1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ quyền của trẻ em nhiễm HIV theo pháp luật việt nam

82 228 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế việc tăng cường giáo dục, tuyên truyền phổ biến nâng cao nhận thức của cộng đồng về HIV cũng như nhận thức về QTE nhiễm HIV trở thành một hoạt động quan trọng, không thể thi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯU THỊ BÍCH NGỌC

BẢO VỆ QUYỀN CỦA TRẺ EM NHIỄM HIV

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN PHƯƠNG LAN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa sau đại học trường Đại học Luật Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Sau đại học xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

LƯU THỊ BÍCH NGỌC

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã nhìn nhận được tầm quan trọng của quyền con người Đó là những giá trị chung, phổ quát, cao đẹp và thiêng liêng nhất mà phải trải qua một thời gian đấu tranh rất dài, gian khổ và quá nhiều mất mát con người mới xây dựng được Nhân quyền mang giá trị phổ quát toàn nhân loại, bất kỳ ai trên thế giới này không phân biệt màu da, sắc tộc, giới tính, địa vị… đều được thụ hưởng một cách ngang nhau

Tuy nhiên nhân quyền vẫn còn những vấn đề chung nhức nhối, nổi lên là sự tồn tại của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương Đây là những nhóm xã hội do điều kiện khách quan, do truyền thống lịch sử, hay do tác động của các nhóm xã hội khác… mà bị hạn chế trong việc hưởng thụ quyền Một trong số đó là trẻ em nhiễm HIV Đây là nhóm xã hội dễ bị tổn thương về cả mặt vật chất lẫn tinh thần Trên thực tế những trẻ bị nhiễm với HIV có thể trạng yếu hơn người bình thường vì thế ảnh hưởng rất nhiều tới quá trình lao động sản xuất, học tập Với đặc điểm dịch tễ cùng với sự kỳ thị, phân biệt, xa lánh từ phía cộng đồng khiến các em gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động sống của mình: các em khó được tiếp cận với các quyền con người cơ bản như những người bình thường khác Các quyền con người cơ bản thiết yếu cho sự sinh tồn và phát triển của trẻ em nhiễm với HIV bao gồm quyền bình đẳng và không bị phân biệt đối xử Chính vì thế trẻ em nhiễm HIV thường có

xu hướng che dấu tình trạng của mình Điều này không những ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân người mang bệnh mà còn tạo tiền đề cho việc bệnh lan sang cộng đồng Chính những biện pháp y tế công cộng truyền thống cùng với sự kỳ thị phân biệt, xa lánh xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về HIV của cộng đồng đã trở thành một nhân tố khiến đại dịch HIV toàn cầu bùng phát

Đại dịch HIV có tác động tiêu cực trên trên nhiều cấp độ Nó ảnh hưởng trực tiếp t hóa nó còn để lại những hậu quả, gánh nặng cho xã hội như nghèo đói, trẻ em

mồ côi Dưới góc độ quyền con người, trẻ em nhiễm HIV đang có xu hướng bị hạn chế hoặc bị tước đoạt một số quyền con người cơ bản như: quyền sống, quyền được

Trang 9

đối xử bình đẳng, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền an sinh xã hội, quyền được học tập, quyền được hưởng sự tiến bộ về khoa học, quyền được tham gia các hoạt động chung của cộng đồng xã hội… Các em bị mất đi những quyền này do kỳ thị và phân biệt đối xử của xã hội, do quan niệm đạo đức sơ cứng và những bất cập của xã hội Chính vì thế việc tăng cường giáo dục, tuyên truyền phổ biến nâng cao nhận thức của cộng đồng về HIV cũng như nhận thức về QTE nhiễm HIV trở thành một hoạt động quan trọng, không thể thiếu nhằm xóa bỏ sự phân biệt kỳ thị của cộng đồng với trẻ em nhiễm HIV, giúp các trẻ em này có thể hòa nhập cộng đồng, khôi phục lại những quyền đã bị vi phạm, đồng thời hướng tới thực hiện một trong những mục tiêu thiên nhiên kỷ đó là kêu gọi phòng, chống HIV và từng bước đẩy lùi sự lây lan của đại dịch

Với những lý do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Bảo vệ quyền của trẻ em

nhiễm HIV theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn Việc nghiên cứu quyền

của trẻ em nhiễm HIV và bảo vệ quyền của trẻ em nhiễm HIV là một nội dung của quyền con người, mà cụ thể là của trẻ em nhiễm HIV Việc nghiên cứu dưới góc độ quyền trẻ em nhằm bảo vệ trẻ em nhiễm HIV, ngăn chặn sự lây lan HIV với cộng đồng và giảm sự tác động của bệnh AIDS lên cuộc sống con người Luận văn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về HIV cũng như hướng tới mục tiêu chống kỳ thị phân biệt đối xử, khôi phục, đảm bảo quyền của trẻ em nhiễm HIV trong cộng đồng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay, Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về quyền của người nhiễm HIV, trong đó có trẻ em Nhiều tài liệu, bài viết tiêu biểu đã được sử dụng làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quan về vấn đề quyền của người sống chung với HIV đồng thời có thể rút

ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam

“Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương” do trung tâm

nghiên cứu quyền con người và quyền công dân trực thuộc khoa luật Đại học quốc

Trang 10

gia Hà Nội đã đề cập tới quyền của những người sống chung với HIV theo luật quốc tế Tài liệu đã khái quát lịch sử phát triển vấn đề quyền của những người sống chung với HIV Việc xây dựng các văn kiện quốc tế về vấn đề này là kết quả sự biến chuyển nhận thức của nhân loại về HIV từ việc lo sợ, e ngại, kỳ thị với người sống chung HIV đến việc cảm thông, chia sẻ giúp đỡ và vận động những người bị ảnh hưởng bởi HIV tích cực tham gia chiến dịch ngăn ngừa và đẩy lùi nguy cơ lây lan của virus HIV Đồng thời tài liệu cũng nêu lên những nội dung chủ yếu của các văn kiện hướng dẫn quốc tế về HIV và quyền con người

Trong “Học về quyền của bạn - Cẩm nang giảng dạy về Luật và HIV”, cuốn

cẩm nang do Viện Nghiên cứu chính sách, pháp luật và phát triển cùng với sự tham gia từ phía các chuyên gia và tình nguyện viên từ BABSEA CLE, đã biên soạn và phát hành với mục đích giúp cho người sống chung với HIV có thể sử dụng công cụ pháp lý trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trên cơ sở tiếp cận với những nội dung cơ bản của Luật Phòng HIV/AIDS, các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật có liên quan dưới góc độ quyền cơ bản của người sống chung với HIV Cuốn cẩm nang đề cập một cách khái quát tới những thông tin liên quan tới HIV, tình hình về đại dịch HIV ở Việt Nam, quyền con người cơ bản của người sống chung với HIV và những quy định của luật quốc

tế cũng như pháp luật Việt Nam, quyền của phụ nữ và trẻ em sống chung với HIV, quyền được giáo dục, lao động, chăm sóc sức khỏe của người sống chung với HIV,

kỳ thị phân biệt đối xử liên quan đến HIV, những cơ chế xử lý vi phạm pháp luật về quyền của người sống chung với HIV

Bài viết “Trẻ em nhiễm HIV và thái độ của cộng đồng” của PGS.TS.Trần

Thị Minh Đức và TS.Nguyễn Trà Vinh đăng trên tạp chí Tâm lý học số 11/2006 đã trình bày về thực trạng trẻ em bị nhiễm HIV sống tại các Trung tâm bảo trở xã hội

và thái độ của cộng đồng đối với những trẻ em này Với những tình huống cụ thể, tác giả đã cho chúng ta thấy cái nhìn toàn cảnh về đời sống vô cùng khó khăn của những trẻ em này, thái độ của cộng đồng đối với chúng Nguyên nhân dẫn tới việc

vi phạm nghiêm trọng quyền con người của những trẻ em này, đồng thời đưa ra

Trang 11

những giải pháp để khôi phục quyền của chúng

Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp thông tin, kiến thức về HIV

và các quyền con người của nhóm người sống chung với HIV, trong đó có trẻ em Tuy nhiên, từ góc độ pháp lý, vẫn chưa có công trình nghiên cứu cơ bản và có hệ thống nào về bảo vệ quyền của trẻ em nhiễm HIV ở Việt Nam hiện nay Luận văn là những nỗ lực bước đầu của tác giả nhằm khắc phục những thiếu hụt trên, góp phần tích cực trong công tác bảo vệ QTE nhiễm HIV

3 Mục đích nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu tổng quan về quyền của trẻ em nhiễm HIV từ đó nâng cao nhận thức của cộng đồng, xã hội về HIV quyền con người Luận văn nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về quyền trẻ em nhiễm HIV, các quy định pháp luật về quyền trẻ em nhiễm HIV và việc thực hiện các quyền đó trong thực tế, từ đó kiến nghị các biện pháp bảo đảm quyền của trẻ em nhiễm HIV trong bối cảnh Việt Nam hiện nay

 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận chung về HIV, quyền cơ bản của trẻ em nhiễm HIV

- Nghiên cứu quy định pháp luật của Việt Nam, đối chiếu với pháp luật quốc

tế về đảm bảo quyền của trẻ em nhiễm HIV

- Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em nhiễm HIV ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập bất cập của pháp luật Việt Nam, đưa ra giải pháp nhằm đảm bảo quyền của trẻ em nhiễm HIV trong thực tế

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận

và một số các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền của trẻ nhiễm HIV/ AIDS Thực trạng vi phạm quyền của trẻ em nhiễm HIV và tìm hiểu một số biện pháp để bảo vệ quyền của trẻ em nhiễm HIV

Trang 12

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quyền của trẻ em nhiễm HIV và bảo vệ quyền của trẻ em nhiễm HIV theo pháp luật hiện hành

Về mặt pháp lý: Nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc gia quy định

về quyền của trẻ em nhiễm HIV trên cơ sở đối chiếu với các quy định của pháp luật quốc tế Các quy định quốc tế được nghiên cứu là: - Các Hướng dẫn quốc tế về HIV

và quyền con người 1996; Tuyên bố cam kết về HIV, 2001 “Khủng hoảng toàn cầu – Hành động toàn cầu”; Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị- 1996; Công ước về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa – 1996… Các quy định pháp luật quốc gia là Hiến pháp năm 2013; Luật phòng chống HIV/AIDS năm 2006; Luật bảo

vệ sức khỏe nhân dân năm 1989; Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2003… và các văn bản pháp lý liên quan

Về mặt thực tiễn: Luận văn đánh giá thực trạng việc đảm bảo quyền của trẻ

em nhiễm HIV từ quá trình nhận thức, xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật đến bảo vệ pháp luật Đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế tồn tại Xem xét tổng quan những yếu tố tác động từ chủ quan đến khách quan tới việc thực thi pháp luật về đảm bảo quyền của trẻ em nhiễm HIV, từ đó đưa ra phương hướng

để khác phục tồn tại đó

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lenin; Các nguyên tắc nền tảng của luật nhân quyền quốc tế; Các quan điểm về quyền của trẻ em nhiễm HIV trên thế giới

Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu: Phân tích – tổng hợp, xã hội học,thống kê, so sánh, đánh giá để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Đưa ra một cách nhìn nhận mới về trẻ em nhiễm HIV đó là cách tiếp cận dựa trên quyền Trước nguy cơ đe dọa của đại dịch HIV/AIDS, cộng đồng đang vô tình hoặc cố ý vi phạm quyền cơ bản của một bộ phận dễ bị tổn thương đó là những trẻ

bị nhiễm HIV Với những nghiên cứu đầy đủ về những quy định của pháp luật quốc

Trang 13

gia cũng như luật nhân quyền quốc tế, luận văn đã đưa tới một cái nhìn đúng đắn hơn: Trẻ em nhiễm HIV cũng phải được hưởng thụ các quyền con người cơ bản như bất cứ chủ thể nào trong cộng đồng Nghĩa vụ đảm bảo quyền của trẻ em nhiễm HIV thuộc về Nhà nước

- Luận văn đánh giá một cách khách quan những thành tựu đạt được cũng như những tồn tại trong thực trạng đảm bảo quyền của trẻ em nhiễm HIV trong quá trình nhận thức, xây dựng, thực thi và bảo vệ pháp luật Đồng thời chỉ ra được một số những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới sự tồn tại và hạn chế trong việc đảm bảo quyền của trẻ em nhiễm HIV

- Luận văn đưa ra một số những đề xuất về biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế tồn tại, để đảm bảo quyền của trẻ em nhiễm HIV

7 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trẻ em nhiễm HIV và bảo vệ quyền của trẻ em

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẺ EM NHIỄM HIV VÀ BẢO VỆ

QUYỀN CỦA TRẺ EM NHIỄM HIV 1.1 Khái niệm trẻ em và trẻ em nhiễm HIV

1.1.1 Trẻ em và quyền của trẻ em

a) Khái niệm “Trẻ em”

Theo Từ điển Xã hội học, trẻ em là nhóm nhân khẩu đặc biệt ở trong quá

trình xã hội hóa (tiếp nhận những kỹ năng và tri thức để có thể tham gia hoạt động

xã hội độc lập), đang học đóng vai trò cũng như tiếp thu những kiến thức, ký năng

để tham gia hành động xã hội với tư cách là một chủ thể

Tiếp cận theo góc độ phát triển thì trẻ em là một giai đoạn phát triển trong cuộc đời của một người (từ lúc sinh ra đến khi chết) Trẻ em và người lớn là những giai đoạn phát triển khác nhau của đời người Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại Trẻ em vận động và phát triển theo qui luật riêng của mình Tâm lý học lứa tuổi lại xác định những giai đoạn khác nhau trong lứa tuổi trẻ em như: tuổi sơ sinh, tuổi hài nhi, tuổi mẫu giáo nhỏ, tuổi mẫu giáo lớn, tuổi nhi đồng, tuổi thiếu niên, tuổi thanh niên mới lớn

Tiếp cận dưới góc độ sinh học thì trẻ em là người phát triển chưa đầy đủ về thể chất, trí tuệ và nhân cách Trẻ chưa thể tự lập trong cuộc sống, cũng như chưa

có khả năng đánh giá hành vi và tự định hướng phát triển, chưa có khả năng tự bảo

vệ mình trước những tác động tiêu cực từ môi trường hay trước những nguy cơ bị xâm hại

Trẻ em có những đặc điểm tâm sinh lý khá đặc thù do chưa phát triển đầy đủ

về thể chất và trí tuệ, dễ tổn thương, dễ thay đổi, dễ thích nghi, dễ uốn nắn, dễ tự ái,

tự ti, hiếu thắng, thiếu kiên nhẫn Xu hướng muốn tự khẳng định, được đánh giá, được tôn trọng, nhiều hoài bão và nhìn chung còn thiếu thực tế, thiếu kinh nghiệm

Tuy nhiên, trên thực tế khi đưa ra khái niệm về trẻ em nói chung người ta thường tùy theo điều kiện về địa lý, kinh tế xã hội, trình độ phát triển dân trí hay phong tục tập quán từng địa phương … Mỗi một quốc gia đều xác định tuổi của trẻ

Trang 15

em để phân biệt với người trưởng thành Ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phương Tây thường lấy mốc dưới 18 tuổi để xác định ranh giới giành cho trẻ

em Theo Công ước về QTE của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã phê chuẩn năm

1990 thì “Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia

quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1) Mặc dù độ tuổi được coi là trẻ em ở

mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:

- Thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành, chưa phát triển hoàn chỉnh;

- Cần có sự chăm sóc, giáo dục, bảo vệ của gia đình, nhà trường, xã hội cả về mặt pháp lý;

Ở Việt Nam do nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp chăm sóc và giáo dục trẻ em, việc xác định lứa tuổi trẻ em đã được ghi nhận ngay trong Điều 1

của Luật BVCS&GDTE 2004: “ Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt

Nam dưới mười sáu tuổi” Tuy vậy, pháp luật Việt Nam chưa có các qui định thống

nhất về khái niệm trẻ em trong từng ngành luật cụ thể Tùy theo từng lĩnh vực, phân biệt trẻ em và người chưa thành niên theo độ tuổi khác nhau: 14, 15, 16, để xác định chế độ pháp lý, sự bảo vệ thích hợp cho từng lứa tuổi Theo quy định của Luật BVCS&GDTE 2004, khái niệm trẻ em trong luận văn này là những đối tượng là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi

Vậy trẻ em được hiểu là mọi công dân Việt Nam dưới 16 tuổi, còn non nớt

về thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành, chưa khả năng tự bảo vệ mình khỏi những tiêu cực trong cuộc sống Trẻ em cần có sự chăm sóc, bảo vệ, giáo dục từ phía gia đình, nhà trường và xã hội

b) Khái niệm Quyền trẻ em

“Quyền” theo nghĩa tiếng Việt, là cái mà luật pháp, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành và, khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại

Về khái niệm khoa học, “Quyền” là nguyên tắc đạo đức xác định và thừa nhận sự tự do hành động của con người trong một xã hội nhất định Khái niệm

Trang 16

“quyền” chỉ liên quan đến hành động – mà cụ thể là liên quan đến tự do hành động, nghĩa là thoát khỏi những cưỡng chế về mặt thể xác, thoát khỏi tình trạng bị ép buộc hay bị can thiệp bởi những người khác Đối với mỗi cá nhân, quyền là sự thừa nhận

về mặt đạo đức đối với một sự chọn lựa tích cực – được tự do hành động theo lý trí,

vì các mục tiêu riêng, do sự lựa chọn riêng tự nguyện, không bị cưỡng ép Đối với những người xung quanh, các quyền của cá nhân đó không áp đặt nghĩa vụ nào lên những người xung quanh ngoại trừ một quyền phủ quyết: họ không được vi phạm các quyền của cá nhân đó, phải tôn trọng các quyền của mỗi cá nhân trong đó có quyền của trẻ em

Quyền trẻ em là một bộ phận hợp thành của quyền con người Quyền con người theo nghĩa chung là quyền của mọi cá nhân, mang tính phổ quát và không thể chuyển nhượng, có nghĩa là chúng được áp dụng ở khắp nơi và không thể lấy đi [22] Đây là những quyền tự nhiên của con người, tồn tại một cách khách quan, ngay từ khi con người sinh ra đã có Khi Nhà nước ra đời thì những quyền này được Nhà nước công nhận và đảm bảo thực hiện, quyền con người từ quyền tự nhiên trở thành quyền công dân Trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã khẳng

định: “Tất cả mọi người sinh ra đều tự do, bình đẳng về phẩm giá và quyền Họ

cần đối xử với nhau trong tình bác ái” (Điều 1)

Theo nghĩa hẹp, quyền con người thường gắn với một loại chủ thể nhất định, những chủ thể này có thể được phân biệt theo giới tính hoặc lứa tuổi Quyền con người là các quyền của tất cả cá nhân, cho dù họ có quyền công dân của một nước

cụ thể nào hay không Những quyền này được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Dưới góc độ pháp lý, quyền trẻ em được xem xét dưới góc độ khách quan và chủ quan như sau:

- Quyền trẻ em theo nghĩa khách quan được hiểu là tất cả các quyền lợi được hưởng của cá nhân trẻ em, những quyền này có ở trẻ em ngay từ khi được sinh ra, tồn tại khách quan và được Nhà nước công nhận, ghi nhận thành các quyền và nghĩa

vụ cơ bản của trẻ em và đảm bảo thực hiện bằng pháp luật

Trang 17

Nội dung quyền trẻ em phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như điều kiện kinh tế xã hội, chính trị, phong tục tập quán, tư tưởng đạo đức của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử Trong xu thế hiện nay, quyền trẻ em ngày càng được mở rộng và phát triển, trẻ em từ đối tượng được hưởng quyền thành chủ thể quyền Quyền trẻ em được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia Các quyền của trẻ em được pháp luật quốc gia và quốc

tế công nhận không phụ thuộc vào bất cứ yếu tố nào của cá nhân trẻ em đó Mọi trẻ

em sinh ra và lớn lên đều có các quyền như nhau và được bảo đảm thực hiện các

quyền đó như nhau

Theo Công ước QTE, quyền trẻ em được chia làm bốn nhóm quyền cơ bản:

Nhóm quyền sống còn: là quyền cơ bản của mỗi cá nhân, tiền đề cho việc bảo vệ

tất cả các quyền khác của con người Bảo vệ quyền này của trẻ cần dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ Cần phải được thực hiện ngay không chậm trễ vì trẻ rất dễ bị tổn thương Trước những nguy cơ đe dọa quyền sống còn của trẻ như: gây

ra những tai nạn thương tích, những tổn thương do người lớn đem lại, thiếu sự chăm sóc yêu thương và hỗ trợ của gia đình, bị phân biệt đối xử Tất cả chúng ta phải có trách nhiệm đảm bảo quyền được sống của trẻ em ở mức cao nhất có thể được

Nhóm quyền bảo vệ: Quyền được bảo vệ là bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt đối

xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác và tinh thần, bị

lơ là và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ, các em phải được bảo vệ trong tình trạng khẩn cấp, khủng hoảng Nghiêm cấm lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em, bất kỳ một hành vi xâm phạm đến thể chất, tình cảm, nhân cách, lạm dụng tình dục, ngược đãi, xao nhãng, bỏ rơi, sử dụng quá mức sức lao động, hoặc khai thác thương mại, tước đoạt quyền và sự tự do của trẻ, gây nguy hại đến sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ Bảo vệ khi trẻ bị lâm vào tình trạng khủng hoảng khẩn cấp như tình trạng rối chiến tranh, tai nạn, dịch bệnh

Nhóm quyền phát triển: Bao gồm mọi hình thức giáo dục (chính quy và không

chính quy) và quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ Quyền được chăm sóc sức khoẻ, được học tập

Trang 18

và phát triển năng khiếu Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch

Nhóm quyền tham gia: Bao gồm quyền được bày tỏ ý kiến trong mọi vấn đề có

liên quan tới bản thân, quyền được lắng nghe và được kết giao hội họp Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội

Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về QTE Từ đó đến nay, mặc dù còn nhiều khó khăn, Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong việc đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và luật pháp quốc gia Ví dụ: như Luật BVCS&GDTE, Luật phổ cập giáo dục, Luật lao động, BLDS, Luật TTHS được ban hành hay sửa đổi đều quan tâm thích đáng đến quyền lợi của trẻ em Theo pháp luật Việt Nam, các quyền cơ bản của trẻ em được quy định trong Luật BVCS&GDTE 2004 Luật này nhấn mạnh nhiệm vụ của xã hội đối với sự bảo vệ, chăm sóc trẻ em, yêu cầu trừng phạt nghiêm khắc đối với vi phạm quyền trẻ em Luật đã quy định các quyền của trẻ em Việt Nam trên cơ sở nội luật hóa Công ước QTE

- Theo nghĩa chủ quan, quyền trẻ em được hiểu là năng lực hành vi của chủ thể, là khả năng thực hiện và bảo đảm các quyền mà pháp luật đã dành cho trẻ em trong thực tế Quyền trẻ em chỉ trở thành hiện thực khi trẻ em bằng chính hành vi của mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được pháp luật quy định Tuy nhiên không phải mọi trường hợp trẻ em đều có thể tự mình thực hiện được những quyền này Do đó, về mặt nguyên tắc, mọi trẻ em đều có người đại diện hoặc người giám hộ Những người này thực hiện các quyền và nghĩa vụ cho trẻ khi trẻ không có khả năng thực hiện như khi tham gia vào những quan hệ đòi hỏi những điều kiện nhất định hoặc khi trẻ không có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình Đồng thời, quyền trẻ em còn được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng việc quy trách nhiệm cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ Với các quy định này, quyền trẻ em vẫn được đảm bảo thực hiện trong một số trường hợp mà trẻ không thể thực hiện được quyền của mình bằng hành vi của chính mình

Trang 19

Quyền trẻ em chỉ được đảm bảo thực hiện khi được pháp luật ghi nhận và mặt khác, quyền trẻ em chỉ có ý nghĩa khi những quyền này được thực thi trong thực tế Do đó, song song với việc ghi nhận các quyền của trẻ em, pháp luật cần có các biện pháp bảo đảm để các quyền này trở thành hiện thực

1.1.2 Trẻ em nhiễm HIV và quyền của trẻ em nhiễm HIV

a) Trẻ em nhiễm HIV

HIV (Human Immuno-deficiency Virus) là virus gây suy giảm miễn dịch ở

người, loại virus này có khả năng phá hủy các tế bào bạch cầu (tế bào T), vốn là một phần của hệ thống miễn dịch của cơ thể Khi xâm nhập vào cơ thể con người, HIV tìm cách tấn công vào bạch cầu gây tàn phá hệ miễn dịch Sau một thời gian, khi các bạch cầu bị tiêu diệt nhiều, khả năng chống đỡ với mầm bệnh bị giảm, cơ thể sẽ bị mầm bệnh tấn công sinh ra nhiều chứng bệnh nguy hiểm dẫn đến cái chết [40]

AIDS (Acquired Immuno Deficiency Syndrom) có nghĩa là Hội chứng suy

giảm miễn dịch mắc phải, là giai đoạn cuối của người bệnh khi nhiễm HIV [40] Đó

là khi khả năng chống bệnh suy yếu đến nỗi cơ thể bị các thứ bệnh hoành hành, điều trị không khỏi được Từ khi phát bệnh AIDS đến lúc chết chỉ vài tháng hoặc nhiều nhất là hai năm AIDS là một bệnh mãn tính do HIV gây ra HIV phá huỷ các tế bào của hệ miễn dịch, khiến cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn và nấm gây bệnh Do đó bệnh nhân dễ bị một số loại ung thư và nhiễm trùng cơ hội mà bình thường có thể đề kháng được Bản thân virus và nhiễm trùng được gọi là HIV Thuật ngữ AIDS được dùng để chỉ giai đoạn muộn hơn của bệnh Như vậy, thuật ngữ nhiễm HIV được dùng để chỉ những giai đoạn khác nhau của cùng một bệnh

Trẻ em nhiễm HIV trong luận văn này được hiểu là trẻ em bị ảnh hưởng trực tiếp, tức là trẻ có virus HIV trong cơ thể, được xét nghiệm có HIV dương tính (H+) Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, luận văn chỉ đề cập đến nhóm đối tượng nhiễm HIV dưới 16 tuổi Trẻ em nhiễm HIV bị tổn thương cả về mặt vật chất, thể trạng lẫn tinh thần Theo nghiên cứu, phần lớn các em xuất thân từ những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn hoặc ở trong các trung tâm bảo trợ xã hội bị lây truyền từ mẹ

Trang 20

sang con Các em thường thuộc những gia đình nghèo khổ, thiếu hiểu biết, thiếu điều kiện tự bảo vệ mình Trẻ nhiễm HIV diễn biến đến AIDS nhanh hơn ở người lớn Sau khi mắc bệnh, điều kiện kinh tế còn khó khăn hơn gấp nhiều lần khi phải

cố gắng chạy chữa và trở thành gánh nặng cho gia đình Sức khỏe suy giảm, cơ thể không còn khả năng miễn dịch, không thể sống bình thường như người khỏe mạnh, đồng thời phải đối diện với sự kỳ thị xa lánh từ phía cộng đồng Bị tổn thương sâu sắc về mặt vật chất lẫn tinh thần, trẻ em nhiễm HIV dưới hình thức này hay hình thức khác, chủ quan hay khách quan cũng bị gạt ra ngoài lề xã hội

Vậy trẻ em nhiễm HIV được hiểu là những trẻ em có vi rút HIV trong cơ thể hoặc đã chuyển sang giai đoạn AIDS Hầu hết các em đều tổn thương sâu sắc về thể chất và tâm lý Các em này cần được trợ giúp từ phía gia đình, công đồng, xã hội và Nhà nước trong việc thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em

b) Quyền của trẻ em nhiễm HIV

Công ước QTE có những quy định liên quan đến việc phòng chống HIV cho trẻ em và bảo vệ những trẻ em không may bị nhiễm HIV Điều 2 của Công ước có

quy định “các quốc gia tham gia công ước phải thi hành mọi biện pháp thích hợp

để đảm bảo cho trẻ em được bảo vệ, tránh khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử”

Đây là những quy định rất quan trọng mang tính phổ quát, chi phối toàn bộ các quy định khác của công ước trên mọi phương diện bảo vệ, chăm sóc Liên quan đến vấn

đề HIV, quy định này chỉ ra rằng trẻ em bị nhiễm HIV, trẻ em có bố mẹ bị nhiễm HIV hay trẻ em vì lý do này hay lý do khác, chịu sự tác động của đại dịch HIV phải được bảo vệ và đối xử bình đẳng như tất cả mọi trẻ em khác Cụ thể Công ước QTE

đã đề cập đến những vấn đề mà trẻ em được hưởng trong đó bao gồm cả trẻ em

nhiễm HIV tại các điều: Điều 6; Điều 24; Điều 3; Điều 26… Đặc biệt công ước đã quy định trách nhiệm của các quốc gia là “phải bảo vệ trẻ em khỏi sự lạm dụng ma

tuý” (Điều 33), góp phần phòng ngừa và hạn chế khả năng các em bị lây nhiễm HIV

qua những con đường này Những điều khoản nói trên, cùng với những quy định có liên quan khác của công ước, được áp dụng trực tiếp hoặc cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật của các quốc gia về phòng chống HIV Việt Nam đã tích cực tham gia

Trang 21

và nỗ lực phấn đấu cùng cộng đồng quốc tế trong phòng chống HIV Ở Việt Nam việc quy định quyền của các trẻ em nhiễm HIV ngày càng cụ thể hơn và phù hợp với quy định của Công ước

Có thể thấy quyền của trẻ em nhiễm HIV là một bộ phận không tách rời của QTE nói chung Trẻ em sống với HIV có các quyền và nghĩa vụ giống như những trẻ em khác Ngoài ra, các em còn được hưởng sự bảo vệ nhất định của pháp luật chống lại sự phân biệt đối xử và chăm sóc, chữa bệnh

1.2 Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của trẻ em nhiễm HIV

1.2.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ em nhiễm HIV

Đối với trẻ 0-6 tuổi: trẻ chưa có nhận thức về HIV và về thái độ của những

người xung quanh nên giai đoạn này tâm lý trẻ phát triển như những đứa trẻ bình thường khác

Đối với trẻ 6-12 tuổi: các em đã phần nào nhận thức được tầm nguy hiểm của

căn bệnh HIV Do đó các em thường mang tâm lý lo sợ về sự đau đớn của bệnh, về

sự xa lánh và sự phân biệt đối xử của những người xung quanh các em

Trẻ em nhiễm HIV thường thiếu thốn tình cảm ruột thịt và nhận được ít tình yêu thương, sự vuốt ve như các trẻ nhỏ khác, các em thường thấy buồn tủi, chán nản và sống khép mình Bên cạnh đó, do sự thiếu giáo dục của cha mẹ và sự ghẻ lạnh, tránh né của những người xung quanh nên các em thường bị trầm cảm, chậm nói, chậm phát triển trí não, thiểu năng vận động do không được chơi với các bạn cùng trang lứa Những trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi HIV thì sợ hãi trước những biểu hiện của bệnh trên cơ thể mình, như bị sốt, nhiễm trùng da, đau người, Ở các em thường hình thành ý niệm: bản thân sẽ chết sớm bởi đây là căn bệnh nguy hiểm chưa có thuốc chữa

Từ những đặc điểm tâm sinh lý trên, ta có thể thấy được những nhu cầu của trẻ bị nhiễm HIV

Trang 22

1.2.2 Nhu cầu của trẻ nhiễm HIV

Nhu cầu chính của trẻ em nhiễm HIV rất đa dạng như tiếp cận đầy đủ các dịch

vụ y tế, giáo dục, hướng dẫn về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ sống với HIV, xóa bỏ hoàn toàn kỳ thị và phân biệt đối xử [41]

- Nhu cầu vật chất: là nhu cầu trước tiên của bất cứ đứa trẻ nào Trẻ nhiễm

HIV cũng như những trẻ khác đều muốn được đảm bảo các nhu cầu chính đáng của bản thân về thức ăn, nước uống, đặc biệt là nơi ở Đây là những nhu cầu hết sức thiết thực và ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của các em và cũng là quyền đầu tiên trong số những quyền các em đáng được hưởng ( Điều 6 Công ước QTE) Hiện nay, phần lớn những trẻ nhiễm HIV sống trong tính trạng thiếu thốn, khó khăn về kinh tế Đa số các em sống trong cảnh nghèo và rất nghèo, rất cần sự quan tâm, đáp ứng kịp thời nhu cầu vật chất

- Nhu cầu an toàn: được đảm bảo vấn đề sức khỏe, tiếp cận các dịch vụ khám

chữa bệnh thông thường Đây là nhu cầu rất cần thiết được đáp ứng đối với trẻ nhiễm HIV Bởi khi đã mang bệnh, khả năng miễn dịch của các em không thể bằng trẻ bình thường, vì thế các em cần được kiểm tra sức khỏe thường xuyên Bên cạnh việc đảm bảo về sức khỏe thì các em cũng cần được yêu thương, chăm sóc đặc biệt

từ phía người thân trong gia đình Với trẻ nhiễm HIV, gia đình được coi là nơi an toàn nhất và là chỗ dựa tinh thần quan trọng nhất của các em Nếu không được che trở, bao bọc bởi gia đình và người thân, trẻ dễ rơi vào tâm trạng lo sợ, tự ti và khép mình

- Nhu cầu được coi trọng: những trẻ nhiễm HIV thường lo sợ, tự ti trước thái

dộ kỳ thị, xã lánh của cộng đồng Các em luôn mong muốn được mọi người tôn trọng, thay đổi sự kỳ thị, không phân biệt đối xử, không phán xét đến bệnh tình của các em Những người nhiễm HIV (trong đó có cả trẻ em) có thể tự mình đương đầu với bệnh tật Nhưng họ khó có thể vượt qua được rào cản tâm lý xã hội để có một cuộc sống bình thường Nhu cầu này là hết sức cần thiết và cũng là điều mà các nhà hoạt động trong lĩnh vực xã hội, bảo vệ trẻ em mong muốn đạt được

Trang 23

- Nhu cầu xã hội: cùng với mong muốn được coi trọng, trẻ bị nhiễm HIV

cũng rất muốn được hòa nhập vào cộng đồng và muốn được tới trường học tập, vui chơi với bạn bè cùng trang lứa như những đứa trẻ bình thường khác Mỗi giai đoạn cuộc đời trẻ đều có những hoạt động chủ đạo có tính chất quyết định trực tiếp đến việc hình thành tâm lý và nhân cách trẻ Nhưng nhu cầu này hiện nay vẫn chưa được đáp ứng vì những định kiến tiêu cực trong xã hội và để các em có thẻ hòa nhập cuộc sống như những đứa trẻ khác là một việc cần nhiều thời gian mới có thể đạt được

- Nhu cầu được khẳng định mình: trẻ nhiễm HIV cũng có mong muốn có

một vị trí trong xã hội, được thực hiện những vai trò với tư cách là thành viên của

xã hội Các em không chỉ khao khát được tiếp thu kiến thức mà còn muốn thông qua học hành để khẳng định bản thân, được người khác tin tưởng và có chỗ đứng trong xã hội

Như vậy, có thể thấy nhu cầu của trẻ em nhiễm HIV về cơ bản giống như nhu cầu của các trẻ em bình thường khác Các em cũng cần được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu được chăm sóc và bảo vệ để phát triển bình thường cả về thể chất, trí tuệ cũng như tâm lý Xét trên khía cạnh tâm sinh lý, đáng lẽ ra trẻ em sống chung với HIV phải được quan tâm đến các nhu cầu trên hơn những trẻ bình thường, nhưng thực tế thì việc đáp ứng nhu cầu cho các em còn gặp rất nhiều khó khăn và thách thức

1.3 Vấn đề bảo vệ quyền của trẻ em nhiễm HIV

1.3.1 Khái niệm bảo vệ quyền trẻ em

Quyền trẻ em đã được nhân loại thừa nhận và quy định trong pháp luật quốc

tế cũng như pháp luật quốc gia Tuy nhiên, việc thực hiện quyền trẻ em chủ yếu phụ thuộc vào nhận thức và hành động của người khác nên việc bảo vệ quyền trẻ em là rất cần thiết Bảo vệ quyền trẻ em chính là bảo vệ những quyền mà trẻ em được hưởng và bảo đảm cho trẻ em được thực hiện những quyền đó

Theo Liên minh các tổ chức cứu trợ trẻ em định nghĩa “bảo vệ quyền trẻ

em” là xây dựng hệ thống và cơ chế hoạt động hiệu quả để phòng ngừa, can thiệp

Trang 24

và giải quyết tình trạng xâm hại, xao nhãng, bóc lột và bạo lực đối với trẻ em Cụ thể:

- Xâm hại là những hành động cố ý gây hại hoặc có thể đe dọa gây thiệt hại

đối với sự an toàn, sự phát triển và nhân phẩm của trẻ em Có ba hình thức xâm hại

là xâm hại về tình dục, tinh thần và thể chất

- Xao nhãng là việc không cung cấp những thứ cần thiết trong đời sống vật

chất cũng như tinh thần hoặc không đảm bảo sự an toàn và sự phát triển về thể chất cho một đứa trẻ, như thiếu sự quan tâm, chăm sóc Các hình thức xao nhãng là không quan tâm, không chăm sóc, bảo vệ hay bỏ bê trẻ

- Bóc lột trẻ em có nghĩa là sử dụng, tận dụng hoặc khai thác trẻ để kiểm lời

làm tăng thu nhập cho người khác và dẫn đến hành động đối xử thô bạo, ác độc và nguy hiểm cho trẻ em Có các hình thức bóc lột về tình dục và bóc lột về sức lao động

- Bạo lực, theo tổ chức sức khỏe thế giới có ba loại: bạo lực tự thân tức là việc

tự tử và tự gây hại cho bản thân; bạo lực đôi bên là tất cả các hình thức xâm hại, bóc lột và xao nhãng về thể chất, tinh thần, tình dục thông qua việc bạo lực trong gia đình và các hình thức bạo lực khác do khác biệt về giới tính; bạo lực tập thể là do tổ chức, tập thể gây ra do sự lạm quyền hoặc sử dụng quá quyền hạn được pháp luật cho phép

Như vậy, có thể hiểu bảo vệ quyền trẻ em là hệ thống các biện pháp, các cơ chế, cách thức hoạt động được pháp luật quy định nhằm đảm bảo có hiệu quả trong việc phòng ngừa, can thiệp, giải quyết tình trạng trẻ em bị bỏ rơi, xao nhãng, xâm hại, bóc lột hoặc bạo lực nhằm bảo vệ trẻ em và đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em trong thực tế

1.3.2 Bảo vệ quyền trẻ em nhiễm HIV

Hiện nay Việt Nam đã dần hình thành cơ chế quốc gia đảm bảo quyền của trẻ

em nhiễm HIV thông qua: việc xây dựng được một hệ thống các quy định về những quyền cơ bản của trẻ em nhiễm HIV, xây dựng một số các cơ quan thực thi những quy định này và những quy trình bảo vệ khi có sự vi phạm quyền xảy ra Đồng thời

Trang 25

Nhà nước cũng đưa những kiến thức về nhân quyền và HIV tới nhóm trẻ em này, các cán bộ viên chức trong bộ máy Nhà nước cũng như cộng đồng dân cư

Xây dựng hệ thống các quy định về quyền của người sống chung với HIV, đặc biệt là Luật phòng chống HIV/AIDS có hiệu lực từ năm 2006 và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Các văn bản này ghi nhận khá đầy đủ các quyền của người sống chung với HIV, trong đó có trẻ em từ những quyền dân sự, chính trị tới những quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là những quyền đặc thù dễ bị tổn thương của nhóm này như quyền được đối xử bình đẳng, quyền được chăm sóc sức khỏe và thể chất, quyền được lao động và giáo dục… Đây thực sự là điểm nhấn của pháp luật Việt Nam trong bối cảnh đại dịch HIV toàn cầu

Hình thành hệ thống cơ quan và quy trình để bảo vệ quyền của trẻ em nhiễm HIV: Đối với cơ chế bảo vệ quyền của người sống chung với HIV và trẻ em nhiễm HIV, Việt Nam sử dụng cơ chế tòa án, các cơ quan tư pháp và các thủ tục tố tụng chung để giải quyết những khiếu kiện liên quan đến hành vi vi phạm quyền

Như vậy, bảo vệ quyền trẻ em nhiễm HIV được hiểu là một hệ thống các biện pháp, cách thức hoạt động, thiết chế thực thi được pháp luật quy định nhằm bảo vệ trẻ em nhiễm HIV và đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em nhiễm HIV

1.3.3 Các quy định cơ bản của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về

quyền của trẻ em nhiễm HIV

dễ bị tổn thương Trẻ em nói chung, trẻ em bị nhiễm HIV nói riêng cũng dần được

Trang 26

quan tâm trong các văn bản pháp luật quốc tế về nhân quyền Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị (ICCPR,1966) ghi nhận tất cả các quyền dân sự, chính trị

mà bất kỳ ai trên thế giới đều được hưởng, đồng thời quy định nghĩa vụ của quốc gia thành viên trong việc thực thi nghiêm túc các điều khoản nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân mình Công ước quốc tế về các quyền kinh

tế, xã hội và văn hóa (ICESCR,1966) thừa nhận các quyền con người về kinh tế, xã hội và văn hóa tồn tại song song, liên quan mật thiết với các quyền về dân sự, chính trị

Công ước QTE đã được thông qua và ký này 20/11/1989 và có hiệu lực này 2/9/1990 Công ước này để ngỏ cho tất cả các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập

Có thể nói Công ước QTE 1989 đã bao gồm được tất cả các khía cạnh của QTE Ngoài lời nói đầu, nội dung của Công ước gồm 3 phần với 54 điều khoản, ngoài việc quy định những nguyên tắc chung của việc bảo vệ quyền trẻ em

Khi HIV bùng phát trở thành đại dịch toàn cầu, cướp đi sinh mạng của hàng triệu con người trên thế giới, Liên Hợp Quốc và các cơ quan chuyên môn đã tổ chức nhiều hội nghị, thông qua các Nghị quyết, Tuyên bố, Hướng dẫn để hỗ trợ các quốc gia trong việc thúc đẩy, tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền con người trong bối cảnh HIV, đặc biệt là đối với trẻ em, ví dụ như:

- Các hướng dẫn quốc tế về HIV và quyền con người năm 1996 là văn kiện

trực tiếp và cụ thể nhất chứa đựng những nguyên tắc, tiêu chuẩn và đề ra những mục tiêu cơ bản về bảo vệ quyền con người của những người sống chung với HIV Hướng dẫn nêu rằng không có mâu thuẫn gì trong việc bảo vệ thúc đẩy quyền con người của những người sống chung với HIV với việc đạt được mục tiêu của y tế công về phòng chống đại dịch Ngược lại, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của nhóm người này là một yếu tố góp phần trong việc chống lại sự lây truyền của HIV Bên cạnh đó, Hướng dẫn liệt kê các quyền con người có ý nghĩa quan trọng với những người sống chung với HIV trong hệ thống các quyền con người được ghi

nhận trong pháp luật quốc tế

Trang 27

- Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000: Tuyên bố là lộ trình

tiến tới xây dựng một thế giới mà ở đó không còn nghèo đói, tất cả trẻ em đều được học hành, sức khỏe của người dân đều được nâng cao, môi trường được duy trì bền vững và mọi người được hưởng tự do, công bằng và bình đẳng Trong số 8 mục tiêu

có mục tiêu thứ 6 là: “Phòng chống HIV, sốt rét và các bệnh dịch khác” Công tác này phải thực hiện vì các điều kiện và bệnh tật liên quan đến HIV là những nguyên

nhân gây tử vong rất cao cho trẻ em dưới 15 tuổi

- Tuyên bố chính trị về phòng chống HIV (2011): Trước thực trang đáng bảo

động của đại dịch HIV đối với đời sống của cộng đồng quốc tế, các nguyên thủ quốc gia đã nhóm họp tại Liên Hợp Quốc đưa ra cam kết nhằm đảm bảo ứng phó quốc gia phòng chống HIV, đáp ứng được các nhu cầu cụ thể của trẻ em gái, kể cả những người sống chung với HIV, ở mọi lứa tuổi, thông qua các biện pháp pháp lý Đồng thời Hội nghị cũng đưa ra cam kết tăng cường các hệ thống quốc gia về bảo trợ xã hội và bảo vệ trẻ em, đặc biệt đối với trẻ em gái và trẻ vị thành niên bị ảnh

hưởng và dễ tổn thương bởi HIV

b) Pháp luật Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là quốc gia thứ 2 trên thế giới phê chuẩn Công ước QTE (CRC) cùng hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho CRC Có thể nói, toàn bộ nội dung của Công ước và hai Nghị định thư bổ sung

đã được nội luật hóa vào hệ thống pháp luật Quốc gia, tạo cơ sở pháp lý mạnh mẽ trong việc bảo vệ QTE bị nhiễm HIV Bên cạnh đó, Việt Nam còn phê chuẩn Công ước số 182 của ILO về việc cấm và những hành động tức thời để loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (17/06/1999); Công ước số 138 của ILO về tuổi tối thiểu đi làm việc (1973) Việc phê chuẩn các văn kiện trên đã đặt ra trách nhiệm pháp lý của nước ta trước cộng đồng quốc tế về thực hiện các quyền cơ bản của trẻ

em, đặc biệt là bảo vệ nhóm trẻ em bị nhiễm HIV khỏi sự kỳ thị, phân biệt và xâm phạm quyền

Hiến pháp 2013 khẳng định: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo

hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” (Điều 36) Hiến pháp 2013 là sự cam kết của

Trang 28

Nhà nước trong việc thực thi Công ước QTE của Liên Hợp quốc, là cơ sở quan trọng để hình thành hệ thống pháp luật về QTE và bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ

em

BLDS 2005 quy định nhiều nội dung liên quan đến các quyền của trẻ em,

trong đó có quyền về nhân thân và tài sản như: Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh (Điều 29); Cá nhân có quyền sở hữu, quyền thừa kế các quyền khác đối với tài sản (Điều 15);

Luật BVCS&GDTE 2004 nêu rõ các hành vi nghiêm cấm đối xử với trẻ em

tại Điều 7 và trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là trách nhiệm không của riêng một ai mà là trách nhiệm của toàn xã hội Đối với trẻ em nhiễm HIV, Luật

đã đưa vào các nhóm trẻ dễ bị tổn thương nhất với sự quan tâm đặc biệt tại Điều 40, đồng thời nghiêm cấm sự phân biệt, kỳ thị với nhóm trẻ nói trên

Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIVAIDS) được Quốc hội thông qua năm 2006 tạo cơ sở pháp lý cho

việc ứng phó về HIV trong việc bảo vệ quyền con người của những người bị nhiễm HIV, trong đó có trẻ em Luật này quy định rõ các khái niệm cơ bản về HIV và AIDS Sự chung tay của cộng đồng xã hội với trẻ em nhiễm HIV, Luật đã quy định

rõ trách nhiệm của xã hội và gia đình, nhà trường trong việc bảo vệ và đảm bảo các quyền con người cơ bản của các em, như: không bị phân biệt đối xử và bình đẳng trước pháp luật; được chăm sóc sức khỏe và điều trị y tế; được giữ bí mật kết quả

xét nghiệm; được tiếp cận giáo dục; …

Chiến lược quốc gia phòng chống HIV ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 với mục tiêu khống chế tỉ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư dưới 0,3% vào năm 2010 và không tăng sau năm 2020; giảm tác hại của HIV đối với sự phát triển kinh tế và xã hội

Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 08/08/2011 về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS nhằm góp phần tăng hiệu quả cho công tác phòng chống HIV Các quy định của

Trang 29

Nghị định đã đem lại sự hỗ trợ quan trọng đối với quá trình thự thi Luật phòng, chống HIV

Nghị định 144/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013về quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em cũng bao gồm các biện pháp xử phạt hành vi xâm phạm các quyền cơ bản của trẻ em sống chung hoặc

bị ảnh hưởng bởi HIV, chẳng hạn như cản trở trong việc tiếp cận giáo dục

Kế hoạch hành động quốc gia đa ngành dành cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV và AIDS giai đoạn 2011-2015: Mục tiêu tổng quát của chương trình là tạo dựng môi trường sống mà trong đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ, trong đó ưu tiên nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhóm trẻ em có nguy cơ cao Chủ động phòng ngừa giảm thiểu hoặc loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em Đối với trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV, Chương trình đưa ra các giải pháp nhằm tạo cơ hội cho các em không bị phân biệt đối xử, hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển thông qua hệ thống bảo vệ trẻ em đồng bộ

Chương trình mục tiêu quốc gia, phòng chống HIV giai đoạn 2012-2015: chương trình đã đưa ra các mục tiêu góp phần thực hiện thành công chiến lược quốc gia về phòng chống HIV đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, khống chế tỉ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư dưới 0,3%; giảm tác hại của HIV đối với sự phát triển kinh tế và xã hội

Bộ GD&ĐT đã xây dựng kế hoạch hành động phòng, chống HIV của ngành giáo dục giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030: tăng cường hoạt động và nâng cao năng lực của hệ thống các Ban chỉ đạo phòng, chống HIV cũng như mại dâm, ma túy từ Bộ cho đến các Sở giáo dục đào tạo; nâng cao chất lượng dạy và học nội khóa, ngoại khóa về phòng chống HIV, giới tính, sức khỏe sinh sản cho học sinh, sinh viên; đẩy mạnh và đa dạng hóa cac hình thức truyền thông, giáo dục; chú trọng kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng, chống kỳ thị và phân biệt đối

xử, đặc biệt là với trẻ nhiễm HIV; đảm bảo các dịch vụ y tế trong các cơ sở giáo dục

an toàn và thân thiện;

Trang 30

Chiến lược quốc gia về phòng chống HIV đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030: Bản chiến lược đã đặt ra các mục tiêu, hoạch định các chương trình và giải pháp phòng, chống HIV tổng thể, dài hạn nhằm bảo đảm cho các công tác này đạt hiệu quả cao, bền vững, góp phần xây dựng và phát triển đất nước Với trẻ bị nhiễm HIV Chính phủ đặt ra mục tiêu: “Giảm tỉ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con xuống dưới 5% vào năm 2015 và xuống dưới 2% vào năm 2020”

Quyết định số 647/QĐ-Ttg ngày 26/04/2013 về việc phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV, trẻ em

là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020 Đề án xác định, phấn đấu đến năm 2020, có 95% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhận được sự trợ giúp và được cung cấp các dịch vụ xã hội phù hợp

Trang 31

CHƯƠNG 2 CÁC QUYỀN CỦA TRẺ EM NHIỄM HIV VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ TRẺ EM NHIỄM HIV THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2.1 Các quyền cơ bản của trẻ em nhiễm HIV và việc thực hiện các quyền đó theo quy định của pháp luật hiện hành

Có thể khẳng định rằng, trẻ em nhiễm HIV cũng được hưởng đầy đủ mọi quyền cơ bản của trẻ em theo quy đinh của pháp luật Các quyền cơ bản của trẻ em bao quát toàn diện các nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày của các em, từ việc chăm sóc nuôi dưỡng, được vui chơi, học hành đến việc bảo vệ khỏi sự xâm phạm, đảm bảo các điều kiện cần thiết để trẻ có một cuộc sống lành mạnh, an toàn

và phát triển toàn diện Vì vậy các quyền cơ bản của trẻ em nhiễm HIV là tất cả các quyền của trẻ em được pháp luật quy định, bảo đảm thực hiện Tuy nhiên, đối với trẻ em nhiễm HIV, do đặc điểm tâm sinh lý là những trẻ mang trong người virus HIV, nên ngoài những quyền phổ quát của trẻ em nói chung, các em còn có những quyền đặc thù nhất định trong việc thực hiện các quyền đó Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ phân tích một số quyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và đặc thù đối với trẻ em nhiễm HIV để qua đó thấy được sự cần thiết phải bảo đảm thực hiện các quyền này của trẻ em nhiễm HIV trong thực tế

2.1.1 Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh

dự

Con người được coi là vốn quý của xã hội, là đối tượng hàng tuần được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Bảo vệ con người trước hết là bảo vệ tính mạng, thân thể, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của họ vì đó là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với quyền con người Hiến pháp 2013 khẳng định quyền này tại Điều 19 và Điều 20

Đặc biệt, có một số nhóm đối tượng, Nhà nước luôn dành sự quan tâm trong việc chăm sóc và bảo vệ dựa trên những đặc điểm về tâm sinh lý và sức khỏe, trong

đó có trẻ em nhiễm HIV Trong độ tuổi trẻ em, sức khỏe, tâm lý và tinh thần là những yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đển sự phát triển bình thường của trẻ em

Trang 32

nhiễm HIV Trẻ càng nhỏ, càng dễ bị tổn thương và dễ bị xâm phạm Do vậy, được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự là quyền rất quan trọng Trẻ em nhiễm HIV dễ bị kỳ thị, xa lánh và cô lập Do mang trong mình căn bệnh thế kỷ, các em thường bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm và bị phân biệt đối

xử, vì vậy cần phải có những biện pháp thiết thực để đảm bảo các quyền này của trẻ

em nhiễm HIV trong thực tế Để trẻ em nhiễm HIV được phát triển thể chất thì tính mạng, sức khỏe của trẻ cần được bảo vệ, chăm sóc, chữa bệnh Để tâm hồn và tinh thần trẻ em nhiễm HIV được nuôi dưỡng và phát triển bình thường thì trước hết cần phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm của các em Đảm bảo các yếu tố này mới đảm bảo cho trẻ em nhiễm HIV phát triển toàn diện

BLDS 2005 cũng quy định: “Cá nhân có quyền được đảm bảo ăn toàn về

tính mạng, sức khỏe, thân thể” (Điều 25); “Danh dự, nhân phẩm, quy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” (Điều 37) Nhằm cụ thể hóa các

quy định nếu trên, Luật BVCS&GDTE 2004 quy định: “Trẻ em được gia đình, Nhà

nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự”

(Điều 14) và “Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển

bình thường của trẻ đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật” (Điều 6) Hành

vi ngược đãi, hành hạ trẻ em là một trong những hành vi bị ngiêm cấm (Khoản 6 Điều 7 Luật BVCS&GDTE 2004) Theo Điều 8 Nghị định 71/2011/NĐ-CP thì ngược đãi, hành hạ trẻ em được định nghĩa là: Xâm phạm thân thể, đánh đập, đối xử tàn tệ đối với trẻ em; bắt trẻ em nhịn ăn uống, mặc rách; giam hãm trẻ em; bắt trẻ

em sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm; gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng nhục, chửi mắng, đe dọa, làm nhục; dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em, làm trẻ em bị tổn thương, đau đơn về thể xác và tinh thần làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em

Các hành vi đó làm tổn hại nghiêm trọng đến thân thể, sức khỏe và tính mạng của trẻ em nhiễm HIV, gây ra những đau đớn về cả thể xác lẫn tinh thần Cần

có biện pháp ngăn chặn cũng như áp dụng các biện pháp chế tài răn đe và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật đó Chương X Bộ luật hình sự 1999

Trang 33

quy định về người chưa thành niên phạm tội; chương XII quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người đã thể hiện những quan điểm nhân đạo, chính sách quan tâm, bảo vệ trẻ em và quy định những khung hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em

Đảm bảo quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự của trẻ em nhiễm HIV góp phần giảm tỉ lệ trẻ em nhiễm HIV tử vong, bị bạo lực, bị tai nạn thương tích, ngăn chặn tình trạng trẻ em nhiễm HIV rơi vào thế giới ảo, tự kỷ, xa lánh cộng đồng xã hội, để các em thực sự được sống trong môi trường lành mạnh và phát triển bình thường cần có sự phối hợp giữa gia đình, cộng đồng, xã hội và Nhà nước trong việc thực hiện các quyền này

2.1.2 Quyền sống hòa nhập, không bị phân biệt đối xử và bình đẳng trước pháp luật

a) Quyền sống hòa nhập

Quyền sống của các em được cụ thể tại điểm a khoản 1 điều 4 Luật phòng

chống HIV 2006: người nhiễm HIV có quyền “sống hòa nhập với cộng đồng và xã

hội” Luật này đã nhắc tới yếu tố “sống hòa nhập” Như vậy, có thể hiểu quyền

sống của trẻ nhiễm HIV không những là quyền được Nhà nước bảo hộ tính mạng một cách mạnh khỏe, danh dự nhân phẩm được tôn trọng, mà Nhà nước, xã hội dân

sự và cộng đồng còn phải tạo điều kiện để nhóm xã hội này sống hòa nhập với cộng đồng, tham gia vào mọi mặt đời sống chính trị, văn hóa, xã hội… Nhiệm vụ đặt ra không những là xây dựng một trường pháp lý đảm bảo mà còn phải xây dựng một môi trường xã hội thân thiện để giúp trẻ nhiễm HIV gạt bỏ được những rào cản xã hội, sống lành mạnh, tích cực và có ích hơn

b) Quyền không bị phân biệt đối xử và bình đẳng trước pháp luật

Đây là một trong những nguyên tắc nền tảng của luật nhân quyền, đồng thời

đó cũng là một trong những quyền dân sự, chính trị Đối với bất cứ thành viên nào trong xã hội, quyền này cũng vô cùng cần thiết, tuy nhiên đối với người sống chung với HIV nó mang một ý nghĩa đặc biệt Bởi lẽ đây là nhóm người vì phải gánh chịu

Trang 34

sự kỳ thị của xã hội, bị đối xử bất công, chính đây là nguyên nhân sâu xa khiến hàng loạt càng quyền cơ bản của họ bị vi phạm Quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử được ghi nhận trong pháp luật quốc tế tại các công ước và trong pháp luật Việt Nam tại Hiến cũng như pháp luật của quốc gia

Trong pháp luật quốc tế, tại Điều 2 Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948 ghi

nhận: “Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản Tuyên

ngôn này mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác” Quyền này

cũng được tái khẳng định tại Điều 26 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Điều 2 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Bình luận chung số 14 của Ủy ban giám sát thực hiện Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã nêu rõ phân biệt đối xử dựa trên cơ sở bệnh tật trong đó có cả HIV/AIDS cũng vi phạm quyền bình đẳng của con người Điều này cũng được làm

rõ trong Hướng dẫn quốc tế về HIV/AIDS và quyền con người 1996 Trong mục C

phần Những nghĩa vụ quốc tế về quyền con người và HIV/AIDS ghi nhận: “Ủy ban

quyền con người của Liên Hợp Quốc đã khẳng định rằng, cụm từ “những tình trạng khác” trong các quy định về cấm phân biệt đối xử mà đã được nêu ở trên bao gồm tình trạng về sức khỏe, trong đó có việc nhiễm HIV/AIDS” Đồng thời cũng khẳng

định: “cấm phân biệt đối xử có nghĩa là yêu cầu các nhà nước phải rà soát và nếu

cần thiết, sửa đổi hay bổ sung các luật, chính sách và hành động mà tạo ra sự đối

xử tùy tiện mang tính phân biệt trên cơ sở những yếu tố liên quan đến HIV” Như

vậy, có thể hiểu bất cứ các đạo luật, chính sách hay hành động nào tạo ra sự đối xử tùy tiện, sự loại trừ, hạn chế hay ưu đãi nào với mục đích hủy bỏ các quyền con người hay làm giảm sự thừa nhận, sự thực thi hay hưởng thụ quyền con người của những người nhiễm HIV/AIDS đều được coi là phân biệt đối xử và vi phạm quyền bình đẳng Và nghĩa vụ cấp bách được đặt ra với các Nhà nước là chống kỳ thị phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS Đây là nhiệm vụ vừa nhằm mục đích bảo đảm quyền cho những người sống chung với HIV/AIDS vừa là yếu tố cốt

Trang 35

yếu để phòng ngừa sự lây lan của đại dịch Trong “Tuyên bố cam kết về HIV/AIDS” (được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua theo Nghị quyết S – 262 ngày 27/06/2001) đã nêu ra tầm quan trọng của cuộc đấu tranh chống kỳ thị phân biệt đồng thời đưa ra những biện pháp cụ thể cho hành động của mỗi quốc gia Theo

Điểm 13 của Tuyên bố này: “Sự miệt thị, bỏ mặc, phân biệt đối xử và khước từ

cũng như thiếu bảo mật đều làm hạn chế những nỗ lực phòng chống, chăm sóc và điều trị, đồng thời làm gia tăng tác động của đại dịch này đối với mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và dân tộc, và vì vậy những điều này cũng cần phải được xử lý”

Tại Điểm 16 và 58 Tuyên bố cũng đề cập tới xây dựng các chiến lược tăng cường các biện pháp để xóa bỏ phân biệt đối xử kỳ thị đối với người nhiễm HIV/AIDS

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quyền bình đẳng được pháp luật công

nhận và quy định trong Hiến Pháp Tại Điều 16 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi

người đều bình đẳng trước pháp luật”, và được cụ thể hơn trong các văn bản luật

khác như Luật hình sự, Luật dân sự, Luật Tố tụng… Như vậy, mọi người dân không phân biệt về tình trạng sức khỏe đều được đối xử bình đẳng như nhau Trẻ em nhiễm HIV vì thế được đối xử bình đẳng và mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử từ bất cứ chủ thể nào đều bị coi là vi phạm nguyên tắc hiến định này Một trong những

nguyên tắc cơ bản của Luật Phòng chống HIV/AIDS năm 2006 là: “ Không kỳ thị,

phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ; tạo điều kiện để người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ tham gia các hoạt động xã hội, đặc biệt

là các hoạt động phòng, chống HIV” (Khoản 4 Điều 3) Kỳ thị người nhiễm HIV là

thái độ khinh thường hay thiếu tôn trọng người khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV Còn phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là hành vi xa lánh, từ chối, tách biệt, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV Luật cũng quy định cấm việc kỳ thị, phân biệt đối xử trong mọi lĩnh vực đời sống như thông tin, giáo dục, truyền thông về HIV, chăm sóc y tế, nghề nghiệp việc làm, đời sống cộng đồng, mai táng Đồng thời Luật cũng nêu ra việc chống kỳ thị, phân

Trang 36

biệt đối xử với người nhiễm HIV là nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, cán bộ viên chức, các tổ chức xã hội dân sự và toàn thể cộng đồng Bởi lẽ Nhà nước ta đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng một môi trường pháp lý và đạo đức đảm bảo cho người sống chung với HIV, trong đó có trẻ em là phương pháp đối phó hữu hiệu nhất với đại dịch này

2.1.3 Quyền sống và quyền đƣợc đảm bảo sức khỏe ở mức cao nhất

Quyền sống là dân sự cơ bản và quan trọng nhất đối với bất kỳ ai Chỉ khi nào con người được hưởng quyền này thì mới có điều kiện để thụ hưởng bất kỳ quyền nào khác Tuy vậy, trẻ em nhiễm HIV là nhóm xã hội mà quyền sống bị đe dọa xâm hại nhiều nhất Trẻ em nhiễm HIV sơ sinh, các em thường bị bỏ rơi ngay

từ khi mới sinh ra, phần lớn khi được phát hiện, các em đều đã tử vong Đối với các

em nhiễm HIV không bị bỏ rơi chăng nữa, thể trạng của các em cũng non nớt, yếu hơn người bình thường Đồng thời sự phân biệt kỳ thị các em phải chịu khiến các

em không có điều kiện tiếp xúc với các phương pháp y tế khoa học tiên tiến Để bảo

vệ quyền này của trẻ em dương tính với HIV, các văn bản pháp luật nhân quyền quốc tế đã có những quy định cụ thể Tại Điều 3 Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế

ghi nhận: “Mọi người đều có quyền sống”, và được làm rõ hơn tại Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966: “Mọi người đều có quyền cố hữu là

được sống Quyền này phải được pháp luật bảo vệ Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tùy tiện”

Quyền sống của trẻ em nhiễm HIV có liên quan chặt chẽ với quyền được đảm bảo sức khỏe về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất Đối với trẻ em nhiễm HIV, quyền sống được thể hiện qua quyền được đảm bảo sức khỏe về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất Quyền này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với trẻ

em nhiễm HIV Bởi vì những trẻ này là những người đang hàng ngày phải chống chọi với bệnh dịch, không những sức khỏe của các em bị đe dọa mà họ còn bị tổn thương nặng nề về mặt tinh thần khi luôn chịu sự kỳ thị xa lánh từ phía cộng đồng Quyền được đảm bảo sức khỏe của nhóm các em này thường xuyên bị đe dọa xâm hại Đặc biệt người nhiễm HIV có thể trạng yếu hơn và cần phải được chăm sóc

Trang 37

theo một quy trình đặc biệt Chính vì vậy quyền được chăm sóc sức khỏe của trẻ em nhiễm HIV còn có nghĩa họ có quyền được tiếp cận một cách thuận tiện nhất với những dịch vụ, biện pháp làm chậm lại quá trình diễn biến xấu của bệnh Đồng thời quyền này cũng quy định nghĩa vụ ngăn chặn hành vi phân biệt đối xử trong chăm sóc y tế

Trong Hiến pháp Việt Nam 2013 Điều 38 cũng ghi nhận: “Mọi người có

quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe” Cụ thể liên quan trực tiếp tới quyền được

bảo vệ sức khỏe của người sống chung với HIV tại điểm b khoản 1 Điều 4 Luật phòng chống HIV/AIDS năm 2006 ghi nhận người nhiễm HIV có quyền được điều trị và chăm sóc sức khỏe Chương IV luật này cũng quy định về việc điều trị, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV trong đó có trẻ em nhiễm HIV Theo đó trẻ em nhiễm HIV được giải thích về HIV, được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe,

tư vấn y tế; điều trị theo phác đồ; uống thuốc kháng HIV thông qua các dự án, được Quỹ BHYT chi trả các chi phí khám chữa bệnh khi tham gia BHYT… Đồng thời quy định trách nhiệm chăm sóc, cứu chữa bệnh nhân AIDS thuộc về Nhà nước, xã hội, cộng đồng Pháp luật quy định trách nhiệm của Nhà nước và cộng đồng tạo ra một môi trường tốt nhất để trẻ em nhiễm HIV có điều kiện bảo vệ sức khỏe của mình một cách tốt nhất

Để đảm bảo cho trẻ em nhiễm HIV được hưởng quyền này, Luật BVCS&GDTE 2004 quy định rõ trách nhiệm bảo vệ sức khỏe cho trẻ em nhiễm HIV thuộc về cha mẹ, các cơ sở y tế, các bộ ngành liên quan Theo đó, cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng, khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ Cơ sở y tế công lập có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng bệnh, chữa bệnh cho trẻ em nhiễm HIV Bộ GD&ĐT có trách nhiệm tổ chức y tế học đường Đồng thời, Nhà nước có chính sách phát triển sự nghiệp y tế, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; có chính sách miễn, giảm phí khám, chữa bệnh; đầu

tư xây dựng bệnh viện nhi, trang bị cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em nhiễm HIV Xây dựng mạng lưới y tế cộng

Trang 38

đồng phòng tránh bệnh cho trẻ em nhiễm HIV, đảm bảo nguồn y, bác sĩ phục vụ chăm sóc, khám và chữa bệnh cho trẻ em nhiễm HIV Khuyến khích tổ chức, cá nhân hoạt động nhân đạo, từ thiện, ủng hộ kinh phí điều trị bệnh cho trẻ em nhiễm HIV mắc bệnh hiểm nghèo hay trong tình trạng khó khăn, thiếu thốn Như vậy, Nhà nước đã có sự quan tâm đặc biệt đến công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em nhiễm HIV với nhiều chính sách ưu tiên và mang tính hỗ trợ, tạo điều kiện cho trẻ có sức khỏe và phát triển an toàn, lành mạnh

2.1.4 Quyền về giữ bí mật đời tƣ

Quyền giữ bí mật đời tư là quyền con người của trẻ em nhiễm HIV Tại Điều

17 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị có quy định bảo vệ quyền này:

“Không ai có thể bị xâm phạm trái phép hay độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín hoặc bị xúc phạm trái phép đến danh dự và thanh danh”, “ai cũng có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy” Các Hướng dẫn quốc tế về

quyền con người và HIV cũng giải thích rõ: “Quyền về đời tư bao gồm các nghĩa vụ

tôn trọng tính riêng tư về thể chất, kể cả những nghĩa vụ phải tôn trọng sự tự nguyện trong việc xét nghiệm HIV và bảo mật thông tin, cũng như tôn trọng nhu cầu được tôn trọng tính bảo mật của tất các thông tin cá nhân liên quan đến tình trạng lây nhiễm HIV của một người” Mọi hành vi mang tính chất cưỡng bức trong

việc bắt buộc xét nghiệm HIV và mọi sự quy kết, phân biệt đối xử kèm theo những tổn hại về đời tư và tính bảo mật về tình trạng có HIV của một người bị công khai hóa đều bị coi là sự xâm phạm quyền về đời tư

Pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận quyền về đời tư của công dân trong Hiến pháp Tại Điều 21 Hiến pháp 2013 quy định quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, điện thoại, điện tín, thư tín Mọi vấn đề liên quan đến tài sản, sức khỏe, công việc, bệnh tật, thu nhập, giấy tờ hộ tịch… đều được coi là bí mật đời tư và được pháp luật bảo vệ Như vậy, trẻ nhiễm HIV, với tư cách con người và là chủ thể của các quyền

cơ bản, nên quyền về đời tư của các em cũng được pháp luật bảo vệ Pháp luật Việt Nam đã xây dựng cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời tư của trẻ em nhiễm HIV dựa trên những chuẩn mực quốc tế Theo Hướng dẫn quốc tế về quyền con người và

Trang 39

HIV, quyền về đời tư của trẻ em nhiễm HIV nổi lên hai khía cạnh cơ bản: quyền được tự nguyện trong việc xét nghiệm HIV và quyền được bảo mật thông tin cá nhân liên quan đến tình trạng HIV của bản thân Cả hai khía cạnh này của quyền về đời tư đều được pháp luật Việt Nam ghi nhận đầy đủ trong Luật phòng chống HIV/AIDS 2006

Thứ nhất, về khía cạnh bảo mật thông tin cá nhân của trẻ em nhiễm HIV được ghi nhận tại Điểm d Khoản 1 Điều 4 Luật Phòng chống HIV/AIDS 2006:

“được giữ bí mật riêng tư liên quan đến HIV”của trẻ em nhiễm HIV Luật cũng quy

định về những hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 8, trong đó việc “công khai tên, địa

chỉ, hình ảnh của người nhiễm HIV hoặc tiết lộ cho người khác biết việc một người nhiễm HIV khi chưa được sự đồng ý của người đó” cũng là một hành vi bị nghiêm

cấm tuyệt đối Đây là một khía cạnh cơ bản của quyền về đời tư của các em bị nhiễm HIV Trong bối cảnh hiện nay, những kiến thức của cộng đồng về HIV cũng

đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên vẫn còn một số lượng lớn người dân cho rằng HIV thực sự đáng sợ và trẻ em nhiễm HIV bản thân có tư cách không tốt hoặc xuất thân từ gia đình “không ra gì”, là mối hiểm họa cho xã hội Chính vì vậy nếu quyền được giữ bí mật riêng tư bị vi phạm, trẻ em nhiễm HIV sẽ rơi vào tình trạng không lối thoát, bị cộng đồng quay lưng và trở nên bế tắc, bị tổn thương sâu sắc về mặt tinh thần từ đó sẽ không có niềm tin để chống trọi lại với căn bệnh mà mình đang mang Vì thế quyền được giữ bí mật riêng tư là yếu tố quan trọng giúp trẻ em nhiễm HIV có thể sống hòa nhập với cộng đồng, tự tin để điều trị, chữa bệnh

Thứ hai, việc cưỡng bức xét nghiệm HIV, cũng là hành vi vi phạm quyền về đời tư của trẻ em nhiễm HIV Tại khoản 7 Điều 8 Luật Phòng chống HIV 2006 quy định hành vi cưỡng ép, bắt buộc người khác xét nghiệm HIV đều là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm Đồng thời pháp luật Việt Nam cũng quy định cụ thể các trường hợp bắt buộc phải xét nghiệm HIV, đó là khi có yêu cầu trưng cầu giám định tư pháp hoặc quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Tòa án nhân dân; xét nghiệm HIV trong trường hợp cần thiết để chẩn đoán và điều trị theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; xét nghiệm trước khi tuyển dụng cá nhân vào một

Trang 40

số nghề nghiệp nhất định theo danh mục nghề do Chính phủ quy định… Như vậy, ngoài những trường hợp pháp luật quy định mọi hành vi cưỡng bức một người xét nghiệm liên quan đến HIV đều vi phạm quyền về đời tư

Hai khía cạnh trên tạo thành tổng thể quyền về đời tư của trẻ em nhiễm HIV

Nó là một quyền dân sự cơ bản, giúp trẻ em nhiễm HIV có thể được an tâm và sống hòa nhập với cộng đồng Người lớn và các cơ quan chức năng chính là những người

có trách nhiệm đảm bảo việc thực hiện các quyền này của trẻ em nhiễm HIV trong thực tế

2.1.6 Quyền đƣợc học tập, giáo dục

Con người cần phải được đi học, được giáo dục để có thể phát triển một cách toàn diện Tuy nhiên trẻ em nhiễm HIV lại có nguy cơ cao bị xâm hại quyền này

Quyền được giáo dục được quy định tại Điều 28 Công ước về QTE: khuyến

nghị các quốc gia thành viên “thừa nhận quyền của trẻ em được học hành” Liên

quan tới trẻ em bị nhiễm HIV tại Hướng dẫn số 8 các Hướng dẫn quốc tế cũng đưa

ra định hướng trẻ em nhiễm HIV hoặc trẻ em sống trong gia đình có cha mẹ nhiễm HIV vẫn có quyền đến trường, được tiếp cận với việc giáo dục, đào tạo Ủy ban QTE cũng nhấn mạnh phổ cập tiểu học là bắt buộc đối với tất cả mọi trẻ em đến độ tuổi đến trường không phân biệt thành phần, kể cả trẻ em đó có tình trạng liên quan đến HIV

Phù hợp với tinh thần luật pháp quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng đã dành nhiều sự quan tâm và bảo vệ quyền học tập của trẻ em Hiến pháp 2013 một lần nữa khẳng định: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (Điều 39) Quyền học tập còn được cụ thể hóa trong nhiều văn bản khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Luật BVCS&GDTE 2004 khẳng định: “Trẻ em có quyền được học tập”, “Trẻ em

học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí” (Điều

16) Theo quy định của pháp luật Việt Nam, bậc tiểu học là bậc giáo dục bắt buộc đối với mọi trẻ em Mọi trẻ em không phân biệt điều kiện, hoàn cảnh, tình trạng sức khỏe đều được bình đẳng về cơ hội học tập và được Nhà nước tạo điều kiện cho học tập Quy định này nhằm xóa bỏ sự bất bình đẳng, xóa bỏ tận gốc rễ những quan

Ngày đăng: 20/03/2018, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w