1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây bắc trong bối cảnh hiện nay (Luận án tiến sĩ)

287 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 287
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây bắc trong bối cảnh hiện nay (Luận án tiến sĩ)Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây bắc trong bối cảnh hiện nay (Luận án tiến sĩ)Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây bắc trong bối cảnh hiện nay (Luận án tiến sĩ)Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây bắc trong bối cảnh hiện nay (Luận án tiến sĩ)Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây bắc trong bối cảnh hiện nay (Luận án tiến sĩ)Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây bắc trong bối cảnh hiện nay (Luận án tiến sĩ)Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây bắc trong bối cảnh hiện nay (Luận án tiến sĩ)Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây bắc trong bối cảnh hiện nay (Luận án tiến sĩ)

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án đều trung thực và có xuất sứ rõ ràng

Tác giả luận án

Trang 2

MỤC LỤC

Trang DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 14

1.1 Những nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp 14 1.2 Những nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp 23 1.3 Khái quát kết quả của những công trình khoa học đã công bố có liên quan

đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết 29

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP

CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 33 2.1 Trường trung học phổ thông dân tộc nội trú và giáo dục hướng nghiệp

cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú 33 2.2 Những vấn đề lý luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học

sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú 48 2.3 Bối cảnh hiện nay, những vấn đề đặt ra và các yếu tố tác động đến

quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học

Chương 3 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP

CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, giáo dục các tỉnh vùng Tây Bắc 78

3.3 Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung

3.4 Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các

trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc 96 3.5 Đánh giá chung và nguyên nhân của thực trạng quản lý 110

Chương 4 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP

CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ VÙNG TÂY BẮC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 116

4.1 Yêu cầu có tính nguyên tắc trong quản lý giáo dục hướng nghiệp

cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng

4.2 Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung

học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay 120 4.3 Khảo nghiệm và thử nghiệm biện pháp đề xuất 148

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

3.1 Bảng số lượng khách thể được trưng cầu ý kiến 84 3.2 Bảng tổng hợp số phiếu phát ra và thu về 88 4.1 Danh sách khách thể lấy ý kiến khảo nghiệm 148 4.2 Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của các biện pháp 149 4.3 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 150 4.4 Bảng so sánh tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 151 4.5 Kết quả đánh giá năng lực giáo dục của giáo viên hai nhóm trước thử nghiệm 154 4.6 Kết quả đánh giá năng lực giáo dục hướng nghiệp của giáo viên hai

dưỡng nâng cao năng lực giáo dục hướng nghiệp cho giáo viên 163

3.1 Giá trị sản xuất công nghiệp (tính theo giá thực tế) phân theo địa

phương của 08 tỉnh năm 2012

79

3.2 Tỉ lệ phân luồng sau trung học phổ thông của học sinh trung học

phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc

105

3.3 Tỷ lệ phân luồng cơ bản theo cơ cấu kinh tế trong bối cảnh hiện nay 1064.1 Tính cần thiết của các biện pháp quản lý 1494.2 Tính khả thi của các biện pháp quản lý 1504.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 1514.4 So sánh kết quả đánh giá năng lực trước thử nghiệm 1544.5 So sánh kết quả đánh giá năng lực sau thử nghiệm lần 1 1594.6 So sánh kết quả đánh giá năng lực sau thử nghiệm lần 2 1604.7 So sánh kết quả đánh giá năng lực sau thử nghiệm 2 lần 1614.8 So sánh sự phát triển năng lực giáo dục hướng nghiệp của giáo

viên sau quá trình thử nghiệm

162

2.1 Các hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp 47

4.1 Mô hình tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường

trung học phổ thông dân tộc nội trú

130

Trang 4

Đào tạo nguồn nhân lực cán bộ người dân tộc thiểu số luôn là đường lối chiến lược về chính sách dân tộc của Đảng ta nhằm mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc: Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc [38, tr 164] Do vậy, với nhiệm vụ chính trị của các trường phổ thông dân tộc nội trú là tạo nguồn đào tạo cán bộ cơ sở cho vùng dân tộc thiểu số thì vấn đề quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh càng cần phải nghiên cứu đề xuất biện pháp hữu hiệu để thực hiện đúng quan điểm của Đảng ta về công tác dân tộc

Trong những năm qua, quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc đã đạt được những kết quả tích cực: tạo nên nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp cho học sinh, phụ huynh học sinh và cả xã hội; góp phần cho sự dịch chuyển và những thay đổi tích cực về kết quả phân luồng học sinh trước và sau khi tốt nghiệp

Tuy nhiên, trong nhiều năm trở lại đây, giáo dục Việt Nam chưa có hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp cho học sinh một cách định lượng

mà chỉ xem xét vấn đề này một cách định tính; chỉ tiêu chất lượng đầu ra của các nhà trường trung học phổ thông dân tộc nội trú đều được dừng lại ở việc phấn đấu

Trang 5

6

có tỉ lệ học sinh tốt nghiệp cao và thi đỗ vào đại học, cao đẳng; vấn đề chọn nghề, chọn trường để học bậc học cao hơn của học sinh sau khi tốt nghiệp không được các nhà trường kiểm soát

Bối cảnh hiện nay, với đặc điểm của chương trình giáo dục phổ thông mới: Giáo dục hướng nghiệp được xem là một mặt giáo dục, không phải là môn học với giáo trình cụ thể; Nhà trường thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp lồng ghép trong các hoạt động giáo dục đức, trí, thể, mỹ, hoạt động trải nghiệm Giáo dục đại học phát triển nhưng chưa được quy hoạch phù hợp với cơ cấu nền kinh tế và nhu cầu nhân lực trong thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0)

Trong Văn kiện Đại hội lần thứ XII, Đảng ta cũng đã nhận định: …giáo dục

và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp… Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc [38, tr 113 - 114] Không ít sinh viên đại học ra trường không có việc làm, phải tiếp tục học thêm nghề khác với trình độ trung cấp để đáp ứng nhu cầu lao động nghề hoặc lao động phổ thông; tình trạng thiếu nhân lực lao động lành nghề, thừa nhân lực lao động thủ công chiếm tỉ lệ rất cao; từ năm 2015 trở lại đây tỉ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông dân tộc nội trú không đăng ký thi đại học mà tìm hướng học nghề hoặc xuất khẩu lao động tăng dần, là thực tiễn minh chứng về lỗ hổng trong xác định vai trò giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông dân tộc nội trú

Hiện nay, quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường phổ thông dân tộc nội trú nói chung và trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc nói riêng còn nhiều bất cập: Chưa có một hướng dẫn cụ thể nào về kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục hướng nghiệp; không có tổ chuyên môn chuyên trách về giáo dục hướng nghiệp; sự dàn trải lồng ghép giáo dục hướng nghiệp trong các hoạt động giáo dục khác, sự thiếu quan tâm về đánh giá chất lượng giáo dục hướng nghiệp, dành chỗ cho các tổ chức cá nhân tuyên truyền nghề nghiệp cho học sinh ngay trong các nhà trường, chính là những vấn đề bất cập dẫn đến không quản lý được kết quả giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú

Trang 6

7

Trong bối cảnh đó, tình trạng nhiều học sinh tốt nghiệp trường phổ thông dân tộc nội trú sau khi hưởng chế độ chính sách học tập của nhà nước được cử tuyển đi học đại học bỏ học; tốt nghiệp đại học ra trường vẫn thất nghiệp và không làm đúng ngành nghề được đào tạo, chưa được sử dụng do yếu kém về năng lực thích ứng nghề nghiệp ở một số địa phương vùng Tây Bắc, vẫn còn tồn tại

Nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp

ở trường trung học phổ thông đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên ở Việt Nam, lý luận về giáo dục hướng nghiệp

và quản lý giáo dục hướng nghiệp trong nhiều năm vẫn chưa có nhiều sự thay đổi và phát triển theo xu thế phát triển của xã hội Nghiên cứu về quản lý giáo dục ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú cho một khu vực dân tộc thiểu số như vùng Tây Bắc vẫn còn chưa được khai thác một cách phù hợp trong bối cảnh hiện nay

Như vậy, việc tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú là một trong những vấn đề khoa học rất có ý nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo, sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng cho vùng Tây Bắc nhất là trong bối cảnh chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý giáo dục

hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay” để triển khai nghiên cứu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp, luận án đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp, kiểm soát được hiệu quả giáo dục toàn diện, làm tốt công tác phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp đáp ứng nhu cầu tạo nguồn đào tạo nhân lực người dân tộc thiểu số trong vùng cũng như cả nước

Trang 7

8

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú

- Khảo sát và đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc

- Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay

- Khảo nghiệm các biện pháp và thử nghiệm một biện pháp quản lý đã đề xuất

3 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

* Khách thể nghiên cứu

Quản lý giáo dục ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú

* Đối tượng nghiên cứu

Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay

* Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu: Căn cứ vào Chương trình giáo dục phổ thông của

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành trong giai đoạn 2011 - 2016: Giáo dục hướng nghiệp là một môn học nhưng không có kiểm tra đánh giá Chương trình giáo dục phổ thông mới ban hành năm 2017: Giáo dục hướng nghiệp được xem là một nhiệm

vụ của bậc giáo dục trung học phổ thông, nên luận án tập trung nghiên cứu trong phạm vi quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của nhà trường trung học phổ thông dân tộc nội trú

Về chủ thể quản lý: Phạm vi chủ thể quản lý là các cá nhân, tổ chức trong

nhà trường trung học phổ thông theo Điều lệ trường Trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường trung học phổ thông có nhiều cấp học quy định: Gồm Ban Giám hiệu, hội đồng trường, các tổ chức trong nhà trường, các tổ chuyên môn, tổ quản lý học sinh, các lực lượng giáo dục liên quan

Về địa bàn nghiên cứu: Các trường phổ thông dân tộc nội trú bậc trung học

phổ thông ở các tỉnh vùng Tây Bắc: Hà Giang, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Hoà Bình

Trang 8

9

Về khách thể điều tra, khảo sát: cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh, học

sinh, cựu học sinh của một số trường trung học phổ thông dân tộc nội trú, công chức, viên chức là lãnh đạo ở một số phòng chuyên môn của Sở Giáo dục và Đào tạo thuộc địa bàn nghiên cứu; công chức thuộc một số vụ quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, một số chuyên gia nhà khoa học thuộc Học viện Dân tộc, Ủy ban Dân tộc, Viện nghiên cứu thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo

Về thời gian, các số liệu nghiên cứu sinh sử dụng cho quá trình nghiên cứu luận

án được khảo sát, điều tra, tổng hợp từ năm 2013 đến năm 2017; Thử nghiệm sư phạm được thực hiện làm hai lần: Lần thứ nhất vào đầu học kỳ II, năm học 2015 - 2016; lần thứ hai vào đầu học kỳ II, năm học 2016 - 2017; Quá trình đo kết quả được thực hiện hai lần trong khoảng thời gian thích hợp của năm thứ nhất và năm học thứ hai

* Giả thuyết khoa học

Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục, nhằm phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học

phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc chỉ có thể đạt hiệu quả, nếu các chủ thể

quản lý thực hiện đồng bộ các biện pháp như: Kế hoạch hóa hoạt động giáo dục hướng nghiệp; xây dựng mô hình tổ chức giáo dục hướng nghiệp; tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức, năng lực cho giáo viên và nhân viên; chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục hướng nghiệp; tổ chức phân luồng cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú

vùng Tây Bắc phù hợp với nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương, thì sẽ quản lý

được chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, đáp ứng nhu cầu tạo nguồn đào tạo nhân lực người dân tộc thiểu số trong bối cảnh hiện nay

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, đào tạo, quản lý giáo dục; quan điểm xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Trang 9

10

Phương pháp tiếp cận của đề tài: Để nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản

lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh một cách toàn diện, Luận án sử dụng phương pháp Kết hợp tiếp cận chức năng và tiếp cận hoạt động Mặt khác, giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông bao gồm nhiều thành tố; các thành tố của quá trình giáo dục có mối liên hệ chặt chẽ và tương tác qua lại với nhau cho nên

để đánh giá một quá trình giáo dục cần phải xem xét các thành tố của quá trình giáo dục Chất lượng giáo dục hướng nghiệp phản ánh rõ nét hiệu quả quản lý giáo dục hướng nghiệp của chủ thể, trong đó quản lý giáo dục hướng nghiệp được tiếp cận là một quá trình thực hiện các chức năng quản lý lên đối tượng quản lý với phương tiện, công cụ là các thành tố còn lại của quá trình quản lý Vậy muốn nghiên cứu về thực tiễn quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thì phải tiếp cận theo hướng xem xét chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý như thế nào trong quá trình tác động vào các hoạt động giáo dục Lấy kết quả hoạt động giáo dục hướng nghiệp làm thước đo hiệu quả quản lý và phát hiện các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý Bên cạnh đó, tác giả luận án còn vận dụng linh hoạt các quan điểm: hệ thống - cấu trúc, lịch sử - lôgíc, thực tiễn, phát triển, mô hình hoá, khái quát hoá, trong xem xét, giải quyết vấn đề nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đề tài đã sử dụng kết hợp các

phương pháp sau đây:

Phân tích, tổng hợp, phân loại, khái quát hoá các tài liệu về hướng nghiệp; giáo dục hướng nghiệp; quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông của các tác giả trong và ngoài nước

Phân tích, tổng hợp các nghị quyết, chỉ thị về công tác dân tộc, miền núi; về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; về quản lý giáo dục của Đảng, Nhà nước, địa phương

Nghiên cứu các văn bản tổng kết về công tác dân tộc, miền núi; về giáo dục hướng nghiệp; về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú của Nhà nước, ngành giáo dục, của cấp ủy, chính quyền địa phương và các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú của 8 tỉnh vùng Tây Bắc; từ đó, khái quát, đánh giá và luận giải các quan điểm, tư tưởng có liên quan đến đề tài luận án

Trang 10

11

Sử dụng phương pháp mô hình xã hội với những điều kiện do tác giả đặt ra để xây dựng bộ máy tổ chức nhân sự trong quản lý và triển khai thử nghiệm sư phạm qua đó rút ra những kết luận về tính khả thi trong những biện pháp được đề xuất

Sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử trong việc phân tích các tài liệu lý thuyết về giáo dục và quản lý giáo dục hướng nghiệp đã có nhằm phát hiện các xu hướng, các trường phái nghiên cứu, từ đó xây dựng tổng quan về vấn đề nghiên cứu, làm cơ sở để phát hiện những thành tựu lý thuyết đã có và tìm ra những khoảng trống trong vấn đề nghiên cứu để đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đề tài sử dụng các phương pháp

nghiên cứu sau:

Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến đối với các đối tượng có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu (cán bộ quản lý giáo dục các cấp; giáo viên; cán bộ các ban ngành địa phương; phụ huynh học sinh và học sinh trên địa bàn 8 tỉnh vùng Tây Bắc), lựa chọn đối tượng được hỏi có tính đến vị trí trong xã hội, đảm bảo mỗi mẫu phiếu có đủ số lượng cho thông tin đủ tin cậy

Phương pháp tọa đàm, trao đổi, phỏng vấn sâu: Tổ chức tọa đàm với cán bộ quản lý giáo dục, các chuyên gia, giáo viên, ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn về giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú Trao đổi với lãnh đạo, chính quyền địa phương, với các phụ huynh học sinh và học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú, sinh viên một số trường đại học, cao đẳng trên địa bàn về vấn

đề giáo dục hướng nghiệp trong những năm qua để tìm hiểu về những vấn đề có liên quan đến quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu các báo cáo tổng kết năm học, vấn đề quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú; qua đó, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc một cách khách quan, chính xác và đầy đủ

Phương pháp quan sát sư phạm: Tiến hành quan sát quá trình quản lý giáo dục hướng nghiệp; tập trung vào các chức năng quản lý: phương pháp lãnh đạo, chỉ

Trang 11

12

đạo, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục hướng nghiệp, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp cho học sinh của các trường, nhằm đánh giá thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay

Tham gia dự một số hoạt động tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở một số trường trung học phổ thông dân tộc nội trú, làm cơ sở đánh giá thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc

Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: Từ việc phân tích làm rõ những ưu điểm, hạn chế của thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp, tác giả luận

án khái quát thành những kinh nghiệm nhằm củng cố, phát triển lý luận và làm cơ

sở để đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay

Phương pháp chuyên gia: Tiến hành trao đổi xin ý kiến chuyên gia là các nhà giáo dục, quản lý giáo dục có kinh nghiệm để tư vấn một số nội dung, cách thức tiến hành nghiên cứu thực trạng; xin ý kiến đánh giá về các yếu tố tác động đến quá trình quản lý; đồng thời, xin ý kiến đánh giá sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay; trên cơ sở đó, hoàn thiện những nội dung nghiên cứu của đề tài luận án

Nhóm phương pháp bổ trợ:

Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm: Tiến hành khảo nghiệm sự cần thiết

và tính khả thi của các biện pháp đề xuất trong luận án Tiến hành thử nghiệm 01 biện pháp đề xuất trong luận án tại 2 trường trung học phổ thông dân tộc nội trú của tỉnh Lai Châu

Sử dụng các phương pháp toán học để thống kê, lập biểu bảng, xử lý và phân tích số liệu đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu

5 Đóng góp mới của luận án

Luận án đã luận giải, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề quản

lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc, cụ thể: khái quát và làm rõ khái niệm giáo dục hướng nghiệp,

Trang 12

13

quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú; chỉ rõ con đường thực hiện các chức năng quản lý và những yếu tố tác động đến quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay; khái quát bức tranh toàn cảnh

về giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc

Đặc biệt, luận án đã đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

* Ý nghĩa lý luận: Luận án đưa ra cơ sở lý luận để đề xuất các biện pháp

quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay, góp phần bổ sung, phát triển làm phong phú thêm lý luận quản lý, quản lý giáo dục, quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông

* Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ,

chính quyền và nhân dân địa phương, nhất là các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú trong vùng Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú

7 Cấu trúc luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được trình bày trong 4 chương, 14 tiết

Trang 13

14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Giáo dục hướng nghiệp ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực và cơ hội việc làm cho thế hệ trẻ của mỗi quốc gia Đây là vấn đề đã, đang được nhiều nhà khoa học ở cả trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu Nhiều đề tài nghiên cứu, cuốn sách, luận án, bài báo khoa học được công bố, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định các chính sách về giáo dục hướng nghiệp và quản lý

giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.1 Những nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp

Các tác giả Morgan và Hart (1977), nhấn mạnh vai trò của giáo dục hướng nghiệp đã khẳng định giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường cần phải khuyến khích học sinh suy nghĩ về bản thân mình và về thế giới công việc; yêu cầu học sinh cần có kiến thức, hiểu biết và kỹ năng trong quá trình chọn nghề trước khi đưa ra quyết định nghề nghiệp thông minh [Dẫn theo, 116]

Năm 1996, tác giả Schmidt, J.J (1996) trong Counseling in school: Essential services and comprehensive, programs [119] và năm 1998, Roger D Herring (1998) trong Counseling In schoolsMulticultural and Development [121] đã khuyến khích: các giáo viên phối hợp định hướng nghề cho học sinh thông qua những bài giảng hàng ngày trên lớp; tổ chức hoạt động tập thể hoặc các sự kiện đặc biệt như đi dã ngoại, thăm quan các hoạt động sản xuất, lao động… Với học sinh trung học, có nhiều chương trình sự kiện đặc biệt giới thiệu về nghề sẽ giúp học sinh hiểu được mối quan hệ, tương tác giữa những trải nghiệm của bản thân với những ước mơ, khát vọng thành đạt trong tương lai

Trong cuốn chuyên khảo tái bản lần thứ tư của hai tác giả Samuel H Osipow

và Louise F Fitzgerald (1996), Theories of Career Development [124] có tên Các học thuyết về phát triển nghề nghiệp đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đó của một số tác giả khác (bao gồm: Astin, Farmer, Fitzgerald, Hackett, Betz) về lĩnh vực nghề nghiệp và tư vấn nghề nghiệp Đặc biệt, tác giả này đã tập trung nghiên cứu khá sâu sắc về vấn đề tư vấn nghề nghiệp cho đối tượng là phụ nữ (được trình bày khá chi tiết trong chương 10) Họ đã chỉ ra một số khó khăn khi tư vấn nghề

Trang 14

15

nghiệp cho phụ nữ, đó là: Sự thua kém về sức khỏe thể chất so với đàn ông; định kiến của xã hội về vai trò của phụ nữ; tình trạng phụ nữ bị lạm dụng, quấy rối tình dục khá phổ biến…Tuy nhiên, phụ nữ chính là người giữ vai trò chủ lực giải quyết các vấn đề này với sự hỗ trợ của đàn ông và toàn xã hội để phát triển nghề nghiệp đúng với vai trò và vị trí một cách tương xứng Các tác giả chỉ ra một khoảng trống trong lĩnh vực tư vấn nghề nghiệp là tư vấn cho phụ nữ phát triển nghề nghiệp Nghiên cứu này đã đưa ra một số thuật ngữ khoa học và bộ khung nghiên cứu có tính lý thuyết về lĩnh vực nghề nghiệp và tư vấn nghề nghiệp [124]

Trên Tạp chí Tâm lý học quốc tế số 2 năm 2009, tác giả Andrea Ferro (2009), International Journal of Psychologycal Research [107] công bố bài viết

Sự chuẩn bị của xã hội trong công tác tư vấn nghề nghiệp tại Argentina Đây là bài viết đề cập tới rất nhiều vấn đề, đó là: Hoạt động hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp, vai trò của chính sách Nhà nước đối với hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp phân luồng nghề nghiệp Tác giả Ferro cho biết tỉ lệ thất nghiệp của Argentina là 17,8% tại thời điểm năm 2002 Sau khi phân tích thực trạng thất nghiệp này, tác giả chỉ ra nguyên nhân một phần là do giáo dục: Numbers related

to education , bất chấp sự nỗ lực của mỗi cá nhân Tác giả cho rằng: Không có sự khác biệt giữa hai lựa chọn nghề nghiệp là lựa chọn vì động cơ cá nhân và lựa chọn phục vụ nhu cầu xã hội; mà thực chất hai lựa chọn đó phải thống nhất và hòa hợp với nhau [107, tr 73-78] Để mỗi cá nhân có thể đưa ra lựa chọn nghề nghiệp phù hợp thì điều kiện tiên quyết là: Mỗi cá nhân phải có các năng lực tâm lý (psychology competences); Nhà nước phải có các chuyên gia tư vấn nghề nghiệp một cách chuyên nghiệp (professional psychologists)

Trong bài viết Tâm lý học hướng nghiệp và tư vấn nghề nghiệp sẽ là những phát kiến của tương lai trên Tạp chí Ứng xử nghề nghiệp (Vocational Behavior), tác giả Robert W.Lent (2001) [120] đã chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại, hạn chế của hoạt động tư vấn nghề nghiệp và giáo dục hướng nghiệp, cụ thể: Sự thiếu hiệu quả (weakness); Lỗ hổng lớn (gaps); Sự thiếu bình đẳng (unfair); đồng thời đã kiến nghị, cần có một tầm nhìn mới cho tương lai (future vision) mà trong đó vai trò của Tâm lý học hướng nghiệp là đặc biệt quan trọng Cùng với hoạt động tư vấn nghề nghiệp cho thanh niên và giới trẻ phải thực hiện, hoàn thành 12 mục tiêu,

Trang 15

16

trong đó có những mục tiêu cụ thể về lĩnh vực tư vấn nghề nghiệp và giáo dục hướng nghiệp, đó là: 1) Tiếp tục mở rộng các nghiên cứu lý thuyết cơ bản về các khái niệm: Lựa chọn nghề nghiệp; phát triển nghề nghiệp để tìm kiếm lý thuyết mới

về tư vấn nghề nghiệp, giáo dục hướng nghiệp và phân luồng hướng nghiệp; 2) Mở rộng và đưa các yếu tố văn hóa, tập tục vào trong các quyết định lựa chọn nghề nghiệp và tìm hiểu các nguyên tố đó ảnh hưởng ở mức độ như thế nào trong phạm

vi của mỗi cá nhân; 3) Phát triển và nâng cao nhận thức về các hoạt động bên ngoài giờ học chính khóa (hàm ý đề cập đến hoạt động ngoại khóa) đối với kết quả lựa chọn nghề nghiệp của các em học sinh; 4) Sáng tạo các cách thức lượng hóa, đo đếm sự hài lòng của các cá nhân sau khi đưa ra các quyết định lựa chọn nghề nghiệp; 5) Mở rộng và sáng tạo trong các lĩnh vực nghề nghiệp mới mẻ trong tương lai để tạo ra nhiều lựa chọn nghề nghiệp cho học sinh và các cá nhân; 6) Tạo lập các

cơ hội bình đẳng trong lựa chọn nghề nghiệp và tư vấn nghề nghiệp đối với từng cá nhân; 7) Kết nối giữa nghiên cứu lý thuyết cơ bản với nghiên cứu thực tiễn trong lĩnh vực tư vấn nghề nghiệp và giáo dục hướng nghiệp [120, tr 59, 213 - 225]

Công bố quốc tế của tác giả Beate Cesinger (2011), Lượng hóa sự thành công của nghề nghiệp (Measurement of objective and subjective career success) [108] tại hội thảo Discussion Paper năm 2011 thể hiện một cách nhìn mới về nghề nghiệp là: Có thể lượng hóa, đo đếm được mức độ thỏa mãn về nghề nghiệp với năm thứ bậc, từ 1 đến 5

Theo Cesinger, Sự thỏa mãn của mỗi cá nhân trong nghề nghiệp không chỉ đơn thuần (và truyền thống) là leo lên các nấc thang (climbing up the ladder) mà điều quan trọng hơn rất nhiều là sự thỏa mãn của cá nhân đó về một môi trường làm việc chuyên nghiệp và sáng tạo [108] Trong công bố này, tác giả chỉ ra các mục tiêu rất cụ thể mà mỗi cá nhân dựa trên đó để lựa chọn nghề nghiệp, đó là: thu nhập (pay); vị trí, địa vị (promotion) và cơ hội phát triển nghề nghiệp (ocupational status) Tác giả cũng trình bày bảng 5 mức độ thỏa mãn về nghề nghiệp của mỗi cá nhân (1 = not at all to 5 = very much scape) Cụ thể: 1) Tôi hài lòng (thỏa mãn) với những gì đạt được trong nghề nghiệp; 2) Tôi hài lòng (thỏa mãn) với tiến bộ mà tôi

đã làm được để đáp ứng các mục tiêu nghề nghiệp; 3) Tôi hài lòng (thỏa mãn) với những tiến bộ mà tôi đã làm được để đáp ứng mục tiêu nâng cao thu nhập; 4) Tôi

Trang 16

17

hài lòng (thỏa mãn) với những tiến bộ mà tôi làm được để đáp ứng mục tiêu tiến bộ của cá nhân tôi; 5) Tôi hài lòng (thỏa mãn) những tiến bộ mà tôi làm được để đáp ứng mục tiêu nâng cao sự thuần thục về kỹ năng

Một số tác giả khác đề cập đến vấn đề thiếu hụt chương trình tư vấn nghề nghiệp cho đội ngũ nha sĩ tại Hà Lan là nhóm tác giả bao gồm: Ronald C Gorter, Michiel A.J.Eijk man, Johan Hoogstraten (2001), A career counseling program for dentists: effects on burnout [122] Các tác giả này cho rằng: Nhiều lĩnh vực nghề nghiệp không có sự tư vấn và định hướng một cách chuyên nghiệp, trong đó có lĩnh vực đào tạo nha sĩ [122, tr 23] Sự thiếu hụt đó ít nhiều đã ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả đào tạo nha sĩ cũng như hiệu quả làm việc của các nha sĩ sau này Các tác giả đã tổ chức nghiên cứu điều tra thực trạng trên 171 nha sĩ và thực nghiệm tư vấn nghề nghiệp trên 66 nha sĩ trong đó có 35 nha sĩ được thực nghiệm còn 31 nha sĩ làm nhiệm vụ đối chứng Sau đó, kết quả thay đổi về nhận thức và kỹ năng ở 66 nha

sĩ nêu trên được phân tích, so sánh, bình luận một cách khách quan, công bằng và cho thấy: Chương trình tư vấn nghề nghiệp dành cho các nha sĩ do các tác giả xây dựng là rất khoa học và hiệu quả Kết luận của bài báo do nhóm tác giả đưa ra là: Cần xây dựng các chương trình tư vấn nghề nghiệp cụ thể cho từng lĩnh vực đào tạo và từng lĩnh vực nghề nghiệp thì mới có hiệu quả trong thực tiễn [122, tr 30]

Trong bài viết Tư vấn nghề nghiệp và tâm lý học nghề nghiệp ở Bồ Đào Nha - một chính sách quan trọng của Nhà nước trên số 52 của Tạp chí Ứng xử nghề nghiệp, năm 1998 [110], các tác giả Eduardo J.R.Santos và Joaquim Armando Ferreira cho rằng: Quan điểm nhấn mạnh và xuyên suốt của chúng tôi là việc tư vấn nghề nghiệp cần được xây dựng như là một nhiệm vụ quan trọng của việc phát triển của mỗi cá nhân và toàn bộ xã hội dựa trên các giá trị cốt lõi của truyền thống và các mục tiêu nghề nghiệp cụ thể Họ cũng nhấn mạnh: Chúng ta cần cung cấp các dịch vụ tư vấn nghề nghiệp không chỉ ở các thời điểm cụ thể mà còn xuyên suốt cả cuộc đời của mỗi cá nhân và nó không chỉ tập trung vào các chi tiết nghề nghiệp mà còn vào tất cả các vấn đề phát triển ở mỗi cá nhân Cuối cùng, chúng tôi khuyến cáo cần có một lĩnh vực tư vấn nghề nghiệp với sự trợ giúp của chuyên ngành Tâm lý học nghề nghiệp sẽ là một chính sách quốc gia của đất nước

Bồ Đào Nha [110, tr 312-322.]

Trang 17

18

Các tác giả Schmidt, J.J, (1996) [116]; Roger D Herring (1998) [121]; Vernon G.Zunker (2002), Career counseling: applied concepts of life planning [125] đã nghiên cứu về tư vấn nghề cho học sinh ở trường phổ thông Nghiên cứu này tập trung ở các vấn đề sau đây: 1) Xác định vai trò của tư vấn viên trong việc định hướng nghề và tư vấn nghề Họ khẳng định: tư vấn viên giống như một nhà nghiên cứu hành vi ứng xử; tư vấn viên ở trường là tác nhân thay đổi; tư vấn viên được coi như một kỹ thuật viên hoặc một nhà tâm lý hướng nghiệp; 2) Xác định mục tiêu, hình thức, phương pháp định hướng nghề và tư vấn nghề cho học sinh từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông; 3) Cung cấp những dịch vụ nghề nghiệp cho học sinh; 4) Xác định các tiêu chí đánh giá, phương pháp đánh giá, nội dung đánh giá kiến thức, kỹ năng, khả năng, và các mục đích khác của chương trình giáo dục hướng nghiệp và tư vấn nghề trong trường phổ thông

Trong nghiên cứu của mình tác giả Roger D Herring (1998) [121] đã xác định được những khó khăn của học sinh trong quá trình chọn nghề đó là: Không lựa chọn được nghề, không nhận thức rõ ràng khả năng, sở thích và giá trị, quan niệm của bản thân phù hợp với nghề nào

Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh luôn thu hút được sự quan tâm, chú ý và nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý, các thầy cô giáo, phụ huynh, bản thân học sinh và của toàn xã hội

Tác giả có những nghiên cứu cơ bản, phong phú về giáo dục hướng nghiệp là Phạm Tất Dong Tiêu biểu như công trình: Sự lựa chọn tương lai [30], vấn đề giáo dục hướng nghiệp được trình bày một cách hệ thống Trong tài liệu này, tác giả đã đánh giá sơ bộ về thực trạng giáo dục hướng nghiệp: khoảng 60% các trường trung học phổ thông ở miền Bắc (50% và 56% tương ứng ở miền Trung và miền Nam) không coi trọng giáo dục hướng nghiệp, chưa xem giáo dục hướng nghiệp với tư cách

là một hoạt động giáo dục chính thức của nhà trường Việc giảng dạy bộ môn giáo dục hướng nghiệp còn nhiều tồn tại, hạn chế: 1) Hầu hết giáo viên tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp đều chưa qua một lớp đào tạo sư phạm nào về hướng nghiệp; 2) Các giáo viên dạy hướng nghiệp chỉ hiểu biết sâu về một nghề và sơ sài về các nghề khác do đó là hiệu quả giáo dục hướng nghiệp rất thấp và không thể trả lời được các câu hỏi của học sinh; 3) Sách và tài liệu về giáo dục hướng nghiệp vừa cũ, vừa

Trang 18

19

lạc hậu, khó sử dụng; 4) Phương pháp thuyết trình là phương pháp chủ đạo và gần như là duy nhất được áp dụng trong giáo dục hướng nghiệp mà thực chất giáo dục hướng nghiệp đòi hỏi tính thực tiễn rất cao

Trên cơ sở đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp, tác giả Phạm Tất Dong chỉ ra một số định hướng cho việc đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp: Phát huy, tính năng động sáng tạo của học sinh; coi trọng tính giáo dục của công tác hướng nghiệp; tự tu dưỡng, tự học hỏi là điều kiện quan trọng để tạo

ra sự phù hợp nghề; quán triệt quan điểm hoạt động trong dạy học

Theo các tác giả Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê (2004) trong Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh với việc phát triển nguồn nhân lực [47] thì, giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay phải gắn với quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu của quá trình dịch chuyển

cơ cấu lao động [47, tr 5-6] Các tác giả này cho rằng: Việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế sẽ thúc đẩy sự thay đổi cơ cấu lao động để thích ứng với cơ chế thị trường, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế [47, tr 13]

Sau khi phân tích tình hình kinh tế - xã hội, nhất là quá trình đổi mới cơ chế lao động, các tác giả cho rằng, giáo dục hướng nghiệp ở các nhà trường phổ thông hiện nay dù với bất cứ hình thức nào cũng phải hướng vào hình thành cho người học năng lực làm chủ công nghệ cao Trên cơ sở đó, các tác giả đã chỉ ra một số điều kiện đảm bảo cho giáo dục hướng nghiệp thành công Đó là: 1) Có sự nhất quán, kiên trì về chủ trương, chính sách và cơ chế hoạt động ổn định Vì giáo dục hướng nghiệp và dạy học trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một ngành cụ thể; 2) Giáo dục hướng nghiệp phải gắn với việc giải quyết việc làm, đặc biệt là đối với giới trẻ, lực lượng nòng cốt của xã hội; 3) Giáo dục hướng nghiệp phải vừa thực hiện nhiệm vụ có tính đặc thù lại vừa phải gắn với quá trình giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực nói chung đáp ứng yêu cầu

mở rộng ngành nghề sử dụng nhiều lao động

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền trong Mô hình tư vấn nghề cho cá nhân học sinh trong trường trung học phổ thông , (2008) cho rằng: Trong những năm qua, giáo dục hướng nghiệp nói chung, tư vấn nghề nói riêng đã được thực hiện trong các nhà trường trung học phổ thông thông qua các con đường giáo dục hướng nghiệp, song hiệu quả giáo dục chưa cao Đa số học sinh sau trung học phổ thông không đánh giá được năng lực của mình, cũng không biết rõ mình thích nghề gì [48]

Trang 19

20

Trong luận án tiến sĩ Xây dựng mô hình tư vấn nghề trong nhà trường trung học phổ thông khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam , (2009), tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền đã chỉ các nguyên nhân chủ yếu sau đây dẫn đến thực trạng nêu trên: 1) Bản thân học sinh trung học phổ thông thiếu hiểu biết, kinh nghiệp về các lĩnh vực nghề nghiệp; đánh giá không chính xác về năng lực, sở trường, sở thích của bản thân; 2) Giáo dục hướng nghiệp và tư vấn nghề nghiệp còn mang nặng tính hình thức; nội dung và phương pháp còn đơn điệu, nghèo nàn, không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu về nghề nghiệp của học sinh; 3) Giáo viên trung học phổ thông ít được bồi dưỡng về giáo dục hướng nghiệp nói chung, tư vấn nghề nghiệp nói riêng Sinh viên sư phạm chưa được tiếp cận hệ thống tri thức và rèn luyện các kỹ năng về giáo dục hướng nghiệp và tư vấn nghề nghiệp Do đó, khu thực hành còn bỡ ngỡ và không đạt hiệu quả như mong muốn [49]

Khi đánh giá về vai trò của giáo dục hướng nghiệp, trong luận án tiến sĩ Giáo dục hướng nghiệp trong dạy học các môn học khoa học tự nhiên ở trường trung học phổ thông khu vực Nam Trung Bộ , (2012), Phạm Văn Khanh cho rằng: Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh có vai trò nền tảng định hướng phát triển nghề nghiệp tương lai, chuẩn bị tâm thế và năng lực cụ thể cho việc nắm bắt thế giới nghề nghiệp trên cơ sở hiểu biết về các yêu cầu xã hội cũng như hiểu biết về năng lực, sở thích của bản thân trong quá trình học tập và lựa chọn nghề nghiệp tương lai cho mình Trong phạm vi luận án này, tác giả đã chỉ ra 4 con đường giáo dục hướng nghiệp chủ yếu là: Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các môn văn hóa; Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các môn công nghệ; Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học giáo dục hướng nghiệp; Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khóa, các phương tiện thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội Đồng thời, xác định các hình thức giáo dục: 1) Giới thiệu cho học sinh những nghề đang cần nhân lực, nhất là những nghề nằm trong kế hoạch phát triển của đất nước cũng như ở địa phương; đồng thời, giới thiệu cho học sinh những yêu cầu tâm lý và sinh lý của những nghề đó; 2) Tạo điều kiện cho học sinh tìm hiểu hệ thống những trường đào tạo nghề bậc trung học và đại học, trước hết

là những trường công nhân kỹ thuật; 3) Tổ chức cho học sinh tham quan sản xuất ở nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường… nhằm giúp cho học sinh có những biểu tượng (quan niệm) rõ ràng hơn về những nghề đang cần tìm hiểu; 4) Cho học

Trang 20

hệ thống và đồng bộ trong hoạt động hướng nghiệp; 4) Đảm bảo sự phân hóa và cá biệt hóa trong hoạt động hướng nghiệp; 5) Đảm bảo tính thực tiễn trong hoạt động hướng nghiệp là nhằm phát triển hứng thú, năng lực, sở trường nghề nghiệp của học sinh; 6) Đảm bảo hoạt động hướng nghiệp theo khu vực lãnh thổ

Tác giả Phạm Văn Khanh nhận định: Giáo dục hướng nghiệp trong quá trình dạy các bộ môn khoa học tự nhiên ở trường trung học phổ thông là một việc hết sức khó khăn nhưng hiện tại thiếu một sự chỉ dẫn cụ thể về phương pháp tiến hành, biện pháp thực hiện Nhìn chung, đây là vấn đề ít được quan tâm trong nghiên cứu khoa học giáo dục Đặc biệt ở nước ta, khi hoạt động hướng nghiệp còn đang là công việc mới mẻ, kinh nghiệm đúc kết chưa nhiều, vì thế chúng ta chưa thể nói tới một cách toàn diện, đầy đủ việc hướng nghiệp cho học sinh thông qua quá trình giảng dạy các môn học [56, tr 74] Từ đó, tác giả đã xác định cách thức triển khai giáo dục hướng nghiệp thông qua các môn học cụ thể như: Giáo dục hướng nghiệp trong dạy học môn Toán học; Giáo dục hướng nghiệp trong dạy học môn Vật lý; Giáo dục hướng nghiệp trong dạy học môn Hóa học; Giáo dục hướng nghiệp trong dạy học môn Sinh học

Có thể nhận thấy: Những cách thức triển khai nêu trên của tác giả Phạm Văn Khanh có ý nghĩa rất lớn về cả lý luận và thực tiễn giáo dục hướng nghiệp cho học sinh; đồng thời, cung cấp cho giáo viên trung học phổ thông thêm một sự lựa chọn, một cách làm mới cho công tác giáo dục hướng nghiệp và làm phong phú thêm, tạo nên cái nhìn có tính chất toàn diện hơn về các môn khoa học tự nhiên

Một trong những tác giả có nhiều nghiên cứu nổi bật về giáo dục hướng nghiệp là Đặng Danh Ánh Trong bài Đổi mới giáo dục hướng nghiệp bắt đầu từ đâu? , 2013 [3], tác giả cho rằng cần phải đổi mới hoạt động giáo dục hướng nghiệp, vì bản thân hoạt động này cũng đang ở trong phạm vi của cuộc khủng

Trang 21

22

hoảng toàn diện ở nhiều cấp độ của ngành Giáo dục và Đào tạo; Giáo dục hướng nghiệp không chỉ là công cụ gián tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế có hiệu quả, bền vững mà chủ yếu là công cụ góp phần điều chỉnh cơ cấu phân luồng học sinh sau trung học, giải tỏa cuộc chạy đua không có hồi kết thúc vào cao đẳng, đại học hàng năm [4, tr 35 - 38] Chính vì vậy, theo tác giả này thì đổi mới giáo dục hướng nghiệp chính là đổi mới cơ cấu phân luồng cho học sinh sau tốt nghiệp Tác giả nhận định: Sau khi tạo được hướng phân luồng học sinh sau tốt nghiệp rồi thì Nhà nước mới có quyền định tỷ lệ % phân luồng và phát ra chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm các hệ đào tạo theo ngân sách Nhà nước cấp [4, tr 35 - 38] Đây là cách tiếp cận vấn đề giáo dục hướng nghiệp mang màu sắc định hướng quản lý nhà nước Theo lập luận của tác giả thì thời hoàng kim của giáo dục hướng nghiệp là giai đoạn từ

1982 - 1989 với những chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ trên tinh thần gắn giáo dục hướng nghiệp với dạy nghề phổ thông, gắn hướng nghiệp với sự phát triển của các ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Tác giả Phạm Ngọc Linh (2013) trong luận án tiến sĩ Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông [63] lại đề cập và nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp theo một góc độ khác Theo tác giả, có một số khái niệm tương đồng với nhau về nội dung, đó là: Tư vấn hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp [63] Điểm khác biệt trong công trình nghiên cứu của Phạm Ngọc Linh là sự nghiên cứu và trình bày một cách công phu về các biểu hiện tâm lý, các vấn đề tâm lý được thể hiện trong hoạt động tư vấn hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp Đó là: Nhận thức về nghề; Hiểu biết nhu cầu xã hội về nghề; Hiểu biết về tâm lý bản thân phù hợp với nghề; Xu hướng nghề của học sinh; Động cơ chọn nghề; Hứng thú; Năng lực; Tính cách

Như vậy, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận chung

về hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp, khái quát mục tiêu, nội dung, con đường hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và một số loại hình trường khác như trung tâm giáo dục thường xuyên, trường dạy nghề cho đối tượng học sinh ở bậc trung học phổ thông Khẳng định vị trí và vai trò của hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường Kết quả nghiên cứu của các tác giả nêu trên là cơ

sở lý luận, thực tiễn cho ngành giáo dục Việt Nam xây dựng chương trình giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông hiện nay

Trang 22

23

1.2 Những nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp

Cùng với giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thì quản lý giáo dục hướng nghiệp cũng là vấn đề được quan tâm, tập trung nghiên cứu thể hiện qua các công trình nghiên cứu đã được công bố về vấn đề này

Các tác giả R.Oberliesen, H.Keim, M.Schumann, G.Duismann đã nghiên cứu

về phương thức tổ chức cho học sinh phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, các tác giả đã khẳng định: Hoạt động dạy học, lao động - kỹ thuật - kinh tế không chỉ mang tính quan trọng đối với các môn khoa học khác, mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục trung học phổ thông, bởi vì

nó đã tạo điều kiện cho học sinh phát triển thành những con người trưởng thành phát triển toàn diện trong cuộc sống lao động - xã hội

Các tác giả H.Frankiewiez; B.Rothe; U.Viets; B.Germer, D.Marschneider (1986),

đã đưa ra các phương thức: Phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh trung học phổ thông [Dẫn theo, 73]

Năm 2007, tác giả David Atchoarena trong bài viết Vocational education and training for youth (Giáo dục và đào tạo nghề cho thanh niên) trên Tạp chí của Viện hoạch định giáo dục quốc tế số 4 tháng 10-12/2007 nêu ra thực trạng lớp trẻ hiện nay đang đối mặt với những khó khăn trong thị trường lao động vì thế giai đoạn chuyển giao từ nhà trường đến thị trường lao động là rất quan trọng và cần có chính sách phù hợp [Dẫn theo, 79] Tác giả đã nêu những vấn đề về chính sách giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đặt trong bối cảnh thị trường lao động để tránh nguy cơ thất nghiệp của rất nhiều thanh niên khi rời ghế nhà trường

Trong Đề tài cấp Bộ, Mã số: B2008-37-54TĐ: Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phân luồng học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú , (2010) [74], tác giả Trần Thanh Phúc và nhóm nghiên cứu đã đánh giá thực trạng tình hình công tác phân luồng học sinh trong các trường phổ thông dân tộc nội trú và từ đó đề xuất một số giải pháp phân luồng học sinh trong các trường phổ thông dân tộc nội trú bao gồm: Đổi mới các hoạt động hướng nghiệp, tư vấn hướng nghiệp - dạy nghề phổ thông trong các trường phổ thông dân tộc nội trú; Bổ sung, hoàn thiện chính sách và tăng cường

cơ sở vật chất đối với công tác hướng nghiệp - dạy nghề và phân luồng học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú; Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo

Trang 23

24

viên hướng nghiệp - dạy nghề, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá trong các trường phổ thông dân tộc nội trú; Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, nhằm tạo sự hấp dẫn, thu hút học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú ngay từ khi còn đang học trung học cơ sở và trung học phổ thông

Trong luận án tiến sĩ Tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bổ túc trung học phổ thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên theo định hướng phát triển nhân lực , (2009), tác giả Huỳnh Thị Tam Thanh [86] phân tích, xem xét giáo dục hướng nghiệp trong mối quan hệ với định hướng phát triển nguồn nhân lực Cách tiếp cận này cho phép triển khai, tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp một cách hiệu quả đi vào bản chất và gắn liền giữa hoạt động giáo dục hướng nghiệp với sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước cũng như các khu vực Tác giả khẳng định: Để phát triển nhân lực, cần phải có những tác động tích cực vào quá trình giáo dục và đào tạo, tuyển chọn và sử dụng lao động Trong nhà trường phổ thông, giáo dục có tính chất tiền đề, có ảnh hưởng trực tiếp đến đầu vào của các hoạt động đào tạo nghề, nền tảng tạo để phát triển nhân lực cho xã hội Bên ngoài nhà trường, giáo dục được xem như là một hoạt động xuyên suốt từ trong suốt cả cuộc đời đi học và tham gia sản xuất của mỗi con người, giúp học củng cố kiến thức, kỹ năng và vì thế, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực [86, tr 56]

Tác giả đi sâu nghiên cứu hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho một đối tượng rất đặc thù là học sinh bổ túc trung học phổ thông Sau khi phân tích, tìm hiểu về nhận thức, năng lực đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng này, tác giả đã chỉ ra trách nhiệm của các trung tâm giáo dục thường xuyên trong công tác tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bổ túc trung học phổ thông: Trung tâm giáo dục thường xuyên có nhiều điều kiện để tổ chức giảng dạy kỹ thuật và tổ chức các hoạt động giáo dục hướng nghiệp gắn với đào tạo nghề, tạo điều kiện để các học sinh bổ túc trung học phổ thông đang học tại các trung tâm được tham gia các hình thức giáo dục hướng nghiệp phù hợp với những nội dung phong phú Bên cạnh việc tổ chức các lớp bổ túc văn hóa, các trung tâm giáo dục thường xuyên còn tổ chức các lớp dạy nghề ở các cấp

độ và liên kết đào tạo với các trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp và cơ

sở giáo dục khác Đây là điều kiện thuận lợi để kết hợp giữa hai hoạt động giáo dục này phục vụ mục đích giáo dục hướng nghiệp [86, tr 85]

Trang 24

25

Sau khi khảo sát, đánh giá kết quả thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bổ túc trung học phổ thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên, tác giả Huỳnh Thị Tam Thanh đã xác định những vấn đề cần quan tâm trong việc đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bổ túc trung học phổ thông, đó là: Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục và đào tạo, giáo dục hướng nghiệp và phát triển nhân lực; Chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục hướng nghiệp; Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo và phát triển nhân lực của địa phương; Xu hướng kết hợp nội dung giáo dục phổ thông với nội dung giáo dục

kĩ thuật nghề nghiệp; Chương trình giáo dục cho học sinh bổ túc trung học phổ thông; Xu hướng phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông,

Từ đó tác giả đề xuất bảy biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bổ túc trung học phổ thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên, bao gồm: 1) Xây dựng cơ cấu tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bổ túc trung học phổ thông; 2) Tuyên truyền nâng cao nhận thức về hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho các lực lượng giáo dục trong và ngoài trung tâm giáo dục thường xuyên; 3) Nâng cao hiệu quả thực hiện các chức năng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên; 4) Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, tư vấn viên giáo dục hướng nghiệp; 5) Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục phương pháp giáo dục hướng nghiệp phù hợp với đặc điểm của học sinh bổ túc trung học phổ thông và môi trường giáo dục thường xuyên; 6) Tăng cường nguồn tài chính, các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp; 7) Tăng cường xã hội hóa hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh bổ túc trung học phổ thông [86]

Trong luận án tiến sĩ Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hóa (2009), tác giả Bùi Việt Phú đem đến một góc nhìn khác về giáo dục hướng nghiệp và một cách làm mới cho giáo dục hướng nghiệp,

đó là tinh thần xã hội hóa Tác giả cho rằng: Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là một hoạt động mang tính xã hội cao, vì vậy cần phải xã hội hóa hoạt động này

Để thực hiện giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hóa, ngành Giáo dục và Đào tạo cần phải làm sao để tăng cường tính xã hội của giáo dục hướng nghiệp, nhằm huy động được cộng đồng cùng với trường phổ thông tham gia giáo dục hướng nghiệp cho

Trang 25

tr 63]; đồng thời, đã đề xuất 5 nhóm giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục hướng nghiệp: Nhóm giải pháp tổ chức nhận thức; nhóm giải pháp tổ chức nội dung; nhóm giải pháp về cung ứng nhân lực; nhóm giải pháp về cung ứng tài liệu, vật liệu; nhóm giải pháp về tổ chức cơ chế phối hợp [73] Đó là những nhóm giải pháp được tác giả đề xuất theo hướng tiếp cận xã hội hóa đối với hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông thể hiện được sự phối hợp và liên kết giữa các tổ chức, đơn

vị, lực lượng xã hội cùng tham gia vào hoạt động giáo dục hướng nghiệp và huy động được các nguồn lực cần thiết, quan trọng cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại các trường trung học phổ thông

Có thể nhận thấy: Cách tiếp cận về giáo dục hướng nghiệp của tác giả Bùi Việt Phú rất phù hợp với thực trạng hiện nay của công tác giáo dục hướng nghiệp; các kết quả nghiên cứu của tác giả là cơ sở để giải quyết các tồn tại và hạn chế của công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong bối cảnh hiện nay

Trong phạm vi Luận án Tiến sĩ Quản lý giáo dục hướng nghiệp trung học phổ thông theo định hướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long đến năm 2020 , (2015), tác giả Hồ Văn Thống [91] đã triển khai khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các nhóm giải pháp và tổ chức thực nghiệm một số giải pháp Kết quả khảo sát và thực nghiệm cho thấy: Các nhóm giải pháp rất cần thiết cho thực tiễn giáo dục hướng nghiệp ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long với tính khả thi rất cao và có hiệu quả bước đầu khi áp dụng vào thực tiễn

Các nhóm giải pháp nêu trên được tác giả Hồ Văn Thống trình bày và phân tích một cách thống nhất với các nội dung cơ bản: Mục đích, nội dung và cách thức thực hiện Trong số các nhóm giải pháp nêu trên, tác giả đặc biệt nhấn mạnh và đi sâu vào phân tích nhóm giải pháp thứ hai là quản lý tác nghiệp về giáo dục hướng nghiệp ở từng trường trung học phổ thông

Trang 26

27

Tác giả phân định các giải pháp cụ thể, đó là: 1) Tăng cường trách nhiệm quản

lý của Hiệu trưởng trong quản lý giáo dục hướng nghiệp; 2) Xây dựng đội ngũ giáo viên, những người làm công tác giáo dục hướng nghiệp; 3) Chỉ đạo đổi mới nội dung

và hình thức hướng nghiệp; 4) Tổ chức dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học phổ thông; 5) Phối hợp trong công tác phân luồng học sinh sau trung học phổ thông; 6) Xây dựng và vận hành mô hình tư vấn nghề nghiệp cho học sinh; 7) Xây dựng cơ chế phối hợp giữa trường trung học phổ thông với cơ sở dạy nghề, cha mẹ học sinh

và các lực lượng xã hội khác trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp; 8) Tăng cường

cơ sở vật chất, trang - thiết bị phục vụ công tác giáo dục hướng nghiệp [114]

Nghiên cứu về mô hình giáo dục hướng nghiệp tác giả Nguyễn Văn Quốc trong luận án tiến sĩ Xây dựng mô hình giáo dục nghề nghiệp cho học sinh sau trung học cơ sở vùng nông thôn các tỉnh đồng bằng Sông Hồng , (2012) đã xây dựng lý thuyết về mô hình giáo dục hướng nghiệp áp dụng cho trường phổ thông trung học cơ sở trong đó có luận giải về mô hình quản lý giáo dục đào tạo theo tiếp cận chức năng và hình thành lý luận về mô hình giáo dục hướng nghiệp, đề xuất mô hình liên kết đào tạo nghề cho học sinh trung học cơ sở đã tốt nghiêp cùng với tiếp tục cho học sinh học tiếp trung học phổ thông, bản chất là vấn đề liên thông trong đào tạo nghề sau trung học cơ sở Theo đó, luận án đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực dạy nghề cho các trung tâm giáo dục thường xuyên, nhóm giải pháp tăng cường quản lý nhà nước và chính sách địa phương đối với giáo dục nghề nghiệp trong địa bàn tỉnh Luận án đã đề cập đến vấn đề phân luồng cho học sinh trung học

cơ sở và có những phát kiến mới về phát huy vai trò của các cơ sở giáo dục hướng nghiệp trong hệ thống giáo dục, tuy nhiên luận án cjhưa đề cập đến mô hình quản lý giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường [78]

Trong công trình nghiên cứu về Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông ở một tỉnh Miền Nam Việt Nam, tác giả Hồ Văn Thông đã kế thừa lý luận về giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp, chỉ ra mối quan hệ giữa hướng nghiệp và phân luồng học sinh, hướng nghiệp từ việc tổ chức phân hóa phân ban, với cách tiếp cận chức năng và tiếp cận nội dung tác giả đã nêu ra một hệ thống lý luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp theo quan điểm của giáo dục phổ thông trong giai đoạn 2006 - 2015 về giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp Đây là một căn cứ quan trọng để kế thừa và phát triển hệ thống lý luận

Trang 27

28

về giáo dục hướng nghiệp ở trường chuyên biệt, bằng kết quả điều tra thực trạng giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp ở tỉnh Bình Dương tác giả đã đề xuất năm giải pháp: 1) Nâng cao nhận thức xã hội về ý nghĩa và tầm quan trọng của giáo dục hướng nghiệp; 2) Xây dựng đội ngũ cán bộ hướng nghiệp thực hiện nhiệm

vụ hướng nghiệp tại các trung tâm giáo dục thường xuyên - kỹ thuật hướng nghiệp và các trơ]ngf trung học phổ thông; 3) Xây dựng và triển khai các hình thức đổi mới về giáo dục hướng nghiệp các trường trung học phổ thông và các trung tâm giáo dục hướng nghiệp; 4) Xây dựng mô hình mới về các trung tâm giáo dục thường xuyên gắn kết chặt chẽ giữa trung tâm và các trường phổ thông; 5) Xây dựng các chính sách thu hút người học trong các trường trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương Qua các giải pháp này tác giả thể hiện sự tập trung phát huy vai trò của các cơ sở có chức năng giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề thuộc địa bàn tỉnh Bình Dương để liên kết giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các trường trung học phổ thông Các giải pháp đã nêu ra một hướng nghiên cứu mới có ý nghĩa giải quyết những vấn đề hạn chế của quản lý giáo dục hướng nghiệp trong địa bàn tỉnh Bình Dương Tuy nhiên những giải pháp này chưa thể giải quyết được những vấn đề của thực trạng giáo dục hướng nghiệp ở khu vực khác, với loại hình giáo dục chuyên biệt, với điều kiện kinh tế xã hội không tương đồng với tỉnh Bình Dương [89]

Bài viết "Phân luồng học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú" của tác giả Ngô Quang Sơn và Nguyễn Thị Kim Thành (2010) [83], đã nêu khái quát thực trạng phân luồng trong hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú có đánh giá ưu điểm và hạn chế Bài viết tập trung phân tích những điểm hạn chế và đề xuất một số giải pháp chung về nâng cao nhận thức, đổi mới giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường, đầu tư xây dựng đội ngũ giáo viên giáo dục hướng nghiệp, cơ sở vật chất cho trường nội trú Bài viết đề cập đến vấn đề phân luồng theo định hướng tạo nguồn cán bộ bám vào mục tiêu giáo dục của trường phổ thông dân tộc nội trú, các giải pháp đều đề cập ở mức độ khái quát chưa cụ thể vào đối tượng học sinh trường trung học cơ sở hay trung học phổ thông

Trong bài viết (2014) Biện pháp phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp , trên cơ sở phân tích các vấn đề liên quan đến công tác tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long đến năm 2020, tác giả Hồ Văn Thống đã đề xuất 3 nhóm giải pháp quản

Trang 28

29

lý công tác giáo dục hướng nghiệp như: Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về công tác giáo dục hướng nghiệp; Nhóm giải pháp quản lý tác nghiệp về giáo dục hướng nghiệp ở từng trường trung học phổ thông; Nhóm giải pháp tạo động lực thúc đẩy công tác giáo dục hướng nghiệp trung học phổ thông [92, tr 5-9]

Cùng với hướng nghiên cứu về mô hình tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường, tác giả Phạm Đăng Khoa trong bài viết trên Tạp chí Khoa học giáo dục

đã công bố nghiên cứu về mô hình giáo dục hướng nghiệp đang thực hiện ở trường trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai [57], nêu ra các bước thực hiện, phân tích điểm mạnh, điểm yếu và rút ra một số bài học kinh nghiệm trong thực hiện mô hình Tác giả đã nêu quan điểm trong nhà trường trung học phổ thông có thể thành lập ban giáo dục hướng nghiệp có vai trò tham mưu cho hiệu trưởng trong công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp Nghiên cứu này là một cơ sở quan trọng để Tác giả

kế thừa và phát triển trong lý luận xây dựng mô hình quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú

Như vậy, nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh trong các nhà trường phổ thông nói chung và trường phổ thông dân tộc nội trú nói riêng đã được quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục hướng nghiệp gắn với phân luồng học sinh và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý có thể kế thừa và phát triển đầy đủ khi tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu của đề tài này trong bối cảnh hiện nay

1.3 Khái quát kết quả của những công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết

1.3.1 Khái quát kết quả của những công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài

Qua nghiên cứu các đề tài, sách chuyên khảo và các bài báo khoa học về lĩnh vực nghề nghiệp, hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp của các tác giả trong và ngoài nước, có thể nhận thấy: 1) Nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp, quản lý giáo dục hướng nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam không phải là vấn đề mới mà đã được các nhà khoa học đề cập từ rất sớm; 2) Các kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy tư vấn nghề đã có một hệ thống lý luận làm cơ

sở cho việc phát triển lý luận về hoạt động này trong giáo dục hướng nghiệp; 3) Đã

có một số lượng khá lớn các công trình tập trung nghiên cứu về vấn đề quản lý giáo

Trang 29

30

dục hướng nghiệp trong các loại hình nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân nhất là ở Việt Nam, tạo ra một khối lượng thông tin, tri thức lớn về lĩnh vực này để các tác giả đi sau có thể kế thừa và chọn lọc; 4) So sánh với các nghiên cứu tại Việt Nam, các nghiên cứu quốc tế có nhiều điểm chung, thống nhất Tuy nhiên, cũng có một số vấn đề có sự khác biệt do điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, phong tục tập quán liên quan đến hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp đem lại

Phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn

đề giáo dục hướng nghiệp, quản lý giáo dục hướng nghiệp rút ra một số nhận định sau:

Một là, các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò quan trọng và đều

có một mục tiêu chung nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục hướng nghiệp cho học sinh; xác định những vấn đề lý luận về giáo dục hướng nghiệp, quản lý giáo dục hướng nghiệp; các hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường Bên cạnh đó bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, với phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian khác nhau, các tác giả cũng đã đánh giá được thực trạng giáo dục hướng nghiệp, quản lý giáo dục hướng nghiệp Đây chính là những thành tựu về cơ sở lý luận và thực tiễn giúp cho công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông được thực hiện một cách khoa học và hiệu quả và là

cơ sở lý luận để nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp

Các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông gồm ba bộ phận: Định hướng nghề, tư vấn nghề, tuyển chọn nghề và chỉ

ra các con đường giáo dục hướng nghiệp, một trong những con đường mà các tác giả nhấn mạnh đó là giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua các hoạt động lao động nghề nghiệp giúp các em làm quen với lao động, có hứng thú với nghề nghiệp Tuy nhiên các nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp mới chỉ dừng lại ở bước tuyển chọn nghề nghĩa là chưa đạt đến đích của việc chọn nghề mà mới chỉ chọn học nghề chứ chưa tới bước thích ứng nghề Hiện nay, do sự phát triển của xã hội và yêu cầu thực tiễn của thị trường lao động đòi hỏi phải có những biện pháp phù hợp trong giáo dục hướng nghiệp, quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Đây chính là vấn đề mới, cần được tiếp tục nghiên cứu

Hai là, các nhà khoa học đều coi tư vấn nghề là một hoạt động chuyên

nghiệp và thể hiện vai trò quan trọng nhằm giúp cho những người đang gặp khó

Trang 30

31

khăn trong công việc, những người đang thất nghiệp hoặc những sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa tìm được công việc phù hợp; giúp cho học sinh lựa chọn được nghề phù hợp Các tác giả đều thống nhất về nội dung tư vấn nghề bao gồm: 1) Tìm hiểu đặc điểm của người cần tư vấn đồng thời giúp cho họ tự nhận thức và đánh giá các đặc điểm của bản thân từ đó trợ giúp họ liên hệ đặc điểm của bản thân với những nghề tương ứng; 2) Cung cấp những thông tin về nghề, về thị trường lao động đồng thời hướng dẫn người cần tư vấn các cách để tìm kiếm thông tin, phân tích và lựa chọn thông tin; 3) Trợ giúp họ ra quyết định chọn nghề và lập kế hoạch nghề nghiệp cho tương lai Song tư vấn để đạt mục đích phân luồng học sinh hướng học, hướng nghề đáp ứng thị trường lao động giải tỏa tâm lý chỉ học làm thầy thì chưa có công trình nào nghiên cứu

Ba là, các công trình nghiên cứu tuy tiếp cận theo các hướng khác nhau

nhưng ít nhiều đều đã chỉ ra được những vấn đề lý luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp dưới góc độ khoa học quản lý giáo dục, tạo thành cơ sở nền tảng lý luận cho các nghiên cứu về sau Tuy nhiên khoa học quản lý giáo dục luôn luôn vận động và chuyển dịch theo sự thay đổi về hình thái kinh tế - xã hội, về chế độ, chính sách, về cách làm giáo dục của mỗi thời kỳ lịch sử, vì vậy vẫn có những khoảng trống về lý luận quản lý giáo dục hướng nghiệp mà các nghiên cứu đi trước chưa đề cập tới Đặt trong bối cảnh hiện nay việc xác định mục tiêu giáo dục hướng nghiệp đã thay đổi thì đương nhiên quản lý giáo dục hướng nghiệp cũng phải điều chỉnh theo

Bốn là, cho đến thời điểm này, tác giả chưa phát hiện, thống kê, tổng hợp được

công trình khoa học nào đề cập tới vấn đề giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng núi

có nhiều dân tộc, chưa có nghiên cứu nào xây dựng một mô hình quản lý giáo dục hướng nghiệp phù hợp với tính chuyên biệt , đặc thù của trường trung học phổ thông dân tộc nội trú Đây là một vấn đề còn chưa được đề cập tới một cách đầy đủ và toàn diện trong lĩnh vực nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp Do đó, tác giả xác định việc bổ sung và giải quyết vấn đề này chính là nhiệm vụ của đề tài luận án

1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, có thể kế thừa có chọn lọc một số vấn đề sau đây: 1) Giáo dục hướng nghiệp phải là quá trình diễn ra suốt cuộc đời con người chứ không phải chỉ ở một thời điểm lựa chọn nghề nghiệp với mục tiêu

Trang 31

Trên cơ sở tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan và tìm hiểu những kinh nghiệm ở một số quốc gia trên thế giới, tác giả xác định luận án cần giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận về giáo dục hướng nghiệp, quản lý

giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường phổ thông nói chung và các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú nói riêng: 1) Làm rõ các khái niệm:

"Giáo dục hướng nghiệp", "Quản lý Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú"; 2) Xác định mối liên hệ giữa bối cảnh hiện nay với quản lý giáo dục hướng nghiệp; 3) Chỉ rõ những đặc điểm đặc thù của trường phổ thông dân tộc nội trú và học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú; đồng thời làm rõ những nội dung quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú; 4) Luận giải những yếu tố tác động đến quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay

Thứ hai, đánh giá đúng thực trạng, làm rõ những ưu điểm, hạn chế trong giáo

dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc; đồng thời chỉ rõ những nguyên nhân ưu điểm, hạn chế và dự báo được những những vấn đề cấp thiết đặt ra trong quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay

Thứ ba, xây dựng các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở

các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay

Trang 32

33

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH

Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ

TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 2.1 Trường trung học phổ thông dân tộc nội trú và giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú

2.1.1 Trường trung học phổ thông dân tộc nội trú, học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục hướng nghiệp

* Đặc trưng kinh tế, xã hội và ngành nghề địa phương vùng núi có nhiều dân tộc thiểu số

Hiện nay, trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia thành bốn vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đó là miền núi Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam

bộ và Tây duyên hải miền Trung; xem xét về đặc trưng kinh tế, xã hội dân số và lao động thấy rằng có những điểm tương đồng: 1) Luôn có sự biến động về dân số, vì liên tục có sự di cư của một bộ phận người dân ở khu vực đồng bằng vùng thấp có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, dịch vụ, thương mại Đây chính là nguồn lực trí tuệ, nhân văn thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng 2) Các vùng núi là cái nôi cư trú của nhiều dân tộc thiểu số với nền văn hoá, phong tục tập quán đa dạng giàu bản sắc… Đó là tài nguyên nhân văn và rất có giá trị với phát triển du lịch văn hoá cộng đồng 3) Vùng núi có nhiều dân tộc vẫn là vùng thiếu sức lao động, đặc biệt là các vùng cao biên giới rất thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao Các dân tộc ít người thường cư trú ở những vùng hẻo lánh, vùng sâu, vùng

xa gần biên giới nên rất dễ bị ảnh hướng bởi yếu tố chính trị, an ninh vùng biên giới Sự phân bố dân cư, lao động của vùng cơ bản chưa hợp lý, thưa dân và rất thiếu nhân lực 4) Về Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật: là vùng được nhà nước quan tâm đầu tư khai thác phát triển có nhiều chính sách dân tộc được thực thi trong nhiều năm, vì vậy hệ thống giao thông liên tỉnh của các vùng phần lớn được xây dựng tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, hiện nay mạng lưới cơ sở hạ tầng đường giao thông liên xã, liên huyện, mạng lưới điện, nước sạch trong vùng nhìn chung còn nghèo nàn và lạc hậu về công nghệ, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa 5) Nhà nước

Trang 33

34

luôn có chủ trương và đầu tư xây dựng đô thị, thành phố, trung tâm công nghiệp ở trung tâm các tỉnh vùng núi với mục tiêu phát triển cơ cấu ngành công nghiệp đa dạng phát huy tiềm năng tài nguyên thiên nhiên của vùng núi kéo gần khoảng cách phát triển kinh tế giữa vùng đòng bằng và vùng núi nhiều dân tộc thiểu số 6) Trong nông nghiệp đã hình thành nhiều vùng chuyên canh cây công nghiệp quy mô lớn, năng suất cao theo hướng sản xuất hàng hoá, những vùng chuyên canh này là cơ sở sản xuất ra nhiều nguyên liệu nông sản thúc đẩy công nghiệp chế biến phát triển 7)

Ở một số nơi vùng sâu, vùng xa các chính sách của Đảng và Nhà nước còn chậm được triển khai và chưa thực hiện triệt để

* Đặc điểm trường trung học phổ thông dân tộc nội trú trong hệ thống giáo dục quốc dân

Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của trường phổ thông dân tộc nội trú

Điều 61, Luật Giáo dục 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2014 xác đinh: Trong hệ thống giáo dục quốc dân, trường chuyên biệt là loại hình trường dành cho các đối tượng học sinh được hưởng chính sách giáo dục của nhà nước, bao gồm: Hệ thống trường chuyên, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học, trường năng khiếu, trường giáo dưỡng [81]

Cụ thể hóa Luật Giáo dục, ngày 15/01/2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 01/2016/TT-BGDĐT, về Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú [20] Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, là căn

cứ pháp lý để tổ chức, triển khai các hoạt động của Trường phổ thông dân tộc nội trú, trong đó có hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Hệ thống Trường phổ thông dân tộc nội trú trong phạm vi cả nước bao gồm 2 cấp, đó là: Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện và Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh Trong phạm vi

đề tài này, chỉ đề cập đến Trường trung học phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh

Trường phổ thông dân tộc nội trú được Nhà nước thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh

tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng này, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu

số Trường trung học phổ thông dân tộc nội trú có các nhiệm vụ cụ thể như: 1)

Trang 34

35

Tuyển sinh đúng đối tượng và chỉ tiêu được giao hàng năm; 2) Giáo dục học sinh về chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam; ý thức tham gia phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở vùng khó khăn sau khi tốt nghiệp; 3) Giáo dục kỹ năng sống và kỹ năng hoạt động xã hội phù hợp với học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú; 4) Giáo dục lao động, hướng nghiệp và dạy nghề truyền thống phù hợp với năng lực của học sinh

và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; 5) Tổ chức công tác nội trú cho học sinh, bảo đảm 100% học sinh của Nhà trường được ăn, ở nội trú; 6) Theo dõi, thống kê số lượng học sinh đã tốt nghiệp hằng năm của Nhà trường tiếp tục học ở cấp học, trình độ cao hơn hoặc trở về địa phương tham gia công tác, lao động sản xuất nhằm đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục,

Những đặc điểm khác biệt so với trường trung học phổ thông đại trà

Về mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục: Ngoài mục tiêu giáo dục của nhà trường trung học phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú còn có nhiệm vụ chính trị đặc biệt, giáo dục đào tạo rèn luyện học sinh để góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số cho các địa phương vùng dân tộc miền núi Việc giáo dục định hướng cho học sinh ý thức lựa chọn nghề nghiệp để đóng góp sức lực, trí tuệ phục vụ địa phương

là một nhiệm vụ đặc thù của trường phổ thông dân tộc nội trú Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh như các trường trung học phổ thông khác, trường phổ thông dân tộc nội trú là cơ sở giáo dục thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, học sinh là đối tượng được thụ hưởng chính sách giáo dục dân tộc, được đài thọ 100% cơ sở vật chất, học phí, trợ cấp đồ dùng tư trang cá nhân, được nuôi ăn ở tại trường trong suốt ba năm học, do vậy giáo dục hướng nghiệp cho học sinh có nhiệm vụ đặc thù và càng rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay

Về bộ máy tổ chức nhà trường: Trường trung học phổ thông dân tộc nội trú có

tổ chức bộ máy tương tự như các trường trung học phổ thông khác Tuy nhiên, để thực hiện các lĩnh vực công tác đặc thù (quản lý học sinh nội trú; chăm sóc và nuôi dưỡng học sinh nội trú; tư vấn tâm lý; giáo dục kỹ năng sống cho học sinh nội trú), Trường trung học phổ thông dân tộc nội trú được quyền thành lập thêm không quá

03 tổ chuyên môn Việc thành lập các tổ của trường được giao cho Hiệu trưởng Nhà trường quyết định

Trang 35

36

Về vị trí của nhà trường ở địa phương: Ở các địa phương vùng núi có nhiều dân tộc, trường trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh được coi như là một trong những địa chỉ văn hóa dân tộc, là nơi giới thiệu bản sắc văn hóa đa dân tộc thiểu số, thường là nơi được đăng cai tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa dân tộc trong khối các trường có học sinh, sinh viên ở nội trú thuộc tỉnh quản lý Trường trung học phổ thông dân tộc nội trú là một trong những thành viên đắc lực được chính quyền địa phương giao nhiệm vụ tham gia các hoạt động xã hội, tuyên truyền chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước

Về điều kiện cơ sở vật chất: Trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh ở các địa phương vùng núi có nhiều dân tộc đều được nhà nước, chính quyền địa phương quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất theo tiêu chuẩn trường chuẩn quốc gia Trường được coi như trung tâm giáo dục văn hóa dân tộc thiểu số trong hệ thống giáo dục của địa phương Về hoạt động chuyên môn theo điều lệ trường phổ thông nhưng về điều kiện quản lý các hoạt động giáo dục nuôi dưỡng học sinh thì được đầu tư như một trường chuyên nghiệp 100% từ nguồn ngân sách nhà nước Đó là những đặc điểm đặc thù khác với trường trung học phổ thông đại trà

* Đặc điểm học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú

Một là, học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú là người dân tộc thiểu số và được hưởng chính sách dân tộc của Nhà nước, được đảm bảo toàn bộ chi phí học tập, sinh hoạt nội trú, học tập, rèn luyện tập trung toàn thời gian tại nhà trường

Theo Thông tư số 01/2016/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo [20], học sinh được tuyển vào trường trung học phổ thông dân tộc nội trú phải là người dân tộc thiểu số, có hộ khẩu thường trú và định cư từ 03 năm trở lên (tính đến ngày tuyển sinh) ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định hiện hành Bên cạnh đó, nếu học sinh là người dân tộc thiểu số nhưng không có hộ khẩu thường trú và định cư từ 03 năm trở lên, nhưng nếu được ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định là vùng tạo nguồn cán bộ cho các dân tộc thì cũng thuộc diện tuyển sinh vào trường trung học phổ thông dân tộc nội trú Học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú có những quyền hạn và trách nhiệm: Giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình, tôn trọng văn hóa của các dân tộc khác; Chấp hành nghiêm túc sự

Trang 36

37

phân công đi học ngành, nghề và sự phân công công tác theo yêu cầu của địa phương; Được ăn, ở, sinh hoạt trong khu nội trú và được hưởng các chế độ ưu tiên,

ưu đãi theo quy định của Nhà nước [18]

Hai là, học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú trong độ tuổi 15 đến trên 18, mang đầy đủ đặc điểm tâm lý, nhân cách đặc trưng của lứa tuổi thanh niên

Các em có những đặc điểm tâm lý và nhân cách chung của lứa tuổi đang phát triển và hình thành hoàn thiện về thể lực, năng lực, nhân cách, thiên hướng, lý tưởng sống, lý tưởng nghề nghiệp Ý thức về bản thân của các em phát triển mạnh, xuất hiện sắc thái về giới tính, hình thành ý thức xã hội, cộng đồng và chủ thể của cộng đồng Từ kiến thức, hiểu biết có được trong quá trình học tập trong nhà trường

và tự nhận thức từ các thông tin của xã hội, các em bắt đầu hình thành lý tưởng, chọn hình mẫu nhân cách, có dự định chọn nghề liên quan đến hình ảnh nhân cách

đã lực chọn và bộ môn học mà mình yêu thích Đây cũng là thời kỳ để các em thu nhận kiến thức cơ bản của các bộ môn khoa học tạo nền tảng kiến thức cho quá trình đào tạo nghề nghiệp sau này Đặc biệt là giai đoạn các em phải tự quyết định lựa chọn hướng học tiếp theo, hoặc hướng học nghề, lao động sản xuất theo mơ ước

lý tưởng đã hình thành trong thời gian học trung học phổ thông

Ba là, học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú đa số xuất thân từ khu vực miền núi, vùng sâu còn chậm phát triển, kinh tế khó khăn không có điều kiện học tập và rèn luyện trong môi trường giáo dục tiên tiến nên kỹ năng sống, kỹ năng hòa nhập còn nhiều hạn chế, thiếu tự tin, e dè trong giao tiếp, thiếu linh hoạt trong ứng xử hoặc trong giải quyết tình huống

Học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú rất tin tưởng vào Nhà trường, vào thầy, cô giáo; có tình cảm trong sáng, lành mạnh; luôn kính trọng

và lễ phép với thầy, cô giáo và người lớn tuổi; biết nhường nhịn và ứng xử hòa nhã với bạn bè Đa số các em là những thanh niên có lối sống trung thực, thật thà, trong học tập và sinh hoạt; luôn có ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát triển văn hóa, phong tục tập quán và ngôn ngữ của dân tộc mình, có ý thức tự tôn dân tộc về những nét đẹp về văn hóa, phong tục của dân tộc Đồng thời, cũng chịu ảnh hưởng về những tập quán sinh hoạt lạc hậu chậm phát triển của một số dân tộc rất ít người; còn mang

Trang 37

38

đặc điểm lười tư duy vận động, ỷ lại của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng còn nhiều khó khăn, thiếu thông tin, giáo dục chưa phát triển kịp so với vùng thuận lợi, do vậy, kỹ năng hòa nhập với cuộc sống tập thể, môi trường công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế

Bốn là, khả năng học tập các môn về khoa học tự nhiên của học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú yếu hơn so với khả năng học tập các môn khoa học xã hội; có thiên hướng hoạt động văn hóa xã hội nhiều hơn lĩnh vực khoa học tự nhiên

Một phần do quá trình học tiểu học và trung học cơ sở ở những trường vùng sâu chưa được đầu tư thích đáng, học sinh bị hổng nhiều kiến thức tự nhiên, bên cạnh đó với đức tính cần cù chăm chỉ của đồng bào dân tộc mà đối với các môn khoa học xã hội cần học thuộc nhiều hơn nên học sinh thấy tự tin và ham thích học hơn các môn khoa học tự nhiên Các em cho rằng: Học các môn khoa học tự nhiên rất khó, phức tạp trong khi đó các môn khoa học xã hội chỉ cần học thuộc lòng Chính vì vậy, kết quả học môn xã hội của học sinh dân tộc nội trú thường cao hơn, nhiều thành tích hơn Với đa số học sinh người dân tộc nội trú khả năng học tập ngoại ngữ còn hạn chế Lý do chính là các em không được đầu tư học tập

từ khi còn ở cấp tiểu học, phần lớn các em không có nhiều điều kiện thuận lợi để học tập ngoại ngữ (môi trường, phương tiện, sách vở, cơ hội giao tiếp, tài chính)

Năm là, học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú ít chịu ảnh hưởng, tác động của gia đình, cha mẹ về định hướng nghề nghiệp và chịu ảnh hưởng nặng nề của tập quán sinh hoạt, lao động sản xuất lạc hậu của đồng bào dân tộc thiểu số

Nhu cầu, nguyện vọng và động cơ học tập, lý tưởng về cuộc sống, nghề nghiệp của các em học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú còn giản đơn Nhiều em mong muốn được trở thành người cán bộ cơ sở, để được hưởng lương từ Chính phủ , để cuộc sống đỡ vất vả Một bộ phận học sinh bị ảnh hưởng bởi hủ tục lạc hậu của một số dân tộc, kết hôn và có con sớm trong độ tuổi

vị thành niên không có ý chí phấn đấu lập nghiệp có ích cho xã hội

Việc tìm hiểu, nghiên cứu những đặc điểm cơ bản về tâm lý, sinh lý, nhận thức, tình cảm và kiến thức xã hội khác của học sinh trung học phổ thông dân tộc

Trang 38

39

nội trú có ý nghĩa hết sức quan trọng; giúp Nhà trường, đội ngũ giáo viên có thể tổ chức hiệu quả các hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho các em; phòng tránh những tác động tiêu cực ảnh hưởng không tốt đến chất lượng và hiệu quả quản lý giáo dục

hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú

* Các vấn đề đặt ra cho giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú

Phân tích những nội dung nêu trên về đặc điểm kinh tế xã hội vùng núi

có nhiều dân tộc, đặc điểm khác biệt giữa trường trung học phổ thông dân tộc nội trú ở những địa phương này, đặc điểm học sinh dân tộc thiểu số rút ra một

số vấn để sau đây:

Thứ nhất, địa phương vùng núi có nhiều dân tộc thiểu số hiện nay đã và đang

được nhà nước đầu tư phát triển kinh tế, xã hội cơ cấu ngành nghề đã có bước dịch chuyển đáng kể sang hướng kinh tế công, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch đặt ra cơ hội về phát triển những ngành nghề mới mà trước đây chưa có ở địa phương

Thứ hai, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặt ra cho các địa phương vùng núi

thách thức không nhỏ về đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực tại chỗ, trong khi chất lượng nguồn nhân lực còn thiếu, yếu

Thứ ba, trường trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh ở các địa phương

vùng núi là một cơ sở giáo dục có vị trí quan trọng không những góp phần tạo nguồn đào tạo nhân lực cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ cho địa phương mà còn là một địa chỉ đỏ, trung tâm giáo dục văn hóa dân tộc thiểu số của địa phương Trường có nhiệm vụ đặc thù là giáo dục, đào tạo theo địa chỉ

Thứ tư, học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú có những hạn chế nhất

định trong tiếp cận với thông tin nghề nghiệp, tri thức khoa học tiên tiến, phụ thuộc

cơ bản vào giáo dục của nhà trường, ảnh hưởng của gia đình trong giáo dục đối với học sinh không lớn Học sinh ở trường trung học phổ thông dân tộc nội trú là đối tượng được hưởng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước nên có trách nhiệm nghĩa vụ học tập rèn luyện định hướng nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số của địa phương

Như vậy, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết Chủ thể giáo dục

Trang 39

40

phải bám sát mục tiêu nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp đặc thù của Nhà trường, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh để góp phần bổ sung nguồn nhân lực phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội an ninh trật tự, duy trì bản sắc văn hóa đa dân tộc ở địa phương, điều chỉnh định hướng xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh để làm tốt công tác phân luồng, phục vụ đào tạo theo địa chỉ đối với học sinh phổ thông dân tộc nội trú góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta

Những điểm khác biệt giữa trường trung học phổ thông đại trà và trường trung học phổ thông dân tộc nội trú nêu trên cho thấy, dù bối cảnh hiện nay đã có rất nhiều thông tin cho học sinh tự tìm hiểu về nghề nghiệp và định hướng chọn nghề, nhưng đối với học sinh trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vẫn rất cần thiết phải giáo dục hướng nghiệp mới hoàn thành nhiệm vụ chính trị của nhà trường Điều kiện về đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, vị trí vai trò của trường nội trú đối với địa phương, điều kiện về cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường là những tác nhân rất thuận lợi để hoạt động giáo dục hướng nghiệp trở thành tất yếu trong các hoạt động giáo dục của nhà trường

2.1.2 Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú

* Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông

Hướng nghiệp

Hướng nghiệp là khái niệm được xem xét, nghiên cứu dưới nhiều góc độ và phương diện khác nhau Theo Từ điển tiếng Việt: Hướng nghiệp là thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu theo ngành và loại lao động [106]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm chuẩn bị cho học sinh sớm có ý thức chọn ngành nghề vừa phù hợp với sự phân công lao động xã hội ngay từ khi còn học ở trường phổ thông [77, tr 29]

Tác giả Platonov K.K định nghĩa: Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp… để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả lực lượng lao động dự trữ

có sẵn của đất nước [76]

Trang 40

41

Tác giả Hồ Văn Thống định nghĩa: Hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về nhân lực, hứng thú của bản thân

và nhu cầu nhân lực của ngành sản xuất trong xã hội [91, tr 35]

Nhóm tác giả Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Thanh Huyền xác định: Hướng nghiệp là sự tác động của một tổ hợp các lực lượng xã hội lấy sự chỉ đạo của một hệ thống sư phạm là trung tâm tác động vào thế hệ trẻ, giúp các em quen biết với một số ngành nghề phổ biến để khi tốt nghiệp ra trường các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức về nghề nghiệp tương lai [45]

Từ những cách định nghĩa trên, có thể nhận thấy một số điểm chung: 1) Hướng nghiệp được xem là một hoạt động diễn ra trong phạm vi Nhà trường; 2) Đối tượng của hướng nghiệp chính là học sinh; 3) Mục tiêu của hướng nghiệp là giúp học sinh xác định được nghề nghiệp tương lai; 4) Chủ thể của hướng nghiệp là các lực lượng giáo dục trong và ngoài Nhà trường; 5) Nguyên tắc của hướng nghiệp

là đáp ứng 2 yêu cầu: Vừa phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của cá nhân, vừa đáp ứng được sự phân công của lao động xã hội

Giáo dục hướng nghiệp là khái niệm được nghiên cứu, phân tích dưới nhiều góc

về một nghề lao động mà sau này họ sẽ chọn [91, tr 36]

Tác giả Bùi Việt Phú cho rằng: Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là hệ thống các giải pháp, phương pháp thực hiện trong quá trình quản lý, phân công trách nhiệm, sắp xếp, bố trí người thực hiện, phối hợp các hoạt động trong

và ngoài Nhà trường nhằm đưa hệ thống hoạt động đồng bộ, có hiệu quả [73, tr 42]

Ngày đăng: 22/03/2018, 13:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w