MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài luận án Trong công cuộc đổi mới kinh tế đất nước, phát triển KTTN luôn đặt ra nhiều vấn đề tranh luận nhất cả về lý luận và thực tiễn, đụng chạm đến nhiều vấn đề chính trị - xã hội. Hơn 30 năm đổi mới của đất nước, đã có nhiều vấn đề lý luận bước đầu được giải quyết như: Phát triển KTTN có mâu thuẫn với định hướng XHCN không? Có dẫn đến việc bóc lột người lao động, phân hóa giàu nghèo trong xã hội? Đảng viên có được làm KTTN không? Từ đó những rào cản trong tư tưởng về phát triển KTTN ở nước ta đã từng bước được tháo gỡ, tạo ra không gian ngày càng rộng lớn cho KTTN phát triển. KTTN từ vị trí bị coi là đối tượng cải tạo và nhanh chóng xóa bỏ trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì đến nay đã được Đảng ta khẳng định là một động lực quan trọng của nền KTTT định hướng XHCN. Phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, góp phần quan trọng để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ. Quảng Ninh là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có rất nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, trong đó có sự đóng góp đáng kể của KTTN. Tính đến năm 2016, KTTN chiếm 93,2% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn Tinh. Cùng với hàng nghìn hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp KTTN đã góp phần quan trọng tăng trưởng tổng sản phẩm, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân ở thành thị, nông thôn… Tuy vậy, cũng như nhiều địa phương trên cả nước, KTTN trên địa bàn Tỉnh phát triển còn chậm, quy mô nhỏ, năng suất thấp, sức cạnh tranh yếu, khó có thể trở thành một động lực quan trọng của sự phát triển KT - XH tỉnh Quảng Ninh. Năm 2016, trên địa bàn Tỉnh có 4.266 doanh nghiệp đang hoạt động với số vốn đầu tư chiếm 40,8% toàn xã hội và tạo ra 30,9% GRDP[71]. Mục tiêu đến năm 2020, Tỉnh sẽ có 22.000 doanh nghiệp, trong đó có 300 doanh nghiệp quy mô lớn, tiềm lực mạnh. Trong đó, KTTN đóng góp khoảng 50 - 55% GRDP, vốn chiếm 70% toàn xã hội [Phụ lục 2, 20]. Để thực hiện mục tiêu trên, KTTN trên địa bàn Tỉnh cần được phát triển nhanh, mạnh đảm bảo định hướng XHCN. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển KTTN ở Tỉnh Quảng Ninh, từ đó, xác định hệ thống giải pháp triển phát triển KTTN là cần thiết. Chính vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh” làm công trình nghiên cứu luận án tiến sỹ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục đích nghiên cứu Đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới. * Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ cơ sở lý luận cho phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh; - Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển KTTN ở một số địa phương trong nước và quốc tế, rút ra bài học cho phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh; - Đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân thành tựu, hạn chế phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh và xác định những vấn đề đặt ra trong phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh; - Đề xuất quan điểm, giải pháp đẩy mạnh phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu phát triển KTTN. * Phạm vi nghiên cứu Về nội dung Nghiên cứu sự phát triển KTTN về số lượng, quy mô, cơ cấu, chất lượng. Về không gian Nghiên cứu phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh. Về thời gian Nghiên cứu thực trạng phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2016.
Trang 29 9 12
24
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ
NHÂN Ở TỈNH QUẢNG NINH VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN CỦA MỘT SỐ ĐỊA
2.1 Quan niệm, đặc điểm và vai trò của kinh tế tư nhân trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 28 2.2 Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát
triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh 39 2.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân ở một số địa phương
trong nước, quốc tế và bài học rút ra cho tỉnh Quảng Ninh 54
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở
3.1 Thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh
3.2 Nguyên nhân của thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế tư
nhân ở tỉnh Quảng Ninh và những vấn đề đặt ra 95
Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
4.1 Quan điểm phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh thời gian tới 115 4.2 Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh thời gian tới 122
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
4
5
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
DNNVVFDI
6 Hệ số đầu tư tăng trưởng
(Incremental Capital - Output Ratio)
SX, KDXHCN
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Số lượng hộ cá thể phi nông, lâm nghiệp, thủy sản và trang
3.2 Vốn đầu tư trong các TPKT ở tỉnh Quảng Ninh
773.3 Tỷ trọng cơ cấu lao động và tổng sản phẩm của KTTN
3.4 Chỉ số phát triển và cơ cấu của KTTN trong một số ngành dịch
3.5 Chỉ số phát triển và cơ cấu của KTTN trong một số ngành công
3.6 Quy mô lao động và vốn của doanh nghiệp trong các
3.7 Trang bị tài sản cố định bình quân lao động và năng suất
lao động của DN trong các TPKT ở tỉnh Quảng Ninh 893.8 Hệ số ICOR của các TPKT ở tỉnh Quảng Ninh 90
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.2 Số lượng các loại hình doanh nghiệp KTTN 873.3 So sánh tổng sản phẩm giữa doanh nghiệp và hộ kinh tế
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Trong công cuộc đổi mới kinh tế đất nước, phát triển KTTN luôn đặt
ra nhiều vấn đề tranh luận nhất cả về lý luận và thực tiễn, đụng chạm đến
Trang 5nhiều vấn đề chính trị - xã hội Hơn 30 năm đổi mới của đất nước, đã cónhiều vấn đề lý luận bước đầu được giải quyết như: Phát triển KTTN có mâuthuẫn với định hướng XHCN không? Có dẫn đến việc bóc lột người laođộng, phân hóa giàu nghèo trong xã hội? Đảng viên có được làm KTTNkhông? Từ đó những rào cản trong tư tưởng về phát triển KTTN ở nước ta
đã từng bước được tháo gỡ, tạo ra không gian ngày càng rộng lớn cho KTTNphát triển KTTN từ vị trí bị coi là đối tượng cải tạo và nhanh chóng xóa bỏtrong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì đến nay đã được Đảng takhẳng định là một động lực quan trọng của nền KTTT định hướng XHCN.Phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế là mộtyêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thểchế, phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, góp phần quan trọng
để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ
Quảng Ninh là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông BắcViệt Nam, có rấtnhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Trong những năm qua, tỉnhQuảng Ninh đã đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, trong đó có sự đóng góp đáng kểcủa KTTN Tính đến năm 2016, KTTN chiếm 93,2% tổng số doanh nghiệp trênđịa bàn Tinh Cùng với hàng nghìn hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệpKTTN đã góp phần quan trọng tăng trưởng tổng sản phẩm, tăng kim ngạch xuấtkhẩu, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân ở thành thị, nông thôn…Tuy vậy, cũng như nhiều địa phương trên cả nước, KTTN trên địa bàn Tỉnh pháttriển còn chậm, quy mô nhỏ, năng suất thấp, sức cạnh tranh yếu, khó có thểtrở thành một động lực quan trọng của sự phát triển KT - XH tỉnh QuảngNinh Năm 2016, trên địa bàn Tỉnh có 4.266 doanh nghiệp đang hoạt động với
số vốn đầu tư chiếm 40,8% toàn xã hội và tạo ra 30,9% GRDP[71] Mục tiêuđến năm 2020, Tỉnh sẽ có 22.000 doanh nghiệp, trong đó có 300 doanhnghiệp quy mô lớn, tiềm lực mạnh Trong đó, KTTN đóng góp khoảng 50 -55% GRDP, vốn chiếm 70% toàn xã hội [Phụ lục 2, 20]
Trang 6Để thực hiện mục tiêu trên, KTTN trên địa bàn Tỉnh cần được pháttriển nhanh, mạnh đảm bảo định hướng XHCN Do đó, việc nghiên cứu,đánh giá thực trạng phát triển KTTN ở Tỉnh Quảng Ninh, từ đó, xác định hệthống giải pháp triển phát triển KTTN là cần thiết Chính vì vậy, nghiên cứu
sinh lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh” làm
công trình nghiên cứu luận án tiến sỹ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninhtrong thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận cho phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh;
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển KTTN ở một số địa phương trongnước và quốc tế, rút ra bài học cho phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh;
- Đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân thành tựu, hạn chế phát triển KTTN
ở tỉnh Quảng Ninh và xác định những vấn đề đặt ra trong phát triển KTTN ở tỉnhQuảng Ninh;
- Đề xuất quan điểm, giải pháp đẩy mạnh phát triển KTTN ở tỉnhQuảng Ninh trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu phát triển KTTN
Trang 7Nghiên cứu thực trạng phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh trong thờigian từ năm 2010 đến năm 2016.
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận, thực tiễn
Về cơ sở lý luận
Đề tài luận án dựa trên quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về sở hữu tư nhân, KTTN; văn kiện của Đảng, Nhà nước về KTTN;Nghị quyết của Tỉnh ủy Quảng Ninh về phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh
Đề tài luận án nghiên cứu kinh nghiệm phát triển KTTN ở một sốđịa phương trong và ngoài nước, từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm chophát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội nóichung và phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị nói riêng phù hợp với từng nộidung của luận án Cụ thể luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu trừu tượng hóa khoa học, phântích, tổng hợp để xây dựng quan niệm phát triển KTTN trong nền KTTT địnhhướng XHCN, quan niệm phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh; nội dung và cácnhân tố ảnh hưởng đến phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh
Sử dụng phương pháp lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp để nghiên cứukinh nghiệm phát triển KTTN ở một số địa phương trong nước, quốc tế và rút rabài học cho tỉnh Quảng Ninh
Trang 8Sử dụng chủ yếu phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh cùng vớiphương pháp phân tích và tổng hợp để đánh giá thực trạng, chỉ rõ những thànhtựu, hạn chế và nguyên nhân cùng với những vấn đề đặt ra trong phát triển KTTN
ở tỉnh Quảng Ninh
Sử dụng chủ yếu phương pháp diễn dịch, quy nạp để đề xuất quan điểm vàgiải pháp phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh
5 Những đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, làm rõ quan niệm, nội hàm phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh; Thứ hai, đánh giá thành tựu, hạn chế phát triển KTTN ở tỉnh Quảng
Ninh và xác định các vấn đề cần giải quyết;
Thứ ba, đề xuất quan điểm và giải pháp đẩy mạnh phát triển KTTN ở
tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Luận án góp phần luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháttriển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh Từ đó, đề xuất các quan điểm và giải pháp pháttriển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảotrong hoạch định chủ trương, chính sách phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh QuảngNinh và làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu tại các trườngđại học, viện nghiên cứu
7 Kết cấu của luận án
Kết cấu luận án gồm: Mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, 04chương, 10 tiết, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố cóliên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
China’s emerging private enterprises Prospects for the new century
[89] (DNTN mới nổi ở Trung Quốc Viễn cảnh trong thế kỷ mới) của tổ chứcTài chính quốc tế IFC thuộc Ngân hàng thế giới World Bank (2000) Đây lànghiên cứu của nhóm tác giả Neil Gregory, Stoyan Tenev, Dileep Wagle cùngvới các chuyên gia cao cấp của văn phòng IFC ở Bắc Kinh Các tác giả đãnghiên cứu sự phát triển của DNTN Trung Quốc kể từ sau khi cải cách đếnnăm 2000 với ba giai đoạn: 1978 - 1983, 1984 - 1991, 1991 - 2000 Trong cácgiai đoạn này, những dấu mốc quan trọng cho sự phát triển KTTN là: thựchiện tự do hóa giá cả thị trường vào năm 1983, là điều kiện để các hộ cá thểphát triển thành DNTN; sửa đổi Hiến pháp lần thứ 3 vào năm 1999 chính thứcthừa nhận vai trò quan trọng như nhau của khu vực kinh tế công hữu và phicông hữu đã đặt nền móng cho sự phát triển của khu vực KTTN trong giaiđoạn mới Nghiên cứu chỉ ra những tồn tại của khu vực KTTN Trung quốcnhư: vấn đề địa vị pháp lý, chế độ cho người lao động, tình hình tài chínhkhông rõ ràng, khó khăn trong huy động vốn, ý thức chấp hành pháp luật kémdẫn đến sự mất lòng tin ở các cấp chính quyền
Private sector assessment people’s republic of China [87] (Đánh giá
khu vực tư nhân ở Trung Quốc) của Ngân hàng châu Á (2003) Nghiên cứuđược tiến hành cho toàn bộ khu vực KTTN gồm DNTN và hộ cá thể ở TrungQuốc trong 04 giai đoạn: 1978 - 1985, 1986 - 1991, 1991 - 2000, 2001- 2003.Nghiên cứu đã đề cập một số nội dung liên quan tới môi trường vĩ mô, hànhlang pháp lý và những yếu tố cản trở sự hoạt động của KTTN Điểm đáng lưu
ý là nghiên cứu này đã xem xét tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTOđến sự phát triển KTTN
Trang 10Private entreprenuers in China and Vietnam: social and political functioning of strategic groups [94] (Doanh nhân tư nhân Trung Quốc và Việt
Nam: chức năng xã hội và chính trị) của Thomas Heberer, Nhà xuất bản BrillLeiden Bosto (2003) Nghiên cứu so sánh sự giống nhau và khác nhau về thểchế kinh tế, chính trị, xã hội giữa hai quốc gia Trung Quốc, Việt Nam và tìmhiểu chức năng xã hội và chính trị của doanh nhân ở Trung Quốc, Việt Nam.Dựa trên kết quả khảo sát các doanh nhân Trung Quốc và Việt Nam, tác giảcho rằng ở hai quốc gia này, doanh nhân đều mong muốn có tiếng nói thực sựtrong việc đưa ra các quyết định chính trị Điều đó trở nên rõ ràng khi trongnhững thập kỷ vừa qua doanh nhân đã có thu nhập và địa vị xã hội có ảnhhưởng đáng kể trên tất cả các tầng lớp xã hội
China’s third economic transformation: The rise of the private economy [92] (Sự chuyển đổi thứ ba của nền kinh tế Trung Quốc: Sự lớn
mạnh của KTTN) của Ross Garnut and Ligang Song, Nhà xuất bản RoutledgeCuzon (2004) Nghiên cứu đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến KTTNnhư: quá trình tư nhân hóa gắn với cải cách DNNN; ảnh hưởng của FDI; kinh
tế thị trường và môi trường kinh doanh Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã đềcập trực tiếp đến sự phát triển các DNTN ở nông thôn
Private-sector development in a transition economy: The case of Vietnam [93] (Phát triển khu vực tư nhân trong nền kinh tế chuyển đổi: Trường
hợp của Việt Nam) của Schaumburg-Müller, Henrik, Tạp chí Development inPractice, Vol 15, No 3-4, 2005 Nghiên cứu đã chỉ ra kể từ khi Việt Nam thựchiện chính sách đổi mới năm 1986, sự phát triển của khu vực tư nhân là một mốiquan tâm trong chính sách của Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam KTTNđang trở thành nhân tố quan trọng đóng góp cho kinh tế Việt Nam trong việc duytrì tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, sự phát triển khu vực
tư nhân ở Việt Nam còn ở trình độ thấp, quy mô nhỏ và đang phải cạnh tranh vớicác doanh nghiệp lớn của nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài Xóa đói giảm
Trang 11nghèo đã được thực hiện rất ấn tượng nhưng sự bất bình đẳng vẫn còn là mộtthách thức đối với nền kinh tế Việt Nam.
Jiangsu - Zhejiang model and the nationwide development of the private sector in China [95] (Giang Tô - Chiết Giang mô hình và sự phát triển của
khu vực tư nhân ở Trung Quốc) của Wang, Z., Tạp chí Higher ducation Pressand Springer-Verlag, Vol.4, No.2, 2009 Nghiên cứu đã chỉ ra, cùng với việcthực hiện chính sách cải cách và mở cửa ở Trung Quốc, hai tỉnh Giang Tô vàChiết Giang đã có sự phát triển kinh tế nhanh chóng Giang Tô, Chiết Giangcùng với Thượng Hải đã định hình trung tâm kinh tế vùng đồng bằng sôngDương Tử Khu vực tư nhân chính là động lực cho sự phát triển kinh tế mạnh
mẽ ở đồng bằng sông Dương Tử, đặc biệt là tạo điều kiện cho quá trìnhchuyển đổi thể chế kinh tế, phát triển nền KTTT Mô hình phát triển khu vực
tư nhân của Đồng bằng sông Dương Tử được dần dần mở rộng phạm vi trong
cả nước đã tác động mạnh mẽ đến phát triển KTTT trên toàn quốc
The Impact of Public and Private Investment on Economic Growth: Evidence from Developing Asian Countries [89] (Tác động của đầu tư công và
tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng từ các nước đang phát triểnChâu Á) của hai tác giả Kongphet Phetsavong và Masaru Ichihashi được đăngtrong kỷ yếu hội thảo của trường Nghiên cứu phát triển và hợp tác quốc tế,Đại học Hiroshima, năm 2012 Bài báo phân tích ảnh hưởng đến tăng trưởngkinh tế của khu vực công, FDI và tư nhân trong nước đối với các nước đangphát triển ở Châu Á giai đoạn 1984 - 2009 Kết quả thực nghiệm cho thấy đầu
tư của tư nhân trong nước đóng vai trò quan trọng nhất, góp phần tăng trưởngkinh tế Đứng thứ hai là FDI, trong khi khu vực công dường như làm tổn hạiđến tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, khu vực công ở các nước đang phát triểncủa Châu Á được đầu tư quá lớn đã làm giảm tác động tích cực của FDI vàđầu tư của tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế
Trang 12Private sector development and industrial policy: Why, how and for whom? [88] (Phát triển khu vực tư nhân và chính sách công nghiệp: Tại sao,
như thế nào và cho ai?) của hai tác giả Christian Reiner và Cornelia Staritđược đăng trong cuốn sách “Private Sector Development - Ein neuerBusinessplan für Entwicklung?” do Quỹ Nghiên cứu Áo vì sự phát triển quốc
tế phát hành năm 2013 Nghiên cứu cho rằng đã có sự đồng thuận rộng rãitrong nhận thức và thực tiễn về khu vực tư nhân đóng một vai trò quan trọngtrong quá trình phát triển kinh tế Khu vực KTTN năng động, đổi mới, hiệu quả
là động lực của tăng trưởng, tạo việc làm, thu nhập, và sự thịnh vượng Để thúcđẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống, chính phủ các nước đang phát triểncần tạo điều kiện cho KTTN phát triển công nghiệp Chính phủ nên tập trungvào các chính sách, cải thiện cơ sở hạ tầng, đảm bảo quyền sở hữu, tạo môitrường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, giảm gánh nặng pháp lý thông qua bãi bỏquy định và cung cấp ưu đãi thuế hoặc tài chính Tuy nhiên, trong bối cảnh toàncầu hóa và kinh tế tri thức, doanh nghiệp ở các nước đang phát triển, nhất làDNNVV đối diện với nhiều thách thức khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp
ở các quốc gia có nền công nghiệp phát triển Do đó, chính phủ các nước đangphát triển cần chú trọng lựa chọn phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế sosánh của quốc gia, đồng thời, quan tâm và hỗ trợ DNNVV giải quyết khó khăn
1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài
1.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa
Tác giả Nguyễn Đình Kháng (2002) với bài viết KTTN và xu hướng của
nó trong nền KTTT định hướng XHCN [38] Nghiên cứu đã đưa ra lý do khẳng
định sự tồn tại nhiều TPKT, trong đó có KTTN ở nước ta hiện nay, gồm: Yêucầu xây dựng quan hệ sản xuất XHCN; đặc điểm của Việt Nam khi bước vàoTKQĐ; vai trò của KTTN trong nền kinh tế; thực trạng tiềm lực, khả năng của
Trang 13KTNN, kinh tế tập thể chưa đủ mạnh để có thể đảm đương được việc đáp ứngnhu cầu của xã hội; đòi hỏi của tình hình quốc tế hiện nay.
Viện Thông tin khoa học xã hội (2003) với công trình nghiên cứu
Kinh tế tư nhân trong giai đoạn toàn cầu hóa [85] Cuốn sách gồm nhiều
bài viết của các chuyên gia trong nước và quốc tế tập trung luận giải sự tồntại tất yếu của sở hữu tư nhân trong giai đoạn phát triển hiện nay và chothấy hình thức đa dạng của sở hữu tư nhân ở phương Tây, phương Đông.Nghiên cứu đề cập đến mô hình phát triển KTTT XHCN của Trung Quốc,trong đó, chỉ ra KTTN được xác định là yếu tố cấu thành quan trọng củanền kinh tế Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế ,
tư nhân hóa là xu thế diễn ra ở nhiều nền kinh tế dù có thể chế khác nhau
Tác giả Trịnh Thị Hoa Mai (2005) với công trình nghiên cứu KTTN Việt Nam trong tiến trình hội nhập [50] Theo tác giả, trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế, quan niệm KTTN nên được hiểu phạm vi rộng bao gồm cảDNTN trong nước và DNTN nước ngoài để phù hợp với thông lệ quốc tế,đồng thời thể hiện được đầy đủ sức mạnh và vai trò to lớn của khu vựcKTTN Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng của DNTN trong nước, tình hìnhthu hút vốn đầu tư nước ngoài Từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển KTTN
ở nước ta nhằm thu hút mạnh mẽ nguồn vốn nước ngoài, đồng thời, thúc đẩyDNTN trong nước phát triển
Tác giả Nguyễn Thanh Tuyền chủ biên (2006) với công trình nghiên cứu
Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam [79] Cuốn sách là kết quả của công trình nghiên cứu thuộc đề
tài khoa học cấp Nhà nước KX.01.04 Đây là một công trình nghiên cứu đề cậpđến nhiều vấn đề lý luận phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCNnhư: nêu rõ luận cứ khoa học về tính tất yếu khách quan cũng như khẳng định
sự phát triển lâu dài của KTTN ở Việt Nam; xác định vai trò, vị trí của KTTN,mối quan hệ với KTNN trong nền KTTT định hướng XHCN; vấn đề đảng viên
Trang 14được làm KTTN; quan niệm về “bóc lột” giá trị thặng dư trong nền KTTT địnhhướng XHCN ở Việt Nam
Tác giả Tạ Minh Thảo làm chủ nhiệm (2006) với công trình nghiên cứu
Các nhân tố tác động đến tăng trưởng của doanh nghiệp khu vực KTTN ở một số tỉnh phía Bắc và phía Nam [64] Nghiên cứu đã chỉ ra, sự phát triển
KTTN đem lại nhiều lợi ích cho các địa phương: tạo ra nhiều việc làm, đóng gópvào kim ngạch xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách, góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế địa phương Các số liệu thống kê trong nghiên cứu cho thấy khu vựcnày có xu hướng ngày càng gia tăng về số lượng, quy mô, giá trị sản xuất vàxuất khẩu, mức độ đóng góp cho địa phương Và với việc giảm dần quy mô khuvực DNNN theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, khu vực KTTN chắc chắn
sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tếViệt Nam nói chung và cho các tỉnh, thành phố nói riêng Sự phát triển của khuvực KTTN sẽ là một trong các nhân tố đảm bảo sự phồn thịnh từng địa phươngnói riêng và cả nước nói chung
Tác giả Vũ Văn Gàu (2007) với bài viết Phát triển kinh tế tư nhân và vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa [25] Phân tích quá trình hình thành và phát triển quan điểm
của Đảng ta về phát triển KTTN và vấn đề đảng viên làm KTTN theo tiếntrình của công cuộc đổi mới đất nước, tác giả đã đi đến kết luận: Trong quanđiểm của Đảng ta, đây là những vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩathực tiễn cấp bách; KTTN là bộ phận hợp thành không thể thiếu của nềnKTTT định hướng XHCN, phát triển KTTN là vấn đề có ý nghĩa chiến lược,
là một động lực để phát triển đất nước; việc Đảng ta cho phép đảng viên củaĐảng được làm kinh tế tư nhân, kể cả kinh tế tư bản tư nhân là bước tiến quantrọng trong nhận thức của Đảng sau 20 năm đổi mới, thể hiện bước đột phátrong đổi mới tư duy của Đảng về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trang 15Tác giả Đinh Đào Ánh Thủy (2007) với công trình nghiên cứu Phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc và một số gợi ý đối với Việt Nam[67].
Tác giả đã phân tích thực trạng phát triển DNTN ở Trung Quốc và đúc kếtnhững bài học kinh nghiệm trong phát triển DNTN Trung Quốc Trên cơ sở sosánh với thực trạng phát triển DNTN của Việt Nam, nghiên cứu đã gợi mở đốivới phát triển DNTN Việt Nam như: Giải phóng tư tưởng triệt để tạo sự đồngthuận, quyết tâm thúc đẩy phát triển DNTN trong toàn xã hội; thực hiện cảicách DNNN mạnh mẽ, triệt để; có cơ chế tập trung phát triển một số DNTNlớn nhằm tạo ra thương hiệu nổi tiếng
Tác giả Phạm Văn Sơn (2008) với công trình nghiên cứu Phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN và tác động của nó đến củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay [62] Công trình nghiên cứu đã làm rõ quan
niệm, nội dung phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN và tácđộng của nó đến củng cố quốc phòng ở nước ta; đánh giá thực trạng phát triểnKTTN trong nền KTTT định hướng XHCN và thực trạng tác động của pháttriển KTTN đến quốc phòng nước ta Từ đó, đề xuất các quan điểm và giảipháp nhằm phát triển KTTN và củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay
Tác giả Nguyễn Kế Tuấn (2010) với công trình nghiên cứu Vấn đề sở hữu trong nền KTTT định hướng XHCN của Việt Nam [74] Công trình nghiên cứu đã
luận giải các vấn đề lý luận về sở hữu và sở hữu tư nhân Đồng thời, nghiên cứu đãchỉ ra vai trò to lớn của phát triển KTTN trong nền kinh tế Việt nam như: đóng gópngày càng lớn vào tăng trưởng chung của nền kinh tế quốc dân; là lực lượng chủyếu tạo việc làm mới, góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội; tạo
ra đội ngũ doanh nhân năng động, có khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thịtrường và hội nhập kinh tế quốc tế; tạo ra sức ép thúc đẩy đổi mới DNNN
Trung tâm Thông tin - Tư liệu, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
CIEM (2010) với công trình nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân [84] Công
trình nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về khu vực KTTN trong nền
Trang 16KTTT hiện đại Nghiên cứu đã tìm hiểu mô hình phát triển KTTN ở các nướcphát triển (Hàn Quốc), các nước đang phát triển, các nước đang chuyển đổi (Nga,Đông Âu), Trung Quốc Đặc biệt, công trình đi sâu nghiên cứu phát triển KTTN ởViệt Nam và khẳng định các thành tựu của sự phát triển KTTN ở nước ta trongthời gian qua như: Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế quốc dân; huy động nguồnvốn trong xã hội cho đầu tư phát triển; góp phần thúc đẩy sản xuất và đóng gópvào ngân sách nhà nước và địa phương; tạo ra sự phù hợp giữa lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất, thực hiện dân chủ hóa kinh tế, kích thích và thúc đẩysản xuất phát triển; phát triển góp phần tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng hợp lý, hiệu quả, hiện đại; giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu laođộng và phát triển nguồn nhân lực; mở rộng hợp tác quốc tế
Tác giả Lương Minh Cừ - Vũ Văn Thư (2011) với công trình nghiên cứu
Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay - Một số nhận thức về lý luận và thực tiễn [12] Công trình đã nghiên cứu sự hình thành và phát triển của
sở hữu tư nhân, KTTN Việt Nam trong tiến trình lịch sử của đất nước Đặc biệttập trung nghiên cứu sự phát triển KTTN từ sau công cuộc đổi mới kinh tế đấtnước từ năm 1986 đến nay Nghiên cứu đã đề cập đến một số vấn đề lý luận vàthực tiễn về phát triển KTTN ở nước ta Công trình đã đi sâu phân tích nhữngvấn đề thực tiễn hiện nay của KTTN ở nước ta như: vốn đầu tư, công nghệ, trình
độ lao động, các loại hình kinh doanh, xu hướng phát triển của KTTN Từ đó, đềxuất các giải pháp phát triển KTTN ở nước ta hiện nay
Tác giả Nguyễn Đức Học (2011) với bài viết Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế tư nhân trong công cuộc đổi mới hiện nay [34].
Nghiên cứu đã chỉ ra tư tưởng quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vềKTTN trong TKQĐ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Với tư tưởng dân giàu
là nền tảng cho sự phát triển lâu bền của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãkhuyến khích phát triển KTTN để làm giàu trong khuôn khổ pháp luật nhưng họphải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân
Trang 17dân Từ nghiên cứu tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển KTTN, tácgiả đã vận dụng và đưa ra một số vấn đề cần được tập trung làm tốt là: Cần nhậnthức đúng đắn vị trí, vai trò của KTTN đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước;tăng cường sự lãnh đạo của Đảng , phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc, cácđoàn thể nhân dân và các hiệp hội DN đối với phát triển KTTN; tăng cườngquản lý nhà nước đi đôi với phát huy vai trò và năng lực của doanh nhân.
Tác giả Phạm Thị Lương Diệu (2012), với công trình nghiên cứu Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1986 đến năm 2005[14] Nghiên cứu đã làm rõ quá trình phát triển về nhận thức, quan điểm của
Đảng đối với vai trò, vị trí của KTTN từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, bắt đầu
từ năm 1986 đến năm 2005; trình bày có hệ thống quá trình lãnh đạo phát triểnKTTN của Đảng trong 20 năm đầu thời kỳ đổi mới (1986 - 2005); phân tích, đánhgiá về ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo phát triển KTTN của Đảng, rút ramột số kinh nghiệm và nêu một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng
sự lănh đạo của Đảng đối với thành phần KTTN ở Việt Nam trong những năm tiếptheo
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014) với bài viết Tư tưởng của
Lê Nin về biện pháp kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ý nghĩa đối với Việt Nam [36] Nghiên cứu đã đề cập đến tư tưởng của V.I.Lênin về các
biện pháp kinh tế đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, trong đó, tập trungnghiên cứu tư tưởng của V.I.Lênin về việc cần thiết sử dụng các hình thứckinh tế trung gian, quá độ để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga từ mộtnước tiểu nông Nghiên cứu đã đi sâu phân tích những tư tưởng của V.I.Lênintrong Chính sách kinh tế mới về việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước đểphát triển lực lượng sản xuất và sự cần thiết trao đổi nông sản và khuyếnkhích nông dân tự nguyện vào hợp tác xã
Tác giả Nguyễn Đình Luận (2015) với bài viết Vai trò của kinh tế tư nhân với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam [42] Nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của
Trang 18KTTN đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam gồm: Góp phần khơi dậy một
bộ phận quan trọng tiềm năng của đất nước, tăng nguồn nội lực; đóng góp quantrọng thúc đẩy tăng trưởng và dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế quốc dân; gópphần thu hút một bộ phận lớn lực lượng lao động và đào tạo nguồn nhân lực mớicho thị trường lao động; góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Vũ Hùng Cường (chủ biên, 2016) với công trình nghiên cứu Kinh tế tư nhân - Một động lực cơ bản cho phát triển [13] Nghiên cứu đã
xây dựng hệ chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá vai trò động lực đối với phát triểncủa nền kinh tế Nghiên cứu đã khẳng định ưu thế của KTTN, nhưng cũng
đã phân tích và nhận diện các yếu tố cơ bản cản trở khu vực KTTN pháthuy vai trò động lực cho phát triển KT - XH Từ yêu cầu chuyển đổi môhình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế, nhóm nghiên cứu đưa ra quanđiểm và giải pháp để khu vực KTTN thực sự là động lực cho phát triểnkinh tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn 2030
Tác giả Đỗ Thế Tùng (2017) với bài viết Một số điểm chủ yếu trong lý luận về phát triển kinh tế tư nhân [79] Nghiên cứu đã luận giải vai trò của
KTTN trong tiến trình lịch sử, đồng thời, khẳng định không được đối lập mộtcách trừu tượng chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản vì sự phát triển các hìnhthái KT - XH là một quá trình lịch sử tự nhiên Nghiên cứu đã chỉ rõ sự khácnhau giữa KTTN sản xuất hàng hóa nhỏ và KTTN sản xuất hàng hóa lớn và đòihỏi Nhà nước phải có chính sách phù hợp để tạo môi trường pháp lý và môitrường kinh tế thuận lợi cho các loại hình KTTN phát triển
1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhóm tác giả gồm: Hồ Văn Vĩnh, Nguyễn Đình Kháng, Võ Văn Đức
(2001), với đề tài nghiên cứu Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân nước ta hiện nay của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Trang 19Minh [86] Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đốivới KTTN, đã đưa ra phương hướng và các giải pháp phát triển KTTN như:Xây dựng, hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch phát triển KTTN ở cả trung ương
và các địa phương; xây dựng chính sách thúc đẩy phát triển KTTN về đầu tư,đất đai, tài chính, thị trường - thương mại, đào tạo nguồn nhân lực; đổi mới,nâng cao chất lượng bộ máy, cán bộ quản lý nhà nước đối với KTTN
Tác giả Nguyễn Thanh Hóa (2002), với công trình nghiên cứu Đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay” [33] Luận án nghiên cứu
cơ sở lý luận của đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước các loại hình DNthuộc KTTN; tổng kết thực tiễn của quản lý nhà nước các loại hình doanhnghiệp thuộc KTTN từ năm 1991 đến năm 2000, đánh giá những tựu đạt được
và hạn chế còn tồn tại trong việc xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện vàkiểm tra chấp hành pháp luật Từ đó, nghiên cứu đề xuất phương hướng vàgiải pháp khả thi nhằm đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước bằng phápluật các loại hình DN thuộc KTTN ở nước ta
Tác giả Trần Đình Thiên và Lê Văn Hùng (2006) với bài viết Khu vực KTTN động lực phát triển kinh tế mạnh của Việt Nam [65] Nghiên cứu khẳng
định vai trò của khu vực KTTN trong phát triển kinh tế, đồng thời, chỉ ra những vấn
đề đặt ra cần được giải quyết để thúc đẩy KTTN phát triển như: Mức lương còn quáthấp so với DNNN làm hạn chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; quy mô SX,
KD nhỏ; tính minh bạch thấp; môi trường kinh doanh còn nhiều vướng mắc trongtiếp cận vốn, đất đai; tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham nhũng làm tăng chi phígiao dịch, cản trở hoạt động sáng tạo, sức cạnh tranh của KTTN
Tác giả Ngô Văn Giang (2006) với bài viết Khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam: xu hướng phát triển trong cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần
[27] Nghiên cứu đã chỉ ra mặc dù còn một số mặt yếu kém và không ít khókhăn, nhưng xu hướng vận động đi lên của khu vực KTTN trong những năm qua
Trang 20đã mở ra triển vọng phát triển trong tương lai Xu hướng phát triển của KTTNđược dự báo là tiếp tục đi lên mạnh mẽ cả về tốc độ và quy mô Nghiên cứu đãchỉ ra định hướng và giải pháp phát triển KTTN.
Tác giả Tăng Văn Nghĩa (2006) với bài viết Chính sách cạnh tranh công cụ vĩ mô nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dân doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế” [55] Nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của
-cạnh tranh đối với các doanh nghiệp dân doanh trong nền KTTT Ở Việt Nam,mặc dù chính sách đối với doanh nghiệp dân doanh và DNNN đã có sự thay đổinhằm tạo ra sự bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi TPKT, nhưng vẫn còn
có sự phân biệt đối xử trong chính sách đối với doanh nghiệp dân doanh, ưu đãinhiều cho DNNN Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dândoanh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sự hỗ trợ của Nhà nước trongxây dựng chính sách cạnh tranh thích hợp, đúng đắn sẽ tạo điều kiện chodoanh nghiệp doanh nghiệp dân doanh nâng cao sức cạnh tranh Chính sáchcạnh tranh được xây dựng theo những tiêu chí chủ yếu gồm: Đảm bảo chodoanh nghiệp được tự do tham gia vào thị trường, bình đẳng trong kinhdoanh; đơn giản các thủ tục thành lập doanh nghiệp, sáp nhập, giải thể, phásản doanh nghiệp; tiếp cận và trao đổi thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế;
hỗ trợ doanh nghiệp dân doanh trở thành đối tác trực tiếp trong quan hệ đầu tưnước ngoài; cải cách hệ thống thuế; đảm bảo tính minh bạch, ổn định, côngkhai của chính sách kinh tế
Tác giả Trần Anh Phương (2009) với bài viết Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và thực tiễn vận dụng ở Việt Nam hiện nay [59] Nghiên cứu
đã làm rõ quan niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; đánh giá tìnhhình thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam Từ đó, tácgiả kiến nghị về các giả pháp gồm: Nâng cao hơn nữa chất lượng các quyđịnh pháp luật; cách thức xây dựng các hiệp hội cần được đổi mới; cần tăngcường hơn nữa việc thực hiện các chương trình truyền thông, quảng cáo phi
Trang 21lợi nhuận cho các mục đích nhân đạo, từ thiện; địa vị của người đóng thuếcần được nâng cao; Nhà nước cần nhanh chóng tập trung hoàn thiện luật vàtính hiệu lực của luật trong việc thực thi luật
Tác giả Phan Minh Tuấn (2013) với bài viết Phát triển kinh tế tư nhân: Những vấn đề đặt ra [77] Nghiên cứu đã chỉ ra quốc gia, địa phương nào sớm
nắm bắt được nhu cầu, tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vànâng cao sức cạnh tranh quốc tế của khu vực KTTN thì càng khai thác đượcnhiều hơn các tác động tích cực, phòng ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực củaKTTN Nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số vấn đề đối với KTTN ở Việt Namnhằm thúc đẩy KTTN phát triển gồm: cần tôn trọng và bảo đảm quyền tự dokinh doanh theo pháp luật; giải quyết các khó khăn cho doanh nghiệp về đất đai,vốn, năng lực khoa học công nghệ, thị trường; đẩy mạnh cải cách hành chính
Tác giả Phạm Thị Thu Hằng (2014) với bài viết Một số vấn đề về phát triển khu vực tư nhân đăng trong Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2014 do Ủy ban
Kinh tế của Quốc hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam đồng tổ chức, năm 2014 [28] Nghiên cứu đã chỉ ra một số
vấn đề lớn cần đặt ra đối với sự phát triển của khu vực này gồm: Chất lượng pháttriển của khu vực KTTN chưa bền vững; hiệu quả kinh doanh chưa cao, tính phichính thức chiếm ưu thế; khả năng tự chủ và sức đề kháng yếu trong bối cảnh hộinhập quốc tế ngày càng gia tăng; những hạn chế do hệ thống thể chế Từ việcđánh giá, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh củaKTTN và phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế
1.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển kinh tế
tư nhân ở một số quốc gia, địa phương và tỉnh Quảng Ninh
* Các công trình nghiên cứu về KTTN ở Trung Quốc và một số quốcgia có nền kinh tế chuyển đổi, nền kinh tế phát triển
Tác giả Nguyễn Thái Bá Liên (2003) với bài viết 24 năm kinh tế tư nhân Trung Quốc [41]; Tác giả Đinh Thị Thơm (2004) với bài viết Kinh tế
Trang 22tư nhân ở một số nền kinh tế chuyển đổi trong những năm qua [66]; Tác giả Nguyễn Kim Bảo (2006) với bài viết Những chính sách khuyến khích phát triển KTTN ở Trung Quốc hiện nay [3] Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra
vai trò quan trọng của KTTN trong nền kinh tế; phân tích quá trình phát triểnKTTN ở các quốc gia này gắn liền với cải cách, chuyển đổi sở hữu về tư liệusản xuất cùng với việc thiết lập khung khổ thể chế cho nền KTTT Đặc biệt,đối với Trung Quốc, chính sách cải cách kinh tế gắn với mở cửa là bài họcthành công đem lại sự phát triển mạnh mẽ, vươn tầm thế giới cho khu vựcKTTN Trung Quốc trong những thập kỷ qua Các chính sách của Trung Quốctập trung vào những nội dung chủ yếu gồm: xây dựng hệ thống hỗ trợ của Nhànước đối với KTTN; cải cách thể chế phá bỏ sự độc quyền ngành nghề, cạnhtranh thiếu bình đẳng; cải tiến sự phục vụ, quản lý, giám sát đối với KTTN
Tác giả Đào Thị Thu Giang và Nguyễn Thu Thủy (2014) với công trình nghiên cứu Khu vực kinh tế tư nhân của Ôxtrâylia và kinh nghiệm cho Việt Nam
[26] Công trình đã nghiên cứu quá trình phát triển và mô hình phát triển của khuvực KTTN Ôxtrâylia trong nền kinh tế Trên cơ sở so sánh với sự phát triểnKTTN ở Việt Nam, công trình nghiên cứu đã rút ra bài học kinh nghiệm trongquản lý và sử dụng đất đai, tiếp cận và sử dụng nguồn vốn, đào tạo và phát triểnnguồn nhân lực trong một số ngành nghề, trách nhiệm xã hội và phát triển bềnvữngcho phát triển KTTN ở Việt Nam
* Các công trình nghiên cứu về phát triển KTTN ở địa phương
Tác giả Hà Văn Ánh (2002) Kinh tế tư nhân thành phố Hồ Chí Minh[1]; Tác giả Hoàng Văn Hoa (2006) với bài viết Phát triển KTTN ở
Hà Nội thời kỳ đổi mới [31] Các bài viết đã khẳng định vai trò to lớn của
KTTN đối với sự phát triển KT - XH ở các địa phương; đánh giá những kếtquả đạt được, hạn chế của phát triển KTTN; định hướng, giải pháp pháttriển KTTN ở địa phương Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quantrọng của việc xây dựng thể chế cho sự phát triển của KTTN, tạo môi
Trang 23trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho KTTN Đồng thời, đổi mớiquản lý nhà nước đối với KTTN nhằm tạo điều kiện phát triển cho doanhnghiệp và người dân kinh doanh.
Tác giả Nguyễn Đức Chính (2011), với công trình nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh hội nhập quốc tế [8].
Công trình nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến pháttriển KTTN ở địa phương; đánh giá thực trạng phát triển KTTN ở tỉnh BắcNinh, chỉ ra thành tựu đã đạt được, hạn chế tồn tại và nguyên nhân Từ đó,
đề xuất quan điểm và những giải pháp phát triển KTTN ở tỉnh Bắc Ninhtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Huỳnh Huy Hòa và Lê Thị Hồng Cẩm (2014) với bài viết
Định hướng hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế tư nhân tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015 - 2020 [32] Bài viết phân tích thực trạng
hoạt động của các doanh nghiệp KTTN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ
đó, đề xuất một số định hướng, kiến nghị để hình thành và phát triển tậpđoàn KTTN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2015 -2020
Nhóm tác giả Nguyễn Phú Thái - Nguyễn Quốc Việt - Hà Mai LinhPhùng (2017) với bài viết Vai trò động lực của kinh tế tư nhân trong sựphát triển của thành phố Đà Nẵng Nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọngcủa KTTN đối với phát triển kinh tế Đà Nẵng Trong bối cảnh nền kinh tếtoàn cầu hóa, KTTN Đà Nẵng đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũngrất nhiều thách thức Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển KTTNthành phố Đà Nẵng đến năm 2020
Tác giả Lê Hồ Hiếu (2017) với bài viết Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở Quảng Ninh [30] Nghiên cứu đã chỉ ra chất lượng nguồn nhân lực
của tỉnh Quảng Ninh còn nhiều hạn chế như: trình độ tay nghề lao động cònkém; phần lớn là lao động chưa qua đào tạo, thiếu trình độ chuyên môn, kĩ thuậtcao Lực lượng lao động được đào tạo mất cân đối về cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu
Trang 24giữa các bậc đào tạo Để phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực, tác giả đã đề xuấtcác hệ thống các giải pháp gồm: Đổi mới và nâng cao nhận thức về vai trònguồn nhân lực đối với phát triển bền vững; đổi mới, nâng cao chất lượng giáodục đào tạo theo hướng hiện đại; đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính sách thu hútnguồn nhân lực, đẩy mạnh liên kết vùng trong phát triển nguồn nhân lực; huyđộng mọi nguồn lực và đầu tư phát triển cơ sở vật chất cho phát triển giáo dục vàđào tạo.
1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.3.1 Khái quát kết quả của các công trình khoa học đã công bố liên quan đến luận án
Với những công trình khoa học trên đây về phát triển KTTN nóichung, phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Namnói riêng, các tác giả đã đạt được những kết quả nghiên cứu sau:
Thứ nhất, công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã làm sáng tỏ quan điểm của Chủ nghĩa Mác - LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh về KTTN và sự vận dụng của sáng tạo của Đảng ta vào đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhất là đối với thành phần KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN
Đã có những công trình nghiên cứu làm rõ một số quan điểm của Chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về KTTN trong TKQĐ lên chủ nghĩa
xã hội Đồng thời, các công trình nghiên cứu cũng chỉ rõ, với việc xác định KTTN
là một động lực quan trọng của nền KTTT định hướng XHCN, Đảng ta đã vậndụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào đường lối pháttriển nền KTTT định hướng XHCN
Thứ hai, các công trình đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về KTTN, phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN
Trang 25Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về KTTN
và phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN như: Quan niệm vềKTTN và phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN; nội dung, chỉtiêu đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng, vị trí, vai trò và xu thế phát triển KTTNtrong nền KTTT định hướng XHCN
Về quan niệm KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN, có tác giả tiếpcận KTTN ở cấp độ khái quát (ngoài nhà nước), có tác giả tiếp cận KTTN dướigiác độ hẹp (gồm tư bản tư nhân và hộ kinh doanh cá thể) Mặc dù vậy, các tácgiả đều cho rằng KTTN là TPKT (hoặc khu vực kinh tế) dựa trên sở hữu tư nhân
vì lợi ích của chủ thể KTTN Trong nền KTTT định hướng XHCN, KTTN ngoàiđặc trưng chung còn có những đặc trưng riêng
Về quan niệm phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN,các tác giả đều đề cập đến sự vận động, biến đổi về số lượng, quy mô, trình
độ, hiệu quả, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của KTTN thực hiện các mục tiêuphát triển KT - XH của đất nước
Về vị trí, vai trò phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN,nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định KTTN đóng góp to lớn vào tăngtrưởng, phát triển nền kinh tế Việt Nam cũng như tạo ra nhiều việc làm, tăngthu nhập cho người lao động, thực hiện dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế
Về xu hướng phát triển KTTN, một số công trình nghiên cứu đã chỉ raKTTN không chỉ tồn tại và phát triển trong TKQĐ lên chủ nghĩa xã hội, mà
nó sẽ còn tồn tại cả trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội
Thứ ba, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra những thành tựu và tồn tại trong phát triển KTTN, nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong phát triển KTTN ở nước ta, từ đó, đề xuất quan điểm, phương hướng, giải pháp phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN
Trang 26Các công trình nghiên cứu khẳng định KTTN đã có sự phát triển về sốlượng doanh nghiệp, cơ cấu ngành nghề, vùng miền, chất lượng, hiệu quả đãđược nâng lên Bên cạnh đó, sự phát triển của KTTN còn chậm, quy mô nhỏ,chất lượng còn chưa cao, thiếu bền vững
Về nguyên nhân hạn chế phát triển KTTN ở Việt Nam, các công trìnhnghiên cứu đã chỉ ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởngđến sự phát triển KTTN ở nước ta, trong đó, chủ yếu nhấn mạnh đếnnguyên nhân chủ quan
Các công trình nghiên cứu đã đề xuất các quan điểm về phát triển KTTN,trong đó, nhấn mạnh quan điểm phát triển KTTN bình đẳng, tạo mọi điều kiệnthuận lợi nhất cho KTTN phát triển
Về phương hướng và giải pháp phát triển KTTN trong nền KTTT địnhhướng XHCN, các tác giả đã đề xuất phương hướng và giải pháp thúc đẩyKTTN phát triển về số lượng, quy mô, nâng cao chất lượng, hiệu quả.Trong đó, các tác giả đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của các giải phápvề: hoàn thiện thể chế kinh tế tạo hành lang pháp lý cho KTTN phát triểncạnh tranh, bình đẳng; đổi mới công tác quản lý đối với KTTN; tăng cường
hỗ trợ cho KTTN, nhất là DNNVV, hộ kinh doanh cá thể; xóa bỏ tâm lýmặc cảm đối với KTTN
Tóm lại, những kết quả chủ yếu trong các công trình nghiên cứu đã đượccông bố của các tác giả ở nước ngoài và trong nước được tổng quan trên đây lànhững tư liệu quan trọng giúp nghiên cứu sinh xác định được tổng quan tìnhhình nghiên cứu Trên cơ sở đó, tìm ra khoảng trống về lý luận và thực tiễn cầntiếp tục nghiên cứu trong đề tài luận án “Phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh”
1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
Phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đãđược khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến với nhiều nội dung phong
Trang 27phú Tuy nhiên, ở mỗi địa phương khác nhau, sự phát triển KTTN có nhữngnét riêng biệt, đặc thù Do vậy, cần có những công trình nghiên cứu đánh giáthực trạng phát triển KTTN ở mỗi địa phương Trên cơ sở đó, đề xuất cácquan điểm, giải pháp phù hợp thúc đẩy phát triển KTTN ở mỗi địa phương
Để nghiên cứu sự phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh, đề tài tập trung làm rõnhững vấn đề sau:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh gồm:
quan niệm, nội hàm phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh; nội dung phát triển KTTN ởtỉnh Quảng Ninh; các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh
Thứ hai, nghiên cứu kinh nghiệm phát triển KTTN ở một số địa
phương trong nước và quốc tế và rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triểnKTTN ở tỉnh Quảng Ninh
Thứ ba, đánh giá thành tựu, hạn chế phát triển KTTN ở tỉnh Quảng
Ninh từ năm 2010 đến năm 2016 và xác định những vấn đề đặt ra cho pháttriển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
Thứ tư, đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển KTTN ở tỉnh Quảng
Ninh trong thời gian tới nhằm đưa KTTN trở thành một động lực quan trọngtrong phát triển KT - XH của tỉnh Quảng Ninh
Như vậy, có thể thấy, đề tài luận án là một công trình nghiên cứu đềcập đến lý luận và thực tiễn phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh Kết quảcủa công trình nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn đốivới sự phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng mà còn góp phần làmphong phú thêm lý luận và thực tiễn phát triển KTTN trong nền KTTT địnhhướng XHCN ở nước ta nói chung
Trang 28Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở TỈNH QUẢNG NINH VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2.1 Quan niệm, đặc điểm và vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Để xây dựng khung lý luận cho việc nghiên cứu phát triển KTTN ởtỉnh Quảng Ninh, trước hết cần làm rõ quan niệm, đặc điểm, vai trò củaKTTN trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam Bởi lẽ, sự pháttriển KTTN ở các địa phương Việt Nam, trong đó có tỉnh Quảng Ninh diễn
ra trong nền KTTT định hướng XHCN và chịu tác động mạnh mẽ của môitrường thể chế KTTT định hướng XHCN
2.1.1 Quan niệm, đặc điểm của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Quan điểm của Đảng ta về KTTN, phát triển KTTN được hình thành vàhoàn thiện dần qua mỗi giai đoạn phát triển của nền KTTT định hướng XHCN.Quá trình nhận thức về KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta cóthể được chia thành 03 giai đoạn: Giai đoạn từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến trướcHội nghị Trung ương 5 Khóa IX; Giai đoạn từ Hội nghị Trung ương 5 Khóa IXđến Đại hội Đảng lần thứ X; Giai đoạn từ Đại hội Đảng lần thứ XI đến Hội nghịTrung ương 5 Khóa XII
Trong giai đoạn từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến trước Hội nghị Trungương 5 Khóa IX, Đảng ta đã khẳng định KTTN là TPKT trong nền kinh tếnhiều thành phần của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong đó, kinh tếsản xuất hàng hóa nhỏ (bao gồm thợ thủ công, nông dân cá thể, những ngườibuôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể) và kinh tế tư bản tư nhân được hiểu lànhững TPKT thuộc KTTN Đồng thời, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ
Trang 29Chính trị khóa VI đã xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ Đó làbước nhận thức khởi đầu quan trọng, mở đường cho những bước đột phámạnh hơn của KTTN nước ta Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nội hàm củaKTTN vẫn chưa được xác định.
Giai đoạn từ Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX đến Đại hội Đảng lần thứ
X đã chỉ ra mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lênchủ nghĩa xã hội là KTTT định hướng XHCN Đó là nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng XHCN Đồng thời, tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá IX, với Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 18/3/2002 vềTiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triểnKTTN, lần đầu tiên khái niệm KTTN được Đảng ta xác định “Kinh tế tư nhângồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức
hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân” [17, tr.55]
Năm 2006 đánh dấu thời kỳ đất nước hội nhập sâu vào nền kinh tế thếgiới với việc Việt Nam tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Đạihội Đảng lần thứ X (2006) tiếp tục hoàn thiện quan niệm về KTTN trong nềnKTTT định hướng XHCN phù hợp với thông lệ quốc tế Theo đó, sự phân loạicác TPKT được xác định căn cứ vào quan hệ sản xuất và do quan hệ sở hữuquyết định: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hìnhthành nhiều hình thức sở hữu và nhiều TPKT: kinh tế nhà nước, kinh tế tậpthể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước,kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” [21, tr.83] Quan niệm về KTTN của Đảng
ta tại Đại hội Đảng lần thứ X là sự tiếp tục khẳng định và nhất quán với quanniệm của Hội nghị Trung ương năm Khóa IX nhưng đã có bước phát triển phùhợp với thực tiễn hơn Thay vì có sự phân biệt giữa kinh tế cá thể, tiểu chủ vàkinh tế tư bản tư nhân trong thành phần KTTN như Hội nghị Trung ương 5
Trang 30Khóa IX, thì Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ ra dù là kinh tế cá thể, tiểu chủhay kinh tế tư bản tư nhân đều dựa trên chế độ sở hữu tư nhân Điều đó hàm ýkhông cần thiết phải có sự phân biệt thành kinh tế cá thể, tiểu chủ với kinh tế
tư bản tư nhân, mà gọi chung là thành phần KTTN
Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về đổi mới cơ chế, chính sách,khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN cùng với mở cửa hội nhậpkinh tế quốc tế của đất nước đã tạo ra sức bật lớn cho sự phát triển của KTTN.Những đóng góp quan trọng của KTTN vào thành tựu KT - XH của đất nướctrong giai đoạn này là căn cứ thực tiễn quan trọng để Đảng ta tiếp tục đổi mới
tư duy lý luận và đường lối của Đảng về KTTN trong giai đoạn từ Đại hộiĐảng lần thứ XI đến Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII Theo đó, KTTN đãđược Đảng ta xác định là “một động lực quan trọng của nền kinh tế Kinh tếnhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triểnmột nền kinh tế độc lập, tự chủ” [Phụ lục 1, 3]
Như vậy, từ Đại hội Đảng lần thứ VI mở đầu cho công cuộc đổi mớikinh tế đất nước đến Đại hội lần thứ XII, tư duy lý luận và quan điểm củaĐảng về các TPKT nói chung, về KTTN nói riêng đã từng bước được đổimới, phát triển, hoàn thiện phù hợp với quy luật và thực tiễn khách quan.KTTN từ chỗ không được phép tồn tại nay đã được Đảng ta khẳng định tồntại lâu dài và có vị trí, vai trò quan trọng, bình đẳng với các TPKT khác trongnền KTTT định hướng XHCN
Cùng với đổi mới nhận thức của Đảng ta về KTTN, giới nghiên cứunước ta cũng có những đổi mới trong nhận thức về KTTN Có quan niệm chorằng KTTN là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (ngoài kinh tế nhà nước),bao gồm cả DN trong nước và nước ngoài, trong đó tư nhân nắm trên 50%vốn đầu tư Tuy nhiên, phần lớn ý kiến nhất trí với quan niệm KTTN làTPKT gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân Các nhà
Trang 31nghiên cứu cho rằng không thể và không nên phân biệt kinh tế cá thể, tiểuchủ với kinh tế tư bản tư nhân Theo tác giả Phạm Văn Sơn, về mặt lý luận,kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân tuy có sự khác nhau vềtrình độ phát triển lực lượng sản xuất và bản chất quan hệ sản xuất, nhưng
ở Việt Nam hiện nay, để khẳng định có TPKT tư bản tư nhân là vấn đề cònnhiều quan niệm khác nhau, cần tiếp tục được nghiên cứu cả về định tính
và định lượng [62, tr.17] Tác giả Lương Minh Cừ và Vũ Văn Thư đãchứng minh rằng, không thể có tiêu chí để phân loại nên việc tách KTTNthành kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân là không khả thi.Hơn nữa, việc gọi chung là thành phần KTTN, không tách ra hai thànhphần riêng lẻ có nhiều thuận lợi, giúp thu hút mọi nguồn lực của người dânphát triển sức sản xuất xã hội, cũng như tránh việc tranh luận không cầnthiết về vấn đề đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân [12, tr.143-152]
Như vậy, có thể thấy cho đến nay, quan niệm về KTTN trong nền KTTTđịnh hướng XHCN của Đảng ta cũng như của các nhà nghiên cứu có điểmchung thống nhất, đều cho rằng cơ sở để xác định một TPKT, một hình thức tổchức SX, KD có thuộc KTTN hay không là do quan hệ sở hữu tư nhân quyếtđịnh Mặc dù KTTN gồm nhiều hình thức tổ chức SX, KD với nhiều trình độ,quy mô nhưng giống nhau đều dựa trên sở hữu tư nhân Các ý kiến cho rằng việcgộp kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, gọi chung là KTTN vừathể hiện sự kế thừa, nhất quán với lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về phânchia TPKT, vừa thể hiện sự vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Điều đógiúp giải phóng sức sản xuất, khai thác mọi tiềm năng của người dân để pháttriển KTTN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng
Từ những luận giải trên đây, tác giả luận án quan niệm KTTN trong nềnKTTT định hướng XHCN là TPKT dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất, tồn tại dưới hình thức hộ SX, KD cá thể và các loại hình doanh nghiệp của
Trang 32tư nhân, tiến hành SX, KD tự chủ, vì lợi ích kinh tế của chủ thể KTTN, qua đó,thực hiện lợi ích KT - XH của nền KTTT định hướng XHCN
KTTN ra đời, tồn tại và phát triển trong nền KTTT nói chung nên dù làKTTN dưới chủ nghĩa tư bản hay KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN đều
có những đặc điểm chung Đó là các chủ thể KTTN tiến hành SX, KD độc lập, tựchủ vì lợi ích kinh tế, hoạt động dưới sự điều tiết của các quy luật KTTT trongmôi trường tự do cạnh tranh Do đó, KTTN không ngừng đổi mới, sáng tạo, cảitiến công nghệ, tổ chức quản lý SX, KD/ nhằm tạo ra nhiều hàng hóa, dịch vụ,giảm chi phí sản xuất để thu được lợi nhuận cao nhất Bên cạnh đó, KTTN trongnền KTTT định hướng XHCN còn có những đặc điểm riêng
Một là, trong nền KTTT định hướng XHCN, KTTN không giữ địa vị
thống trị trong nền kinh tế nhưng là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh
tế quốc dân, là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế và cùng với kinh tếtập thể, kinh tế nhà nước là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ
Hai là, trong nền KTTT định hướng XHCN, KTTN cạnh tranh bình
đẳng, lành mạnh và hợp tác, phát triển lâu dài với các TPKT trong công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội Theo đó, KTTN được phát triển trong tất cả cáclĩnh vực, ngành nghề SX, KD mà pháp luật không cấm
Ba là, trong nền KTTT định hướng XHCN, KTTN cũng như các TPKT
khác chịu sự quản lý, định hướng, điều tiết của Nhà nước pháp quyền XHCN,dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đảm bảo định hướng XHCN phù hợpvới từng giai đoạn phát triển của đất nước
2.1.2 Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trên thế giới, KTTN đóng vai trò quan trọng trong phát triển nềnKTTT ở các quốc gia Ở nước ta, sau hơn 30 năm đổi mới, vai trò quan trọngcủa KTTN ngày càng được khẳng định trong nền KTTT định hướng XHCN
Trang 33Thứ nhất, KTTN là một động lực quan trọng của nền KTTT định hướng XHCN
Trong hoạt động SX, KD của KTTN, với mục tiêu đem lại lợi nhuậntối đa cho các chủ thể sở hữu tư nhân, KTTN luôn chứa đựng một động lựcmạnh mẽ thôi thúc các doanh nghiệp thường xuyên đổi mới, sáng tạo côngnghệ, hợp lý hóa tổ chức quản lý sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất Từ
đó, thúc đẩy nền KTTT tăng trưởng Do đó, KTTN luôn là một động lựcquan trọng của nền KTTT Điều này đã được chứng minh trong suốt lịch sửphát triển nền KTTT
Trong phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, sự ra đời và phát triểncủa sở hữu tư nhân, KTTN tư bản chủ nghĩa là động lực thúc đẩy lực lượngsản xuất phát triển mạnh mẽ C.Mác đã viết: “Giai cấp tư sản, trong quátrình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sảnxuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trướckia gộp lại Sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằngmáy móc, việc áp dụng hóa học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùngtàu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lụcđịa nguyên vẹn, việc khai thông các dòng sông cho tàu bè đi lại được, hàngkhối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trồi lên - có thế kỷ nào trước đây lạingờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàngtrong lòng lao động xã hội” [42, tr.603]
Từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô Viết,V.I.Lê-nin
đã nhận thấy rằng giai cấp vô sản Nga muốn giành thắng lợi trong thời chiếncũng như trong hoà bình xây dựng kinh tế thì không có cách nào khác phảiliên kết với nông dân, phải dựa vào nông dân Chính vì vậy muốn hướng họvào quỹ đạo của Chủ nghĩa xã hội thì điều quan trọng lúc đó là phải chú trọngđến lợi ích cá nhân, từ đó, thúc đẩy sản xuất V.I.Lênin đã viết: “Trong mộtnước tiểu nông, trước hết, các đồng chí phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững
Trang 34chắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội,không phải bằng cách trực tiếp dựa vào nhiệt tình, mà là với nhiệt tình docuộc cách mạng vĩ đại sinh ra, bằng cách khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng
sự quan tâm thiết thân của cá nhân, bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh
tế Nếu không, các đồng chí sẽ không tiến đến chủ nghĩa cộng sản được; nếukhông, các đồng chí sẽ không dẫn được hàng chục và hàng chục triệu ngườiđến chủ nghĩa cộng sản” [52, tr.188-189] Do đó, sau khi nội chiến kết thúc,V.I.Lênin đã thay thế chính sách cộng sản thời chiến bằng chính sách kinh tếmới nhằm đưa nước Nga thoát khỏi khủng hoảng, thúc đẩy nền kinh tế pháttriển Chính sách kinh tế mới đã nhấn mạnh việc sử dụng các hình thức kinh
tế quá độ như: Khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân,thợ thủ công, khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân, sử dụng chủ nghĩa tư bảnnhà nước, chuyển mạnh sang hạch toán kinh tế
Trong chế độ dân chủ mới đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Chủ tịch HồChí Minh đã sớm xác định vai trò của các TPKT và mối quan hệ của chúng:
“Công tư đều lợi Kinh tế quốc doanh là công Nó là nền tảng và sức lãnh đạocủa kinh tế dân chủ mới Cho nên Đảng, Chính phủ và nhân dân ta phải ra sứcphát triển và ủng hộ nó Tư là những nhà tư bản dân tộc, và kinh tế cá nhân củanông dân và thủ công nghệ Đó cũng là lực lượng cần thiết cho công cuộc xâydựng kinh tế nước nhà Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển” [47, tr.222].Với nhận thức sâu sắc vị trí và vai trò của doanh nhân đối với công cuộc kiếnthiết nước nhà, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã dành thời gian gặp gỡ giới doanh nhân nhằm tranh thủ sự ủng hộ,giúp đỡ của họ để giảm bớt khó khăn về tài chính cho nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa, nhanh chóng khôi phục, phát triển kinh tế đất nước
Trên cở sở nắm vững quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh về vai trò của KTTN, nhận thức của Đảng ta về vị trí, vai trò củaKTTN trong nền KTTT định hướng XHCN đã được khẳng định ngày càng rõ
Trang 35ràng, tích cực Đại hội X (2006) của Đảng đã nhận định KTTN có vai tròquan trọng “là một trong những động lực của nền kinh tế” [21, tr 354] Tiếptheo, Nghị quyết Đại hội XI (2011) của Đảng đã chỉ rõ phải hoàn thiện cơchế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong nhữngđộng lực của nền kinh tế Tiếp tục, Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII đã khẳngđịnh: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế Kinh tếnhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nềnkinh tế độc lập, tự chủ Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhânphát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng,quy mô, chất lượng và tỉ trọng đóng góp trong tổng sản phẩm”[Phụ lục 1, 3].Những thay đổi quan trọng trong tư duy, quan điểm của Đảng ta về vai trò củaKTTN trong nền KTTT định hướng XHCN đã thúc đẩy KTTN nước ta pháttriển mạnh mẽ trong những năm qua, đưa KTTN dần trở thành một động lựcquan trọng của nền kinh tế.
Thứ hai, KTTN góp phần giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế
Nghị quyết 10 Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã khẳng định: “Pháttriển KTTN lành mạnh theo cơ chế thị trường là một phương sách quantrọng để huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển và giảiphóng sức sản xuất”[Phụ lục 1, 3]
Thực vậy, KTTN là TPKT có nhiều loại hình tổ chức SX, KD đa dạngvới quy mô từ nhỏ đến lớn nên phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất từ thấp đến cao trong các lĩnh vực, ngành nghề và vùng miền khácnhau từ đồng bằng, trung du đến miền núi, hải đảo, từ nông thôn đếnthành thị Do vậy, KTTN đã góp phần giải phóng mọi tiềm năng về vốn,đất đai, lao động, trí tuệ, kinh nghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dântrong khắp các vùng miền Hơn nữa, với quy mô SX, KD vừa và nhỏ là
Trang 36chủ yếu, KTTN dễ dàng huy động mọi nguồn lực về đất đai, vốn, lao động,trình độ tay nghề làm nhanh chóng gia tăng số lượng KTTN và mở rộng quy
mô SX, KD doanh nghiệp
Bên cạnh đó, KTTN hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt nêncác chủ thể KTTN luôn phải lựa chọn sao cho sử dụng tối ưu các nguồn lựcđầu vào phù hợp với quy mô, tính chất ngành nghề, trình độ công nghệ saocho với chi phí thấp nhất nhưng đạt được lợi nhuận cao nhất Như vậy, KTTNkhông chỉ huy động các nguồn lực mà còn sử dụng tối ưu hiệu quả các nguồnlực trong nền kinh tế
Thứ ba, KTTN góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế
Trong các quốc gia trên thế giới, KTTN là TPKT chủ yếu thúc đẩy tăngtrưởng tổng sản phẩm của nền kinh tế quốc dân do KTTN có số lượng và quy
mô lớn trong nền kinh tế Ở nước ta, trong những năm qua, KTTN đã có tốc độtăng trưởng nhanh hơn các TPKT khác và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trongtổng sản phẩm xã hội Theo Hiệp hội DNNVV Việt Nam, tỷ trọng đóng góp củaKTTN vào tổng sản phẩm xã hội năm 2002, 2010, 2015 lần lượt chiếm 27%,42,96% và 43,22% tổng sản phẩm xã hội
Cùng với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, KTTN còn góp phần quantrọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế Trongbối cảnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại ngày càng phát triểnmạnh mẽ, nhiều doanh nghiệp KTTN đã chuyển dịch mạnh sang các lĩnh vực,ngành nghề dựa trên công nghệ số, trí tuệ nhân tạo Bên cạnh đó, xu thế toàncầu hóa kinh tế đã tạo cơ hội lớn cho các doanh nghiệp KTTN đẩy mạnh hoạtđộng xuất khẩu và đầu tư sang các quốc gia trên thế giới, góp phần quan trọngtăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước
Thứ tư, KTTN góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ
Trang 37Xây dựng nền kinh tế độc lậap, tự chủ luôn là nhiệm vụ chiến lượcxuyên suốt quá trình phát triển nền kinh tế nước ta Đặc biệt, trong bối cảnhhội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, điều đó càng trở nên cấp thiết.Bởi lẽ, mặc dù mở cửa và hội nhập mang đến nhiều cơ hội cho nền kinh tếnhưng cũng chứa đựng nguy cơ bất ổn cho quốc phòng - an ninh, chính trịnếu
bị lệ thuộc Đối với nền kinh tế nước ta hiện nay, mặc dù doanh nghiệp FDI
có vai trò quan trọng nhưng không thể trở thành động lực để nâng cao nănglực cạnh tranh quốc gia và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Thậm chí,nếu doanh nghiệp FDI thiếu sự quản lý chặt chẽ, còn có thể gây thiệt hại vàrủi ro lớn cho nền KT - XH Kinh nghiệm trên thế giới đã chỉ ra sự tự chủkinh tế và năng lực cạnh tranh mạnh mẽ của các nền kinh tế như Hàn Quốc,Đài Loan, Singapore, Chi lê có sự góp phần rất lớn từ năng lực cạnh tranh ởcấp vi mô, dựa trên năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước,nhất là doanh nghiệp KTTN Vì vậy, Nghị quyết 10/NQ-TƯ của Đảng đãkhẳng định “Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân lànòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ”[Phụ lục 1, 1] Sự phát triểncủa KTTN góp phần quan trọng phát triển nền kinh tế bền vững, gắn kết chặtchẽ giữa phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng - an ninh đất nước
Thứ năm, KTTN góp phần quan trọng giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân, tăng nguồn thu ngân sách
KTTN là TPKT có khả năng tạo ra nhiều việc làm nhất Bởi lẽ, KTTNvới các loại hình tổ chức SX, KD đa dạng, các loại quy mô phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất nên thu hút đông đảo lực lượng lao động
ở tất cả mọi tầng lớp dân cư ở tất cả ngành nghề, vùng, miền của đất nước.Đây là ưu điểm nổi bật của KTTN so với các TPKT khác Theo báo cáo củaHiệp hội DNNVV, hiện nay, KTTN nước ta thu hút khoảng 85% lực lượnglao động, hàng năm tạo ra khoảng 01 triệu việc làm cho người lao động Do
đó, thu nhập của người lao động đã từng bước được nâng cao Đặc biệt, với
Trang 38sự phát triển nhanh chóng của hộ kinh doanh cá thể trong khu vực nôngthôn, KTTN đã góp phần quan trọng tăng thu nhập cho người dân ở nôngthôn, cải thiện đời sống cho người dân ở các vùng sâu, vùng xa, hải đảo.Ngoài ra, KTTN còn góp phần quan trọng vào việc sắp xếp lại lao động, tạoviệc làm mới cho những đối tượng bị giảm biên chế hoặc mất việc làm doquá trình tinh giản bộ máy hành chính, cổ phần hóa DNNN.
Bên cạnh đó, KTTN còn đóng góp tăng nguồn thu ngân sách nhà nước.Mặc dù tỷ lệ đóng góp vào ngân sách nhà nước hiện mới chỉ khoảng 29% [82]nhưng cùng với sự phát triển của KTTN, sự đóng góp vào ngân sách có xuhướng ngày càng tăng lên Ngoài ra, các doanh nghiệp KTTN còn có sự đónggóp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học, thể dục thểthao, giao thông, bệnh viện, nhà tình nghĩa và các công trình phúc lợi khác
Thứ sáu, KTTN góp phần thực hiện quyền dân chủ về kinh tế
Dân chủ là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới đất nước ta.Dân chủ về kinh tế ngày càng có tầm quan trọng và là xu hướng tất yếu trongquá trình phát triển nền KTTT Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh muốnthực hiện dân chủ XHCN trong kinh tế ở nước ta cần phải tôn trọng, bảo đảmphát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều loại hình sở hữu tư liệu sảnxuất khác nhau, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Chú trọngtăng gia sản xuất, phát triển kinh tế để thoát đói nghèo và vươn lên giàu có”[78] Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vềdân chủ kinh tế, Đại hội VI đặt vấn đề cần giải phóng sức sản xuất trong nềnkinh tế nước ta Hội nghị Trung ương 6 khóa VI khẳng định: “Chính sáchkinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sảnxuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, bảođảm cho mọi người được tự do làm ăn theo luật pháp Kinh tế tư nhân đượcphát triển không hạn chế địa bàn, quy mô, ngành nghề mà pháp luật khôngcấm” [20, tr.595] Để thực hiện dân chủ về kinh tế, đường lối, chính sách của
Trang 39Đảng, Nhà nước ta đã khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho KTTNđược tự do kinh doanh trong hầu hết tất cả các lĩnh vực, ngành nghề trong nềnkinh tế, cũng như khẳng định KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh
tế Những quyết sách đúng đắn của Đảng đã tạo cơ hội cho người dân ngàycàng được tự do, dân chủ, bình đẳng trong việc làm giàu cho bản thân, giađình và góp phần làm giàu cho đất nước, xã hội
Bên cạnh những mặt tích cực đối với nền KT - XH, sự phát triển củaKTTN nước ta còn chứa đựng những mặt trái như: làm gia tăng khoảngcách giầu nghèo trong xã hội, phát triển chênh lệch giữa các vùng miền, ônhiễm môi trường, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, ít quan tâm đến cácvấn đề xã hội, quốc phòng - an ninh Từ đó, gây bất ổn đối với nền KT -
XH, có thể làm tăng nguy cơ chệch hướng XHCN trong quá trình phát triểnnếu sự quản lý của Nhà nước kém hiệu quả [62, tr.17-18]
2.2 Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh
2.2.1 Quan niệm về phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Quảng Ninh
Để làm rõ quan niệm phát triển KTTN ở tỉnh Quảng Ninh, trướchết, cần tìm hiểu quan niệm về phát triển KTTN trong nền KTTT địnhhướng XHCN ở Việt Nam
Trong nhiều công trình nghiên cứu về phát triển KTTN, các tác giảđều luận giải sự phát triển của KTTN ở một số nội dung như: sự gia tăng
về số lượng, quy mô, trình độ, hiệu quả cùng với việc chuyển dịch cơ cấukinh tế Thực vậy, trong phép biện chứng duy vật, phát triển là một kháiniệm dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật,
từ trình độ thấp lên trình độ cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.Như vậy, khái niệm phát triển thể hiện ở sự biến đổi tăng lên không chỉđơn thuần về mặt lượng mà còn là sự biến đổi về chất theo hướng ngàycàng hoàn thiện của các sự vật, hiện tượng Với ý nghĩa đó, phát triển
Trang 40KTTN được hiểu là sự gia tăng về số lượng, quy mô và nâng cao chấtlượng, hiệu quả cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Về quan niệm phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN,tác giả Phạm Văn Sơn (2008) cho rằng: “Phát triển kinh tế tư nhântrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự vận động,biến đổi của các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh dựa trên chế độ sởhữu tư nhân về tư liệu sản xuất dưới tác động của các quy luật kinh tế thịtrường và sự định hướng, dẫn dắt của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện
ở sự gia tăng về số lượng, quy mô cùng với sự chuyển dịch về cơ cấu, trình
độ sản xuất, kinh doanh theo hướng tiến bộ, hiệu quả… nhằm góp phầnhiện thực hóa các mục tiêu kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ” [62, tr.23].Quan niệm trên đã thể hiện những đặc trưng phát triển KTTN trong nềnKTTT định hướng XHCN Đó là sự phát triển KTTN về số lượng, quy mô, cơcấu, trình độ SX, KD tiên tiến, hiện đại dưới sự tác động của các quy luật củaKTTT, đồng thời, có sự quản lý của Nhà nước XHCN góp phần thúc đẩyphát triển KT - XH nhằm thực hiện các mục tiêu trong thời kỳ quá độ Đểhoàn thiện quan niệm, theo tác giả luận án, cần thể hiện rõ hơn tính địnhhướng XHCN của phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN
Thật vậy, quá trình đổi mới, phát triển tư duy kinh tế của Đảng từĐại hội VI đến Đại hội XII gắn liền với quá trình tìm tòi và ngày cànghoàn thiện nhận thức về mô hình KTTT định hướng XHCN Đại hội Đảnglần thứ XII đã làm rõ quan niệm về nền KTTT định hướng XHCN Trong
đó, “định hướng XHCN” của nền KTTT được thể hiện ở mục tiêu “dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn pháttriển của đất nước và được đảm bảo bởi sự quản lý của Nhà nước phápquyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo [Phụ lục 1, 4]
Từ những luận giải trên, tác giả luận án quan niệm: Phát triển KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN là sự vận động, biến đổi của