PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Nền kinh tế ở nước ta hiện nay đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó có nhiều hình thức sở hữu và thành phần kinh tế cùng tham gia, làm cho thị trường lao động được mở rộng, nhu cầu học tập tăng nhanh, nên đòi hỏi giáo dục phải tiếp cận và đổi mới nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, phải đi trước và đón đầu sự phát triển kinh tế xã hội. Đảng và Nhà nước ta coi GDĐT, KHCN là quốc sách hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tếxã hội, là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH, HĐH. Xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ đang diễn ra trên thế giới. Với sự phát triển nhảy vọt của KHCN, kinh tế thế giới đang từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức. Trong bối cảnh quốc tế đó, triết lý về giáo dục cho thế kỉ 21 có những biến đổi to lớn, đó là lấy học thường xuyên suốt đời làm nền móng hướng tới xây dựng một xã hội học tập”. Nguồn nhân lực trong việc phát triển kinh tế xã hội là nhân tố không thể thiếu, mà để có nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì không thể thiếu vai trò to lớn của giáo dục. Giáo dục luôn được coi là “khâu đột phá”, là quốc sách hàng đầu trong thời kì mới; Nghị quyết của Đảng cũng đã khẳng định “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản nhất”. Nằm trong sự phát triển chung của đất nước, tỉnh Đăk Lăk có một vị trí chiến lược quang trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và môi trường sinh thái. Nhận thức được vai trò quan trọng đó, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách trong đó có chính sách về giáo dục. Nhờ sự quan tâm ấy trong thời gian trong thời gian công tác giáo dục tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên vẫn còn những khó khăn, bất cập, vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Do đó việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ở tỉnh Đăk Lăk là một vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay. Xuất phát từ lý do trên, nhóm em xin chọn đề tài “Thực trạng phát triển đầu tư cho giáo dục tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 20112020” để phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá thực trạng phát triển đầu tư cho giáo dục tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2011 2020. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư cho giáo dục trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk. Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển đầu tư cho giáo dục tỉnh Đăk Lăk trong những năm tiếp theo.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA KINH TẾ
BÀI TIỂU LUẬN MÔN QUẢN LÝ CÔNG THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC TỈNH ĐĂK LĂK GIAI ĐOẠN 2011 – 2020
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 4 LỚP: KINH TẾ K14A
Đắk Lắk, 1/2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA KINH TẾ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để bài báo cáo tiểu luận này đạt kết quả tốt đẹp, chúng em đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân ở tỉnh Đăk Lăk Với tình cảm sâu sắc, chân thành, cho phép chúng em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất
cả các cá nhân và cơ quan của tỉnh Đăk Lăk đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Đặc biệt chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy Phạm Văn
Trường lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc Đã quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn chúng em hoàn thành tốt báo cáo tiểu luận này trong thời gian qua.Với sự quan tâm, dạy dỗ, chỉ bảo tận tình chu đáo của thầy, đến
nay chúng em đã có thể hoàn thành, đề tài: “ Thực trạng phát triển đầu tư cho
giáo dục trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2011-2020”.
Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của học viên, bài báocáo tiểu luận này không thể tránh được những thiếu sót Chúng em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy để có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Mục lục
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Phạm vi về không gian 2
1.3.2 Thời gian nghiên cứu 2
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Tổng quan về phát triển đầu tư giáo dục 3
2.1.2 Các hình thức của giáo dục 3
2.1.3 Các nguồn đầu tư tài chính cho giáo dục đào tạo 4
2.1.4 Vai trò của giáo dục, đầu tư cho giáo dục 5
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển đầu tư cho giáo dục bằng nguồn ngân sách nhà nước 7
2.2 Phương pháp nghiên cứu 9
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 9
2.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 9
2.2.3 Phương pháp phân tích 9
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11
3.1 Đặc điểm địa bàn 11
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 11
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 12
3.1.3 Đánh giá tổng quan 13
3.2 Kết quả nghiên cứu 13
3.2.1 Thực trạng phát triển đầu tư cho giáo dục trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2011-2020 13
3.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư cho giáo dục trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk 20
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT St
t Chữ cái viết tắt/ kí hiệu Cụm từ đầy đủ
2 GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
3 KH&CN Khoa học và công nghệ
4 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa
Trang 7PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế ở nước ta hiện nay đang trong quá trình
chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó có nhiều hình thức
sở hữu và thành phần kinh tế cùng tham gia, làm cho thị trườnglao động được mở rộng, nhu cầu học tập tăng nhanh, nên đòi hỏi giáo dục phải tiếp cận và đổi mới nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, phải đi trước và đón đầu sự phát triển kinh tế -
xã hội
Đảng và Nhà nước ta coi GD&ĐT, KH&CN là quốc sách hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, là nền tảng
và động lực của sự nghiệp CNH, HĐH Xu thế toàn cầu hóa
mạnh mẽ đang diễn ra trên thế giới Với sự phát triển nhảy vọt của KH&CN, kinh tế thế giới đang từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức Trong bối cảnh quốc tế đó, triết lý về giáo dục cho thế kỉ 21 có những biến đổi to lớn, đó là lấy "học thường xuyên suốt đời" làm nền móng hướng tới xây dựng một "xã hội học tập”
Nguồn nhân lực trong việc phát triển kinh tế - xã hội là nhân tố không thể thiếu, mà để có nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì không thể thiếu vai trò to lớn của giáo dục Giáo dục luôn được coi là “khâu đột phá”, là quốc sách hàng đầu trong thời kì mới; Nghị quyết của Đảng cũng đã khẳng định “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản nhất”
Nằm trong sự phát triển chung của đất nước, tỉnh Đăk Lăk
có một vị trí chiến lược quang trọng về kinh tế, chính trị, an ninhquốc phòng và môi trường sinh thái Nhận thức được vai trò quan trọng đó, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách trong đó có chính sách về
Trang 8giáo dục Nhờ sự quan tâm ấy trong thời gian trong thời gian công tác giáo dục tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên vẫn còn những khó khăn, bất cập, vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Do đó việc nâng cao hiệu quả công tácgiáo dục ở tỉnh Đăk Lăk là một vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay
Xuất phát từ lý do trên, nhóm em xin chọn đề tài “Thực trạng
phát triển đầu tư cho giáo dục tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2020” để phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm
2011-nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh, phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng phát triển đầu tư cho giáo dục tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2011- 2020
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư cho giáo dục trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk
- Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển đầu tư cho giáo dục tỉnh Đăk Lăk trong những năm tiếp theo
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Phạm vi về không gian
- Đề tài được thực hiện nghiên cứu tại tỉnh Đăk Lăk
1.3.2 Thời gian nghiên cứu
- Số liệu thực hiện nghiên cứu chủ yếu trong vòng 10 năm
từ 2011 đến 2020
Trang 9PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học
và giáo dục đại học
2.1.1.2 Đầu tư
Tất cả những hành động bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động trên đây nhằm mục đích chung là thu được lợi ích nào đó về tài chính, về cơ sở vật chất, về nâng cao trình độ,… trong tương lai,lớn hơn những chi phí đã bỏ ra Nếu xem xét trên góc độ từng
cá nhân hoặc từng đơn vị đã bỏ tiền ra thì các hoạt động này đều được gọi là đầu tư
Như vậy đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt kết quả đó
2.1.1.3 Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là loại hình đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô vốn của nhà đầu tư và quy mô vốn trên phạm vi toàn xã hội
Trang 10Giáo dục mầm non có nhà trẻ mẫu giáo.
Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
Giáo dục dạy nghề có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề
Giáo dục đại học và sau đại học đào tạo trình độc Cao
đẳng, trình độ Đại học, trình độ Thạc sỹ, trình độ Tiến sỹ
2.1.3 Các nguồn đầu tư tài chính cho giáo dục đào tạo
Với chủ trương xã hội hóa giáo dục đào tạo của Đảng và nhà nước, nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đào tạo có nhữngthay đổi về cơ cấu Theo mục 2 chương VII Luật giáo dục Việt Nam thì các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục bao gồm:
a) Đầu tư từ ngân sách nhà nước
Đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước là hoạt động sử dụng các nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng cơ sở hạ tầng mua sắm trang thiết bị, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, thực hiệncác chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các cơ sở
hạ tầng của ngành giáo dục đang cong tồn tại và nâng cao chấtlượng đào tạo của ngành giáo dục
b) Đầu tư từ ngoài nguồn ngân sách
Nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước đóng vai trò trong việc mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả sản phẩm của giáo dục đào tạo trong nền kinh tế xã hội
- Đầu tư từ nguồn thu học phí
Nguồn thu học phí có ý nghĩa kinh tế chính trị xã hội sâu sắc đối với nhà trường đó là khoản bù đắp một phần những chi
Trang 11phí quá lớn mà khả năng ngân sách nhà nước không cung cấp, đối với nhà nước là thực hiện phương châm nhà nước và nhân dân cùng chăm lo sự nghiệp giáo dục đào tạo đối với xã hội là phát huy trách nhiệm của cộng đồng cho sự “Trồng người” của đất nước.
- Thu từ đóng góp của các doanh nghiệp, cơ quan có sử dụng lao động được đào tạo
Chính phủ khuyến khích sự tham gia tích cực của các công ty, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc khai thác nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đào tạo
- Nguồn vốn hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
Nước ta ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước trên thế giới trong đó có lĩnh vực giáo dục đào tạo Ngoài các khoản đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam, nhà nước ta còn giành một khoản đầu tư lớn để đào tạo những người có năng lực đi học ở nước ngoài Việt Nam phải tranh thủ mọi
cơ hội và tạo điều kiện để nâng cao đầu tư giáo dục đào tạo
2.1.4 Vai trò của giáo dục, đầu tư cho giáo dục
2.1.4.1 Vai trò của giáo dục
Như chúng ta đã biết trong thời đại hội nhập như hiện nay, khoa học công nghệ bùng nổ thì càng không thể thiếu vai trò của người dân có trình độ công nghệ cao Việc thực hiện những mục tiêu cải cách giáo dục đã thực sự đem lại những chuyển biến về trình độc học vấn trong cộng đồng người dân, đây là một yếu tố thuận lợi mang tính nội sinh trong việc đẩy mạnh các hoạt động đào tạo nghề cũng như giải quyết việc làm cho người lao động
Điều đó cho chúng ta thấy khi người dân đạt được một trình độ học vấn nhất định họ sẽ có khả năng tiếp thu thông tin cũng như khả năng phát huy chuyên môn của mình một cách tốt nhất Vì vậy, những người có trình độ học vấn càng cao thì cơ hội họ tìm được một công việc tốt và thích hợp sẽ dễ dàng hơn so với những người khác Mặt khác, một điều mà chúng ta dễ dàng nhận ra
đó là việc đầu tư cho giáo dục sẽ làm tăng năng suất cho chính bản thân họ Con người là nhân tố sáng tạo ra kỹ thuật công nghệ và trực tiếp sử dụng chúng vào quá trình phát triển kinh tế Do đó ta có thể nhận thấy việc nâng cao trình độ
Trang 12học vấn và trang bị kiến thức chuyên môn cho người dân sẽ làm tăng năng suất
và hiệu quả cao Ở phạm vi vĩ mô, giáo dục làm tăng kỹ năng lao động, tăng năng suất và dẫn đến thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Do vậy, giáo dục được xem như là một hoạt động đầu tư làm tăng vốn nhân lực, có ích cho tăng trưởng kinh
tế trong dài hạn (Trần Nam Bình, 2002)
Phát triển giáo dục luôn là một động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, là điều kiện phát huy nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước
về thể lực, kiến thức, kỹ năng, trình độ và nhân cách nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu hoạt động, lao động cá nhân và sự phát triển của xã hội
Giáo dục nâng cao chất lượng của lao động, được thể hiện qua việc tích lũy vốn,tăng thu nhập người lao động Giáo dục cũng là công cụ để thế hệ trước truyền lại cho các thế hệ sau các tư tưởng và tiến bộ khoa học công nghệ Giáo dục đào tạo thực hiện mục đích “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” hình thành đội ngũ có tri thức, có tay nghề, c năng lực thực hành, tự chủ năng động sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội Giáo dục gắn liền với học hành, những điều học sinh học trong nhà trường
sẽ gắn với nghề nghiệp và cuộc sống trong tương lai của họ Giáo dục đào tạo lớp người có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, có ý thức vươn lên
về khoa học, công nghệ, xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, đào tạo các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà kinh doanh quản lý nhằm phát huy mọi tiềm năng của đội ngũ trí thức để tạo nguồn lực trí tuệ và nhân tài cho đất nước
2.1.4.2 Vai trò của đầu tư cho giáo dục
Đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư có lãi lớn nhất cho tương lai của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi gia đình, dòng tộc và mỗi cá nhân
Muốn hoạch định được chính sách đầu tư sâu rộng có hiệu quả cho giáo dục phải có tầm nhìn xa trông rộng Chính vì vậy, UNESCO đã chỉ ra vai trò củagiáo dục trong thời đại ngày nay và đã từng kêu gọi các quốc gia giảm chi phí cho vũ khí để đầu tư cho giáo dục Theo ước tính: Cứ ba phút thế giới lại có một
Trang 13phát minh khoa học, nên UNESCO đã khuyến nghị với mọi người về khối lượng tri thức khổng lồ của nhân loại cần được chuyển giao cho các thế hệ Điều
đó khẳng định rằng: Quốc gia nào không đầu tư cho giáo dục sẽ có nguy cơ tụt hậu nghiêm trọng trong tương lai
Luật giáo dục 2005 của nước ta cũng đã khẳng định: “Phát triển giáo dục
là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” (điều 9) Tại điều 13 cũng nhấn mạnh: “Đầu tư giáo dục là đầu tư phát triển, Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục Khuyến khích bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho giáo dục, trong đó ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục” Giáo dục đảm nhận việc dạy người với bốn
trọng tâm của “Chiến lược con người” ở thế kỷ 21: Thứ nhất là học tri
thức (Con người có tri thức chuyên sâu, có trình độ học vấn và trình độ văn hoá cao, có khả năng cống hiến) Thứ hai là: học cách làm việc (Biết tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần có chất lượng cao cho xã hội, sự năng động sáng tạo trong công việc) Thứ ba là: học cách tồn tại (để có khả năng thích nghi với nhịp điệu của xã hội hiện đại trong môi trường sống rộng mở phức tạp, đa chiều.Nhất là trong xu thế hội nhập hiện nay) Thứ tư là: học cách chung sống (Có kiến thức về bản sắc riêng của từng dân tộc, am hiểu văn hoá thế giới, đáp ứng được xu thế quốc tế hoá toàn cầu Con người chung sống trong đối thoại hoà bình) Điều đó đặt giáo dục trước những cơ hội vàng, song giáo dục cũng phải chấp nhận những thách thức lớn lao của thời đại Nếu không được đầu tư đúng mức, khó lòng đạt được mục tiêu
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển đầu tư cho giáo dục bằng nguồn ngân sách nhà nước
a) Cơ chế chính sách và trình độ quản lý
Nguồn vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn chịu sự quản lý chặt chẽ củanhà nước, tuy nhiên không phải khi nhà nước quản lý ở tất cả mọi mặt thì nguồnvốn đó sẽ phát huy tác dụng một cách tốt nhất Vì vậy, để đảm bảo cho nguồn vốn đầu tư được bố trí hợp lý cần phải tăng cường chất lượng của công tác lập
kế hoạch, tiến hành dự báo thường xuyên và tăng cường cung cấp thông tin về lượng vốn cần thiết cho đầu tư phát triển
b) Đặc trưng của ngành giáo dục thời kì mới
Trang 14Với quan điểm chỉ đạo “ giáo dục là quốc sách hàng đầu”, phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản đểphát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Sự phát triển của khoa học công nghệ, sự phát triển năng động của nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên hiện thực hơn và nhanh hơn Khoa học công nghệ trở thành động lực cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học – công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của
xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau Đây là đòi hỏi khách quan cần có sự quan tâm và đầu tư phát triển ngành giáo dục
Nguồn vốn giành cho đầu tư giáo dục cũng có những chuyển biến về cơ cấu hiện nay phần lớn nguồn vốn đầu tư là từ ngân sách nhà nước, nhưng trước những thay đổi của bối cảnh quốc tế, cơ cấu nguồn vốn thay đổi theo hướng giảm tỉ trọng nguồn vốn ngân sách nhà nước, tăng tỉ trọng nguồn vốn của các cá nhân tổ chức trong nước và ngoài nước, giảm gánh nặng của cả nước và tăng chất lượng đào tạo, đổi mới hệ thống cơ sở vật chất
c) Các nhân tố về kinh tế xã hội
Do đặc điểm kết cấu của cơ sở hạ tầng giáo dục của Việt Nam, các trường đại học phân bổ không đồng đều giữa các tỉnh, thành phố trong cả nước Nguồn vốnngân sách hàng năm giành cho các ngành tăng hay giảm phụ thuộc rất nhiều vàotổng thu ngân sách nhà nước hàng năm Nếu tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm lớn thì phần ngân sách giành để đầu tư phát triển cho ngành giáo dục nói riêng và các ngành khác nói chung sẽ có xu hướng tăng lên Các khoản thu ngân sách nhà nước bao gồm: thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu từ thuế, thu từ hoạt động cho thuê của nhà nước,… Các khoản thu này chịu ảnh hưởng rất nhiều của các nhân tố kinh tế như: tăng trưởng kinh tế hàng năm, lạm phát, điều kiện kinh tế thế giới,…
d) Một số nhân tố khác
- Quan điểm phát triển của nhà nước
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến các định hướng phát triển của các ngành nói chung và của ngành giáo dục nói riêng Quan điểm phát triển của nhà
Trang 15nước sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu định hướng phát triển, cơ cấu nguồn vốn đầu
tư Theo từng thời kỳ, nhà nước có quan điểm phát triển khác nhau phù hợp với điều kiện khách quan và sự phát triển của đất nước Hiện nay, với quan điểm xâydựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học hiện đại theo định hướng
xã hội chủ nghĩa
- Đặc điểm đầu tư vào ngành giáo dục
Đầu tư phát triển giáo dục đào tạo không giống với đầu tư phát triển các ngành sản xuất Hiệu quả của quá trình đầu tư chỉ có thể thấy được sau một quá trình rất dài Có thể thấy, việc bỏ ra chi phí để đào tạo một con người bắt đầu từ khi cho trẻ đi học mẫu giáo rồi trải qua các bậc học tiểu học, trung học, đại học, sau các bậc học này mới có thể thấy được người công dân đó cống hiến được gì cho xã hội và những cống hiến này cũng rất khó để lượng hóa được thành các con số doanh thu, lợi nhuận… để đánh giá xem dự án đầu tư đó có hiệu quả hay không hiệu quả Vì đặc trưng này nên rất ít các tổ chức, cá nhân muốn tham gia vào đầu tư phát triển, nguồn vốn chủ yếu cho phát triển của ngành hiện nay chủ yếu là nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn đi vay viện trợ nước ngoài
2.2 Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Đây là một phương pháp rất quan trọng vì trên cơ sở những nguồn tài liệu, số liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu thu thập được từ sách báo, tạpchí khoa học, internet, số liệu sở giáo dục Đăk Lăk… về thực trạng phát triển đầu tư cho giáo dục tỉnh Đăk Lăk
2.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
2.2.2.1 Phương pháp xử lý số liệu
Phương pháp xử lý số liệu này được sử dụng thường xuyên như công cụ
để phân tích, lựa chọn những giá trị đúng nhất, gần nhất với thực tiễn trên cơ sở các số liệu thu được từ nhiều nguồn
Sử dụng phần mền Excel để sử lý các số liệu đã thu thập số liệu thứ cấp của tỉnh, kết quả được trình bày trong phần mền Word
2.2.2.2 Phương pháp thống kê
Trang 16Qua việc quan sát tình hình thực tế của tỉnh và số liệu thu thập được từ các sở ban ngành từ đó mô tả tình hình phát triển đầu tư cho giáo dục tỉnh Đăk Lăk
2.2.3 Phương pháp phân tích
Trong quá trình thực hiện đề tài, việc vận dụng phương pháp phân tích, sosánh đối chiếu các số liệu thống kê để thấy được thực trạng phát triển đầu tư chogiáo dục tỉnh Đăk Lăk so với các tỉnh khác hay với cả nước
Lượng tăng tuyệt đối: Là hiệu số giữa hai mức độ của chỉ tiêu trong dãy
số thời gian, phản ánh sự thay đổi mức độ của hiện tượng qua hai thời gian khác nhau
Lượng tăng tuyệt đối liên hoàn (hay lượng tăng tuyệt đối từng kỳ) là hiệu
số giữa mức độ của kỳ nghiên cứu với mức độ của kỳ liền kề trước nó trong dãy
Tốc độ phát triển liên hoàn (hay tốc độ phát triển từng kỳ) dùng để phản ánh sự phát triển của hiện tượng qua từng thời gian gắn liền nhau, được tính bằng cách so sánh một mức độ nào đó trong dãy số ở kỳ nghiêm cứu với mức độliền trước đó công thức tính:
ti = trong đó : ti : tốc độ phát triển liên hoàn;
yi : mức độ chỉ tiêu ở kỳ nghiên cứu
yi-1 : mức độ chỉ tiêu ở kì liền kề trước kỳ nghiên cứu