Phân tích một số bất cập trong danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An năm 2016 Trên cơ sở đó đánh giá khái quát tính phù hợp của DMT đã sử dụng năm 2016 và đề xuấ
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LƯƠNG QUỐC TUẤN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ
ĐA KHOA NGHỆ AN NĂM 2016
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Trang 2
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LƯƠNG QUỐC TUẤN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ
ĐA KHOA NGHỆ AN NĂM 2016
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác
TP.Vinh, ngày 27 tháng 1 năm 2018
Lương Quốc Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, của các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè Trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn TS Đỗ Xuân Thắng người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài tốt nghiệp này Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo Bộ môn Quản lý kinh tế Dược trường Đại học Dược Hà Nội đã truyền đạt cho tôi phương pháp nghiên cứu khoa học và nhiều kiến thức chuyên ngành quí báu Tôi xin bày tỏ biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Phòng đào tạo sau đại học và toàn thể các thầy cô giáo, các phòng ban Trường đại học Dược Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám đốc, phòng KHTH, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng, khoa Dược bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn này
TP.Vinh, Ngày 27 tháng 1 năm 2018
Lương Quốc Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN 3
1.1.1 Danh mục thuốc bệnh viện: 3
1.1.2 Các phương pháp phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện 12
1.1.2.1 Phân tích nhóm điều trị 13
1.1.2.2 Phân tích ABC 13
1.1.2.3 Phân tích VEN 14
1.1.2.4 Phân tích theo liều xác định hằng ngày (DDD) 16
1.1.3 Một số văn bản pháp quy liên quan đến DMT sử dụng tại bệnh viện 16
1.1.3 1 Một số văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của các tổ chức có trách nhiệm quản lý sử dụng thuốc 16
1.1.3.2 Một số văn bản hướng dẫn thực hiện các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc 17
1.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC 19
1.2.1 Trên thế giới 19
1.2.2 Tại Việt Nam 20
1.3 MỘT SỐ NÉT VỀ BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN 27
1.4 T NH C P THIẾT CỦA ĐỀ T I 30
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 ĐỐI TƯỢNG THỜI GIAN V ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 32
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.2.1 Các biến số nghiên cứu 32
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu 32
2.3 Phương pháp thu nhập, xử lý và phân tích số liệu 38
Trang 62.3.2 Xử lý và phân tích số liệu 38
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1 PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN 45
3.1.1 Phân tích cơ cấu theo nhóm tác dụng dược lý 45
3.1.2 Phân tích cơ cấu theo nguồn gốc xuất xứ 47
3.1.3 Phân tích cơ cấu thuốc theo các gói thuốc trong TT 01 47
3.1.4 Phân tích cơ cấu thuốc generic và thuốc biệt dược gốc 48
3.1.5 Phân tích cơ cấu thuốc đơn thành phần và phối hợp nhiều thành phần 49
3.1.6 Phân tích cơ cấu DMT theo đường dùng 50
3.1.7 Phân tích cơ cấu thuốc Gây nghiện- Hướng thần -Tiền chất 52
3.1.8 Phân tích cơ cấu thuốc trong/ ngoài DMT bệnh viện 52
3.1.9 Phân tích thuốc theo ABC/VEN 54
3.2 PHÂN TÍCH MỘT SỐ B T CẬP TRONG DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN 58
3.2.1 Bất cập trong DMT sử dụng so với DMT trúng thầu 58
3.2.2 Bất cập trong sử dụng DMT theo TT 10 63
3.2.3 Bất cập trong sử dụng thuốc phối hợp nhiều thành phần 67
3.2.4 Bất cập trong sử dụng nhóm thuốc AN 71
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 73
4.1 Mô tả DMT sử dụng tại bệnh viện 73
4.2 Phân tích một số bất cập trong DMT sử dụng tại bệnh viện 83
KẾT LUẬN 94
1 Mô tả cơ cấu DMT sử dụng tại bệnh viện 94
2 Một số bất cập trong DMT sử dụng tại bệnh viện 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ICD International Classification
Trang 8Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
TT01
Thông tƣ BTC ngày 19/01/2012 của Bộ Y
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các bước xây dựng và thực hiện DMT bệnh viện 9
Bảng 1.2: Tiêu chuẩn để phân tích VEN theo WHO 15
Bảng 1.3 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện HNĐK Nghệ An năm 2016 29
Bảng 2.4 Ma trận ABC/VEN 41
Bảng 3.5 Cơ cấu DMT tại bệnh viện theo nhóm tác dụng dược lý 45
Bảng 3.6 Cơ cấu DMT tại bệnh viện theo nguồn gốc, xuất xứ 47
Bảng 3.7 Cơ cấu DMT theo TT01 47
Bảng 3.8 Cơ cấu thuốc generic và thuốc biệt dược gốc 48
Bảng 3.9 Thuốc biệt dược gốc thuộc dự thảo Thông tư 11 49
Bảng 3.10 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và phối hợp nhiều thành phần 49
Bảng 3.11 Cơ cấu DMT theo đường dùng 50
Bảng 3.12 Cơ cấu thuốc tiêm truyền theo nhóm tác dụng dược lý 51
Bảng 3.13 Cơ cấu theo nhóm thuốc gây nghiện - hướng tâm thần và tiền chất 52
Bảng 3.14 Cơ cấu DMT theo trong/ ngoài DMT thuốc bệnh viện 52
Bảng 3.15 Cơ cấu theo nhóm thuốc ngoài DMT bệnh viện 53
Bảng 3.16 Cơ cấu theo nhóm thuốc A, B, C 54
Bảng 3.17 Cơ cấu theo nhóm tác dụng dược lý các thuốc nhóm A 55
Bảng 3.18 Phân tích cơ cấu DMT theo VEN 56
Bảng 3.19 Phân tích ma trận ABC/ VEN 56
Bảng 3.20 ỷ lệ KM SD so với KM trúng thầu theo nhóm tác dụng dược lý 59
Bảng 3.21 Tỷ lệ số lượng sử dụng so với số lượng trúng thầu theo nhóm tác dụng dược lý 60
Bảng 3.22 Phân tích bất cập về số lượng sử dụng so với trúng thầu tại từng khoản mục ở nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 62
Bảng 3.23 Các thuốc thuộc TT10 và không thuộc TT10 63
Bảng 3.24 Phân loại theo nguồn gốc xuất xứ các thuốc thuộc TT10 63
Trang 10Bảng 3.25 Phân loại các thuốc nhập khẩu thuộc TT10 theo gói thầu 64
Bảng 3.26 Danh mục các thuốc nhập khẩu có thể thay thế bằng hàng sản xuất trong nước 65
Bảng 3.27 Giá trị sử dụng của hàng nhập khẩu có thể thay thế và hàng sản xuất trong nước thay thế 66
Bảng 3.28 Chênh lệch chi phí khi thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng sản xuất trong nước 67
Bảng 3.29 Nhóm thuốc phối hợp nhiều thành phần 68
Bảng 3.30 Thuốc phối hợp nhiều thành phần nhóm kháng sinh, tim mạch 69
Bảng 3.31 Các thuốc nhóm AN 71
Bảng 3.32 Phân tích 15 thuốc có chi phí cao nhất trong nhóm AN 72
Trang 11DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ
Hình 1.1 Các yếu tố để xây dựng DMT bệnh viện 4Hình 1.2 Nội dung nghiên cứu 37
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng thuốc kém hiệu quả và bất hợp lý đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia Đây cũng là một trong các nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí điều trị, tăng tính kháng thuốc và giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ Theo tổ chức Y tế thế giới, kinh phí mua thuốc chiếm khoảng 30% - 40% ngân sách ngành Y tế của nhiều nước, phần lớn số tiền đó bị lãng phí do lựa chọn, sử dụng thuốc không hợp lý [52]
Tại Việt Nam, với những chính sách mở cửa theo cơ chế đa dạng hoá các loại hình cung ứng, thị trường thuốc ngày càng phong phú cả về số lượng và chủng loại Theo số liệu của Cục Quản lý dược, tính đến tháng 7/2014 có đến 28.659 số đăng ký thuốc còn hiệu lực, trong đó có 17.799 số đăng ký thuốc sản xuất trong nước và 12.860 số đăng ký thuốc nước ngoài với khoảng 1.500 hoạt chất Cùng 1 hoạt chất, hiện nay bác sỹ có rất nhiều biệt dược để lựa chọn với các mức giá khác nhau, điều này giúp dễ dàng và thuận tiện trong lựa chọn thuốc tuy nhiên cũng gây khó khăn nhất định Lúc này khi quyết định kê đơn bác sỹ phải cân nhắc để lựa chọn được thuốc có lợi ích kinh tế tốt nhất nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả điều trị Vì vậy, Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo mỗi một bệnh viện cần xây dựng danh mục thuốc phù hợp nhằm nâng cao chất lượng
sử dụng thuốc tại bệnh viện
Danh mục thuốc bệnh viện (DMT) là danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện Một danh mục thuốc hiệu quả sẽ mang lại lợi ích rất lớn Trong lĩnh vực cung ứng, nó giúp cho việc mua sắm dễ dàng hơn, đảm bảo thuốc có chất lượng, giá cả phù hợp Trong lĩnh vực kê đơn, thầy thuốc có thể lựa chọn sử dụng và thay thế thuốc hợp lý hơn Để phản ánh hiệu quả của việc xây dựng danh mục thuốc và hoạt động mua sắm cũng như có
Trang 13cái nhìn tổng thể về việc sử dụng thuốc tại Bệnh viện, cần tiến hành phân tích cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định
Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An là bệnh viện hạng I với quy mô
1000 giường bệnh, thực kê 1.500 giường Hàng năm bệnh viện sử dụng một số lượng lớn thuốc để phục vụ công tác khám chữa bệnh Hoạt động lựa chọn thuốc tại bệnh viện đã đạt được nhiều kết quả song cũng không tránh khỏi những mặt hạn chế Vì vậy để có cái nhìn khái quát góp phần nâng cao công tác quản lý sử
dụng thuốc tại bệnh viện chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích danh mục thuốc
sử dụng tại bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An năm 2016” với các mục tiêu:
1 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An năm 2016
2 Phân tích một số bất cập trong danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An năm 2016
Trên cơ sở đó đánh giá khái quát tính phù hợp của DMT đã sử dụng năm
2016 và đề xuất một số khuyến nghị giúp cho hoạt động xây dựng DMT tại bệnh viện cho năm tới ngày càng hiệu quả hơn
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN VỀ DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN 1.1.1 D nh mụ thuố bệnh viện:
1.1.1.1 Danh mục thuốc bệnh viện và các yếu tố ảnh hưởng:
DMT bệnh viện có nhiều định nghĩa khác nhau Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “DMT bệnh viện là danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện”
Hiệp hội Dược sỹ bệnh viện Mỹ định nghĩa DMT bệnh viện rộng hơn:
“DMT bệnh viện là danh mục các thuốc và thông tin liên quan được cập nhật liên tục, đảm bảo nhu cầu lâm sàng cho bác sỹ, dược sỹ và các chuyên gia y tế khác trong việc chẩn đoán, phòng bệnh, chữa bệnh hoặc để cải thiện sức khỏe DMT bệnh viện ngoài thuốc còn bao gồm các sản phẩm tương tự thuốc, vật tư y
tế, chính sách sử dụng thuốc, thông tin thuốc, công cụ hỗ trợ việc ra quyết định
và hướng dẫn điều trị của cơ sở y tế” [51]
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa DMT của WHO Một DMT bệnh viện được xây dựng tốt thì mang lại lợi ích sau [52]:
- Loại bỏ các thuốc không an toàn và không hiệu quả
- Lựa chọn các thuốc có chất lượng, giá cả hợp lý
- Giảm chi phí do giảm số lượng thuốc mua sắm
- Cung cấp thông tin thuốc tập trung và có trọng tâm trên cơ sở DMT
bệnh viện
Chính vì vậy, lựa chọn xây dựng DMT là bước then chốt và có vai trò quan trọng tiên quyết, ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động cung ứng và tính hợp lý, an toàn, kinh tế trong sử dụng thuốc
Xây dựng DMT phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mô hình bệnh tật, kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ cán bộ, các nguồn lực tài chính, hướng dẫn điều
Trang 15trị chuẩn, Khái quát các yếu tố liên quan đến hoạt động xây dựng DMT như hình 1.1 [19]:
Hình 1 1 Các yếu tố để xây dựng DMT bệnh viện
Mô hình bệnh tật
Mô hình bệnh tật bệnh viện là số liệu thống kê về các bệnh lý trong khoảng thời gian nhất định (thường theo năm) của bệnh nhân đến khám và điều trị Nhằm nghiên cứu mô hình bệnh tật một cách thống nhất, thuận lợi và chính xác, WHO đã ban hành bảng phân loại Quốc tế về bệnh tật ICD (International Classification of Diseases) và được sửa đổi nhiều lần để ph hợp với tình hình thực tế Mã ICD được phân loại chi tiết theo bệnh, nguyên nhân hay tính chất đặc th của bệnh Lần cập nhật mới nhất là ICD 10 gồm 27 chương bệnh Hiện nay mã ICD được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới và đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực quản lý y tế
Mỗi bệnh viện được xây dựng trên địa bàn khác nhau, tương ứng với đặc trưng nhất định về cấu trúc dân cư, địa lí, yếu tố môi trường, văn hoá, kinh tế xã hội cũng như sự phân công chức năng nhiệm vụ theo tuyến Do đó, mô hình bệnh tật của từng bệnh viện là khác nhau, chủ yếu được phân thành 2 loại: mô hình
Nguồn kinh phí bệnh viện
Danh mục thuốc bệnh viện
Trang 16Mô hình bệnh tật chính là căn cứ quan trọng giúp xây dựng DMT phù hợp, làm cơ sở để bệnh viện hoạch định, phát triển toàn diện trong tương lai [52]
Hướng dẫn điều trị chuẩn
Hướng dẫn điều trị chuẩn (STG) là hệ thống văn bản được xây dựng nhằm mục đích hỗ trợ người kê đơn đưa ra quyết định điều trị chính xác cho những vấn đề lâm sàng đặc th STG được xây dựng dựa trên bằng chứng khoa học nhằm tối ưu hóa an toàn, hiệu quả và kinh tế trong điều trị [43]
STG giúp thống nhất lựa chọn tối ưu trong điều trị các bệnh lý cụ thể và
hỗ trợ tích cực cho bác sỹ ở tất cả cơ sở khám chữa bệnh [43] Tại mỗi bệnh viện, STG là tài liệu hướng dẫn cho nhân viên y tế chẩn đoán và điều trị một số bệnh cụ thể; định hướng cho các nhân viên mới về các tiêu chuẩn thống nhất trong điều trị; là cơ sở giúp cho bác sĩ kê đơn đưa ra quyết định liên quan đến chuyên môn Đây là tài liệu tham khảo, c ng với các phương pháp khác trở thành công cụ hiệu quả để tăng cường công tác kê đơn hợp lý Bên cạnh đó, STG còn giúp đánh giá một cách hiệu quả về nhu cầu sử dụng thuốc và đặt ra những ưu tiên trong khâu mua sắm, dự trữ thuốc từ đó giúp chuẩn hóa chất lượng điều trị [52] Do đó, cần căn cứ vào STG để xây dựng DMT bệnh viện
ph hợp, khoa học
Danh mục thuốc thiết yếu
Theo Quyết định 28 -26 của tiểu ban hành động vì sức khỏe thế giới thuộc WHO năm 1975: “Các nước cần xây dựng một đường lối quốc gia về thuốc gắn liền nghiên cứu, sản xuất, phân phối thuốc theo nhu cầu thực tế chăm sóc sức khỏe của nhân dân” Quyết định này là cơ sở cho khái niệm thuốc thiết yếu ra đời Những thuốc này phải luôn có sẵn bất cứ lúc nào, đạt chất lượng, đủ số lượng cần thiết, dưới dạng bào chế phù hợp với giá cả hợp lý [47]
Danh mục thuốc thiết yếu bao gồm những thuốc đáp ứng nhu cầu thực tế trong chăm sóc sức khỏe của toàn dân, được đảm bảo bằng chính sách quốc gia
về thuốc
Trang 17DMT thiết yếu tân dược tại Việt Nam được lựa chọn dựa trên các tiêu chí
sau [12]:
- Bảo đảm hiệu quả, an toàn cho người sử dụng;
- Sẵn có với số lượng đầy đủ, dạng bào chế phù hợp với điều kiện bảo quản, cung ứng và sử dụng;
- Phù hợp với mô hình bệnh tật, phương tiện kỹ thuật, trình độ của thầy thuốc và nhân viên y tế trong cơ sở khám, chữa bệnh;
- Giá cả hợp lí;
- Đa số là đơn thành phần Nếu là phối hợp nhiều thành phần, thuốc phải chứng minh được sự kết hợp đó có lợi hơn khi d ng từng thành phần riêng rẽ về hiệu quả và độ an toàn Trường hợp có hai hay nhiều thuốc tương tự nhau phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá đầy đủ về hiệu lực, độ an toàn, chất lượng, giá cả
và khả năng cung ứng
Tại Việt Nam, ngày 23/2/1985, Danh mục thuốc thiết yếu lần I được Bộ Y
tế ban hành theo Quyết định số 130/QĐ-BYT, gồm 225 loại thuốc xếp thành 31 nhóm [21] Đây là những thuốc cần thiết được lựa chọn trong danh mục thống nhất của toàn ngành, bao gồm các loại thuốc ưu tiên để đảm bảo cho công tác phòng, chữa bệnh và bồi dưỡng sức khỏe ph hợp với chính sách y tế của nước
ta thời điểm này Theo thông lệ quốc tế DMT thiết yếu thường xuyên được bổ sung, sửa đổi Cho đến nay DMT thiết yếu tại Việt Nam đã được sửa đổi 5 lần DMT thiết yếu mới nhất được Bộ Y tế ban hành ngày 26/12/2013 trong TT 45/2013/TT-BYT với nội dung bao gồm 29 nhóm thuốc điều trị với 466 tên thuốc tân dược [12]
Việc xây dựng DMT bệnh viện dựa vào DMT thiết yếu góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, cải thiện chất lượng kê đơn và quản lý sử dụng thuốc Theo đó, bệnh nhân được sử dụng tối thiểu các loại thuốc song vẫn đảm
bảo hiệu quả điều trị Như vậy, DMT thiết yếu là một trong các yếu tố giúp lựa
Trang 18chọn xây dựng DMT hợp lý hơn, tăng hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí của bệnh viện [52]
Danh mục thuốc chủ yếu
DMT chủ yếu là những thuốc đáp ứng nhu cầu điều trị và phù hợp với mô hình bệnh tật ở Việt Nam DMT này được xây dựng dựa trên DMT thiết yếu, là căn cứ để các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn, đảm bảo nhu cầu điều trị và thanh toán cho các đối tượng bệnh nhân, bao gồm cả người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) [17]
Các tiêu chí xây dựng DMT chủ yếu bao gồm [17]:
- Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lí, an toàn, hiệu quả;
- Đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh;
- Đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh tham gia BHYT;
- Phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ BHYT
Tại Việt Nam hiện nay, DMT chủ yếu là các thuốc thuộc Thông tư số 40/2014/TT-BYT ngày 17/11/2014 của Bộ Y tế về việc ban hành và hướng dẫn thực hiện DMT tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế (TT40), bao gồm 845 hoạt chất, 1064 thuốc tân dược, 57 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu [10]
DMT chủ yếu là cơ sở để HĐT & ĐT xây dựng DMT phù hợp với phân tuyến chuyên môn kĩ thuật của bệnh viện cũng như có kế hoạch tổ chức cung ứng thuốc, đáp ứng nhu cầu điều trị theo các quy định của pháp luật [17]
Nguồn kinh phí bệnh viện
Nguồn kinh phí bệnh viện bao gồm: Nguồn đầu tư của nhà nước, nguồn thu của bệnh viện thông qua các hoạt động khám, chữa bệnh, nguồn quỹ bảo hiểm y tế hoặc nguồn tài trợ của các đơn vị trong và ngoài nước
Hiện nay với chính sách trao quyền tự chủ của Thủ tướng chính phủ, các bệnh viện không còn nguồn ngân sách nhà nước Cơ chế tự chủ bệnh viện đã
Trang 19được áp dụng từ lâu trên thế giới và hiện nay được Chính phủ Việt Nam xem là một chính sách phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước Năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định 10/2002/NĐ-CP về việc giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu, đến năm 2006 được thay thế bằng Nghị định 43/2006/NĐ-CP về việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Chính sách này được áp dụng cho tất cả lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, trong đó có ngành
y tế [22] Chủ trương này mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho các cơ sở khám chữa bệnh Chính vì vậy, ngoài đảm bảo yếu tố an toàn, hiệu quả, việc điều trị cần được cân nhắc phù hợp với nguồn kinh phí hiện có tại bệnh viện Do đó, nguồn kinh phí là một yếu tố cần đặc biệt lưu ý khi xây dựng DMT nhằm đảm bảo việc phân bổ hợp lý chi phí cho hoạt động mua sắm thuốc, cân bằng giữa hiệu quả điều trị và hiệu quả kinh tế trong giai đoạn bệnh viện tự chủ hiện nay
Trình độ chuyên môn kĩ thuật
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động lựa chọn xây dựng DMT Bệnh viện càng phát triển chuyên môn kĩ thuật thì nhu cầu
sử dụng thuốc càng cao Danh mục thuốc phải đa dạng về chủng loại, đáp ứng
đủ số lượng và được lựa chọn khắt khe, ph hợp Hiện nay, Bộ Y tế ban hành TT40 quy định về phạm vi sử dụng danh mục thuốc chủ yếu theo phân tuyến bệnh viện [10] Do đó HĐT&ĐT cần dựa vào phân hạng của bệnh viện, các kỹ thuật đã đang và có kế hoạch triển khai để lựa chọn xây dựng DMT ph hợp
1.1.1.2 Nguyên tắc và quy trình xây dựng Danh mục thuốc bệnh viện
Theo WHO, việc xây dựng DMT bệnh viện cần đảm bảo các nguyên tắc sau [52]:
- Phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí thuốc sử dụng
- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật;
Trang 20- Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại cơ sở khám chữa bệnh;
- Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị;
- Phù hợp với phạm vi chuyên môn của cơ sở khám chữa bệnh;
- Thống nhất với DMT thiết yếu, DMT chủ yếu do Bộ Y tế ban hành; Dựa vào các nguyên tắc trên, Tổ chức y tế thế giới đã hướng dẫn một quy trình để xây dựng DMT bao gồm 4 giai đoạn với 19 bước [49] Chi tiết các bước được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Các bước xây dựng và thực hiện DMT bệnh viện
Bước 4 Xây dựng hoặc lựa chọn các phác đồ điều trị
Bước 5 Thu thập các Thông tin để đánh giá lại DMT hiện tại
Bước 6 Phân tích mô hình bệnh tật và tình hình sử dụng thuốc
Bước 7 Đánh giá lại các nhóm thuốc và xây dựng phác thảo DMT bệnh
và kê đơn thuốc tên generic
Trang 21Gi i đoạn 3: Xây dựng cẩm nang DMT
Bước 10 Quyết định xây dựng cẩm nang DMT
Bước 11 Xây dựng các quy định và các Thông tin trong cẩm nang
Bước 12 Xây dựng các chuyên luận trong cẩm nang DMT
Bước 13 Xây dựng các chuyên luận đặc biệt trong cẩm nang
Bước 14 Xây dựng các hướng dẫn tra cứu cẩm nang
Bước 15 In ấn và phát hành cẩm nang DMT
Gi i đoạn 4: Duy trì DMT bệnh viện
Bước 16 Xây dựng các hướng dẫn điều trị chuẩn
Bước 17 Thiết kế và tiến hành điều tra sử dụng thuốc
Bước 18 Thiết kế và tiến hành theo dõi các phản ứng có hại của thuốc
Bước 19 Cập nhật các thuốc trong cẩm nang DMT
HĐT&ĐT thể hiện vai trò quan trọng trong từng giai đoạn và từng bước
cụ thể trong quy trình này
Trong giai đoạn 1, HĐT&ĐT thu thập một số thông tin để giúp Ban giám đốc bệnh viện thấy rõ hiệu quả của việc quản lý tốt DMT[49] HĐT&ĐT chịu trách nhiệm xây dựng và giám sát việc thực hiện các quy định, quy trình liên quan đến thuốc tại bệnh viện Các quy định nên được xây dựng như sau:
- Đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ thuốc ra khỏi DMT bệnh viện
- Đánh giá để bổ sung hay loại bỏ thuốc ra khỏi DMT bệnh viện
- Xây dựng các hướng dẫn điều trị trong bệnh viện
- Lựa chọn các nhà cung ứng thích hợp
- Quy trình kê đơn các thuốc không có trong DMT bệnh viện
- Xử lý khi xảy ra tình trạng thiếu thuốc
Trang 22- Quy trình xây dựng và tiến hành điều tra sử dụng thuốc
- Quy định liên quan đến thuốc: kê đơn thuốc, mua thuốc, cấp phát, tồn trữ, giám sát sử dụng thuốc,
- Quy trình phổ biến và đào tạo các quy định đã được xây dựng
Trong giai đoạn 2, HĐT&ĐT tiến hành lựa chọn, xây dựng DMT Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình này vì kết quả lựa chọn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả - chi phí điều trị Các quyết định về lựa chọn thuốc phải dựa trên bằng chứng y học lâm sàng, đạo đức, luật pháp, quy tắc xã hội, chất lượng cuộc sống, yếu tố kinh tế nhằm đạt kết quả tối ưu trong điều trị Nguyên tắc này được thực hiện tại nhiều quốc gia: Australia, Hà Lan, Canada, Mỹ, Theo WHO, khi lựa chọn thuốc vào DMT bệnh viện cần căn cứ trên tiêu chí cụ thể như sau [11], [52]:
- Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng
- Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định
về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định
- Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về 2 tiêu chí trên thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng
- Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế,
cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí – hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc
- Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc
ở dạng đơn chất
- Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể
Trang 23- Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng
Trong giai đoạn 3 của quy trình, HĐT&ĐT cần xây dựng một cuốn cẩm nang DMT [49] Cẩm nang này thông thường sẽ bao gồm những nội dung thông tin về tất cả thuốc có trong DMT, được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái và các nội dung có liên quan tới liều lượng, chống chỉ định, tác dụng phụ, tương tác thuốc và đơn giá Các nội dung thường xuyên được cập nhật và xây dựng một cách minh bạch dưới sự tham gia góp ý rộng rãi của cán bộ y tế Một cuốn cẩm nang DMT hoàn chỉnh sẽ là nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy WHO đã giới thiệu cuốn DMT mẫu (WHO 2002) có sẵn cả trên tệp tin điện tử và đây có thể là tài liệu tham khảo để bắt đầu xây dựng lên một cuốn cẩm nang hướng dẫn DMT bệnh viện [52]
Giai đoạn cuối cùng trong quy trình này là duy trì DMT Việc sử dụng thuốc không hợp lí vẫn xảy ra ngay cả khi có một DMT lí tưởng STG hay phác
đồ điều trị là công cụ hiệu quả để tăng cường kê đơn hợp lí Các phân tích sử dụng thuốc, theo dõi phản ứng có hại của thuốc giúp HĐT&ĐT quản lí DMT và
sử dụng thuốc trong bệnh viện hiệu quả hơn [52]
1.1.2 Cá phương pháp phân tí h D nh mụ thuố sử dụng tại bệnh viện
Danh mục thuốc bệnh viện là DMT được Hội đồng thuốc & điều trị lựa chọn và phê duyệt ban đầu để sử dụng còn DMT sử dụng tại bệnh viện là DMT được sử dụng thực tế hàng năm tại bệnh viện Người ta tiến hành phân tích DMT sử dụng của bệnh viện nhằm có một cái nhìn khái quát về tình hình sử dụng thuốc hàng năm tại bệnh viện để từ đó làm căn cứ để xây dựng DMT bệnh viện năm tiếp theo hợp lý hơn cũng như có các biện pháp cải tiến nâng cao chất lượng sử dụng thuốc Có nhiều phương pháp được sử dụng để phân tích DMT sử dụng tại bệnh viện bao gồm: Phân tích nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN và phân tích liều xác định hằng ngày DDD [52]
Trang 24- Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ (AHFS) hoặc hệ thống phân loại giải phẫu - điều trị - hóa học (ATC) của Tổ chức Y tế thế giới Cuối cùng là tổng hợp chi phí, phần trăm chi phí các thuốc trong mỗi nhóm thuốc v à đối chiếu với mô hình bệnh tật, từ đó phân tích đánh giá tính hợp lý của mối tương quan giữa các nhóm thuốc sử dụng trong điều trị và mô hình bệnh tật thực
tế tại bệnh viện Phương pháp này giúp xác định nhóm thuốc có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí lớn nhất, kết hợp với mô hình bệnh tật để xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý Từ đó, trong mỗi nhóm tác dụng dược
lý, HĐT&ĐT tiến hành lựa chọn những thuốc có chi phí - hiệu quả cao nhất và các thuốc điều trị thay thế [52]
1.1.2.2 Phân tích ABC
Là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm
và chi phí nhằm phân định ra những mặt hàng chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Phân tích ABC là phương pháp tiếp cận hiệu quả để quản lý thuốc dựa trên nguyên lý Pareto “số ít sống còn và số nhiều ít có ý nghĩa” Theo nguyên lý này: 10% theo chủng loại thuốc sử dụng chiếm 70% ngân sách thuốc (nhóm A) Nhóm tiếp theo: 20% theo chủng loại sử dụng chiếm 20% ngân sách (nhóm B), nhóm còn lại (nhóm C): 70% theo chủng loại nhưng chỉ chiếm 10% ngân sách [52]
Phân tích ABC là công cụ có ý nghĩa quan trọng trong lựa chọn, mua sắm, sử dụng thuốc hợp lý, giúp bệnh viện tiết kiệm chi phí đáng kể và được
áp dụng phổ biến trên thế giới [44]
Lợi ích mà phương pháp phân tích ABC mang lại [52]:
Trang 25- Chỉ ra những thuốc được sử dụng thay thế với số lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường Thông tin này sử dụng để lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn, tìm ra được những liệu pháp điều trị thay thế hoặc thương lượng với nhà cung cấp để tăng hiệu quả kinh tế
- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của cộng đồng và từ đó phát hiện những vấn đề chưa hợp lí trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật
- Xác định phương thức mua sắm hợp lý Thuốc nhóm A là các loại thuốc giá cao Việc mua thuốc A nên thực hiện thường xuyên, chia nhỏ thành nhiều đợt để số lượng tồn kho thấp Đồng thời bệnh viện thường xuyên theo dõi tình trạng sử dụng của nhóm thuốc A để tránh sự gián đoạn bất ngờ trong cung ứng
có thể dẫn đến tình trạng thiếu thuốc
Ưu điểm chính của phương pháp này là giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào Nhược điểm chính là không cung cấp được đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau
1.1.2.3 Phân tích VEN
Phương pháp phân tích VEN cũng được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới Khác với phân tích ABC, muốn phân tích VEN phải thành lập một hội đồng chuyên gia, yêu cầu sự đồng thuận cao trong quan điểm phân loại thuốc Đối với các bệnh viện đa khoa đây là một vấn đề rất khó khăn, vì với cùng một thuốc nhưng đối với các chuyên khoa khác nhau thì mức độ cấp thiết là khác nhau
Phân tích VEN là một hệ thống xác lập sự ưu tiên trong việc chọn lựa và
mua sắm các thuốc được phân loại theo mức độ cần thiết của chúng Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau [11]:
- Thuốc nhóm V (Vital drugs) – là thuốc d ng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám,
Trang 26- Thuốc nhóm E (Essential drugs) – là thuốc d ng trong các trường hợp ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện
- Thuốc nhóm N (Non-Essential drugs) – là thuốc d ng trong các trường hợp bệnh nhẹ, có thể tự khỏi bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm
sàng của thuốc
Bảng 1.2: Tiêu chuẩn để phân tích VEN theo WHO[52]
Đặc tính của thuốc Vital Essential Non-essential
Kết hợp phân tích ABC và phân tích VEN được ma trận ABC/VEN có thể
mang lại hiệu quả trong việc kiểm soát lựa chọn và mua sắm Ma trận ABC/VEN bao gồm các nhóm: nhóm I (AV, BV, CV, AE, AN), nhóm II (BE,
CE, BN), nhóm III (CN) Đây là một trong những phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề sử dụng thuốc và là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng
DMT bệnh viện
Trang 271.1.2.4 Phân tí h theo liều xá định hằng ngày (DDD)
Phương pháp tính liều xác định hàng ngày (DDD) giúp chuyển đổi, chuẩn
hóa các số liệu về số lượng sản phẩm hiện có như hộp, viên, ống tiêm, chai thành ước lượng thô về thuốc được d ng trong điều trị Liều xác định hàng ngày chính là liều trung bình duy trì trong ngày với chỉ định chính của một thuốc nào đó Việc chuyển đổi tổng số lượng thuốc trong báo cáo kiểm kê thành liều xác định trong ngày cho phép xác định sơ bộ số ngày điều trị của thuốc đã được tiêu thụ
1.1.3 Một số văn bản pháp quy liên qu n đến d nh mụ thuố sử dụng tại bệnh viện
Bộ Y tế đã có nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất lượng quản lý, sử dụng DMT Một trong số đó là việc ban hành các hành lang pháp lý quy định về vấn
đề này Trong những năm gần đây, nhiều văn bản hướng dẫn về sử dụng thuốc
ra đời, có ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ sở khám chữa bệnh
1.1.3.1 Một số văn bản quy định hứ năng, nhiệm vụ, hoạt động ủ á tổ
hứ ó trá h nhiệm quản lý sử dụng thuố
- Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định về chức
năng hoạt động của khoa Dược Đây là khoa có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện, nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý Như vậy, khoa Dược đóng vai trò chủ đạo và là đầu mối trong quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện [15]
- Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế quy định về
hoạt động của HĐT&ĐT [11] Thông tư nêu rõ chức năng của HĐT&ĐT là tư vấn cho Giám đốc về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện Theo đó, Hội đồng có 6 nhiệm vụ
cơ bản:
Trang 28 Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc
Xây dựng DMT bệnh viện
Xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị
Xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc
Giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị
Thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc
HĐT&ĐT đóng vai trò điều phối, xử lý các vấn đề sử dụng thuốc trong đó quan trọng nhất là xây dựng và quản lý DMT bệnh viện
1.1.3.2 Một số văn bản hướng dẫn thự hiện á vấn đề liên qu n đến sử dụng thuố
- Thông tư số 40/2014/TT-BYT ngày 17/11/2014 của Bộ Y tế về việc ban
hành và hướng dẫn thực hiện DMT tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế Thông tư quy định 845 hoạt chất, 1064 thuốc tân dược và 57 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu nằm trong phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiêm y tế, đồng thời phân thành 27 nhóm tác dụng dược lý [10]
- Thông tư số 01/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 19/01/2012 của Bộ Y tế về
việc hướng dẫn một số nội dung cụ thể trong đấu thầu mua sắm thuốc tại các đơn vị có sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, quỹ BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác phục vụ nhu cầu phòng, khám và chữa bệnh để đảm bảo phù hợp với tính chất đặc thù của thuốc theo quy định của luật Dược Thông
tư quy định rõ tiêu chí để phân chia thành các gói thuốc trong đấu thầu Cụ thể, thuốc đấu thầu được chia làm 3 gói: Gói thuốc generic, gói thuốc biệt dược và gói thuốc y học cổ truyền [14]
Gói thầu thuốc generic: Bao gồm các thuốc tân dược được sản xuất trong
và ngoài nước Trong gói này chia thành các nhóm thuốc dựa trên tiêu chí
kỹ thuật và tiêu chuẩn công nghệ được cấp phép như sau:
Trang 29- Nhóm PIC/ICH: Thuốc sản xuất trên dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s-GMP tại cơ sở sản xuất thuộc nước tham gia ICH và Australia; Thuốc sản xuất trên dây chuyền sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn WHO-GMP do Bộ Y tế Việt Nam cấp giấy chứng nhận và được cơ quan quản lý quốc gia có thẩm quyền cấp phép lưu hành tại nước tham gia ICH hoặc Australia;
- Nhóm Non PIC/ICH: Thuốc sản xuất trên dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s-GMP nhưng không thuộc nước tham gia ICH
- Nhóm còn lại: Thuốc không đáp ứng tiêu chí của các nhóm 1, 2, 3 và 4
Gói thầu thuốc biệt dược gốc hoặc tương đương điều trị: bao gồm các thuốc biệt dược gốc thuộc DMT biệt dược gốc do Bộ Y tế công bố
Gói thầu thuốc cổ truyền: Bao gồm thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu được sản xuất do Bộ Y tế Việt Nam cấp giấy chứng nhận;
- Thông tư số 11/2016/TT-BYT ngày 5/11/2016 của Bộ Y tế về việc hướng
dẫn một số nội dung cụ thể trong đấu thầu mua sắm thuốc tại các đơn vị có sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, quỹ BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác phục vụ nhu cầu phòng, khám và chữa bệnh để đảm bảo phù hợp với tính chất đặc thù của thuốc theo quy định của luật Dược Thông tư quy định bổ sung các vấn đề về đấu thầu thuốc chi tiết hơn so với TT01 Trong Thông tư quy định số lượng thuốc sử dụng nằm trong khoảng từ 80-120% so với số lượng thuốc trúng thầu [5]
- Thông tư số 10/2016/TT-BYT ngày 05/5/2016 của Bộ Y tế ban hành
Trang 30ứng Danh mục được xây dựng trên nguyên tắc các thuốc sản xuất tại các đơn vị trong nước đáp ứng tiêu chí kỹ thuật, giá cả hợp lý và có khả năng đảm bảo cung cấp cho các cơ sở điều trị trên cả nước Trên nguyên tắc đó, các mặt hàng thuốc đưa vào danh mục phải đáp ứng tất cả tiêu chí sau [6]:
Thuốc thuộc DMT đấu thầu;
Đã có tối thiểu từ 03 số đăng ký của của 03 nhà sản xuất trong nước theo nhóm tiêu chí kỹ thuật;
Giá của thuốc sản xuất trong nước không cao hơn so với thuốc nhập khẩu
có tiêu chí kỹ thuật tương đương;
Đảm bảo khả năng cung ứng thuốc cho các cơ sở y tế khi không mua thuốc nhập khẩu sản xuất tại cơ sở có tiêu chí kỹ thuật tương đương với thuốc sản xuất trong nước
Thông tư quy định 146 thuốc mà các cở sở trong nước đã đáp ứng tiêu chí trên vì vậy đối với các thuốc này đơn vị khám chữa bệnh nên ưu tiên sử dụng
nhóm hàng sản xuất trong nước
- Dự thảo Thông tư số 11: Bộ Y tế đã ra dự thảo TT11 trong đó ban hành
101 thuốc biệt dược gốc đã hết hạn bảo hộ, có lớn hơn 3 thuốc thuộc nhóm I(PIC+ICH) được cấp giấy đăng ký lưu hành đáp ứng yêu cầu điều trị Những thuốc này yêu cầu cơ sở khám chữa bệnh dự tr và đấu thầu để sử dụng ở nhóm I(PIC+ICH), không đấu thầu tại nhóm biệt dược gốc
Hệ thống văn bản trên chính là cơ sở pháp lý, là công cụ quan trọng để các bệnh viện và đơn vị liên quan quản lý sử dụng thuốc an toàn hiệu quả, hợp lý
Trang 31Một phân tích ABC được tiến hành tại bệnh viện Pgimer ở n Độ năm 2007-2008 cho thấy DMT bệnh viện có 421 khoản mục, kết quả phân tích ABC chỉ ra thuốc hạng A chiếm 13,78% số khoản mục (tương đương 69,97% giá trị
sử dụng); thuốc hạng B chiếm 21,85% số khoản mục (tương đương 19,95% giá trị sử dụng); thuốc hạng C chiếm 64,37% số khoản mục (tương đương 10,08% giá trị sử dụng) [42]
Tại Kazan (Nga), phân tích ABC/VEN được tiến hành tại một bệnh viện
1000 giường với dữ liệu là chi phí thuốc sử dụng được lấy trong vòng 04 năm từ 2011-2014 Cùng với việc phân tích ABC/VEN, năm 2013 nhóm nghiên cứu đã tiến hành can thiệp bằng các hoạt động đào tạo dựa trên bằng chứng về sử dụng thuốc an toàn, hợp lý cho lãnh đạo khoa Kết quả: chi phí thuốc năm 2014 giảm
so với năm 2013, điều này hết sức quan trọng vì đã đảo ngược xu hướng tăng trưởng chi phí tiền thuốc trong 3 năm trước đó: 2013>2012>2011 Gần 40% ngân sách tiền thuốc năm 2014 là d ng cho thuốc V, cao nhất trong 4 năm nghiên cứu Trong đó, chi phí thuốc của nhóm N năm 2014 tương đương giữa các năm (14% tổng chi phí), tuy nhiên giá trị tuyệt đối tiền thuốc của nhóm N năm 2014 lại giảm
so với năm 2012, 2013 [53]
Tiến hành phân tích ABC/VEN ở bệnh viện quốc gia Muhimbili (Tanzania), kết quả cho thấy từ 07/2011-06/2012 bệnh viện đã mua 394 khoản mục, trong đó thuốc V có 67 khoản mục (17%); 270 khoản mục (xấp xỉ 70%) là thuốc nhóm E Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra bệnh viện đã không tiến hành biện pháp quản lý tồn kho đặc biệt nào cho các thuốc hạng A (chiếm tỷ trọng ngân sách lớn nhất) điều này dẫn tới nguy cơ sử dụng thuốc bất hợp lý [48]
1.2.2 Tại Việt N m
Tình hình cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
Hiện nay, Bộ Y tế ban hành Thông tư 40/TT-BYT ngày 17/11/2014 về DMT tân dược và Thông tư 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 về DMT thuốc
Trang 32đông dược , vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT làm nền tảng để các cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng DMT sử dụng tại đơn vị Khảo sát tại một số bệnh viện đa khoa, DMT sử dụng đa dạng về nhóm tác dụng dược lý Cụ thể, DMT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2012 gồm
538 khoản mục, phân thành 22 nhóm [35] Bệnh viện Nông Nghiệp năm 2013
sử dụng 359 khoản mục thuộc 26 nhóm tác dụng dược lý [23] Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2015, DMT sử dụng tại bệnh viện là 695 khoản mục được chia thành 27 nhóm tác dụng dược lý [34]
Phần lớn kết quả nghiên cứu tại các bệnh viện trong những năm gần đây cho thấy thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn là nhóm có số lượng
và giá trị sử dụng lớn nhất Bên cạnh đó, các nhóm như: ung thư, tim mạch, nội tiết cũng có chi phí sử dụng cao Theo kết quả phân tích DMT sử dụng tại bệnh viện HNĐK Nghệ An năm 2015, nhóm điều trị ký sinh trùng chống nhiễm khuẩn có giá trị sử dụng lớn nhất với trên 1/3 tổng kinh phí (chiếm 38.99%) và
là nhóm có số khoản mục lớn nhất (15.10%) Nhóm thuốc tim mạch đứng thứ hai về số khoản mục (14.66%) và giá trị sử dụng (9.92%) Nhóm thuốc đường tiêu hóa xếp thứ ba về giá trị sử dụng (8.03%) [31] Số liệu này cũng tương tự như kết quả phân tích DMT tại các bệnh viện năm 2015: bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, bệnh viện quân y 7B tỉnh Đồng Nai, bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương [34], [28],[40] Điều này phản ánh xu hướng mặc dù bệnh nhiễm khuẩn vẫn chiếm ưu thế nhưng đã có sự gia tăng dần của các bệnh không lây nhiễm trong mô hình bệnh tật tại Việt Nam [3]
Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh
Kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm trong sử dụng thuốc an toàn, hợp lí Theo kết quả nghiên cứu của các bệnh viện, kinh phí mua sắm nhóm thuốc này luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng
Nghiên cứu tại 38 bệnh viện đa khoa đại diện cho 6 vùng trên cả nước, tỷ
lệ giá trị tiền thuốc kháng sinh trung bình ở 3 tuyến bệnh viện là 32,5%, trong đó
Trang 33cao nhất là ở các bệnh viện tuyến huyện (43,1%) và thấp nhất tại bệnh viện tuyến trung ương (25,7%) [29]
Kết quả phân tích tại bệnh viện trung ương Huế năm 2012, kinh phí sử dụng nhóm kháng sinh chiếm tỉ lệ là 34,84% [36] Tương tự, bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2014, kinh phí sử dụng nhóm kháng sinh cũng có tỷ lệ cao nhất (51,5% tổng giá trị sử dụng) [26] Nghiên cứu năm 2015 ở bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa và Quân y 7B tỉnh Đồng Nai cũng cho kết quả tương tự (23,8% và 39,28% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng) [34], [28]
Như vậy thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tiền thuốc
sử dụng tại bệnh viện, một phần cho thấy mô hình bệnh tật tại Việt Nam có tỷ lệ bệnh nhiễm khuẩn cao, mặt khác nguyên nhân có thể do tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn phổ biến [24]
Tình hình sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu
Trong năm 2012, Cục quản lý Dược đã tổ chức diễn đàn “Người Việt Nam ưu tiên d ng thuốc Việt Nam” Đây là một trong những giải pháp quan trọng hỗ trợ ngành Dược phát triển bền vững, đảm bảo nguồn cung ứng thuốc cho nhân dân và không lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu [13]
Kết quả khảo sát tại một số bệnh viện đa khoa, chuyên khoa ở 3 tuyến bệnh viện đều cho thấy các thuốc sản xuất trong nước chiếm từ 25,5% - 43,3%
số khoản mục và 37,0% - 57,1% tổng giá trị sử dụng, trong đó thấp nhất là các bệnh viện tuyến trung ương [29] Năm 2014, tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh
Hóa, tổng giá trị sử dụng thuốc nội là 29,7 tỷ (29,64%) [37] Năm 2015, tại bệnh
viện đa khoa tỉnh Nghệ An, Bình Dương, Bà Rịa tỷ lệ giá trị sử dụng thuốc nội lần lượt là 21,19%; 18,0%; 47,61% [31], [40], [27]
Tình hình sử dụng thuốc biệt dược gốc, thuốc generic
Thuốc biệt dược gốc là những thuốc đã có bằng chứng về chất lượng, an toàn và hiệu quả điều trị, được Bộ Y tế ban hành trong “DMT biệt dược gốc”
Trang 34tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế quy định ưu tiên sử dụng thuốc generic [11] Do
đó, việc tăng cường sử dụng thuốc generic được khuyến khích trong trường hợp có thể thay thế cho một mục đích điều trị với điều kiện tương đương sinh học
Năm 2014, ở bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn thuốc biệt dược gốc chiếm 7,2% khoản mục và 4,5% giá trị sử dụng [26] Năm 2015, tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương, thuốc biệt dược chiếm 11,1% tổng chi phí sử dụng thuốc [40] Kết quả phân tích DMT sử dụng tại bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An năm
2015, thuốc biệt dược chiếm 26,86% số lượng khoản mục và 25,06% giá trị sử dụng [31] Năm 2015 tại bệnh viện đa khoa Bà Rịa- Vũng tàu, thuốc biệt dược chiếm 17,9% số lượng khoản mục và 26,46% tổng giá trị sử dụng [27]
Tình hình sử dụng thuốc đơn thành phần – thuốc phối hợp nhiều thành phần
Thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế quy định ưu tiên sử dụng thuốc dạng đơn chất Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có
đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất [11] Phần lớn tại các bệnh viện, thuốc đơn thành phần có số lượng và giá trị chiếm tỉ lệ cao trong DMT sử dụng
Kết quả phân tích cơ cấu DMT của bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm
2014 cho thấy thuốc đơn thành phần chiếm chủ yếu về số lượng khoản mục và giá trị sử dụng (87,8% tổng khoản mục và 78,8% tổng chi phí thuốc) [26]
Tương tự, kết quả phân tích cơ cấu DMT của bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hoá năm 2015 cho thấy thuốc đơn thành phần chiếm 90,1% về số khoản mục và 94,4% giá trị sử dụng [34] Phân tích cơ cấu DMT của bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương năm 2015 cũng cho kết quả tương tự: thuốc đơn thành phần chiếm phần lớn về số lượng hoạt chất, khoản mục và giá trị sử dụng [40] Kết quả phân tích cơ cấu DMT của bệnh viện đa khoa Bà Rịa năm 2015: thuốc
Trang 35đơn thành phần trong DMT chiếm tỉ lệ 82,44% về số lượng và 77,1% về giá trị
sử dụng [27]
Tình hình sử dụng thuốc theo đường dùng
Bộ Y tế ban hành trong Thông tư 23/2011/TT-BYT quy định hướng dẫn
sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh Theo đó, bệnh viện căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý để lựa chọn đường dùng thuốc thích hợp Bệnh nhân chỉ d ng đường tiêm khi không uống được hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị [16]
Nghiên cứu phân tích DMT theo đường dùng của bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2014 cho thấy: thuốc tiêm truyền chiếm tỷ lệ cao nhất bao gồm
297 khoản mục chiếm 49,0% về số lượng khoản mục và chiếm 92,4% về giá trị
sử dụng Thuốc đường uống chiếm 42,2% khoản mục và 5,5% về giá trị sử dụng, các đường dùng khác chiếm 8,8% khoản mục [26] Trong DMT bệnh viện tỉnh Thanh Hóa năm 2014, thuốc đường tiêm được sử dụng nhiều nhất với 51,19% khoản mục (tương ứng với 68,22% trong tổng tiền thuốc) [37] Đến năm
2015, giá trị sử dụng thuốc đường tiêm truyền tăng đến 83,6% [34] Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương năm 2015, thuốc đường uống sử dụng nhiều nhất với 231 hoạt chất, 391 khoản mục chiếm tỷ lệ 52,4% và giá trị sử dụng là 45,6 tỷ đồng, chiếm 33,2% Nhóm thuốc tiêm truyền có số loại thuốc ít hơn nhóm thuốc đường uống, với 140 hoạt chất, 252 khoản mục thuốc nhưng lại chiếm đến 55,2% tổng giá trị sử dụng thuốc [40]
Tình hình sử dụng thuốc gây nghiện – hướng thần- tiền chất
Thuốc gây nghiện, hướng thần, tiền chất thuộc DMT phải kiểm soát đặc biệt, vì việc lạm dụng sẽ ảnh hưởng đến trí tuệ, suy nhược thần kinh Những hoạt động liên quan đến việc sử dụng các thuốc trên không chỉ thực hiện theo luật Dược mà còn phải theo Luật phòng chống ma túy
Nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm
Trang 3619/2014/TT-BYT ngày 02/6/2014 gồm 6 chương với 21 điều quy định về sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ, kê đơn, pha chế, cấp phát và sử dụng, giao nhận, vận chuyển, bảo quản, dự tr , lưu trữ hồ sơ, sổ sách, báo cáo và hủy thuốc Thông tư này bao gồm 43 hoạt chất gây nghiện, 69 hoạt chất hướng tâm thần và 08 tiền chất dùng làm thuốc [9] Thuốc GN-HT-TC chỉ chiếm tỷ lệ thấp về số lượng và giá trị sử dụng Tuy nhiên, nhóm thuốc này là rất quan trọng
và cần thiết trong DMT bệnh viện
Khảo sát tại bệnh viện Nông nghiệp năm 2013, thuốc gây nghiện, hướng tâm thần, tiền chất gồm 8 khoản mục chiếm tỷ lệ 2,23%, giá trị sử dụng là 2,38 tỷ đồng chiếm 7,33% [23] Kết quả phân tích tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2014, số lượng thuốc gây nghiện, hướng tâm thần, tiền chất chiếm 2,69% tổng khoản mục và 0,88% tổng giá trị sử dụng [37] Năm 2015, kết quả phân tích DMT tại bệnh viện HNĐK Nghệ An cho thấy thuốc GN –HT- TC chiếm 1,61%
về số lượng và 1,54% về giá trị sử dụng [31]
Tình hình sử dụng thuốc ngoài DMT bệnh viện
Theo quy định tại Thông tư 21, thuốc sử dụng phải thuộc DMT bệnh viện Trường hợp thuốc mua ngoài DMT bệnh viện phải có lý do cụ thể và được thông qua của HĐT&ĐT Nghiên cứu năm 2014 tại bệnh viện phụ sản Hà Nội
có 5 thuốc sử dụng ngoài DMT bệnh viện [32]; bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2012, có đến 33 thuốc mua ngoài chiếm 6,13% về số lượng khoản mục và 0,86% tổng kinh phí dùng thuốc [35] Năm 2015, bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An mua ngoài 04 thuốc chiếm 0,59% [31]
Phân tích ABC/VEN
Phân tích ABC/VEN là một trong những phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề về sử dụng thuốc và là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng DMT bệnh viện Tác giả Vũ Thị Thu Hương sử dụng phương pháp ABC là một trong các tiêu chí đánh giá hoạt động của HĐT&ĐT trong xây dựng, thực hiện DMT tại một số bệnh viện đa khoa Kết quả cho thấy các bệnh viện đã mua sắm tương
Trang 37đối tập trung vào các thuốc được sử dụng nhiều nhất trong điều trị (sử dụng 70% tổng kinh phí để mua sắm 11,2% - 13,1% số khoản mục thuốc) Đây là các thuốc có giá trị và số lượng sử dụng lớn trong bệnh viện [29] Chính vì thế cần
ưu tiên trong mua sắm đồng thời quản lí chặt chẽ các thuốc thuộc nhóm này
Huỳnh Hiền Trung đã d ng phân tích ABC/VEN là một tiêu chí để đánh giá can thiệp trong cải thiện chất lượng DMT tại bệnh viện 115, ban đầu phân tích ABC/VEN năm 2006, sau đó sử dụng các biện pháp can thiệp và đánh giá lại vào năm 2008 Theo số lượng thuốc, nhóm I (gồm AV, AE, AN, BV, CV) là nhóm cần đặc biệt quan tâm (vì sử dụng nhiều ngân sách hoặc cần cho điều trị)
đã thay đổi từ 14,8% trước can thiệp xuống còn 9,1% sau can thiệp Nhóm II (gồm BE, BN, CE) tuy mức độ quan trọng ít hơn nhóm I nhưng cũng là nhóm thuốc cần giám sát kỹ vì sử dụng ngân sách tương đối lớn và cần thiết cho điều trị Từ tỷ lệ 57,3% trước can thiệp giảm xuống còn 41,6%, 71 hoạt chất đã được HĐT&ĐT loại khỏi DMT sau can thiệp Nhóm III ít quan trọng nhưng chiếm tỷ
lệ 27,9%, sau can thiệp còn 11,5%, có 82 hoạt chất được loại khỏi DMT [38]
Năm 2010, bằng phương pháp phân tích ABC, một nghiên cứu tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho thấy nhóm A có 149/1151 mặt hàng tiêu thụ chiếm tỷ lệ 79,87% Nhóm C có giá trị tiêu thụ ít, chiếm tỷ lệ 5% nhưng số lượng mặt hàng lớn chiếm 70,72% Trong nghiên cứu này phương pháp phân tích VEN chưa được thực hiện Năm 2012, bằng phương pháp phân tích ABC/VEN cho thấy kinh phí thuốc tập trung chủ yếu ở nhóm I (AV, AE, AN, BV, CV) chiếm tỷ lệ 73,8%, nhóm không thiết yếu chiếm một tỉ lệ nhỏ 1,5% [30]
Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An năm 2015, thuốc E, N, V lần lượt có giá trị sử dụng chiếm 58,83%, 27,61%, 13,57% Phân tích ABC/VEN cho thấy nhóm AN có giá trị sử dụng hơn 32 tỷ (21,23%) [31]
Nhóm thuốc bổ trợ có hiệu quả điều trị chưa rõ ràng cũng đang được sử dụng phổ biến trong cả nước Kết quả khảo sát về thực trạng thanh toán thuốc BHYT toàn quốc năm 2010 cho thấy, trong tổng số 30 hoạt chất có giá trị thanh
Trang 38toán lớn nhất gồm cả thuốc bổ trợ: L-ornithin-L-aspartat, Glucosamin, Ginkgobiloba, Arginin, Glutathion Trong đó, L-ornithin-L-aspartat nằm trong
số 5 hoạt chất chiếm tỷ lệ lớn nhất về giá trị thanh toán [33] Để khắc phục tình trạng chỉ định rộng rãi các thuốc này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có Công văn số 2503/BHXH-DVT ngày 02/07/2012 yêu cầu không thanh toán theo chế
độ BHYT khi sử dụng các thuốc nêu trên như thuốc bổ thông thường [2] Đồng thời Bộ Y tế cũng ban hành TT40 và TT36/2015/TT-BYT ngày 29/10/2015 quy định về việc giới hạn chỉ định và thanh toán khi sử dụng các thuốc này [8] Do vậy, để đảm bảo hiệu quả sử dụng thuốc và phù hợp với khả năng chi trả của quỹ BHYT, các cơ sở khám chữa bệnh cần tối ưu hoá trong việc chỉ định, tránh
sử dụng thuốc có giá thành cao, chi phí điều trị lớn không cần thiết
1.3 MỘT SỐ NÉT VỀ BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN
Cùng với sự phát triển của lịch sử dân tộc, quá trình hình thành và phát triển của bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An trải qua bao khó khăn vất vả, nhờ sự nỗ lực hết mình, hy sinh xương máu của rất nhiều thế hệ cán bộ công chức Ngày 01/4/2009 bệnh viện HNĐK Nghệ An được công nhận là bệnh viện hạng I trực thuộc Tỉnh với chức năng, nhiệm vụ chính là cấp cứu, khám bệnh và chữa bệnh; đào tạo cán bộ; nghiên cứu khoa học về y học; chỉ đạo tuyến về chuyên môn kỷ thuật, phòng bệnh; hợp tác Quốc tế theo quy định của Nhà Nước
và Quản lý kinh tế các Ngân sách do Nhà nước cấp, viện phí bảo hiểm y tế, vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác Tháng 10/2014, bệnh viện HNĐK Nghệ An chính thức di chuyển tới địa điểm làm việc mới tại Km5, đại lộ
Lê Nin, xã Nghi Phú, TP Vinh, Nghệ An với quy mô rộng hơn, đầu tư trang thiết
bị hiện đại và không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bênh
Về cơ cấu tổ chức: Tính đến 30/06/2017, bệnh viện có: 1021 viên chức và
hợp đồng lao động, trong đó:
- 281 bác sỹ gồm: 01 Phó giáo sư - Tiến sỹ, 02 Tiến sỹ, 08 BSCK II, 60 Thạc sỹ, 34 BSCK I, 08 Bác sỹ nội trú, 168 Bác sỹ
Trang 39- 42 dược sỹ gồm: 06 DSCK I, 03 Thạc sỹ dược, 03 Dược sỹ đại học, 29 Dược sỹ trung học, 01 Dược tá
- 427 điều dưỡng gồm: 47 Cử nhân điều dưỡng, 212 Cao đẳng điều dưỡng, 168 Điều dưỡng trung học
- 53 kỹ thuật viên (KTV) gồm: 08 Cử nhân KTV, 23 Cao đẳng KTV, 22 KTV trung học
- 54 nữ hộ sinh (NHS) gồm: 01 Cử nhân NHS, 37 NHS cao đẳng, 16 NHS trung học
Hội đồng thuốc & điều trị bệnh viện HNĐK Nghệ An
Tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc & điều trị được thực hiện theo quy định tại Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013, với chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện Tại bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An, Hội đồng thuốc & điều trị có 18 thành viên trong đó bao gồm chủ tịch là Giám đốc bệnh viện, phó chủ tịch là trưởng khoa dược và các thành viên khác là các trưởng phó khoa phòng Hội đồng thuốc
& điều trị bệnh viện họp định kỳ 1 quý/ lần và đột xuất khi có các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc Hội đồng thuốc & điều trị đóng vai trò quan trọng xây dựng và hướng dẫn thực hiện các hướng dẫn điều trị, lựa chọn xây dựng DMT bệnh viện, xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện đồng thời theo dõi, giám sát quá trình thực hiện các quy định này tại bệnh viện đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại bệnh viện
Mô hình bệnh tật tại bệnh viện
Mô hình bệnh tật của một xã hội, một cộng đồng, một quốc gia nào đó là tập hợp tất cả những trạng thái mất cân bằng về thể xác, tinh thần dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau xuất hiện trong cộng đồng, xã hội đó trong những khoảng thời gian nhất định
Trang 40Ở Việt Nam cũng như trên thế giới có hai kiểu mô hình bệnh viện là bệnh viện chuyên khoa và bệnh viện đa khoa Mô hình của Bệnh viện HNĐK Nghệ
An chính là mô hình bệnh viện đa khoa với đầy đủ các chương bệnh thường gặp
Bảng 1.3 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện HNĐK Nghệ An năm 2016
16 Chương XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời kì
17 Chương XVII: Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất
18
Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những
phát hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường,
không phân loại ở nơi khác