Đã có hàng loạt các nghiên cứu điều tra trên cá nước ngọt nuôi và cá tựnhiên ở các tỉnh phía Bắc đặc biệt là 2 tỉnh Nam Định, Ninh Bình kết quảchung đều cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đượcchỉ rõ nguồn gốc
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ của Banquản lý đào tạo, Ban Giám hiệu trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội, và PhòngThông tin Hợp tác Quốc tế Đào tạo, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I đãhướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt khóa học
Với tấm lòng chân thành nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sỹPhan Thị Vân, người đã định hướng cho tôi, tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quátrình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Trân trọng cảm ơn đến Ths Bùi Ngọc Thanh đã chỉ bảo và truyền đạtcho tôi những kiến thức chuyên môn, những kinh nghiệm quý báu để hoànthành tốt luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể anh chị em Trungtâm nghiên cứu quan trắc cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh khuvực Miền Bắc đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất phục
vụ thí nghiệm, cung cấp các tài liệu cần thiết để hoàn thành luận văn theođúng tiến độ
Sự động viện, giúp đỡ của bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ tôi rấtnhiều, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Cuối cùng con xin ghi nhớ ơn dưỡng dục, sinh thành của bố mẹ và sựủng hộ của người thân trong gia đình để con có ngày hôm nay
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
Chương 1 - TỔNG QUAN 3
1.1 Vòng đời phát triển của sán lá truyền lây qua cá 3
1.2 Tình hình nghiên cứu sán lá gan nhỏ trên thế giới 4
1.2.1 Nghiên cứu trên người……… 4
1.2.2 Nghiên cứu trên cá 6
1.3 Tình hình nghiên cứu sán lá ruột trên thế giới 10
1.3.1 Nghiên cứu trên người 10
1.3.2 Nghiên cứu trên cá 11
1.4 Tình hình nghiên cứu sán lá gan nhỏ ở Việt Nam 13
1.4.1 Nghiên cứu trên người 13
1.4.2 Nghiên cứu trên cá 15
1.5 Tình hình nghiên cứu sán lá ruột nhỏ ở Việt Nam 19
1.5.1 Nghiên cứu trên người 19
1.5.2 Nghiên cứu trên cá 21
Chương 2 – NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Nội dung nghiên cứu 24
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 24
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 24
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 24
Trang 72.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Phương pháp thu mẫu 24
2.3.2 Phân lập ấu trùng sán lá trên 1 loài cá tự nhiên 25
2.3.3 Định loại ấu trùng sán gây nhiễm cho mèo non 28
2.3.4 Sự phân bố ấu trùng sán lá gan trên cá 29
2.4 Phương pháp xử lí số liệu 31
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Thành phần ấu trùng sán lá tìm thấy 31
3.1.1 Loài Clonorchis sinensis 33
3.1.2 Loài Haplorchis pumilio 35
3.1.3 Loài Centrocestus formosanus 36
3.2 Mức độ nhiễm ấu trùng metacercariae trên các loài cá 37
3.2.1 Mức độ nhiễm ấu trùng sán lá gan C.sinensis trên các loài cá ở 2 tỉnh 37
3.2.2 Mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ruột H.pumilio trên các loài cá ở 2 tỉnh 39
3.2.3 Mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ruột C.formosanus trên các loài cá ở 2 tỉnh 40
3.3 Biến động ấu trùng metacercariae của cá mương qua các tháng 40
3.4 Sự phân bố ấu trùng sán lá gan C.sinensis trên cá mương Hemiculter leucisculus 42
3.5 Thảo luận 43
Chương 4 - Kết luận và đề xuất 46
4.1 Kết luận 46
4.2 Đề xuất 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Tài liệu tiếng việt 47
Tài liệu tiếng anh……….47
Trang 8Tài liệu interet 53
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tỷ lệ người nhiễm sán lá theo độ tuổi ở Hàn Quốc năm 1981 (Seo,
Hong và cs, 1981)……… 6Bảng 1.2: Thành phần loài và tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ trên các loài cá ở
Vân, Ersboll và cs, 2010)……… 17Bảng 1.6 Tỷ lệ nhiễm các metacercaria trên cá chép, cá trắm cỏ giai đoạn
giống ở Huế (Nguyễn Thị Hoa và Nguyễn Ngọc Phước, 2009)… 17Bảng 1.7 Thành phần loài và tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán kí sinh trên cá chép
giống (Kim Văn Vạn và Nguyễn Văn Thọ, 2012)……… 18Bảng 1.8: Tỷ lệ nhiễm các loài sán lá ở trên động vật nuôi ở Nam Định
(Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Phượng và cs, 2009)……… 20Bảng 1.9: Tỷ lệ nhiễm các loài sán lá ở trên động vật nuôi ở Nghệ An…… 20Bảng 2.1: Thành phần loài cá và số mẫu kiểm tra……… 25Bảng 3.1: Số cá nhiễm ấu trùng metacercariae của các loài sán tỉnh Ninh Bình…31Bảng 3.2: Số cá nhiễm ấu trùng metacercariae của các loài sán tỉnh Nam Định…33
Bảng 3.3: Mức độ nhiễm ấu trùng sán lá gan C.sinensis trên các loài cá ở 2
tỉnh 38
Trang 10Bảng 3.4: Mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ruột H.pumilio trên các loài cá ở 2
tỉnh……… 39
Bảng 3.5: Mức độ nhiễm ấu trùng sán lá ruột C.formosanus trên các loài cá ở 2 tỉnh………40
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Vòng đời sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis (Fibozopa) 3
Hình 2.1: Ấu trùng metacercariae của sán lá gan nhỏ C.sinensis 28
Hình 3.1: Ấu trùng metacercariae của sán lá gan C.sinensis trên cá mương Hemiculter leucisculus [C- vật kính 4x10, D- vật kính 10x10, E – vật kính 40x10, F- ấu trùng sán lá gan C.sinensis khi phá vỡ nang] 34
Hình 3.2: Sán lá gan nhỏ C.sinensis trưởng thành 35
Hình 3.3: Ấu trùng sán lá ruột nhỏ Haplorchis pumilio (vật kính 40x10) 36
Hình 3.4: Ấu trùng sán lá ruột Centrocestus formosanus (40x10) 37
Hình 3.5: Cường độ nhiễm ấu trùng metacercaria sán lá gan C.sinensis qua các tháng 41
Hình 3.6: Phân bố ấu trùng metacercaria C.sinensis trên cá mương Hemiculter leucisculus 42
Trang 11MỞ ĐẦU
Hầu hết các loài ký sinh trùng có nguồn gốc thủy sản đều là giun vàsán, ký sinh ở gan, mật và ruột của vật chủ cuối cùng như người và động vật(ví dụ chó, mèo hay các loài chim ăn cá) Trong số các loài sán thì sán lá gan
và sán lá ruột có mức độ gây nguy hiểm đối với con người Sán lá ruột nhỏphổ biến ở các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam đặc biệt là họ
Heterophyidae và Echinostomatidae Sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis và Opisthorchis vinerrini đã được xác nhận có tồn tại ở Việt Nam Ước tính toàn
cầu có khoảng 20 triệu người đã nhiễm và có khoảng trên 500 triệu người cónguy cơ bị nhiễm loại ký sinh trùng này (Nguyễn Văn Đề, 2003) Theo số liệu
trước đây, có khoảng 1 triệu người nhiễm sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis
ở miền Bắc và Opisthorchis viverrini ở miền Trung Việt Nam (Nguyễn Văn
Đề, 2003) Những năm gần đây một số điều tra đã xác nhận sán lá gan nhỏ C.
sinensis vẫn tồn tại trên người với tỷ lệ cao 18,5-29,6% (Đỗ Trung Dũng,
Nguyễn Văn Đề và cs, 2007; Nguyễn Văn Đề và Lê Thị Hoa, 2011), tỷ lệnhiễm trên chó 8% và 5% trên mèo (Anh N.T, Phượng N.T và cs, 2009).Người nhiễm sán lá gan nhỏ nói riêng và sán lá có nguồn gốc thủy sản nóichung là do ăn cá sống hoặc cá nấu chưa chín có nhiễm ấu trùng sán
Đã có hàng loạt các nghiên cứu điều tra trên cá nước ngọt nuôi và cá tựnhiên ở các tỉnh phía Bắc đặc biệt là 2 tỉnh Nam Định, Ninh Bình kết quảchung đều cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá ruột cao, tuy nhiên ấu sán lágan nhỏ rất thấp Các điều tra tại tỉnh Nam Định và Ninh Bình đã phát hiện ấutrùng sán lá gan nhiễm 1.5% trên cá giai đoạn hương ( Van P.T, Ersboll và cs,2010) cá giai đoạn hương và giống 0.05% (Jesper Clausen và ctv, 2011).Cũng nghiên cứu điều tra tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ trong hệ thốngương nuôi cá giống tại Ninh Bình, Nguyễn Thị Thanh (2008) cũng phát hiện
ấu trùng sán lá gan xuất hiện ở cá trắm cỏ với tỷ lệ 1.5% Trái ngược với sán
Trang 12lá gan nhỏ, ấu trùng sán lá ruột được ghi nhận là đã nhiễm với tỷ lệ cao trênhầu hết các loạt loài cá nuôi và cá tự nhiên (Van P.T, Ersboll và cs, 2010).
Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ trên cá nuôi đã không giải thíchđược thực tại hiện trạng nhiễm sán lá gan nhỏ trên người và động vật – tỷ lệnhiễm ở cá thấp trong khi ở người và động vật nhiễm vẫn cao Như vậy, sựlây truyền sán lá gan nhỏ trong môi trường sinh thái dường như không cóquan hệ với cá nuôi trong hệ thống nuôi trồng thủy sản Vậy sự lây truyền liệu
có liên quan đến cá tự nhiên trong hệ sinh thái tự nhiên? Cá tự nhiên có thể cóvai trò chính trong việc lây truyền sán lá gan trong cộng đồng
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu sán lá gan và sán
lá ruột trên cá tự nhiên tại tỉnh Nam Định, Ninh Bình”
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung.
Đánh giá mức độ nhiễm ấu trùng sán lá gan và sán lá ruột nhỏ gâybệnh cho người trên một số loài cá tự nhiên nhằm góp phần đề xuất giảipháp kiểm soát sự lây lan nhiễm sán lá gan cho con người
Trang 13Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1 Vòng đời phát triển của sán lá truyền lây qua cá.
Sán lá truyền lây qua cá tiến hành giao phối trên cùng một cơ thể, đẻtrứng, trứng có kích thước rất nhỏ nhưng số lượng trứng lớn Từ trứng để pháttriển thành cơ thể trưởng thành phải trải qua một quá trình phát dục phức tạp
ở nhiều ký chủ với nhiều giai đoạn phát triển
Hình 1.1: Vòng đời sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis (Fibozopa)
Trứng chứa phôi thải qua ống mật và trong phân (1) Trứng sán này
nhiễm chủ động qua quá trình tiêu hóa thức ăn của ký chủ ốc thích hợp – Ký chủ trung gian thứ nhất (2) Trứng sinh ra miracidia (2a) và chải qua một số
giai đoạn phát triển (sporocysts 2b, rediae 2c, và cercariae 2d) Ấu trùngcercaria thải ra từ ốc và sau một thời gian ngắn tự do trong môi trường nước,
Trang 14chúng tiếp xúc một cách thụ động với cá - Ký chủ trung gian thứ hai và xâm
nhập vào tổ chức mô cá, nơi chúng hình thành bào nang gọi là metacercaria
(3) Con người - Ký chủ cuối cùng nhiễm sán lá gan nhỏ do ăn gỏi cá, cá chế
biến chưa đủ chín như cá muối hoặc cá xông (4) Sau khi nhiễm vào ngườiqua hệ thống tiêu hóa, metacercaria tự vỡ nang ở tá tràng (5) và chui lên ốngmật qua van 2 lá (6) Quá trình trường thành cần xấp xỉ 1 tháng Ngoài conngười, các loài động vật khác cũng đóng vai trò là ký chủ lưu trữ như cho
́,mèo
1.2 Tình hình nghiên cứu sán lá gan nhỏ trên thế giới.
1.2.1 Nghiên cứu trên người.
Ký sinh trùng lây truyền qua cá có thể gây nguy hại đến sức khỏe conngười ở mức độ khác nhau tùy theo nhóm sán và vị trí khu trú di chuyển (sán
lá gan nhỏ/sán lá ruột nhỏ), có thể gây tử vong hoặc suy giảm sức lao độnggây tác động không nhỏ đến kinh tế xã hội Sán lá gan nhỏ
(Clonorchis/Opisthorchis) ký sinh trong đường mật gây kích thích và viêm
đường mật, làm đường mật dày lên, xơ hóa, thoái hóa mỡ gan, có thể cổtrướng, gan to ra Sán lá gan nhỏ có thể gây sỏi mật, gây rối loạn các chứcnăng gan,chức năng tiêu hóa và gây triệu chứng rối loạn toàn thân Đặc biệtsán lá gan nhỏ có thể gây ung thư đường mật Cholangiocarcinoma Có trườnghợp sán lá gây ung thư tủy (Nguyễn Văn Đề, 2003)
Sán lá gan nhỏ truyền qua cá gây bệnh ở người bao gồm 3 loài chủ yếu
thuộc họ sán Opisthorchiidae kí sinh ở ống mật và túi mật của gan, bất thường có thể kí sinh ở ống tụy đó là Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini và
Opisthorchis felineus Sự phân bố của các loài sán lá gan nhỏ này cũng rất khác
nhau; loài sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis thường gặp nhiều ở Trung Quốc, Hàn Quốc và miền Bắc Việt Loài sán lá gan nhỏ Opisthorchis viverrini phân bố
ở Đông Nam châu Á các nước như Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Trung
Quốc và Việt Nam Loài sán lá gan nhỏ Opisthorchis felineus phân bố ở Nga,
Trang 15Ukraina, phía Tây Xiberi, các nước châu Âu như Ý, Hà Lan, Thụy Điển, Đức,Thổ Nhĩ Kì
Đông Nam Á là một trong những vùng đặc hữu có tỷ lệ người nhiễmsán lá gan rất cao Trong đó phải kể tới Hàn Quốc, Nhật Bản, Lào Ở HànQuốc có tới 1,5 triệu người nhiễm sán lá gan nhỏ (Chai, 2005) Cũng theo mộtsnghiên cứu của Chai cho rằng Lào là một trong những quốc gia trong khuvực châu Á có tỷ lệ người nhiễm bệnh sán lá gan nhỏ cao, tác nhân gây bệnh
là loài Opisthorchis viverrini Năm 2000, khi tiến hành điều tra tại tỉnh
Champasak tỷ lệ người nhiễm bệnh là 20% (Chai, 2005) Tại Nhật Bản kếtquả điều tra một số địa phương cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ
Clonorchis sinensis cũng khá cao: Ở Okayama tỷ lệ nhiễm là 54%; Người dân
sống quanh hồ Biwa có tỷ lệ nhiễm là 54,2% Tại Akita tỷ lệ người nhiễm là66% chủ yếu ở người trưởng thành sống xung quanh hồ Kasumigaurra gầnTokyo (Yukio, 2005) Còn ở Thái Lan chỉ riêng tại các tỉnh phía Bắc số ngườinhiễm bệnh sán lá gan là 6 triệu người, hầu hết tất cả những người kiểm trađều phát hiện có trứng của sán lá gan và sán lá ruột trong phân (Waikagul,1998; Sripalwit, Wongsawad và cs, 2003) Xu và Chen (2005) cho rằng TrungQuốc hiện đang là quốc gia có tỷ lệ người nhiễm sán lá gan tăng nhanh và
tương đối cao trong khu vực và trên thế giới, số người nhiễm Clonochis
sinensis là 6 triệu người tuy nhiên con số này không dừng lại ở đó mà có thể
tăng lên đến 15 triệu người vào năm 2005 trong đó tập trung nhiều ở Quảng
Đông, Quảng Tây, Bắc Long Giang và bệnh sán lá gan nhỏ đã trở thành bệnh
đặc hữu của nhiều địa phương của Đài Loan khi tỷ lệ người nhiễm bệnh lêntới 20 - 50% ở các vùng kiểm tra (Xu và Chen, 2005)
Theo những kết quả nghiên cứu của các nước trên thế giới thì tuổi vàgiới tính có ý nghĩa quyết định đến khả năng nhiễm các sán lá Nam giới mắcbệnh cao hơn nữ giới Ở Nigata của Nhật Bản tỷ lệ ở nam giới nhiễm là12,4%, nữ giới là 7,45% (Yukio, 2005) Còn tại Hàn Quốc tỷ lệ nhiễm chung
Trang 16ở nam giới là 24% cũng ở nữ giới là 17,4% Thông thường trong độ tuổi từ 20
- 60 tỷ lệ người nhiễm sán là cao, độ tuổi nhiễm cao nhất là từ 40-49 tuổi, tuynhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa khi ở độ tuổi dưới 15 (Seo, Hong và
Ngoài ra môi trường sống cũng như thói quen sinh hoạt giữa vùng nôngthôn và thành thị cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm, theo nghiên cứu tại TháiLan năm 1992 cho thấy; ở nông thôn có tỷ lệ người nhiễm bệnh lên tới 79,4%trong khi đó tỉ lệ này là 54,8% ở vùng thành thị (Waikagul, 1998)
1.2.2 Nghiên cứu trên cá.
Ký sinh trùng lây truyền qua cá có vòng đời phức tạp qua nhiều ký chủkhác nhau Trứng sán lá nhỏ thải ra qua phân của vật chủ chính (người, chó,mèo, lợn, chim ăn cá…) đi vào môi trường nước gây nhiễm cho ốc – ký chủtrung gian thứ 1 Trứng được ấp và phát triển qua một số giai đoạn trong kýchủ ốc để trở thành ấu trùng có đuôi gọi là cercariae, ấu trùng này thoát rakhỏi ốc và gặp cá – ký chủ trung gian thứ 2 Khi bám gặp cá, cercariae sẽ tự độngđứt đuôi, di chuyển đến vị trí thích hợp để tạo thành ấu trùng – metacercariae Cá
bị nhiễm metacercariae sẽ là vector lây truyền cho người và động vật ăn cá Cá làvật chủ trung gian thứ 2 của sán lá Nhiều nghiên cứu đã nhận định điều này
Trang 17Chính vì vậy nguyên nhân chính dẫn đến sự lây nhiễm ký sinh trùng này là do ăngỏi cá hoặc cá nấu chưa chín có nhiễm ấu trùng sán lá nhỏ.
Có rất nhiều nghiên cứu về điều tra các loài cá nhiễm sán lá gan ở cácnước Đông Nam Á Phổ biến tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc
Tại Hàn Quốc, các nhà khoa học đã xác định 80 loài cá thuộc 9 họ là ký
chủ trung gian 2 của C sinensis Trong đó có 71 loài thuộc họ cá chép, chúng
phân bố ở nhiều vùng và nhiều loại hình thủy vực (Shin,1964) Năm 1976Dong Wik Choi điều tra 21 loài cá đánh bắt trên các dòng sông ở Kyungpook
tỉnh Hàn Quốc, phát hiện thấy có 10/21 loài cá nhiễm sán lá gan nhỏ C.
sinensis trong đó cá Pseudorasbora parva có tỷ lệ nhiễm nhiều nhất là 92,3%,
tiếp theo là cá Pseudogobio esocinus 90,4%, Sarcocheil ichthys sinensis 87,7%, cá bị nhiễm ít nhất lá cá Acheilognathus limbata với tỷ lệ nhiễm 4,2%
(Choi, 1976) thể hiện bảng 1.2
Bảng 1.2: Thành phần loài và tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ trên các loài cá
ở Hàn Quốc (Choi, 1976)
Loài Tỷ lệ nhiễm (%) Nguồn trích dẫn
Trang 18Điều tra ở 2 hồ Soyang và Daechung của Hàn Quốc, Jae-Hwan PARK
(2004) đã tìm thấy ấu trùng metacercaria của C.sinensis trên cá Hypomesus
Trang 19olidus và cá Zacco platypus với cường độ nhiễm khá cao Hồ Soyang, kiểm tra
459 mẫu cá Hypomesus olidus phát hiện được 161 ấu trùng nang Clonorchis
sinensis (0.35 ấu trùng/cá) Cũng như vậy ở 30 mẫu cá Zacco platypus kiểm
tra thấy có 13 ấu trùng nang C sinensis (0.43 ấu trùng/cá), 1 ấu trùng
Metagonimus sp., 4 ấu trùng Echinostoma sp., 148 ấu trùng Centrocestus armatus và 44 loài khác chưa xác định Ở hồ Daechung, trên 100 mẫu cá
mương tìm thấy 369 ấu trùng nang C sinensis (3.69 ấu trùng/cá) và 51 loài
khác chưa xác định (Jae-Hwan PARK, Sang-Mee GUK và cs, 2004)
Vào năm 1911, Masatomo và Kobayashi đã phát hiện ký chủ trung gian 1
của sán lá gan Clonorchis sinensis là ốc nước ngọt Parafossarulus manchouricus
(loài ốc này đã được tìm thấy ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan),
Melina hongkongensis, Bithynia fuchsiana và B Longicorni (Muto, 1918).
Tại Nhật Bản, việc nghiên cứu về sán lá C sinensis được bắt đầu từ
những năm 1900 Vào tháng 5 năm 1910, Harujiro Kobayashi lần đầu phát hiện
ra ký chủ trung gian 2 của C sinensis là một số loài cá nước ngọt Ông đã tách
C sinensis từ cá Pseudorasbora parva ở Okayama Sau đó ông đã làm thực
nghiệm lấy cá có nhiễm C sinensis cho 3 con mèo ăn cá sống vào 3 đợt thí nghiệm khác nhau Kết quả ở cả 3 con mèo đều phát hiện bị nhiễm sán C.
sinensis ở giai đoạn trưởng thành (Komiya, 1965) Ở Nhật Bản trên 22 loài cá
nước ngọt thuộc họ Cyprinidae Osmeridae và Electridae là vật chủ trung gian của C.sinensis (Yashimura và cs, 1965) Trong đó loài nhiễm chính là
P.parva, Sarcocheilichthys variegatus, acheilognathus lanceolata và Tribolodon Hakonensis (Komiya và Suzuki, 1964) Cũng theo Yukio.Y (2005)
Nhật Bản đã xác định cá Pseudorasbora parva là vật chủ trung gian thứ 2 và
ốc Paraƒossarulus manchouricus là vật chủ trung gian thứ nhất của sán lá gan
Clonorchis sinensis (Yukio, 2005)
Trang 20Ở Trung Quốc đã tìm thấy trên 4 loài cá bao gồm cá trắm cỏ, cá chép, cá
rô đồng, cá Pseudorasbora parva và tìm thấy ở đó có metacercaria của
Clonorchis sinensis trên cơ là 87,4%, mang 4,7%, vây 2,0% (Xu và Chen, 2005).
Theo nghiên cứu của Xu BK (1979) ở Trung Quốc sự lây nhiễm của
sán Clonorchis sinensis vào các ký chủ trung gian chịu sự tác động của nhiệt
độ Bởi vì khi nhiệt độ thấp hơn 10oC thì ấu trùng cercariae không thể xâmnhập vào giai đoạn cá hương của cá trắm cỏ, khoảng nhiệt độ thích hợp cho
sự lây nhiễm sán vào cá là từ 20 - 30oC và thích hợp nhất là 25oC Bằng thựcnghiệm ở các ngưỡng nhiệt độ khác nhau, các tác giả đã cho thấy: Ấu trùngcercariae khi nhiễm vào cá hương của trắm cỏ ở nhiệt độ nhỏ hơn 25oC thì có51,6% metacercariae phát triển trong cá sau 10 ngày, 84,6% metacercariaephát triển trong cá sau 20 ngày, 98,3% metacercariae phát triển trong cá sau
30 ngày, 99,4% metacercariae phát triển sau 40 ngày Còn khi ở nhiệt độ thấphơn 15oC có 75,6% metacercariae phát triển nhưng thời gian phải kéo dài đến
50 ngày và phải mất đến 60 ngày để 99,7% metacercariae có thể phát triểntrong cá (Xu, 1979)
1.3 Tình hình nghiên cứu sán lá ruột trên thế giới.
1.3.1 Nghiên cứu trên người.
Sự nguy hiểm của sán lá ruột nhỏ không lớn như ở sán lá gan tuy nhiêm
sự có mặt của sán lá ruột nhỏ gây rồi loạn tiêu hóa và giảm hấp thu (Nguyễn Văn Đề, 2003)
Khác với sán lá gan nhỏ thì sự phân bố của sán lá ruột nhỏ rất rộng, trênthế giới số lượng loài sán lá ruột truyền qua cá kí sinh ở người rất lớn có tới 69loài sán lá ruôt nhỏ được biết là kí sinh ở người, trong đó có 31 loài thuộc họ
Heterophyidae, 21 loài thuộc họ Echinostomatidae, 5 loài thuộc họ Leicithodendriidae, 8 loài thuộc ho Plagiorchiidae, họ Diplostomidae, Nanophyetidae và Paramphistomatidae, mỗi họ có 2 loài Họ Gastrodiscidae, Gymnophallidae, Microphlli và Strigei mỗi họ có 1 loài
Trang 21Tuy sán lá ruột không có tính nguy hiểm bằng sán lá gan nhưng lại cóphạm vi phân bố rộng, tần suất xuất hiện cao cũng như rất đa dạng về thànhphần loài Ở Philippines tỷ lệ người nhiễm sán lá ruột là 36% (Velasquez và
Carmen, 1975) Ở Hàn Quốc cũng phát hiện sán lá ruột Stictodora sp và loài sán lá ruột Stellantchasmus falcatus gây bệnh cho người (Sung, 2000; Chai,
2005) Một số nghiên cứu điều tra ở Lào thì tỷ lệ người nhiễm sán lá ruột
Haplorchis spp từ 50% - 70%, điển hình có trường hợp đã phát hiện thấy
8.500 con sán trên một người ở tỉnh Saravane (Chai, 2005)
1.3.2 Nghiên cứu trên cá.
Ở Mehico, Laborotori (1999) có nghiên cứu sâu về sán lá ruột nhỏ C.
formosanus và đã đưa ra cảnh báo về sự nhiễm loài sán này trên cá nuôi Ký
chủ trung gian của sán là ốc Melanoides tuberculata đã được phát hiện vào
năm 1979 Cho đến năm 1985 khi nhập cá chép hương từ Trung Quốc về đã
phát hiện có nhiễm sán C formosanus, từ đó sán đã nhanh chóng lây nhiễm
sang các loài cá khác ở Mehico Qua các nghiên cứu thực nghiệm ông đã phát
hiện ấu trùng C formosanus ký sinh ở mang của 39 loài cá, trong đó nhiều
nhất ở họ cá chép (Laborotori, 1999)
Cũng nghiên cứu về C formosanus, Andrew Mitchell đã khẳng định đây
là sán lá song chủ ngoại lai đã nhiễm vào Hoa Kỳ qua con đường nhập khẩu
(Andrew Mitchell, Andrew Goodwin và cs, 2002) Đến tháng 12 năm 1985, C.
formosanus đã được phát hiện trên các loài cá tự nhiên tại hồ nhỏ ở Pasco,
bang Florida Đến năm 1990, chúng lại được tìm thấy trên cá tự nhiên ở sông
San Antonio Tháng 12 năm 1996, ấu trùng C formosanus được phát hiện ký
sinh ở mang một số loài cá tự nhiên ở nước chảy từ sông Cormal, Texas Hai
năm sau tại sông này người ta đã phát hiện có đến 15 loài cá nhiễm C.
formosanus (Andrew, 2005).
Khi nghiên cứu về một số giống loài sán lá ruột Jong - Yil Chai cho biết
tại Hàn Quốc các ký chủ trung gian của sán lá họ Galactosomidae và
Heterophyidae là ốc, ký chủ trung gian thứ 2 là cá Các ký chủ cuối cùng là
Trang 22động vật có vú như chó, mèo, chuột, người Trên cá nước ngọt, sán ở giai
đoạn metacercariae chủ yếu là các loài: Metagonimus yokogawai, M.
takahashii, M Miyatai, C formosanus và C Armatus (Chai và Lee, 2002).
Sán lá ruột thường gặp là Heterophyes heterophyes phân bố ở Quảng Đông, Hồ Bắc, Đài Loan Loài Metagonimus yokogawai phân bố nhiều ở Đài
Loan, Quảng Đông, An Huy, Hồ Bắc, Chiết Giang (Hai và Qi, 2004)
Thái Lan là một trong số các quốc gia Đông Nam Á có tập tính ăn sảnphẩm thủy sản sống và có tỷ lệ người nhiễm sán lá cao, đây là một trongnhững vấn đề về sức khỏe cộng đồng ở vùng Đông Bắc Thái Lan Hầu hết sốngười nhiễm ấu trùng sán khi họ ăn các món chế biến từ cá chưa được nấu kỹ.Các tác giả đã phân tích ấu trùng giai đoạn metacercariae ở 79 cá nước ngọt
họ cá chép thu từ hồ chứa Huay Thalaeng, tỉnh Nakornrat Chasrima đã pháthiện có 16 con nhiễm metacercariae chiếm 20,2%(Wiwanitkit, 2001)
Nghiên cứu sự phân bố của ấu trùng sán lá gan nhỏ Opisthorchis
viverrini trên một số loài cá khác nhau tại Thái Lan, kêt quả lại cho thấy phần
lớn ấu trùng tập trung ở phần đầu, sau đến gốc vây đuôi bảng 1.3
Bảng 1.3: Phân bố ấu trùng metacercaria Opisthorchis viverrini trên cá
Loài cá
Tỷ lệ phần trăm metacercariaPhần
đầucá
Cơthâncá
Vẩy và
da cá
Gốcvâyngực
Gốcvâybụng
Gốcvâylưng
Gốcvây hậumôn
Gốcvâyđuôi
Cyclocheilicthys
Armatus 37.2 10.4 1.8 12.8 5.9 9.6 1.9 20.1Cyclocheilicthys
repasson 32.5 7.8 8.2 9.2 4.6 9.5 4.1 24.0Hampala Dispa 41.2 9.7 6.3 4.9 4.9 9.5 4.1 18.8
Puntius
orphoides 21.7 12.1 11.6 11.6 5.3 11.0 2.9 23.7
Trang 231.4 Tình hình nghiên cứu sán lá gan nhỏ ở Việt Nam.
1.4.1. Nghiên cứu trên người .
Tại Việt Nam đã xác định sự lưu hành của 2 loài sán lá gan nhỏ truyền qua
cá đó là Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini Loài sán Clonorchis
sinensis phân bố ở miền Bắc còn ở miền Nam là loài sán Opisthorchis viverrini.
Cho đến năm 2003, Clonorchis sinensis có ở 9 tỉnh phía Bắc trong đó tỷ lệ người
nhiễm bệnh sán lá gan thấp nhất là Thái Bình 0,2%, cao nhất là Nam Định 26%
Sán lá gan Opithorchis viverrine có ở ba tỉnh phía Nam là Đà Nẵng, Đắc Lăk,
Phú Yên trong đó cao nhất là Phú Yên (Nguyễn Văn Đề, 2003)
Thói quen ăn gỏi cá, cá nấu chưa được chín là nguyên nhân quan trọngdẫn đến việc lây nhiễm bệnh sán lá gan và sán lá ruột sang người Chính vìvậy vùng dịch tễ của sán lá gan nhỏ cũng là vùng dịch tễ của sán lá ruột nhỏ
và mức độ nhiễm cũng song song với nhau Ở miền Bắc tâp quán ăn gỏi cáphổ biến nhất ở Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hà Tây (cũ) …có nơi tỷ lệnhiễm 60 – 84% Ở miền Nam tập quán ăn gỏi cá phổ biến ở Phú Yên, BìnhĐịnh có địa phương tỷ lệ nhiễm 46 – 61,3% Tại Hòa Bình theo điều tra củaNguyễn Văn Đề về tình hình nhiễm ký sinh trùng đường ruột và sán truyềnqua thức ăn trên 526 hộ với 2.686 người tại tỉnh Hòa Bình cho thấy tỷ lệnhiễm sán lá gan nhỏ là 5%, tỷ lệ nhiễm sán lá phổi là 1,4% (Nguyễn Văn Đề,2003) Năm 2005 Viện sốt rét ký sinh trùng và côn trùng TW và dự ánFibozopa đã có các xét nghiệm trên người tại 2 trong số các xã của NamĐịnh Kết quả cho thấy 65% nhiễm sán truyền qua cá nói chung trong đó 13%nhiễm sán lá gan nhỏ Điều này khiến Nam Định trở thành vùng đáng quantâm đối với một chương trình nghiên cứu có tính chất liên quan đến các vậtchủ khác nhau như cá, ốc, con người đặc biệt là các yếu tố chủ yếu dẫn đến sựlây nhiễm cho cá
Tỷ lệ nhiễm sán lá cũng tăng dần theo nhóm tuổi, cao nhất ở nhóm 40– 49 tuổi
Trang 24Bảng 1.4 Tỷ lệ nhiễm C.sinensis trên người ở Nga Sơn, Thanh Hóa
Nam giới có tỷ lệ nhiễm sán lá cao hơn nữ giới Theo một điều tra của
Lê Văn Châu ở 25 huyện của 7 tỉnh vùng ven sông Hồng thì có 20 ngàn người
nhiễm Clonorchis sinensis, trong đó nhóm tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 40
-59 tuổi (Lê Văn Châu và Kiều Tùng Lâm, 1997) Hiện Việt Nam được đánhgiá là một trong những quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ ngườinhiễm các bệnh sán lá cao Trên thực tế theo số liệu thống kê tại các tỉnh đồngbằng sông Hồng số người bị nhiễm cũng cao hơn rất nhiều (tỷ lệ lây nhiễm 15
- 20%) Xét nghiệm phân bằng phương pháp Kato-Katz cho 615 chủ hộ củatỉnh Nam Định bao gồm 563 nam và 52 nữ, kết quả cho thấy 68,7% nam và23,1% nữ dương tính với sán lá nhỏ Tỷ lệ nhiễm chung của 2 loài sán này là64,9% (Đỗ Trung Dũng, Nguyễn Văn Đề và ctv, 2007) Ở Kim sơn, NinhBình nam giới có tỷ lệ nhiễm sán lá 37,2 % còn ở nữ giới tỷ lệ nhiễm là 15,3
% (Kiều L.T, Bronshtein AM và cs, 1992) Tại Nghệ An, xét nghiệm trên hơn1.300 chủ hộ có tham gia vào hoạt động nuôi trồng Thuỷ sản là nam giớithuộc 5 huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Tân Kỳ, Thanh Chương và YênThành cho thấy tỷ lệ nhiễm sán rất thấp: Chỉ dưới 1% Mặc dù vậy, kết quả
Trang 25nghiên cứu trên cá nước ngọt tại các huyện này lại cho thấy tỉ lệ nhiễm ấutrùng tương đối cao, từ 30 – 40% (Chi T.T.K, Anders Dalsgaard và cs, 2008).
1.4.2. Nghiên cứu trên cá.
Hầu hết các bệnh kí sinh trùng nói chung và bênh kí sinh trùng truyềnlây giữa người và động vật phân bố rộng rãi trên thế giới, chúng phổ biến ởvùng nhiệt đới, tập quán lạc hậu và kinh tế kém phát triển Việt Nam là mộttrong những nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, có tập tính sinh hoạt lâuđời là ăn gỏi cá và các món ăn từ cá chưa được nấu chín Điều đó đã tạo điềukiện cho sự lây nhiễm sán vào cơ thể Sán thường ký sinh ở các cơ quan nhưmang, cơ thịt, vây cá Các loài sán gây bệnh đều ký sinh ở gan hoặc ruột cácký chủ cuối cùng (người và động vật), trong đó chủ yếu là các họ
Opisthorchidae, Galactosomidae và Heterophyidae Như vậy, việc nghiên cứu
về ấu trùng sán lá song chủ nhằm đề xuất biện pháp ngăn ngừa và kiểm soátvấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trong NTTS, góp phần bảo vệ, chăm sócsức khỏe con người
Ấu trùng metacercariae của loài sán lá gan Clonorchis sinensis được
phát hiện lần đầu tiên ký sinh trong cơ cá mè trắng ở Kim Sơn (Ninh Bình),Nghĩa Hưng (Nam Định) với tỷ lệ nhiễm metacercariae từ 40 – 60% (Bùi Văn
Tề và Hà Ký, 2007)
Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá ganđược phát hiện trên nhiều đối tượng cá Lê Văn Châu và ctv (1997) đã xác
định được 10 loài cá nhiễm metacercaria của Clonorchis sinensis và
Opithorchis viverrine ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam.
Ở Việt Nam đã tìm thấy 6 loài cá nước ngọt là kí chủ trung gian thứ 2 của
sán lá gan nhỏ và tỷ lệ nhiễm của chúng trên cá mè trắng Hypophthalmichthys
harmandi 44,5%, cá chép Cyprinus carpio 25%, cá trắm cỏ Ctenopharyngodon
13,9%, cá trôi Cirrhina molitorella 13,3%, cá diếc Carassius 15,6%, cá rô đồng
Anabas testudineus 32% (Nguyễn Văn Đề, 2003).
Trang 26Cũng trong năm 2005 Viện nuôi trồng thủy sản 2 đã có nghiên cứu vềFZP trên cá tra/ba sa nuôi trong lồng, cá lóc nuôi và một số loài cá khác tại An
Giang Kết quả cho thấy cá tra/ba sa nuôi có tỷ lệ nhiễm H.pumilio là 2 %, cá
lóc nuôi không bị nhiễm Một điều đặc biệt là người ta phát hiện ấu trùng sán
lá gan nhỏ Opisthorchis viverrini trên mẫu cá lóc tự nhiên ở 1 chợ tại An Giang với tỷ lệ nhiễm 5,1% là O.viverrini; 2,6% H.pumilio, và 2,6% là
Procerovum sp Đây là bằng chứng quan trọng về sự có mặt của sán lá gan
nhỏ O viverrini ở phía Nam Việt Nam Mặc dù tỷ lệ nhiễm thấp nhưng đốivới An Giang, một vùng chuyên sản xuất cá tra xuất khẩu lớn nhất trong cảnước thì đây cũng là vấn đề đáng báo động đối với khía cạnh an toàn thựcphẩm (Thu N.D, Anders Dalsgaard và cs, 2007)
Tại Nam Định, từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 6 năm 2007 đã tiến hànhnghiên cứu về FZP trên các đối tượng cá nước ngọt Mẫu cá được thu từkênh, ao ương giống và ao nuôi thương phẩm tại 2 xã Nghĩa Phú và NghĩaLạc (huyện Nghĩa Hưng, Nam Định) Việc phân tích 714 mẫu cá thu một lần
từ kênh, 1.761 mẫu từ ao ương và 4.715 mẫu cá được thu từ ao nuôi trươngphẩm với tần suất 2 tháng 1 lần trong suốt 1 năm, đã phát hiện được 5 loài ký
sinh trùng có nguồn gốc từ cá ký sinh trên cá nước ngọt, bao gồm: Clonorchis
sinensis, Haplorchis pumilio, Haplorchis taichui, Centrocestus formosanus, Procerovum sp Có tới 14 loài cá trong tổng số 19 loài cá tự nhiên thu được trên
kênh dẫn nước bị nhiễm sán lá ruột Haplorchis pumilio Trong 5 loài cá giống
thì cá trắm cỏ có tỷ lệ nhiễm sán lá ruột nhiều nhất 60,9%, cá chim trắng bịnhiễm ít nhất 8% ( Van P.T, Ersboll và cs, 2010)
Trang 27Bảng 1.5 Tỷ lệ nhiễm metacercaria của các loài sán ở Nam Định
(Van P.T, Annette, Annette Kjær Ersbøll và cs, 2010)
Tỷ lệ nhiễm chung sán lá gan nhỏ của các loài cá (bảng 1.5) giai đoạn
cá hương là 1,5% Hầu hết các loài cá đều nhiễm sán lá ruột (Van P.T,Annette, Annette Kjær Ersbøll và cs, 2010)
Bảng 1.6 Tỷ lệ nhiễm các metacercaria trên cá chép, cá trắm cỏ giai đoạn giống ở Huế (Nguyễn Thị Hoa và Nguyễn Ngọc Phước, 2009)
Mức độ nhiễm ấu trùng metacercaria của các loài sán trên 2 loài cá ở
giai đoạn giống là khá cao (bảng 1.6) Điều này sẽ ảnh hưởng đến quá trìnhnuôi thương phẩm và là mối nguy cơ về vệ sinh an toàn thực phẩm Chính vìvậy trong quá trình ương nuôi cần áp dụng những biên pháp nhằm ngăn chặnmetacercaria trên cá giống (Nguyễn Thị Hoa và Nguyễn Ngọc Phước, 2009)
Từ bao đời này người dân An Mỹ có tập quán ăn gỏi mà chỉ ăn gỏi cágiếc sống, thường ăn vào tháng 1,2 âm lịch hàng năm Kết quả điều tra chothấy tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán trên cá bằng các phương pháp tiêu cơ và mổ cásoi tươi ở 1721 cá thể thuộc 10 loài cá, trong đó có 527 cá giếc và chỉ phát
Trang 28hiện được ấu trùng sán lá gan nhỏ Opisthorchis viverini trong cá giếc với tỷ lệ
nhiễm 28,65% Để xác định đúng nguyên nhân gây bệnh sán lá gan nhỏ do cágiếc, dùng ấu trùng sán lá gan nhỏ thu hồi ở cá giếc sống đem gây nhiễm chomèo non tại phòng labo của Viện sốt rét kí sinh trùng – côn trùng Quy Nhơn.Qua 4 tháng gây nhiễm cho 3 con mèo non và có 2 mèo non đối chứng, khimổ gan mèo gây nhiễm đã thu hồi 314 con sán lá gan nhỏ trưởng thành từ nonđến già Riêng 2 mèo đối chứng chỉ cho ăn cơm và cá chín, khi mổ không tìmthấy sán trong gan mèo (Nguyễn Văn Chương, 2005- Nguồn internet)
Theo điều tra của Trần Văn Quyên, Nguyễn Văn Thọ (2011) được tiếnhành tại 5 huyện thuộc 3 tỉnh Hải Dương, Nam Định, Hà Nội xác định có 7loài cá nhiễm ấu trùng của sán lá gan nhỏ là cá mè, cá trôi, cá trắm cỏ, cáchép, cá diếc, cá rô, cá rô phi Trong đó cá mè nhiễm cao nhất 53,33% thấpnhất là cá rô phi 10,66% (Trần Văn Quyên và Nguyễn Văn Thọ, 2012)
Điều tra cá chép giống ở các hệ thống nuôi cho thấy tỷ lệ nhiễm cácloài sán lá truyền lây qua cá khá cao (bảng 1.7), điều này ảnh hưởng đến chấtlượng cá chép giống (Kim Văn Vạn và Nguyễn Văn Thọ, 2012)
Bảng 1.7 Thành phần loài và tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán kí sinh trên cá chép giống (Kim Văn Vạn và Nguyễn Văn Thọ, 2012).
kiểm tra
Tỷ lệ nhiễm (%)C.ƒormosanus H.taichui H.pumilio C.sinensis
Trang 29Sán lá truyền qua cá đã được xem là vấn đề sức khỏe cộng đồngnghiêm trọng Một cuộc khảo sát kéo dài từ tháng 3/2011-3/2012 trên các loài
cá thu được ở Đông Hòa, Tuy An và sông Hinh ở Phú Yên Kết quả thu được
4 loài cá bao gồm cá chép, cá diếc, cá quả, cá rô đồng với tỷ lệ nhiễm sán chung
là Opisthorchis vivverini 11,2%, Haplorchis taichui 8.9%, H yokogawai 0.3%,
Centrocestus formosanus 1,8% Cường độ nhiễm trung bình của các loài sán lần
lượt là : 27,9; 5,7; 25,5; 13,4 ấu trùng/cá Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cao cóthể dẫn đến những rủi ro về cho con người tại khu vực đó Chính vì vậy cần thiếtnghiên cứu dịch tễ học đa ngàng trên ốc, quần thể cá, vai trò củ vật chủ lưu trữ vàcon người (Dung T.V, Darwin Murrell và cs, 2012)
1.5 Tình hình nghiên cứu sán lá ruột nhỏ ở Việt Nam.
1.5.1 Nghiên cứu trên người.
Từ năm 2004-2006 bằng phương pháp xét nghiệm phân Kato-Katz vàlắng cặn cho cộng đồng và phát hiện các ca bệnh đã xác định cả nước có 24tỉnh, thành có bệnh sán lá gan nhỏ lưu hành, trong đó cao nhất là Nam Định,Phú Yên (37%), Hà Nội (tỉ lệ nhiễm Hà Tây cũ là 40,1%) và có 18 tỉnh,thành có bệnh sán lá ruột nhỏ: Yên Bái, Phú Thọ, Điện Biên, Lào cai, BắcKạn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hà Tây (cũ), Nam Định, Ninh Bình,Thái Bình, Thanh Hóa, hải Phòng, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng và
An Giang với các loài sán lá ruột nhỏ được tìm thấy: Haplorchis taichui,
Haplorchis pumilio, H.yokogawai, Centrocestus formosanus thuộc họ
Trang 30Bảng 1.8: Tỷ lệ nhiễm các loài sán lá ở trên động vật nuôi ở Nam Định
Nam Định là một trong những khu vực đặc hữu ở phía Bắc –Việt Nam
mà sán lá truyền qua cá gây bệnh ở người có tỷ lệ nhiễm cao ở người(Nguyễn Văn Đề và Lê Thị Hoa, 2011) chó, mèo (Anh N.T.L, Phương N.T và
Trang 311.5.2 Nghiên cứu trên cá.
Phạm Cử Thiện và ctv đã điều tra khảo sát về sự lây nhiễm sán lá gâybệnh ở người có nguồn gốc thủy sản (Fishborne Zoonotic Trematode - FZT)trên cá trê lai và cá tai tượng đã được thực hiện ở đồng bằng sông Cửu Long,tập trung vào các hệ thống nuôi ghép và nuôi kết hợp trong hệ thống vườn -
ao - chuồng (VAC), trong đó có phân tích hiện trạng sử dụng phân chuồnglàm thức ăn cho cá Các mẫu cá đã được thu trong cả mùa mưa và mùa khô Kếtquả cho thấy metacercariae FZT không có trong cá trê lai nuôi đơn, tuy vậy lại rấtphổ biến ở cá nuôi thuộc hệ thống VAC Metacercariae sán lá thuộc họ
Heterophyidae: Haplorchis pumilio, Haplorchis taichui, Centrocestus formosanus
và Stellantchasmus falcatus, với tỷ lệ nhiễm như sau: 1,7% ở cá tai tượng nuôi
đơn; 6,6% trong cá chép nuôi ghép và 3,0% trong nuôi hệ thống VAC
Haplorchis pumilio là loài sán phổ biến nhất, chiếm trên 58,0% ấu trùng
metacercariae phát hiện được ở cá Cường độ nhiễm mạnh nhất là ở cá chép nuôighép, đặc biệt trong mùa mưa lũ Kết quả cho thấy một số hệ thống nuôi cá đangtồn tại những rủi ro về FZT (Thien P.C, Anders Dalsgaard và cs, 2007)
Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (2009) nhằm xác định mốiliên hệ giữa sự nhiễm ấu trùng sán lá ruột ở trong ốc và cá ở các ao cá giống
đã cho thấy: Cá bột không bị nhiễm FZT Không có quan hệ rõ ràng giữa mật
độ của các loài ốc nhiễm ấu trùng sán lá ruột và tỷ lệ hay cường độ nhiễm ấutrùng metacercariae ở cá Mặc dù tỷ lệ và cường độ nhiễm ở cá cao hơn ốcnhiễm trong ao, không thu được ốc có nhiễm ấu trùng trong ao, nhưng rõ ràng
sự lây nhiễm vẫn rất cao khi không tìm thấy ốc bị nhiễm ấu trùng Có thể sẽcần những nỗ lực nghiêm khắc hơn để kiểm tra ấu trùng có trong ốc tại những
ao này hoặc xác định tại sao một lượng lớn ấu trùng cercariae vào được ao
Có thể nguồn gốc của ấu trùng và những công việc liên quan đến vấn đề kiểmsoát sẽ được bàn luận (Nguyễn Mạnh Hùng và ctv, 2009)