng việc lập khu tái định cư chung cho các dự án trên cùng địa bàn, một số khu tái định cư đã được lập nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, giá nhà ở tại khu tái định cư còn tính quá cao nên tiền nhận bồi thường không đủ trả cho nhà ở tại khu tái định cư Các quy định của pháp luật về đất đai để giải quyết vấn đề tái định cư đã khá đầy đủ nhưng các địa phương thực hiện chưa tốt, thậm chí một số địa phương chưa quan tâm giải quyết nhiệm vụ này dẫn đến tình trạng khiếu nại kéo dài
Thứ hai, là khiếu nại về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đây là dạng khiếu nại rất phổ biến hiện nay Dạng khiếu nại này phát sinh một phần từ sai sót của cơ quan có thẩm quyền, như: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai sót về tên chủ sử dụng, sơ đồ thửa đất, diện tích… Có những trường hợp, không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có lý do chính đáng hoặc lý do không rõ ràng Các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết lại không giải thích rõ cho dân hiểu lý do tại sao không cấp giấy Quá trình giải quyết
Trang 24hồ sơ diễn ra chậm, gây phiền hà, sách nhiễu… gây khó khăn cho người sử dụng đất Một nguyên nhân khác là do quy hoạch treo hoặc do người dân không chấp nhận dù lý do không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chính đáng…
Thứ ba, là khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế
độ quản lý, sử dụng đất đai
Nội dung khiếu nại này cũng có nhiều dạng Một số bộ phận người dân không nắm rõ về Luật đất đai và Luật khiếu nại, tố cáo nên phát sinh tình trạng vi phạm pháp luật hoặc các trường hợp lấn chiếm, vi phạm quy tắc xây dựng Một số người mặc dù khá am hiểu pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, khi bị phát hiện và xử phạt thì ngoan cố khiếu nại Bên cạnh đó cũng có phần trách nhiệm của các cơ quan
có thẩm quyền trong quá trình giải quyết, như: Ra quyết định xử phạt sai đối tượng,
bị nhầm lẫn, sai tên chủ sử dụng; việc thi hành quyết định xử phạt có sai sót hoặc sai pháp luật; việc ra quyết định không đúng căn cứ pháp luật; việc ra quyết định quá nhẹ hoặc quá nặng (về mức phạt hoặc hình thức phạt) hoặc thiếu trách nhiệm, thiếu khách quan
Thứ tư, là khiếu nại việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan Nhà nước
Khiếu nại trong lĩnh vực này cũng rất phức tạp và đa dạng, như:
- Khiếu nại việc giải quyết tranh chấp đòi lại đất cũ:
+ Đòi lại đất, tài sản của dòng họ, của người thân trong các giai đoạn khác nhau, qua các cuộc điều chỉnh đã giao cho người khác sử dụng
+ Đòi lại đất cũ do trước kia thực hiện chính sách "nhường cơm sẻ áo” của Nhà nước trong những năm 1981 - 1986 (đã nhường đất cho người khác sử dụng nay họ đòi lại)
+ Đòi lại đất khi thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp, theo mô hình sản xuất tập thể quản lý tập trung
Trang 25- Khiếu nại việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, thừa kế tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất
- Khiếu nại việc giải quyết tranh chấp ranh giới sử dụng đất
- Khiếu nại việc giải quyết tranh chấp nhà đất do đã cho mượn, cho thuê, cho
ở nhờ
- Khiếu nại việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất
- Khiếu nại việc giải quyết tranh địa giới hành chính
Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa 2 tỉnh, 2 huyện, 2 xã với nhau tập trung ở những nơi có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, bên cạnh những vị trí dọc theo triền sông, những vùng có địa giới không rõ ràng, không
có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng Các tranh chấp có thể diễn ra ở những nơi có tài nguyên thiên nhiên quý, hiếm, nơi có nguồn lâm thổ sản có giá trị lớn Khi Nhà nước tiến hành phân tách các đơn vị hành chính tỉnh, huyện, thị xã, xã mới thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính diễn ra ở nhiều địa phương trên cả nước v.v…
* Phân loại tố cáo trong lĩnh vực đất đai:
- Các tố cáo chủ yếu tập trung vào các nội dung:
+ Thứ nhất, tố cáo cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lợi dụng các chương trình, dự án của nhà nước để bao chiếm ruộng đất, chia chác đất đai, nhất là đối với chương trình trồng rừng, các dự án phát triển khu dân cư, các dự án tái định cư
+ Thứ hai, tố cáo cán bộ cửa quyền, nhũng nhiễu trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai, như: giao đất; cho thuê đất; cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không thực hiện đăng trình tự, thủ tục thu hồi đất, đền bù, hỗ trợ
Trang 26+ Thứ ba, tố cáo Ủy ban nhân dân giao đất trái thẩm quyền; giao đất, cho thuê đất không đúng đối tượng, không đúng quy hoạch; sử dụng tiền thu từ quỹ đất công ích (5%) trái quy định của pháp luật
+ Thứ tư, tố cáo hành vi gian lận trong việc lập phương án bồi thường về đất đai để tham ô, như lập hai phương án bồi thường (cho người có đất bị thu hồi riêng,
để thanh toán với Nhà nước riêng)
+ Thứ năm, tố cáo hành vi trục lợi về đất đai thông qua việc lập phương án hoặc điều chỉnh phương án quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn không phù hợp với thực tế, gây xáo trộn không cần thiết đối với đời sống nhân dân
1.2.1.4 Nguyên nhân khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
- Một là, từ khi Luật đất đai 1993 ra đời với những quy định mới, đất đai được coi là hàng hóa đặc biệt và pháp luật cho phép người sử dụng đất được tự do chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường, thị trường chuyển nhượng quyền
sử dụng đất ở nước ta đã có sắc diện hoàn toàn mới Trong thị trường ấy quyền sử dụng đất ngày càng trở thành loại hàng hóa có giá trị lớn, mang lại những nguồn lợi không nhỏ cho người sử dụng đất Cộng với quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho nhu cầu sử dụng đất tăng lên, thúc đẩy giá đất tăng cao Khi những nguồn lợi từ đất đai tăng lên, thì những tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan tới đất đai cũng ngày một tăng, đó là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường
- Hai là, do nhận thức của người dân về sở hữu đất đai không đồng nhất với quy định của pháp luật; vẫn còn tồn tại các phong tục, tập quán truyền thống, hương ước, luật tục với những quy định lạc hậu về sở hữu đất đai chưa được loại bỏ đã "ăn sâu, bám rễ" trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng vốn ít có điều kiện tiếp xúc với pháp luật Trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng (đặc biệt là những người dân sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa hoặc người dân có trình độ học vấn thấp) vẫn tồn tại quan niệm đất đai là của ông cha, tổ tiên để lại Hoặc cũng có một số người dân quan niệm rằng đất đai là của Nhà nước nhưng khi Nhà nước đã giao cho
Trang 27sử dụng ổn định lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì là của họ Chính vì nhận thức không đúng này nên trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai ngày càng trở lên có giá thì tình trạng đòi lại đất của ông cha ngày càng gia tăng
- Ba là, do việc cho thuê, cho mượn, cầm cố đất đai trong nội bộ nhân dân, việc đưa đất đai, lao động vào các tập đoàn sản xuất, các nông, lâm trường, không
có hoặc không lưu giữ được các tài liệu, sổ sách; việc trưng dụng, trưng thu, trưng mua, thu hồi đất không có quyết định, chưa bồi thường hoặc đã bồi thường nhưng không lưu giữ giấy tờ, hồ sơ nên không có cơ sở để xác định khi diễn ra tranh chấp
- Bốn là, Luật đất đai, Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật khiếu nại, Luật tố cáo, pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính còn chồng chéo, mâu thuẫn, không thống nhất Chính sách, pháp luật về đất đai chưa theo kịp cơ chế kinh tế thị trường, đặc biệt là chính sách tài chính đất đai chưa điều tiết hoặc đã điều tiết, phân phối nhưng chưa hợp lý phần giá trị tăng thêm mang lại từ đất khi sử dụng đất cho các dự án đầu tư như trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi
- Năm là, công tác giải quyết tranh chấp, khiếu kiện đất đai ở một số nơi còn dựa vào cảm tính chủ quan, nể nang, chưa đúng pháp luật và thiếu công bằng
Công tác xét xử các vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất tại Tòa án còn bộc lộ những hạn chế, lúng túng nhất định khi áp dụng pháp luật về đất đai, pháp luật dân sự, đường lối chính sách của Nhà nước về đất đai trong từng giai đoạn lịch
sử dẫn đến một số bản án, quyết định của Tòa án còn chưa thật sự chính xác thiếu khách quan Chất lượng xét xử của tòa án trong một số vụ chưa cao, có vụ án phải xét xử đi xét xử lại nhiều lần, kéo dài; có những vụ án có sai lầm trong áp dụng pháp luật, cấp trên phải sửa đổi hoặc hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới
Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai ở các địa phương nhìn chung hiệu quả chưa cao, thiếu kịp thời, chưa dứt điểm còn để tồn đọng nhiều đơn thư chưa giải quyết
1.2.2 Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Trang 281.2.2.1 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trong Luật đất đai năm 2013
Luật đất đai năm 2013 quy định về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại điều 204 như sau:
1 Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai
2 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.
Luật đất đai năm 2013 quy định về giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
tại điều 205:
1 Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai
2 Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.
Theo đó, việc giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại Việc giải quyết
tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo Việc quy định giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tại Luật đất đai năm 2013 thể hiện sự quan tâm của các nhà xây dựng Luật đất đai đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, đáp ứng nhu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai đang trở thành vấn đề “nóng” trong xã hội hiện nay Công dân có quyền tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện phản ánh các sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai đến các cơ quan có thẩm quyền Việc phản ánh các sai phạm phải bảo đảm đầy đủ, khách quan, trung thực; không được lợi dụng quyền thực hiện giám sát quản lý, sử dụng đất đai của mình để khiếu nại, tố cáo không đúng quy định của pháp luật
Trang 29Ngoài ra, Luật đất đai 2013 cũng quy định cụ thể nội dung, hình thức giám sát của công dân, trách nhiệm của các tổ chức đại diện của công dân, trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi nhận được ý kiến của công dân và các tổ chức đại diện
Luật cũng quy định về hệ thống theo dõi, đánh giá đối với quản lý và sử dụng đất để đánh giá việc thi hành pháp luật đất đai, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai, sự tác động của chính sách, pháp luật đất đai đến kinh tế, xã hội và môi trường trên phạm vi cả nước và các địa phương; bổ sung quy định về trách nhiệm của người đứng đầu Ủy ban nhân dân các cấp trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử
lý vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai; quy định xử lý trách nhiệm của người thực thi công vụ vi phạm pháp luật đất đai và người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra vi phạm pháp luật đất đai (người đứng đầu tổ chức, thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về quản lý đất đai; cán bộ, công chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và công chức địa chính cấp xã; người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của tổ chức được Nhà nước giao đất để quản lý thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, bồi thường thiệt hại hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật) nhằm hạn chế thấp nhất
việc khiếu nại, tố cáo về đất đai
1.2.2.2 Pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai là việc cơ quan
có thẩm quyền xem xét, xác minh, kết luận và ra quyết định về tính đúng đắn của các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có khiếu nại của người sử dụng đất về quyết định, hành vi đó
Giải quyết tố cáo về đất đai là việc cơ quan có thẩm quyền xác minh, kết luận
về nội dung tố cáo liên quan tới quản lý và sử dụng đất đai từ đó đưa ra quyết định
xử lý của người giải quyết tố cáo
Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong khiếu nại và giải quyết khiếu nại về
Trang 30đất đai; việc giải quyết khiếu nại về đất đai được thực hiện theo các quy định về giải quyết khiếu nại quy định tại Luật khiếu nại năm 2011, Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Các quy định về giải quyết khiếu nại bao gồm hệ thống các quy định của pháp luật về quyền khiếu nại; quyền, nghĩa vụ các bên trong khiếu nại; thẩm quyền, trách nhiệm và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại Pháp luật về khiếu nại được xây dựng dựa trên các quan điểm: Xây dựng luật khiếu nại nhằm quán triệt và cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính và cải cách
tư pháp hiện nay Pháp luật khiếu nại về đất đai phải tạo điều kiện để các cá nhân,
tổ chức, cơ quan thực hiện được quyền khiếu nại của mình; trình tự giải quyết khiếu nại phải đơn giản, nhanh chóng, công khai, minh bạch Ngoài ra, pháp luật về khiếu nại phải hợp hiến, đồng bộ với hệ thống pháp luật và không cản trở việc thực hiện các điều ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết
Nội dung các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai gồm các quy định giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong lĩnh vực đất đai; tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đất đai; bảo vệ người tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo
Giải quyết tranh chấp đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai tuy cùng là những nội dung quan trọng của hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai, và việc giải quyết chúng đều phải dựa trên các quy định của pháp luật, trên thực tế người ta đôi khi cũng khó phân biệt được đâu là giải quyết khiếu nại, tố cáo và đâu
là giải quyết tranh chấp đất đai, nhưng rõ ràng chúng là hai sự việc hoàn toàn khác biệt bởi: Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của người giải quyết đối với các khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai Còn giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật, nhằm giải quyết
Trang 31các bất đồng mâu thuẫn giữa các bên, khôi phục lại quyền lợi cho bên bị xâm phạm đồng thời xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai
Bên cạnh đó, khoản 24, điều 3 Luật đất đai 2013 quy định: Tranh chấp đất đai
là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai Theo khái niệm này, đối tượng tranh chấp trong tranh chấp đất đai là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Tranh chấp tổng thể các quyền
và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ “đơn lẻ” của người sử dụng đất do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà người sử dụng đất có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác cho đến nay vẫn chưa được chính thức xác định Đã có quan niệm cho rằng, tranh chấp đất đai “là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất” hoặc “tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẩn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai” 4 Tranh chấp đất đai bao gồm tất cả các tranh chấp phát sinh từ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Trong đó có cả các tranh chấp tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch quyền sử dụng đất Tranh chấp đất đai nảy sinh khi có những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể
1.2.2.3 Mục đích, ý nghĩa của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Khiếu nại, tố cáo là quyền chính trị - pháp lý cơ bản của công dân, gắn liền với các quyền tự do khác của công dân trong tổng hòa quyền và nghĩa vụ của công dân Vì vậy, thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là hoạt động đảm bảo quyền làm chủ của công dân, góp phần mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm pháp chế Hoạt động khiếu nại, tố cáo khẳng định mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trong quản lý Nhà nước; đặc biệt là trong quản lý nguồn tài nguyên đất đai Khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất
Trang 32
đai hiện nay đang là vấn đề “nóng hổi” trong xã hội, tình trạng khiếu kiện phức tạp, kéo dài đã phản ánh tính cấp thiết và tầm quan trọng trong việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo về đất đai Nếu không giải quyết nhanh chóng, kịp thời và dứt điểm các khiếu kiện về đất đai sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến tình hình kinh tế - xã hội nói chung của cả nước, của từng địa phương, từng dự án nói riêng
Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai góp phần phát hiện, ngăn chặn và xử
lý kịp thời những hành vi tham nhũng, sai phạm trong quản lý Nhà nước về đất đai Thông qua quá trình giải quyết đó, những hành vi tham nhũng, lãng phí, vi phạm pháp luật được làm sáng tỏ, trong sạch bộ máy quản lý Nhà nước về đất đai đồng thời củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai đảm bảo tính dân chủ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nếu hoạt động khiếu nại, tố cáo của công dân chỉ dừng lại ở việc phát hiện và thông tin các hành vi vi phạm pháp luật của các
cá nhân, tổ chức, cơ quan trong hoạt động quản lý đất đai thì chưa hoàn toàn đảm bảo quyền và lợi ích của công dân Kết quả của giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai còn khôi phục quyền và lợi ích của công dân bị xâm phạm: Bồi thường, hỗ trợ thỏa đáng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng chủ sở hữu, giải quyết tranh chấp đất đai giữa công dân với nhau…đáp ứng mong mỏi chính đáng của công
dân khi khiếu kiện lên các cơ quan có thẩm quyền
1.2.3 Các nguyên tắc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Nguyên tắc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai là những tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt và chi phối toàn bộ quá trình các cơ quan có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại, tố cáo về đất đai
1.2.3.1 Nguyên tắc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai
Nguyên tắc giải quyết khiếu nại là những quan điểm định hướng cho cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại cần phải nắm rõ khi giải quyết khiếu nại Theo quy định của Luật khiếu nại thì nguyên tắc này được thể hiện trong điều 4 Theo đó
Trang 33pháp luật; bảo đảm khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời Việc giải quyết
khiếu nại về đất đai cũng phải tuân thủ các nguyên tắc này
Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại phải được thực hiện theo quy định của pháp luật: nguyên tắc này đòi hỏi người khiếu nại phải thực hiện khiếu nại theo quy định của pháp luật, không được lợi dụng quyền khiếu nại để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Việc giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền cũng phải tuân theo quy định của pháp luật, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc giải quyết
khiếu nại phải có căn cứ pháp lý
Việc giải quyết khiếu nại phải đảm bảo khách quan: Đây là một nguyên tắc rất quan trọng trong giải quyết khiếu nại Các cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước quán triệt nguyên tắc này thì việc giải quyết khiếu nại sẽ đảm bảo tính chính xác, tạo thuận lợi cho việc giải quyết dứt điểm các vụ việc
khiếu nại, từ đó cũng hạn chế những sai sót và tình trạng tiếp khiếu
Việc giải quyết khiếu nại phải đảm bảo công khai: Nguyên tắc này cũng nhằm đảm bảo việc giải quyết khiếu nại được chính xác, khách quan và minh bạch Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi việc giải quyết khiếu nại của cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền phải giải quyết khiếu nại công khai, tăng cường đối thoại giữa người khiếu nại với người giải quyết khiếu nại Người khiếu nại biết được các khâu, các bước trong việc giải quyết khiếu nại Nguyên tắc công khai cũng giúp cho hạn chế tiêu cực trong giải quyết khiếu nại cũng như hạn chế tình trạng quan
liêu, chủ quan trong giải quyết khiếu nại
Việc giải quyết khiếu nại phải đảm bảo dân chủ: Nguyên tắc này đòi hỏi việc giải quyết khiếu nại người khiếu nại phải tăng cường đối thoại với người khiếu nại
để lắng nghe thấu hiểu những yêu cầu của người khiếu nại, nội dung khiếu nại…
Qua đó, có giải pháp phù hợp để giải quyết đối với từng vụ việc khiếu nại
Việc giải quyết khiếu nại phải đảm bảo kịp thời: Mặc dù Luật khiếu nại quy định rõ thời hạn giải quyết khiếu nại Tuy nhiên, trước yêu cầu của công tác giải quyết khiếu nại cũng như yêu cầu của từng vụ việc khiếu nại, người giải quyết khiếu nại phải
Trang 34xem xét giải quyết kịp thời, nhất là những quyết định hành chính có thể gây thiệt hại, khó có khả năng khắc phục thì người giải quyết khiếu nại phải giải quyết ngay
1.2.3.2 Nguyên tắc giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai
Trong quá trình giải quyết tố cáo, trên cơ sở quy định tại điều 4 của Luật tố cáo, người giải quyết tố cáo phải quán triệt các nguyên tắc sau:
Một là, giải quyết kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn theo quy định của pháp luật
Giải quyết tố cáo kịp thời nghĩa là phải tiếp nhận, thụ lý, giải quyết và xử lý tố cáo của công dân một cách nhanh chóng, đúng thời hạn quy định của pháp luật Giải quyết chính xác, khách quan là khi xem xét, nhìn nhận, đánh giá và kết luận sự việc phải khách quan, chính xác, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan, phiến diện của mỗi người, không cảm tình nể nang hoặc thành kiến cá nhân, phản ánh sự việc phải đúng với bản chất vốn có của nó Mỗi hành vi bị tố cáo bao giờ cũng nằm trong bối cảnh không gian, thời gian cụ thể, đều có nguyên nhân và diễn biến khác nhau Do vậy, giải quyết tố cáo phải dựa trên cơ sở chứng cứ chính xác, khách quan thì cơ quan có thẩm quyền mới đủ cơ sở để xem xét, kết luận và có biện pháp xử lý đúng đắn
Để đảm bảo chính xác, khách quan, khi xem xét một sự việc phải đánh giá toàn diện các yếu tố Do đó, mỗi cán bộ được giao giải quyết vụ việc tố cáo của công dân phải biết đi sâu vào tất cả các khía cạnh, phát hiện làm rõ nguyên nhân và quá trình diễn biến của sự việc để nhận xét và kết luận cho chính xác, tránh tư tưởng bảo thủ, chủ quan, phiến diện
Giải quyết đúng thẩm quyền đòi hỏi cán bộ khi tiếp nhận, xử lý đơn phải nắm vững thẩm quyền giải quyết Muốn vậy, phải nắm rõ nội dung của vụ việc tố cáo, trên cơ sở đó xác định thẩm quyền giải quyết Hiện nay, thẩm quyền giải quyết tố cáo được quy định cụ thể tại điều 13, 14, 15, 16, 17 và điều 31 của Luật tố cáo
Giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn đòi hỏi người giải quyết tố cáo phải tuân theo đầy đủ các bước giải quyết theo quy định của pháp luật tố cáo, nhất là
Trang 35việc thụ lý đơn, xác minh nội dung tố cáo, kết luận về nội dung tố cáo, công khai kết luận giải quyết tố cáo
Hai là, bảo đảm an toàn cho người tố cáo
Người tố cáo thực hiện quyền tố cáo là để phát hiện những hành vi trái pháp luật, thể hiện trách nhiệm của công dân với lợi ích chung Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền phải tạo điều kiện thuận lợi để người tố cáo cung cấp tài liệu và trình bày rõ những thông tin cần thiết có liên quan đến nội dung mà họ tố cáo Đồng thời, phải có biện pháp bảo vệ người tố cáo trong quá trình tiếp nhận, thụ lý, giải quyết tố cáo Trong quá trình giải quyết tố cáo phải giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo nhằm bảo vệ người tố cáo
Sau khi đã giải quyết, nếu kết luận tố cáo đúng thì phải xử lý người bị tố cáo đồng thời có biện pháp phòng ngừa việc trù dập, trả thù người tố cáo Nếu người tố cáo bị trả thù, trù dập hoặc bị đe dọa trả thù, trù dập, các cơ quan Nhà nước phải bảo
vệ và có những biện pháp xử lý kịp thời Có như thế, mới động viên người tố cáo dũng cảm đấu tranh chống lại những hành vi vi phạm pháp luật
Ba là, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo
Mặc dù là người có hành vi bị tố cáo nhưng hành vi của họ chỉ được coi là vi phạm pháp luật khi có kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sau khi tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận Do đó, người giải quyết tố cáo phải bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ Trong đó, cần phải tạo điều kiện để họ giải trình, đưa ra các bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không có cơ sở, không đúng sự thật Không được truy bức, kết luận một cách chủ quan vội vàng Những lý lẽ mà người bị tố cáo đưa ra phải được xem xét, đầy đủ khách quan, thận trọng
1.2.4 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
1.2.4.1 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai
Luật đất đai 2013 quy định về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai tại điều 204 như sau:
Trang 361 Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai
2 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính
Luật khiếu nại năm 2011 quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại (từ điều 17 đến điều 26), các cá nhân có thẩm quyền trong hệ thống quản lý hành chính Nhà nước gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và cấp tương đương, bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang bộ Trong giải quyết khiếu nại, chủ thể có thể kiếu nại theo hai cấp, vì vậy, thẩm quyền giải quyết khiếu nại bao gồm thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu
và thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương; thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là những chủ thể chỉ có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp Quy định này đã tạo điều kiện cho các chủ thể quản lý hành chính có cơ hội xem xét lại các quyết định hành chính hay hành vi hành chính của mình, tự đánh giá và khắc phục, sửa đổi hay hủy
bỏ các quyết định, hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, đây cũng là một hạn chế khi người giải quyết khiếu nại lần đầu cũng là người có quyết định hay hành vi dẫn đến việc khiếu nại, có thể dẫn đến tình trạng thiếu khách quan
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, giám đốc sở và cấp tương đương thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ là những chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối
Trang 37với những vụ việc thuộc quyền, đồng thời có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với những vụ việc được giải quyết nhưng vẫn còn khiếu nại Quy định này cho phép các cơ quan cấp trên tiếp tục giải quyết những khiếu nại giải quyết lần đầu chưa thỏa đáng, không khách quan…
Ngoài ra, Luật khiếu nại năm 2011 còn quy định về thẩm quyền Chánh thanh tra các cấp trong việc giải quyết khiếu nại: “Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp khi được giao”
1.2.4.2 Thẩm quyền giải quyết tố cáo
Theo quy định tại điều 205 Luật đất đai 2013 về giải quyết tố cáo trong lĩnh vực
đất đai thì:
1 Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai
2 Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo
Luật tố cáo năm 2011 quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo (từ điều 12 đến điều 17) theo cơ quan quản lý cán bộ, công chức, gồm các nhóm cơ quan: cơ quan quản lý hành chính Nhà nước; cơ quan khác của Nhà nước (Viện kiểm sát; Tòa án; Kiểm toán Nhà nước; Hội đồng nhân dân…); đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức
Đối với tố cáo, việc xác định thẩm quyền phải căn cứ vào các nguyên tắc được quy định tại Luật tố cáo năm 2011 như sau:
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết
Trang 38- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố cáo phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan giải quyết
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng
giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự
1.2.5 Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai
1.2.5.1 Trình tự giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai
Bước 1, tiếp nhận đơn khiếu nại
Khi người khiếu nại thực hiện quyền khiếu nại, công chức tiếp nhận đơn khiếu nại và các tài liệu có liên quan của người khiếu nại Trường hợp công dân trực tiếp đến trình bày khiếu nại mà khiếu nại đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng cơ quan, cán bộ tiếp công dân hướng dẫn công dân viết thành đơn hoặc lập thành văn bản ghi lại nội dung khiếu nại công dân trình bày và yêu cầu người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản đó; vào sổ theo dõi khiếu nại; báo cáo thủ trưởng cơ quan để giải quyết theo quy định của pháp luật; nếu vụ việc khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan, hướng dẫn công dân khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết Hình thức khiếu nại căn cứ vào điều 8, Luật khiếu nại
Bước 2, thụ lý giải quyết khiếu nại
Theo quy định, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền giải quyết mà không thuộc một trong các trường hợp được quy
Trang 39định tại điều 11, Luật khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai phải thụ lý giải quyết Đối với trường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung và cử người đại diện để thực hiện việc khiếu nại thì thụ lý khi trong đơn khiếu nại có đầy đủ chữ ký của những người khiếu nại và có văn bản cử người đại diện Trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báo cho người khiếu nại
Sau khi thụ lý khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại
Sau khi kiểm tra lại, nếu thấy khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính là đúng thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu ra quyết định giải quyết khiếu nại ngay
Bước 3, xác minh nội dung khiếu nại
- Các phương thức tiến hành xác minh khiếu nại
Để có căn cứ ra quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại phải tiến hành xác minh, làm rõ những nội dung liên quan đến khiếu nại Pháp luật
đã có những quy định cụ thể về việc xác minh khiếu nại Theo đó thì người giải quyết khiếu nại tự mình xác minh hoặc giao cơ quan thanh tra cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản lý của mình tiến hành xác minh nội dung khiếu nại Quyết định giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại thực hiện theo Khi cần thiết, người giải quyết khiếu nại, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được giao nhiệm vụ xác minh thành lập đoàn xác minh hoặc tổ xác minh nội dung khiếu nại (sau đây gọi chung là tổ xác minh)
Khi các cơ quan thanh tra được giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại
để tham mưu cho cơ quan quản lý Nhà nước giải quyết, các cơ quan thanh tra có thể thành lập đoàn xác minh, tổ xác minh hoặc sử dụng một phương pháp khác đó là có thể ban hành quyết định thanh tra làm rõ những nội dung khiếu nại hoặc kiến nghị với thủ trưởng cơ quan quản lý ban hành quyết định thanh tra Trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra được thực hiện theo quy định của Luật thanh tra Khi đó, các cơ quan
Trang 40thanh tra có thể sử dụng một số nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật trao cho đã được cụ thể hóa trong các quy định pháp luật về thanh tra, đây là một lợi thế nhất định của các cơ quan thanh tra trong việc tham mưu giải quyết khiếu nại hành chính cho các cơ quan hành chính Nhà nước Chính vì thế mà Luật khiếu nại luôn xác định vai trò của các cơ quan Thanh tra Nhà nước trong công tác tham mưu với thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại hành chính Tuy nhiên, một lưu ý quan trọng khi các cơ quan thanh tra sử dụng biện pháp ra quyết định thanh tra để làm rõ những nội dung khiếu nại phục vụ việc giải quyết khiếu nại là các cơ quan thanh tra phải phải đảm bảo thời hạn thanh tra ngắn (có khi không được sử dụng hết thời hạn thanh tra theo quy định của Luật thanh tra) bởi vì thời hạn giải quyết khiếu nại được quy định trong Luật khiếu nại ngắn
- Những công việc cần thực hiện trong quá trình xác minh nội dung khiếu nại + Công bố quyết định xác minh nội dung khiếu nại
+ Làm việc trực tiếp với người khiếu nại, người đại diện, người được ủy quyền, luật sư, trợ giúp viên pháp lý của người khiếu nại
+ Làm việc trực tiếp với người bị khiếu nại
+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng
- Tiếp nhận, xử lý thông tin, tài liệu, bằng chứng
- Tiến hành xác minh thực tế
- Trưng cầu giám định khi cần thiết
- Làm việc với các bên trong quá trình xác minh nội dung khiếu nại
- Báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại
Lưu ý: Trong quá trình giải quyết khiếu nại, nếu xét thấy việc thi hành quyết
định hành chính bị khiếu nại sẽ gây hậu quả khó khắc phục, thì người giải quyết khiếu nại ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu