1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng thực tiễn tại tỉnh hải dương

82 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, để đảm bảo hệ thống các quy định pháp luật nêu trên được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất trên thực tế, Việt Nam cũng đã thừa nhận sự hiện diện của các thiết chế thực thi ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TỪ THỰC

TIỄN TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG

Trang 2

HÀ NỘI - 2016

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ

NƯỚC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TỪ THỰC

TIỄN TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG

Trang 3

HÀ NỘI - 2016

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng

dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh Các nội dung nghiên cứu, kết quả

trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bản biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình Viện Đại học Mở Hà Nội không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Văn Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô đã trực tiếp giảng dạy, tư vấn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh đã tận tình chỉ

bảo, giúp đỡ, định hướng và trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình hình thành và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn khoa sau Đại học, các khoa và các phòng ban của Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi được hoàn thành khóa học và hoàn thành luận văn này

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quí thầy, quí cô cùng các anh, chị và bạn bè quan tâm góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Văn Giang

Trang 5

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài……….……… …1

2 Tình hình nghiên cứu……… 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……….…… 3

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 5

1.1 Khái quát về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và các thiết chế bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam 5

1.1.1 Khái quát pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam 5

1.1.1.1 Khái ni ệm người tiêu dùng 5

1.1.1.2 Khái quát pháp lu ật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam 6

1.1.2 Khái quát các thiết chế bảo vệ người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam. 13

1.1.2.1 Khái ni ệm thiết chế bảo vệ người tiêu dùng 13

1.1.2.2 Các thi ết chế bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam 15

1.2 Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng… 19

Trang 7

1.2.1 Khái ni ệm địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu

dùng 19

1.2.2 Nội dung cơ bản của địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo

vệ người tiêu dùng 20

1.2.2.1 Chức năng và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ

1.3 Kinh nghiệm bảo vệ người tiêu dùng của cơ quan nhà nước ở một số nước trên thế giới 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ

2.1 Đặc thù trong việc bảo vệ người tiêu dùng ở tỉnh Hải Dương……… 35 2.2 Chức năng và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng ở tỉnh Hải Dương trong việc bảo vệ người tiêu dùng 36

2.3 Đánh giá thực tiễn hoạt động của cơ quan nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương 41

2.3.1 Những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương 41

2.3.2 Một số tồn tại, hạn chế trong công tác bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh

Hải Dương 48

ận lợi 53

Trang 8

2.3.3.2 Khó kh ăn 54

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM VÀ Ở TỈNH HẢI DƯƠNG 56

3.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng 56

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam và ở tỉnh Hải Dương 58

3.2.1 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam 58

3.2.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng ở tỉnh Hải Dương 60

3.2.3 Kiến nghị và đề xuất 64

3.2.3.1 V ới Chính phủ và bộ, ngành Trung ương 64

3.2.3.2 V ới Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương 66

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong quá hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và mở cửa thị trường, vì vậy người tiêu dùng (NTD) ngày càng có thêm nhiều cơ hội lựa chọn hàng hóa và dịch vụ nhưng đồng thời cũng đối mặt với nhiều rủi ro từ nguy cơ sử dụng hàng hóa, dịch vụ thiếu an toàn, không đạt tiêu chuẩn, đặc biệt là thực phẩm,

mỹ phẩm, dược phẩm Ngày càng có thêm nhiều vụ việc vi phạm quyền lợi người tiêu dùng bị phát hiện Hiện trạng đó cho thấy, quyền lợi của người tiêu dùng Việt Nam nói chung và người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng đang bị xâm phạm nghiêm trọng Tuy vậy, nhiều người tiêu dùng hiện nay chưa biết đến các quyền và nghĩa vụ của mình nên khi quyền lợi bị xâm phạm họ không biết cách để

tự bảo vệ mình Đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ, trong nhiều trường họp đã vì mục tiêu lợi nhuận mà bỏ qua nghĩa vụ tuân thủ pháp luật và trách nhiệm xã hội của mình

Trong bối cảnh đó, sự hiện diện của chính sách pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và hệ thống các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói riêng, với ý nghĩa là rào chắn an toàn cho những thỏa thuận không công bằng hoặc sự áp đảo của một bên là vô cùng quan trọng và cần thiết, về lâu dài, việc thực thi những quy định pháp luật nói trên không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng người tiêu dùng, tức là toàn thể nhân dân Việt Nam, mà còn góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sản xuất, lưu thông hàng hóa và phát triển kinh tế, hướng tới xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững

Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ NTD được Đảng, Nhà nước coi là một trong những vấn đề quan trọng trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển bền vững của đất nước Chính vì vậy, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo vệ người tiêu dùng được đánh giá là nhanh

và đồng bộ so với nhiều hệ thống văn bản pháp luật khác, góp phần tạo một hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam

Trang 11

Mặt khác, để đảm bảo hệ thống các quy định pháp luật nêu trên được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất trên thực tế, Việt Nam cũng đã thừa nhận sự hiện diện của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng từ Trung ương đến địa phương, giữ chức năng thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng

Các phân tích trên cũng chính là lý do để tôi lựa chọn đề tài "Địa vị pháp lý

của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng từ thực tiễn tại tỉnh Hải

2 Tình hình nghiên cứu

Luật bảo vệ người tiêu dùng 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành mới ra đời và có hiệu lực trong một thời gian ngắn, vì vậy việc nghiên cứu vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam nói chung và Hải Dương nói riêng chưa được quan tâm một cách thỏa đáng Quá trình tìm hiểu tình

hình nghiên cứu của đề tài "Địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ

nhận thấy đến nay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan, đó là:

- "Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, đề tài khoa học cấp bộ như Bộ Tư pháp, Viện Khoa

học pháp lý do Đinh Thị Mai Phương làm chủ nhiệm đề tài năm 2008

- "Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam”, đề tài khoa học cấp bộ của Viện Khoa học pháp lý -

Bộ Tư pháp do PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh làm chủ nhiệm đề tài năm 2014

- "Thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan nhà nước tại Việt Nam”, luận văn thạc sĩ luật học của học viên Nguyễn

Hoàng Mỹ Linh, do TS Phan Chí Hiếu hướng dẫn năm 2014

- "Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, bài

viết trên Tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, số 12/2008 của tác giả Nguyễn Đức Minh

Trang 12

Có thể thấy, các bài viết nêu trên đã nghiên cứu một số khía cạnh liên quan

về vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu về địa vị pháp

lý trong thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương Vì vậy, có thể khẳng định, đề tài này là một đề tài có tính mới, mang tính thực tiễn cao

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các văn bản pháp luật hiện hành quy định về

cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng và thực trạng pháp luật về vai trò của cơ quan này trong việc bảo vệ người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Phạm vi nghiên cứu của đề tài trong giới hạn một đề tài luận văn thạc sĩ luật học, đề tài không có tham vọng nghiên cứu tất cả các khía cạnh chính trị, kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng

mà chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam nói chung và tại Hải Dương nói riêng cũng như thực tiễn việc thực thi các nhiệm vụ bảo vệ người tiêu dùng của các cơ quan này tại tỉnh Hải Dương

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo

vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương, qua đó góp phần đẩy mạnh công tác bảo vệ người tiêu dùng tại địa phương Để đạt được mục tiêu trên, đề tài đặt ra các nhiệm

vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng trong việc bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam

+ Nghiên cứu những quy định của pháp luật về trách nhiệm, quyền hạn của

cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương

+ Nghiên cứu thực trạng pháp luật về địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương trong việc bảo vệ người tiêu dùng + Đề ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trong hoạt động của cơ

Trang 13

quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng, qua đó nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu, trong khi thực hiện đề tài, em đã sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng để khái quát các quy định của pháp luật về vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo vệ người tiêu dùng

- Phương pháp thống kê: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê để tổng hợp các số liệu liên quan để Luận văn có sức thuyết phục, mang lại ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

- Phương pháp điều tra khảo sát: Luận văn tiến hành phỏng vấn một số người tiêu dùng và cán bộ thuộc các cơ quan có liên quan đến hoạt động bảo vệ người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Hải Dương để đánh giá thực trạng hoạt động của

cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

theo pháp luật Việt Nam hiện hành

người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương

quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam và ở tỉnh Hải Dương

Trang 14

CHƯƠNG 1 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT

VIỆT NAM HIỆN HÀNH

1.1 Khái quát về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và các thiết chế bảo vệ

người tiêu dùng ở Việt Nam

1.1.1 Khái quát pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam

1.1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng

Dưới góc độ kinh tế, người tiêu dùng là một khái niệm chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế NTD là người mua nhưng khác với việc

mua nguyên liệu hoặc mua hàng để bán lại, họ là những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó Dưới giác độ này, khái niệm NTD khác xa so với khái niệm người mua hàng Khái niệm người mua hàng rộng hơn so với khái niệm NTD, người mua hàng là bất cứ ai mua hàng hóa, dịch vụ nhằm bất cứ mục đích gì Dưới giác độ kinh tế, NTD là mọi chủ thể (cá nhân, tổ chức) tiêu thụ hàng hóa cho mục đích tiêu dùng không phải cho mục đích kinh doanh kiếm lời

Dưới giác độ pháp lý, việc xác định chủ thể nào là NTD rất quan trọng vì đó là đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD Khái niệm NTD chỉ xuất hiện với tư cách là chủ thể pháp luật từ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ NTD ra đời Theo pháp luật bảo vệ NTD, NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với chủ thể luật dân sự khác trong các giao dịch với thương nhân bán hàng hóa, dịch vụ Sở dĩ, NTD được ưu tiên so với thương nhân trong quan hệ tiêu dùng bởi họ có nhiều yếu thế hơn như thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yếu về khả năng đàm phán khi giao kết hợp đồng, yếu về khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dùng Bởi vậy, dưới giác độ pháp lý việc xác định chủ thể nào là NTD và là đối tượng được bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD có vai trò vô cùng quan trọng

Trang 15

Luật pháp của đa số các nước trên thế giới quy định, NTD chỉ là các cá nhân

và không coi tổ chức là NTD Các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức tham gia mặc dù đối tượng của giao dịch là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng sẽ được bảo

vệ theo pháp luật hợp đồng chứ không được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD

Ở Việt Nam, khái niệm NTD được thừa nhận trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 và tiếp tục ghi nhận trong Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm

2010 Hai văn bản pháp luật này đều quy định: “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức” Như vậy có thể thấy, so với pháp luật của nhiều nước trên thế giới thì đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam có sự mở rộng hơn Ngoài đối tượng là các cá nhân được pháp luật bảo vệ như thông lệ quốc tế, pháp luật Việt Nam còn coi các tổ chức cũng là NTD khi tổ chức đó mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng

1.1.1.2 Khái quát pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam

Pháp luật bảo vệ NTD là một bộ phận cấu thành của chính sách bảo vệ quyền lợi NTD, được kết hợp đồng thời với các biện pháp tổ chức như tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết và khả năng tự bảo vệ của NTD cũng như nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Tuy vậy, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD với nội dung là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa NTD và các thương nhân khi NTD mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng So với các công cụ khác trong chính sách bảo vệ quyền lợi NTD thì pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD luôn đóng vai trò chủ đạo trong chính sách bảo vệ NTD, bởi chỉ có pháp luật mới là chỗ dựa vững chắc và ổn định cho đối tượng được bảo vệ Các biện pháp không mang tính pháp

lý như giáo dục, tư vấn hay khuyến khích thường bị chi phối bởi địa vị xã hội và điều kiện kinh tế của các nhóm lợi ích khác nhau mà trong trường hợp này là NTD và các doanh nghiệp, sự hợp tác và cạnh tranh giữa họ sẽ thường xuyên bất bình đẳng Khi đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là rào chắn an toàn cho những thỏa thuận không công

bằng hoặc sự áp đảo của một bên

Ở Việt Nam giai đoạn trước năm 1986, hầu như không có văn bản pháp lý nào liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD Bởi lẽ, hoàn cảnh đất nước vừa trải qua

Trang 16

những cuộc chiến tranh khốc liệt và một thời kì phục hồi sau chiến tranh, trong bối cảnh đó mọi nguồn lực đều tập trung cho sự nghiệp giành độc lập, bảo vệ Tổ Quốc

và xây dựng đất nước nên nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm ở mức tối thiểu, họ không quan tâm đến việc phải bảo vệ quyền lợi của mình Mặt khác, thời kì này cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung được duy trì, Nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất và giữ quyền quyết định việc sử dụng các yếu tố sản xuất cũng như phân phối sản phẩm nên NTD yên tâm về chất lượng hàng hóa và không có nhiều

Vào những năm 90 của thế kỉ 20, khi Việt Nam bắt đầu chuyển từ nền kinh

tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được áp dụng đã khuyến khích các thành phần kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh do đó người tiêu dùng có điều kiện tốt hơn trong việc lựa chọn và sử dụng hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực do nền kinh tế thị trường đem lại, bản thân nó cũng làm nẩy sinh không ít những hành vi vi phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích chính đáng của người tiêu dùng cũng như gây bất ổn cho nền kinh tế và cho xã hội Hàng giả, hàng nhái hiện diện khá nhiều, hiện tượng thương nhân cân, đo sai tương đối phổ biến… Do đó, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm, chú ý tới công tác bảo vệ

quyền lợi NTD và được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD được Ủy ban thường vụ quốc hội thông qua ngày 27/4/1999 Có thể nói, ở nước ta công tác bảo vệ NTD chỉ được biết đến từ khi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD được ban hành Để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh bảo vệ NTD, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2001/ND-CP của Chính phủ ngày 2/10/2001 quy định chi

Trang 17

tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD và sau đó Nghị định này được thay thế bởi Nghị định 55/2008/ND-CP ngày 24/4/2008

Các quy định trong hai văn bản pháp luật nói trên đã trực tiếp bảo vệ quyền lợi NTD ở các khía cạnh như: Đưa ra định nghĩa về NTD; Quy định các quyền và trách nhiệm của NTD; Quy định hệ thống các nghĩa vụ của nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; Quy định cơ chế khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng khi bị xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp; Quy định các biện pháp xử lí vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD; Quy định trách nhiệm quản lí nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng; Quy định về các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ NTD trong đó ghi nhận vai trò của tổ chức bảo vệ người tiêu dùng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD

Trước khi, Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010) được ban hành, bên cạnh Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD và Nghị định số 55/2008/ND-CP quy định trực tiếp việc bảo vệ quyền lợi NTD, pháp luật Việt Nam giai đoạn đó cũng đã có nhiều văn bản chứa đựng quy phạm gián tiếp liên quan đến hoạt động bảo vệ NTD Các văn bản

pháp luật trong nhóm này quy định những vấn đề sau: Ghi nhận các nguyên tắc chung về bảo vệ quyền lợi NTD được thể hiện trong Hiến pháp 1992, Bộ luật dân sự 2005; quy định chung về kiểm soát sự gia nhập thị trường và điều tiết hoạt động trên thị trường của các thương nhân trong Luật doanh nghiệp 2005; Luật đầu tư

2005; Luật thương mại 2005; Luật cạnh tranh 2004; Pháp lệnh giá; Pháp lệnh quảng cáo 2003; Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật 2006; Luật chất lượng sản phẩm,

hàng hóa 2007; Pháp lệnh đo lường 1999; các quy định về nhãn hàng hóa; các quy định điều tiết ngành, kiểm soát sự gia nhập thị trường và hoạt động trên thị trường của thương nhân trong từng chuyên ngành (như y tế, thực phẩm, giao thông, xây

dựng, du lịch, ngân hàng, chứng khoán, bưu chính viễn thông) được quy định trong Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989; Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân 2003; Luật dược 2005; Luật kinh doanh bảo hiểm 2000; Luật các tổ chức tín dụng 1997; Luật điện lực 2004; Pháp lệnh bưu chính, viễn thông 2000 (được thay thế bằng luật bưu chính…); Luật chứng khoán 2006; Luật du lịch 2005, Luật Viễn thông 2009

Trang 18

Sau hơn 10 năm thi hành, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này đã cơ bản đi vào cuộc sống; tạo lập hành lang pháp lý để NTD tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng bảo vệ quyền lợi của NTD Tuy nhiên, trong quá trình thi hành, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản

có liên quan đến công tác bảo vệ NTD đã bộc lộ một số hạn chế như: Các quy định

về quyền, trách nhiệm của người tiêu dùng cũng như trách nhiệm của thương nhân còn chung chung, chưa cụ thể rõ ràng khó thực thi trong thực tế; chưa có quy định nhằm khôi phục lợi ích cho NTD cũng như chưa có quy định thừa nhận yêu cầu bảo

vệ đặc biệt đối với NTD; sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác bảo vệ NTD còn hạn chế; chưa tạo ra cơ chế hữu hiệu giúp các tổ chức bảo vệ NTD hoạt động có hiệu quả; hệ thống chế tài áp dụng đối với các hành

vi vi phạm quyền lợi NTD còn bất hợp lý…

Để công tác bảo vệ người tiêu dùng thực sự có hiệu quả khắc phục tình trạng thương nhân xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng ngày càng tăng cả về số lượng, quy mô, phạm vi lẫn mức độ vi phạm, Nghị quyết số 27/2008/NQ-QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội đã đưa việc xây dựng Luật Bảo vệ quyền lợi NTD vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 Ngày 07 tháng 01 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 25/QD-TTg phân công, Bộ Công Thương là cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Luật bảo vệ quyền lợi NTD quy định những vấn đề nhằm trực tiếp bảo vệ NTD mà chưa được quy định trong các văn bản pháp luật khác còn hiệu lực

Ngày 17/11/2010, Luật bảo vệ quyền lợi NTD với 6 chương và 51 điều đã được Quốc hội khóa 12 kì họp thứ 8 thông qua và có hiệu lực từ 1/7/2011 Kể từ ngày này, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999 hết hiệu lực thi hành

Để hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành những văn bản sau:

- Nghị định 99/2011/ ND-CP ngày 27/10/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi NTD

Trang 19

- Nghị định 19/2012/ND-CP ngày 16/3/2012 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD (nay được thay thế bởi Nghị định 185/2013/NĐ-CP)

- Nghị định 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/11/2013 quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi NTD

- Nghị định số 124/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/11/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/11/2013 quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi NTD

- Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng kí hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

- Quyết định số 35/2015/QĐ-TTG ngày 20/08/2015 của Thủ tướng Chính phủ

về việc sửa đổi, bổ sung quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng kí hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

- Quyết định số 1035/QĐ-TTg ngày 10/7/2015 của Thủ tướng chính phủ về Ngày Quyền của NTD Việt Nam

Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010) và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này đã quy định những vấn đề chủ yếu sau:

- Điều 1 Luật bảo vệ quyền lợi NTD tiếp tục kế thừa định nghĩa về người tiêu dùng quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999 Theo đó, NTD được xác định là cá nhân, gia đình hoặc tổ chức mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của mình

- Luật đã quy định rõ các hành vi bị cấm trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD Cụ thể là: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không được thực hiện các hành vi sau: Lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho NTD thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che dấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch không chính xác

Trang 20

về hàng hóa, dịch vụ, về uy tín khả năng kinh doanh của mình; quấy rối NTD thông qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng hoặc có hành vi gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt bình thường của NTD; ép buộc NTD giao dịch với mình khi NTD gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của NTD; yêu cầu NTD thanh toán hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp mà không thỏa thuận trước với NTD; cung cấp hàng hóa không đảm bảo chất lượng khi NTD gặp khó khăn hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD Ngoài ra, Luật cũng cấm người tiêu dùng, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi NTD, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lợi dụng việc bảo vệ quyền lợi của NTD để xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác

- Quy định hệ thống trách nhiệm của tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với NTD, bao gồm: Trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và của bên thứ ba; trách nhiệm đối với hợp đồng giao kết giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với NTD (đặc biệt là đối với hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung); trách nhiệm sau các giao dịch với NTD như: Trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện; trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật; trách nhiệm bồi thường thiệt hại do khuyết tật của hàng hóa gây ra

- Quy định cơ chế giải quyết tranh chấp giữa NTD và tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khi người tiêu dùng bị xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp Theo

đó, phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh giữa NTD và tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thể gồm: Thương lượng; hòa giải; trọng tài và tòa án

So với các văn bản pháp luật trước đây về bảo vệ quyền lợi NTD, Luật bảo vệ quyền lợi NTD đã bổ sung một số quy định mới Cụ thể là: Luật bổ sung thêm phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; khiếu kiện của người tiêu dùng đưa đến tòa có thể áp dụng thủ tục đơn giản; NTD khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền lợi của mình không phải nộp tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí tòa án

- Quy định các biện pháp xử lý hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD Chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD được

Trang 21

quy định tại Điều 11 của Luật bảo vệ quyền lợi NTD Theo đó, cá nhân kinh doanh

có thể bị xử lý chế tài hành chính, chế tài dân sự và chế tài hình sự Tổ chức kinh doanh có thể bị xử lý chế tài hành chính, chế tài dân sư Cá nhân lợi dụng chức vụ quyền hạn vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD thì tùy theo tính chất và mức độ

vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Trong lĩnh vực bảo vệ NTD, chế tài hành chính được áp dụng phổ biến nhất Hiện nay, các biện pháp xử lý hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD được quy định chủ yếu tại Nghị định 19/2012/ND-CP của Chính phủ

- Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD Theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD, Bộ Công thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD, Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương

- Quy định vai trò, vị trí của tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi NTD Luật bảo vệ quyền lợi NTD đã xác định các tổ chức xã hội đều có trách nhiệm tham gia vào công tác bảo vệ NTD chứ không phải chỉ có tổ chức bảo vệ NTD nói riêng mới là tổ chức đại diện để bảo vệ quyền lợi NTD như quy định tại Nghị định 55/2008/ND-CP Theo đó, vai trò của tổ chức xã hội nói chung và vai trò của Hội bảo vệ NTD nói riêng trong việc bảo vệ NTD đã được nâng cao hơn trước

Như vậy, một trong những nội dung quan trọng của pháp luật bảo vệ NTD là

đã xác định các thiết chế quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của NTD Các cơ quan,

tổ chức này sẽ là chủ thể tham gia vào quá trình đưa pháp luật bảo vệ NTD vào thực tiễn, để quyền lợi của NTD thực sự được đảm bảo

Trang 22

1.1.2 Khái quát các thiết chế bảo vệ người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam

1.1.2.1 Khái niệm thiết chế bảo vệ người tiêu dùng

Quan hệ giữa NTD và các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là một loại quan hệ dân sự phổ biến trong đời sống xã hội Như vậy có nghĩa chúng phải được thiết lập, thực hiện và bảo vệ theo các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự như: Tự do thỏa thuận; bình đẳng; thiện chí và trung thực; tôn trọng đạo đức tốt đẹp; tôn trọng lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Tuy nhiên, giữa các chủ thể này thường không tồn tại sự bình đằng một cách tuyệt đối trên thực tế, trong đó NTD sẽ ở vào vị trí “yếu thế” hơn, do

sự hạn chế về thông tin, về kiến thức chuyên môn, về khả năng đàm phán hợp đồng cũng như khả năng tự bảo vệ mình Bởi vậy, sự hiện diện của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD nói chung và những cơ quan, tổ chức đóng vai trò bảo vệ quyền lợi NTD nói riêng là góp phần tạo lập và giữ gìn sự bình đẳng, hỗ trợ NTD khắc phục tính “yếu thế” này trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh Hiện nay, giới nghiên cứu về pháp luật bảo vệ NTD ở Việt Nam vẫn sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để gọi những cơ quan, tổ chức đảm nhiệm vai trò bảo vệ quyền lợi NTD Có nhà nghiên cứu gọi những tổ chức này là “thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD”, có nhà nghiên cứu lại gọi những tổ chức này “thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng” hay “ thiết chế bảo vệ người tiêu dùng” Tuy nhiên, dù có

sử dụng thuật ngữ nào thì vẫn không thể phủ nhận rằng, Luật bảo vệ quyền lợi NTD

2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này đã ghi nhận sự hiện diện của các

cơ quan, tổ chức đảm nhiệm vai trò bảo vệ quyền lợi NTD, bao gồm 3 nhóm cơ quan là: Các cơ quan quản lý nhà nước (như Bộ Công thương; các Bộ, cơ quan ngang Bộ; Uỷ ban nhân dân các cấp); các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh và tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi NTD

Như vậy, từ thực tiễn pháp luật hiện hành ở Việt Nam, có thể đưa ra khái

Trang 23

niệm thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD như sau: “Thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD là các cơ quan, tổ chức có chức năng giải quyết hoặc trực tiếp hỗ trợ giải quyết các yêu cầu bảo vệ quyền lợi của NTD” [26]

Ở Việt Nam, hệ thống thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD cũng đã hình thành và

có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD Cụ thể là:

Thứ nhất, bảo đảm cho các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD

được tuân thủ

Các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là rào chắn an toàn cho những thỏa thuận không công bằng hoặc sự áp đảo của một bên, vì vậy là bộ phận quan trọng, giữ vai trò trung tâm, chủ đạo trong chính sách bảo vệ quyền lợi NTD của cả quốc gia Tuy vậy, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của các chủ thể tham gia thị trường trên thực tế, bao gồm cả các chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và NTD không phải lúc nào cũng đúng, mặc dù những chủ thể này có thể biết hoặc không biết Vì vậy, sự hiện diện của các thiết chế bảo vệ NTD sẽ đóng vai trò thực thi những quy định, quy tắc ấy

Thứ hai, là địa chỉ mà khi NTD cảm thấy quyền lợi của mình bị xâm hại có thể

đến để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ và tìm kiếm sự bảo vệ quyền lợi của mình

Vụ việc con ruồi trong chai nước ngọt của công ty Tân Hiệp Phát thời gian qua là minh chứng rõ nhất cho vai trò của thiết chế thực bảo vệ quyền lợi NTD Nếu NTD trong trường hợp này có được sự tư vấn, hỗ trợ giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp từ các tổ chức xã hội tham gia BVNTD thì có lẽ không phải chịu mức án 7 năm tù giam vì hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” Khi quyền và lợi ích của NTD bị nhà sản xuất, kinh doanh xâm hại một cách trái pháp luật, NTD có thể tiếp cận với Tòa án (khởi kiện trước Tòa án) hoặc tiếp cận với các hội bảo vệ NTD, với Cục quản lý cạnh tranh và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khác để được tư vấn, hỗ trợ và tìm kiếm sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình [20]

Thứ ba, là thiết chế giám sát sự vận hành của thị trường, giám sát cách ứng

xử của các nhà sản xuất, kinh doanh

Các thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam thường xuyên tiến hành

Trang 24

các hoạt động mang tính chất giám sát hành vi của thương nhân khi cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho NTD, kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trên thị trường nội địa (như sản xuất hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng hóa không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng ), thông qua đó nhằm theo dõi việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, phát hiện những hành vi vi phạm, những bất cập trong hệ thống chính sách và pháp luật để có các biện pháp ngăn chặn, giải quyết, kiến nghị sửa đổi và bổ sung, đáp ứng kịp thời những yêu cầu, đòi hỏi của đời sống tiêu dùng hàng ngày

1.1.2.2 Các thiết chế bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam

Theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi NTD và các văn bản pháp luật có liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD, các thiết chế bảo vệ NTD quan trọng nhất đang tồn tại ở Việt Nam là: Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ NTD, các tổ chức

xã hội (đặc biệt là hội bảo vệ quyền lợi NTD) và hệ thống tòa án

* Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dung

Các cơ quan quản lý nhà nước là chủ thể giữ vai trò chủ đạo trong cả hệ thống thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD, bởi lẽ chủ thể này là đơn vị có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách của nhà nước, trong đó có chính sách bảo vệ quyền lợi NTD, chỉ đạo hoặc phối hợp với các cơ quan khác tiến hành các hoạt động trong phạm vi quyền hạn của mình nhằm bảo đảm cho quyền lợi NTD được thực thi trên thực tế Hơn nữa, trong bối cảnh ở Việt Nam, hoạt động của các

tổ chức xã hội bảo vệ NTD còn rất mờ nhạt, nhận thức của xã hội về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD vẫn hạn chế, thì vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo

vệ quyền lợi NTD lại càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết

Hiện nay ở Việt Nam, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo

vệ quyền lợi NTD được ghi nhận trong Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010, thông qua quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD Cụ thể, Điều

47 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo

vệ quyền lợi NTD được phân công và phân cấp cho nhiều cơ quan nhà nước cùng tham gia:

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD

Trang 25

- Bộ Công thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD

- Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công thương về bảo vệ quyền lợi NTD

- UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương

Có thể nói, mô hình hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD như thiết kế của Luật bảo vệ quyền lợi NTD là mô hình phi tập trung (trách nhiệm không bị quy tụ duy nhất vào một cơ quan hoặc một hệ thống cơ quan có tính khép kín) nhưng không phân tán Mô hình này được xây dựng trên nhận thức rằng việc bảo vệ quyền lợi NTD là công việc rộng lớn, phức tạp mà không một cơ quan nào tự mình có thể đủ sức đảm nhiệm Mô hình này có ưu điểm nổi bật là độ “phủ sóng” lớn, khả năng huy động lực lượng để thực hiện mục tiêu bảo vệ quyền lợi NTD cao Tuy nhiên, mô hình phi tập trung bao giờ cũng nó khuyết tật nội tại của

nó Khuyết tật ấy thể hiện rõ nhất là khả năng xảy ra sự chồng lấn về thẩm quyền hoặc khả năng đùn đẩy trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ chung Đây là đặc điểm quan trọng của mô hình phi tập trung trong việc bảo vệ NTD mà khi cụ thể hóa mô hình cũng như khi vận hành, thực hiện các chủ thể có liên quan cần hết sức lưu ý để khắc phục

* Hệ thống tòa án

Bên cạnh các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD như đã trình bày ở trên, Tòa án cũng tham gia vào quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam, với chức năng là áp dụng các quy định của pháp luật hợp đồng và pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm phục hồi những lợi ích mà NTD đáng lẽ ra được hưởng nếu không có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD Các cơ quan quản lý nhà nước không có chức năng này

Ở nước ta không có Tòa án chuyên trách về bảo vệ NTD, các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền lợi NTD được xếp vào loại vụ kiện dân sự và Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc nếu có đơn khởi kiện của NTD Trình

Trang 26

luật Dân sự 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và các văn bản có liên quan quy định Thực tiễn vận hành cơ chế giải quyết tranh chấp giữa NTD và thương nhân cho thấy, cơ chế vận hành của Tòa án được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự không tạo thuận lợi thỏa đáng cho NTD

Nhằm gỡ bỏ những rào cản pháp lý bất hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho NTD bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong việc thực hiện quyền khởi kiện của mình, Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 đã có một số quy định quan trọng, cụ thể như sau:

- Trường hợp vụ kiện thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 (nguyên đơn khởi kiện là cá nhân, vụ án được xếp

vào loại “đơn giản” và có “chứng cứ rõ ràng”, giá trị giao dịch trong vụ tranh chấp

dưới 100 triệu đồng) thì có thể tiến hành khởi kiện theo thủ tục đơn giản

Trang 27

- Luật chuyển một phần gánh nặng chứng minh từ phía NTD (nguyên đơn) sang phía thương nhân (bị đơn) so với các vụ kiện thông thường (Điều 42 Luật bảo

vệ quyền lợi NTD 2010)

- Miễn nghĩa vụ tạm ứng án phí của NTD khi NTD khởi kiện vụ án dân sự để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 43 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010)

Luật bảo vệ quyền lợi NTD cũng trao cho tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi NTD khi thỏa mãn những điều kiện nhất định mà Chính phủ quy định được quyền khởi kiện bảo vệ quyền lợi NTD dưới một trong hai hình thức: Khởi kiện theo sự ủy quyền của NTD hoặc không cần sự ủy quyền của NTD để nhằm bảo vệ lợi ích công cộng (khoản 1 Điều 28 Luật bảo vệ quyền lợi NTD)

* Tổ chức xã hội tham gia việc tham gia bảo vệ người tiêu dùng

Điều 4 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 ghi nhận nguyên tắc “Bảo vệ quyền

lợi NTD là trách nhiệm chung của nhà nước và toàn xã hội” Điều này có nghĩa là,

trách nhiệm bảo vệ quyền lợi NTD hiện nay không chỉ thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước mà còn là trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp, của bản thân NTD, của các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, quảng cáo) và của các tổ chức xã hội

Trên thực tế, các tổ chức xã hội ở Việt Nam (mà chủ yếu là các hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng) có thể có các tên gọi khác nhau, được thành lập ở các thời điểm khác nhau, tại các địa phương khác nhau, nhưng về cơ bản đều do các tổ chức, cá nhân người Việt Nam tự nguyện, có tôn chỉ mục đích thành lập, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NTD, vì vậy

có vai trò hết sức cần thiết trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay Cụ thể, Điều 28 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 đã quy định các hoạt động

mà các tổ chức xã hội nói chung và Hội bảo vệ NTD nói riêng có thể tham gia để bảo vệ quyền lợi của NTD là:

- Hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn NTD khi có yêu cầu;

- Đại diện NTD khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng;

Trang 28

- Cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD thông tin

về hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;

- Độc lập khảo sát, thử nghiệm; công bố kết quả khảo sát, thử nghiệm chất lượng hàng hóa, dịch vụ do mình thực hiện; thông tin, cảnh báo cho người tiêu dùng

về hàng hóa, dịch vụ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thông tin, cảnh báo của mình; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật

về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

- Tham gia xây dựng pháp luật, chủ trương, chính sách, phương hướng, kế hoạch và biện pháp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

- Thực hiện nhiệm vụ được cơ quan nhà nước giao để bảo vệ quyền lợi NTD;

- Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức tiêu dùng;

1.2 Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng

1.2.1 Khái niệm địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng

Trong phụ lục giải thích một số thuật ngữ của Bộ Luật dân sự năm 2005 đã giải nghĩa địa vị pháp lý là tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho một chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể đó có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập (Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, 2005, trang 314)

Theo đó địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu

Trang 29

dùng là tổng hợp các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm mà pháp luật quy định cho mỗi

cơ quan đó và xác định tư cách chủ thể tạo cho các cơ quan đó khả năng tham gia các

quan hệ pháp luật một cách độc lập nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi NTD Hiện nay ở Việt Nam, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo

vệ NTD được ghi nhận trong Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010, thông qua quy định

về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD Cụ thể, Điều 47 Luật bảo

vệ quyền lợi NTD 2010 quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD được phân công và phân cấp cho nhiều cơ quan nhà nước cùng tham gia:

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD

- Bộ Công thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD

- Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công thương về bảo vệ quyền lợi NTD

- UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương

Như vậy, theo quy định nói trên, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo

vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện được phân cấp thành hai bộ phận, đó là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở Trung ương là Bộ Công thương và cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở địa phương là UBND các cấp Ngoài ra, Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 cũng quy định trách nhiệm của các Bộ,

cơ quan ngang Bộ như: Bộ Khoa học và công nghệ; Bộ Y tế; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ xây dựng; Đài truyền hình Việt Nam; Đài Tiếng nói Việt Nam… trong việc phối hợp với Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo

Trang 30

tiêu dùng ở Trung ương trong việc bảo vệ người tiêu dùng

* Bộ Công thương

Như đã trình bày ở trên, trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay được phân công và phân cấp cho nhiều cơ quan nhà nước cùng tham gia Tuy nhiên, trong số các cơ quan đó, Bộ Công thương được xác định là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD (được gọi là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD) Điều này được quy định rất rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là:

Khoản 2 Điều 47 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 quy định “Bộ Công thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ

quyền lợi NTD”

Điều 34 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng

dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 quy định: “Bộ Công thương là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở Trung ương”

Tuy nhiên, Bộ Công thương bên cạnh chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD còn phải thực hiện nhiệm vụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau như:

An toàn kĩ thuật công nghệ và môi trường; cơ khí và luyện kim; điện, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; dầu khí; hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp; công nghiệp và thương mại địa phương [12] chính

vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD,

Bộ Công thương giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD cho Cục Quản lý Cạnh tranh

Cục Quản lý Cạnh tranh được thành lập vào năm 2006 với tư cách là cơ quan chuyên trách giúp Bộ Công thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD Điều này được quy định tại Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý Cạnh tranh, Nghị định số 55/2008/NĐ-CP ngày 24/4/2008 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về bảo vệ quyền lợi NTD và tiếp tục được khẳng định tại khoản 1 Điều 34 Nghị định số 99/201l/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 “Cục quản lý cạnh tranh là cơ quan giúp

Trang 31

Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD”

Hiện nay theo Quyết định số 848/QĐ-BCT ngày 05/02/2013 của Bộ trưởng

Bộ Công thương quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh, nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD được giao cho Phòng bảo vệ NTD và Phòng kiểm soát hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung của Cục quản lý cạnh tranh, với 4 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản như sau [13]:

+ Thứ nhất, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi

NTD và tổ chức thực hiện các văn bản này sau khi được ban hành

+ Thứ hai, phối hợp với các cơ quan có liên quan để thanh tra, kiểm tra,

giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD

+ Thứ ba, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền và xử lí vi phạm

pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD

+ Thứ tư, tiến hành tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các chính sách có

liên quan đến công tác bảo vệ quyền lợi NTD

Bên cạnh Cục Quản lý cạnh tranh, một cơ quan khác của Bộ Công thương cũng có vai trò quan trọng liên quan đến công tác bảo vệ quyền lợi NTD, đó là Cục quản lý thị trường

Cục quản lý thị trường là cơ quan có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng

Bộ Công thương quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại

ở thị trường trong nước Cụ thể, Điều 2 Quyết định số 907 /QĐ-BCT ngày 06/02/2013 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý thị trường trực thuộc Bộ Công thương quy định, Cục quản lý thị trường có các nhiệm vụ cơ bản sau:

+ Giúp Bộ trưởng thực hiện các công tác liên quan tới việc hoạch định và chỉ đạo, hướng dẫn, phổ biến, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm về công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại

Trang 32

ở thị trường trong nước

+ Tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại (nhất là các hoạt động buôn lậu, sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng kém chất lương, hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm)

Như vậy, có thể nói rằng, vai trò của Bộ Công thương trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD là hết sức quan trọng trong hệ thống thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam Các lĩnh vực mà Bộ Công thương có nhiệm vụ thực hiện quản lý nhà nước là rất rộng và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của NTD theo quy định của pháp luật Chính vì vậy, nếu Bộ Công thương thực hiện tốt các nhiệm

vụ của mình thì quyền lợi của NTD sẽ từng bước được đảm bảo, không chỉ góp phần đảm bảo trật tự quản lý kinh tế, ổn định xã hội mà còn giúp các doanh nghiệp làm ăn chân chính có thể bảo vệ được uy tín, thương hiệu của mình và góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

* Bộ Khoa học và Công nghệ

Theo Điều 69 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 quy định Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chủ trì xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; có trách nhiệm giải quyết khiếu lại, tố cáo, xử lý các vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong lĩnh vực được phân công Giúp việc cho Bộ Khoa học và Công nghệ trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD là Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng [14] Cơ quan này trực thuộc

Bộ Khoa học và Công nghệ, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng theo quy định của pháp luật Quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng của Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng cần phối hợp với với Bộ Công thương thực hiện các nhiêm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD

Trang 33

Ở các địa phương, chức năng quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa được giao cho các Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng Các chi cục này chịu sự chỉ đạo và quản lý mọi mặt của Sở Khoa học

và Công nghệ, đồng thời chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng

* Bộ Y tế

Theo Điều 1 Nghị định số 63/2012/NĐ-CP của Chính Phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế quy định: Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về y tế, bao gồm các lĩnh vực: Khám bệnh; Chữa bệnh; Y dược cổ truyền; Trang thiết bị y tế; Dược; Mỹ phẩm; An toàn thực phẩm đây là nhiệm vụ rất quan trọng liên quan trực tiếp tới việc bảo vệ các quyền lợi thiết thực của NTD, vì vậy mặc dù Luật bảo vệ quyền lợi NTD không có quy định cụ thể nhưng Bộ Y tế vẫn là cơ quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD

Để giúp Bộ trưởng Bộ Y tế thực hiện các nhiệm vụ được giao kể trên, Bộ Y

tế đã thành lập nhiều đơn vị quan trọng trong cơ cấu tổ chức của mình như Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Cục quản lý dược, Vụ pháp chế, Thanh tra Bộ Y tế trong các đơn vị này, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm là đơn vị đầu mối đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng trong quản lý nhà nước có liên quan đến hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD [15]

Ngoài Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế, trách nhiệm phối hợp với Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD hiện còn thuộc

về nhiều Bộ, cơ quan ngang bộ khác như:

- Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn: Theo Điều 1 Nghị định số 199/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì cơ quan này là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước các ngành, lĩnh vực: Nông

Trang 34

nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy sản, thủy lợi và phát triển nông thôn trong phạm vi cả nước; Quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ

- Bộ Xây dựng: Điều 1 Nghị định số 62/2013/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng quy định

là “Cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; Hoạt động đầu tư xây dựng; Phát triển đô thị; Hạ tầng kỹ thuật

đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao; Nhà ở; Công sở; Thị trường bất động sản; Vật liệu xây dựng; Quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật ”

- Bộ Giao thông vận tải: Điều 2 Nghị định số 107 /2012/NĐ-CP ngày

20/12/2012 của Chính phủ qui định là “Cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà

nước về giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng không, hàng hải trong phạm vi cả nước; Quản lý nhà nước các dịch vụ công theo quy định của pháp luật”

1.2.2.2 Chức năng và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng ở địa phương trong việc bảo vệ người tiêu dùng

* Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Khoản 4 Điều 47 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 quy định: “UBND các cấp trọng phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương” Như vậy theo quy định này, UBND các cấp

đóng vai trò là cơ quan quản lý cấp địa phương trong các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam

Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 cũng có quy định giao nhiệm vụ cụ thể cho

Trang 35

UBND các cấp trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương Tuy nhiên thấy rằng, Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 đã không có sự phân định rõ ràng trách nhiệm của UBND từng cấp trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD Sự thiếu rõ ràng trong phân công nhiệm vụ, quyền hạn này có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc triển khai Luật bảo vệ quyền lợi NTD trong thực tế bởi chính quyền địa phương Vì vậy, khi hướng dẫn thi hành Luật bảo

vệ quyền lợi NTD 2010, Chính phủ đã có quy định cụ thể hóa quy định kể trên Cụ thể, khoản 2 Điều 34 Nghị định 99/2011/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi

hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi NTD quy định: “UBND cấp tỉnh tại địa phương là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở địa phương”

Như vậy theo tinh thần của Nghị định 99/2011 nêu trên, UBND cấp tỉnh là

cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương Trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD, UBND cấp tỉnh đóng vai trò là

cơ quan xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trong phạm

vi địa phương do mình quản lý, cụ thể là: Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật; Phối hợp với các cơ quan có liên quan để thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật và tiếp nhận, giải quyết các kiến nghị, các khiếu nại, tố cáo; Tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 49 Luật bảo vệ quyền lợi NTD)

Ngoài ra, UBND cấp tỉnh còn được giao nhiệm vụ là cơ quan tiếp nhận báo cáo kết quả thu hồi hàng hóa có khuyết tật của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, quy định tại điều 22 của Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010

Tuy nhiên, cũng giống như Bộ Công thương, UBND cấp tỉnh bên cạnh chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương trong phạm vi do mình quản lý, còn được giao tổ chức thực hiện nhiều nhiệm vụ trong các lĩnh vực khác như: Thương mại; du lịch; thủy sản; khoa học, công nghệ; tài nguyên (Điều 21 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương) Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương, UBND cấp tỉnh giao

Sở Công thương là cơ quan giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà

Trang 36

nước về bảo vệ quyền lợi NTD, với các nhiệm vụ cơ bản theo Khoản 1 Điều 35 Nghị định 99/2011/ NĐ-CP như sau:

- Thứ nhất, xây dựng các chính sách, chiến lược, chương trình, dự án, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD và tổ chức thực hiện các văn bản này sau khi được ban hành

- Thứ hai, quản lý hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức hòa giải tại địa phương

- Thứ ba, phối hơp với các cơ quan có liên quan để thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD

- Thứ tư, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD

- Thứ năm, tiến hành tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các chính sách có liên quan đến công tác bảo vệ quyền lợi NTD

* Uỷ ban nhân dân cấp huyện

Có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 49 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 như nêu trên Ngoài ra, UBND cấp huyện là cơ quan tiếp nhận và giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi của NTD hoặc của tổ chức xã hội “Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhiều NTD, lợi ích công cộng”, theo quy định tại Điều 25 Luật bảo vệ quyền lợi

NTD Được quyền chỉ định đơn vị giúp mình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước

về bảo vệ quyền lợi NTD trên địa bàn huyện mình, tùy thuộc vào khả năng và điều kiện của địa phương Theo Khoản 3 Điều 34 Nghị định 99/2011/NĐ-CP, đơn vị này

có các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Thứ nhất, tổ chức thực hiện các chính sách, chiến lược, chương trình, dự

án, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD

- Thứ hai, quản lý hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức hòa giải trên địa bàn huyện mình quản lý

- Thứ ba, phối hợp với các cơ quan có liên quan để thanh tra, kiểm tra, giám

Trang 37

sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD

- Thứ tư, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD

- Thứ năm, tiến hành tuyên truyền, phố biến pháp luật và các chính sách có liên quan đến công tác bảo vệ quyền lợi NTD

* Uỷ ban nhân dân cấp xã

UBND cấp xã trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD cũng có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 49 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010

Ngoài các nhiệm vụ chung quy định tại Điều 49 Luật bảo vệ quyền lợi NTD

2010 như nêu trên, UBND cấp xã còn được giao trách nhiệm cụ thể trong việc bảo

vệ NTD tham gia giao dịch với các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không có đăng ký kinh doanh Điều này được quy định tại Điều 7 Luật bảo

vệ quyền lợi NTD và Điều 6 Nghị định 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/10/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi NTD Cụ thể trách nhiệm của UBND cấp xã như sau:

+ Kiểm tra, giám sát hoạt động của các Ban quản lý chợ, thương nhân kinh doanh chợ, trung tâm thương mại trên địa bàn trong việc thực hiện nội quy đã được phê duyệt Trong trường hợp không có ban quản lý chợ, thương nhân kinh doanh chợ; Trung tâm thương mại thì UBND cấp xã có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền lợi NTD trong phạm vi chợ, trung tâm thương mại

+ Quản lý, kiểm tra hoạt động của các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh hoạt động trên địa bàn xã ngoài phạm vi chợ, trung tâm thương mại để bảo vệ quyền NTD

+ Phối hợp với các cơ quan chức năng cấp huyện, tỉnh về thương mại, quản

lý thị trường, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng trong việc quản lý, kiểm tra hoạt động kinh doanh của các cá nhân hoạt động thương mại trên địa bàn

Trang 38

định của pháp luật

+ Tuyên truyền, khuyến khích các cá nhân không hoạt động thương mại ngoài phạm vi chợ, trung tâm thương mại Tạo điều kiện để các cá nhân hoạt động kinh doanh trong phạm vi chợ, trung tâm thương mại

1.3 Kinh nghiệm bảo vệ người tiêu dùng của cơ quan nhà nước ở một số nước trên thế giới

Qua nghiên cứu pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của một số quốc gia trên thế giới, có thể phân thành 2 nhóm:

Trang 39

- Nhóm nước không ban hành luật bảo vệ NTD mà các quy định về bảo vệ NTD nằm rải rác tại các văn bản pháp luật chuyên ngành khác.

- Nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ ban hành đạo luật riêng về bảo vệ người tiêu dùng như Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Hồng Kông, Ấn Độ, Nga, Nauy, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Anh.Nhìn lại lịch sử quá trình phát triển của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở các nước phát triển, có thể thấy rằng, các đạo luật về BVNTD được ban hành đầu tiên chủ yếu vào thập niên 1950 - 1970 Đây là thời kỳ mà phong trào bảo vệ NTD trở thành một trong những chủ điểm kinh tế, chính trị quan trọng

Ví dụ, tại Hoa Kỳ, trong thập niên 1960 - 1970 hàng loạt đạo luật về bảo vệ NTD sau đây được ban hành: Luật Liên bang về các chất nguy hại năm 1960 (the Federal Hazardous Substances Act of 1960), Luật về đóng gói và ghi nhãn công bằng năm 1966 (The Fair Packaging and Labeling Act of 1966), Luật về tính trung thực trong hoạt động cho vay năm 1968 (The Truth in Lending Act of 1968), Luật

về tiết lộ thông tin đầy đủ trong các giao dịch bất động sản liên bang năm 1968 (The Interstate Land Sales Full Disclosure Act of 1968), Luật đảm bảo an toàn đồ chơi cho trẻ em năm 1969 (The Child Protection and Toy Safety Act of 1969), Luật về báo cáo tín dụng công bằng năm 1970 (The Fair Credit Reporting Act of 1970), Luật về an toàn sản phẩm tiêu dùng năm 1972 (The Consumer Product Safety Act

of 1972), Luật về cơ hội tín dụng bình đẳng năm 1974 (The Equal Credit Opportunity Act of 1974), Luật bảo hành Magnuson Moss năm 1975 (Magnuson Moss Warranty Act of 1975), Luật về hành vi đòi nợ công bằng năm 1977 (The Fair Debt Collection Practices Act of 1977) vv

Cũng trong giai đoạn đó, Nhật Bản ban hành Luật cơ bản về BVNTD (năm 1968) còn Úc ban hành Luật về các hành vi thương mại năm 1974 (the Trade Practices Act of 1974) với nhiều quy định về BVNTD Tại Anh Quốc, hàng loạt đạo luật về BVNTD sau đây được ban hành: Luật thuê mua năm 1964 (Hire-purchase Act of 1964), Luật về thông tin sai lạc trong thương mại năm 1967 (Misrepresentation Act of 1967), Luật về các mô tả thương mại năm 1968 (Trade

Trang 40

Descriptions Acts of 1968), Luật về cung ứng hàng hoá, dịch vụ ngoài ý muốn của NTD năm 1971 (Unsolicited Goods and Services Act of 1971), Luật thương mại công bằng năm 1973 (Fair Trading Act of 1973), Luật về các điều khoản mặc nhiên trong hợp đồng cung ứng hàng hoá năm 1973 (Supply of Goods (Implied Terms) Act of 1973), Luật về tín dụng tiêu dùng năm 1974 (Consumer Credit Act of 1974), Luật về các điều khoản hợp đồng không công bằng năm 1977 (Unfair Contract Terms Act of 1977), Luật về an toàn tiêu dùng năm 1978 (Consumer Safety Act of 1978) [25].

Sau khi nghiên cứu Luật BVNTD của 15 nước trên thế giới, bên cạnh các nội dung mang tính đặc thù như: An toàn NTD, xung đột pháp luật, trách nhiệm đối với sản phẩm… do sự khác nhau về điều kiện phát triển kinh tế, xã hội cũng như hệ thống pháp luật của mỗi nước thì pháp luật bảo vệ NTD của các nước đều có quy định đến một số nội dung cơ bản như:Về khái niệm người tiêu dùng; Về các quyền

của người tiêu dùng; Các hành vi thương mại không công bằng; Hợp đồng tiêu dùng; Các quy định về bảo hành; Cơ chế giải quyết tranh chấp cho người tiêu dùng; Trách nhiệm sản phẩm

* Về hệ thống thiết chế bảo vệ người tiêu dùng trên thế giới thường chia làm hai bộ phận chính [6]

- Nhóm các cơ quan quản lý nhà nước: Bao gồm các cơ quan chuyên trách về BVNTD và các bộ phận BVNTD trong các cơ quan điều tiết ngành

Hệ thống cơ quan nhà nước bảo vệ quyền lợi NTD được cấu thành bởi hai nhóm cơ quan chính là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và hệ thống các cơ quan tư pháp, xuất phát từ bản chất của quan hệ giữa NTD và tổ chức cá nhân sản

xuất kinh doanh (doanh nghiệp) là quan hệ tư, do đó nó sẽ được điều chỉnh chủ yếu bởi hệ thống pháp luật tư Tuy nhiên, quá trình hàng hóa dịch vụ từ nơi sản xuất đến với NTD là một quá trình phức tạp, ngay cả khi NTD đã sử dụng hàng hóa dịch vụ thì các hành vi của doanh nghiệp vẫn chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật công, mục tiêu của sự can thiệp này từ phía nhà nước là để đảm bảo trật tự công

Ngày đăng: 22/03/2018, 18:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Báo cáo nghiên cứu “Thiết chế bảo vệ người tiêu dùng: Thực trạng Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế và định hướng hoàn thiện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết chế bảo vệ người tiêu dùng: Thực trạng Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế và định hướng hoàn thiện
10. Bộ Tư pháp (2008) Báo cáo phúc trình đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “C"ơ" ch"ế" pháp lý b"ả"o v"ệ" ng"ườ"i tiêu dùng
17. Nguyễn Thị Vân Anh (2009), “Luật bảo vệ người tiêu dùng của Malaisia”, Tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, số 12/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lu"ậ"t b"ả"o v"ệ" ng"ườ"i tiêu dùng c"ủ"a Malaisia”
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2009
18. Nguyễn Thị Vân Anh (chủ biên, 2014) “Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam”, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
20. Minh Giang (2015), “Vụ chai nước có ruồi: Tuyên phạt bị cáo 7 năm tù”, báo Dân trí tại địa chỉ: http://dantri.com.vn/phap-luat/vu-chai-nuoc-co-ruoi-tuyen-phat-bi-cao-7-nara-tu-2015121815070106.htm ngày truy cập 18/12/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ chai nước có ruồi: Tuyên phạt bị cáo 7 năm tù
Tác giả: Minh Giang
Năm: 2015
22. Luật sư Nguyễn Văn Hậu - Phó Chủ tịch Hội Luật gia Thành phố Hồ Chí Minh, “Quyền năng của người tiêu dùng và bóng mờ của Hội” (báo Người lao động), số ra ngày 19/3/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy"ề"n n"ă"ng c"ủ"a ng"ườ"i tiêu dùng và bóng m"ờ" c"ủ"a H"ộ"i”
23. Uyên Hương, “Vô vàn khó khăn trong thực hiện Luật bảo vệ người tiêu dùng”, báo Điện tử Việt Nam ngày 28/10/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vô vàn khó khăn trong thực hiện Luật bảo vệ người tiêu dùng
24. Thái Ngọc (2015), “Hơn 2000 cuộc gọi đến tổng đài tư vấn người tiêu dùng”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn tại địa chỉ:http://www.thesaigontimes.vn/127704/hon-2000-cuoc-goi-den-tong-dai-tu-van-nguoi-tieu- dung.html/, truy cập ngày 17/08/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 2000 cuộc gọi đến tổng đài tư vấn người tiêu dùng
Tác giả: Thái Ngọc
Năm: 2015
26. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB Công an nhân dân, trang 51.27. Trang tin điện tử Tổng quan về Hải Dương,https://haiduong.eregulations.org/menu/47?l=vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lu"ậ"t b"ả"o v"ệ" quy"ề"n l"ợ"i ng"ườ"i tiêu dùng
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2012
28. Trang tin điện tử Sở Công thương Hải Dương, http://sct.haiduong.gov.vn/ Link
2. Nghị định số 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
3. Nghị định số 19/2012/NĐ-CP của Chính phủ về qui định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ban hành ngày 16/3/2012 Khác
4. Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ qui định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
7. Báo cáo Tổng kết năm 2014 - 2015 của Sở Công thương tỉnh Hải Dương Khác
8. Báo cáo Tổng kết công tác quản lý thị trường tỉnh Hải Dương năm 2014 - 2015 Khác
9. Bộ Công thương 2015, Báo cáo Tổng kết công tác bảo vệ quyền lợi NTD giai đoạn 2011 - 2015 Khác
11. Bộ Công Thương (2015), Báo cáo Tổng kết công tác bảo vệ quyền lợi NTD giai đoạn 2011 - 2015 Khác
12. Điều 2 Nghị định 95/2012/NĐ-CP ngày 12/11/2012 của Chính phủ qui định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương Khác
13. Quyết định số 848/QĐ-BCT của Bộ Công thương, qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh, Điều 2 Khác
14. Quyết định số 104/2009/QĐ-TTg ngày 12/08/2009 qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w