Các quy định pháp lý về đề tài này được hệ thống hóa, biên tập thành đầu sách trong Tủ sách Pháp luật phổ thông với nhan đề “Tìm hiểu quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ốn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỖ THÙY DƯƠNG
SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Lan
HÀ NỘI - NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các kết luận, số liệu trong luận văn đều là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./
Trang 44 Thông tư 57/2015/TT-BYT ngày 30 tháng 12 năm 2015 của Bộ Y tế quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: Thông tư 57/2015/TT-BYT
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ SINH
CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG
NGHIỆM
7
1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ
TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
7
1.2 Ý NGHĨA CỦA VIỆC SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH
1.4 ĐIỀU KIỆN CỦA VIỆC SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ
TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
19
1.5 HỆ QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC SINH CON BẰNG KỸ THUẬT
THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
30
1.5.1 Xác định quan hệ giữa người cho noãn, tinh trùng, phôi với
trẻ sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
30
1.5.2 Xác định quan hệ giữa người nhận noãn, nhận tinh trùng,
nhận phôi với trẻ sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống
nghiệm
32
1.5.3 Xác định quan hệ giữa người mang thai hộ với trẻ sinh ra
bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
35
Trang 61.5.4 Xác định quan hệ giữa người nhờ mang thai hộ với trẻ sinh ra
bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
37
1.5.5 Xác định mối quan hệ giữa trẻ sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh
trong ống nghiệm và người thân thích khác
38
1.6 THỦ TỤC CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH QUAN HỆ CHA, MẸ, CON
BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
39
CHƯƠNG HAI: NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ BẤT CẬP CỦA
PHÁP LUẬT VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH
TRONG ỐNG NGHIỆM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN
50
2.1 NHỮNG BẤT CẬP VÀ VƯỚNG MẮC CỦA PHÁP LUẬT VỀ
SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG
NGHIỆM
50
2.1.1 Pháp luật khó kiểm soát về tính triệt để tuân thủ các nguyên
tắc khi cho nhận tinh trùng, noãn, phôi
2.2 MỘT SÓ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ SINH
CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
71
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm ngày nay đã không còn là một khái niệm quá xa lạ trong cuộc sống Vấn đề vô sinh ở Việt Nam đang đối mặt với những con số đáng báo động, khoảng 700.000 đến 1.000.000 cặp vợ chồng đang bị vô sinh Theo số liệu nghiên cứu hơn 4.000 tinh dịch đồ tại trung tâm điều trị vô sinh ở thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu di truyền và sức khỏe sinh sản thuộc khoa Y (Đại Học Quốc Gia) nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương và Đại học Y Hà Nội, tiến hành trên 14.300 cặp vợ chống tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi) ở tám tỉnh cho tám vùng sinh thái ở Việt Nam, tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam lên tới 7,7%1 Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã trở thành một giải pháp phổ biến đối với các cặp vợ chồng không thể có con theo cách tự nhiên cũng như những người phụ nữ độc thân muốn có con
Việt Nam đã có quy định pháp lý đầu tiên liên quan tới việc mang thai bằng
kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tại Nghị định 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học (sau đây gọi tắt là Nghị định 12/2003/NĐ-CP) Tuy nhiên, nghị định này mới chỉ đưa ra hành lang pháp lý cơ sở của việc mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm mà chưa đề cập và giải quyết hậu quả pháp lý phát sinh từ sự kiện pháp lý này Trong trường hợp mang thai hộ, sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm chính là một phần phương thức sự kiện này được diễn ra Trước khi được thông qua trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014, mang thai hộ
đã tồn tại chui và trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội khi trở thành một hoạt động mang tính thương mại hóa
1
Xem: 542.html
Trang 8http://morebaby.vn/cam-nang-lam-bo/chia-se-kien-thuc/vo-sinh-o-viet-nam-len-den-muc-bao-dong-Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi) 2014 được thông qua, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 có nhiều điểm mới, trong đó có quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Cùng đó, nghị định 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (sau đây gọi tắt là Nghị định 10/2015/NĐ-CP) và Thông tư 57/2015/TT-BYT ngày 30 tháng
12 năm 2015 của Bộ Y tế quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (sau đây gọi tắt là Thông tư 57/2015/TT-BYT) được ban hành nhằm đưa ra các quy định cụ thể hơn về vấn đề này
Kể từ thời điểm quy định của pháp luật cho phép mang thai hộ, hơn 60 hồ
sơ mang thai hộ đã được duyệt tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương Cả nước có khoảng 100 hồ sơ đủ điều kiện cho phép mang thai hộ Dự kiến tới hết sáu tháng đầu năm 2016, gần 30 em bé sẽ ra đời bằng phương pháp mang thai hộ2 Tuy niên, do thời gian đi vào thực tế còn mới, nhiều vướng mắc, bất cập đã dần phát sinh Sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được quy định như thế nào và sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phát sinh hậu quả pháp lý gì đối với những chủ thể liên quan? Việc cải tiến, tiếp tục hoàn thiện pháp luật là điều vô cùng cần thiết Chính bởi vậy, học viên đã lựa chọn đề tài:
“Sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo pháp luật Việt Nam” Luận văn tập trung nghiên cứu, tổng hợp và phân tích một cách chuyên sâu và toàn diện các vấn đề pháp lý về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm nhằm tìm ra những bất cập và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật
2
Xem: http://nhipcaudautu.vn/tu-duy/binh-luan/muon-bung-sinh-con-da-hop-phap-3301577/
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cùng với “mang thai hộ”, “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” (bao gồm kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm) là hai đề tài được quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực hôn nhân gia đình khi các nhà làm luật xây dựng Luật Hôn nhân
và gia đình 2014 Các quy định pháp lý về đề tài này được hệ thống hóa, biên tập thành đầu sách trong Tủ sách Pháp luật phổ thông với nhan đề “Tìm hiểu quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ
vì mục đích nhân đạo” của tác giả Trương Hồng Quang, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2015
Đề tài sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cũng là một phần nội dung được nghiên cứu trong các công trình liên quan đến vấn đề xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, có một
số bài viết được đăng trên các báo, tạp chí như: “Những vấn đề nảy sinh từ quy định về xác định cha, mẹ, con sinh ra nhờ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” của tác giả
Lê Thị Kim Chung (Tạp chí Dân chủ pháp luật số 9/2014); “Quyền làm mẹ của người phụ nữ theo quy định của pháp luật Việt Nam” của TS Nguyễn Phương Lan (Tạp chí Luật học số đặc san phụ nữ năm 2004)… Tuy nhiên, việc mang thai hộ mới được công nhận trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 nên các công trình khoa học kể trên mới chỉ phân tích đến vấn đề xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà không xét đến trường hợp sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm trong trường hợp nhờ mang thai hộ Vấn đề mang thai hộ cũng mới được nghiên cứu một cách khái quát trong một số bài viết như: “Quy định về mang thai hộ - một nội dung mới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” của tác giả Nguyễn Quế Anh (Tạp chí Luật sư Việt Nam số 8/2015); “Thụ tinh trong ống nghiệm và những vấn đề pháp lí phát sinh” của TS Nguyễn Thị Lan (Tạp chí Luật học số 4/2015); “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” của TS Nguyễn Huy Quang và Ths Đinh Thị Thu Thủy (Thông tin phổ biến giáo dục pháp luật về Y tế số 03
Trang 10tháng 09/2014)… nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về quy định sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Khóa luận này là công trình nghiên cứu một cách toàn diện, mang tính chuyên sâu về các vấn đề pháp lý và hậu quả pháp lý của việc mang thai bằng
kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và các nghiên cứu khác có liên quan để việc nghiên cứu có chiều sâu và có tính khoa học
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn diện cả về lý luận và thực tiễn vấn đề sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo pháp luật Việt nam Khóa luận tập trung nghiên cứu vấn đề mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm không có yếu tố nước ngoài đồng thời tập trung nghiên cứu pháp luật nội dung và các vấn đề pháp luật hình thức có liên quan mật thiết đến pháp luật nội dung về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và hậu quả pháp lý để đề tài nghiên cứu đảm bảo tính toàn diện và logic
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Từ đó phát hiện những quy định còn thiếu sót, chưa cụ thể cũng như tìm ra những điểm bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Trên cơ sở đó, khóa luận đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực
tế
5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Trang 11Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn được đặt ra nhằm định hướng cho tác giả luôn tư duy logic theo mạch vấn đề Để trả lời cho câu hỏi mang thai bằng
kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm gồm những vấn đề cơ bản nào, tác giả đưa
ra hệ thống luận điểm, luận cứ trong phần đầu luận văn: khái niệm về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; điều kiện thực hiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm; các nguyên tắc đặt ra khi thực hiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Phần tiếp theo, câu hỏi vấn đề sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm có những vướng mắc, bất cập gì
và tác giả đưa ra quan điểm khoa học gì của cá nhân để khắc phục những bất cập đó đều được làm rõ
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Trong quá trình hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mac – Lenin và hệ thống quan điểm, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp ở Chương hai khi xem xét, đánh giá về thực trạng pháp luật và thực tiễn sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cũng như đưa ra phương hướng, giải pháp để xây dựng pháp luật điều chỉnh việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm ở Việt Nam hiện nay và trong tương lai
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn đã khái quát được những vấn đề cơ bản của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập và nghiên cứu của sinh viên khi tìm hiểu về vấn đề sinh con bằng
Trang 12kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cũng như có thể sử dụng như tài liệu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
8 Kết cấu luận văn
Ngoài Mục lục, Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm hai chương:
Chương một: Cơ sở lý luận và pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm;
Chương hai: Những vướng mắc và bất cập của pháp luật về sinh con bằng
kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và một số giải pháp
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT
THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH
TRONG ỐNG NGHIỆM
1.1.1 Khái niệm kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng vượt trội, sức khỏe cũng như tuổi thọ của con người đang ngày càng được cải thiện đáng kể3 Không chỉ cải thiện tình trạng sức khỏe, các bệnh lý của con người cũng đã có nhiều giải pháp hỗ trợ mà một trong số đó là vấn đề liên quan tới sinh sản Việt Nam với
tỷ lệ vô sinh lên tới 7,7% (nghiên cứu trên 14.300 cặp vợ chồng ở độ tuổi sinh sản), kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã giúp các cặp vợ chồng vô sinh cũng như người phụ nữ độc thân muốn sinh con có thể sinh con của chính mình, giải quyết vấn
đề y học Để đảm bảo các hậu quả pháp lý phát sinh, pháp luật đã có những quy định cụ thể về riêng vấn đề này
Để hiểu rõ hơn về khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, trước hết cần xem xét một số khái niệm được quy định tại Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:
1 Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi
3 Noãn là giao tử của nữ;
4 Tinh trùng là giao tử của nam;
5 Phôi là sản phẩm của quá trình kết hợp giữa noãn và tinh trùng
Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể được xem xét dưới hai góc độ:
3
Tuổi thọ trung bình của dân số thế giới đã tăng gấp đôi trong hai thế kỷ qua
Xem: https://tinhte.vn/threads/infographic-tuoi-tho-trung-binh-tren-the-gioi.2461193/
Trang 14 Dưới góc độ y học:
Theo định nghĩa từ Đạo luật về Chứng chỉ và Mức thành công của các phòng Y tế Hỗ trợ Sinh sản (Hoa Kỳ)4, từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (tiếng Anh: Assisted Reproductive Technology A.R.T.) bao gồm tất cả các phương pháp chữa trị chứng vô sinh trong đó cả trứng lẫn tinh trùng đều được sử dụng
Bên cạnh đó, còn có một số định nghĩa khác về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như:
+ Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là những kỹ thuật kết hợp giữa y học và sinh học, can thiệp vào các bước trong sinh lý sinh sản tự nhiên nhằm giúp làm tăng khả năng sinh sản5
+ Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là các phương pháp giúp đỡ và điều trị cho các cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh bằng các thủ thuật y học với sự can thiệp của cơ sở y tế có thẩm quyền
Trong đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP:
"Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai"
Tuy nhiên, hiện nay, các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản còn được sử dụng để giúp những người phụ nữ sống độc thân, mong muốn có con mà không thuộc trường hợp hiếm muộn hay vô sinh Vì thế, các định nghĩa trên vẫn còn tồn tại thiếu sót Theo quan điểm của tác giả, dưới góc độ y học, có thể đưa ra khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như sau :
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con thông qua biện pháp
áp dụng những kỹ thuật y sinh học bởi các cơ quan y tế có thẩm quyền để giúp
Trang 15các cặp vợ chồng vô sinh hoặc những người phụ nữ sống độc thân thực hiện được mong muốn có con của mình
Dưới góc độ pháp lý
Khái niệm “sinh con bằng kỹ thuật thuật hỗ trợ sinh sản” được đưa ra tại
Khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
“Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”
Tuy nhiên, khái niệm này được xây dựng thông qua việc sử dụng phương pháp liệt kê, chưa làm rõ được thế nào là “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” cũng như không thể hiện được đặc trưng của phương pháp này Tóm lại, dưới góc độ pháp lý, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể được định nghĩa như sau:
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con có sự can thiệp của các kỹ thuật y sinh học trong trường hợp quá trình mang thai tự nhiên của con người bị hạn chế bởi những nguyên nhân khác nhau, được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
1.1.2 Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và
mang thai hộ
1.1.2.1 Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
“Lịch sử của thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization – IVF) và cấy phôi (Embryo transfer – ET) được biết đến sớm nhất là vào năm 1890 khi Walter Heape, một giáo sư – bác sĩ tại Đại học Cambridge (Anh) đã tiến hành nghiên cứu về sinh sản ở một số loài động vật, báo cáo trường hợp đầu tiên được biết đến của cấy ghép phôi thai ở thỏ, rất lâu trước khi các ứng dụng cho khả năng sinh sản của con người được đề nghị Tuy nhiên, phải đến năm 1959, bằng chứng không thể chối cãi của thụ tinh ống nghiệm mới thu được bởi MC Chang, người đầu tiên đạt được thành công trong sinh sản ở động vật có vú
Trang 16(thỏ) bằng cách thụ tinh ống nghiệm Những quả trứng mới rụng đã được thụ tinh trong ống nghiệm bằng cách ủ với tinh trùng trong bình Carrel nhỏ trong bốn giờ, mở ra phương thức để hỗ trợ sinh sản trên người
…Năm 1978, đứa trẻ đầu tiên (Louise Brown) ra đời ra bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm ở Oldham, Anh vào ngày 25 tháng 7 năm 1978 Thành công này là kết quả của sự hợp tác giữa Patrick Steptoe và Robert Edwards Đạo luật vô sinh, luật đầu tiên về thụ tinh ống nghiệm và nghiên cứu liên quan đến phôi người được công bố đầu tiên năm 1984 Đến năm 2012, hơn năm triệu trẻ em đã được sinh ra trên toàn thế giới nhờ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Những mốc phát triển quan trọng này đã mở đường cho hàng triệu gia đình, mang đến hy vọng cho hàng triệu người khó có khả năng sinh con6” Tại Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị định số 10/2015/NĐ-
CP và Thông tư số 57/2015/TT-BYT được coi là cơ sở pháp lý đưa ra những hậu quả pháp lý của việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Dưới góc độ pháp lý của pháp luật Việt Nam, Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP đưa ra khái niệm:
“Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi”
Thụ tinh trong ống nghiệm và thụ tinh nhân tạo là hai khái niệm bản chất hoàn toàn khác nhau Dịch theo chuyên ngành y khoa, thụ tinh nhân tạo là phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung (Intrauterine insemination - IUI) Còn thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp mà noãn và tinh trùng được đưa vào ống nghiệm để kết hợp thành phôi trong môi trường nhất định Luật Hôn nhân và gia đình 1959, Luật Hôn nhân và gia đình 1986, Luật Hôn nhân và gia đình 2000 của Việt Nam trước đây đều chưa có sự đề cập tới những khái niệm “hỗ trợ sinh sản”, “mang thai hộ” hay “sinh con bằng kỹ thuật
6
Xem: http://hiemmuonphusanhanoi.vn/thong-tin/Lich-su-cua-thu-tinh-trong-ong-nghiem/766.aspx
Trang 17thụ tinh trong ống nghiệm” Những khái niệm này lần đầu được đưa ra tại Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học Kèm theo nghị định này là thông tư số 07/2003/TT-BYT của Bộ Y tế ngày 28 tháng 5 năm 2003 hướng dẫn thi hành nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 của Chính phủ về sinh con theo phương pháp khoa học Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế và để hoàn thiện hơn khung pháp lý về sinh con theo phương pháp khoa học và mang thai hộ vốn là một khái niệm mới mẻ, gây nhiều tranh cãi, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã cập nhật kịp thời những quy định về vấn đề này, có thể coi là những bước tiến trong khoa học xã hội của nhà làm luật
Tại Việt Nam, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm bắt đầu được thực hiện vào năm 1997 Những người thuộc một trong ba nhóm nguyên nhân hiếm muộn dưới đây sẽ được chỉ định thụ tinh trong ống nghiệm:
Nguyên nhân hiếm muộn từ người vợ như tổn thương, tắc, ứ dịch vòi trứng, lạc nội mạc tử cung hay rối loạn phóng noãn sau khi thất bại bơm tinh trùng nhiều lần;
Nguyên nhân hiếm muộn từ người chồng như tinh trùng ít, yếu và dị dạng hoặc không có tinh trùng;
Hiếm muộn chưa rõ nguyên nhân và đã bơm tinh trùng nhiều lần thất bại Hiện nay, có ba cách thụ tinh trong ống nghiệm như sau:
1 Cổ điển: Trứng được trộn lẫn với hàng ngàn tinh trùng trong một chiếc đĩa chuyên khoa Sau đó, đặt vào tủ cấy mô phỏng môi trường tự nhiên Cả quá trình đều thực hiện trong phòng thí nghiệm Sau khi phôi thai hình thành sẽ được đưa vào tử cung người phụ nữ
2 Cách với chu kỳ tự nhiên: Thu thập và thụ tinh một trứng trong quá trình rụng trứng tự nhiên khi đến chu kỳ của người phụ nữ Không sử dụng biện pháp kích thích rụng trứng
Trang 183 Cách kích thích nhẹ: Dùng một lượng nhỏ chất kích thích rụng trứng trong quá trình thụ tinh, rút ngắn được thời gian hoàn thành hơn cách
cổ điển7
Như vậy, tác giả hoàn toàn đồng tình với khái niệm sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm mà luật đã đưa ra Theo tác giả, khái niệm sinh con bằng khái niệm thụ tinh trong ống nghiệm là:
“Sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp sinh con mà có sự kết hợp của noãn và tinh trùng tạo thành phôi trong ống nghiệm”
Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm nằm trong nội hàm của khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Mỗi phương pháp khoa học như vậy khi tiến hành đều được tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật bở hậu quả pháp lý phát sinh từ các sự kiện pháp lý này
1.1.2.2 Khái niệm mang thai hộ
Trong một số trường hợp nhất định, thụ tinh trong ống nghiệm chính là một giai đoạn của phương pháp mang thai hộ Luật Hôn nhân và gia đình
2014 đưa ra khái niệm về mang thai hộ tại Điều 3 như sau:
22 Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng
mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con
7
Xem: Điều trị hiếm muộn hiệu quả với phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm IVF
http://wikiphunu.vn/dieu-tri-hiem-muon-hieu-qua-voi-phuong-phap-thu-tinh-trong-ong-nghiem-ivf.html
Trang 1923 Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác
Các vấn đề pháp lý liên quan tới mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị định số 10/2015/NĐ-CP và Thông tư số 57/2015/TT-BYT Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, nhiều vấn đề liên quan tới pháp luật nội dung cũng như pháp luật hình thức của pháp luật về mang thai hộ đã được đặt ra Việc tìm ra định hướng hoàn thiện những bất cập này cũng chính là mục đích hướng tới của luận văn
1.2 Ý NGHĨA CỦA VIỆC SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ
TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
1.2.1 Ý nghĩa về mặt xã hội
Sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đưa ra nhiều ý nghĩa quan trọng Đối với y học, sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là kết quả của việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực y học để giải quyết vấn đề vô sinh ở người Đối với xã hội, sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là một biện pháp mang tính nhân đạo đối với những cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân
có mong muốn sinh con Không chỉ vậy, chức năng duy trì nòi giống của gia đình theo quan niệm xã hội được bảo đảm duy trì Ở các nước phát triển, hiện có khoảng 1 – 5% số em bé sinh ra hiện nay là từ các kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Người ta ước tính có trên nửa triệu chu kỳ hỗ trợ sinh sản được thực hiện mỗi năm trên toàn thế giới Trên thế giới đã
có hàng triệu em bé ra đời từ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bao gồm thụ tinh trong ống nghiệm Tại Việt Nam, con số này có thể đạt đến 1000 tính
Trang 20đến hết năm 2016 và hiện nay có khoảng 250 em bé ra đời mỗi năm từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm8
1.2.2 Ý nghĩa về mặt pháp lý
Đối với những cặp vợ chồng hiếm muộn hay phụ nữ độc thân lựa chọn phương pháp sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm sẽ phát sinh thủ tục pháp lý khi tiến hành cũng như hệ quả pháp lý khi sự kiện phát sinh Việc đứa trẻ sinh ra được coi là một sự kiện pháp lý, làm phát sinh các yếu tố trách nhiệm cũng như nghĩa vụ ràn buộc theo luật định Giữa các chủ thể ở đây xuất hiện những quan hệ pháp luật: giữa người cho tinh trùng, cho noãn và người nhận tinh trùng, nhận noãn; giữa con sinh ra với người nhận tinh trùng, nhận noãn; giữa con sinh ra với người trong gia đình người nhận noãn, tinh trùng…Từ những quan hệ pháp luật đó, kéo theo các hậu quả pháp lý đối với từng chủ thể khi có những sự biến xảy ra xét cả trên yếu tố nhân thân lẫn yếu tố tài sản: thừa kế, cấp dưỡng…Việc xác định hậu quả pháp lý như xác định cha,
mẹ, con trong trường hợp mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm trở nên có ý nghĩa vô cùng quan trọng Xác định cha, mẹ, con cho trẻ sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm kéo theo việc xác định một số quyền
và nghĩa vụ về nhân thân cũng như tài sản đối với các chủ thể liên quan
1.3 NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG
NGHIỆM
Để thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, các chủ thể tham gia đều phải tuân thủ những nguyên tắc y khoa chặt chẽ cũng như những nguyên tắc pháp lý mà pháp luật quy định Các chủ thể tham gia quá trình mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đều thuộc các đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân sự, bởi vậy, các chủ thể này đều tuân theo
8
Xem: http://www.bacsisanphu.com/sp/pages.php?pID=45
Trang 21những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự: nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận; nguyên tắc bình đẳng; nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự; nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp; nguyên tắc bảo vệ quyền dân sự; nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; nguyên tắc tuân thủ pháp luật; nguyên tắc hòa giải Ngoài ra, là một quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình và mang tính cá biệt, các chủ thể này cũng buộc tuân theo những nguyên tắc về việc áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được quy định tại Điều 3 nghị định số 10/2015/NĐ-CP
1.3.1 Nguyên tắc vì mục đích nhân đạo
Nguyên tắc này khẳng định mục đích việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Cặp vợ chồng vô sinh
và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trông ống nghiệm
và cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Khoản 2 Điều 2 Nghị định đưa ra:
“Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 – 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai”
Khoản 6 Điều 2 Nghị định đưa ra:
“Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật”
Cả hai đối tượng này đều cần chứng minh những điều kiện tiên quyết để thỏa mãn nguyên tắc của việc mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Cặp vợ chồng vô sinh phải chứng minh được hôn nhân hợp pháp của mình thông qua giấy đăng ký kết hôn và giấy chỉ định của bác sĩ về việc mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Phụ nữ độc thân có mong muốn mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cần có xác nhận độc thân của cơ quan xã, phường địa phương có thẩm quyền Nếu đã ly hôn cần cung
Trang 22cấp thêm quyết định cho phép ly hôn của tòa án để bệnh viện xem xét, tiến hành kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
Nguyên tắc nêu rõ cho phép mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Nguyên tắc này mang ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, đồng thời đảm bảo chức năng của gia đình đối với
xã hội Các cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ độc thân không phân biệt dân tộc, tôn giáo đáp ứng yêu cầu cần thiết đều có quyền thực hiện mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (Khoản 3 Điều 1 Nghị định 10/2015/NĐ-CP) Bất kể trường hợp nào biến tướng không tuân theo nguyên tắc “vì mục đích nhân đạo” đều không được chấp nhận, bị coi là vi phạm quy định của pháp luật
1.3.2 Nguyên tắc tự nguyện
Theo nguyên tắc này, việc thụ tinh trong ống nghiệm, cho và nhận noãn, cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phôi, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo của các chủ thể sẽ được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện
Đối với cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ đơn thân muốn thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, sự tự nguyện này được thể hiện dưới dạng văn bản,
là đơn đề nghị thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Phụ nữ đơn thân
có nguyện vọng mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm có đơn đề nghị thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Cặp vợ chồng đề nghị được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải ghi rõ tên, tuổi của cả hai vợ chồng và phải cùng ký đơn đề nghị9 Nguyên tắc này đảm bảo sự tự do ý chí của người thực hiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là một kỹ thuật phức tạp, chi phí tương đối cao so với thu nhập trung bình của người dân Việt Nam10, đồng thời
Trang 23yêu cầu cặp vợ chồng vô sinh và người phụ nữ đơn thân phải trải qua hàng loạt kiểm tra, xét nghiệm gắt gao, đáp ứng các điều kiện y học và pháp lý để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Việc quy định phải có đơn đề nghị đồng thời để chủ thể cân nhắc kỹ trước khi tiến hành, vừa khẳng định yếu tố tự nguyện, tự do ý chí của vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có mong muốn sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
Nguyên tắc tự nguyện đặc biệt có ý nghĩa đối với người cho noãn, cho tinh trùng, cho phôi và người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Mỗi cá nhân đều
có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm11 Việc cho tinh trùng, noãn, phôi phải được đảm bảo tuân theo nguyên tắc tự nguyện, không có sự ép buộc về ý chí đối với chủ thể
là người cho Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là khái niệm mới được công nhận trong Luật hôn nhân và gia đình 2014, trên thực tế còn nhiều biến tướng khó tránh khỏi Luật Hôn và nhân gia đình 2014 nghiêm cấm thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại12, mang thai hộ vì mục đích thương mại13
1.3.3 Nguyên tắc vô danh giữa người cho và người nhận
Đây là nguyên tắc quan trọng khi thực hiện việc mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Nguyên tắc vô danh có thể được hiểu là thông tin nhân thân của người cho và người nhận noãn, tinh trùng, phôi được bảo mật và người cho hay người nhận noãn, tinh trùng, phôi nếu có yêu cầu cung cấp thông tin sẽ bị từ chối Nguyên tắc vô danh được quy định cụ thể tại Chương II Nghị định 10/2015/NĐ-CP Khoản 3 Điều 4 quy định về việc cho tinh trùng, cho noãn: “Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ
11
Xem: Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013;
12
Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác;
13
Xem: Điểm g Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân gia đình 2014;
Trang 24và hình ảnh của người cho tinh trùng” Khoản 5 Điều 5 quy định về việc nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi: “Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người nhận tinh trùng, nhận phôi” Như vậy, việc liên lạc, kết nối giữa người cho và người nhận noãn, tinh trùng, phôi là không thể Việc quy định như vậy nhằm bảo vệ đời tư của cả hai đối tượng bên cho và bên nhận khi thực hiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cũng như của con sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Người nhận noãn, tinh trùng, phôi tuy không biết thông tin về người cho nhưng chất lượng noãn, tinh trùng, phôi được đảm bảo do người cho phải trải qua rất nhiều quá trình kiểm tra, đảm bảo về sức khỏe và những yêu cầu theo luật định Nguyên tắc vô danh không áp dụng tuyệt đối do thông tin về dân tộc của người cho phải công khai Thông tin về nhân thân như họ tên, tuổi, địa chỉ của người cho tinh trùng, noãn, phôi được mã hóa Luật quy định bảo mật về thông tin người cho tinh trùng, noãn nhưng cũng quy định phải ghi rõ đặc điểm của người cho, đặc biệt là yếu tố chủng tộc vì lí do theo các quy luật sinh học, con sinh ra sẽ có gen di truyền từ người cho tinh trùng, noãn14
1.3.4 Nguyên tắc tuân thủ theo quy trình kỹ thuật
Nguyên tắc này quy định việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải tuân theo quy trình kỹ thuật và những điều kiện nhất định do Bộ trưởng
Bộ Y tế ban hành Mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là một
kỹ thuật phức tạp đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, cơ sở trang thiết bị vật chất đầy đủ, đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật Việc phối hợp giữa các bộ, ngành chuyên môn để đưa ra quy định pháp lý tăng cường tính an toàn, hợp lý, chính xác cho sức khỏe cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia Bộ Y Tế đã ban hành Thông tư số 57/2015/TT-BYT ngày 30 tháng 12 năm
Trang 252015 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Quy trình kỹ thuật của việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được quy định tại Chương IV thông tư 57/2015/TT-BYT Chương IV gồm 21 điều, đưa ra các quy định trình tự thủ tục cần thiết đối với các chủ thể tham gia thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
Ngoài ra, việc hỗ trợ chuẩn bị cho các quy trình thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cũng được quy định cụ thể, tạo ra một lộ trình khoa học mang tính chính xác, ổn định để làm căn cứ cho đội ngũ y bác sĩ tiến hành cũng như người cho và nhận tinh trùng, trứng và phôi
1.4 ĐIỀU KIỆN CỦA VIỆC SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH
TRONG ỐNG NGHIỆM
1.4.1 Điều kiện đối với người cho noãn, tinh trùng, phôi
Điều kiện đối với người cho tinh trùng và cho noãn được quy định tại Điều 4 Nghị định 10/2015/NĐ-CP, cụ thể:
Người cho tinh trùng, cho noãn được khám và làm các xét nghiệm để xác định: Không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau; không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; không bị nhiễm HIV
Do bộ gen di truyền của con sinh ra từ việc thực hiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là tổng hợp gen từ sự kết hợp tinh trùng/noãn của người cho và noãn/tinh trùng của người nhận nên các yếu tố di truyền như tính trạng màu mắt, màu tóc, da, chiều cao…và cả bệnh di truyền đều sẽ có xác suất xuất hiện ở con Tinh trùng, noãn được cho phải có chất lượng tốt, khỏe mạnh
và không mang gen bệnh từ người cho Nếu người cho tinh trùng, noãn mắc các bệnh trên, con sinh ra cũng sẽ bị bệnh di truyền Quy định này để đảm bảo con sinh ra khỏe mạnh, đảm bảo chất lượng giống nòi, không làm suy thoái
Trang 26giống nòi Đồng thời, người mắc bệnh tâm thần hay các bệnh khác dẫn đến không làm chủ được nhận thức không được tiến hành kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm bởi bản thân họ không đáp ứng điều kiện tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, không đáp ứng tiêu chí nguyên tắc tự nguyện
Việc tiến hành cho tinh trùng, cho noãn phải hoàn toàn tự nguyện, tức là người cho tinh trùng, cho noãn phải tự mình quyết định có tiến hành hay không theo nguyện vọng của cá nhân mình, mà không chịu sự chi phối hay
sự tác động, can thiệp chủ quan nào từ người khác
Một lần nữa nguyên tắc tự nguyện của các chủ thể khi tham gia thực hiện mang thai bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm được cụ thể hóa là một trong những điều kiện bắt buộc để tiến hành kỹ thuật này Điều này không chỉ tuân theo nguyên tắc cơ bản của Luật Dân sự là thỏa thuận, bình đẳng, tự nguyện mà còn bảo vệ các chủ thể tham gia thông qua sự biểu đạt bằng ý chí của mình Quy định này nhằm tránh dẫn đến tranh chấp, đảm bảo cho quyền và lợi ích của các bên chủ thể, đặc biệt là lợi ích đứa trẻ
Việc cho nhận phải được thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được
Bộ Y tế công nhận được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Quy định này nhằm đảm bảo sự kiểm soát của nhà nước về vấn đề sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đồng thời đảm bảo về mặt y tế, tránh dẫn đến những hậu quả đáng tiếc khi tiến hành tại các cơ sở y tế không đảm bảo Bên cạnh đó, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho tinh trùng Điều này nhằm đảm bảo nguyên tắc bí mật và nguyên tắc này chỉ được áp dụng đối với người cho tinh trùng mà không áp dụng đối với người cho noãn
Tinh trùng, noãn của người cho chỉ được sử dụng cho một người, nếu không sinh con thành công mới sử dụng cho người khác Quy định này sẽ hạn chế tình trạng những đứa trẻ sinh ra có cùng huyết thống nhưng có bố mẹ pháp
lý khác nhau
Trang 27Bắt đầu từ năm 2003 khi xây dựng nghị định về sinh con bằng phương pháp khoa học, Bộ Y tế đã tổ chức nhiều hội thảo phối hợp với Bộ Tư pháp, trường Đại học Luật, mời các chuyên gia nước ngoài để nói về nguy cơ có thể người hiến tinh trùng sẽ hiến nhiều lần, và từ đó sẽ có hôn nhân cận huyết ở thế hệ con cháu sau này do không xác định được người hiến tinh trùng Dù theo đánh giá và phân tích của các chuyên gia nước ngoài, khả năng này là vô cùng hiếm
để xảy ra, nhưng nhà làm luật Việt Nam vẫn lựa chọn đưa quy định chỉ được hiến một lần đối với người hiến tinh trùng, noãn vào luật để đảm bảo hạn chế nhất tỉ lệ rủi ro hôn nhân cận huyết có thể xảy ra ở thế hệ con cháu15
Khác với điều kiện được quy định trước đây trong Nghị định
12/2003/NĐ-CP, các nhà làm luật đã bỏ quy định về độ tuổi luật định đối với người cho tinh trùng, cho noãn Cụ thể, theo quy định Nghị định 12/2003/NĐ-CP, người cho tinh trùng phải từ đủ 22 tuổi đến 55 tuổi, người cho noãn phải từ đủ 18 tuổi đến
35 tuổi Việc Nghị định 12/2003/NĐ-CP quy định như vậy là căn cứ vào các nghiên cứu khoa học, đây là độ tuổi đảm bảo tốt nhất chất lượng tinh trùng và trứng Tuy nhiên, trong điều kiện khoa học ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống cũng như chất lượng chăm sóc y tế ngày càng được nâng cao, tình trạng sức khỏe trung bình của con người ngày càng được cải thiện, việc không quy định về độ tuổi đã giúp mở rộng đối tượng có thể cho tinh trùng, cho noãn, phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội
1.4.2 Điều kiện đối với người nhận noãn, tinh trùng, phôi
1.4.2.1 Điều kiện đối với người nhận tinh trùng
Điều kiện này được quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định
10/2015/NĐ-CP Theo đó, người nhận tinh trùng phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người chồng hoặc người nhận
Trang 28tinh trùng có thể là người phụ nữ độc thân có mong muốn sinh con và noãn của
họ đảm bảo chất lượng để thụ thai
Cặp vợ chồng vô sinh là cặp vợ chồng trong tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 – 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai16 Trước hết, cặp vợ chồng này phải là vợ chồng hợp pháp, có giấy đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Đây là cơ sở pháp lý để ràng buộc trách nhiệm giữa các bên trong quá trình sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và với trẻ sinh ra trong tương lai Người nhận tinh trùng còn có thể là là phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con Quy định này đảm bảo việc thực hiện quyền làm mẹ của những người phụ nữ không kết hôn nhưng vẫn mong muốn có con
Trong trường hợp này, người phụ nữ độc thân muốn sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản không nhất thiết phải đáp ứng điều kiện là người đó bị vô sinh Tuy nhiên, phụ nữ độc thân muốn sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chỉ có thể nhận tinh trùng nếu noãn của họ bảo đảm chất lượng để thụ thai
1.4.2.2 Điều kiện đối với người nhận noãn
Khoản 2 Điều 5 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định người nhận noãn phải
là người Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam và là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người vợ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai Người nhận noãn phải
là người Việt Nam hoặc có gốc Việt Nam Tức là, cặp vợ chồng vô sinh người nước ngoài, người phụ nữ độc thân người nước ngoài chỉ được nhận tinh trùng
mà không được nhận noãn Đây cũng là sự khác biệt so với pháp luật Hôn nhân
và gia đình trước đây, không cho phép thực hiện việc cho, nhận noãn; cho, nhận tinh trùng; cho, nhận phôi đối với người nước ngoài Quy định sửa đổi đã
16
Xem: Khoản 2 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP
Trang 29mở rộng đối tượng áp dụng của luật, đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể người nước ngoài
1.4.2.3 Điều kiện đối với người nhận phôi
Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, chỉ ba trường hợp sau đây được nhận phôi: người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyền nhân vô sinh là do cả người vợ và người chồng; người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh
mà vợ chồng đã thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm nhưng bị thất bại, trừ trường hợp mang thai hộ và phụ nữ độc thân mà không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai Đây là quy định mới của Nghị định 10/2015/NĐ-CP so với Nghị định 12/2003/NĐ-CP Trước đó, pháp luật hôn nhân và gia đình chỉ có phép người phụ nữ độc thân nhận tinh trùng mà nghiêm cấm nhận noãn và phôi Lý giải cho việc cấm phụ nữ độc thân nhận noãn và phôi bởi trước ngày 01 tháng 01 năm 2015, việc mang thai hộ hoàn toàn bị nghiêm cấm Việc cho phép người phụ nữ độc thân thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhận noãn hoặc phôi sẽ là kẽ hở, dễ dẫn tới nhiều biến tướng “mang thai hộ vì mục đích thương mại”, “sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại” Luật Hôn nhân và gia đình 2015 cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã mở rộng phạm vi điều kiện đối với người được nhận phôi Việc sửa đổi quy định này đã góp phần đảm bảo quyền làm mẹ của người phụ nữ độc thân
Ngoài những điều kiện riêng biệt đối với từng đối tượng, người nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi phải có đủ sức khỏe để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con; không mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV, bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, B17; không bị
17
Nhóm A gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và
tỷ lệ tử vong cao khoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh
Trang 30bệnh di truyền có ảnh hưởng đến tính mạng và sự phát triển của trẻ khi sinh ra; không bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Người phụ nữ phải đảm bảo điều kiện về sức khỏe khi thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để thụ thai, mang thai và sinh đẻ, tránh tình trạng người phụ nữ mắc một số bệnh như bệnh tim vẫn thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, gây nguy hiểm trong quá trình mang thai và sinh đẻ Xác nhận đáp ứng đủ các tiêu chuẩn này để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cần được xác nhận bằng văn bản của người đứng đầu cơ sở được phép thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm18
Những đối tượng mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình sẽ dễ dàng là đối tượng bị lợi dụng
để thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại hoặc mang thai hộ vì mục đích thương mại Chính bởi vậy, pháp luật không cho phép đối tượng này nhận hoặc cho tinh trùng, noãn
Đối với người cho tinh trùng, noãn, pháp luật quy định phải là những người không bị nhiễm HIV Nếu người cho tinh trùng nhiễm HIV, virus HIV sẽ tồn tại ở tinh tương bên ngoài tinh trùng Để phôi không nhiễm virus HIV, tinh dịch được rửa sạch tinh tương Cho tinh trùng thụ tinh với noãn đã bóc tách từ
Các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A bao gồm bệnh bài liệt; bệnh cúm A-H5N1; bệnh dịch hạch; bệnh đậu mùa; bệnh sốt xuất huyết do vi rút Ê – bô – la (Ebola), Lát –sa (Lassa) hoặc Mác – bớt (Marburg); bệnh sốt Tây sông Nin (Nile); bệnh sốt vàng; bệnh tả; bệnh viêm đường hô hấp cấp nặng do vi rút và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh chưa rõ tác nhân gây bệnh
- Nhóm B gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có khả năng lây truyền nahnh và có thể gây tử vong Các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B bao gồm bệnh do vi rút A – đê – nô (Adeno); bệnh do vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở bệnh người (HIV/AIDS); bệnh bạch hầu; bệnh cúm; bệnh dại; bệnh ho gà; bệnh lao phổi; bệnh do liên cầu lợn ở người; lỵ A – míp (Amibe); bệnh lỵ trực trùng; bệnh quai bị; bệnh sốt Đăng gơ (Dengue), sốt xuất huyết Đăng gơ (Dengue); bệnh sốt rét; bệnh sốt phát ban; bệnh sở; bệnh tay – chân – miệng; bệnh than; bệnh thủy đậu; bệnh thương hàn; bệnh uốn ván; bệnh Ru – bê – ôn (Rubeon); bệnh viêm màng gan vi rút; bệnh viêm màng não do não mô cầu; bệnh viêm não vi rút; bệnh xoắn khuẩn vàng da; bệnh tiêu chảy do vi rút Rô – ta (Rota)
(Theo quy định tại Điều 3 Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007)
18
Điều 3 Thông tư 57/2015/TT-BYT ngày 30 tháng 12 năm 2015 của Bộ Y tế quy định chi tiết một só điều của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Trang 31buồng trứng của người phụ nữ rồi nuôi cấy mô phôi và đưa trở lại vào tử cung người mẹ Phương pháp này có xác suất thành công cao hơn nhưng chi phí rất cao đồng thời yêu cầu rất phức tạp về kỹ thuật chuyên ngành Đây là biện pháp dành cho một số trường hợp cặp vợ chồng muốn có con mà chồng mang virus HIV, người cho tinh trùng sẽ là người chồng Tuy nhiên, đa số trường hợp, bác
sĩ đều đưa ra lời khuyên nên xin tinh trùng từ người khác19
Ngoài ra, tương tự như đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được cung cấp tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người nhận tinh trùng, nhận phôi Quy định này cũng nhằm tránh xảy ra tranh chấp, giúp ổn định mối quan hệ cha, mẹ, con và đảm bảo quyền lợi của các bên
1.4.2.4 Điều kiện mang thai hộ
1.4.2.5 Điều kiện đối với người mang thai hộ
Người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ
Quy định này nhằm hạn chế tối đa tình trạng mang thai hộ vì mục đích thương mại Khoản 7 Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định:
7 Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai
hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ
Trong khi đó, Khoản 19 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời”
19
Theo Chồng nhiễm HIV có thụ tinh ống nghiệm được không van/chong-nhiem-hiv-co-thu-tinh-ong-nghiem-duoc-khong-2855795.html
Trang 32http://suckhoe.vnexpress.net/tin-tuc/tu-Người có quan hệ hôn nhân bao gồm vợ - chồng http://suckhoe.vnexpress.net/tin-tuc/tu-Người có quan hệ nuôi dưỡng bao gồm con với bố, mẹ Người có cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau20, bao gồm cha, mẹ đối với con; ông, bà đối với cháu nội; ông, bà đối với cháu ngoại Người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác
mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba21
Có nghĩa là “anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha” vẫn là đối tượng thỏa mãn điều kiện người mang thai hộ là người thân thích cùng hàng bên vợ hoặc bên chồng theo như định nghĩa của Nghị định Quy định này mặc dù giúp mở rộng phạm vi những người được mang thai hộ, tuy nhiên lại là sự mâu thuẫn giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP Thêm vào đó, đối với điều kiện người mang thai hộ, Nghị định đã đưa ra những đối tượng không cần thiết như “anh rể”, “em rể” Vì theo quy luật tự nhiên cơ bản, chỉ có nữ giới mới thực hiện được việc mang thai và sinh con
Người mang thai hộ phải đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần
Lí giải cho việc quy định người mang thai hộ phải đã từng sinh con bởi mang thai và sinh con là một quá trình đặc biệt Việc đã từng sinh con sẽ giúp người phụ nữ chuẩn bị về mặt tâm lý cũng như có kinh nghiệm, kỹ năng trong vấn đề chăm sóc bản thân và thai nhi nhằm đảm bảo thực hiện việc mang thai
hộ Quy định chỉ được mang thai hộ một lần nhằm hạn chế xảy ra tình trạng mang thai hộ vì mục đích thương mại
Trang 33 Người mang thai hộ phải ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế
có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ
Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định thế nào là độ tuổi phù hợp Có thể suy đoán độ tuổi phù hợp là độ tuổi sinh đẻ nói chung theo các nghiên cứu khoa học cũng như quan niệm của xã hội Thông thường, độ tuổi sinh sản tốt nhất của người phụ nữ là khoảng từ 20 đến 30 tuổi, lúc này cơ thể người phụ
nữ đã phát triển đầy đủ cả về tâm sinh lý cho việc làm mẹ Khoa học cũng nghiên cứu, những con số thống kê về các trường hợp sảy thai ở phụ nữ đã cho thấy gần 15% phụ nữ bị sảy thai dưới độ tuổi 35 Nhưng ở độ tuổi 35 đến 37, nguy cơ sảy thai đã lên đến 25% Nếu mang thai ở độ tuổi trên 40, nguy cơ sảy thai sẽ là 40% Đồng thời, tỷ lệ con sinh ra bị dị tật bẩm sinh (phổ biến nhất là bệnh Down) cao gấp năm lần so với phụ nữ sinh con ở độ tuổi dưới 3022 Việc quy định về độ tuổi phù hợp và xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền nhằm bảo đảm tối đa kết quả thành công cho việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm trong trường hợp mang thai hộ nói riêng và mang thai hộ nói chung
Điều kiện có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ không chỉ nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người mang thai hộ mà còn đảm bảo cho sức khỏe của đứa trẻ, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra Tính tới thời điểm hiện tại, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện thực hiện ngay
kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo gồm Bệnh viện Phụ sản trung ương; Bệnh viện Đa khoa trung ương Huế; Bệnh viện phụ sản Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh23
Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng
Trang 34Đây là một trong những điều kiện mà pháp luật quy định, đặt ra bắt buộc đối với người phụ nữ mang thai hộ nếu có chồng Luật Hôn nhân và gia đình
2014 đặt ra nguyên tắc xây dựng gia đình tiến bộ, các thành viên trong gia đình
có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau Việc mang thai
hộ không chỉ làm người vợ có nguy cơ đối mặt với một số biến chứng, ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ mà còn ảnh hưởng tới tâm lý những người thân trong gia đình, các mối quan hệ của người mang thai hộ cũng như việc chăm sóc con trong gia đình khi người vợ mang thai hộ Chính bởi vậy, việc người vợ mang thai hộ cần có sự bàn bạc, thỏa thuận và đồng ý của người chồng Sự đồng thuận này phải được ghi nhận lại bằng văn bản
Người mang thai hộ phải được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý nhằm đem lại những hiểu biết tổng quan nhất về vấn đề mang thai hộ, để họ có thể cân nhắc có nên tiến hành mang thai hộ hay không và hậu quả của vấn đề mang thai hộ
Người mang thai hộ phải được tư vấn về các nội dung y tế như các nguy cơ, tai biến có thể xảy ra khi mang thai như sảy thai, thai ngoài tử cung, băng huyết, khả năng đa thai, em bé bị dị tật và phải bỏ thai Việc tư vấn về y tế như vậy nhằm cung cấp những thông tin về nguy cơ, tai biến ảnh hưởng tới sức khỏe của người mang thai hộ để người mang thai hộ có thể cân nhắc một cách
kỹ lưỡng về những nguy cơ có thể phải đối mặt Liên quan tới tư vấn các nội dung pháp lý, những hậu quả pháp lý cơ bản và quan trọng nhất là mối quan hệ phát sinh hay việc xác định cha, mẹ, con giữa con sinh ra và các bên liên quan
là điều người mang thai hộ cần được tư vấn Ngoài ra các tư vấn về tâm lý như tâm lý, tình cảm của người trong gia đình, bạn bè trong thời gian mang thai hộ, tâm lý đối với con ruột của mình là những điều pháp luật quy định người mang thai hộ phải được tư vấn kỹ lưỡng trước khi tiến hành Các tư vấn này phải được lập thành bản xác nhận nội dung từng vấn đề riêng biệt có xác nhận
Trang 35của bác sỹ sản khoa; người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên và của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý24
1.4.2.6 Điều kiện đối với người nhờ mang thai hộ
Cặp vợ chồng vô sinh là đối tượng duy nhất được quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Hơn hết, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản25 Như vậy, điều kiện cần trước hết, bên nhờ mang thai hộ phải là vợ chồng hợp pháp Quy định này nhằm đảm bảo các ràng buộc pháp lý giữa các bên trong quá trình thực hiện mang thai hộ cũng như đối với đứa trẻ trong tương lai Tức là, người phụ nữ độc thân mặc dù được pháp luật cho phép thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng không được phép nhờ mang thai hộ Bởi đối tượng nhờ mang thai hộ phải là vợ chồng hợp pháp, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Vì thế các cặp đôi đồng tính, song tính và chuyển giới cũng không được phép nhờ mang thai hộ do pháp luật vẫn chưa thừa nhận hôn nhân của họ là hợp pháp Điều kiện này nhằm hạn chế chủ thể được phép nhờ mang thai hộ, giảm thiểu sự vi phạm nghĩa vụ giữa các bên cũng như đảm bảo quyền lợi cho đứa trẻ Tuy nhiên, ngoài những điều kiện cần, pháp luật quy định những điều kiện đủ mà cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ người mang thai hộ phải đáp ứng tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai
và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Điều kiện thứ hai là người vợ được tổ chức y tế xác nhận không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ phải là cặp vợ chồng vô sinh và dù đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng người vợ vẫn không thể mang thai và sinh con Tức là mang thai hộ là giải pháp cuối cùng để có thể có con Quy định này được đặt ra nhằm tránh việc nhờ người khác mang thai hộ một cách bừa bãi, hạn chế việc lợi dụng mang thai hộ trong khi người phụ nữ vẫn còn
Trang 36khả năng làm mẹ, tránh tình trạng thương mại hóa mang thai hộ Tuy nhiên, cần làm rõ
ở đây, pháp luật quy định điều kiện đối với cặp vợ chồng vô sinh mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Như vậy trường hợp người vợ không bị vô sinh nhưng sức khỏe không cho phép để mang thai (ở nước ta gặp nhiều nhất là người mắc bệnh tim, các bệnh liên quan tới suy hô hấp ) thì vẫn có quyền nhờ mang thai hộ
Vợ chồng đang không có con chung
Pháp luật quy định điều kiện đối với cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ phải đang không có con chung Tức là việc mang thai hộ sẽ chỉ được thực hiện một lần nếu thành công Trong trường hợp nhờ mang thai hộ mà thai bị hỏng, bị sảy, đứa trẻ sinh ra bị chết … thì sẽ tiếp tục được nhờ mang thai hộ Trường hợp những cặp vợ chồng đã có con chung nhưng đã chết và đáp ứng đủ các điều kiện khác theo luật định về quyền nhờ mang thai hộ thì vẫn có quyền nhờ mang thai hộ Đối với cặp vợ chồng đã có một con mà con mắc bệnh (down, các bệnh liên quan tới thần kinh, các bệnh hiểm nghèo ) hoặc bị dị tật thì không có quyền nhờ mang thai hộ
Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý
Vợ chồng nhờ mang thai hộ được tư vấn về pháp lý, y tế, tâm lý Điều này nhằm đảm bảo cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ có thể hiểu rõ mọi mặt của vấn đề này, tránh xảy ra sai sót cũng như tranh chấp trong tương lai do thiếu hiểu biết Việc tư vấn sẽ được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ tiến hành theo quy định tại Chương V: “Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo”, từ Điều 15 đến Điều 18 Nghị định 10/2015/NĐ-CP
1.5 XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON
BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
1.5.1 Xác định quan hệ giữa người cho noãn, tinh trùng, phôi với trẻ sinh
ra bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản còn có sự tham gia của bên thứ
ba là người cho noãn, cho tinh trùng, cho phôi Trên thực tế, bên thứ ba là cha
Trang 37hoặc mẹ về mặt sinh học của đứa con sinh ra Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định rõ quan hệ giữa người cho tinh trùng, noãn, phôi với trẻ sinh ra bằng
kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm: “Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra 26 ” Quy định này xét về khía
cạnh xã hội, không đồng thuận với quan niệm xác định cha, mẹ, con thông thường Tuy nhiên, đây là quy định hoàn toàn hợp tình, hợp lý
Bản chất của việc thực hiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là để giúp đỡ những trường hợp vợ chồng vô sinh, mẹ đơn thân có mong muốn sinh con Trừ trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, người nhận tinh trùng, noãn, phôi sẽ là người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ độc thân muốn sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm Pháp luật có quy định riêng về việc xác định cha mẹ, con trong trường hợp này Để đảm bảo mục đích của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
và tránh xảy ra tranh chấp, pháp luật đã quy định việc sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra.Tức là, giữa con được sinh ra và người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi không tồn tại bất cứ quyền và nghĩa vụ nào, con sinh ra không được hưởng quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi
Có thể thấy ngay từ nguyên tắc vô danh của việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, người cho tinh trùng, noãn, phôi (trừ trường hợp nhờ mang thai hộ) với con sinh ra từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm hoàn toàn không có cơ sở để biết, liên lạc lẫn nhau Thực tế, xác suất có thể xảy trường hợp người cho tinh trùng, noãn, phôi gặp lại con sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh
26
Xem: Khoản 3 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Trang 38trong ống nghiệm mà họ đã cho tinh trùng, noãn, phôi là rất thấp nhưng vẫn có thể Trường hợp này dù người cho tinh trùng, noãn, phôi có thể đưa ra chứng
cứ thông qua kết quả giám định gen để yêu cầu nhận con nhưng pháp luật không xác định mối quan hệ cha, mẹ, con Nhà làm luật dự tính mọi khả năng
có thể xảy ra, nhằm bảo vệ quyền là lợi ích hợp pháp cho cặp vợ chồng vô sinh
và phụ nữ đơn thân có mong muốn sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cũng như trẻ sinh ra
1.5.2 Xác định quan hệ giữa người nhận noãn, nhận tinh trùng, nhận phôi
với trẻ sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
Luật hôn nhân và gia đình 2014 đưa ra khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ và căn cứ xác định mối quan hệ giữa người nhận noãn, nhận tinh trùng, nhận phôi với trẻ sinh ra theo từng trường hợp cụ thể Trên thực tiễn, trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, cha mẹ pháp lý và cha mẹ sinh học của đứa trẻ là không đồng nhất Việc xác định cha,
mẹ, con trong trường hợp này được tuân thủ theo quy định tại Điều 93 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản pháp lý có liên quan
1.5.2.1 Đối với cặp vợ chồng vô sinh
Trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà người vợ là người nhận noãn hoặc nhận tinh trùng hoặc nhận phôi, việc xác định cha, mẹ
được quy định tại Khoản 1 Điều 93: "Trong trường hợp người vợ sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này"
Đây là sự khác biệt với quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Theo đó, việc xác định cha, mẹ, con trong Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 được quy định tại Khoản 2 Điều 63 "Việc xác định cha, mẹ cho con được
sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định" và được hướng
dẫn chi tiết tại Điều 20 Nghị định 12/2003/NĐ-CP Việc sửa đổi và quy định
Trang 39chi tiết vấn đề này trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không chỉ làm tăng giá trị pháp lý mà còn giúp việc áp dụng được dễ dàng hơn
Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
"1 Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời
kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”
Từ quy định trên ta có thể lý giải, trường hợp vợ chồng thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm dẫn đến người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân27thì đứa trẻ sinh ra là con chung của vợ chồng Quan hệ mẹ – con được mặc nhiên xác lập qua sự kiện sinh đẻ, còn quan hệ cha con được xác lập thông qua
sự kiện thụ thai giữa cha, mẹ của đứa trẻ Tuy nhiên, đối với việc sinh con bằng
kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, việc thụ thai phải được diễn ra trong thời
kỳ hôn nhân Bởi một trong những điều kiện để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm là cặp vợ chồng vô sinh phải là vợ chồng hợp pháp Tức là, một trong những căn cứ để xác định con chung của vợ chồng là thời kỳ hôn nhân Vì thế, quy định căn cứ vào sự thừa nhận của cha mẹ, cụ thể, trường hợp đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mà việc người vợ có thai nhờ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm lại trước thời kỳ hôn nhân thì không được áp dụng Tương tự, quy định con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung, cũng không được áp dụng
Ngoài ra, trường hợp sau khi thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, hôn nhân của vợ chồng bị chấm dứt thì con được sinh ra trong vòng 300 ngày
kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong
27
Theo Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình 2014: “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ
vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”
Trang 40thời kỳ hôn nhân Thời kỳ thai nghén bắt đầu từ khi người phụ nữ thụ thai cho đến khi họ sinh đẻ Y học chứng minh thời kỳ thai nghén tối thiểu là 200 ngày, tối đa là 286 ngày Pháp luật đã gián tiếp thừa nhận thời gian mang thai tối đa
là 300 ngày, đây là một khoảng thời gian tương đối hợp lý cả về mặt khoa học
và thực tế trong các trường hợp thông thường Tuy nhiên, đối với trường hợp sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, việc mang thai không còn chịu sự chi phối hoàn toàn bởi quy luật tự nhiên mà còn phụ thuộc vào ý chí của vợ chồng trong cặp vợ chồng vô sinh, vào điều kiện thích hợp theo sự chỉ định của cơ sở y tế Vì thế, thời gian 300 ngày là không hoàn toàn phù hợp Điển hình như trong trường hợp cặp vợ chồng đã trữ phôi nhưng người vợ chưa thể đảm bảo sức khỏe để mang thai ngay mà phải sau một thời hạn nhất định, hôn nhân bị chấm dứt do người chồng chết Nếu người vợ tiếp tục tiến hành cấy phôi vào tử cung thì về mặt thực tế, đứa trẻ vẫn phải được coi là con chung của vợ chồng Vậy, câu hỏi đặt ra, việc xác định mối quan hệ cha, mẹ, con giữa đứa trẻ sinh ra với người chồng đã chết trong trường hợp này sẽ được pháp luật quy định như thế nào?
1.5.2.2 Đối với người phụ nữ độc thân mong muốn sinh con bằng kỹ thuật
thụ tinh trong ống nghiệm
Quy định cho phép người phụ nữ độc thân được quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là sự khác biệt của pháp luật Việt Nam đối với nhiều quốc gia khác Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này chỉ được căn cứ vào
sự tự nguyện tiến hành sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản của người phụ nữ độc thân và sự kiện sinh đẻ của họ, được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
"Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra."