Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGHIÊM XUÂN PHƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN XÍN MẦN,
TỈNH HÀ GIANG
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số ngành: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Văn Sơn
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đều đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Nghiêm Xuân Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Dương Văn Sơn
người đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các đơn vị liên quan của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô của trường đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để giúp tôi hoàn thành công trình này Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, UBND tỉnh Hà Giang, UBND huyện Xín Mần, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Xín Mần, các xã và các hộ nông dân huyện Xín Mần đã giúp tôi trong quá trình điều tra số liệu
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên chia
sẻ, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Nghiêm Xuân Phương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân 4
1.1.2 Vai trò, sự cần thiết phát triển kinh tế hộ nông dân 8
1.1.3 Phân loại hộ nông dân 10
1.1.4 Tại sao phải nghiên cứu kinh tế nông hộ 12
1.1.5 Vì sao kinh tế hộ tồn tại 12
1.1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân 12
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 15
1.2.1 Khái quát sự phát triển của kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới và nước ta 15
1.2.2 Xu hướng phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam 24
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triền kinh tế nông hộ ở Việt Nam nói chung và huyện Xín Mần nói riêng 26
1.2.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33
2.2 Nội dung nghiên cứu 33
2.3 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1 Tiếp cận nghiên cứu 34
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 34
Trang 52.3.3 Phương pháp phân tích xử lý số liệu 36
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 37
2.4.1 Một số chỉ tiêu phản ánh về chủ hộ nông dân 37
2.4.2 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ nông dân 37
2.4.3 Chỉ tiêu phản ánh khoản thu và chi của hộ nông dân 37
2.4.4 Chỉ tiêu đánh giá tình hình kinh tế 37
2.4.5 Một số đại lượng thống kê thông dụng của mẫu 37
2.4.6 Hệ thống chỉ tiên phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ 38
2.4.7 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh và thu nhập của hộ 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Thực trạng kinh tế nông hộ và phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số huyện Xín Mần 39
3.1.1 Thông tin cơ bản của hộ 39
3.1.2 Thực trạng sản xuất kinh doanh nông, lâm nghiệp của hộ 42
3.1.3 Kết quả hoạt động phi nông nghiệp của hộ 56
3.1.4 Phát triển kinh tế tập thể, doanh nghiệp và hợp tác xã ở huyện Xín Mần 60
3.2 Khó khăn thuận lợi và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Xín Mần 62
3.2.1 Thuận lợi, khó khăn trong phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Xín Mần 62
3.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ huyện Xín Mần 66
3.3 Quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông hộ tại huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang 69
3.3.1 Quan điểm, phương hướng, mục tiêu về phát triển kinh tế nông hộ tại huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang 69
3.3.2 Một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang 71 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Khuyến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ : Bình quân
CC : Cơ cấu CNH-HĐH : Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
CN : Công nghiệp CN-TTCN : Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
DT : Diện tích DTTS : Dân tộc thiểu số
ĐVT : Đơn vị tính
ĐH : Đại học HĐH : Hiện đại hóa KHKT : Khoa học kỹ thuật KT-XH : Kinh tế xã hội
LĐ : Lao động
NS : Năng suất
SL : Sản lượng
SX : Sản xuất TTCN : Tiểu thủ công nghiệp TBC : Trung bình chung UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số hộ điều tra phân theo xã và nghề nghiệp của hộ 39
Bảng 3.2: Thông tin chung về hộ điều tra 40
Bảng 3.3: Cấu trúc dân tộc trong các hộ điều tra phân theo các nhóm hộ 41
Bảng 3.4: Số hộ trồng và diện tích gieo trồng bình quân 1 hộ 44
Bảng 3.5 Số thửa canh tác cây trồng chủ yếu 45
Bảng 3.6 Giá trị sản xuất một số cây trồng của hộ 47
Bảng 3.7: Số hộ nuôi và số vật nuôi của hộ 50
Bảng 3.8: Giá trị sản xuất từ chăn nuôi của hộ 53
Bảng 3.9: Kết quả sản xuất lâm nghiệp của hộ 55
Bảng 3.10: Số hộ, số lao động và thu nhập từ ngành nghề 57
Bảng 3.11: Kết quả kinh doanh dịch vụ sản xuất của hộ 58
Bảng 3.12: Kết quả kinh doanh dịch vụ đời sống của hộ 60
Bảng 3.13 Số lượng các doanh nghiệp theo lĩnh vực hoạt động 61
Bảng 3.14 Loại hình doanh nghiệp huyện Xín Mần 61
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, công tác ở vùng đồng bào dân tộc trên cả nước luôn được các cấp, các ngành, các đoàn thể quan tâm chỉ đạo, thực hiện; những vấn đề bức xúc trong đồng bào các dân tộc từng bước được giải quyết; đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện
Tuy nhiên do điều kiện thời tiết rất khắc nghiệt, thường xuyên bị lũ ống, lũ quét, sạt lở, bão, lốc; hạn hán, khô cằn; dịch bệnh Địa hình, địa bàn phức tạp, đi lại rất khó khăn; diện tích đất bằng phục vụ sản xuất và dân sinh không nhiều; một bộ phận dân cư không tập trung, họ sống trải dài trên diện tích rộng lớn nên suất đầu tư cho các công trình phục vụ sản xuất và đời sống rất cao Một số tập quán sản xuất
và sinh hoạt không còn phù hợp nhưng chậm xoá bỏ, đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ của KHKT-CN vào sản xuất và cuộc sống Địa bàn vùng DTTS thường xa trung tâm Kinh tế - Xã hội của tỉnh, của các huyện nên sức thu hút đầu tư vào phát triển kinh tế không cao Việc đi lại để lãnh đạo, chỉ đạo của các ngành, các cấp không mấy thuận lợi Theo đó, các doanh nghiệp lớn vào làm ăn, phát triển kinh tế vùng cao, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn chưa nhiều Việc mua bán, trao đổi hàng hoá theo cơ chế thị trường gặp không ít khó khăn, nhất là chi phí vận chuyển quá cao
Kinh tế phát triển chưa toàn diện, chưa mạnh và chưa vững chắc; hàng hoá sản xuất chưa nhiều và sức cạnh tranh chưa mạnh; đã có các mô hình phát triển kinh
tế ở các qui mô khác nhau trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng việc nhân diện chưa mạnh; năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích chưa cao; tập quán sản xuất giản đơn chậm xoá bỏ; vệ sinh môi trường thôn bản chưa tốt; một
số tập tục lạc hậu vẫn còn tồn tại
Mục tiêu đặt ra là khai thác hợp lý và có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy điện, khai khoáng, du lịch và kinh tế cửa khẩu; cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, dân sinh
và bảo đảm quốc phòng, an ninh; từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát
Trang 9triển và mức sống của người dân trong vùng so với mức bình quân chung; hoàn thành cơ bản sắp xếp ổn định dân cư, nhất là vùng đồng bào tái định cư các dự án thủy điện, thủy lợi, đưa dân ra biên giới; khắc phục cơ bản tình trạng dân di cư tự do; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đặc biệt là nhân dân vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng
xa, vùng biên giới; đẩy lùi các tệ nạn xã hội; gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo
vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và ổn định chính trị
Huyện Xín Mần thuộc vùng cao núi đất phía tây tỉnh Hà Giang, cách trung tâm tỉnh lỵ khoảng 120 km Huyện có địa hình phức tạp, núi cao hiểm trở, bị chia cắt mạnh, huyện có 15 anh em dân tộc sinh sống Đời sống của nhân dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp Bên cạnh những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nông hộ như: Nguồn nhân lực có sẵn, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cũng như chính quyền địa phương, kinh tế hộ nông dân ở huyện Xín Mần trong quá trình phát triển đã đạt được những thành tựu đáng nghi nhận Tuy nhiên bên cạnh
đó vẫn còn tồn tại rất nhiều khó khăn về kinh tế xã hội, đời sống của phần lớn dân
cư còn gặp rất nhiều khó khăn như diện tích đất sản xuất nông nghiệp tương đối thấp, địa hình bị chia cắt, manh mún gây khó khăn cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học vào quá trình sản xuất nên năng xuất đạt được chưa cao, trình độ dân trí người dân còn thấp, Vậy tình hình phát triển của kinh tế nông hộ ở đây ra sao? Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế nông hộ ở đây như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ ở địa phương? Tình trạng đói nghèo và nguyên nhân của đói nghèo như thế nào? Vì vậy việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ nông dân và đề xuất những giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân theo chiều hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa là hết sức cần thiết
Xuất phát từ lý do đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải
pháp phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng kinh tế nông hộ và phát triển kinh tế nông hộ của đồng
Trang 10bào dân tộc thiểu số (Nùng, Tày, Mông,…) đang sinh sống trên địa bàn nghiên cứu
- Phân tích những khó khăn, thách thức và yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế nông hộ tại địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
- Đề xuất giải pháp phát triển kinh tế nông hộ của đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Cập nhật và hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến kinh tế nông hộ, phát triển kinh tế nông hộ, nhất là kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu
số vùng cao, vùng biên giới ở nước ta
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề xuất giải pháp phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, biên giới Tác giả hy vọng rằng những giải pháp phát triển kinh tế mà đề tài luận văn đã đề xuất sẽ được chính quyền địa phương huyện Xín Mần (tỉnh Hà Giang) và các địa phương khác có điều kiện tương tự đón nhận và có thể tham khảo để vận dụng vào phát triển kinh tế-xã hội nói chung, phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm về hộ, hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân
1.1.1.1 Khái niệm hộ
Hộ đã có lâu đời cho đên nay nó vẫn tồn tại và phát triển Trải qua mỗi thời
kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo nhiều của cải vật chất để nuôi sống
và tăng thêm tích lũy cho gia đình và xã hội
Từ trước đến nay, có nhiều khái niệm về hộ:
Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà, nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”
Theo Liên hợp quốc: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ” (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4] Năm 1981, Harris (Lon don - Anh) trong tác phẩm của mình cho rằng: “Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động” và trên góc độ này, nhóm các đại biểu thuộc trường phái “Hệ thống thế giới” (Mỹ) có bổ sung thêm: “Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung” (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4]
Raul Ituna - trường Đại học Tổng hợp Lioobon khi nghiên cứu cộng đồng
nông dân trong quá trình quá độ ở một số nươc Châu Á đã chứng minh: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân của họ và cộng đồng” (trích theo
Tăng Ngọc Đức, 2012)[4]
Cần chú ý rằng, trên đây chỉ là nêu những khía cạnh về khái niệm hộ tiêu biểu nhất, khía cạnh nay hay khía cạnh khác hoặc khái quát chung nhưng vẫn còn chỗ dựa đồng nhất
Trang 12Từ các khái niệm trên cho thấy hộ có thể được hiểu như sau:
Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thông, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không phải cùng huyết thống (Con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài,…)
Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi vì hộ
là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là là một đơn vị kinh tế (Ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại đôc lập với nhau,…)
1.1.1.2 Hộ nông dân
Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” [5]
Theo ông Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” [9]
Theo Lê Đình Thắng (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4]: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”
Còn theo Nguyễn Sinh Cúc (2001)[1]: Trong phân tích điều tra nông thôn năm
2011 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”
V.I.Lênin (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4] cho rằng: “Cải tạo tiểu nông không phải là tước đoạt của họ mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ liên kết với nhau một cách tự nguyện để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chính họ”
- Hayami và Kikuchi (trích theo Chu Cao Vũ, 2005)[10]: Nghiên cứu sự
Trang 13thay đổi của kinh tế nông thôn Đông Nam Á và thấy rằng, áp lực dân số trên ruộng đất ngày càng tăng, lãi do đầu tư thêm lao động ngày càng giảm mặc dù có cải tiến
kỹ thuật, nhưng giá ruộng đất (địa tô) ngày càng tăng
- Năm 1989, Lipton cho rằng trong khoa học xã hội về phát triển nông thôn hiện nay, phổ biến ba cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận Macxit phân tích (Roemer - 1985), tiếp cận cổ điển mới (Krueger, 1974) và tiếp cận hàng hoá tập thể (Olson, 1982) Ba tiếp cận trên về mặt lý luận, trong thực tiễn đều thuộc về quan hệ giữa nhà nước và nông dân (trích theo Chu Cao Vũ, 2005)[10] Mối quan hệ đó, thường theo các hướng là tăng thặng dư kinh tế của nông thôn; chuyển thặng dư từ ngành này sang ngành khác; rút thặng dư và thúc đẩy việc luân chuyển Nhìn chung bất
cứ một quá trình phát triển nào cũng phải tăng thặng dư, quá trình này cần sự tác động của Nhà nước
Nghiên cứu khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả và theo nhận thức cá nhân tôi cho rằng:
Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập chủ yếu là nghề nông, ngoài ra họ có tham gia các hoạt động phi nông nghiệp như (dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp,…)
1.1.1.3 Kinh tế hộ nông dân
Chúng ta biết rằng: Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và
tự chủ trong nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn, của gia đình mình là chính
Theo Trần Văn Hà (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4] thì: “Kinh tế nông hộ
là đơn vị khai thác kinh doanh nông nghiệp của những người cùng sống chung một mái nhà Người chủ sản xuất là trưởng gia, là chủ hộ cùng những thân nhân sử dụng tổng hợp những yếu tố lao động, đất, vốn, phương tiện sản xuất tác động vào môi trường sinh thái để làm ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất của gia đình và cộng đồng xã hội”
C.Mác (trích theo Tăng Ngọc Đức, 2012)[4] khẳng định kinh tế nông hộ là
nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá khác với nền kinh tế tiểu nông tự cấp, tự túc Ông đã phân biệt người chủ nông hộ với người tiểu nông; người chủ nông hộ bán
Trang 14ra thị trường toàn bộ sản phẩm làm ra; người tiểu nông tiêu dùng toàn bộ sản phẩm làm ra và mua bán càng ít càng tốt
Tại Điểm 1, mục II của Nghị quyết số: 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000:
“Kinh tế nông hộ là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”
Kinh tế hộ nông dân có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, hoạt động gia đình hay là lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống
- Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ
- Kinh tế hộ nông dân chủ yếu sử dụng lao động gia đình, người nông dân là chủ thật sự của quá trình sản xuất, trực tiếp tác động vào sinh trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian Việc thuê mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình Họ làm việc không kể giờ giấc, hiệu quả sử dụng lao động rất cao
- Cấu trúc lao động của kinh tế hộ nông dân đa dạng, phức tạp Trong một hộ
có nhiều loại lao động vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý vừa có khả năng tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất
- Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại
1.1.1.4 Phát triển và phát triển kinh tế
Trong những thuật ngữ khoa học “phát triển” được biểu thị như tiến trình
đưa xã hộ lên một trình độ cao hơn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Quá trình phát
Trang 15triển của xã hội bao gồm cả phát triển kinh tế văn hóa xã hội và chính trị
Như vậy có thể định nghĩa về phát triển “Phát triển là một quá trình thay đổi làm tăng cường mức sống của con người”
Phát triển kinh tế là sự gia tăng về số lượng và sự thay đổi về chất lượng của đời sống kinh tế-xã hội Phát triển kinh tế và sự tăng lên về cơ sở vật chất và sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao (Phạm Thị Lý, Nguyễn Thị Yến và cs, 2016 [7]
Như vậy, phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả
sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng kinh tế) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế-xã hội
Nội dung của phát triển kinh tế bao gồm:
- Tăng trưởng kinh kế Muốn phát triển các mặt của đời sống kinh tế-xã hội trước hết xã hội phải cần có thêm của cải, tức là năng lực của nền sản xuất phải được mở rộng hay nền kinh tế phải tăng trưởng
- Cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi theo hướng tiến bộ
- Những tiến bộ kinh tế chủ yếu phải xuất phát từ động lực nội tại Nền kinh
tế tăng trưởng, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi tiến bộ chủ yếu phải do các nguyên nhân bên trong, do các nguồn lực nội tại
- Chất lượng cuộc sống cư dân không ngừng được cải thiện và nâng cao Như vậy, khái niệm phát triển kinh tế bao trùm và rộng hơn khái niệm tăng trưởng kinh tế, vì tăng trưởng kinh tế mới chỉ đề cập đến những thay đổi về lượng của nền kinh tế và phát triển kinh tế không những đề cập tới những thay đổi về lượng, mà còn bao hàm cả những thay đổi về chất của nền kinh tế (Phạm Thị Lý, Nguyễn Thị Yến và cs, 2016)[7]
1.1.2 Vai trò, sự cần thiết phát triển kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nền sản xuất hàng hoá, vì vậy nó có vai trò hết sức to lớn trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm cung cấp cho xã hội Kinh tế hộ là tế bào quan trọng để phát triển nông nghiệp nông thôn, thực hiện sự phân công lao động của xã hội
Trang 16- Kinh tế hộ có vai trò quan trọng trong việc khôi phục, bảo vệ và phát triển môi trường, xây dựng và phát triển nông thôn mới
- Phát triển kinh tế hộ nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm Kinh tế hộ cũng sẽ đi đầu trong việc thâm canh tăng năng suất, ứng dụng công nghệ mới, sử dụng giống mới, sử dụng phân bón thuốc hoá học một cách hợp lý, yêu cầu nhiều hơn đối với dịch vụ và đầu vào
- Kinh tế hộ nông dân góp phần tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho người lao động khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo
Như vậy, phát triển kinh tế hộ góp phần bảo vệ môi trường, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ giới hóa nông nghiệp, kích thích các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp và các ngành dịch vụ nông nghiệp phát triển do đó thúc đẩy quá trình CNH - HĐH nông thôn Việt Nam
Các đặc trưng của kinh tế hộ
- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất nhỏ nhưng lại rất hiệu quả, dù quy mô nhỏ nhưng vẫn có thể áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động
- Kinh tế nông hộ quy mô nhỏ không đồng nghĩa với sự lạc hậu, năng suất thấp
- Kinh tế nông hộ không có khả năng sản xuất cao, không có biểu hiện của sản xuất lớn
- Kinh tế hộ sử dụng lao động và tiền vốn của chủ hộ là chủ yếu
- Kinh tế nông hộ dựa vào nguồn lực của gia đình để tạo ra thu nhập phục vụ cho cuộc sống gia đình họ
- Hộ không thuê lao động hoặc thuê lao động ngoài không đáng kể, vốn sản xuất chủ yếu do hộ tự tích lũy Nếu có vay thì chỉ vay với lượng nhỏ để kịp thời vụ
- Trong kinh tế hộ nông dân có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu quá trình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất
- Sở hữu trong hộ nông dân là sở hữu chung của các thành viên trong gia đình, trong nông hộ
- Các thành viên trong nông hộ đều quen với việc sử dụng những tư liệu sản
Trang 17xuất và tài sản, họ hiểu rõ đặc tính của từng loại tài sản
- Trong nông hộ chủ hộ vừa là người điều hành vừa là người trực tiếp tham gia lao động sản xuất
- Trong hộ mọi người gắn bó chặt chẽ với nhau qua quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống
- Trong nông hộ, lao động có tính chất rất cao, mọi người làm việc với tư cách người chủ giúp đỡ lẫn nhau, phù hợp với diều kiện từng người
- Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao
+ Do kinh tế hộ có quy mô nhỏ nên dễ điều chỉnh hơn so với các doanh nghiệp nông nghiệp khác
+ Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những sinh vật, chúng phát triển theo những quy luật sinh học nhất định
+ Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu đặc biệt chủ yếu, có giới hạn về diện tích, có vị trí cố định và chất lượng không đều, điều đó đòi hỏi người sản xuất phải biết bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp, khai thác, sử dụng hợp lý đất đai
- Kinh tế hộ có sự gắn kết chặt chẽ giữa kết quả sản xuất và lợi ích người lao động + Trong kinh tế hộ, mọi người gắn kết với nhau trên cả cơ sở kinh tế lẫn huyết tộc và có chung ngân quỹ nên dễ dàng có sự nhất trí đồng tâm chặt chẽ cùng nhau phát triển
+ Trong nông hộ, mọi người có quyền tham gia phân phối kết quả sản xuất
mà không phụ thuộc vào mức độ đóng góp vào sản xuất
1.1.3 Phân loại hộ nông dân
1.1.3.1 Phân loại căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động
Dựa vào mục tiêu và cơ chế hoạt động, hộ gồm 2 loại:
- Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa chủ yếu Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động
Trang 181.1.3.2 Phân loại theo tính chất của ngành sản xuất của hộ
Theo cách phân loại này gồm có 4 loại:
- Hộ thuần nông: Là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp
- Hộ chuyên nông: Là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc, rèn, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng thủ công mỹ nghệ, dệt, may…
- Hộ kiêm nông: Là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp nhưng thu từ nông nghiệp là chính
- Hộ buôn bán: Là loại hộ buôn bán là chính, ở nơi đông dân cư, có quầy hàng…
Theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
Chủ nông hộ sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất từ đất đai, công cụ máy móc đến chuồng trại, kho bãi,…
Chủ nông hộ chỉ sở hữu một phần tư liệu sản xuất, một phần đi thuê của người khác Chủ nông hộ hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mà đi thuê toàn bộ các cơ
sở của nông hộ khác hoặc của Nhà nước để sản xuất
1.1.3.4 Theo phương thức điều hành sản xuất
Chủ nông hộ sống cùng gia đình ở nông thôn, trực tiếp điều hành sản xuất và trực tiếp lao động
Nông hộ ủy thác, ủy nhiệm ruộng đất và tư liệu sản xuất của mình cho anh
em, họ hàng, bạn bè thân thiết còn ở tại quê để tiếp tục canh tác
1.1.3.5 Phân loại căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ
Nông hộ thuần nông: Ở những nước nông nghiệp kém phát triển, nguồn sống chính dựa vào nông nghiệp thì đương nhiên cơ cấu thu nhập của các nông hộ dựa hoàn toàn hay phần lớn vào nông nghiệp
Trang 19Nông hộ có thu nhập chủ yếu ngoài nông nghiệp: Các nông hộ này thường là các nông hộ quy mô nhỏ, thu nhập từ nông nghiệp không đáp ứng được các nhu cấu nên phải đi làm thêm ngoài nông hộ trên địa bàn nông thôn, có khi vào cả thành phố hay các tỉnh, các khu công nghiệp tìm việc làm để tăng thu nhập
1.1.4 Tại sao phải nghiên cứu kinh tế nông hộ
Sở dĩ phải nghiên cứu kinh tế nông hộ vì những lý do sau:
- Nông hộ chính là thực thể kinh tế văn hóa xã hội chủ yếu ở nông thôn
- Kinh tế nông hộ không thể tách rời nền kinh tế quốc dân
- Khoa học kinh tế nông hộ là nền tảng cho việc xem xét, phân tích, đánh giá
và xây dựng chiến lược phát triển nông thôn
1.1.5 Vì sao kinh tế hộ tồn tại
Kinh tế hộ tồn tại bởi những nguyên nhân sau:
- Nông dân tự duy trì được tái sản xuất giản đơn do họ có tư liệu sản xuất chủ yếu như đất đai và lao động Nhờ đó họ có thể chủ động tiến hành tổ chức sản xuất
- Trong quá trình tồn tại và phát triển, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất trong sản xuất của các hộ
- Quá trình tập trung hóa ruộng đất và một số người bị hạn chế vì đất đai bị chia nhỏ do quá trình canh tác hộ và sự kế thừa
- Nông dân có thể vượt qua các áp lực, xô đẩy của thị trường nhờ có sử dụng nguồn lao động trong phạm vi của hộ
- Nông dân có khả năng đa dạng hóa các hoạt động kinh tế ở hộ như phát triển trồng trọt, chăn nuôi, nông nghiệp, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp để sử dụng triệt để sức lao động, đất đai, vốn liếng của hộ vào sản xuất để tăng thu nhập
1.1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân
1.1.6.1 Nhóm nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đất đai
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự phát triển của kinh tế hộ nông dân Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi như: Gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần các khu công nghiệp, đô thị lớn,… sẽ có điều kiện phát triển kinh tế hơn những
Trang 20vùng xa xôi hẻo lánh Ngành sản xuất chủ yếu của hộ nông dân là nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong quá trình sản xuất
- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Điều kiện thời tiết, khí hậu, lượng mưa nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,… có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Thực tế cho thấy ở những nơi có thời tiết khí hậu thuận lợi, có tài nguyên phong phú sẽ hạn chế những bất lợi và rủi ro, có cơ hội hơn trong phát triển kinh tế
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế hộ nông dân, nhất là nguồn nước Bởi vì những loại cây trồng và gia súc tồn tại theo quy luật sinh học, nếu môi trường thuận lợi thì cây trồng, vật nuôi phát triển tốt, năng suất cao, còn ngược lại sẽ chậm phát triển, năng suất thấp từ đó dẫn đến hiệu quả sản xuất kém
1.1.6.2 Nhóm nhân tố thuộc kinh tế và tổ chức, quản lý
Đây là nhóm yếu tố có liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu có
ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế
hộ nông dân nói riêng
- Trình độ học vấn và kỹ năng lao động
Người lao động phải có trình độ học vấn kỹ năng lao động để tiếp thu những tiến bộ KHKT và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới có thể mạnh dạn áp dụng những thành tựu KHKT vào sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận cao Điều này là rất quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất kinh doanh của hộ, ngoài ra còn phải có những tố chất của một người dám kinh doanh
- Vốn
Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là điều kiện đảm bảo cho các hộ nông dân về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng như thuê nhân công để tiến hành sản xuất Vốn là điều kiện không thể thiếu, là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm
- Công cụ sản xuất
Trong quá trình sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, công
Trang 21cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật sản xuất Muốn sản xuất có hiệu quả, năng xuất cao cần phải sử dụng các công cụ phù hợp Ngày nay với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả cao cho các hộ nông dân trong sản xuất Năng suất cây trồng vật nuôi không ngừng tăng lên, theo đó chất lượng cũng được nâng cao, do vậy công cụ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả trong sản xuất kinh tế của nông hộ
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng trong nông thôn bao gồm: Đường giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, trang thiết bị nông nghiệp,… Đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển sản xuất kinh tế hộ nông dân, nơi nào có cơ sở hạ tầng đảm bảo, được trú trọng vào quy hoạch thì các hoạt động sản xuất cũng dễ dàng hơn kéo theo đó thu nhập người dân cũng tăng đời sống của nông hộ được ổn định và cải thiện đáng kể
- Thị trường
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì? với số lượng bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng như thế nào? trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị trường cần trong điều kiện sản xuất của họ, từ đó kinh tế hộ nông dân mới có điều kiện phát triển Thị trường là yếu tố quyết định đến lợi nhuận sản phẩm của nông hộ nên nó góp phần rất quan trọng nơi nào gần thị trường tiêu thụ thì sẽ gặp rất nhiều thuận lợi như: Không mất thời gian và chi phí vận chuyển, sản phẩm được tiêu thụ nhanh hạn chế bị hư hỏng
- Hình thức và mức độ liên kết hợp tác trong mối quan hệ sản xuất kinh doanh
Để đáp ứng nhu cầu thị trường về sản xuất hàng hóa, các hộ nông dân phải liên kết hợp tác với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và giúp nhau tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra các hộ cần hợp tác với các tổ khác để nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế
1.1.6.3 Nhóm nhân tố thuộc khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Kỹ thuật canh tác
Do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng khác nhau, với yêu cầu
Trang 22giống cây trồng, vật nuôi khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông hộ
- Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật,
vì nó đã tạo ra cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt Thực tế cho thấy những hộ biết áp dụng tiến bộ kỹ thật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, giám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất thì đạt hiệu quả kinh tế cao và lợi nhuận lớn từ các sản phẩm nông nghiệp
1.1.6.4 Nhóm nhân tố thuộc quản lý vĩ mô của Nhà nước
Nhóm nhân tố này bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước như: Chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá nông sản phẩm, miễn thuế dòng sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới,… các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế nông hộ và là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp có hiệu quả và sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông dân phát triển kinh tế
Tóm lại: Từ các yếu tố ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế hộ nông dân,
có thể khẳng định hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc muốn phát triển kinh tế cần phá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất với quy mô lớn và chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến bộ kỹ thật mới vào sản xuất để kinh tế hộ hoạt động có hiệu quả
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Khái quát sự phát triển của kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới và nước ta
1.2.1.1 Sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới
Quá trình phát triển kinh tế hộ trên thế giới diển ra mạnh mẽ từ những hộ phát triển sản xuất từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, từ sản xuất tiểu nông sang sản xuất trang trại Mặc dù trong nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới tồn tại nhiều hình thức sản xuất khác nhau, song các hộ nông dân, các trang trại gia đình
Trang 23vẫn là lực lượng chủ yếu sản xuất ra các mặt hàng nông sản phẩm, đáp ứng cho nhu cầu về lượng thực, thực phẩm của con người Các hộ nông dân đang đóng một vai trò chủ lực trong nền kinh tế sản xuất nông nghiệp trên thế giới Từ những năm
1980 kinh tế hộ được đánh giá là kinh tế phụ gia đình, nhưng trên thực tế nó lại đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Thái Lan
Thái Lan là một nước có nền nông nghiệp phát triển, đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, chất lượng xuất khẩu gạo của Thái Lan cũng rất cao, đáp ứng nhu cầu của phần lớn khách hàng trên thế giới Để trở thành một nước có nền nông nghiệp phát triển, Chính phủ Thái Lan đã có những chính sách rất cụ thể nhằm phát triển kinh tế nông thôn nói chung và kinh tế nông hộ nói riêng
Về vấn đề đầu tư: Thái Lan đã đầu tư một lượng vốn lớn cho việc xây dựng
cơ sở hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi,… tạo cơ sở vững chắc cho việc phát triển nông nghiệp Bên cạnh đó, Thái Lan còn xây dựng một loạt các hệ thống dịch vụ nhằm cung cấp thông tin, vật tư, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các
hộ và nông trại
Về chính sách tín dụng: Thái Lan đã hướng dẫn nông dân tự thu hút vốn, đồng thời Chính phủ Thái Lan còn ưu tiên cung cấp tín dụng qua các tổ chức của Chính phủ
Về thị trường: Thái Lan mở rộng thị trường trong nước và quốc tế, giúp nông dân tiếp cận với thị trường bằng cách xây dựng các hệ thống đại lý,… Nhờ vậy, nông dân Thái Lan có thể biết được các thông tin thị trường một cách nhanh chóng, chính xác, điều này đã giúp họ hạn chế được tình trạng ép cấp, ép giá của tư thương
và các tổ chức trung gian
Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn có chính sách bình ổn giá để bảo vệ lợi ích của nông dân Trong thời kỳ "Cách mạng xanh", Chính phủ cho phép nhập khẩu phân bón và một số vật tư khác mà không tính thuế
Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Đài Loan
Đài Loan là khu vực có nền kinh tế phát triển, đặc biệt sau cải cách ruộng đất, kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Đài Loan phát triển rất mạnh
Trang 24Để phát triển kinh tế nông hộ, Đài Loan đã lập ra một tổ chức có tên gọi là:
“Nông phục hồi", tổ chức này đứng ra lập kế hoạch, chỉ đạo sản xuất, cố vấn phát triển và làm khâu trung gian chuyển giao kỹ thuật cho nông dân Để thành công trong sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế nông hộ nói riêng Đài Loan đã tiến hành các biện pháp:
- Tiến hành cải cách ruộng đất, giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân, thực hiện "Người làm có ruộng" Sau cải cách tỷ lệ tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp đạt 5,3% một năm và liên tục tăng suốt 15 năm
- Tiến hành cuộc: "Cách mạng xanh", đây là cuộc cách mạng về giống và đã tạo được nhiều giống mới có năng suất cao Trong khi đó, Chính phủ Đài Loan lại
cố định mức thuế nông nghiệp, làm cho sản xuất của nông dân mang lại lợi nhuận cao hơn, nông hộ phấn khởi và càng tích cực sản xuất
- Không ngừng phát triển kinh tế hợp tác xã và các hiệp hội ở nông thôn, tiến hành công nghiệp hoá nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập Mặt khác lại tiến hành điện khí hoá và chuyện môn hoá sản xuất, mở rộng thị trường với nước ngoài
Qua thực hiện các biện pháp trên, kinh tế nông hộ của Đài Loan đã phát triển vượt bậc
Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Trung Quốc
Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới, với trên 1,5 tỷ người, trong
đó có hơn 900 triệu người là nông dân Chính vì vậy, việc giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm là một yêu cầu hết sức cấp thiết Để giải quyết vấn đề này, Trung Quốc rất quan tâm đến vấn đề kinh tế nông hộ Coi việc phát triển kinh tế nông hộ
là vấn đề phát triển hàng đầu của đất nước Nhờ có chủ trương đúng và bước đi thích hợp nên trong vòng 15 năm trở lại đây, kinh tế nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc đã thu được những thành tựu hết sức to lớn
Để đưa kinh tế nông hộ phát triển, Trung Quốc đã hướng vào 3 mũi nhọn sau: đưa ra các chính sách, đầu tư, và tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật
Trung Quốc đã xác định 8 quan điểm phát triển kinh tế nông thôn nói chung
và kinh tế nông hộ nói riêng như sau:
+ Cải cách nông thôn phải tiếp tục ổn định cơ chế khoán hộ, không ngừng
Trang 25hoàn thiện cơ chế kinh doanh 2 tầng, kết hợp giữa thống nhất và phân tán, tích cực phát triển hệ thống dịch vụ xã hội hoá, hướng dẫn nông dân phát triển kinh tế theo con đường giàu có chung
+ Xây dựng kinh tế phải thực sự đặt nông nghiệp lên vị trí hàng đầu, không được coi nhẹ vị trí cơ sở của nông nghiệp
+ Xây dựng và chấp hành chính sách nông thôn, phải đảm bảo lợi ích vật chất và quyền lợi dân chủ về chính trị của nông dân
+ Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, phải kiên trì chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật và giáo dục, chấn hưng nông nghiệp…
+ Phát triển kinh tế hàng hoá ở nông thôn phải tôn trọng quy luật giá trị + Phải khống chế sự gia tăng nhân khẩu, khai thác hợp lý tài nguyên,… + Phải tăng cường tổ chức cơ sở Đảng, làm hạt nhân tăng cường công tác chính trị tư tưởng, kiên trì xây dựng đời sống văn minh về vật chất và tinh thần
+ Chỉ đạo công tác nông thôn phải kiên trì đưòng lối quần chúng, xuất phát
từ tình hình thực tế để chỉ đạo một cách thích hợp, hiệu quả, không vi phạm ý nguyện của quần chúng và thái độ chủ quan, giáo điều, dập khuôn
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế nông nghiệp và nông thôn, nhờ có sự thành công của chính sách đổi mới, bộ mặt nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã thay đổi hoàn toàn, từ một nước thiếu đói thành một nước phát triển Ngày nay, Trung Quốc trở thành một nước mạnh kinh tế, vững về an ninh chính trị
Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở Hàn quốc
Quan điểm của Hàn Quốc là không gọi đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp
vì lo ngại lợi nhuận các công ty hưởng, còn nông dân suốt đời làm thuê Chủ trương của họ là đầu tư hạ tầng để nông dân tự mình đứng lên, sản xuất chế biến tại chỗ, nông dân là người chủ đích thực Cùng với đó, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản, Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác
Năm 2005 Nhà nước có hẳn đạo luật: Mọi hoạt động của các bộ, ngành, chính quyền phải hướng về nông dân Mỗi làng một doanh nghiệp hoặc vài doanh
Trang 26nghiệp gắn đầu vào và đầu ra cho sản phẩm Các ngành phải trợ giúp nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân và ngư dân Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, nông dân Hàn Quốc bắt đầu sử dụng công nghệ tiên tiến để sản xuất nông sản có chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và thân thiện với môi trường
Trên đây là những kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở một số nước trong khu vực có điều kiện tự nhiên gần giống với nước ta Qua việc tìm hiểu, xem xét những kinh nghiệm đó chúng ta có thể tìm thấy những bài học quý giá, đồng thời xác định sự khác biệt về đặc điểm kinh tế xã hội riêng của nước mình để đưa ra những chủ trương đường lối phát triển sao cho phù hợp
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu về phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam
Quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở nước ta gắn liền với quá trình phát triển kinh tế của đất nước Trải qua các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, kinh
tế nông hộ ở nước ta có thời kỳ tưởng như không thể tồn tại được do các yếu tố chủ quan và khách quan, song kinh tế nông hộ vẫn thể hiện sức sống dẻo dai của nó Đại
bộ phận kinh tế nông hộ còn lạc hậu, thuần nông, tự cấp, tự túc Giờ đây với đầy sinh lực, kinh tế nông hộ đang góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển nông nghiệp và nông thôn nói riêng, nền kinh tế xã hội ở nước ta nói chung
Hình thức kinh tế nông hộ ở nước ta đã xuất hiện sơ khai từ đời Lý, Trần,…
trải qua các thời kỳ lịch sử, kinh tế nông hộ có các tên gọi khác nhau như “Thái ấp”,
“Điền trang” , “Đồn điền”,… Trước cách mạng và trong thời kỳ kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ có nông trại, đồn điền của địa chủ, chủ nông, chủ tây Các nông trại này phần lớn sử dụng lao động làm thuê từ tá điền, cũng là kiểu phát canh thu tô
và công cụ sản xuất thủ công, sủ dụng sức người, sức vật, sản xuất mang tính quảng canh, độc canh một số cây ngắn ngày là chính Bên cạnh đó còn có kinh tế nông trại của những nhà tư sản trong nước và nước ngoài, một số tướng lính thời ngụy làm ăn kinh tế Hình thức nông trại ở dạng các xí nghiệp nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, đồn điền cao su, cà phê và những cây công nghiệp khác phục vụ cho mục đích làm giàu của chung
Sau cải cách ruộng đất ở Miền Bắc (1956) đa số hộ nông dân đều có đất, họ trực tiếp sản xuất nông nghiệp Ở giai đoạn này, sản xuất nông hộ hoàn toàn mang
Trang 27tính cá thể
Giai đoạn 1960 - 1980: ở thời kỳ này, các HTX sản xuất nông nghiệp đựơc thành lập, các hộ nông dân góp đất của mình vào HTX, họ cũng trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng theo hình thức hợp tác Họ thực hiện các công việc do ban quản trị, tổ, đội của HTX điều hành và được hưởng thù lao theo phân phối của HTX Với hình thức như vậy, kinh tế nông hộ được coi là "Kinh tế phụ" và tồn tại khá lâu
Tiếp sau đó, ngày 13/11/1981 Chỉ thị 100 - CT/TW về "Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp" ra đời, tạo cho nền kinh tế của các nông hộ được khôi phục và phát triển nhanh chóng Kinh tế hộ gia đình phát triển và trở thành một đơn vị kinh tế cơ bản ở nông thôn Sau một thời gian thực hiện chỉ thị 100 CT/TW bắt đầu bộc lộ những điểm không phù hợp với thực tiễn đề ra Do đó, từ những năm 1986 - 1987 sản lượng nông nghiệp bắt đầu sững lại và giảm sút (sản lượng lương thực quy thóc năm 1986 là 18.379 triệu tấn, năm 1987 giảm còn 17.562 triệu tấn (số liệu tổng cục thống kê)) Nền kinh tế tiếp tục trì trệ, khủng hoảng Vấn đề đặt ra là phải xem lại các chính sách nông nghiệp mà trước hết là chính sách về ruộng đất, vì ruộng đất là mối quan tâm hàng đầu của người nông dân Để khắc phục những hạn chế của Chỉ thị 100, trên cơ sở thực tế ở nhiều địa phương, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị ngày 05/4/1988 ra đời với nội dung quan trọng là: Hoàn thiện và nâng cao cơ chế khoán sản phẩm trong nông nghiệp Từ đó kinh tế hộ nông dân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta
Giai đoạn 1986 - 2000, thời kỳ này sản xuất nông nghiệp liên tục phát triển, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng khá cao, lương thực bình quân theo đầu người tăng liên tục từ 324 kg (1990) lên 440 kg (2000) Nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu cũng không ngừng tăng như cà phê, chè búp, mủ cao su, hạt điều,… đưa tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm, thuỷ sản tăng lên nhanh chóng
Giai đoạn 2000-2016, đây là giai đoạn có bước chuyển biến rõ nét từ sản xuất tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hoá, hình thành được các vùng sản xuất hàng hoá tập trung với quy mô lớn bằng giống mới năng suất, chất lượng cao cho nông nghiệp đối với cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả (trong đó tập trung phát
Trang 28triến mạnh cây ăn quả ôn đới), các sản phẩm trong chăn nuôi để chuyển dịch mạnh
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác
Quá trình đổi mới, sản xuất nông nghiệp ở Việt nam đã hình thành các vùng chuyên canh tập trung sản xuất với quy mô lớn như: Sản xuất lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long, cà phê ở Tây Nguyên, các vùng sản xuất rau và hoa chất lượng cao,… Các vùng sản xuất các hàng hoá này có tỷ suất hàng hoá khá cao, chất lượng một số sản phẩm ngày càng có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường lại có vẻ đẩy nông dân gặp trở ngại là thu nhập thấp Theo Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2015)[11]: Thu nhập thấp của những hộ gia đình nông thôn phụ thuộc vào nông nghiệp đang là vấn
đề thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách cũng như các dự án phát triển kinh tế nông thôn của Việt Nam Dự án điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam (VARHS) giúp đưa ra các bằng chứng từ thực tế những vấn đề mà
hộ gia đình nông thôn đang gặp phải để giúp hỗ trợ cho các nhà hoạch định chính sách trong quá trình ra quyết định [11] Vì vậy nâng cao thu nhập của hộ nông thôn đang là vấn đề cần được nghiên cứu tìm giải pháp khắc phục
Tóm lại, trong thời kỳ đổi mới, kinh tế nông hộ đã thực sự phát triển, nông
nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu nổi bật so với các thời kỳ trước, rõ nét nhất là: Sản xuất lương thực tăng nhanh, đảm bảo giữ vững an ninh lương thực quốc gia, từ một nước nhập khẩu gạo trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới Những thành tựu đó đã tạo ra thế và lực mới để đưa nông nghiệp nước ta vững bước tiến vào thiên niên kỷ mới, theo hướng sản xuất hàng hoá với tốc độ cao và vững chắc, góp phần đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, cần nghiên cứu các giải pháp để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho hộ gia đình nông dân nước ta đang được đặt ra một cách cấp bách
1.2.1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở một số địa phương
a Huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang
Hoàng Su Phì là một trong 2 huyện vùng cao biên giới phía tây của tỉnh Hà Giang Đây là địa bàn cư trú lâu đời của 13.649 hộ gia đình với 66.258 nhân khẩu thuộc các dân tộc Dao, Tày, Nùng, Mông, Cờ Lao, La Chí, Đây cũng là một trong
Trang 29những địa phương có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt thuộc diện đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết 30a của Chính phủ Theo thống kê đến cuối năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện chiếm 53,19% Thu nhập bình quân đầu người đạt 14,9 triệu đồng Đến nay đã có 100% các xã trong Huyện có đường ô tô đến trung tâm xã (Trong đó có 23/25 xã có đường nhựa hoặc đường bê tông), hệ thống trường lớp học, trạm xá bệnh viện, điện lưới Quốc gia được xây dựng đã làm thay đổi về cơ bản bộ mặt của nông thôn huyện Hoàng Su Phì
Nông - Lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu Kinh tế của huyện (43,1%)
Từ năm 2004 đến nay, huyện chủ trương kêu gọi đầu tư theo hướng liên doanh liên kết trong chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, từng bước chuyển đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, đồng thời qua đó xây dựng tác phong công nghiệp trong lao động sản xuất của nhân dân, từng bước thay đổi cơ cấu Kinh tế mang tính bền vững, mang lại hiệu quả thiết thực đối với cuộc sống của nhân dân các dân tộc trong huyện
Với lợi thế của mình những năm qua, huyện đã có nhiều giải pháp phát triển kinh tế, lấy kinh tế hộ nông dân làm mũi nhọn, làm ra phong trào làm kinh tế hộ nông dân vừa và nhỏ theo định hướng hàng hóa Những mô hình kinh tế hộ đã trở thành điểm mẫu để người nông dân trong thôn, xã học hỏi và nhân rộng thành phong trào đều khắp toàn huyện
Xác định xây dựng các mô hình phát triển kinh tế là bước đi quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho người dân, thời gian qua, các xã, thị trấn của huyện Hoàng Su Phì đã triển khai và nhân rộng nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp cho hiệu quả kinh tế Đây cũng là một trong những giải pháp để thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp phát triển bền vững
Các mô hình kinh tế đều có sự liên kết giữa các hộ với nhau, tạo ra một lượng hàng hóa nhất định có sự thống nhất về giá cả cho từng loại sản phẩm, đủ điều kiện để cung cấp cho thị trường hay tư thương theo từng chu kỳ chăn nuôi hay mùa vụ sản xuất Để trao đổi hàng hóa thuận lợi, huyện Hoàng Su Phì xây dựng hàng chục chợ xã và cụm ngoài xã những chợ truyền thống, đây vừa là đầu mối thu gom tiêu thụ sản phẩm vừa là những “vệ tinh” kinh tế, giúp người nông dân tiêu thụ
Trang 30sản phẩm một cách nhanh chóng và đúng giá Đồng thời các chợ đầu mối này cũng
là nơi thu hút các nhà đầu tư các doanh nghiệp, tư thương có cái nhìn đúng, đánh giá chính xác để đầu tư chế biến các mặt hàng nông lâm sản ở từng khu vực và mô hình kinh tế trên địa bàn huyện
Theo báo cáo kết quả xây dựng các mô hình phát triển kinh tế của huyện, hiện địa phương có trên 20 mô hình kinh tế nông nghiệp được tổng kết, đánh giá đạt kết quả cao Điển hình là mô hình trồng ngô che phủ ni-lông tại xã Sán Sả Hồ, năng suất đạt 65 tạ/ha, giá trị thu nhập đạt gần 25 triệu đồng/ha; mô hình trồng củ cải trái
vụ gắn với thu mua và chế biến, năng suất đạt 5,5 tấn củ tươi/ha, giá trị thu nhập đạt 27,5 triệu đồng/ha; mô hình trồng dưa hấu tại xã Bản Luốc, sản lượng đạt 15 tấn/ha, lãi thuần thu được trên 80 triệu đồng, cao gấp 3 lần so với trồng lúa; mô hình đầu tư phát triển chè hữu cơ, VietGap và chuỗi giá trị cây Thảo quả; mô hình chăn nuôi trâu, bò, ngựa, dê theo hướng hàng hóa tại các gia đình,
Các mô hình sản xuất được triển khai không những đã, đang góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương mà còn giúp nhiều hộ dân thoát nghèo, từng bước vươn lên làm giàu Để các mô hình sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế, nhiều xã, thị trấn làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia các phong trào thi đua sản xuất; tích cực phối hợp với Hội Nông dân huyện và các ngành chuyên môn tổ chức cho bà con nông dân học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình hiệu quả ở trong và ngoài tỉnh; tổ chức tập huấn, chuyển giao KHKT đến từng nhóm hộ; chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể để tổ chức thực hiện Mặt khác, huyện cũng thực hiện lồng ghép các chương trình khuyến nông để hỗ trợ trực tiếp bằng cây, con giống, phân bón cho người nông dân Nhờ vậy, nhiều hộ đã đổi mới tư duy, mạnh dạn đầu tư phát triển kinh tế; xây dựng các mô hình kinh tế trang trại, gia trại theo hướng đa canh, đa con; ứng dụng KHKT vào sản xuất, chăn nuôi, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm,
Thời gian tới, huyện sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp; chỉ đạo các địa phương tăng cường áp dụng kỹ thuật tiến bộ, chuyên môn hóa các khâu sản xuất nhằm phát triển nông nghiệp theo chiều sâu;
Trang 31nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả, nhất là các mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; khắc phục việc sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, có giải pháp xây dựng các tổ hợp tác tiến dần việc hình thành hợp tác xã; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; quy mô đầu tư cho mô hình cần được nâng lên để sản phẩm thành hàng hóa, đặc biệt là có sự liên kết “4 nhà” để đầu ra sản phẩm ổn định
Bên cạnh đó chủ trương cho vay hộ sản xuất trong 15 năm qua ở địa phương
là chính sách tín dụng ngân hàng đã đến với 100% thôn xóm, làm thay đổi hản quan niệm, nhận thức của các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội và nhất là các người dân về tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi hộ nông dân nói riêng và của cả địa phương nói chung Đây chính là bài học kinh nghiệm để trong thời gian tới, ngân hàng tiếp tục chính sách đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương chính sách tín dụng tới mọi địa bàn, phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với các cấp các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội triển khai nhanh chóng kịp thời và hiệu quả nguồn vốn vay đến các hộ nông dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ thúc đẩy phát triển kinh tế, đóng góp tích cực cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
b Huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái
Mù Cang Chải là huyện vùng cao tỉnh Yên Bái, trên 91% là đồng bào dân tộc Mông, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội còn khó khăn Nhờ thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp lồng ghép các dự án, chương trình hỗ trợ, nhất là Chương trình 135 đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo đối với người dân vùng cao Mù Cang Chải
Mù Cang Chải là huyện khó khăn nhất của tỉnh Yên Bái, nằm trong 62 huyện nghèo đặc biệt khó khăn của cả nước; 100% số xã có đồng bào dân tộc Mông sinh sống tập trung; địa hình phức tạp, phân tán, bị chia cắt mạnh, chủ yếu là núi cao, độ dốc lớn, không có nhiều đất dành cho sản xuất nông nghiệp; khí hậu khắc nghiệt; giao thông khó khăn; trình độ dân trí thấp; tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu…
Trong những năm qua, bên cạnh tổ chức thực hiện hiệu quả các chính sách của Trung ương, Tỉnh ủy Yên Bái đã tập trung chỉ đạo, ban hành nhiều chủ trương,
Trang 32chính sách, đồng thời huy động nguồn lực giải quyết những vấn đề trọng tâm, cấp bách để thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đối với huyện đặc biệt khó khăn
Mù Cang Chải Với tinh thần cương quyết trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện triệt
để việc xóa bỏ tình trạng trồng cây thuốc phiện Ủy ban nhân dân tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo 138 cấp tỉnh, xây dựng kế hoạch phòng, chống tệ nạn xã hội về ma túy;
tổ chức triệt phá, chống trồng và tái trồng cây thuốc phiện trên địa bàn hai huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải Giai đoạn 2006-2010, đã kiểm tra, phá bỏ trên 1,6 triệu m2 cây thuốc phiện, đồng thời tích cực tuyên truyền vận động người dân tự giác phá bỏ, không tái trồng cây thuốc phiện, không tàng trữ và buôn bán trái phép các chất ma túy Để duy trì được kết quả đó, nhiều dự án, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân đã được triển khai, giúp đồng bào thay đổi tập quán canh tác phát triển kinh tế, đảm bảo đời sống
Về phát triển kinh tế ở vùng cao, Yên Bái đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa theo hướng tập trung, bước đầu tạo được thương hiệu nông sản hàng hoá như: vùng lúa, vùng chè, vùng cây ăn quả Trong đó, đáng lưu ý nhất là tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt việc chuyển đổi từ trồng lúa nương kém hiệu quả sang trồng ngô đồi, không chỉ đơn thuần là giải quyết lương thực cho người dân mà đã từng bước chuyển thành vùng ngô hàng hóa tại 3 huyện Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải Cùng với đó vùng cây sơn tra ở 2 huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải; vùng chè ở Suối Giàng, Phình Hồ, Púng Luông đã góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân
Để vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có những bước phát triển nhanh, bền vững huyện đã chỉ đạo các ngành, cấp ủy đảng và chính quyền địa phương các tổ chức đoàn thể xã hội tiếp tục đẩy mạnh việc chăm lo đến đời sống đồng bào dân tộc thiểu số; phát triển sản xuất, ổn định dân cư, đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo theo hướng giảm cho không, cho vay ưu đãi; chuyển giao kiến thức khoa học, kỹ thuật cho đồng bào để đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa; phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong công tác vận động, tuyên truyền đến đồng bào vùng cao; xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
Trang 33Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy, chính quyền địa phương cùng sự nỗ lực vươn lên của đồng bào, tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn đã đạt được những kết quả tích cực, đời sống của đồng bào được cải thiện đáng kể
1.2.2 Xu hướng phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam
Theo quy luật tất yếu của mọi sự vật hiện tượng thì nhu cầu của con người ngày càng tăng trong khi đó nguồn lực sản xuất thì có giới hạn đặc biệt là đất đai Hiện nay ở nông thôn quá trình chuyển quyền sử dụng đất và tích tụ đất đang diễn
ra và dần diễn ra ở quy mô càng lớn hơn Việc tích tụ ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi cho việc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, tiến tới một nền sản xuất hàng hóa với quy mô lớn Cùng với xu hướng chung của nền kinh tế nông nghiệp, để khẳng định mình kinh tế hộ có thể phát triển theo 2 xu hướng sau:
+ Xu hướng 1: Một bộ phận nông hộ sẽ trở thành các chủ thể sản suất kinh doanh độc lập, sẵn sàng chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa
+ Xu hướng 2: Một bộ phận nông hộ còn lại sau khi thực hiện quá trình chuyển quyền sử dụng đất, sẽ chuyển lao động sang các ngành nghề phi nông nghiệp, hoặc đi làm thuê Cùng với quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn là
sự hình thành các dịch vụ kinh tế kỹ thuật, phục vụ cho nghề nông thương phẩm và đời sống của dân cư nông thôn Đây là quá trình kinh doanh tách khỏi ruộng đất
Ở nông thôn hiện nay, hiện tượng một số nông hộ chuyển quyền sử dụng đất
để đi làm thuê đang điễn ra và dần tăng lên Quá trình tích tụ ruộng đất càng rõ nét
ở Đồng bằng Sông Cửu Long, còn ở đông bằng Sông Hồng, sự tích tụ ruộng đất chưa diễn ra trên quy mô hộ mà chỉ là giữa các lao động trong một hộ Toàn bộ ruộng đất của hộ chỉ do một hoặc hai lao động đảm nhận, các lao động còn lại chuyển sang làm ngành nghề khác Quá trình chuyển đổi này chỉ là bước đi đầu tiên của nền nông nghiệp hiện đại, nó ra đời đòi hỏi chính sự nỗ lực của bản thân nông
hộ cùng với sự kết hợp đồng bộ của hệ thống chính sách về nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triền kinh tế nông hộ ở Việt Nam nói chung và huyện Xín Mần nói riêng
Trang 34- Đối với Việt Nam:
Chủ trương, chính sách về giao quyền sủ dụng ruộng đất lâu dài cho kinh tế
hộ (đất nông nghiệp 20 năm, đất lâm nghiệp 50 năm) đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của hàng triệu người nông dân Có như vậy các hộ nông dân mới yên tâm sản xuất và tập chung đầu tư trên đất đai được giao sử dụng lâu dài của mình
Trong kinh tế thị trường, việc tìm ra cây gì, con gì để sản xuất hàng hóa lớn hơn đã khó, thì việc tiếp cận đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp mấy năm gần đây cũng càng khó khăn không kém Đã thế thị trường đầu vào của sản xuất nông nghiệp biến động rất bất lợi cho các hộ nông dân, giá lên cao liên tục, giao thông khó khăn, vốn ít nên gặp khó khăn trong việc mua giá thấp khối lượng lớn (mua buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu những nhà cung cấp tin cậy và ổn định
và còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa chọn phương án tối ưu Vì thế để thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển nhà nước cần có chính sách hỗ trợ cho người nông dân về giá vật tư nông nghiệp và thông tin về nhu cầu thị trường
Thực tế cho thấy để phát triển kinh tế hộ nông dân bền vững và có hiệu quả cao cần phát triển theo chiều sâu, trên cơ sở phát triển khoa học nông nghiệp, những tiến bộ kỹ thuật mới, nhất là lĩnh vực ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin trong lựa chọn và tạo giống
Cần phá vỡ tính tự phát trong sản xuất nông nghiệp của người nông dân, để làm được điều này nhà nước cần định hướng, hỗ trợ, tư vấn cho người nông dân trong phát triển kinh tế hộ
- Đối với huyện Xín Mần:
Phát triển kinh tế hộ nông dân phải gắn liền với giải quyết các vấn đề xã hội, nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần Coi phát triển con người là động lực để phát triển sản xuất, phát triển xã hội và tiến bộ xã hội thực hiện mục tiêu cơ bản mà
nhà nước đã đặt ra: “Dân giàu, Nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”
Nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tế của xã để đẩy mạnh phát triển sản xuất – nông nghiệp và kinh tế hộ nông dân Trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế hộ nông dân, Đảng bộ, UBND huyện đã chỉ đạo các ban ngành tìm mọi cách góp phần tăng năng
Trang 35suất cây trồng vậy nuôi, xây dựng cơ cấu giống hợp lý, phù hợp với từng loại đất,
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong canh tác
Huyện Xín Mần có chủ trương, giải pháp đúng đắn là khuyến khích nông dân tích cực sản xuất, khai thác triệt để nguồn đất hiện có, áp dụng chính sách miễn thuế nông nghiệp ở những vùng mới khai hoang, có chính sách vay vốn hợp lý để người dân yên tâm đầu tư sản xuất Tập trung thực hiện, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, thực hiện chuyển diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các cây hoa màu khác thực hiện đa dạng cây trồng vật nuôi Phát triển các ngành dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp để thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển
1.2.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.2.4.1 Đặc điểm tự nhiên
Huyện Xín Mần nằm cách thành phố Hà Giang 150 km về phía Tây, phía Bắc giáp Mã Quan, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Nam giáp huyện Quang Bình, Phía Đông giáp huyện Hoàng Su Phì, phía Tây giáp huyện Si Ma Cai và huyện Bắc Hà (Lào Cai) Huyện Xín Mần được chia thành 19 đơn vị hành chính bao gồm 18 xã và 1 thị trấn: Pà Vầy Sủ, Chí cà, Xín Mần, Nàn Xỉn, Thèn Phàng, Bản Díu, Bản Ngò, Nàn Ma, Nấm Dẩn, Tả Nhìu, Cốc Rế, Chế Là, Ngán Chiên, Trung Thịnh, Thu Tà, Nà Chì, Khuôn Lùng, Quảng Nguyên, Thị trấn Cốc Pài
Với số dân tính đến tháng 12 năm 2016 có 12.901 hộ với 64.187 người, mật độ dân số 109,343 người/km2 Toàn huyện có 18 dân tộc anh em cùng chung sống (Nùng, Mông, Tày, Dao, La Chí, Kinh, Phù Lá, Hoa, Pà Thẻn, Cao Lan, Mường, Ngạn, Bố Y, Khmer, Giấy, Cơ Lao, Sán Dìu, Sán Chay) Trong đó có một số dân tộc là người bản địa như Nùng, Mông, La Chí, Phù Lá, Tày, Dao,… Huyện Xín Mần có 4 xã biên giới tiếp giáp với huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc là: Pà Vầy Sủ, Chí cà, Xín Mần
và Nàn Xỉn) với chiều dài đường biên giới dài 31 km
Địa hình toàn huyện chia thành 3 dạng chính: địa hình núi cao (có độ cao từ 800 m - 1.600 m); địa hình núi thấp (có độ cao từ 800 m - 900 m) và địa hình thấp dạng xen kẽ giữa các đồi núi (cao trung bình 500 m)
Các yếu tố khí hậu, thời tiết của huyện Xín Mần thích hợp trồng các loại cây
có nguồn gốc ôn đới như: chè, trẩu, thông, dược liệu, ngô, lúa nước, Chăn nuôi
Trang 36đại gia súc như: trâu, ngựa, dê, Tuy nhiên, do lượng mưa lớn nên gây không ít khó khăn trong việc đi lại, đất đai bị xói mòn Mùa khô lạnh, nhiệt độ thấp gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp
Hệ thống thủy văn của huyện tương đối phong phú, mạng lưới sông suối của huyện phân bố khá đồng đều, có một sông lớn chảy qua địa bàn huyện là sông Chảy
có lưu lượng nước tương đối lớn Tuy nhiên, do địa hình của huyện có độ dốc lớn,
bị chia cắt mạnh nên khả năng khai thác để phục vụ sản xuất nông nghiệp bị hạn chế, dễ bị cạn kiệt nước trong mùa khô gây khó khăn cho sản xuất và đời sống
Xín Mần có tổng diện tích đất tự nhiên là 58.702,22 ha Quỹ đất hiện đang sử dụng vào các mục đích khác nhau là 49.310,74ha, chiếm 84,0%, quỹ đất chưa sử dụng 9.391,48 ha, chiếm 16,00% tổng diện tích tự nhiên Qua 3 năm diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm dần từ 35.726,33 ha năm 2014 xuống còn 35.395,12
ha năm 2016, bình quân mỗi năm giảm 165,60 ha Đất phi nông nghiệp có chiều hướng tăng năm 2014 là 13.293,41 ha đến năm 2016 là 13915,62 ha, bình quân mỗi năm tăng 311,10 ha Diện tích đất chưa sử dụng giảm dần qua các năm do người dân mở rộng quy mô sản xuất và khai hoang bình quân mỗi năm giảm 145,5ha Trong tổng diện tích tự nhiên của huyện thì đất nông nghiệp chiếm 60,30%, đất phi nông nghiệp chiếm 23,71%, đất chưa sử dụng chiếm 16,0% Xín Mần hiện có 17.968,84 ha diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất này có quy mô phân bổ không đều cho các vùng và tiểu vùng Đất sản xuất nông nghiệp có diện tích 10.450,12 ha, trong đó: Đất trồng cây hàng năm là 10.753,35 ha, đất trồng cây hàng năm khác 394,41ha, đất trồng cây lâu năm có diện tích là 6821,08 ha bao gồm đất trồng cây
ăn quả, đất trồng cây công nghiệp lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác Tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 17.328,71 ha, chiếm 48,96% tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích đất phi nông nghiệp có 13.915,62 ha, chiếm 23,71% đất phi nông nghiệp, đất được sử dụng vào mục đích chuyên dùng là 7.084,04 ha chiếm 50,91%, đất phi nông nghiệp được sử dụng vào mục đích khác là 2.685,19 ha chiếm 19,30%
Diện tích có rừng của Xín Mần phân bố hầu hết trên địa bàn các xã, tập đoàn cây rừng hiện có chủ yếu là cây gỗ tạp, tre, nứa, thông, ngoài ra còn có một số loại
Trang 37gỗ quý hiếm Môi trường sinh thái không tốt do đất trống đồi núi trọc đã ở ngưỡng báo động và có xu hướng gia tăng nếu như không có giải pháp thích hợp kịp thời Đất trống đồi núi trọc còn khoảng 3.308,1 ha, chiếm 5,70 % tổng diện tích tự nhiên toàn huyện đất bị xói mòn rửa trôi, nguồn lâm sinh đang dần cạn kiệt, đó là những vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn trong các năm tới
1.2.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Là một huyện thuần nông, từ bao đời nay, người dân Xín Mần sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp
Về tăng trưởng kinh tế: Kinh tế của huyện có bước chuyển biến đáng kể trong phát triển kinh tế, về giá trị sản xuất tốc độ tăng trưởng bình quân năm 2014 -
2016 là 5,96%; trong đó giá trị ngành nông nghiệp sản tăng bình quân 13,67%; Lâm nghiệp giảm dần về giá trị sản xuất bình quân giảm 12,18%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 9,66%; thương mại dịch vụ tăng bình quân là 5,09% Tăng trưởng kinh tế huyện Xín Mần qua 3 năm cho thấy sự tăng trưởng nhanh của ngành nông nghiệp, các ngành công nghiệp - tiểu thu công nghiệp và ngành dịch vụ
có có tốc độ tăng trưởng không ổn định; riêng ngành lâm nghiệp có sự giảm tăng trưởng, năm 2016 giá gỗ giảm sâu khiến tốc độ tăng trưởng bị chậm lại làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sông của người dân
Về cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế của huyện Xín Mần trong những năm qua chưa có sự chuyển dịch tích cực, tỉ trọng của ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn Xem xét cơ cấu kinh tế bốn ngành (nông nghiệp,lâm nghiệp; công nghiệp - TTCN; thương mại dịch vụ) thì thấy rằng tỷ trọng lâm nghiệp trong tổng giá trị sản xuất đã giảm dần và tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch
vụ đã tăng lên tương ứng; tỉ trọng ngành nông nghiệp tăng nhanh theo các năm Cơ cấu ngành nông nghiệp tăng khá nhanh từ 37,74% năm 2014 lên 43,43% năm 2016
do huyện có vị trí địa lý thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp, cơ cấu ngành công nghiệp TTCN của huyện Xín Mần tăng dần qua các năm, năm 2016 chiếm 21,75% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện bình quân mỗi năm tăng 9,66%;
Cơ cấu ngành lâm nghiệp giảm dần năm 2014 chiếm 18,82% đến năm 2016 xuống còn 12,56% tổng giá trị các ngành kinh tế của huyện; cơ cấu ngành thương mại dịch
Trang 38vụ của huyện trong những năm qua có mức tăng không ổn định, đến năm 2016
chiếm 22,26% trong tổng giá trị sản xuất
Trong thời gian qua tuy đã có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp - TTCN, thương mại - dịch vụ giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nhưng chỉ giảm được tỉ trọng của ngành Lâm nghiệp, ngành nông nghiệp vẫn tăng dần về tỉ trọng và chiếm tỷ trọng cao 43,43%, tỷ trọng ngành công nghiệp – TTCN và dịch vụ thấp và tăng trưởng chậm, sản xuất Công nghiệp- TTCN và dịch vụ đã bắt đầu có bước chuyển biến nhưng ban đầu mới tập trung ở Thị trấn Cốc Pài, Xã Nà chì, và Xã Khuôn Lùng Các xã khác có tăng trưởng không nhiều Quy mô sản xuất công nghiệp- TTCN còn nhỏ, trình độ công nghệ chưa cao, chất lượng và mẫu mã sản phẩm chưa thu hút được người tiêu dùng; Khâu quảng bá sản phẩm còn hạn chế Vì vậy, chưa tận dụng phát huy được hết lợi thế của địa phương
Trong sản xuất nông - lâm nghiệp tiếp tục tập trung chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng và khảo nghiệm đưa những giống có thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu sâu bệnh vào sản xuất, thực hiện đúng lịch thời vụ, đồng thời tích cực áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, đẩy mạnh thực hiện các mô hình như:
Mô hình trồng cây Tống quán sủ tại xã Nàn Ma, Nàn Sỉn, Xín Mần, mô hình thâm canh chè theo VietGAP tại xã Khuôn Lùng và một số mô hình lúa Lai Kinh sở ưu, Thiên ưu 8, giống lúa thuần NH6 và giống ngô Lai ĐK 6919, đồng thời tiếp tục phối hợp với viện khoa học miền núi phía bắc phục tráng giống lúa già dui trồng vụ mùa tại thôn Lùng Cháng xã Thèn Phàng Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm của huyện là trên 19.000 ha, sản lượng lúa đạt trên 20.000 tấn, sản lượng ngô đạt gần 17.000 tấn, đậu tương đạt trên 4000 tấn
Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm đã được bà con nhân dân trong huyện ứng dụng tiến bộ khoa học, đầu tư mở rộng chăn nuôi theo hướng trang trại vừa và nhỏ
để phát triển thành hàng hóa, toàn huyện có 27.000 con trâu, bò, trong năm nhiều hộ gia đình đã áp dụng mô hình chăn nuôi nhốt chuồng và vỗ béo cho trâu bò trở thành hàng hóa mang lại hiệu quả kinh tế cao, bước đầu huyện Xín Mần đã thực hiện có hiệu quả chương trình mua trâu, bò sinh sản cho hộ nghèo, hộ cận nghèo theo Quyết
Trang 39định 352 của UBND tỉnh, số trâu, bò nhân dân đã mua được là 1.184 con đạt 100%
kế hoạch, đã giải ngân vốn vay được 768 hộ với số tiền là 7,756 tỷ đồng Cùng với
đó chương trình chuyển đổi đất nương trồng cây lương thực kém hiệu quả sang trồng cỏ phát triển chăn nuôi, huyện đã tiến hành thẩm định 51 hộ có nhu cầu vay vốn, kết quả có 34/51 hộ đủ điều kiện để lập hồ sơ vay vốn, số tiền đã giải ngân là trên 5 tỷ đồng, tổng diện tích đất nương các hộ đã chuyển đổi sang trồng cỏ là 33
ha, tổng số trâu, bò sinh sản đã mua là trên 300 con
Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vẫn giữ vững sự ổn định và phát triển, các doanh nghiệp trên địa bàn huyện sản xuất và chế biến các mặt hàng nông sản có hiệu quả và thu hút nhiều lao động địa phương vào làm việc với mức thu nhập ổn định, ngoài ra huyện còn tạo điều kiện để phát triển các thành phần kinh tế và thu hút mọi nguồn lực đầu tư, bên cạnh đó duy trì hoạt động công nghiệp chế biến nông sản, chế biến chè búp khô đạt 1000 tấn, duy trì hoạt động của các làng nghề gồm: Làng nghề sản xuất nông cụ thôn Quán Thèn xã Bản Díu, làng nghề chế biến chè thôn Bản Vẽ xã Nà Chì, cùng với đó công tác dạy nghề, truyền nghề tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh đã góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người dân vốn chỉ biết đến nghề nông
Nhìn chung huyện Xín Mần nằm ở vùng kinh tế khó khăn nhất cả nước, tỉ lệ
hộ nghèo còn chiếm tỉ trọng cao, kinh tế của huyện còn chậm phát triển Sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tập thể và doanh nghiệp chưa thực sự phát triển cả
về số lượng và chất lượng, quy mô và phạm vị hoạt động còn nhỏ hẹp
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu kinh tế hộ nông dân các dân tộc thiểu số tại địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
2.1.2.1 Phạm vi về không gian
- Số liệu kinh tế hộ được thu thập tại 3 xã, thị trấn: Cốc Pài, Nấm Dẩn, Khuôn Lùng Đây là 3 địa phương thể hiện đầy đủ đặc điểm nông hộ của các đồng bào dân tộc thiểu số tại địa bàn huyện Xín Mần
- Ngoài ra đề tài thu thập số liệu kinh tế tập thể (doanh nghiệp, hợp tác xã được thu thập trên toàn bộ huyện Xín Mần
2.1.2.2 Phạm vi về thời gian
- Thu thập số liệu thứ cấp về kinh tế nông hộ qua 3 năm 2014 - 2016
- Thu thập số liệu sơ cấp về vấn đề liên quan đến kinh tế hộ năm 2017
- Thời gian thực hiện đề tài luận văn từ tháng 8/2016 đến tháng 8/2017
2.1.2.3 Phạm vi giới hạn về nội dung
Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu kinh tế nông hộ bao gồm hộ nông nghiệp và hộ phi nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu Đồng thời tìm hiểu hoạt động của kinh tế tập thể, của doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn toàn huyện Xín Mần để thấy xu hướng phát triển kinh tế hộ
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Thực trạng kinh tế nông hộ và phát triển kinh tế nông hộ của đồng bào dân tộc thiểu số (Nùng, Tày, Mông,…) đang sinh sống trên địa bàn nghiên cứu
- Nhận diện đặc điểm kinh tế hộ gia đình: quy mô sản xuất, kỹ thuật công nghệ sản xuất, lao động (lao động gia đình, thuê mướn), phương thức sản xuất (tự cung tự cấp, sản xuất hàng hóa),…