Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tại địa bàn huyện Sông Lô hiện nay vẫn còn một số vấn đề tồn tại hạn chế trong công tác quản lý và bảo vệ rừng như: việc ngăn chặn tình trạng
Trang 1––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN LÂM TỚI
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG
TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN LÂM TỚI
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG
TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ RỪNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
Ngành: Phát triển Nông thôn
Mã số: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THANH VÂN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ trong nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Lâm Tới
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự ủng hộ, động viên của gia đình, bạn bè, cơ quan đồng nghiệp và đặc biệt là sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của nhà trường và sự dạy bảo tận tình của thầy cô
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, Phòng đào tạo, các thầy cô giáo đã bổ sung, cập nhật những kiến thức khoa học bổ ích cho tôi
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Đào Thanh Vân, người đã tận tình hướng dẫn, định hướng và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, công chức Hạt Kiểm lâm huyện Sông Lô nơi tôi đang công tác và làm việc, các đồng chí lãnh đạo phòng Tài Nguyên & MT, Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Thống kê huyện, các đồng chí lãnh đạo UBND và các hộ gia đình xã Quang Yên, Lãng Công, Đồng Quế huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc cùng bạn bè đồng nghiệp đã cùng làm việc, cung cấp những thông tin, tài liệu quý giá cho quá trình xây dựng luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng, song do điều kiện thời gian và trình độ có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định Kính mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp và bạn đọc
để luận văn được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, ngày tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Lâm Tới
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Một số khái niệm và quan điểm về cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng 4
1.1.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội và lợi ích từ rừng cộng đồng 7
1.2 Các nghiên cứu trên thế giới về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng 8
1.2.1 Phương pháp điều tra và lập kế hoạch trong quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng 10
1.2.2 Phương pháp điều tra rừng có sự tham gia của người dân 11
1.2.3 Lập kế hoạch trong quản lý rừng cộng đồng 13
1.3 Các nghiên cứu ở trong nước về quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng 15
1.3.1 Nghiên cứu về loại hình quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng được nhận dạng ở Việt Nam 15
Trang 61.3.2 Một số nghiên cứu thí điểm quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của
cộng đồng ở huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc 18
1.3.3 Mô hình quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng có hiệu quả 20
1.3.4 Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tế quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng 22
1.4 Các kết luận rút ra từ nghiên cứu và phân tích tổng quan 23
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sông Lô 23
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu (PRA) 27
2.3.2 Phương pháp kế thừa số liệu 29
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 29
2.3.5 Phương pháp chuyên gia 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng ở huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc 31
3.1.1 Khuôn khổ pháp lý và chính sách liên quan đến quản lý rừng cộng đồng tại địa phương 31
3.1.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng tại địa phương 38
3.2 Đánh giá kết quả và tác động của quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng ở huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc 53
Trang 73.2.1 Tác động về nhận thức 53
3.2.2 Tác động làm thay đổi về mức độ vi phạm pháp luật trên diện tích rừng giao cho cộng đồng 55
3.2.3 Tác động trong công tác Phòng cháy chữa cháy rừng 57
3.2.4 Tác động về kinh tế 58
3.2.5 Tác động về môi trường 60
3.2.6 Tác động về xã hội 62
3.2.7 Vai trò các bên liên quan trong quản lý rừng phòng hộ huyện Sông Lô 63
3.3 Những tồn tại, nguyên nhân trong công tác quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng 64
3.3.1 Chất lượng rừng giao cho cộng đồng 64
3.3.2 Công tác quản trị rừng địa phương còn hạn chế 64
3.3.3 Thiếu cơ chế hỗ trợ tài chính 65
3.3.4 Hệ thống hỗ trợ cho công tác quản lý rừng của cộng đồng còn thiếu và yếu 65
3.3.5 Cục bộ trong quản lý rừng cộng đồng 65
3.3.6 Năng lực của cộng đồng còn hạn chế 66
3.4 Đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng 67
3.4.1 Giải pháp về chính sách 67
3.4.2 Giải pháp về tổ chức 70
3.4.3 Giải pháp về kỹ thuật 72
3.4.4 Giải pháp về luật pháp 73
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 76
1 Kết luận 76
2 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 82
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 3.1: Khái quát chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư
thôn, bản 33
Bảng 3.2: Tổng hợp diện tích các loại đất, loại rừng tại các xã nghiên cứu 38
Bảng 3.3: Diện tích rừng phân theo chủ quản lý trên địa bàn huyện 43
Bảng 3.4: Diện tích đất, rừng giao cho cộng đồng tại các xã nghiên cứu 45
Bảng 3.5: Hiện trạng mô hình rừng trồng phòng hộ cộng đồng 46
Bảng 3.6: Trữ lượng trung bình rừng trồng phòng hộ cộng đồng 48
Bảng 3.7: Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng 53
Bảng 3.8: Thống kê số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng 56
Bảng 3.9: Thống kê số vụ cháy rừng trên địa bàn từ 2010-2017 58
Bảng 3.10: Cơ cấu thu nhập bình quân của một hộ gia đình tham gia quản lý rừng cộng đồng 59
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của rừng tới môi trường 60
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ Venn 28
Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng rừng xã Lãng Công 2015 40
Hình 3.2 Bản đồ hiện trạng rừng xã Đồng Quế 2015 41
Hình 3.3 Bản đồ hiện trạng rừng xã Quang Yên 2015 42
Hình 3.4 Sơ đồ Venn về quản lý bảo vệ rừng huyện Sông Lô 63
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam rừng được xem là tài nguyên quý giá của đất nước, ta đã tự hào vì có được nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, trong những năm gần đây rừng đang ngày càng bị suy giảm cả về
số lượng và chất lượng Vấn đề cấp bách đặt ra lúc này là phải có chính sách quản lý và bảo vệ rừng một cách toàn diện của tất cả các cấp, các ngành và toàn xã hội để có thể vừa bảo vệ tài nguyên rừng vừa để bảo tồn và phát triển được tài nguyên rừng
Từ năm 1986, Việt Nam chuyển hướng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Mục đích để giảm bớt vai trò điều tiết của Nhà nước, tăng trách nhiệm quản lý cho các cấp chính quyền địa phương Ngành lâm nghiệp cũng thực hiện chiến lược chuyển hướng chiến lược từ lâm nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp nhân dân, đã xuất hiện nhiều nhân tố mới, đặc biệt là đa dạng hóa các phương thức quản lý tài nguyên rừng Mặt khác, ngành lâm nghiệp cũng chuyển đổi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác và chế biến gỗ, sang hình thức gắn khai thác gỗ với tái sinh rừng, phát triển rừng toàn diện
Huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc là huyện miền núi của tỉnh, mới thành lập từ tháng 4/2009 dựa trên sự chia tách từ huyện Lập Thạch cũ Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 15.031,77 ha, dân số 93.984 người, trong đó đất lâm nghiệp 3.937,756 ha, chiếm 26,24% tổng diện tích tự nhiên Diện tích quy hoạch rừng phòng hộ là 1.446,98 ha, diện tích quy hoạch rừng sản xuất là
2.490,776 ha [4] Trong 2 năm 2010 - 2011, thực hiện chính sách của Nhà
nước về quản lý rừng, huyện Sông Lô thực hiện giao khoán rừng, cho thuê rừng đến các chủ thể quản lý cụ thể như: tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn bản… nhằm nâng cao trách nhiệm của các bên trong công tác quản lý bảo vệ rừng.Với những chính sách đổi mới về lâm nghiệp bước đầu
Trang 12đã mang lại những kết quả khả quan khi diện tích rừng ngày càng được nâng lên, các cánh rừng phòng hộ đã phát huy được khả năng phòng hộ của rừng, rừng sản xuất đã mang lại lợi ích về kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tại địa bàn huyện Sông Lô hiện nay vẫn còn một số vấn đề tồn tại hạn chế trong công tác quản lý và bảo vệ rừng như: việc ngăn chặn tình trạng phá rừng, suy giảm rừng, lấn chiếm đất rừng của các đối tượng được giao trách nhiệm quản lý, bảo vệ, sử dụng rừng còn yếu kém; công tác phát triển rừng còn nặng về lợi ích trước mắt; nhận thức, ý thức trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững chưa cao; tính pháp lý và cơ chế hưởng lợi chưa thực sự trở thành động lực cho các bên trong việc tham gia bảo vệ rừng… Điều này khẳng định việc tìm hiểu vấn đề
và nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng là điều rất quan trọng và cấp bách hiện nay
Xuất phát từ thực tế trên, trong khuôn khổ luận văn Thạc sỹ, em chọn
đề tài“Nghiên cứu vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Mục tiêu của đề tài
+ Đánh giá hiện trạng công tác quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng ở huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
+ Đánh giá kết quả và tác động của quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu
+ Tồn tại, nguyên nhân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng
3 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
Đề tài là công trình nghiên cứu có tính hệ thống tiềm năng quản lý rừng
có sự tham gia của cộng đồng ở huyện Sông Lô Các kết quả nghiên cứu sẽ là
Trang 13cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý rừng cộng đồng, góp phần vào quản lý bền vững tài nguyên rừng
* Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài là tài liệu tham khảo để đề ra những chính sách phù hợp hơn trong quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng cho các khu vực có điều kiện sinh thái, kinh tế, xã hội tương đồng
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm và quan điểm về cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng
và quản lý rừng cộng đồng
1.1.1.1 Khái niệm về cộng đồng
Thuật ngữ “Cộng đồng” được khái niệm khác nhau khi đứng trên quan điểm, góc nhìn khác nhau:
+ Thuật ngữ “cộng đồng” theo FAO (1996) [25] “Cộng đồng là những
người sống tại một chỗ trong một tổng thể hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”
+ Ở Việt Nam, cộng đồng được hiểu là những người sống trong cùng ranh giới hành chính như cộng đồng thôn, cộng đồng bản Ranh giới hành chính các thôn, bản đều được thành lập dựa trên lịch sử lâu đời, vì vậy, cộng đồng tại các thôn, bản luôn có mối liên hệ mật thiết, người đứng đầu (trưởng thôn, trưởng bản) có hương ước, quy ước xây dựng lâu đời và được người dân rất tôn trọng, tuân thủ nghiêm ngặt
1.1.1.2 Khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng
Lâm nghiệp cộng đồng không chỉ giới hạn trong việc trồng cây rừng trang trại, khu nhà ở hay ven đường mà còn cả tập quán du canh, việc sử dụng, quản lý rừng tự nhiên và việc cung cấp các sản phẩm cây trồng từ nhiều nguồn khác nhau Cụ thể:
+ Thuật ngữ lâm nghiệp cộng đồng ở Nepal được hiểu như là "một nhóm
sử dụng rừng (Forest use Group) để chỉ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng được
tổ chức bởi các nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng” [33]
+ Theo Arnold (1999) [18] thuật ngữ Lâm nghiệp cộng đồng được sử
dụng với nghĩa hẹp hơn “là các hoạt động lâm nghiệp được tiến hành bởi
cộng đồng hoặc nhóm người địa phương”
Trang 15Thuật ngữ “lâm nghiệp cộng đồng” đã được đề cập ở nhiều quốc gia
trên thế giới Nó hình thành với mục đích tạo dựng một phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng, rừng được quản lý bền vững Mặt khác người dân đang sống phụ thuộc vào rừng, những giải pháp quản lý bảo vệ rừng đóng góp vào việc sinh kế và cải thiện đời sống người dân từ hoạt động lâm nghiệp Từ quan điểm đó đã hình thành các phương thức, các chương trình hoạt động quản lý rừng dụa vào cộng đồng
1.1.1.3 Khái niệm về quản lý rừng cộng đồng
Theo Denr (2001) [24], Quản lý rừng dựa vào cộng đồng, dựa trên
quan điểm “Con người trước và lâm nghiệp bền vững sẽ theo sau đó”, nó trao
cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ tài nguyên rừng Quan điểm này cho thấy khi mà các vấn đề đói nghèo và mất công bằng trong tiếp cận nguồn tài nguyên được giải quyết thì các cộng đồng địa phương sẽ nhận thấy trách nhiệm của chính họ trong việc quản lý, bảo vệ rừng Điều này đã được nhiều Chính phủ, tổ chức phi chính phủ nhận thức rõ ràng và từ đó đã thúc đẩy cho tiến trình này phát triển ở nhiều cộng đồng vùng cao sống phụ thuộc vào rừng
Trong một số năm gần đây để khẳng định hơn tính sở hữu và làm chủ trong quản lý tài nguyên rừng, khái niệm quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã
được phân định rõ hơn Theo GFA, GTZ (2002) [27]: “Quản lý rừng dựa vào
cộng đồng bao gồm tất cả các hoạt động, tổ chức thu hút cộng đồng tham gia
và được chia sẻ lợi ích từ rừng” Tuy nhiên, nó nhấn mạnh và làm rõ quyền
sở hữu rừng của cộng đồng, trên cơ sở đó cộng đồng tự tổ chức quản lý sử dụng theo nhu cầu và đảm bảo tính bền vững
Thực ra, khó có một định nghĩa nào đầy đủ có thể phản ánh được thực
tế của việc quản lý rừng cộng đồng mà nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội ở mỗi nơi một khác nhau Từ đó các hình thức quản
lý rừng cộng đồng cũng trở nên rất khác nhau Ngoài ra, việc quản lý rừng
Trang 16cộng đồng không chỉ đóng khung trong các hoạt động của cộng đồng mà nó liên quan đến nhiều bên tham gia như các nhà lập định chính sách, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các cơ quan tài trợ và các nhà khoa học Sự tham gia của các tổ chức này ít nhiều cũng có tác động đến tiến trình quản lý, bảo vệ rừng cũng như điều kiện kinh tế, xã hội của các cộng đồng
1.1.1.4 Khái niệm về vai trò của cộng đồng
Vai trò của cộng đồng có thể hiểu một cách chung nhất như sau: “Vai
trò của cộng đồng là việc chủ động và trực tiếp trong các hoạt động quản lý bảo vệ và phát triển rừng được Nhà nước giao cho cộng đồng quản lý”
Các hình thức quản lý rừng trực tiếp bởi cộng đồng đã xuất hiện từ lâu đời trong các cộng đồng dân tộc khác nhau ở Việt Nam Truyền thống quản lý rừng của họ được thể hiện ở những tục lệ giữ rừng, trồng cây, xây dựng hương ước, quy ước, luật tục bảo vệ rừng, bảo vệ cây cối của nhiều làng xã
Về mặt pháp lý, “Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương” (Điều 2, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004) Do đó, để quản lý tài nguyên rừng một cách hiệu quả và bền vững, không thể bỏ qua việc phát huy vai trò của cộng đồng người dân sống gần rừng trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng Phát huy vai trò tham gia của các cộng đồng trong việc quản lý nguồn tài nguyên này vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc vừa có thể tạo ra cách quản lý rừng có hiệu quả và bền vững hơn
Mặc dù không có một định nghĩa hoàn toàn chính xác về quản lý rừng cộng đồng, nhưng không vì thế mà tiến trình của phát triển rừng cộng đồng trên thực tế lại giảm đi Các hoạt động quản lý rừng cộng đồng đã được người dân thực hiện hàng trăm năm trước đây, công bằng mà nói thì hoạt động quản
lý rừng cộng đồng đã được người dân thực hiện trước tất cả những khái niệm
về rừng cộng đồng được các nhà khoa học nhắc tới Hiệu quả về mặt sinh
Trang 17thái, xã hội của các khu rừng cộng đồng đã chỉ ra rằng quản lý rừng cộng đồng là một trong những hoạt động mang tính logíc và hiệu quả nhất trong việc tìm ra những nguyên lý, những chiến lược cơ bản về quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng
1.1.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội và lợi ích từ rừng cộng đồng
Năm 1988, Verman [34] có một nghiên cứu điểm ở một khu rừng trồng
4 ha được tạo lập năm 1974 trên đất chăn thả của cộng đồng thôn Dhanori bang Gujarat, Ấn Độ, theo kế hoạch “rừng làng” của Nhà nước Trong 4 năm liền việc cắt cỏ để bán ra ngoài bị cấm Cây cối được chặt vào năm 1983 -
1984 và lợi nhuận được phân bổ theo gia đình của cộng đồng, chỉ số lợi nhuận nội bộ của gỗ, củi và cỏ được tính tới 35% Dân làng được hưởng củi, gỗ nhỏ
để làm nhà và sửa lại nhà cửa, có thêm công ăn việc làm Thành công đó đã giúp thôn tự tổ chức được một hội trồng cây và tiếp tục trồng thêm vào năm
1984 - 1986 Kết quả trình diễn của khu rừng đã đem lại thêm 200 ha rừng trồng ở khu này
Lam Tom Linson (1994) và Banerjee (1996) [30] cho rằng, nếu chúng
ta nhận thức sự mất rừng có liên quan đến các yếu tố kinh tế, xã hội thì việc cần thiết để có thể đảm bảo được sự thành công trong công tác quản lý rừng chính là mối quan tâm và sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động đó, phải chú trọng đến mối quan tâm của người dân trong cộng đồng đó
là vấn đề sinh kế
Hiện nay, rất nhiều chương trình dự án tham gia quản lý rừng, phục hồi rừng nhưng Chokkalingaman Ravindranath (2001) [23] cho rằng đã thiếu sự chú trọng dài hạn tới cả hai yếu tố sinh thái và kinh tế xã hội Chúng thường khởi đầu với sự nhiệt tình trong việc đầu tư kinh phí cũng như phổ biến kỹ thuật cho cộng đồng địa phương nhưng ở giai đoạn cuối của dự án, sự chú trọng này bị giảm sút hoặc thậm chí mất đi với một nguyên nhân không rõ ràng Chính thực tế này đã làm giảm sự quan tâm của cộng đồng và kết quả của việc quản lý, bảo vệ, phát triển rừng không được như mong đợi
Trang 18Như vậy, trong quản lý rừng cộng đồng do thiếu nghiên cứu về các vấn
đề kinh tế và xã hội một cách đầy đủ, cụ thể, thích hợp mà những biện pháp
kỹ thuật thường không được áp dụng hoặc áp dụng một cách hình thức nên không đạt kết quả như mong đợi Vì vậy, cần xem vấn đề kinh tế và xã hội là những yếu tố có tính quyết định đến việc lựa chọn và áp dụng các giải pháp
kỹ thuật vào các mô hình quản lý rừng cộng đồng ở địa phương
1.2 Các nghiên cứu trên thế giới về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý, bảo
vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng
Phương thức quản lý rừng cộng đồng bắt đầu được nhận diện vào những năm đầu của thập kỷ 70, khi mà hạn hán ở châu Phi và lũ lụt ở châu Á
đã làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm một cách nghiêm trọng Nhiên liệu
và chất đốt cho các cộng đồng nông thôn trở nên ngày càng khó khăn Chính tại thời điểm này các kinh nghiệm về quản lý rừng cộng đồng ở Ấn Độ (mô hình lâm nghiệp xã hội), Hàn Quốc (mô hình vườn cây cấp bản), Thái Lan (mô hình rừng cấp bản) và ở Tanzania (trồng rừng cấp bản) đã được các nhà khoa học trên thế giới đặc biệt chú ý và chúng được coi như là một giải pháp nhằm phát triển rừng và giải quyết vấn đề chất đốt ở nông thôn Đến những năm cuối thập kỷ 70 thì khái niệm về quản lý rừng cộng đồng đã được thừa nhận một cách rộng rãi trên toàn thế giới
Trong thập kỷ 80 các dự án phát triển rừng cộng đồng được mở rộng ra khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Ấn Độ và Nepal Tên gọi về rừng cộng đồng cũng có những thay đổi như “cùng quản lý rừng - Join Forest Management”; “lâm nghiệp xã hội - Social Forestry”, “quản lý rừng dựa vào cộng đồng - Community Based Forest Management” Tuy nhiên, về bản chất của các hoạt động quản lý rừng cộng đồng vẫn không thay đổi, đó là quá trình lấy người dân làm trung tâm trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Cuối những năm 80 và thập kỷ 90, các nhà khoa học tập trung nhiều hơn về nghiên cứu thể chế trong quản lý rừng cộng đồng, kể cả những thế chế truyền thống và thể chế của nhà nước, nhằm tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển
Trang 19rừng cộng đồng Trong giai đoạn này các khái niệm về quyền sở hữu được đưa ra để thảo luận một cách rộng rãi, bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu cộng đồng và sử dụng tự do Đã có lúc khái niệm rừng cộng đồng bị phê phán một cách kịch liệt theo cách nhìn nhận của Hardin trong
“Bi kịch của sở hữu chung” (1968) [28] cho rằng phương thức sở hữu cộng đồng về rừng là đồng nghĩa với sử dụng tự do Đó là hình thức sử dụng mà mọi thành viên đều muốn lợi dụng của chung để tối đa hoá lợi ích cho mình,
vì thế rừng bị khai thác một cách kiệt quệ
Arnold, JEM và Steward, W.C (1987) [19] lại cho rằng rừng cộng đồng mang lại hiệu quả lớn trong phát triển rừng và phát triển cộng đồng Ông nhấn mạnh rằng rừng cộng đồng phải là một hợp phần không thể thiếu trong phát triển nông thôn, mà mục tiêu chủ yếu là nhằm giúp đỡ những cộng đồng nghèo tự duy trì và phát triển cuộc sống của họ Vì thế, rừng cho phát triển cộng đồng phải là rừng của người dân, cho người dân và phải có sự tham gia của người dân trong quản lý và phát triển Với cách nhìn như vậy thì Arnold đã chỉ ra 3 mục tiêu cơ bản của rừng cộng đồng là:
1 Cung cấp nhiên liệu và những nhu yếu phẩm khác nhằm phục vụ cho những nhu cầu cơ bản của cộng đồng
2 Cung cấp bền vững nguồn lương thực và môi trường sống cho một quá trình sản xuất lương thực liên tục
3 Tạo nguồn thu nhập, giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương
Burda (1997) [21] cũng đã nhìn nhận về quản lý rừng cộng đồng rằng: Những người dân sống lâu ở trong rừng có những kiến thức đặc biệt về sinh thái bản địa và những ảnh hưởng dài hạn về mặt xã hội, môi trường của rừng đến cuộc sống của họ Sự tập trung hoá trong hệ thống quản lý quan liêu thiếu
đi sự linh động và khả năng thích ứng với những điều kiện thực tiên của các địa phương khác nhau
Trang 20Trong khi đó quản lý rừng cộng đồng giúp cho con người sống gần gũi hơn với thiên nhiên và từ đó lập ra những thiết chế, kế hoạch nhằm quản lý và
sử dụng rừng một cách hiệu quả hơn Quản lý rừng cộng đồng đã tạo ra một
hệ thống nhạy bén để nhanh chóng đưa ra những quyết định và hành động nhằm thích ứng với những thay đổi của điều kiện cụ thể Các quyết định này nhằm đáp ứng lợi ích của toàn thể cộng đồng, những người chịu trách nhiệm
trực tiếp trong việc đưa ra những quyết định đó
Bất chấp những tranh luận thì rừng cộng đồng vẫn phát triển một cách
tự nhiên và nhanh chóng Rất nhiều nơi trên thế giới nó đã được chấp nhận rộng rãi và được xem như một chiến lược quan trọng trong quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng
1.2.1 Phương pháp điều tra và lập kế hoạch trong quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng
Verman (1988) [34], tác giả có một nghiên cứu điểm ở một khu rừng trồng 4 ha được tạo lập năm 1974 trên đất chăn thả của cộng đồng bản Dhanori bang Gujarat, theo kế hoạch rừng làng của Nhà nước Trong 4 năm liền việc cắt cỏ để bán ra ngoài bị cấm Cây cối được chặt vào năm 1983 -
1984 và lợi nhuận được phân bổ theo gia đình hội đồng thôn panchayat, chỉ số lợi nhuận nội bộ của gỗ, củi và cỏ được tính tới 35% Dân làng được hưởng củi, gỗ nhỏ để làm nhà và sửa lại nhà cửa, có thêm công ăn việc làm Thành công đó đã giúp bản tự tổ chức được một hội trồng cây và tiếp tục trồng thêm vào năm 1984 - 1986 Kết quả của việc trình diễn của khu rừng đã đem lại
thêm 200 ha rừng trồng ở khu này
Lam Tom Linson (1994) và Banerjee (1996) [30] cho rằng, nếu chúng
ta nhận thức sự mất rừng có liên quan đến các yếu tố kinh tế, xã hội thì việc cần thiết để có thể đảm bảo được sự thành công trong công tác quản lý rừng chính là mối quan tâm và sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động đó, phải chú trọng đến mối quan tâm của người dân trong cộng đồng đó
là vấn đề sinh kế
Trang 21Chokkalingaman Ravindranath (2001) [23] cho rằng rất nhiều chương trình dự án tham gia quản lý rừng, phục hồi rừng đã thiếu sự chú trọng dài hạn tới cả hai yếu tố sinh thái - kinh tế xã hội Chúng thường khởi đầu với sự nhiệt tình trong việc đầu tư kinh phí cũng như phổ biến kỹ thuật cho cộng đồng địa phương nhưng ở giai đoạn cuối của dự án, sự chú trọng này bị giảm sút hoặc thậm chí mất đi với một nguyên nhân không rõ ràng Chính thực tế này đã làm giảm sự quan tâm của cộng đồng và kết quả của việc quản lý, bảo
vệ, phát triển rừng không được như mong đợi
Như vậy, trong QLRCĐ do thiếu nghiên cứu về các vấn đề KTXH một cách đầy đủ, cụ thể, thích hợp mà những biện pháp kỹ thuật thường không được áp dụng hoặc áp dụng một cách hình thức nên không đạt kết quả như mong đợi
Những vấn đề KTXH nhạy cảm với quản lý rừng thường liên quan đến chính sách về quyền sở hữu, sử dụng rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng, hưởng lợi
và nhu cầu của cộng đồng, thuế tài nguyên, sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng Đôi khi các vấn đề về KTXH liên quan đến cả những nhận thức
và kiến thức, tôn giáo và tín ngưỡng, phong tục và tập quán Trong một số nghiên cứu người ta đã coi những giải pháp KTXH là có trọng lượng hơn Vì vậy, phần lớn các nghiên cứu đưa ra giải pháp để QLRCĐ thì cùng với việc
áp dụng biện pháp kỹ thuật đúng đắn cần xây dựng và thực hiện những giải pháp về mặt KTXH Thậm chí phải đưa chúng vào chương trình hành động của mỗi quốc gia
1.2.2 Phương pháp điều tra rừng có sự tham gia của người dân
Tại Nepal, với sự hỗ trợ của dự án lâm nghiệp cộng đồng do chính phủ Thụy Sỹ tài trợ, phương pháp điều tra rừng đơn giản có sự tham gia đã được phát triển và được xem là nhân tố cốt lõi do quản lý rừng bền vững Điều này giúp cho người sử dụng rừng có được các ý tưởng về tiềm năng sản xuất của các khu rừng của họ từ đó lập kế hoạch quản lý rừng
Trang 22Các tài liệu hướng dẫn về điều tra và phân tích dữ liệu tài nguyên rừng đơn giản có sự tham gia (bao gồm gỗ và lâm sản ngoài gỗ) ở các nước Nepal, Thái Lan, Philippines được thiết lập bao gồm các nội dung hướng dẫn chính như sau [22] [33]:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Bao gồm xác định kích thước và số ô mẫu điều tra, phương pháp đo đếm
- Phân tích dữ liệu: Chất lượng tái sinh, dự đoán trữ lượng, sản lượng
gỗ, củi, cỏ, thu hoạch lâm sản ngoài gỗ
- Lập kế hoạch quản lý rừng, phân loại rừng chức năng theo kiến thức bản địa, kế hoạch quản lý tái sinh, khai thác gỗ, củi, cỏ, lâm sản ngoài gỗ, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất, nước và phương pháp giám sát có sự tham gia
Tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR, 2002) [29] đã đưa ra tài liệu
hướng dẫn bao gồm các phương pháp như xác định vấn đề, chủ đề điều tra
rừng, sử dụng ảnh viễn thám, phân tích dữ liệu và đánh giá các kết quả điều tra Trong đó đã phối hợp phương pháp hàn lâm với phương pháp đánh giá thôn bản có sự tham gia (PRA) và sử dụng công nghệ thông tin đã đưa ra phương pháp mô hình hoá để dự đoán thể tích cây rừng theo 01 và 02 nhân tố đường kính (D) và chiều cao (H), loài cây: V = f (D,H, Species) từ đây lập biểu đơn giản để hỗ trợ cho việc dự báo thể tích, trữ lượng tài nguyên rừng
Phương pháp điều tra rừng có sự tham gia được xây dựng trên nguyên
lý phương pháp điều tra và quy hoạch rừng phổ biến trên thế giới, do đó đảm bảo tính kỹ thuật lâm nghiệp đồng thời các công cụ điều tra và công thức tính toán đơn giản để cộng đồng có thể tiếp cận đặc biệt là tiếp cận với kiến thức sinh thái địa phương trong phân loại để quản lý rừng theo chức năng cộng đồng Tuy nhiên một vài công cụ phương pháp điều tra còn phức tạp và hàn lâm:
- Dự báo trữ lượng rừng dựa vào 2 nhân tố tổng tiết diện ngang xác định bằng công cụ Relaskop và chiều cao lâm phần
- Phân chia các coupe tác nghiệp, phức tạp
Trang 23Trong khi đó việc xác định sản lượng khai thác, bảo đảm ổn định rừng chưa được thiết kế rõ ràng, do đó việc tính toán khối lượng gỗ, củi, LSNG thu hoạch hàng năm theo kế hoạch chỉ là ước đoán, chưa thực sự có cơ sở để đảm bảo sự cân bằng và ổn định sản lượng rừng
Nhìn chung các hướng dẫn điều tra chỉ phù hợp cho cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp tổ chức, đánh giá tài nguyên rừng cho từng làng, xã Cộng đồng địa phương chỉ tham gia như người cung cấp thông tin và được hưởng thụ kết quả phân tích tài nguyên rừng
1.2.3 Lập kế hoạch trong quản lý rừng cộng đồng
Một loạt các nghiên cứu ở các quốc gia về chủ đề này đã cho thấy sự cần thiết phải lập kế hoạch quản lý rừng đơn giản có sự tham gia dựa vào cộng đồng
Gallertti, HA and Arguelless, A (1987) [26] đã trình bày nhiều tiêu chuẩn khác nhau cho một khuôn khổ khái niệm lập kế hoạch và mô tả sự thực hiện các tiêu chuẩn đó theo kinh nghiệm của chương trình pilot (thí điểm)
Việc đưa người dân vào quá trình là một nhiệm vụ phức tạp và đòi hỏi phải có sự biến chuyển trong thái độ công khai, lập kế hoạch và thực hiện Cần phải có sự sinh động và sự hiểu biết về sự phát triển và sử dụng tài nguyên theo cơ chế hoạt động qua đó cả người dân và cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp đều phải học tập lẫn nhau Để cho các kế hoạch lập ra thành công cần phải dựa vào sự hỗ trợ của thống đốc bang và các cán bộ cao cấp ở liên bang, các tiêu chuẩn khác cũng quan trọng để thực hiện là thái độ của nhân dân địa phương, quản lý lâm sinh đúng đắn, công nghiệp hoá, marketing sản phẩm và các vấn đề tổ chức
- Các kết quả trong lập kế hoạch được đánh giá sau 3 vụ thu hoạch
- Moench, M và Bandy Opadhyah, J (1986) [32] đã chỉ rõ là các nhu cầu về sinh tồn của dân làng đã bị bỏ qua trong việc lập kế hoạch quản lý
Trang 24rừng Công trình nghiên cứu chỉ ra rằng cần phải hướng vào dòng chảy sinh khối của thôn bản, tập trung vào nhiên liệu, thức ăn gia súc, đồng thời nghiên cứu cũng trình bày các mối tương quan giữa mức tiêu thụ sinh khối của thôn bản và sức sản xuất của rừng
Leuscher, WA and Shakya.K.M (1988) [31] Các tác giả tuyên bố rằng việc hợp tác giữa cư dân địa phương với cán bộ cấp huyện là rất quan trọng
để thành công trong các dự án tài nguyên rừng cộng đồng (CFR) và có thể trở lên dễ dàng bằng cách thu hút các nhóm người dân đó vào lập kế hoạch quản
lý rừng Đánh giá các tài nguyên nguồn lực, khả năng của dự án, sự tham gia của người dân là cơ sở cho việc lập kế hoạch quản lý Mặc dù sự thu hút có hiệu quả dân làng tham gia vào việc xây dựng kế hoạch, tạo nên sự phấn chấn đối với họ và đạt được mục tiêu của dự án nhưng tác giả cho rằng chi phí còn cao và đồng thời có thể tạo nên “cái bẫy” mong đợi và có thể không phải khi nào cũng dẫn tới việc thực hiện kế hoạch tốt
Brinkman, W (1988) [20], nghiên cứu tập trung vào việc quản lý và tiềm năng sử dụng rừng thôn bản được xây dựng theo một dự án toàn quốc về năng lượng không thường lệ của chính phủ Vương quốc Thái Lan Việc xây dựng và kết quả của các khu rừng thôn bản đã được xem xét một cách có phê phán Dân làng đã không tham gia vào việc xây dựng kế hoạch và không có các kế hoạch để quản lý hoặc để phân bố lợi ích được thỏa thuận với dân Trong khi đó các tầng lớp dân nghèo đặc biệt cần phải phụ thuộc vào việc đến các khu rừng để chăn thả gia súc, thu hái tài nguyên lâm sản như củi đun, hoa quả tại rừng Trường hợp này là một điển hình minh họa sự cần thiết cộng đồng địa phương phải tham gia tích cực vào việc lập kế hoạch và thiết kế các
dự án phát triển, các tổ chức xã hội và các nhóm quyền lợi chung rất cần chúng ta phải quan tâm tới
Trang 251.3 Các nghiên cứu ở trong nước về quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng
1.3.1 Nghiên cứu về loại hình quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng được nhận dạng ở Việt Nam
Các nghiên cứu, xây dựng mô hình về LNCĐ, QLRCĐ đã được thực hiện rộng khắp trên địa bàn cả nước thông qua các dự án trong nước của các Viện nghiên cứu, Trường Đại học, các cá nhân và các tổ chức; dự án hợp tác quốc tế có thể kể đến như: Dự án phát triển lâm nghiệp xã hội sông Đà (SFDP), GTZ/GFA (1999): Bộ tài liệu quản lý rừng cộng đồng; Dự án hỗ trợ phổ cập và đào tạo phục vụ lâm nghiệp và nông nghiệp vùng cao Việt Nam-ETSP do Hiệp hội hợp tác và phát triển Thụy Sỹ (Helvetas) hỗ trợ thực hiện ở các tỉnh Thừa Thiên Huế, Đăk Nông; Dự án phát triển nông thôn Sơn La - Lai Châu (2000 - 2004)…Các các nhân tiêu biểu như: Bảo Huy, Phạm Xuân Phương, Hà Công Tuấn, Vũ Văn Mễ, Nguyễn Hồng Quân, Vũ Hữu Tuynh, Nguyễn Ngọc Lung, Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hải Nam, Cao Vĩnh Hải, Nguyễn
Bá Ngãi…
Đến nay, có thể nói chúng ta đã có nhiều kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm QLRCĐ, đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc gia, quốc tế về LNCĐ Sau đây là 5 cuộc hội thảo quốc gia lớn được tổ chức về LNCĐ:
Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội trong hai ngày 01-02/6/2000 [7] Tại đây đã có rất nhiều tác giả cùng các công trình nghiên cứu như Nguyễn Hồng Quân, Tô Đình Mai, Nguyễn Tường Vân và Urich Apel, Edwin Sauk, Nguyễn Văn Thuận, An Văn Bảy, Trần Văn Con với các báo cáo về kinh nghiệm từ các hoạt động dự án và một số nghiên cứu điểm, Hội thảo đã thống nhất có hai hình thức cộng đồng quản lý rừng ở Việt Nam:
* Cộng đồng trực tiếp quản lý rừng và đất rừng thuộc quyền sở hữu chung của thôn bản (như rừng thiêng, rừng do lâm trường, hợp tác xã giao
Trang 26cho thôn bản, rừng đầu nguồn ở địa phương, đồng cỏ chăn nuôi, đất trống được quy hoạch để trồng rừng hoặc tái sinh tự nhiên)
* Cộng đồng tham gia vào việc quản lý những diện tích rừng thuộc sở hữu hoặc quản lý của cơ quan nhà nước như bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng qua các hợp đồng khoán bảo vệ với các cơ quan nhà nước, bảo vệ rừng sản xuất do các Lâm trường khoán bảo vệ và bảo vệ rừng và đất rừng đã giao cho các hộ gia đình và các tổ chức khác
Hội thảo về lâm nghiệp cộng đồng (2001) [8] tổ chức lần 2 trong 2 ngày 14, 15/11/2001 tại Hà Nội là bước tiếp theo nhằm làm rõ các yếu tố khuôn khổ pháp lý của rừng cộng đồng, việc thực thi các chính sách hỗ trợ cho quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam Tại đây, có rất nhiều báo cáo và các vấn đề thảo luận như “Báo cáo về khuôn khổ pháp lý, chính sách của nhà nước và hiện trạng quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam" của các tác giả: Phạm Xuân Phương, Hà Công Tuấn, Vũ Văn Mễ, Nguyễn Hồng Quân Các báo cáo về sự vận dụng các chính sách lâm nghiệp nhà nước ở cấp tỉnh của các tác giả như Sheelagh, Orelly, Vũ Hữu Tuynh, Nguyễn Ngọc Lung, Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hải Nam, Cao Vĩnh Hải… Hội thảo đi đến kết luận: Cộng đồng đang quản lý 15% diện tích rừng, đó là một thực tế mang tính khách quan và ngày càng có một vị thế quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam Vẫn còn một số vướng mắc trong khuôn khổ chính sách hưởng lợi từ rừng khi tham gia bảo vệ và phát triển rừng lại không quy định cộng đồng dân cư thôn bản là đối tượng của chính sách này Sự vận dụng các chính sách của nhà nước ở địa phương đã có tính sáng tạo, cụ thể là một số tỉnh đã mạnh dạn thí điểm giao đất, giao rừng và cấp sổ đỏ cho cộng đồng dân
cư bản như Sơn La, Điện Biên, Thừa Thiên Huế, Đắc Lắk
Hội thảo quốc gia về Lâm nghiệp cộng đồng (2004) [9] được tổ chức lần thứ 3 vào tháng 11/2004 tại Hà Nội với nội dung về khuôn khổ và thể chế quản lý rừng cộng đồng, chính sách hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng,
Trang 27đánh giá tài nguyên rừng và khai thác rừng cộng đồng Hội thảo kết luận, quản lý rừng cộng đồng hiện đang tồn tại như một xu thế khách quan và ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng, nhiều diện tích đất lâm nghiệp có thể giao cho cộng đồng quản lý (Diện tích rừng xa khu dân cư, có địa hình phức tạp mà các tổ chức nhà nước và hộ gia đình không
có khả năng quản lý mà quản lý không hiệu quả, các khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng, khu rừng giáp ranh giữa các bản, xã) Bên cạnh đó vấn đề hưởng lợi của cộng đồng quản lý rừng được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu đặc biệt là tác giả Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Ngọc Lung Tác giả Phạm Xuân Phương với khảo sát đánh giá tình hình triển khai chính sách hưởng lợi đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng được giao nhận khoán rừng năm 2003 Bên cạnh đó về kỹ thuật đánh giá thực trạng quản
lý rừng cộng đồng của tác giả Nguyễn Hồng Quân, Vũ Long, Phạm Xuân Phương đã đưa ra khung định vị đánh giá hiện trạng quản lý rừng cộng đồng gồm 5 tiêu chí Tuy nhiên, tác giả cũng đã nêu rõ việc chọn tiêu chí đánh giá phải phụ thuộc vào từng vùng, từng cộng đồng dân cư Cũng trong tháng 9/2004, Nguyễn Ngọc Lung, VIFA cùng tổ chức các quốc gia về quản lý rừng cộng đồng
đã đưa ra hội thảo lần 2 hướng dẫn giao đất về quản lý rừng cộng đồng hướng dẫn giao đất có rừng cho cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng
Hội thảo lâm nghiệp cộng đồng (2007) [10] được tổ chức lần thứ 4 trong 2 ngày 08, 09/8/2007 tại Ninh Bình với nội dung về chia sẻ kinh nghiệm thực hiện các mô hình QLRCĐ cấp thôn bản tại Việt Nam Tại hội thảo này tập trung đánh giá kết quả thực hiện chương trình dự án nhỏ quản lý rừng bền vững nhiệt đới (SGP/PTF) Nguyễn Hải Nam, những bài học kinh nghiệm qua việc thực thi các dự án nhỏ thực hiện tại 8 nước trong đó có Việt Nam, báo cáo đã đưa ra 2 bài học kinh nghiệm quan trọng đó là: thành lập quỹ phát rừng
và đảm bảo duy trì, nâng cao thu nhập cho người dân sống dựa vào rừng Các tác giả Trịnh Đức Huy, Trần Lâm Đồng, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Đình
Trang 28Thọ, Vũ Long, Vũ Văn Cần đánh giá về các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo kế hoạch quản lý phát triển rừng, giao đất giao rừng cho cộng đồng, chất lượng kế hoạch quản lý, phát triển rừng cộng đồng và thử nghiệm phương pháp đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng và ứng dụng trong lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng
Hội thảo lần thứ 5 được tổ chức từ ngày 03- 05/4/2013 tại Huế Nội dung hội thảo về Lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam, thực trạng và định hướng phát triển chính sách [6] Hội thảo có sự tham gia của các nước như: Nepal, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Philippines, Campuchia, Malaysia Nội dung hội thảo là tổng kết đánh giá kết quả thực hiện pha II “Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Viêt Nam” do Quỹ ủy thác ngành lâm nghiệp (TFF) tài trợ thực hiện trong 2 năm 2012-2013 Mục đích của hội thảo nhằm: (1) Chia sẻ kinh nghiệm, bài học về LNCĐ ở Việt Nam và các nước trong khu vực; (2) xác định rào cản, thách thức đối với quá trình phát triển LNCĐ ở Việt Nam; (3) xác định định hướng phát triển chính sách cho LNCĐ ở Việt Nam làm cơ sở cho tài liệu hóa, phổ biến và nhân rộng các mô hình và bài học kinh nghiệm về LNCĐ Hội thảo một lần nữa khẳng định xu thế phát triển LNCĐ là tất yếu và cần thiết, đồng thời đề xuất để hoàn thiện cơ sở pháp lý, chính sách, quyền lợi của quản lý rừng cộng đồng
Kết quả các cuộc hội thảo đã rõ về thực tế tồn tại khách quan, hiệu quả của LNCĐ, QLRCĐ; địa vị pháp lý, những khó khăn, bất cập cần được tháo
gỡ cũng như cơ hội, thách thức đối với phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam trong giai đoạn tới Trong đó, vấn đề về địa vị pháp lý của cộng đồng thôn và quyền lợi của cộng đồng trong việc được thụ hưởng đối với các chính sách bình đẳng với các đối tượng khác
1.3.2 Một số nghiên cứu thí điểm quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng ở huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Rừng cộng đồng trên địa bàn huyện Sông Lô về cơ bản đã tồn tại từ lâu đời, nó gắn với lợi ích cuộc sống của người dân, gắn với tâm linh, tự do tín
Trang 29ngưỡng của cộng đồng Những năm gần đây, thực hiện chính sách của Nhà nước về quản lý rừng, địa phương đã triển khai giao đất giao rừng cho các tổ chức; cá nhân; hộ gia đình; cộng đồng dân cư thôn/bản, nhóm hộ, dòng tộc quản lý và sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Với cộng đồng còn được tham gia nhận giao khoán quản lý, bảo vệ rừng, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh, làm giàu rừng và trồng rừng Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng sống gần rừng cho thấy có hiệu quả, nó phù hợp với tập quán của đông đảo đồng bào các dân tộc
Giai đoạn 2010 - 2011 huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện chính sách giao rừng đến các chủ thể quản lý với các hoạt động đã thực hiện là:
- Quy hoạch sử dụng đất, giao đất, giao rừng có sự tham gia của các tổ chức; cá nhân; hộ gia đình; cộng đồng dân cư thôn/bản, nhóm hộ, dòng tộc
có diện tích rừng phòng hộ tại các xã Lãng Công, Quang Yên, Đồng Quế Nội dung hoạt động này đã được các cấp, các ngành đánh giá cao, trong tương lai
sẽ được nhân rộng, thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh
- Quản lý rừng, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng (xây dựng quy, hương ước bảo vệ và phát triển rừng thôn/bản, thành lập ban quản lý, thành lập
tổ bảo vệ rừng của chủ rừng) với mục tiêu nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng trong quản lý nguồn tài nguyên rừng, phát huy kinh nghiệm và kiến thức bản địa của người dân trong quản lý, gắn quản lý với sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sẵn có của địa phương Quá trình nghiên cứu đã được các cơ quan chuyên môn tham gia và bước đầu đã thu được những kết quả nhất định
Chương trình giao khoán rừng đến các hộ gia đình, cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và huyện Sông Lô nói riêng, được được thực hiện trên cơ sở quy định tại các Nghị định của Chính phủ như: Nghị định 02/NĐ-CP và nghị định 163/NĐ-CP về việc giao đất, giao rừng Chương trình này đã và đang mang lại hiệu quả rất lớn, góp phần giữ gìn tài nguyên rừng cho đất nước
Trang 301.3.3 Mô hình quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng có hiệu quả
Quản lý rừng cộng đồng dựa trên luật tục truyền thống và các quy ước hương ước được phát triển bởi cộng đồng đã tỏ ra có hiệu lực trong đời sống cộng đồng và góp phần thu hút lực lượng nhân dân trong bảo vệ rừng, họ không còn đứng ngoài cuộc với tình trạng phá rừng
Bảo Huy (2002) [1], tác giả đã bước đầu khẳng định hiệu quả quản lý rừng và đất rừng bởi cộng đồng như sau: Thực tế cho thấy rừng giao cho cộng đồng được quản lý tốt hơn, người dân có niềm vui và ý thức được rừng là tài sản của mình, kết quả này được khẳng định ở hầu hết các địa phương giao rừng Người dân đã quan tâm đầu tư vào các khu rừng của mình, một số khu rừng giao cho cộng đồng đầu tư chăm sóc, làm giàu rừng, áp dụng kiến thức bản địa để kinh doanh Ở tỉnh Đăk Nông, hoạt động sau giao đất giao rừng đã được triển khai ở một số nơi như cộng đồng đã tổ chức phân công bảo vệ rừng đặc biệt là hoạt động kinh doanh rừng với sự tham gia trực tiếp của cộng đồng tạo ra thu nhập từ rừng thông qua hoạt động như tỉa thưa
Nguyễn Bá Ngãi (2003) [11] Tác giả kết luận rằng: hiệu quả quản lý rừng cộng đồng thể hiện khá rõ nét ở các cộng đồng vùng cao nơi sản xuất hàng hoá và thị trường chưa phát triển, nơi còn đang tồn tại nhiều phương thức sử dụng rừng với mục đích chung Điểm này thể hiện khá rõ mô hình quản lý rừng cộng đồng người Mông ở Điện Biên Trong trường hợp này quản lý rừng mang lại hiệu quả trên các mặt xã hội và hiệu quả về môi trường hơn là hiệu quả kinh tế Trong khi đó, khi sản xuất hàng hoá phát triển việc quản lý rừng cộng đồng chuyển sang một hình thức mới đó là tạo thành xu hướng cộng đồng nhóm hộ trong quản lý rừng Trong trường hợp này hiệu quả quản lý rừng cộng đồng nhấn mạnh đến hiệu quả kinh tế Từ đây dễ nhận thấy rằng hình thành hai loại hình quản lý rừng cộng đồng như đã tổng kết, đó
Trang 31là LNCĐ đáp ứng nhu cầu sinh kế của địa phương và LNCĐ tiếp cận với sản xuất hàng hoá ở các vùng sản xuất và thị trường
Nguyễn Bá Ngãi (2003, 2005) [11], [12] Tác giả đã nghiên cứu và thống kê thấy rằng thực tế cho thấy người dân chưa quan tâm nhiều đến tỷ lệ hưởng lợi từ sản phẩm khai thác, chính vì thời gian chờ đợi quá dài mà thay vào đó là quan tâm đến diện tích đất có thể sản xuất nông nghiệp và mức đầu
tư trồng rừng Kinh phí khoán, bảo vệ rừng 50.000 đ/ha/năm đã là quá thấp, trong khi ở nhiều địa phương người nhận khoán bảo vệ đều thấp hơn kinh phí trên Với quỹ rừng khoán cho mỗi hộ gia đình quản lý và bảo vệ ít như hiện nay, đa phần dưới 10 ha cho mỗi hộ, chất lượng rừng thấp, nguồn thu từ LSNG ngày càng giảm hoặc rất ít, dịch vụ, môi trường chưa có… thì người dân thực sự chưa thể sống bằng nghề rừng hoặc các nghề có nguồn gốc liên quan đến rừng dẫn đến người dân chưa thực sự cuốn hút vào quản lý bảo vệ phát triển rừng, xã hội đánh giá chưa cao ngành lâm nghiệp
Cẩm nang ngành Lâm nghiệp (2006) [2]: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp là 1.197.961 ha, bao gồm: đất có rừng 669.750 ha, đất trống đồi núi trọc 528.211 ha Thời gian qua (trước năm 2004), mặc dù pháp luật chưa quy định cộng đồng là đối tượng giao quyền sử dụng đất, nhưng đã có 18 tỉnh làm thí điểm giao đất, giao rừng cho cộng đồng trên cơ sở vận dụng các quy định tại Nghị định số 02/1994/NĐ-CP trước đây
và sau đó được thay thế bằng Nghị định số 163/1999/NĐ-CP về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, Nghị định số 23/2006/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Thông tư số 38/2007/TT-BNN hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn, chương trình hỗ
Trang 32trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo 30a (2008) Đã góp phần thực hiện giao đất, giao rừng, khoán rừng cho cộng đồng các thôn bản quản lý bảo vệ và hưởng lợi từ các chính sách đầu tư cũng như từ rừng đã
và đang tạo sự phấn khởi cho người dân
1.3.4 Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tế quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng
Phải thực hiện xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của người dân thôn (bản) và sự nhất trí, ủng hộ của chính quyền địa phương Hình thức quản lý rừng cộng đồng đa dạng như hình thức quản lý rừng theo cộng đông thôn (bản), theo dòng họ, theo nhóm hộ vv và trong thời gian gần đây, hình thức quản lý rừng dựa vào các tổ chức đoàn thể cấp làng, xã đang phát triển, như: Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên Tuy nhiên, hình thức quản lý rừng theo thôn (bản), nhóm hộ là hình thức quản lý rừng đang được các tỉnh quan tâm nhất
Yếu tố quyết định sự thành công của hệ thống quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng là Nhà nước cần thừa nhận quyền sử dụng đất lâu dài của cộng đồng; cộng đồng cần có các hình thức tổ chức quản lý rừng thích hợp với điều kiện đặc thù; cộng đồng được tổ chức chặt chẽ và có cơ chế phân chia quyền lợi về các sản phẩm thu được từ rừng trên cơ sở bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng
Có thể xây dựng các hình thức phối hợp quản lý rừng giữa các cộng đồng địa phương, các tổ chức Nhà nước và cấp chính quyền xã trong bảo vệ
và xây dựng rừng Điều đó sẽ chuyển dần một số trách nhiệm và quyền hạn trong quản lý rừng cho các nhóm cộng đồng, chính sách của Nhà nước được thực thi, các nhu cầu cho sự phát triển cộng đồng được đáp ứng, dẫn đến tài nguyên rừng được bảo vệ và phát triến tốt
Điều kiện để Nhà nước có thể tiến hành giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản quản lý, sử dụng lâu dài là:
Trang 33- Cộng đồng có truyền thống luật tục quản lý rừng và sự tham gia tích cực của các thành viên
- Cuộc sống của các thành viên trong cộng đồng trực tiếp gắn bó với rừng và sản phẩm rừng
- Cộng đồng có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, các quy định của cộng đồng được mọi người tôn trọng
- Trưởng thôn (bản) có tinh thần trách nhiệm cao, cộng đồng được chính quyền địa phương quan tâm giúp đỡ
1.4 Các kết luận rút ra từ nghiên cứu và phân tích tổng quan
Các kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản
lý rừng, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng, góp phần vào quản lý bền vững tài nguyên rừng của huyện Sông Lô,tỉnh Vĩnh Phúc
Giúp các nhà quản lý tại khu vực nghiên cứu tham khảo đề xuất chính sách quản lý, bảo vệ rừng phù hợp hơn
1.5 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sông Lô
- Điều kiện tự nhiên:
Trang 34+ Khí tượng thuỷ văn:
Huyện Sông Lô thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 2 mùa rõ rệt, mùa mưa tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình năm 22,5oC nhiệt độ cao nhất là 38oC, nhiệt độ thấp nhất
có thể tới 4oC, lượng mưa trung bình là 1.420 mm-1800mm/năm chiếm 80% đến 90% lượng mưa hàng năm, lượng bốc hơi hàng năm khá lớn; 1059-1386 mm/năm, hướng gió là hướng Đông Nam thổi vào mùa Hạ kèm theo mưa lớn, gió Đông Bắc thổi vào mùa Đông giá rét [35]
- Kinh tế xã hội:
Tổng diện tích tự nhiên 15.031,77 ha, dân số 93.984 người, trong đó đất lâm nghiệp 3.937,756 ha, chiếm 26,24 % tổng diện tích tự nhiên Có đến 90% cuộc sống của nhân dân trong toàn huyện kinh tế dựa vào nông lâm nghiệp, do vây cuộc sống của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người còn thấp Một phần do việc canh tác đồi rừng chủ yếu là thủ công nên hiệu quả kinh tế chưa cao, một phần do cơ sở hạ tầng của địa phương còn chưa phát triển gây cản trở cho việc lưu thông và trao đổi hàng hoá, một phần
do thiếu vốn đầu tư để sản xuất và kinh doanh những loài cây và con có giá trị kinh tế cao [35]
Trên địa bàn toàn huyện hệ thống đường giao thông liên huyện, liên xã
đã được trải nhựa hoặc đổ bê tông
Nhiều địa bàn, tiểu khu, diện tích rừng có đường mòn lớn, đường vận xuất đường du lịch đi qua
Trang 35- Khó khăn:
- Mùa khô kéo dài, lượng mưa ít, hạn hán, không khí khô hanh, độ
ẩm thấp
- Địa bàn rộng, địa hình phức tạp, độ dốc cao
- Đời sống nhân dân trong huyện còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp, trình độ dân trí chưa cao nên việc ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của
cộng đồng
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
- Thời gian nghiên cứu: Số liệu được tổng hợp trong 5 năm (2011 - 2015) Số liệu điều tra, khảo sát, nghiên cứu năm 2016, 2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
+ Đánh giá hiện trạng công tác quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng ở huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
+ Đánh giá kết quả và tác động của quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng ở huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
+ Tồn tại, nguyên nhân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ rừng là vấn đề vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn Vì thế, phương pháp nghiên cứu của
đề tài là Phương pháp điều tra thu thập số liệu trên hiện trường; các số liệu kế thừa: các văn bản Luật, dưới Luật và hỏi ý kiến các chuyên gia Sử dụng các phương pháp thống kê xử lý, tính toán số liệu và kiểm tra kết quả, từ đó rút ra các kết luận… Với mỗi nội dung cụ thể, đề tài tiến hành theo phương pháp
nghiên cứu riêng Cụ thể:
Trang 372.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu (PRA)
Đề tài lựa chọn phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA – Parcipatory Rural Assessment), với thanh công cụ phỏng vấn có định hướng
* Phỏng vấn:
Phỏng vấn tại xã và thôn nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình giao đất lâm nghiệp, tình hình quản lý rừng, những khó khăn thuận lợi trong quản lý rừng, tình hình khai thác lâm sản tại địa phương
Phỏng vấn hộ gia đình, lựa chọn 60 hộ đại diện cho 03 xã Lãng Công, Quang Yên, Đồng Quế có diện tích rừng lớn nhất trên toàn huyện (20 hộ/xã)
(theo bảng hỏi đã được thiết kế sẵn) Kết quả điều tra theo phiếu phỏng vấn (phụ lục 1) Các đối tượng được lựa chọn phỏng vấn là những người tham gia
quản lý, bảo vệ rừng và đặc biệt những người thường xuyên bám rừng Phỏng vấn đại diện đầy đủ cho các hộ dân tộc (Dao, Kinh, Cao Lan), giới tính và thành phần kinh tế (giàu, khá, trung bình, nghèo) trong cộng đồng
* Thu thập, xử lý số liệu sơ cấp và thứ cấp
Tìm hiểu và thu thập các tài liệu trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng bao gồm:
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu
- Tài liệu về hiện trạng tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu
- Tài liệu về các văn bản chính sách, nghị định, nghị quyết có liên quan đến công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
- Các tài liệu khác có liên quan đến đối tượng và khu vực nghiên cứu
* Chọn địa điểm nghiên cứu
Chọn địa điểm nghiên cứu là công việc được thực hiện trước khi điều tra thu thập số liệu Nguyên tắc của chọn điểm nghiên cứu là đại diện tương
đối cho khu vực nghiên cứu
Trong vùng nghiên cứu tất cả các thôn, bản đều phân bố bám rừng, gần rừng cho nên các yếu tố về địa hình và khả năng tiếp cận với rừng tương đối đồng nhất Vì vậy, thành phần những thôn gần rừng, bản dân tộc là yếu tố lựa
Trang 38chọn làm tiêu chí chọn thôn, bản nghiên cứu Các xã Lãng Công, Quang Yên, Đồng Quế đã được lựa chọn
* Sơ đồ Venn (Venn Diagram)
Sơ đồ Venn mô tả các tổ chức và mối quan hệ giữa tổ chức đến cộng đồng nông dân (thôn, xã) hoặc một lĩnh vực nào đó trong cộng đồng
Các bước khi tiến hành sử dụng phương pháp sơ đồ Venn:
- Tham khảo thông tin từ các nguồn dữ liệu thứ cấp, các cuộc phỏng vấn nhóm hoặc những người cung cấp thông tin chủ yếu
- Xác định các tổ chức và cá nhân chủ yếu chịu trách nhiệm đối với các quyết định trong một cộng đồng hay tổ chức
- Vẽ (cắt) các vòng tròn tiêu biểu cho mỗi cá nhân hoặc tổ chức; kích
cỡ của vòng tròn chỉ rõ mức độ quan trọng hoặc phạm vi của mỗi tổ chức hoặc cá nhân
- Xác định mức độ quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân: sắp xếp các vòng tròn như sau:
+ Vòng tròn riêng rẽ = không có mối quan hệ
+ Vòng tròn tiếp xúc nhau = thông tin được trao đổi
+ Vòng tròn chồng lắp nhau = có hợp tác, quan hệ chặt chẽ hơn
Hình 2.1 Sơ đồ Venn
Bên liên quan 6
Bên liên quan 3
Vấn đề A
Bên liên quan 2
Bên liên quan 1
Bên liên quan 5
Bên liên quan 4
Trang 392.3.2 Phương pháp kế thừa số liệu
- Các tài liệu liên quan đến quy hoạch sử dụng đất và giao đất Lâm nghiệp của tỉnh, huyện, xã, thôn và các tài liệu về điều kiện cơ bản của các khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu các văn bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng; hướng dẫn xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã và hướng dẫn giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư thôn; hướng dẫn lập
tư Liên tịch số 80/2003/TTLT /BTC /BNN&PTNT
+ Các Quyết định, văn bản của Tổng Cục lâm nghiệp ban hành hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng cho Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam và các văn bản hướng dẫn, Quyết định của địa phương có liên quan
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu của đề tài là những đánh giá độc lập bằng phương pháp PRA và phát phiếu điều tra các đối tượng khác nhau (cán bộ xã, thôn/bản và người dân)
- Số liệu thu thập được bao gồm các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại địa bàn nghiên cứu Bên cạnh đó là bộ số liệu phỏng vấn được thực hiện trong quá trình điều tra Từ số liệu đã được cho trong các phiếu phỏng vấn, nhập số liệu vào máy tính Sau đó sử dụng exel để xử lý theo các nội dung đã định sẵn
Trang 402.3.4 Phương pháp phân tích số liệu
Tổng hợp kết quả nghiên cứu theo nội dung bằng hệ thống bảng, biểu (thống kê diện tích đất và các loại rừng, cơ cấu thu nhập, tình hình sử dụng rừng và đất rừng cộng đồng, đầu tư kinh phí ) Sử phần mềm Microsof Excel
để phân tích các thông tin thu thập được về các tác động, ảnh hưởng tới nhận
thức của cộng đồng dân cư trong các hoạt động quản lý bảo vệ rừng
2.3.5 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến đóng góp của các chuyên gia, những người am hiểu, nhiều kinh nghiệm trong từng lĩnh vực điều tra như: Cán bộ, công chức Chi cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc, cán bộ, công chức Hạt Kiểm lâm huyện Sông Lô, cán bộ xã, trưởng bản nơi tiến hành nghiên cứu