Chất đốt thực vật có thể lấy từ các bộ phận thân, rễ, cành, lá, vỏ quả, vỏ hạt, vỏ cây,… Các nguồn cung cấp chất đốt thực vật bao gồm: từ rừng, từ phế phụ phẩm nông nghiệp, phế phụ phẩm
Trang 1Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế giới quanh ta luôn vận động không ngừng, năng lượng là một phầnkhông thể thiếu của sự vận động đó Để tồn tại và phát triển con ngưới cần cócác nguồn năng lượng Năng lượng là vô cùng cần thiết đối với các thực thểnói chung và con người nói riêng
Theo ý nghĩa vật lý, năng lượng là khả năng sinh công, nhiệt, ánh sáng.Năng lượng là điều kiện tất yếu để có sự vận động và tồn tại của vật chất,giúp cho sinh vật quang hợp, kiếm mồi, máy móc hoạt động… Đồng thời đây
là yếu tố cơ bản của sản xuất cùng với lao động, đất đai và vốn Đặc biệt nănglượng là yếu tố không thể thiếu được trong đợi sống con người, của mọi tầnglớp xã hội
Để tạo ra năng lượng con người sử dụng các nguồn nhiên liệu Ngàynay, con người đã biết sử dụng nhiều loại nhiên liệu khác nhau và khai thác từnhiều nguồn khác nhau như: than đá, dầu thô, gió, nước, mặt trời, sinh khối…Cuộc sống của loài người đã có một bước ngoặt lớn từ khi tìm ra lửa Và lúcnày thực vật là nguồn nhiên liệu đầu tiên được con người sử dụng Thực vậtluôn gắn bó với đời sống của người dân Nơi nào có con người ở đó có thựcvật, thực vật cung cấp dưỡng khí cho sự sống, cung cấp lương thực, thựcphẩm và chất đốt Chất đốt thực vật có thể lấy từ các bộ phận thân, rễ, cành,
lá, vỏ quả, vỏ hạt, vỏ cây,… Các nguồn cung cấp chất đốt thực vật bao gồm:
từ rừng, từ phế phụ phẩm nông nghiệp, phế phụ phẩm chăn nuôi… Chất đốtthực vật được coi là nguồn năng lượng truyền thống, là một nguồn nănglượng dễ kiếm, dễ sử dụng và đặc biệt đây là nguồn năng lượng có khả năngtái tạo mà các loại năng lượng khác như than đá, dầu mỏ không có được
Việt Nam chúng ta là một nước có nền sản xuất nông nghiệp chiếm tỷtrọng lớn trong nền kinh tế quốc dân Rừng và đất đồi núi chiếm 2/3 tổng diệntích tự nhiên của toàn quốc, trong phân bố dân cư thì gần 70% dân số là nôngdân sống chủ yếu ở vùng nông thôn với thu nhập thấp Chính vì vây, chất đốt
Trang 2thực vật vẫn là nguồn nhiên liệu chủ yếu của người dân, đặc biệt là người dân
ở vùng nông thôn miền núi Đối với người dân thì chất đốt thực vật là nguồnnhiên liệu tại chỗ, được khai thác sử dụng với phương thức tự sản tự tiêu Mặtkhác bếp lửa còn được coi là nét văn hóa truyền thống của người dân miềnnúi
Trong thực tế hiện nay đời sống của người dân miền núi còn khó khăn,
kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, thu nhập của người dân thấp không đủ chi trảcho các nguồn năng lượng thương mại như: than, điện, gas, dầu hỏa… Vì vậy,chất đốt thực vật vẫn là nguồn năng lượng không thể thiếu của người dân Vớimức tăng dân số như hiện nay đã gây sức ép rất lớn đối với các nguồn cungcấp chất đốt thực vật Trên thực tế đã làm cho nguồn cung cấp chất đốt thựcvật ngày càng cạn kiệt trong khi đó nhu cầu ngày càng tăng cao và chưa tìm
ra được nguồn năng lượng phù hợp để thay thế cho chất đốt thực vật ở nôngthôn Xã Cúc Phương là một xã miền núi nằm trong vùng đệm của Vườn quốcgia Cúc Phương, người dân ở đây đa số là người Mường Cuộc sống của cộngđồng nơi đây gắn liền với tự nhiên, đặc biệt là rừng Hàng ngày người dân vàorừng để hái rau, lấy thuốc và đặc biệt là củi đốt Lượng củi đốt tiêu thụ hàngnăm của xã là rất lớn và phần lớn trong số đó được lấy từ rừng của Vườnquốc gia Cúc Phương Với nhu cầu ngày càng lớn do tăng dân số, do pháttriển một số ngành nghề phụ đã tạo sức ép lên tài nguyên rừng Vườn quốcgia, có nguy cơ làm giảm nguồn tài nguyên của Vườn quốc gia Cúc Phương
Từ thực tế đó tôi thực hiện đề tài nghiên cứu:
“Chất đốt thực vật của cộng đồng người Mường tại xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình: thực trạng và giải pháp”.
Với mong muốn qua điều tra nhu cầu sử dụng chất đốt thực vật củacộng đồng người Mường nói riêng và người dân trong xã nói chung và tiềmnăng cung cấp chất đốt thực vật, cân đối cung cầu trong xã làm cơ sở lập kếhoạch phát triển chất đốt thực vật, góp phần làm giảm thiểu sức ép lên tàinguyên rừng của Vườn quốc gia Cúc Phương
Trang 3Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về chất đốt là một vấn đề mới, được đặt ra vào cuối thập kỷ
80 của thế kỷ XX, khi nguồn tài nguyên rừng trên thế giới bị giảm mạnh vàsức ép về chất đốt thực vật của con người tăng cao Tuy vậy, các công trìnhnghiên cứu về vấn đề này khá đa dạng, đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhaucủa vấn đề chất đốt nói chung và chất đốt thực vật nói riêng
2.1 Trên thế giới
Ở nhiều quốc gia nhiệt đới 90% sản lượng gỗ được sử dụng là để làmcủi đun nấu hay sưởi ấm và các mục đích sử dụng nội địa khác như cột chốngtrong xây dựng hay làm hàng rào Rừng thuần loài, rừng hỗn loài tất cả đềuđược thu nhặt gỗ Sự phụ thuộc vào khí hậu (chủ yếu là ấm áp) và Sự khanhiếm gỗ, sự tiêu thụ củi biến động tư 0,5 đên 2 m3/người (theo Miller và cáccộng sự 1986).Từ những năm 1970, sự chuyển đổi dần ở các quốc gia đangphát triển từ củi tới các nguồn năng lượng tinh vi hơn đã dừng lại, trong nhiềutrường hợp ngược việc sử dụng củi đốt ngày càng tăng: ví dụ như ở châu Phi,
nó đã tăng từ 290 triệu m3 lên 410 triệu m3 giữa năm 1970 và 1982 Sự khanhiếm củi đốt ngiêm trọng đó là cung không đáp ứng được cầu ngay cả khichặt hạ quá mức, năm 1980 đã ảnh hưởng tới 96 triệu người ở 23 quốc giabao gồm dải Shahel Châu Phi, Ê-ti-ô-pi-a, Kê-ni-a, Su-dăng, Bôt-wa-na, Li-sô-thô, Pê-ru, Bô-li-vi-a, Pa-kit-tan và Ap-ga-nit-tan Thêm 984 triệu ngườinữa đang tiêu thụ củi nhanh hơn số mà họ đã được cung cấp thêm từ tái sinhrừng tự nhiên hay phát triển rừng (theo FAO 1983) Sự khan hiếm gỗ tăngmạnh mà cái giá của nó là 25% thu nhập của gia đình dùng để chi tiêu choloại hàng hoá riêng này Ở nhiều nước châu Á việc này từ lâu đã dẫn đến việcdùng phân bò làm chất đốt Ở Băng-la-det 22,6 triệu tấn phân bò tươi và 11triệu tấn phế phẩm nông nghiệp được dùng để đun nấu (theo Alim 1980)
Trang 4Gỗ củi không chỉ được dùng đun trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt của các
hộ gia đình mà còn được thu nhặt để đốt than phục vụ cho cả nhu cầu trongnước và công nghiệp Ngành công nghiệp sử dụng gỗ làm năng lượng trongphạm vi từ nấu chảy quặng sắt ở Brazil tới sấy khô chè, thuốc lá, cà phê, cá vàđốt lò gạch ở các nước nhiệt đới Cứ sấy khô 1 kg thuốc lá thì tốn khoảng 5-
13 kg gỗ hay cần 1 hecta rừng được quản lý để sấy khô 1 hecta thuốc lá (theoFraser 1986)
- Nguyên liệu gỗ - củi ngoài rừng ở Nepal
Nepal phụ thuộc chủ yếu nhiên liệu sinh thái do thiếu sự phát triển củacác năng lượng thay thế khác và do có điều kiện kinh tế nghèo nàn trên cảnước nhiên liệu gỗ củi là nguồn năng lượng chính ở Nepal và sẽ còn như vậytrong thời gian sắp tới Nguồn nguyên liệu gỗ củi gồm thân, cành nhánh…của sinh khối, mùn củi và các loại khác có được từ quá trình khai thác và chếbiến gỗ, năng lượng gỗ củi và trong hệ sinh thái chiếm 2/3 (khoảng 68%) tổngtiêu thụ năng lượng, chủ yếu để đun nấu, sưởi và đun lò Nhu cầu năng lượngtrên khắp Nepal được đáp ứng nổi bật bằng các loại nhiên liệu truyền thốngnhư gỗ củi, sản phẩm phụ nông nghiêp và chất thải động vật Nhiên liệutruyền thống này chiếm 91% toàn bộ tổng tiêu thụ năng lượng (68% gỗ đun,15% sản phẩm phụ nông nghiệp và 8% chất thải động vật)
Sản xuất chất đốt: Nguồn nguyên liệu gỗ củi chủ yếu là ở những khuđất rừng và ngoài rừng (gồm rừng bị suy thoái, vùng đất mọc những loài cây
và khu đất trồng cây lấy gỗ) Nepal có 3,83 triệu ha rừng cây và đồng cỏ cónăng suất trong đó chỉ có 2,18 triệu ha là được sử dụng (FRIS, 1999) Rừng,cây bụi và đồng cỏ chiếm khoảng 80% đất rừng đang được sử dụng, đất trangtrại chiếm 10% còn lại là đất không canh tác (NCI)
Tổng cung chất đốt bền vững có được từ những khu đang sử dụng năm
1994, 1995 là 5,44 triệu tấn và khoảng 75% trong số này là của các khu rừng,vùng cây, đồng cỏ của nhà nước Đất trang trại chiếm 10% tổng khu vực thunhặt chất đốt và cung cấp 20% tổng cung Trong khi rừng cung cấp chất đốt
Trang 5thực vật chiếm khoảng 80% (WECS 1994 – 1995), cả khu đất rừng và đấtkhông có rừng đều là các nguồn cung cấp nhiên liệu quan trọng ở Nepal.
Trong một nghiên cứu về sự tiêu thụ chất đốt thực vật ở CauSe ( HaPa1992) người ta thấy rằng người dân nông thôn sử dụng một tỷ lệ % chất đốtthực vật cao hơn so với người dân ở ngoại ô Khoảng 37,75% chất đốt thựcvật là từ thị trường và 62,25 % từ đất tư nhân Các nguồn chính xác chưađược xác định tuy nhiên người ta cho rằng dường như nguồn cung cấp từ thịtrường có được từ các khu rừng của nhà nước
Ở Terai nơi áp lực về dân số rất cao và hầu hết người dân sống xa khurừng của nhà nước nên rất kho khăn trong việc lấy nhiên liệu gỗ củi từ rừng.Hầu hết dọ dựa vào cây trồng của chính mình trồng trên đất trang trại, đấtchiếm làm rừng, đất thường, vườn hộ,… Các đồi cây, cây ăn quả và các loạicây hoa màu khác cũng là nguồn nguyên liệu thông thường gần nhà dân
Lợi ích tăng lên trong việc trồng cây lấy gỗ và chất đốt trên khu vực đất
tư nhân rất lớn ở hầu hết các cộng đồng dân cư (OJHA 1996 và POUTEL1996) và là một dấu hiệu tốt cho thấy nguồn cung cấp chất đốt thực vật từ khungoài rừng sẽ có tương lai phát triển tốt
- Sản xuất và cung cấp gỗ củi ở Bangladesh
Bangladesh là một nước nhỏ (147.570Km2) với dân số 125 triệu người,thu nhập bình quân đầu người trên dưới 337 USD/năm, trên khoảng 85% dân
số sống ở vùng nông thôn trong 15,61 triệu hộ gia đình trên hơn 68000 làngquê Trung bình trên 5,6 người/hộ gia đình (PPS 1996), với tỷ lệ biết chữ thấp(30%) và cơ sở công nghiệp nghèo nàn Nền kinh tế của nước này chủ yếu làcanh tác và người dân nông thôn phụ thuộc vào hệ thống sản xuất dựa trên đấtđai trồng trọt để sinh sống Việc tiêu thụ năng lượng là con số đáng kể củanền kinh tế của một nước và Bangladesh là một nước kém phát triển nhất trênthế giới Có mức tiêu năng lượng bình quân đầu người rất thấp 4,2 GJ so với344,6 GJ ở Mỹ (BaNa 1997) nhu cầu năng lượng của một nước được đáp ứng
Trang 6bởi các nguồn năng lượng khác nhau như sinh khối, điện, khí gas tự nhiên,dầu lửa, diezen, than bi tu, và các chất khác.
Nguồn sinh khối: nói chung nguyên liệu sinh khối gồm chất đốt, dưlượng cây, sản phẩm phụ nông nghiệp (vỏ trấu, cám, cây đay…) dư lượngthực vật ( vỏ cây, hoa, lá, cành, vỏ quả…), than củi và phân động vật Nhiênliệu sinh thái đóng góp 76% tổng tiêu thụ năng lượng của đất nước với dưlượng nông nghiệp chiếm phần lớn nhất 46%, nhiên liệu gỗ củi chiếm 13%,phân động vật 13% và dư lượng cây 4% (FMP 1993)
Các gia đình tiêu thụ 65%, lĩnh vực công nghiệp 19% tổng tiêu thụnăng lượng của Bangladesh Với chất đốt thực vật thì việc đun nấu trong giađình chiếm khoảng 63%, 25,1 m3 gỗ hằng năm và việc sử dụng của ngànhcông nghiệp và thương mại là rất đáng kể 2,9 triệu m3 hàng năm (khoảng36%) Trên hết cả là nhiên liều từ cây và tre nứa cung cấp 48% nhu cầu nănglượng trong gia đình, sản phẩm phụ nông nhiệp 36%, chất thải động vật 13%,3% còn lại là các mỏ bùn đất (FMT 1993)
Sản xuất và cung cấp nhiên liệu gỗ củi từ đất ngoài rừng: khu đất rừngcủa Bangladesh chiếm 2,22 triệu ha (15,4% tổng diện tích của cả nước).Trong số rừng được bảo vệ và chưa được phân loại của nhà nước Đất ngoàirừng gồm đất vườn, đất làng, đất trồng hoa màu, đường đi, bờ kênh, đất cằncỗi và đất khai hoang Những vườn cây bao trùm một diện tích 0,37 triệu ha(1,9% tổng diện tích đất) là nguồn cung cấp chất đốt chính, chiếm 87% (trongtổng số 5,5 triệu tấn) số nhiên liệu gỗ củi được tiêu thụ Hơn nữa 0,08 triệu hađất cằn cỗi dọc đường đi, đường tàu và bờ kênh, 9,25 triệu ha đất trồng trọt,0,07 triệu ha các khu vực khác
Các vườn chè và một nửa trong số 0,302 triệu ha bãi đất ở sông nuôi cá cungcấp một lượng nhiên liệu sinh khối rất lớn Số còn lại do rừng cung cấp (GOP1987)
Trang 7- Ở Thái Lan
Chất đốt thực vật là nguồn năng lượng chính trong nhà nông dân Một
số ngành công nghiệp cũng sử dụng nhiều, hầu hết các cư dân nhặt củi từrừng tự nhiên đặc biệt là các cành, dư lượng ở các khu khai thác gỗ Trướcđây việc chặt cây phi pháp cũng là một nguồn chất đốt quan trọng Do áp lựcdân số và nhu cầu về đất nông nghiệp, nhu cầu củi đun đã tăng nhanh hơn tỷ
lệ tăng trưởng của các thế hệ rừng Nguồn rừng của nước này gần như kiệtquệ, đặc biệt là ở Đông Bắc Thái Lan Việc khai thác, sử dụng nhiên liệu gỗcủi được coi là một trong những nguyên nhân chính của sự suy thoái rừng
Ở Thái Lan có một cuộc thu thập số liệu lâm nghiệp rộng rãi liên quanđến chất đốt thực vật nhưng hầu như chưa làm được gì để đánh giá việc sảnxuất chất đốt thực vật từ các khu ngoài rừng của đất nước này Để đảm bảocung cấp năng lượng đầy đủ và sử dụng năng lượng có hiệu quả là mục tiêuquan trọng của các cơ quan chức năng Thái Lan và đã được đưa ra trong kếhoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia lần thứ 6 (1982 – 1986) và lần thứ 8(1997 – 2001) Một dự án như dự án RZD đã được tiến hành để đáp ứng mụctiêu này
Một nghiên cứu khởi điểm về các đặc tính tiêu thụ chất đốt gỗ củi của 8làng nông thôn Đông Bắc quận Phuwieng tỉnh Khonkaen đã được tiến hànhbởi Bộ Lâm nghiệp Hoàng gia, cuộc điều tra cho thấy 80,78% người dân thulượng củi từ cây trên trang trại hay trên đồng ruộng của chính họ Trong khi5.08% lượng củi những khu bảo tồn của quốc gia và 14,13% nhặt củi từnhững nơi khác Các sinh viên cử nhân khoa Lâm nghiệp trường Đại họcKasetsart đã kiểm tra lại số liệu liên quan đến các nguồn đất gỗ củi trong hộgia đình Kết quả cho thấy 68,01% củi và 46,12% than củi được lấy từ nhưngkhu ngoài rừng phía Bắc Thái Lan trong khi đó 55,01 củi và 48,19% than củiđược sản xuất từ các khu ngoài rừng ở miền Trung Hải
Trong lĩnh vực công nghiệp nhiều nhà máy sử dụng củi để cung cấpnăng lượng Các xưởng là các khách hàng tiêu thụ năng lượng gỗ củi chủ yếu
Trang 8Bộ Lâm nghiệp Hoàng gia đã chỉ đạo một trường hợp nghiên cứu các xưởnggốm đã thu các dữ liệu về việc sử dụng dư lượng từ các xưởng cửa và cácngành công nghiệp xử lý gỗ Kết quả phỏng vấn 40 xưởng gốm cho thấy gỗ
dư thường từ các xưởng cưa ở tỉnh Samutsaxorn và các cành con, cành nhánhthu được từ việc thu hoạch cây cao su trồng ở miền nam Tổng số dư lượng gỗđược sử dụng lên tới 28.360m3/năm và cỡ củi có đường kính trung bình là 1 –1,5 inch và dài 2cm
- Ở Ấn Độ
Phần lớn nhu cầu về năng lượng dùng để đun nấu, sưởi ấm trong nhà,đặc biệt là ở nông thôn Ấn Độ đều được đáp ứng từ nguồn chất đốt thực vật.Chất đốt thực vật là nguồn năng lượng đun nấu, sưởi ấm chủ yếu ở nông thôn
Ấn Độ Ngoài đun nấu chất đốt thực vật còn được sử dụng trong lò mạch,khách sạn, lò bánh mì, ngành kinh doanh nhỏ tại nhà… Người nghèo ở ngoại
ô, chủ yếu sinh sống ở ngoại thành và ven thị trấn hầu hết cũng dựa vào chấtđốt thực vật để đun nấu Trong khi nhiên liệu hóa thạch được coi là thứ không
ưa về mặt môi trường, thì chất đốt thực vật lại là cái thân thiện với môi trường
và được mọi người dân ưa thích vì nó là nguồn năng lượng đun nấu truyềnthống Chất đốt thực vật được thu lượm chủ yếu từ những khu rừng của nhànước gần đó, vườn và sân sau của gia đình, khu đất cộng đồng, khu làmnông… Có nhiều ước tính khác nhau về số lượng củi đun thu được từ rừng vànguồn ngoài rừng, FAO (1997), Natarajan (1996), Sakena (1997), Agarwal(1998) không coi chất đốt từ rừng là nguyên nhân phá hủy rừng ở Ấn Độ.Theo các nghiên cứu này phần lớn khối lượng chất đốt thực vật có được từnguồn ngoài rừng Ngược lại có những nghiên cứu như (Prasad 1999Bhattehay và Joshi 1999) cho thấy việc khai thác không bền vững chất đốtthực vật từ rừng tạo ra sự phá hoại rừng Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứunày hoặc là dựa vào số liệu phát sinh, hoặc là được lấy ra từ nghiên cứu mẫunhỏ khác
Trang 9Dự đoán hiện nay về mức tiêu thụ chất đốt thực vật thay đổi từ cơ quannày đến cơ quan khác và từ ước tính này đến ước tính khác Tuy nhiên một sựthật không thể bàn cãi là nhu cầu về chất đốt thực vật của nước này đang tănglên và có nhiều ước tính đang gần mức 250 triệu m3 (Prasad 1999), trong sốnày có tới 20 triệu m3 được tạo ra từ các khu rừng, hơn 90% mức tiêu thụđược đáp ứng từ rừng và nguồn ngoài rừng ( MOEFF 1996) Cuộc điều trarừng ở Ấn Độ (Rai và Chakrabati 1996) đã ước tính tổng tiêu thụ chất đốtthực vật trên cả nước là 201 triệu tấn Trong số này 78 triệu tấn được ngườidân nông thôn khu vực có rừng tiêu thụ, 74 triệu tấn do ngành buôn bán, 4triệu tấn dung cho các nghi lễ và 10 triệu tấn dùng cho các khách sạn tiêudùng Coi như dân số tăng lên trong suốt 4 – 5 năm qua sau sự công bố báocáo FSI (1996) việc tiêu thụ chất đốt thực vật có thể lên tới 217 triệu tấn
2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam cây thân gỗ được trồng theo phương thức “trồng cây nhândân” dưới nhiều hình thức khác nhau như trên đất hộ gia đình, dọc đườnggiao thông, bờ kênh mương, xung quanh trường học, nơi đất công cộng Thực
tế này đã cung cấp khoảng 8 triệu tấn củi tương đương với 25% tổng nhiênliệu tiêu thụ hàng năm Ngoài ra còn có tới 2,2 triệu tấn củi được khác thác từrừng trồng
Cho đến hiện tại, chất đốt thực vật vẫn là nguồn cung cấp năng lượnggia dụng chủ yếu của dân cư sống ở vùng nông thôn và một số ở thành thị
Đã có nhiều công trình nghiên cứu và điều tra chất đốt ở các vùng nôngthôn và thành thị ở nước ta, song điều này vẫn chưa có số liệu chính xác đểđánh giá mức tiêu thụ chất đốt thực vật trên đầu người và tổng nhu cầu vềchất đốt thực vật hàng năm vì tình trạng tự cung tự tiêu không thể thống kêđược, theo số liệu điều tra của một số địa phương thì mức tiêu thụ năng lượngbình quân đầu người ở các vùng như sau:
- Miền núi 650 – 700 kg củi/người/năm
- Trung du 450 – 500 kg củi/người/năm
Trang 10- Đồng bằng ven biển 350 – 400 kg củi/người/năm.
Hun, sấy cá tôm 3 kg củi/kg
Nhiên liệu chế biến các loại nông sản bằng phương pháp thủ công:Sấy thuốc lá 8 kg củi/kg
Sấy chè 2 kg củi/kg
Nấu mật mía 1 kg củi/kg
Sấy cà phê 1 kg củi/kg
Tách dầu thực vật 0,08 kg củi/kg
Kéo kén tằm 0,2 kg củi/kg
- Nhiên liệu dùng cho sản xuất vật liệu xây dựng:
Nung gạch 0,5 kg củi/viên
Nung ngói 0,75 kg củi/viên
Nung vôi 0,6 kg củi/kg
Sứ - Gốm 0,2 kg củi/kg
- Nấu thức ăn cho lợn 350kg củi/đầu lợn
Theo đánh giá của ngân hàng thế giới, Việt Nam là một trong số nước
có mức tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người thấp 297kg OE/người/năm,trong đó năng lượng thương mại 92kg OE/người/năm (Thái Lan 468kgOE/người/ năm)
Trong giai đoạn 1990 –1996 nguồn năng lượng phi thương mại chủ yếu
là chất đốt thực vật lên tới 65 – 70% trong cân bằng năng lượng quốc gia Nếuchỉ tính riêng củi, tỉ trọng chiếm 33,9% Kết quả nghiên cứu lập cân bằngnăng lượng tổng thể và chính sách năng lượng quốc gia đến 2005 của việnnăng lượng cũng cho thấy trong khối lượng chất đốt thực vật 1990 thì năng
Trang 11lượng dùng trong sinh hoạt gia đình và chăn nuôi lợn chiếm tới 92,45% cònlại dùng trong sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ và chế biến nông sản.
Hiện nay, Việt Nam đã thực hiện chính sách phát triển năng lượng cả
về năng lượng thương mại và năng lượng sinh học như:
- Tập trung nghiên cứu ứng dụng các dạng năng lượng mới tại vùng sâuvùng xa, những vùng khó khăn trong việc xây dựng lưới điện quốc gia
- Khuyến khích sử dụng năng lượng mặt trời ở những nơi xa mạng lướiđiện quốc gia
- Ứng dụng năng lượng gió cho vùng hải đảo, vùng cao, vùng sâu, vùng
xa lưới điện quốc gia Khuyến khích việc tự chế tạo lắp đặt động cơ gió quy
mô hộ gia đình
- Nghiên cứu sử dụng hầm khí sinh học để giải quyết chất đốt, vệ sinhmôi trường
2.3 Một số khái niệm liện quan đến chất đốt thực vật
- Nhiên liệu truyền thống: là các sản phẩm truyền thống sinh khối cókhả năng cung cấp nhiệt lượng, khí đốt hoặc lên men bao gồm: gỗ, củi, than,các sản phẩm tạo ra từ cây gỗ, các nhiên liệu sinh khối khác như phế thải từmùa vụ, phế thải từ động vật…
- Năng lượng là khả năng sinh ra công, nhiệt hoặc ánh sáng của vậtchất Năng lượng là điều kiện tất yếu để có sự tồn tại và vận động của vậtchất
- Năng lượng sinh khối: thành phần nguyên – nhiên liệu dùng để sảnxuất năng lượng lấy từ sinh vật nói chung gọi là sinh khối và năng lượng thunhận được từ việc khai thác năng lượng chứa trong sinh khối tạo ra nănglượng gọi là năng lượng sinh khối
- Năng lượng thương mại gồm có: điện năng, than, dầu khí, năng lượngnguyên tử
- Năng lượng phi thương mại gồm có: Gỗ củi, than gỗ, phụ phẩm nôngnghiệp: rơm rạ, trấu, thân cây hoa màu
Trang 12- Một số dạng năng lượng khác chưa trở thành năng lượng thương mạinhư biogas, năng lượng gió, mặt trời.
- Nhiên liệu: các vật thể (vật chất) chứa năng lượng cao trong tự nhiênđược con người sử dụng nhiều hơn để sản xuất năng lượng được gọi là nhiênliệu hay nguyên liệu Ví dụ như: gỗ củi, than đá, dầu mỏ, khí đốt…
- Sinh khối: khối lượng vật chất của sinh vật nói chung gọi là sinh khối
Ví dụ như: con người, các loại động vật, vi sinh vật, nấm và các vi sinh vậtnguyên sinh
Trang 13Chương 3 MỤC TIÊU, NÔI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
3.1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định nhu cầu chất đốt của cộng đồng người Mường tại xã CúcPhương
- Xác định nguồn cung cấp chất đốt thực vật cho cộng đồng ngườiMường ở xã Cúc Phương
- Đánh giá tiềm năng cung cấp chất đốt thực vật của địa phương
- Đề xuất kế hoạch phát triển chất đốt thực vật tại địa phương
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là chất đốt thực vật
3.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đánh giá nhu cầu chất đốt và tiềm năng cung cấp chất đốt thực vật củacộng đồng người Mường xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều tra đánh giá nhu cầu sử dụng chất đốt của cộng đồng người Mường tại xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
- Nhu cầu sử dụng chất đốt trong sinh hoạt
- Nhu cầu sử dụng chất đốt trong chăn nuôi
- Nhu cầu sử dụng chất đốt trong chế biến thực phẩm
- Nhu cầu sử dụng chất đốt trong chế biến nông sản
- Nhu cầu sử dụng chất đốt trong các hoạt động khác…
Trang 143.3.2 Xác định nguồn cung cấp chất đốt thực vật của cộng đồng người Mường tại đia phương
- Nguồn cung cấp từ rừng tự nhiên
- Nguồn cung cấp từ rừng trồng
- Nguồn cung cấp từ đất không có rừng, đất trống
- Nguồn cung cấp từ vườn hộ
- Nguồn cung cấp từ hệ thống nông lâm kết hợp
- Nguồn cung cấp từ sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi
- Các nguồn khác…
3.3.3 Điều tra tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật tại khu vực nghiên cứu
- Tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật từ rừng tự nhiên
- Tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật từ rừng trồng
- Tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật từ phụ phẩm nông nghiệp
- Tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật từ vườn tạp
- Tiềm năng sản xuất chất đốt thực vật từ đất trống
- Tiềm năng từ các nguồn khác…
3.3.4 Đề xuất kế hoạch phát triển chất đốt thực vật ở địa phương
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Kế thừa tài liệu thứ cấp của địa phương và Vườn quốc gia Cúc Phương
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu
- Hiện trạng sử dụng đất của thôn, xã
- Một số tài liệu khác liên quan đến khai thác sử dụng chất đốt thực vậttại địa bàn nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp chọn mẫu
- Chọn thôn điểm: chọn 1 thôn điểm của xã với các tiêu chí:
+ Vị trí địa lý: Gần Vườn quốc gia Cúc Phương, thuộc vùng đệm Vườnquốc gia Cúc Phương
Trang 15+ Thành phần dân tộc: có từ 2 dân tộc sinh sống trở lên trong đó cộngđồng người Mường chiếm đa số.
+ Năng lượng: người dân chủ yếu sử dụng chất đốt thực vật
+ Kinh tế: cuộc sống còn phụ thuộc vào rừng
- Lựa chọn hộ gia đình phỏng vấn:
+ Mỗi nhóm hộ lựa chọn 4 hộ điểm để phỏng vấn (03 hộ gia đình ngườiMường, 01 hộ gia đinh người kinh)
+ Có sử dụng năng lượng sinh khối
+ Có những tác động cụ thể và ảnh hưởng qua lại đối với Vườn quốc giaCúc Phương về năng lượng sinh khối
3.4.3 Sử dụng một số công cụ của phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)
3.4.3.1 Phỏng vấn cá nhân
- Phỏng vấn cán bộ thôn, xã
- Phỏng vấn cán bộ vườn quốc gia Cúc Phương
- Phỏng vấn người dân
3.4.3.2 Thảo luận với nhóm người dân nòng cốt của thôn điểm
1 Phân loại kinh tế hộ gia đình của thôn điểm
Để phục vụ cho việc phỏng vấn hộ gia đình, chúng tôi cùng cộng tácviên trong thôn tiến hành phân loại kinh tế hộ gia đình để biết được tỷ lệ cácnhóm hộ trong thôn, biết được tình hình chung của các nhóm hộ trong thôn.Phân loại hộ gia đình
2 Điều tra tuyến và xây dựng sơ đồ lát cắt thôn điểm
Mục đích: biết được hiện trạng sử dụng đất đai của thôn ở các loại địahình khác nhau Thấy được cơ cấu cây trồng trong thôn Loại đất nào đangđược sử dụng để cung cấp chất đốt, loại đất nào chưa được sử dụng để cungcấp chất đốt
Trang 166 Phân tích tổ chức theo sơ đồ VENN
Mục đích: phân tích ảnh hưởng, mối quan hệ của các tổ chức đến việc cungcấp, sử dụng chất đốt thực vật
7 Phân tích vấn đề, nguyên nhân, giải pháp và dự kiến hoạt động pháttriển chất đốt thực vật theo sơ đồ 4 mảng
- Phân tích kinh tế hộ gia đình: mỗi nhóm hộ chọn 01 HGĐ điển hình để phântích kinh tế hộ
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Tính bình quân giữa các nhóm hộ, làm cơ sở so sánh giữa các nhóm hộ.Tổng hợp, xử lý số liệu phân tích kinh tế hộ gia đình, tổng kết và xử lýkết quả các bảng hỏi
Trang 17Chương 4 KẾT QUẢ NGHIẾN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiện tự nhiện – kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiện
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Cúc Phương là một xã vùng cao nằm ở cực Tây huyện Nho Quan vàcũng là cực tây của tỉnh Ninh Bình Đây là xã có diện tức tự nhiên lớn nhấttỉnh Ninh Bình Trụ sở xã cách trung tâm thành phố Ninh Bình 42 km, có địagiới tiếp giáp với các xã:
Phía Bắc giáp xã Ngọc Lương, Yên Thủy, Hòa Bình
Phía Nam giáp xã Kỳ Phú
Phía Đông giáp xã Yên Quang, Văn Phương, Văn Phú
Phía Tây giáp huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa
Là xã vùng cao của huyện có địa giới tiếp giáp với hai tỉnh Hòa Bình
và Thanh Hóa, có vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên kếthợp du lịch và nghiên cứu khoa học Song trong lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xãhội còn nhiều hạn chế
4.1.1.2 Địa hình
Cúc Phương có địa hình đa dạng được chia cắt bởi hệ thống các dãy núi
đá vôi chạy theo hướng Bắc Nam, thấp dần từ Tây sang Đông, được phânthành ba vùng rõ rệt
- Vùng địa hình đồi núi cao có độ dốc lớn tạo thành các thung lũngbằng phẳng Thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc
- Vùng đêm tiếp giáp với vườn quốc gia Cúc Phương Phần lớn lànhững thềm đất đá lộ đầu có tiềm năng phát triển ngành chăn nuôi gia súc
- Vùng trũng có địa hình thấp, bằng phẳng thuận lợi cho phát triển sảnxuất nông nghiệp
Do những đặc điểm trên gây không ít khó khăn cho sản xuất nôngnghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Trang 184.1.1.3 Đất đai
- Quy mô
Theo kết quả đo đạc hoàn thiện hồ sơ địa chính năm 2000 tổng diệntích tự nhiên của xã là 12373,51 ha trong đó Vườn quốc gia Cúc Phương10351,70 ha Cơ cấu các loại đất được bổ sung như sau:
- Đất nông nghiệp: 453,81ha chiếm 3,67% tổng diện tích tự nhiên
- Đất lâm nghiêp: 11422,6ha chiếm 92,31% tổng diện tích tự nhiên
- Đất chuyên dùng: 108,96ha chiếm 0,88% tổng diện tích tự nhiên
- Đất thổ cư: 14,74 ha chiếm 0,12% tổng diện tích tự nhiên
- Đất chưa sử dụng: 373,31ha chiếm 3,02% tổng diện tích tự nhiên
- Đất màu đen phân bố ở phía đông của xã có tầng đất dầy, thành phần
cơ giới là thịt trung bình, có hiện tượng lầy thịt, tỷ lệ sụn, sạn cao
4.1.1.4 Khí tượng thủy văn
Cúc Phương là xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa được thểhiện 4 mùa rõ rệt Mùa hè nắng nóng và mưa nhiều, mùa đông lạnh, ít mưa
Theo số liệu của khí tượng thủy văn Ninh Bình nhiệt độ trung bình nămkhoảng 23oC, nhiệt độ cao nhất có ngày lên tới 39oC, nhiệt độ thấp nhất là
8oC
Trang 19Lượng mưa trung bình hàng năm là 1880 – 1960mm phân bố tập trungvào các tháng 5, 6, 7, 8 Lượng mưa nhỏ nhất vào các tháng 11, 12.
4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Kinh tế
Kinh tế xã Cúc Phương chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với hai ngànhchính là trồng trọt và chăn nuôi gia súc, gia cầm, ngoài ra tiểu thụ côngnghiệp, thương mại, dịch vụ cũng được hình thành nhưng còn nhiều hạn chế.Trong năm qua Đảng bộ và nhân dân trong xã đã có nhiều cố gắng khắc phụckhó khăn của điều kiện tự nhiên kết hợp với sự đầu tư của nhà nước trongchương trình 135 đã thu được nhiều kết quả đáng kể
- Sản xuất nông nghiệp:
+ Về trồng trọt: Năng suất lúa đạt 45 tạ/ha sản lượng lương thực quythóc đạt 1100 tấn Bình quân lương thực đầu người đạt 350 kg/ngươi/năm
+ Chăn nuôi: Được coi là thế mạnh của địa phương, được sự hỗ trợ vốncủa nhà nước, đàn gia súc ngày một tăng nhanh Tính đến cuối năm 2004 toàn
xã có 650 con bò, 568 con trâu, đàn hươu 175 con, đàn lợn 659 con, ong 297đàn, gia cầm 8700 con, giá trị đạt hàng trục tỷ đồng
- Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Chủ yếu tậptrung vào nghề khai thác vật liệu xây dựng như khai thác đá, xay sát chế biếnlượng thực, chế biến gỗ, vận chuyển hàng hóa, phục vụ tưới tiêu làm đất,cung ứng vật tư nông nghiệp, ăn uống, giải khát đã được hình thành tuy quy
mô còn nhỏ nhưng cũng đã thu hút được nhiều lao động tham gia
sỹ, 2 y sỹ và hai y tá đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe
Trang 20ban đầu cho nhân dân Ngoài ra, các thôn bản đều có các cán bộ y tế cơ sở,công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh góp phần làm giảm tỷ
lệ phát triển dân số từ 1,6% trước đây xuống còn 1,2% năm 2004 Phấn đấutrong những năm tới giữ vững tỷ lệ tăng dân số 1,2% năm
Ngoài cơ sở y tế do địa phương quản lý, trên địa bàn xã còn có phòngkhám chữa bệnh đa khoa khu vực đang phát huy tốt công tác khám và chữabệnh cho nhân dân trong xã và các xã lân cận
- Văn hóa – thể dục thể thao
Hoạt động văn hóa thể dục thể thao mấy năm gần đây có bước pháttriển mạnh, đã dành quỹ đất cho các thôn bản xây dựng các sân bóng chuyền,cầu lông hoạt động tương đối đều đặn Hệ thống nhà văn hóa thôn bản đãđược hình thành là nơi vui chơi, giải trí, hội họp của các tầng lớp nhân dân
Xã có đội văn nghệ thường xuyên tập luyện, tham gia hội diễn, giao lưu vớicác địa phương trong và ngoài tỉnh Tuy vậy, cơ sở vật chất như sân chơi, bãitập chưa quy mô, diện tích sử dụng còn ít nên các hoạt động thường bị hạnchế và thường xuyên lien tục Trong giai đoạn tới xã sẽ đầu tư kinh phí dànhquỹ đất cho sự nghiệp phát triển văn hóa, thể dục thể thao ở địa phương
số của xã đang ở độ tuổi đi học
Trang 21Xã có 3 cấp học (mầm non, tiểu học và trung học cơ sở), hai cấp học đãđạt chuẩn quốc gia mức độ một (mầm non và tiểu học), cấp trung học cơ sởđang được đấu tư, phấn đấu đạt chuẩn quốc gia.
2 Hiện trạng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực
- Khu trung tâm và các công trình xây dựng
Khu trung tâm xã nằm tại thôn Nga, bao gồm trụ sở UBND xã, trạm y
tế, các trường học khu trung tâm
Trụ sở UBND xã, hội trường, trạm y tế đã được xây dựng kiên cố,trang bị làm việc đã được đầu tư (máy chiếu, máy photo, máy vi tinh nôimạng, máy in…)
- Hệ thống thủy lợi, giao thông
+ Hệ thống giao thông: hệ thống giao thông chính của xã Cúc Phương
là tuyến đường du lịch đi vườn quốc gia Cúc Phương chạy qua xã dài 8km,đường trong khu dân cư đã được bêtông hóa 9/10 thôn, còn lại đường sản xuấtchủ yếu là nền đường bằng đất, mặt cắt hẹp, do vậy đi lại sản xuất còn gặpnhiều khó khăn nhất là vào mùa mưa
+ Hệ thống thủy lợi: do đặc điểm địa hình mà hệ thống thủy lợi của xãchủ yếu là dựa vào thiên nhiên, chỉ một số hồ, đập nhỏ mới được xây dựng,còn lại kênh mương chủ yếu là bằng đất Do vậy, tốn nhiều diện tích sử dụng,công tác tu sửa và hiệu quả sử dụng kém…
Trang 22- Nguồn nhân lực và tài nguyên
+ Lao động: toàn xã có 1478 người trong độ tuổi lao động, chiếmkhoảng 39,7% dân số toàn xã.Trong đó lao động nông nghiệp 1046 người, laođộng phi nông nghiệp 432 người
+ Tài nguyên: Cúc Phương là xã miền núi có diện tích tự nhiên lớn,rừng chiếm 4,5 diện tích tự nhiên, đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý.Ngoài ra hệ thống núi đá vôi, các thềm đá lộ đầu và nguồn nước đang đượcđầu tư khai thác du lịch mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làmcho người dân lao động
4.2 kết quả điều tra hiện trang sử dụng đất của xã
Qua các số liệu thứ cấp thu thập được kết hợp với phỏng vấn và kiểm tratại hiện trường tôi đã thu được kết quả về hiện trạng sử dụng đất như sau:
Trang 23Biểu 4.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Cúc Phương
Trang 242.1.1 Đất thổ cư tại nông thôn 20,62 0,17
2.1.2 Đất thổ cư tại đô thị
2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 0,52 0,00
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 3,09 0,02 3,09
3.2 Đất đồi nùi chưa sử dụng 134,87 1,09
3.3 Núi đá không có rừng cây 5,97 0,05
Trang 25(Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Cúc Phương, 2011)
Trang 26Qua kết quả tổng hợp ở biểu 4.1 cho thấy tổng diện tích tự nhiên của xã
là 12373,51 ha là một trong những xã có diện tích lớn nhất của huyện NhoQuan Trong đó, tổng diện tích tự nhiên do xã quản lý là 679,85 ha, do Vườnquốc gia Cúc Phương quản lý là 10466,14 ha, do các tổ chức kinh tế quản lý
là 61,36 ha và do tổ chức khác quản lý là 0,85 ha
- Diện tích đất nông nghiệp là 12041,01 ha chiếm 97,31% trong đó diệntích đất sản xuất nông nghiệp là 445,12 ha chiếm 3,6% Diện tích đất sản xuấtnông nghiệp chủ yếu là đất trồng cây hàng năm với 345,63 ha chiếm 2,79 %.Diện tích đất trồng lúa chỉ trồng được một vụ còn một vụ do không chủ độngđược nước tưới nên trồng màu Vụ trồng lúa người dân trồng chủ yếu là lúabao thai, khang dân và một ít trồng lúa nếp địa phương ( nếp câu, nếp hoavàng), vụ trồng màu người dân trồng chủ yếu là ngô và lạc
Đất lâm nghiệp có tổng diện tích tự nhiên là 11593,87 ha chiếm93,70% Trong đó ủy ban nhân dân xã quản lý 208,35 ha rừng phòng hộ, sảnxuất và Vườn quốc gia Cúc Phương quản lý 10432,76 ha rừng đặc dụng Diệntích rừng phòng hộ, sản xuất được trồng chủ yếu là keo Diện tích rừng đặcdụng do vườn quốc gia quản lý còn khá nhiều loài cây như: Chò, Đinh, Sấu,Vàng Anh…
Trong xã đã nhận được nhiều sự quan tâm hỗ trợ để phát triển và bảo
vệ rừng, xã tiếp tục được hưởng chính sách 135 gia đoạn III, các chính sách
hộ trợ của Vườn quốc gia Cúc Phương giúp cho người dân gắn bó với rừnghơn
- Diện tích đất phi nông nghiệp là 182,66 ha chiếm 1,48% tổng diệntích đất tự nhiên của toàn xã Trong đó, đất thổ cư là 20,62 ha, đất chuyêndùng là 124,62 ha, đất tôn giáo, tín ngưỡng là 0,52 ha, đất nghĩa trang nghĩađịa là 3,09 ha và đất sông suối và mặt nước chuyễn dùng là 33,78 ha Đất thổ
cư đã được cấp sổ đỏ cho người dân, còn lại là do Ủy ban nhân dân xã, các tổchức kinh tế và Vườn quốc gia quản lý
Trang 27- Đất chưa sử dụng: với diện tích khá lớn 149,84 ha chiếm 1,21% trong
đó, đất đồi núi chưa sử dụng chiếm 134,87 ha và đất núi đá không có rừng câychiếm 5,97 ha Diện tích đất trống của xã năm trong diện tích đất quy hoạchcủa xã, một phần là khu đất trống chưa tiến hành giao khoán
4.3 Kết quả phân loại kinh tế hộ gia đình tại thôn Đồng Tâm
Qua điều tra thực tế và thảo luận cùng với các cộng tác viên, tôi đã tổnghợp được các chỉ tiêu phân loại hộ gia đình, kết quả được thể hiện như sau:
Biểu 4.2: Tiêu chí phân loại kinh tế hộ gia đình ở thôn Đồng Tâm
Nhóm hộ
Nhà cửa
Nhà xây kiên cố,khang trang, cócông trình phụ
Nhà xây mái ngóivững chãi, có côngtrình phụ
Nhà lá, không kiên
cố, chưa có côngtrình phụ
Tiện nghi
Có điện, ti vi, xemáy, có xe đạp,
có nhà có tủ lạnh,bếp ga
Có điện, ti vi, xeđạp, có nhà có xemáy
Có điện, xe đạp, cónhà có ti vi có nhàkhông
Điều kiện sản
xuất
Có đất nôngnghiệp rộng, cókinh nghiệm sảnxuất, có vốn đầu
tư, có phươngtiện sản xuất
Có đất nôngnghiệp rộng, cókinh nghiệm sảnxuất, thiếu vốn đầu
tư, thiếu phươngtiên sản xuất
Đất nông nghiệp ít,không có kinhnghiệm sản xuất,không có vốn, lườilao động, thiếuphương tiện sản xuấtLương thực
Thừa hoặc đủlương thực
Đủ lương thựchoặc thiếu lươngthực từ nửa thángđến 1 tháng
Từ các tiêu chí được nêu ra ở trên, tôi cùng với các cộng tác viên đãtiến hành phân loại kinh tế các hộ trong thôn Kết quả thảo luận được tổnghợp ở bảng sau:
Biểu 4.3: Kết quả phân loại hộ gia đình thôn Đồng Tâm
Trang 28Từ kết quả được tổng hợp ở biểu 4.2 và biểu 4.3 cho thấy: Các tiêu chí
để phân loại kinh tế hộ được các cộng tác viên là người dân đưa ra Họ lànhững người sống, làm việc tại thôn và hiểu rã tình hình của thôn mình
Trong thôn, số hộ thuộc nhóm I chiếm tỷ lệ nhiều nhất (78,57%), đây lànhững hộ có kinh tế khá, chịu khó lao động, có kinh nghiệm sản xuất, có vốnđầu tư và có phương tiện sản xuất Số họ thuộc nhóm II chiếm tỷ lệ 10,32 %đây là các hộ có kinh tế trung bình, thu nhập ít nhưng ổn định Các hộ thuộcnhóm hộ III là những hộ có kinh tế khó khăn, thu nhập thấp và bấp bênh
4.4 Nhu cấu sử dụng chất đốt và các nguồn cung cấp chất đốt của người dân xã Cúc Phương
4.4.1 Kết quả điều tra phỏng vấn hộ gia đình
Qua kết quả điều tra và phỏng vấn các hộ gia đình tại thôn Đồng Tâmcho thấy gỗ củi là loại nhiên liệu được dùng chủ yếu Nguồn cung cấp chủyếu được lấy từ rừng tự nhiên của Vườn quốc gia Cúc Phương Ngoài rangười dân còn sử dụng cây sắn và cây ngô để đun nấu Còn các loại như thâncây đậu, lạc thì người dân chưa sử dụng, rơm lúa thì người dân dùng để làmthức ăn cho trâu, bòào mùa khô
Kết quả phỏng vấn cho thấy tỷ lệ % các hộ sử dụng chất đốt ở mỗinhóm hộ như sau:
Trang 29Biểu 4.4: Tỷ lệ % hộ sử dụng các loại chất đốt ở thôn Đông Tâm Nhóm
Số hộ dùng củi (%)
Số hộ dùng cây sắn (%)
Số hộ dùng cây ngô (%)
Số hộ dùng trấu (%)
Số hộ dùng rơm
- Nhiên liệu thay thế chất đốt thực vật:
Qua điều tra các hộ gia đình tại xã Cúc Phương người dân đã bước đầu
sử dụng một số nhiên liệu thay thế chất đốt thực vật là điện
Điện: Điện lưới quốc gia đã được đưa đến xã với mức giá ưu đãi Tuynhiên các hộ chưa sử dụng điện và nhiên liệu thay thế cho chất đốt thực vật dođầu tư ban đầu khá cao Các hộ sử dụng điện để thắp sáng, xem tivi, nghe đài
và sử dụng quạt, ngoài ra đã có nhiều hộ sử dụng nồi cơm điện, điều này cũnggóp phần làm giảm lượng củi đun hàng ngày
Trang 304.4.2 Nhu cầu sử dụng chất đốt của các nhóm hộ
Biểu 4.5: Tổng hợp nhu cầu sử dụng chất đốt của thôn Đồng Tâm
Mục đích sử dụng (kg/năm)
u
Nấu cơm
Nấu nước
Nấu cám lợn
I 99 497.47
5
66.330
17.82
581.625
126.472
90.338
361.350
II 13 56.615 13.06
5 2.340 0 72.020 18.980
14.23
5 37.960III 14 58.625 9.380 2.520 0 70.525 20.440 15.33
0 35.770Kết quả ở biểu 4.5 cho thấy ở thôn Đông Tâm nhu cầu sử dụng chấtđốt thực vật ở các nhóm hộ khác nhau là khác nhau Nhóm I có nhu cầu sửdụng gỗ củi lớn nhất bởi vì nhóm hộ này có tổng số hộ lớn, chăn nuôi pháttriển nhưng do điều kiện kinh tế mà chưa cho vật nuôi ăn cám công nghiệp,lượng gỗ củi phần lớn được dùng vào việc nấu cám Còn việc nấu cơm, đunnước thì lượng sử dụng gỗ củi bình quân trên hộ gia đình của nhóm hộ I là íthơn vì nhóm hộ này có điều kiện sử dụng nhiên liệu thay thế khác như điện,gas… Điều này cũng góp phần đáng kể làm giảm lượng gỗ củi tiêu thụ
Mặc dù đều sống ở vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương nhưng mỗidân tộc khác nhau thì mức độ sử dụng củi cũng khác nhau Người Mường sửdụng củi trong sinh hoạt hàng ngày thì người Kinh cũng sử dụng củi trongsinh hoạt hàng ngày nhưng đa số các hộ gia đình người Kinh là những hộ pháttriển dịch vụ, có điều kiện sử dụng các nhiên liệu thay thế khác hay họ đã tậndụng triệt để các phế phụ phẩm nông nghiệp Vì vậy, lượng củi bình quân mộtHGĐ người Kinh tiêu thụ ít hơn rất nhiều so với HGĐ người Mường
Từ nhu cầu thực tế của mỗi dân tộc khác nhau, mỗi nhóm hộ khác nhaudẫn đến mức độ tác động vào rừng cũng khác nhau Sử dụng gỗ củi đã trởthành tập quán của người Mường, cùng với tỷ lệ tăng dân số 1,2%/năm thì
Trang 31trong tương lai nhu cầu sử dụng gỗ củi không chỉ dừng lại ở con số hiện tại
mà có xu hướng tăng cao hơn nhiều
4.4.3 Các nguồn cung cấp chất đốt thực vật tại xã Cúc Phương
Điều tra các nguồn cung cấp chất đốt thực vật là một nhiệm vụ có ýnghĩa quan trọng trong việc cân đối cung – cầu về chất đốt nhằm hiểu biếtđược các nguồn cung cấp chất đốt thực vật trên địa bàn và nhu cầu sử dụngcủa người dân để từ đó có các giải pháp hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu về chấtđốt và góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững
Qua điểu tra phỏng vấn người dân địa phương cho thấy, loại chất đốtthực vật được sử dụng nhiều nhất là gỗ củi, phế phụ phẩm nông nghiệp cũng
đã được người dân sử dụng nhưng còn hạn chế
Xã Cúc Phương là một trong nhưng xã thuộc vùng đệm của Vườn quốcgia Cúc Phương Phần lớn diện tích của xã là đất lâm nghiệp có 11593,87 hachiếm 93,70% tổng diện tích tự nhiên của xã Trong đó có 208,35 ha do ủyban nhân dân xã quản lý và 10432,76 ha do vườn quốc gia quản lý Nguồn củiđun của người dân được lấy phần lớn ở rừng tự nhiên do Vườn quốc gia quảnlý
Trang 32Hình 4.1: củi được người dân kiếm từ VQG
Xã Cúc Phương có tổng cộng 3721 nhân khẩu đa số sống bằng nghềnông nghiệp, thu nhập thấp chưa có khả năng sử dụng phổ biến các nguồnnhiên liệu thay thế khác Càng ngày nhu cầu về sử dụng chất đốt của ngườidân càng cao mà khả năng cung cấp chất đốt từ rừng lại có hạn, không phải là
vô tận Mặt khác thói quen sinh hoạt của người dân coi bếp lửa là một phầntrong đời sống văn hóa của họ Một điều đáng lưu ý là đa số người dân khivào rừng lấy củi thường chọn các loại củi chắc, đượm than và những loại củinhư vậy thường thuộc các loại gỗ tốt Kết quả phỏng vấn cán bộ kiểm lâm củaVườn quốc gia cho thấy theo quy định của Vườn quốc gia Cúc Phương thìngười dân chỉ được phép vào rừng lấy củi khô, cây chết, nứa khô ở khu vựcvùng đệm của vườn, tuy nhiên do địa bàn rộng, cán bộ kiểm lâm ít nên vẫncòn rất nhiều trường hợp người dân xâm nhập vào khu vực rừng cấm để lấy
gỗ củi Bài toán cân bằng cung cầu về chất đốt thực vật đang được đặt ra vàrất cần lời giải có hiệu quả Để góp phần làm giảm sức ép từ việc kiếm củi tới
Trang 33rừng: Đưa ra các giải pháp sử dụng tiết kiệm gỗ củi, tận dụng các nguồn cungcấp khác như từ phế phụ phẩm nông nghiệp, từ vườn tạp, từ chăn nuôi Ngoài
ra còn hướng người dân quan tâm sử dụng nguồn nhiên liệu khác như: Điện,than, gas,… để thay thế nguồn nguyên liệu gỗ củi
4.5 Cơ sở để lập kế hoạch phát triển CĐTV của khu vực nghiên cứu
4.5.1 Kết quả điều tra tuyến và vẽ sơ đồ lát cắt thôn Đồng Tâm
Qua điều tra theo tuyến và thảo luận cùng với nhóm nông dân nòng cốt chúng tôi đã xây dựng được sở đồ lát cắt như sau: