Đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu là một trong những hoạt động cơ bản và thiết yếu trong quá trình xác lập cũng như thực thi quyền, có ý nghĩa quan trọng tro
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRƯƠNG THỊ MINH HIỀN
ĐÁNH GIÁ TÍNH TƯƠNG TỰ CỦA DẤU HIỆU ĐƯỢC SỬ DỤNG LÀM NHÃN HIỆU - MỘT SỐ VẤN
ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH TƯƠNG TỰ CỦA DẤU HIỆU ĐƯỢC SỬ DỤNG LÀM NHÃN HIỆU 5
1.1 Khái quát về nhãn hiệu và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 5
1.2 Các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 8
1.2.1 Khái quát về dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 8
1.2.2 Phân loại dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 13
1.3 Khái niệm tính tương tự của các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 18 1.4 Khái niệm đánh giá tính tương tự của các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 21
1.5 Nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 23
1.5.1 Đánh giá tính tương tự phải xem xét trong mối liên hệ với tổng thể dấu hiệu 24
1.5.2 Đánh giá tính tương tự phải xem xét dưới góc độ nhận thức của người tiêu dùng trung bình 26
1.5.3 Đánh giá tính tương tự cần xem xét đến mức độ quan tâm của khách hàng khi lựa chọn sản phẩm, dịch vụ 29
1.6 Cách thức đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 30
1.6.1 Xác định thành phần có tính phân biệt và thành phần chủ đạo trong dấu hiệu 30
1.6.2 Đánh giá sự tương tự của các yếu tố cấu thành 30
1.6.3 Đánh giá sự tương tự về mặt tổng thể của dấu hiệu 35
1.7 Ý nghĩa của việc đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 37
1.7.1 Ý nghĩa trong việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 37
1.7.2 Ý nghĩa trong việc thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, xác định yếu tố xâm phạm nhãn hiệu 38
Trang 31.7.3 Ý nghĩa đối với nhận thức của các cá nhân, tổ chức trong quá trình tạo
ra nhãn hiệu mới 38
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÍNH TƯƠNG TỰ CỦA DẤU HIỆU ĐƯỢC
SỬ DỤNG LÀM NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ĐÁNH GIÁ TÍNH TƯƠNG TỰ CỦA DẤU HIỆU ĐƯỢC
SỬ DỤNG LÀM NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM 40
2.1 Hệ thống quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 40 2.2 Các nguyên tắc đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam 45 2.2.1 Đánh giá tính tương tự giữa các dấu hiệu được xem xét trên tất cả các khía cạnh về thị giác, thính giác, ý nghĩa của từng thành tố độc lập trong mối liên hệ với tổng thể dấu hiệu 45 2.2.2 Khả năng nhầm lẫn của người tiêu dùng là tiêu chí quyết định trong việc đánh giá tính tương tự của dấu hiệu sử dụng làm nhãn hiệu 47 2.2.3 Cần ưu tiên đánh giá sự tương tự giữa các thành phần chủ yếu (yếu tố mạnh hay thành phần mạnh) của dấu hiệu 49 2.3 Cách thức đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam 51 2.4 Thực tiễn đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu tại Việt Nam 61 2.4.1 Cách thức đánh giá tính tương tự trong quá trình xác lập quyền 63 2.4.2 Cách thức đánh giá tính tương tự trong quá trình thực thi quyền 69
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ TÍNH TƯƠNG TỰ CỦA DẤU HIỆU ĐƯỢC SỬ DỤNG LÀM NHÃN HIỆU 79
3.1 Định hướng phát triển hoạt động đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 79 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam về đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 81 3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá tính tương
tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu tại Việt Nam 85
Trang 43.3.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tiến hành đánh giá tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu 85 3.3.2 Xây dựng cơ chế đối thoại trực tiếp giữa Cục Sở hữu trí tuệ, Thanh tra
Bộ KH&CN hoặc Tòa án với chủ thể đăng ký và các tổ chức sở hữu đại diện
sở hữu công nghiệp 87 3.3.3 Công khai kết quả thẩm định nội dung và Quyết định từ chối cấp văn bằng bảo hộ trên Thư viện số về Sở hữu công nghiệp (IP Lib) 88 3.3.4 Điều chỉnh cơ chế xem xét lại các kết luận đánh giá tính tương tự tại Cục Sở hữu trí tuệ 89 3.3.5.Tăng cường trang thiết bị và hệ thống cơ sở dữ liệu 89
KẾT LUẬN 90
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế thị trường với sự tự do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, việc khiến người tiêu dùng có thể biết, nhớ đến và lựa chọn những hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp là một trong những mục đích hàng đầu
mà hầu hết các nhà sản xuất hàng hóa/cung cấp dịch vụ hướng tới Nhãn hiệu lúc này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh và danh tiếng của các cá nhân, tổ chức cung cấp hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng
Vì vậy, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là một trong những nhu cầu tất yếu đối với sự hoạt động và phát triển của doanh nghiệp, góp phần tạo lợi thế cạnh tranh cũng như đem lại những bảo đảm pháp lý cho chủ sở hữu nhãn hiệu
Đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu là một trong những hoạt động cơ bản và thiết yếu trong quá trình xác lập cũng như thực thi quyền, có ý nghĩa quan trọng trong việc kết luận khả năng bảo hộ làm nhãn hiệu của dấu hiệu hoặc xác định hành vi nào đó có xâm phạm quyền với nhãn hiệu của chủ thể quyền hay không Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật về vấn đề này vẫn còn khá chung chung nên trên thực tế hoạt động đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu của các cơ quan có thẩm quyền vẫn chứa đựng không ít những bất cập, thiếu thống nhất, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, cản trở hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các cá nhân, tổ chức
Trước tình hình thực tế như trên, tác giả nhận thấy rằng việc nghiên cứu
đề tài “Đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” là vô cùng cần thiết Qua đề tài, tác giả
mong muốn có cơ hội nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành nhằm phù hợp với thông lệ quốc
Trang 62 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, Luận văn, Luận án nghiên cứu về các vấn đề bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, tuy nhiên cho đến nay các công trình nghiên cứu chuyên sâu các nội dung liên quan đến hoạt động đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu trong quá trình bảo hộ và thực thi vẫn còn rất hạn chế Nội dung nghiên cứu thường được thể hiện một cách rải rác, thông qua các bài nghiên cứu như “Một số ý kiến về tính tương tự của nhãn hiệu hàng hoá” của tác giả Minh Thủy trong Tạp chí Toà án nhân dân số
8/2003, “Đánh giá sự tương tự có khả năng gây nhầm lẫn giữa các nhãn
hiệu” của tác giả Lê Hoài Dương trong Tạp chí Toà án nhân dân số 2/2004,
hoặc được đề cập một cách khái quát trong Luận văn Thạc sĩ “Xác định khả
năng phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam” của tác
giả Đỗ Thị Hồng năm 2008 và một số công trình nghiên cứu khác Tuy nhiên, nhìn chung các công trình nghiên cứu này mới chỉ tiếp cận dưới góc độ khái quát ở một số vấn đề cơ bản liên quan đến tính tương tự của nhãn hiệu, trong khi chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu vấn đề này dưới góc độ lý
luận cũng như thực tiễn một cách cụ thể, toàn diện và mang tính hệ thống
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu dựa trên việc xây dựng và làm rõ các khái niệm, nguyên tắc cơ bản và cách thức đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu là các nhãn hiệu thông thường và tập trung chủ yếu trong hoạt động xác lập quyền Các nội dung liên quan đến so sánh và đánh giá với các đối tượng khác như nhãn hiệu đã được
Trang 7Ngoài ra, trong Luận văn, tác giả đã nghiên cứu hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến đánh giá tính tương tự của dấu hiệu sử dụng làm nhãn hiệu, đưa ra một số nhận xét về thực tiễn hoạt động đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu của các
cơ quan chức năng trong quá trình xác lập quyền cũng như quá trình thực thi tại Việt Nam Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu trên thực tế tại Việt Nam
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật thế giới về đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu để hệ thống hóa thành những vấn
đề mang tính lý luận về dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu, về tính tương
tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu cũng như các nguyên tắc đánh giá, cách thức đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu, từ đó chỉ ra những điểm còn tồn tại và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện đối với vấn đề liên quan
Thông qua đề tài, tác giả mong muốn các chủ thể tiến hành hoạt động đánh giá, đặc biệt các cơ quan bảo hộ và thực thi có thể nhận thức, xác định
và áp dụng các tiêu chí đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu một cách rõ ràng, cụ thể để các kết luận đánh giá được nhất quán, phù hợp với thực tiễn
Trang 84
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở nền tảng lý luận là các nguyên tác
và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về sở hữu công nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trong quá trình thực hiện Luận văn, tác giả có kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định của điều ước quốc tế và pháp luật của các quốc gia phát triển, cũng như hướng dẫn của các tổ chức quốc tế chuyên về sở hữu trí tuệ Đồng thời, Luận văn kết hợp phân tích các vụ việc cụ thể trên thực tiễn để đánh giá, làm
rõ các vấn đề liên quan đến hoạt động đánh giá tính tương tự của các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu
6 Bố cục của Luận văn
Kết cấu của Luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ
và phạm vi nghiên cứu đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu
Chương 2: Đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu tại Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ và nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu
Trang 95
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ TÍNH TƯƠNG
TỰ CỦA DẤU HIỆU ĐƯỢC SỬ DỤNG LÀM NHÃN HIỆU
1.1 Khái quát về nhãn hiệu và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Nhãn hiệu xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người Từ thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại đến thời kỳ trung đại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động lưu thông hàng hóa, con người sử dụng nhãn hiệu như dấu hiệu
để chứng minh nguồn gốc của sản phẩm được đem trao đổi Điều này được chứng minh khi các nhà khảo cổ học tiến hành khai quật ở nhiều nơi trên thế giới và đã phát hiện thấy trên các hiện vật thu được là các bình gốm sứ có rất nhiều dấu hiệu của các nhà sản xuất, chủ yếu là các chủ sở hữu các xưởng sản xuất thủ công để đánh dấu sản phẩm của họ Các ký hiệu sử dụng trên hàng hóa trong các thời kỳ này có nhiều đặc điểm tương tự với nhãn hiệu ngày nay, tuy nhiên, lúc này hệ thống quyền tài sản đối với nhãn hiệu chưa được hình thành Trải qua quá trình biến đổi không ngừng trong các tiến trình lịch sử, từ những dấu hiệu ở dạng đơn giản, sơ khai, đến nay nhãn hiệu được thể hiện dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng khác nhau và trở thành một loại tài sản vô hình quan trọng đối với chủ sở hữu
Thuật ngữ “nhãn hiệu” lần đầu tiên được đề cập đến trong văn bản pháp luật quốc tế là Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp 1883, tuy nhiên Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ TRIPS là điều ước quốc tế đầu tiên đưa ra khái niệm về nhãn hiệu, theo đó tại Khoản 1 Điều 15 của Hiệp định, nhãn hiệu có thể là “bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác” Các quy định về khái niệm nhãn hiệu theo pháp luật nhãn hiệu của nhiều quốc gia trên thế giới cũng đều dựa trên quan điểm tiếp cận của Hiệp định TRIPS và đều được hiểu một cách chung nhất là những dấu hiệu dùng để
Trang 106
phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của của các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh khác nhau Nghĩa là nhãn hiệu phải là những dấu hiệu có chứa đựng thông tin mang lại cho người tiêu dùng những ấn tượng nhất định để giúp họ nhận ra những loại sản phẩm, dịch vụ có chất lượng hoặc đã từng quen dùng
Có thể thấy, định nghĩa này thể hiện một cách khái quát nhất về bản chất của nhãn hiệu - làm cơ sở cho việc đánh giá khả năng được bảo hộ nhãn hiệu của các dấu hiệu yêu cầu đăng ký, đồng thời khẳng định chức năng chính của nhãn hiệu là giúp người tiêu dùng phân biệt các sản phẩm, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau và nhận biết được nguồn gốc của những sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu đó Nếu người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm, dịch vụ dẫn đến việc mua/chọn nhầm sản phẩm, dịch vụ, khi đó chức năng phân biệt của nhãn hiệu sẽ bị mất đi Như nhà nghiên cứu Jenkins đã nói:
“Nhãn hiệu đóng vai trò là một phương tiện xác định, với bốn mục tiêu
cơ bản: Thứ nhất, nhãn hiệu là công cụ đánh dấu những hàng hóa mang chung một nhãn hiệu là xuất phát từ cùng một nguồn sản xuất Thứ hai, nhãn hiệu đem lại cho người tiêu dùng sự đảm bảo về chất lượng hàng hóa bởi vì khi đã trở nên phổ biến, được nhiều người mua, chất lượng
và giá trị của loại hàng hóa mang nhãn hiệu đó đã được khẳng định trên thị trường Thứ ba, nhãn hiệu cho phép nhà sản xuất phân biệt hàng hóa của họ với các đối thủ cạnh tranh khác Thứ tư, nhãn hiệu giúp thúc đẩy
sự phát triển hàng hóa.”1
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp không còn là việc riêng của các doanh nghiệp, mà trở thành cuộc chiến thương mại giữa các quốc gia2 Trước đây, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thường được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm nội dung xác lập và duy trì quyền sở hữu công nghiệp cho các chủ
1
Xem thêm http://www.jenkins-ip.com/serv/t_trad03.htm
2
Nguyễn Văn Luật (2005), Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Việt
Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.39
Trang 117
thể quyền Tuy nhiên kể từ khi Hiệp định TRIPS ra đời, khái niệm về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đã được tiếp cận lại theo nghĩa rộng hơn3, theo đó, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp không chỉ giới hạn ở việc xác lập quyền mà còn bao gồm cả nội dung ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm quyền của chủ thể trên thực tế, như vậy mới có thể đảm bảo được trọn vẹn quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền Là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cũng được hiểu tương tự như bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung, nghĩa là cũng bao gồm hai nội dung chính là việc xác lập và duy trì quyền sở hữu công nghiệp cho chủ sở hữu cùng với các biện pháp, cách thức để ngăn chặn và xử
lý các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu
Đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu có mối liên hệ mật thiết với hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Cụ thể, trong quá trình xác lập quyền, một trong các điều kiện để được bảo hộ là dấu hiệu phải có khả năng phân biệt và tiêu chí quan trọng để đáp ứng điều kiện về tính phân biệt là dấu hiệu không được trùng hoặc tương
tự đến mức gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu đối chứng Vì vậy đánh giá khả năng bảo hộ nói chung và đánh giá tính tương tự giữa dấu hiệu yêu cầu đăng
ký và nhãn hiệu đối chứng nói riêng là nội dung mang tính then chốt Trong khi đó, đối với quá trình thực thi quyền, một trong các điều kiện để xác định yếu tố xâm phạm là dấu hiệu bị nghi ngờ phải trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn giữa với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ, nói cách khác đánh giá tính tương tự giữa dấu hiệu bị nghi ngờ và nhãn hiệu bảo hộ là một trong những nội dung quan trọng để xác định yếu tố xâm phạm
3
Điều 3, 4 Phụ lục của Hiệp định TRIPS đã quy định rõ “Thuật ngữ bảo hộ phải gồm các vấn đề
ảnh hưởng đến khả năng đạt được, việc đạt được, phạm vi, việc duy trì hiệu lực và việc thực thi quyền SHTT cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến việc sử dụng quyền SHTT được quy định trong Hiệp định”
Trang 128
1.2 Các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu
1.2.1 Khái quát về dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu
Theo định nghĩa của từ điển thì “dấu hiệu là dấu để cho biết, chứng tỏ điều gì”4, nghĩa là, thông qua dấu hiệu con người có thể nhận thức được sự vật, hiện tượng nào đó trong thế giới khách quan
Thông qua một số định nghĩa mang tính quốc tế về nhãn hiệu hiện nay, chẳng hạn theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), nhãn hiệu là “dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp hoặc thương mại hoặc của một nhóm các doanh nghiệp đó”; hoặc theo quy định của Hiệp định TRIPS, “bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa” Như vậy, có thể thấy hiện nay, các điều ước quốc tế và phần lớn pháp luật quốc gia trên thế giới đều chỉ tiếp cận “dấu hiệu” dưới góc độ là “bản chất” và là một trong những đặc điểm của nhãn hiệu Việc sử dụng thuật ngữ “dấu hiệu” là tiền đề cơ bản cho những áp dụng giải thích về nhãn hiệu5
Tuy nhiên, xem xét vấn đề ở góc độ ngược lại, có những dấu hiệu mặc
dù bản thân nó có thể được sử dụng làm nhãn hiệu trong thương mại, nhưng chưa chắc sẽ được chấp nhận bảo hộ theo pháp luật về nhãn hiệu Có quan điểm cho rằng dấu hiệu là những nhãn hiệu “giả định”, có khả năng được bảo
hộ làm nhãn hiệu hoặc không, bất kể đã được sử dụng hay sẽ được sử dụng6 Theo Hội đồng khiếu nại của Liên minh Châu Âu, khái niệm dấu hiệu “được hiểu như một thuật ngữ rất rộng, mở và chung chung, bao gồm tất cả các loại
4
Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Đại Từ điển Tiếng
Việt, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.525
5
Vương Thanh Thúy (2011), Dấu hiệu mang chức năng trong pháp luật về nhãn hiệu - Quy định
của pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.30
6
Jeremy Phillips (2003), Trademark Law - A Practical Anatomy, Oxford University Press, pg.6
Trang 139
nhãn hiệu có thể nhận thức được”7 Qua quá trình nghiên cứu, tác giả thấy rằng chưa có một khái niệm cụ thể về dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu trên góc độ pháp lý lẫn góc độ khoa học
Về mặt nguyên tắc, bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu dùng
để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể khác nhau đều có thể được dùng làm nhãn hiệu Do đó, pháp luật nhãn hiệu các nước thường không đưa
ra một danh sách đầy đủ hay giới hạn các dấu hiệu nào được sử dụng làm nhãn hiệu Dựa trên cách tiếp cận này có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu như sau:
Thứ nhất, về bản chất, dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu là một hoặc tập hợp các thông tin chỉ dẫn, nhằm cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin cơ bản giúp người tiêu dùng có thể phân biệt được các hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể sản xuất, kinh doanh khác nhau Những thông tin này
là sự thể hiện ra bên ngoài của dấu hiệu và là một trong những căn cứ để giúp người tiêu dùng nhận biết hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp trong số rất nhiều những hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác để đưa ra quyết định lựa chọn và sử dụng hàng hóa, dịch vụ
Thứ hai, các thông tin trong dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu phải được thể hiện dưới dạng hình thức nhất định mà con người có thể cảm nhận được bằng một trong các giác quan hoặc kết hợp của nhiều giác quan khác nhau, chẳng hạn dưới dạng hữu hình như từ ngữ, chữ cái, chữ số, hình học, màu sắc hoặc dưới dạng vô hình như âm thanh, mùi vị, v.v Đây là một trong những đặc trưng cơ bản của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu Bởi lẽ mục đích và chức năng của nhãn hiệu là để chỉ dẫn nguồn gốc thương mại hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng chỉ có thể nhận biết được dấu hiệu trên hàng hóa, dịch vụ thông qua các giác quan của mình, do đó, nếu người tiêu dùng không nhận biết hoặc không có khả năng “tri giác” được các thông tin trong
7
Lionel Bently, Brad Sherman (2004), Intellectual Property Law - Second Edition, Oxford
University Press, pg.791
Trang 1410
dấu hiệu thì sẽ không thể nhận thức được những chỉ dẫn chứa đựng trong các thông tin đó Ngoài ra, yêu cầu này còn để đảm bảo khả năng vận hành của hệ thống đăng ký đối với nhãn hiệu và cơ quan đăng ký có thể dễ dàng tiến hành tra cứu khi xem xét đánh giá khả năng bảo hộ của dấu hiệu Tuy nhiên, việc các thông tin trong dấu hiệu tồn tại dưới những hình thức nào để được chấp nhận bảo hộ làm nhãn hiệu sẽ phụ thuộc theo quy định pháp luật của từng quốc gia Mỗi quốc gia khác nhau sẽ quy định về điều kiện đối với hình thức thể hiện của dấu hiệu khác nhau, phụ thuộc vào các đặc điểm kinh tế - xã hội cũng như mức độ phát triển khoa học kỹ thuật của từng nước Ví dụ, pháp luật nhiều nước chỉ đồng ý bảo hộ làm nhãn hiệu cho những dấu hiệu nhìn thấy được, trong khi đó nhiều quốc gia có trình độ phát triển chấp nhận bảo hộ cho
cả những dấu hiệu không nhìn thấy được, mà chỉ cảm nhận bằng thính giác như âm thanh hay bằng khứu giác, vị giác như dấu hiệu mùi vị, v.v
Thứ ba, mục đích sử dụng các dấu hiệu làm nhãn hiệu là để người tiêu dùng có thể phân biệt hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, tổ chức này với hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, tổ chức khác Đây là đặc trưng thể hiện bản sắc riêng của chủ thể kinh doanh khi đưa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình ra thị trường, tránh sự nhầm lẫn của người tiêu dùng trong quá trình lưu thông thương mại
Tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát, dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu là một hoặc tập hợp các thông tin chỉ dẫn được thể hiện dưới những hình thức nhất định mà con người có thể cảm nhận được bằng một hay nhiều giác quan khác nhau dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác
Dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu có thể được chia thành nhiều cấp
độ khác nhau, cụ thể:
- Cấp độ thứ nhất là toàn bộ các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu nói chung bao gồm mọi loại dấu hiệu được thể hiện ở bất kì hình thức nào có thể cảm nhận được bằng các giác quan của con người, được các chủ thể kinh
Trang 1511
doanh sử dụng với mục đích phân biệt hàng hóa, dịch vụ của họ với hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác Ví dụ: các dấu hiệu cảm nhận bằng thị giác như dấu hiệu chữ, dấu hiệu hình; các dấu hiệu cảm nhận bằng thính giác như dấu hiệu âm thanh; dấu hiệu cảm nhận bằng khứu giác như dấu hiệu mùi, v.v
- Cấp độ thứ hai là những dấu hiệu có khả năng đạt được chức năng phân biệt của nhãn hiệu Mục đích của việc sử dụng dấu hiệu làm nhãn hiệu là nhằm thực hiện chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác nhau, tuy nhiên, chỉ có một bộ phận trong số những dấu hiệu sử dụng làm nhãn hiệu nói chung mới có khả năng đạt được chức năng này Ví dụ: trong số những dấu hiệu hình mà câc chủ thể kinh doanh sử dụng để gắn lên hàng hóa, dịch vụ của mình thì những hình vẽ thông thường, mang tính chất mô tả hàng hóa, dịch vụ được xem là không có khả năng đạt được chức năng phân biệt của nhãn hiệu
Các dấu hiệu này được xác định dựa trên sự phân biệt của người tiêu dùng trên ba khía cạnh: phân biệt về mặt biểu tượng, đặt cơ sở trên độ khác biệt của bản thân nhãn hiệu ở khía cạnh cấu trúc, phát âm, phong cách thể hiện, ngữ nghĩa, v.v.; phân biệt về mặt lý tính, đặt cơ sở trên mức độ cảm nhận về sự khác biệt hoặc sự ưu trội về chất lượng của sản phẩm mang nhãn hiệu so với mục đích tiêu dùng hoặc/và so với các sản phẩm mang nhãn hiệu cạnh tranh; phân biệt về mặt cảm tính dựa trên những liên tưởng về nhãn hiệu còn đọng lại được trong ký ức của khách hàng8 Về căn bản, các đánh giá và kết luận của cơ quan đăng ký đối với khả năng phân biệt của một dấu hiệu cụ thể chủ yếu bao hàm sự phân tích về mặt biểu tượng, tuy nhiên, trong thực tế thông qua hoạt động truyền thông và tiếp thị của doanh nghiệp, cũng như thông qua chuỗi hành vi chú ý, nhận xét, so sánh, đánh giá, tiêu dùng… của khách hàng, sự phân biệt về mặt lý tính và phân biệt về mặt cảm tính đối với dấu hiệu đều có thể phát sinh, khi đó những dấu hiệu này vẫn có khả năng đạt
8
Xem thêm Đào Minh Đức (2003), “Khả năng phân biệt của nhãn hiệu”, Tạp chí Khoa học pháp lý
tại địa chỉ https://thongtinphapluatdansu.com/2008/04/26/3562-2/
Trang 1612
được chức năng làm nhãn hiệu, dù dấu hiệu có được đăng ký hay được pháp luật chấp nhận bảo hộ hay không - Cấp độ thứ ba là những dấu hiệu được pháp luật chấp nhận bảo hộ là nhãn hiệu Trong số những dấu hiệu có khả năng đạt được chức năng làm nhãn hiệu, thì chỉ có một phần trong số các dấu hiệu đó được pháp luật thừa nhận để bảo hộ và các dấu hiệu này phải đáp ứng được những điều kiện nhất định quy định khác nhau phụ thuộc vào hệ thống pháp luật về nhãn hiệu của từng quốc gia Nói cách khác, một dấu hiệu chỉ có thể được chấp nhận bảo hộ làm nhãn hiệu nếu đáp ứng được các điều kiện bảo
hộ theo luật định Ví dụ: theo pháp luật nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam quy định chỉ có những dấu hiệu nhìn thấy được mới có thể được pháp luật bảo
hộ9, nghĩa là những dấu hiệu không nhìn thấy được như âm thanh, mùi vị mặc
dù có khả năng đạt được chức năng phân biệt của nhãn hiệu cũng sẽ không được pháp luật Việt Nam chấp nhận bảo hộ làm nhãn hiệu
Ngoài ra, để được chấp nhận bảo hộ làm nhãn hiệu, các dấu hiệu phải đáp ứng điều kiện chung của nhãn hiệu là đảm bảo khả năng phân biệt Thông thường dấu hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ, không trái với trật tự công, đồng thời không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ… Một số dấu hiệu tuy khả năng phân biệt từ các đặc điểm
cơ bản vốn có của nhãn hiệu không cao, nhưng qua thực tiễn lâu dài sử dụng được người tiêu dùng thừa nhận và đạt được khả năng phân biệt, chỉ dẫn nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ nên cũng có thể coi là có khả năng phân biệt
Trên thực tế không ít trường hợp các cá nhân, tổ chức với ý đồ xấu đã tạo ra những dấu hiệu gần giống với những nhãn hiệu nổi tiếng để cố tình tạo
sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng Vì vậy, mặc dù lúc này, dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu đã được thiết lập nhưng do dấu hiệu thiếu vắng chức
9
Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)
Trang 17cơ quan nhà nước cũng như những chuẩn mực đạo đức chung của xã hội10, như dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với quốc kỳ, quốc huy các nước, tên các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tên thật, biệt hiệu của lãnh tụ, danh nhân, v.v
Ngoài ra, dấu hiệu bị loại trừ bảo hộ còn có thể là những dấu hiệu mặc
dù được pháp luật cho phép xuất hiện trong nhãn hiệu nhưng bị loại trừ khỏi phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu (không bảo hộ riêng), vì không chủ thể nào được sử dụng độc quyền các dấu hiệu đó, thông thường đó là các dấu hiệu mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc những biểu tượng, biểu trưng, quy ước đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến, v.v Các dấu hiệu này được coi là những “giới hạn” của chủ thể quyền
để đảm bảo nguyên tắc cân bằng lợi ích trong sở hữu trí tuệ
1.2.2 Phân loại dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của xã hội, đặc biệt với sự hiện đại của công nghệ và các phương tiện truyền thông hiện nay, các nhà sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ ngày càng tìm ra nhiều loại dấu hiệu khác nhau sao cho có thể phát huy tối đa tính độc đáo, sáng tạo, mới lạ nhằm tạo nên sự khác biệt cho các sản phẩm, dịch vụ của mình
10
Nguyễn Kiều Oanh (2014), Những dấu hiệu không được bảo hộ là nhãn hiệu theo quy định của
pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội
Trang 18cơ quan đăng ký; (ii) dấu hiệu do các cá nhân, tổ chức yêu cầu đăng ký bảo hộ thể hiện trên Tờ khai đăng ký hoặc (iii) các dấu hiệu nghi ngờ có chứa yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của các chủ thể khác
Xét trên phương diện hình thức, dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu
có hình thức thể hiện phong phú và đa dạng, có thể được cảm nhận bằng nhiều giác quan khác nhau, không chỉ bằng thị giác mà còn mở rộng sang thính giác, vị giác, khứu giác và thậm chí xúc giác Nhãn hiệu có thể được tạo thành từ các dấu hiệu truyền thống là các chữ, chữ số, dấu hiệu hình, màu sắc hoặc kết hợp của chúng Đồng thời, phạm vi bảo hộ nhãn hiệu đã được mở rộng sang các loại dấu hiệu “hiện đại” như dấu hiệu âm thanh, hình biến đổi theo góc nhìn (hologram), mùi vị, Việc phân loại dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn, đặc biệt đối với việc đánh giá khả năng bảo hộ làm nhãn hiệu của dấu hiệu, giúp cho việc lựa chọn tiêu chí và cách thức đánh giá tính tương tự giữa các dấu hiệu một cách phù hợp
- Dấu hiệu chữ (dấu hiệu chữ cái, chữ số, từ ngữ): bao gồm những
dấu hiệu là sự kết hợp của các chữ cái, các từ hoặc cụm từ có thể tự tạo hoặc
có nghĩa, các câu, cũng như sự kết hợp giữa chúng Trong dấu hiệu này bao gồm cả các dấu hiệu chứa các chữ số hoặc là sự kết hợp của chữ cái với chữ
số Dấu hiệu chữ khiến cho người tiêu dùng dễ cảm nhận và dễ đem lại ấn tượng trong tâm thức người tiêu dùng, đồng thời việc tạo ra một dấu hiệu chữ làm nhãn hiệu sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn so với các loại dấu hiệu khác
Vì vậy, việc sử dụng các dấu hiệu chữ làm nhãn hiệu đang chiếm ưu thế và phổ biến hơn so với các loại dấu hiệu khác trên thế giới
Trang 1915
Theo hình thức thể hiện, dấu hiệu chữ có thể được phân làm hai loại: + Dấu hiệu chữ ở dạng tiêu chuẩn, không mang yếu tố thể hiện đồ họa
mà chỉ tập trung vào yếu tố ngữ nghĩa, phát âm của dấu hiệu
+ Dấu hiệu chữ thể hiện dưới dạng cách điệu: các thành phần trong dấu hiệu được thiết kế đặc biệt, không phải là kiểu chữ thông thường, có chứa yếu
tố đồ họa dưới dạng hình họa độc đáo hoặc có kiểu chữ, kích thước đặc biệt
- Dấu hiệu hình: là các dấu hiệu bao gồm các yếu tố hình vẽ, hình ảnh,
yếu tố đồ họa có khả năng tác động đến cảm nhận thị giác của người tiêu dùng thông qua cách trình bày, sắp xếp bố cục mỹ thuật, sự kết hợp màu sắc giữa các chi tiết, yếu tố hình ảnh đó Các loại dấu hiệu hình phổ biến thường được sử dụng làm nhãn hiệu là các hình thiết kế độc đáo, bản vẽ, biểu tượng, hình ảnh hai chiều của sản phẩm hoặc bao bì sản phẩm
Ngoài dấu hiệu hình là các hình ảnh không gian hai chiều, còn có các dấu hiệu hình thể hiện dưới dạng hình khối được hình thành dựa trên cơ sở kết hợp các yếu tố đường nét, hình ảnh, màu sắc trên không gian ba chiều Những dấu hiệu này có thể là hình dáng thực sự của sản phẩm hoặc hình dáng của bao bì đóng gói Khi hình dáng của sản phẩm được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu hình khối, pháp luật đòi hỏi những yêu cầu khắt khe hơn về khả năng phân biệt so với các loại nhãn hiệu khác Nếu dấu hiệu chỉ là hình dạng thông thường của sản phẩm và không có khả năng phân biệt với sản phẩm cùng loại, thì sẽ không được chấp nhận bảo hộ làm nhãn hiệu, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được người tiêu dùng biết đến một cách rộng rãi và nhờ
đó dấu hiệu đã đạt được khả năng phân biệt đối với hàng hóa, dịch vụ liên quan
Một loại dấu hiệu hình hiện đại mới được áp dụng đăng ký tại một số rất ít quốc gia trên thế giới là dấu hiệu hình biến đổi theo góc nhìn (hologram) Tuy nhiên, do đặc tính của loại dấu hiệu này là hình ảnh sẽ thay đổi phụ thuộc vào các góc nhìn khác nhau nên cần có phương thức lưu trữ đặc
Trang 2016
biệt, việc thể hiện trên loại giấy thông thường sẽ không hiển thị được sự thay đổi của hình ảnh
- Dấu hiệu màu sắc: là dấu hiệu bao gồm những màu sắc đơn lẻ hoặc
sự kết hợp giữa chúng, màu sắc lúc này là các thành tố chính và độc lập cấu thành nên dấu hiệu, chứ không phải là một phương thức thể hiện các yếu tố của dấu hiệu Ngày càng nhiều doanh nghiệp sử dụng những thành tố màu sắc độc lập hay kết hợp các màu sắc đó như là các dấu hiệu đặc trưng cho các sản phẩm và bao bì sản phẩm của mình, các tài liệu ấn phẩm quảng cáo hay các vật dụng trong cửa hàng bán và trưng bày sản phẩm (ví dụ: đồ nội thất và trang trí, bảng hiệu,…) Trong các giao dịch thương mại hiện đại ngày nay, màu sắc đang dần trở thành một phương tiện quan trọng để người tiêu dùng nhận diện và phân biệt sản phẩm, dịch vụ của các nhà sản xuất khác nhau Điều này có thể giải thích cho việc ngày càng gia tăng số lượng các đơn đăng
ký nhãn hiệu cho các dấu hiệu màu sắc hiện nay trên thế giới Tuy nhiên, dưới góc độ khả năng bảo hộ, pháp luật nhiều nước không công nhận bảo hộ làm nhãn hiệu cho các dấu hiệu chỉ là các màu sắc đơn thuần hoặc là sự kết hợp giữa các mảng màu sắc với nhau, mà không kết hợp với các yếu tố hình hoặc chữ khác, trừ khi các dấu hiệu này đã đạt được khả năng phân biệt đối với sản phẩm, dịch vụ liên quan thông qua quá trình sử dụng và được người tiêu dùng biết đến rộng rãi Việc hạn chế bảo hộ đối với các dấu hiệu này là do người tiêu dùng trung bình chỉ có khả năng ghi nhớ một giới hạn số lượng màu sắc nhất định và việc bảo hộ độc quyền đối với những dấu hiệu màu sắc sẽ dẫn đến tình trạng “cạn kiệt” hệ thống màu sắc sẵn có, ảnh hưởng đến lợi ích chung của các chủ thể khác
- Dấu hiệu âm thanh: Trong số những dấu hiệu đặc biệt dùng để phân
biệt hàng hoá và dịch vụ, dấu hiệu là âm thanh chiếm giữ một vị trí chủ yếu11 Dấu hiệu âm thanh chỉ ra và phân biệt một sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua
11
Nguyễn Thị Quế Anh (2010), “Phân loại nhãn hiệu theo hình thức của nhãn hiệu”, Tạp chí Khoa
học ĐHQGHN, Luật học 26, tr.99-107
Trang 2117
âm thanh thay vì thông qua hình ảnh Các âm thanh có thể được sử dụng làm nhãn hiệu có thể chuyển biên, hiển thị dưới dạng nốt nhạc hoặc không thể ghi lại bằng nốt nhạc Đa phần các điều ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ hiện nay, như Hiệp định TRIPS hay Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đều có quy định về việc dấu hiệu âm thanh, là một trong các loại dấu hiệu có khả năng được bảo hộ làm nhãn hiệu Các quốc gia có trình
độ phát triển cao về công nghệ hiện nay như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Nhật Bản, v.v đã đưa ra các quy định về đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu đối với các dấu hiệu âm thanh Ví dụ: bốn nốt nhạc lên xuống trầm bổng của hãng dược phẩm HISAMITSU Nhật Bản, tiếng gầm của sư tử mở đầu phim của hãng MGM (Metro - Goldwin - Mayer) Hoa Kỳ, tiếng chuông điện thoại mặc định của hãng điện thoại NOKIA Phần Lan
- Dấu hiệu mùi vị: là những dấu hiệu khiến người tiêu dùng trở nên
quen thuộc với việc nhận biết hàng hoá qua mùi, vị của nó Ví dụ: mùi hương kẹo cao su cho sản phẩm dầu cắt kim loại thuộc nhóm 04 theo GCNĐKNH số
2560618 do Cơ quan đăng ký Hoa Kỳ cấp hoặc vị cam thảo đối với các sản phẩm văn phòng phẩm thuộc nhóm 16 theo GCNĐKNH số 625971 do Cơ quan đăng ký Benelux cấp.12
- Dấu hiệu cảm nhận bằng xúc giác: những dấu hiệu chỉ có thể cảm
nhận được thông qua tiếp xúc trực tiếp với bề mặt của sản phẩm để nhận biết hàng hóa Ví dụ: đường vân trên vỏ chai Coca-cola thiết kế năm 1915 giúp người tiêu dùng có thể nhận biết sản phẩm trong bóng đêm
- Dấu hiệu kết hợp: là dấu hiệu được tạo bởi sự kết hợp của hai hay
nhiều loại dấu hiệu khác nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất, liên kết với nhau về kết cấu và/hoặc nội dung Về mặt lý thuyết, bất kì yếu tố nào có thể cảm nhận được các giác quan con người đều có thể kết hợp với nhau để sử dụng làm nhãn hiệu Tuy nhiên, để được chấp nhận bảo hộ làm nhãn hiệu,
12
WIPO (2006), New Types of Marks, Standing Committee On The Law Of Trademarks, Industrial
Designs And Geographical Indications, Document prepared by the Secretariat
Trang 2218
pháp luật nhãn hiệu hầu hết các quốc gia trên thế giới chỉ chấp nhận bảo hộ những dấu hiệu kết hợp tạo bởi các yếu tố nhìn thấy được, kết hợp cả dấu hiệu chữ và dấu hiệu hình thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Ngay cả đối với những quốc gia chấp nhận bảo hộ những dấu hiệu không nhìn thấy được, thì mỗi loại dấu hiệu cũng sẽ phải tiến hành đăng ký với tư cách là những đối tượng đăng ký độc lập
1.3 Khái niệm tính tương tự của các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu
Theo từ điển, “tương tự” là “giống như thế, ở mặt, phương diện được nói đến”13 Từ định nghĩa này có thể hiểu, hai sự vật, hiện tượng cụ thể được coi là tương tự khi chúng có những điểm giống nhau ở một hoặc một số khía cạnh nhất định
Việc xác định tính “giống nhau” cần dựa trên xem xét mức độ tương đồng giữa hai sự vật, hiện tượng Các đối tượng càng có nhiều điểm tương đồng thì mức độ “giống nhau” giữa hai đối tượng càng lớn và ngược lại Tuy nhiên cần lưu ý rằng, khi nói đến sự tương đồng giữa hai sự vật, hiện tượng không có nghĩa giữa chúng hoàn toàn giống nhau, bởi theo như một câu nói nổi tiếng về triết học thì “trên thế giới không tồn tại hai chiếc lá hoàn toàn như nhau” Trong khi đó, “những mặt, phương diện được nói đến” chính là những khía cạnh được xem xét khi đánh giá sự tương đồng, thường gắn liền với các thuộc tính, đặc điểm của sự vật hiện tượng, bao gồm: thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng có thể phát hiện bằng các giác quan như hình thái, màu sắc, phương thức vận động, chức năng,…; hoặc các thuộc tính không thể có được nhờ tri giác bằng giác quan, mà phải thông qua tư duy liên tưởng để diễn tả những thuộc tính trừu tượng như phẩm chất, quy luật, v.v của sự vật, hiện tượng
13
Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Đại Từ điển Tiếng
Việt, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.1769
Trang 2319
Đồng thời, các sự vật, hiện tượng có tính chất đa chiều, có nhiều thuộc tính, trong các hệ quy chiếu khác nhau thường biểu hiện ra các thuộc tính khác nhau Hệ quy chiếu có thể hiểu theo nghĩa rộng là góc độ nhìn nhận về
sự vật, hiện tượng Khi sự vật, hiện tượng cùng được đặt trong một hệ quy chiếu nhất định thì một hay một số thuộc tính nào đó của sự vật sẽ nổi trội hơn, trở thành tâm điểm tri nhận của con người Nếu không đặt trong cùng hệ quy chiếu thì khó có thể xác định được sự tương tự giữa hai sự vật, hiện tượng
cụ thể vốn khác biệt, dẫn đến tình trạng “khập khiễng” khi so sánh
Đối với dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu, kết luận về tính tương tự giữa các dấu hiệu có thể khác nhau trong từng trường hợp cụ thể Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, việc xác định tính tương tự giữa các dấu hiệu cần dựa trên những yếu tố sau để so sánh:
Thứ nhất, phải xác định được các yếu tố có cùng một hệ quy chiếu, chẳng hạn cùng nhìn thấy được, cùng ở dạng hai chiều hoặc cùng ở dạng ba chiều,… hoặc thuộc những hệ quy chiếu khác nhau nhưng có mối liên quan
và có sự liên kết với nhau, chẳng hạn nếu đánh giá trên phương diện hình học không gian thì các yếu tố ở dạng hai chiều và yếu tố ở dạng ba chiều thuộc hai
hệ quy chiếu khác nhau nhưng các hệ quy chiếu này có mối liên hệ dựa trên
sự liên kết giữa hình học phẳng và hình học không gian ba chiều
Thứ hai, phải xác định được yếu tố định tính, yếu tố định lượng trong dấu hiệu Yếu tố định tính trong dấu hiệu là những yếu tố chỉ xem xét về mặt tính chất hoặc biến đối tính chất mà không xét về mặt số lượng, như: các yếu
tố có tính phân biệt, yếu tố không có tính phân biệt, yếu tố có tính chủ đạo, yếu tố không có tính chủ đạo, v.v Trong khi đó, yếu tố định lượng trong dấu hiệu là những yếu tố có thể xác định được về mặt số lượng như số lượng chữ cái, số lượng hình ảnh, số lượng âm tiết, v.v
Mỗi dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu khác nhau đều cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau và mỗi yếu tố đều có sự độc lập nhất định về tương quan vị trí, ý nghĩa hoặc phong cách thể hiện so với các yếu tố khác
Trang 2420
Tính tương tự giữa các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu chỉ được xác định thông qua trực tiếp so sánh, đánh giá những điểm giống và khác nhau giữa các dấu hiệu dựa trên các yếu tố định tính và yếu tố định lượng của các dấu hiệu để tìm những điểm tương đồng giữa các yếu tố đó Nếu kết hợp của những điểm tương đồng giữa các yếu tố định tính và định lượng trong dấu hiệu, đủ dẫn đến việc người tiêu dùng không dễ dàng phân biệt các dấu hiệu với nhau thì các dấu hiệu được coi là tương tự
Ngoài ra, khái niệm tương tự của dấu hiệu được giải thích trong mối quan hệ với khả năng gây nhầm lẫn14.Tính tương tự của các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu là một trong những điều kiện dẫn đến khả năng nhầm lẫn của người tiêu dùng vì lúc này chức năng phân biệt nguồn gốc thương mại sản phẩm, dịch vụ của dấu hiệu mất đi, dẫn đến việc người tiêu dùng có thể không mua được sản phẩm mà họ mong muốn Nói cách khác, các dấu hiệu tương tự với nhau không thể cùng được sử dụng làm nhãn hiệu cho các sản phẩm, dịch
vụ trùng hoặc tương tự nhau vì sự tương tự này khiến người tiêu dùng lầm tưởng rằng chúng được sản xuất/cung cấp bởi một chủ thể hoặc nhiều chủ thể
có mối liên hệ về kinh tế với nhau (công ty mẹ-con, cùng tập đoàn, được cấp li-xăng, nhượng quyền thương mại hoặc là chi nhánh…)
Như vậy, một cách khái quát, tính tương tự của các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu được hiểu là sự tương đồng giữa những yếu tố định tính
và yếu tố định lượng của dấu hiệu với với nhãn hiệu đối chứng, được đặt trong cùng hệ quy chiếu hoặc các hệ quy chiếu có liên quan, và sự tương đồng này khiến người tiêu dùng không dễ dàng phân biệt được nguồn gốc thương mại của các sản phẩm, dịch vụ
14
Đặng Thị Thu Huyền (2004), Pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa theo quy định của Việt Nam và
Cộng hòa Pháp, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.20
Trang 25cơ quan đăng ký trong hoạt động thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu không phải là hoạt động đánh giá một cách cơ học theo công thức hoặc mang tính chủ quan mà là sự đánh giá mang tính khoa học, hợp lý dựa trên bản chất của dấu hiệu, các quy định của pháp luật và các yếu tố thực tế
Thứ nhất, việc đánh giá tính tương tự của dấu hiệu phải phù hợp với bản chất của dấu hiệu Mỗi loại thông tin trong dấu hiệu sẽ có những đặc điểm, đặc trưng riêng và có tác động khác nhau đến cảm nhận thị giác, thính giác hay nhận thức của người tiêu dùng Như tác giả đã trình bày, các thông tin trong dấu hiệu được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể nhìn thấy được hoặc không nhìn thấy được, thậm chí đối với những thông tin ở dạng hữu hình thì cũng có nhiều loại như: có thể phát âm được hoặc không thể phát âm được, có nghĩa hoặc không có nghĩa, thể hiện trên mặt phẳng hoặc trong không gian ba chiều, Vì vậy, việc đánh giá tính tương tự giữa các dấu hiệu phải được tiến hành phù hợp với những đặc điểm của các thông tin thể hiện trong dấu hiệu đó Ví dụ: đối với những dấu hiệu chỉ thể hiện thông tin là các hình ảnh, hình học mà không có thông tin ở dạng từ ngữ thì khi đánh giá tính tương tự giữa các dấu hiệu thì khía cạnh về cách thức phát
Trang 26do con người trực tiếp so sánh, đối chiếu để đưa ra kết luận Do đó, nếu không
có những quy định pháp luật liên quan đến các tiêu chí, cách thức đánh giá tính tương tự, v.v nhằm định hướng và làm cơ sở thống nhất cho hoạt động đánh giá, thì các kết quả đánh giá sẽ chỉ là ý kiến chủ quan dựa trên sự “cảm tính” của người đánh giá, dẫn đến sự tùy tiện, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan Trường hợp các chủ thể khác không đồng ý với kết luận đánh giá tính tương tự của chủ thể nào đó, thì cũng phải dựa vào các quy định của pháp luật về đánh giá tính tương tự, để đảm bảo tính đúng đắn và có căn cứ trong lập luận phản bác của mình
Thứ ba, đánh giá tính tương tự phải dựa trên những yếu tố gắn liền với khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng trên thực tế Chức năng cơ bản của nhãn hiệu là chỉ dẫn nguồn gốc thương mại của các sản phẩm, dịch vụ, vì vậy đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu không phải là việc đặt hai dấu hiệu cạnh nhau và xem chúng có phân biệt được với nhau hay không, mà quan trọng là xác định hai dấu hiệu đó có khiến người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm, dịch vụ hay không Do đó, luôn luôn đánh giá những yếu tố thực tế gắn liền với khả năng gây nhầm lẫn của người tiêu dùng, như trình độ nhận thức của bộ phận người tiêu dùng liên quan, sự quan tâm của người tiêu dùng đối với sản phẩm, dịch vụ, sự nổi tiếng/biết đến rộng rãi của dấu hiệu v.v để đưa ra kết luận về tính tương tự giữa các dấu hiệu
Trang 2723
Các thông tin thể hiện trên dấu hiệu, các quy định của pháp luật và các yếu tố gắn liền với khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng trên thực tế là những yếu tố có mối quan hệ tương hỗ và không thể tách rời đối với hoạt động đánh giá tính tương tự của dấu hiệu Phụ thuộc vào những đặc điểm riêng của các thông tin trên dấu hiệu, mà các quy định của pháp luật liên quan đến tiêu chí, cách thức đánh giá tính tương tự sẽ khác nhau, đồng thời khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng trên thực tế giữa những loại dấu hiệu khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định Việc đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu chỉ có thể đạt hiệu quả cao nếu hoạt động đánh giá luôn luôn gắn liền với các yếu tố này
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát, đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu là việc áp dụng các quy định của pháp luật để tiến hành so sánh các yếu tố định tính và yếu tố định lượng cấu thành nên dấu hiệu dựa trên các khía cạnh thị giác, thính giác, nhận thức của người tiêu dùng, từ đó làm cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra sự nhầm lẫn/phân biệt cho người tiêu dùng khi các dấu hiệu được so sánh cùng sử dụng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự nhau
Phần lớn các quốc gia chỉ cho phép đăng ký làm nhãn hiệu đối với các dấu hiệu có thể nhìn thấy được, vì chỉ các loại dấu hiệu này mới có thể dễ dàng lưu giữ ghi nhận vào hệ thống cơ sở dữ liệu đăng ký cũng như công bố
ra công chúng Trong phạm vi Luận văn này, tác giả sẽ chỉ đề cập đến đánh giá tính tương tự của các dấu hiệu truyền thống có thể nhìn thấy được Ngoài
ra, như đã nêu trong phần phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ không đề cập nội dung về đánh giá mức độ tương tự giữa hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu
1.5 Nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu
Các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu khác nhau sẽ có những điểm khác nhau nhất định về cách thức thể hiện, cách thức phát âm hoặc nội dung ngữ nghĩa của các yếu tố cấu thành nên dấu hiệu, vì vậy, không có một cách
Trang 2824
thức hoặc tiêu chí đánh giá tuyệt đối, có thể áp dụng chung cho tất cả trường hợp đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu Tuy nhiên, khi xem xét và đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu vẫn cần phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản, nhằm đảm bảo cho việc đánh giá mang tính khách quan và phản ánh đúng bản chất của các dấu hiệu được xem xét
1.5.1 Đánh giá tính tương tự phải xem xét trong mối liên hệ với tổng thể dấu hiệu
Đánh giá tính tương tự của các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu phải được đánh giá một cách toàn diện, xem xét tất cả các yếu tố liên quan trong từng trường hợp cụ thể, về hình thức thể hiện, cách phát âm, nội dung ngữ nghĩa dựa trên ấn tượng tổng thể của dấu hiệu trong trí nhớ của người tiêu dùng, đặc biệt là những thành phần có tính phân biệt và thành phần chủ đạo của dấu hiệu Dấu hiệu càng gồm nhiều yếu tố thì tính tổng thể càng phải được đề cao khi đánh giá tính tương tự Việc đánh giá tính tương tự cần thực hiện dựa trên ấn tượng tổng thể của các dấu hiệu đó, trong đó một số yếu tố trong dấu hiệu có thể được xem xét tập trung hơn các yếu tố còn lại
Nguyên tắc này xuất phát từ thực tế rằng người tiêu dùng thông thường
sẽ nhìn nhận dấu hiệu một cách tổng thể mà không đi sâu phân tích các chi tiết hay ghi nhớ toàn bộ các chi tiết, yếu tố cấu thành của dấu hiệu đó mà thường chỉ tập trung vào các thành phần độc đáo, đặc biệt hay nổi bật về mặt thị giác do những thành phần này dễ dàng được chú ý hơn các thành phần còn lại Đồng thời, khi lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng sẽ hiếm có cơ hội đặt các dấu hiệu cạnh nhau để so sánh một cách trực tiếp mà thông thường khi nhìn thấy một dấu hiệu nào đó, người tiêu dùng sẽ thường gợi nhớ, hồi tưởng lại những dấu hiệu mà họ đã từng biết đến trước đó đối với những loại hàng hóa, dịch vụ liên quan Tuy nhiên, trong tâm trí của người tiêu dùng luôn tồn tại những hình ảnh không hoàn chỉnh, đầy đủ và chính xác của dấu hiệu mà thường chỉ nhớ đến những thành phần có tính phân biệt và thành
Trang 2925
phần chủ đạo Vì vậy, việc đánh giá ấn tượng tổng thể đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xem xét tính tương tự giữa các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu
Thành phần có tính phân biệt (distinctive elements) và thành phần chủ đạo (dominant elements) là các thành phần có khả năng thu hút sự chú ý và lưu lại ấn tượng trong trí nhớ người tiêu dùng dễ dàng hơn so với các thành phần còn lại trong dấu hiệu, vì vậy các thành phần này có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng lớn đến khả năng tương tự hay phân biệt về ấn tượng tổng thể giữa các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu
Căn cứ mức độ phân biệt, có thể chia các thành phần của dấu hiệu thành các loại như sau:
- Thành phần có tính phân biệt: là những thành phần có tính độc đáo, tạo ấn tượng riêng về dấu hiệu để phân biệt với các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu của các chủ thể khác, thành phần này có thể là “tự tạo”, có nghĩa hoặc không có nghĩa
- Thành phần không có tính phân biệt hoặc tính phân biệt thấp: thường
là các thành phần mang tính mô tả, tên gọi thông thường của sản phẩm, dịch
vụ hoặc các thành phần đã được sử dụng phổ biến bởi nhiều chủ thể đối với các sản phẩm, dịch vụ liên quan
Trong khi đó, thành phần chủ đạo của dấu hiệu là những yếu tố gây chú
ý và gây ấn tượng về dấu hiệu, có tác động mạnh đến khả năng cảm nhận của người tiêu dùng, đặc biệt là cảm nhận thị giác, thường được quyết định thông qua vị trí, kích thước, màu sắc… so với các thành phần còn lại trong dấu hiệu Thành phần chủ đạo của dấu hiệu có thể là thành phần có tính phân biệt hoặc cũng có thể là thành phần không có tính phân biệt hay tính phân biệt thấp Trường hợp sự tương tự xảy ra ở các thành phần vừa đóng vai trò chủ đạo vừa
có tính phân biệt của dấu hiệu thì hai dấu hiệu tương tự với nhau
Trường hợp có thể xác định thành phần có tính phân biệt và thành phần chủ đạo trong dấu hiệu thì việc đánh giá tính tương tự sẽ trở nên dễ dàng hơn
Trang 3026
vì thông thường, sự tương tự giữa các thành phần có tính phân biệt và/hoặc thành phần chủ đạo trong dấu hiệu sẽ dẫn đến khả năng tương tự về tổng thể Tuy nhiên, trong trường hợp không thể xác định thành phần nào có tính phân biệt hoặc thành phần nào là chủ đạo trong dấu hiệu, ví dụ khi dấu hiệu là một thể đơn nhất, chỉ bao gồm một thành phần (một từ đơn, hình đơn, v.v ) hoặc dấu hiệu là sự kết hợp của những thành phần không có tính phân biệt hoặc có tính phân biệt thấp, khi đó sự tương tự phải đánh giá một cách toàn diện dựa trên toàn bộ các yếu tố cấu thành nên dấu hiệu
1.5.2 Đánh giá tính tương tự phải xem xét dưới góc độ nhận thức của người tiêu dùng trung bình
Một trong những nguyên tắc cơ bản cần lưu ý khi đánh giá tính tương
tự là phải xem xét dưới góc độ nhận thức của người tiêu dùng trung bình có liên quan đến sản phẩm, dịch vụ Đây là một nguyên tắc quan trọng và được chấp nhận ở tất cả cơ quan đăng ký nhãn hiệu và Tòa án của các nước
Thuật ngữ “người tiêu dùng” trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng, không chỉ giới hạn trong phạm vi những người thực sự sử dụng, tiêu dùng sản phẩm một cách vật lý, mà người tiêu dùng có thể được hiểu là nhóm công chúng có liên quan, hay nói cách khác là những nhóm công chúng nhất định mà hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm hướng tới15 Theo bản Khuyến nghị chung về quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng của WIPO, nhóm công chúng liên quan có thể bao gồm:
(i) người tiêu dùng thực tế và/hoặc tiềm năng của loại hàng hóa và/hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu;
(ii) người tham gia vào các kênh phân phối loại hàng hóa và/hoặc dịch
vụ mang nhãn hiệu;
15
Hà Thị Nguyệt Thu (2013), “Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (14), tr.47-51
Trang 3127
(iii) giới kinh doanh liên quan tới loại hàng hóa và/hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu (nhà nhập khẩu, bán buôn, bên nhận li-xăng, bên nhận nhượng quyền thương mại)
Như vậy, đối tượng “người tiêu dùng” trong đánh giá tính tượng tự của dấu hiệu bao gồm:
- Người tiêu dùng cuối cùng: là bộ phận công chúng liên quan với tư cách là người trao đổi giá trị (tiền) để lấy giá trị sử dụng của sản phẩm, dịch
vụ những người sử dụng sản phẩm/dịch vụ Nhóm người tiêu dùng này có thể
là những người đã và đang mua sản phẩm, dịch vụ hoặc sẽ mua sản phẩm, dịch vụ trong tương lai
Đối với sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng mang tính đại chúng (mass consumption), người tiêu dùng là đại bộ phận công chúng nói chung
Đối với những sản phẩm, dịch vụ mang tính đặc thù mà nhà sản xuất chỉ sản xuất và cung ứng chủ yếu cho bộ phận công chúng nhất định tùy theo nhu cầu, sở thích, thu nhập, đặc điểm công việc, v.v , khi đó người tiêu dùng
là bộ phận công chúng liên quan có khả năng/nhu cầu mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ và có những kiến thức nhất định về sản phẩm, dịch vụ đó Ví dụ: đối với các sản phẩm là chi tiết, linh kiện máy bay thì người tiêu dùng sẽ
là những công ty chuyên sản xuất, lắp ráp hoặc sửa chữa máy bay
- Người tiêu dùng trung gian: là bộ phận công chúng nằm trong chuỗi sản xuất hoặc phân phối, đứng giữa nhà sản xuất đầu tiên đến người tiêu dùng cuối cùng, như các chủ thể mua vật liệu thô hoặc các sản phẩm linh kiện để sản xuất các sản phẩm khác hoặc các nhà bán buôn hoặc bán lẻ Mức độ quan tâm đến sản phẩm, dịch vụ của người tiêu dùng trung gian thường cao hơn so với người tiêu dùng cuối cùng, do những đối tượng này thường phải xem xét các yếu tố về giá cả và tính hiệu quả một cách kĩ lưỡng khi lựa chọn sản phẩm/dịch vụ
Khả năng nhận thức của người tiêu dùng trung bình, là một yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính tương tự của dấu hiệu được sử dụng
Trang 3228
làm nhãn hiệu Người tiêu dùng trung bình có thể hiểu là những người tiêu dùng có thông tin hợp lý, có khả năng quan sát và sự thận trọng tương đối khi tiến hành lựa chọn sản phẩm, dịch vụ, tuy nhiên họ thường không có cơ hội
để so sánh hai dấu hiệu một cách trực tiếp cạnh nhau mà chỉ đánh giá dựa trên
sự hồi tưởng không hoàn chỉnh và đầy đủ về dấu hiệu được lưu giữ trong tâm trí họ16 Như vậy, nhận thức của người tiêu dùng trung bình về một nhãn hiệu
là ấn tượng tổng thể về nhãn hiệu đó mà không phải là một bản sao chụp chính xác từng chi tiết của nhãn hiệu17 Do đó, các chủ thể thực hiện hoạt động đánh giá tính tương tự giữa các dấu hiệu không nên xem xét dấu hiệu một cách quá tỉ mỉ và quá chi tiết
Ngoài ra, xuất phát từ bản chất của việc đánh giá tính tương tự giữa các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu là để xác định có hay không những tiềm
ẩn về xung đột với quyền đã được xác lập đối với nhãn hiệu của chủ thể khác
và các quyền được xác lập này mang tính lãnh thổ, do đó, việc đánh giá tính tương tự phải gắn liền với nhận thức của người tiêu dùng trong lãnh thổ tương ứng đó
Tóm lại, nguyên tắc đánh giá tính tương tự dưới góc độ nhận thức của người tiêu dùng trung bình, có vai trò quan trọng đối với việc định hướng cách thức tiếp cận của quá trình đánh giá tính tương tự Việc đánh giá tính tương tự qua con mắt của người tiêu dùng trung bình có liên quan đến sản phẩm, dịch vụ sẽ đảm bảo tính bao quát, hợp lý và phù hợp với thực tế của các kết luận đánh giá về sự tương tự
Lê Hoài Dương (2004), “Đánh giá sự tương tự có khả năng gây nhầm lẫn giữa các nhãn hiệu”,
Tạp chí Toà án nhân dân (02), tr.17
Trang 3329
1.5.3 Đánh giá tính tương tự cần xem xét đến mức độ quan tâm của khách hàng khi lựa chọn sản phẩm, dịch vụ
Mức độ quan tâm của người tiêu dùng đối với các loại sản phẩm, dịch
vụ có tác động không nhỏ đến khả năng nhầm lẫn khi lựa chọn sản phẩm, dịch vụ Vì vậy, các đánh giá liên quan đến tính tương tự của dấu hiệu cần xem xét trong mối tương quan với các sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu Đối với các sản phẩm có giá trị thấp, thời hạn sử dụng ngắn hoặc phục
vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày, ví dụ: bánh kẹo, dầu ăn, v.v thì khách hàng
ít quan tâm chi tiết đến nhãn hiệu, do đó khả năng nhầm lẫn về tổng thể càng lớn Ngược lại, sản phẩm có giá trị cao, thể hiện đẳng cấp và địa vị của người tiêu dùng, có mức độ mua hàng không thường xuyên hoặc có nhiều khách hàng trung thành, ví dụ: ô tô, trang sức, thuốc lá, v.v thì khách hàng càng quan tâm nhiều đến nhãn hiệu, thường sẽ tìm kiếm sự tư vấn hoặc trợ giúp từ các chuyên gia/những người am hiểu khi lựa chọn/mua sản phẩm, do đó khả năng nhầm lẫn về tổng thể giữa các dấu hiệu càng thấp
Đặc biệt, đối với các sản phẩm, dịch vụ càng quan trọng với sức khỏe, tính mạng con người, ví dụ: thuốc chữa bệnh thì khách hàng càng thận trọng hơn khi lựa chọn sản phẩm, dịch vụ, vì vậy tiêu chuẩn đánh giá tính tương tự giữa các dấu hiệu sẽ khắt khe hơn Đối với những loại thuốc được bán theo đơn, người lựa chọn thuốc sẽ là những dược sĩ và khi đó, khả năng nhầm lẫn giữa các nhãn hiệu tương tự ít có khả năng xảy ra, vì vậy việc đánh giá tính tương tự giữa các dấu hiệu sẽ ít khắt khe hơn Tuy nhiên, đối với các loại thuốc được bán trên quầy, không cần sự kê đơn của dược sĩ thì việc đánh giá tính tương tự càng đặc biệt khắt khe vì lúc này người lựa chọn sản phẩm sẽ chính là những người tiêu dùng ít có trình độ chuyên môn trong lĩnh vực dược phẩm, khi đó việc nhầm lẫn giữa các dấu hiệu tương tự sẽ dẫn đến việc mua sai sản phẩm và gây hiệu quả nghiêm trọng đến tính mạng và sức khỏe
Trang 34và thành phần chủ đạo trong dấu hiệu Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp đều phải so sánh đầy đủ cả ba khía cạnh nêu trên bởi có những loại dấu hiệu sẽ không chứa đựng đủ cả ba khía cạnh này
1.6.1 Xác định thành phần có tính phân biệt và thành phần chủ đạo trong dấu hiệu
Như đã đề cập ở mục 1.5.1, đánh giá sự tương tự của các yếu tố có tính phân biệt và các yếu tố chủ đạo của dấu hiệu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động đánh giá tính tương tự giữa các dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu Do đó, trước khi đánh giá sự tương tự đối với mỗi dấu hiệu, cần tiến hành xác định những thành phần nào có tính phân biệt và chủ đạo trong dấu hiệu Trong trường hợp có thể xác định được các thành phần này trong dấu hiệu, người đánh giá cần ưu tiên so sánh về các khía cạnh thị giác, thính giác và nội dung ý nghĩa của các thành phần có tính phân biệt và chủ đạo đó Đối với trường hợp không thể xác định được các thành phần này trong dấu hiệu, thì sẽ đánh giá một cách toàn diện toàn bộ tất cả các yếu tố cấu thành
nên dấu hiệu để đưa ra kết luận về mặt tổng thể
1.6.2 Đánh giá sự tương tự của các yếu tố cấu thành
1.6.2.1 Đánh giá về khía cạnh thị giác
Do phạm vi đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các dấu hiệu có thể nhìn thấy được, theo đó, người tiêu dùng sẽ có cảm nhận thị giác về các dấu hiệu này thông qua các ký tự, yếu tố đồ họa, các hình ảnh, màu sắc, kích thước, hình dạng, vị trí của các yếu tố cấu thành nên nhãn hiệu, đặc biệt là của các yếu tố có tính phân biệt và yếu tố chủ đạo của dấu hiệu
Trang 35Đồng thời, do sự tương tự phải đánh giá dưới góc độ nhận thức của người tiêu dùng trung bình, nghĩa là những người có khả năng quan sát ở mức
độ vừa phải, do đó, nếu những đối tượng người tiêu dùng có khả năng quan sát thấp hơn (ví dụ: người mắt kém, hạn chế về thị lực) hoặc những người có khả năng quan sát cao hơn mức bình thường (ví dụ người có trình độ đào tạo liên quan đến lĩnh vực đồ họa, mỹ thuật) không nhận ra/nhận ra sự khác biệt thì điều đó không phải là căn cứ để kết luận về sự tương tự về khía cạnh thị giác của dấu hiệu
Đối với dấu hiệu chữ, việc đánh giá khía cạnh thị giác thường được tiến hành dựa trên số lượng và thứ tự chữ cái/ký tự, vị trí các chữ cái/ký tự trùng nhau, số lượng từ, cấu trúc từ, từ thường dùng/từ tự tạo/từ viết tắt, các thành phần viết rời hay viết liền Các yếu tố liên quan đến kiểu chữ, in nghiêng, in đậm, viết hoa, viết thường hay màu sắc thường không tạo ra sự khác biệt đáng
kể về cảm nhận thị giác giữa các dấu hiệu chữ Nếu hai dấu hiệu chữ chỉ khác nhau ở những yếu tố này thì vẫn có thể bị xem là tương tự về khía cạnh thị giác
Trang 3632
Đồng thời, cần lưu ý rằng do người tiêu dùng trung bình thường ghi nhớ, nhận thức dấu hiệu như một tổng thể mà không đi sâu phân tích từng chi tiết, do đó sự khác biệt không đáng kể giữa số lượng các chữ cái/ký tự sẽ không đủ để loại trừ sự tương tự giữa các dấu hiệu, đặc biệt khi các dấu hiệu chữ này có cấu trúc giống nhau
Đặc điểm cấu trúc của dấu hiệu cũng là một yếu tố tác động đến ấn tượng tổng thể của người tiêu dùng đối với dấu hiệu Những dấu hiệu tạo bởi những yếu tố đơn giản, ngắn gọn sẽ dễ dàng được người tiêu dùng quan tâm
và ghi nhớ tốt hơn so với những dấu hiệu dài, có cấu trúc phức tạp Do đó, khả năng tương tự về ấn tượng tổng thể giữa các loại dấu hiệu này sẽ ít xảy ra hơn Chẳng hạn, đối với dấu hiệu chữ, người tiêu dùng trung bình thường ghi nhớ các dấu hiệu ngắn dễ dàng hơn so với các dấu hiệu dài Vì vậy, một sự khác nhau giữa các từ ngắn cũng có thể tạo ra sự khác biệt về ấn tượng tổng thể giữa hai dấu hiệu, trong khi đó người tiêu dùng không thể dễ dàng nhận biết hoặc ít chú ý đến các điểm khác nhau giữa các dấu hiệu dài
Ngoài ra, khả năng ghi nhớ và nhận thức của người tiêu dùng trung bình chỉ có những giới hạn nhất định, nếu hai dấu hiệu chữ trùng hoặc rất tương tự nhau bởi các thành phần tiền tố, sẽ dễ dẫn đến sự nhầm lẫn của người tiêu dùng nhiều hơn so với việc trùng hoặc tương tự ở thành phần hậu
tố Tuy nhiên, càng sử dụng các tiền tố và hậu tố thường dùng, ví dụ: MEDI, PHARM, … cho sản phẩm dịch vụ liên quan đến y tế, LAC cho sản phẩm sữa bột, PRO, SUPER thì các thành phần này ít có khả năng phân biệt
Đối với các dấu hiệu hình, khi đánh giá tính tương tự về khía cạnh thị giác cần quan tâm nhiều hơn đến yếu tố đường nét của yếu tố hình, cách thiết
kế, thể hiện đồ họa và ý tưởng tạo hình Đặc biệt đối với những hình có thiết
kế độc đáo thì ấn tượng về mặt đồ họa sẽ có vai trò quyết định về tính tương
tự giữa chúng cũng như quyết định khả năng xảy ra nhầm lẫn của người tiêu dùng Trong khi đó, những thêm thắt, trang trí thông thường như các hình đơn
Trang 3733
giản, không gây ấn tượng đối với người tiêu dùng thường ít có ý nghĩa khi đánh giá sự tương tự
1.6.2.2 Đánh giá về khía cạnh thính giác
Người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm, dịch vụ không chỉ thông qua hành
vi nhìn trực tiếp mà còn có thể thông qua hình thức giao tiếp, truyền miệng hoặc nghe qua các phương tiện truyền thông Ví dụ: những người tiêu dùng trước đây đã lựa chọn và sử dụng sản phẩm, dịch vụ nay muốn tư vấn và giới thiệu cho những người khác cùng sử dụng, tuy nhiên, họ chỉ truyền đạt thông tin về dấu hiệu thông qua lời nói Khi đó sự tương tự về cách phát âm giữa các dấu hiệu sẽ có thể khiến người tiếp nhận thông tin bị nhầm lẫn và lựa chọn sai sản phẩm, dịch vụ mà họ mong muốn Do đó, yếu tố phát âm cần được xem xét khi đánh giá tương tự giữa các dấu hiệu Tuy nhiên, việc đánh giá khía cạnh thính giác thường áp dụng với những dấu hiệu có chứa yếu tố
từ, chữ, ngôn ngữ Đối với các dấu hiệu chỉ đơn thuần chứa yếu tố hình thì việc xem xét khía cạnh thính giác không có ý nghĩa khi so sánh
Khi đánh giá khía cạnh này cần so sánh số lượng và thứ tự các âm tiết, nhịp điệu, trọng âm, đặc biệt lưu ý cách phát âm của các ngôn ngữ khác nhau Trong một số trường hợp, người tiêu dùng sẽ biết một thành phần từ ngữ trong dấu hiệu là từ nước ngoài và sẽ đọc theo cách phát âm đúng của từ đó, tuy nhiên, cần phải xem xét mức độ phổ biến của tiếng nước ngoài này đối với công chúng liên quan, bởi vì không phải cứ biết chính xác nguồn gốc ngôn ngữ của từ thì người tiêu dùng sẽ phát âm từ đó một cách chuẩn xác Ví
dụ đối với một từ tiếng Anh, người tiêu dùng Tây Ban Nha hay Hy Lạp sẽ có khả năng phát âm không chính xác như người tiêu dùng đến từ Thụy Điển, do gần 80% người Thụy Điển nói tiếng Anh như là ngoại ngữ chính
Ngoài ra, cần lưu ý rằng, trong trường hợp nếu người tiêu dùng không biết nguồn gốc ngôn ngữ của dấu hiệu từ ngữ hoặc đó là từ tự tạo thì sẽ có xu hướng phát âm theo cách đọc của ngôn ngữ nước mình
Trang 3834
1.6.2.3 Đánh giá về khía cạnh nội dung ý nghĩa
Yếu tố liên quan đến nội dung ý nghĩa trong dấu hiệu không thể hiện một cách hữu hình mà phụ thuộc vào khả năng nhận thức của người tiêu dùng thông qua cảm nhận thị giác và thính giác Hai dấu hiệu có thể hoàn toàn khác nhau về hình thức thể hiện, nhưng vẫn tạo ấn tượng giống nhau trong tâm trí người tiêu dùng, vì chúng cùng đem lại những nội dung ý nghĩa giống nhau Đối với các dấu hiệu chữ, sự tương tự giữa các dấu hiệu có thể được loại trừ khi nghĩa của chúng hoàn toàn phân biệt và rõ ràng khác nhau mặc dù hình thức thể hiện có thể có những thành phần trùng lặp Ngược lại, nếu các dấu hiệu thuộc các ngôn ngữ khác nhau và hoàn toàn khác nhau về hình thức thể hiện hoặc cách phát âm, nhưng cùng có cách dịch nghĩa giống nhau theo nhận thức của người tiêu dùng thì vẫn có thể xảy ra sự tương tự Tuy nhiên, cần lưu ý, do việc đánh giá tính tương tự xuất phát từ góc độ người tiêu dùng trung bình, nên trong trường hợp nghĩa của các dấu hiệu thuộc các ngôn ngữ
cổ, hiếm hoặc không thông dụng đối với đa số bộ phận người tiêu dùng, thì sự khác biệt/giống nhau về khía cạnh ngữ nghĩa không có vai trò nhiều trong việc đánh giá tính tương tự giữa các dấu hiệu
Đối với các dấu hiệu hình, có thể hiểu một cách chung nhất nội dung ý nghĩa của một dấu hiệu hình là những gì mà các yếu tố hình ảnh, đường nét cấu thành dấu hiệu đó mô tả Không phải cứ hai dấu hiệu hình cùng miêu tả
về một đối tượng sẽ bị coi là tương tự về nội dung ý nghĩa, ví dụ: cả hai dấu hiệu hình cùng miêu tả về một đầu con hổ, tuy nhiên cách thể hiện, trình bày khác nhau của con hổ sẽ loại trừ khả năng tương tự giữa hai dấu hiệu (một dấu hiệu là đầu hổ quay trực diện và một dấu hiệu là đầu hổ quay sang phải đang há miệng gào)
Đối với một dấu hiệu chữ và một dấu hiệu hình, nếu hai dấu hiệu hình cùng truyền tải đến người tiêu dùng một khái niệm ngữ nghĩa (literal concept) giống nhau thì sẽ được xem là tương tự với nhau Ví dụ: dấu hiệu là từ tiếng Anh “dog” tương tự với dấu hiệu hình con chó, hoặc dấu hiệu là từ tiếng Anh
Trang 3935
“star” tương tự với dấu hiệu hình ngôi sao Tuy nhiên, nếu trong trường hợp dấu hiệu cùng truyền tải nội dung khái niệm giống dấu hiệu chữ nhưng dưới hình thức ẩn dụ, không dẫn đến một khái niệm trực tiếp thì khả năng tương tự
sẽ không xảy ra, ví dụ dấu hiệu chữ “dog” và sẽ không bị đánh giá tương tự với dấu hiệu là hình ảnh một sợi dây xích buộc chó
1.6.3 Đánh giá sự tương tự về mặt tổng thể của dấu hiệu
Do thành phần có tính phân biệt và thành phần chủ đạo của dấu hiệu đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với cảm nhận của người tiêu dùng về mặt tổng thể, vì vậy, nếu các thành phần có tính phân biệt và thành phần chủ đạo của các dấu hiệu trùng/tương tự nhau thì có khả năng dẫn đến sự tương tự về mặt tổng thể giữa hai dấu hiệu Ngược lại, trong trường hợp các thành phần chung/tương tự của hai dấu hiệu không đóng vai trò là những thành phần có tính phân biệt hoặc thành phần chủ đạo của hai dấu hiệu đó thì hai dấu hiệu có khả năng phân biệt với nhau
Có thể khái quát hóa các trường hợp có thể xảy ra sự tương tự giữa hai dấu hiệu về mặt tổng thể dựa trên sự tương tự giữa các thành phần có tính phân biệt và thành phần chủ đạo theo bảng sau:
Dấu hiệu 2 Thành phần có tính phân biệt
Thành phần chủ đạo
Hai dấu hiệu có khả năng tương tự
về mặt tổng thể
Trang 40Đối với trường hợp thành phần chữ và/hoặc thành phần hình đóng vai trò là thành phần có tính phân biệt hoặc thành phần chủ đạo của hai dấu hiệu kết hợp thì sự tương tự giữa các thành phần chữ và thành phần hình có thể bù trừ cho nhau khi đánh giá tính tương tự về mặt tổng thể của dấu hiệu Trường hợp thành phần chữ ít nhiều có sự tương tự có thể được bù trừ bởi thành phần hình có khả năng phân biệt cao và ngược lại Có thể khái quát khả năng tương
tự giữa hai dấu hiệu kết hợp về mặt tổng thể dựa trên sự tương tự giữa thành phần chữ và thành phần hình (là thành phần có tính phân biệt) theo bảng sau:
Khả năng tương tự/phân biệt
phân biệt
phụ thuộc vào sự bù trừ giữa mức độ tương tự của các thành phần chữ và thành phần hình Ngoài ra, luôn luôn phải lưu ý rằng khi đánh giá tính tương tự về mặt tổng thể của dấu hiệu, phải bao gồm cả xem xét các yếu tố loại trừ bảo hộ, vì các thành phần này có thể tự mình không gây ra sự tương tự nhưng có vai trò làm tăng/giảm sự tương tự về mặt tổng thể khi đi kèm với các thành phần tương tự khác trong dấu hiệu