Thực tiễn xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng cho thấy những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ THANH HUYỀN
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60380104
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Hương
HÀ NỘI – NĂM 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Văn Hương
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Thị Thanh Huyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể quý thầy cô Trường Đại học Luật Hà Nội, quý thầy cô khoa Luật hình sự và tố tụng hình sự đã dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian nghiên cứu và rèn luyện tại trường Tác giả xin đặc biệt cảm ơn thầy hướng dẫn khoa học – TS Nguyễn Văn Hương, người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Nhận thức là một quá trình, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của quý thầy cô để hoàn thiện luận văn thạc sĩ và củng cố kiến thức của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 8 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Thị Thanh Huyền
Trang 4BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự
CTTP Cấu thành tội phạm
Nxb Nhà xuất bản
Trang 5MỤC LỤC
Trang
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn 4
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM
ĐOẠT TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
6
1.1 Khái niệm, đặc điểm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo
pháp luật hình sự Việt Nam
6
1.1.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 6 1.1.2 Đặc điểm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 7 1.2 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình
sự Việt Nam từ năm 1945 đến Bộ luật hình sự năm 2015
8
1.2.1 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình
sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước Bộ luật hình sự năm 1985
8
1.2.2 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự
năm 1985
11
1.2.3 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự
năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
12
Trang 61.2.4 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự
năm 2015
13
CHƯƠNG 2: TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999
16
2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 16 2.1.1 Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 16 2.1.2 Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 17 2.1.3 Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 19 2.1.4 Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 29 2.2 Dấu hiệu định khung hình phạt và hình phạt của tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản
2.3.1 Phân biệt với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 48
2.3.3 Phân biệt với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài
sản
52
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Trang 73.1.2 Một số vướng mắc trong việc áp dụng quy định của Bộ luật
hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
58
3.2 Một số biện pháp bảo đảm thi hành quy định của Bộ luật hình
sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền sở hữu tài sản luôn được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo vệ Mọi hành vi xâm đến quyền sở hữu tài sản đều bị nghiêm trị trước pháp luật, đặc biệt là các hành vi bị coi là tội phạm Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tình hình tội phạm nói chung và các tội xâm phạm sở hữu nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp, trong đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Loại tội phạm này không chỉ có xu hướng tăng về số lượng vụ án và người phạm tội bị đưa ra xét xử hàng năm mà còn có phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, gây thiệt hại lớn cho xã hội
Thực tiễn xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng cho thấy những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành (Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội này trong công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như trong việc chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc nhận thức khác nhau về việc áp dụng quy định của Bộ luật hình sự khi tiến hành xử lý hình sự đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản Cá biệt, có một số trường hợp nhầm lẫn trong việc định tội danh, áp dụng không đúng quy định pháp luật, thậm chí không làm sáng tỏ được ranh giới giữa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác hoặc không phân biệt được giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt khác trong Bộ luật hình
sự dẫn đến tình trạng oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm
Bên cạnh đó, Bộ luật hình sự năm 2015 được ban hành cũng quy định nhiều nội dung mới nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu của công tác phòng ngừa
và đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới Trong đó quy định về tội
Trang 9lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng được sửa đổi, bổ sung nhiều điểm quan trọng, mặc dù thể hiện những hạt nhân hợp
lý phù hợp với thực tiễn nhưng cũng bộc lộ nhiều khó khăn, thách thức khi áp dụng quy định mới về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản này để giải quyết các vụ việc trên thực tế
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
trong pháp luật hình sự Việt Nam” là cần thiết, nhằm thống nhất nhận thức
trong việc áp dụng quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự hiện hành và Bộ luật hình sự năm 2015 sắp có hiệu lực thi hành, góp phần khắc phục những khó khăn, vướng mắc vẫn còn tồn tại để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm này trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được đề cập đến trong các giáo trình của các trường Đại học, Học viện đào tạo về luật, sách chuyên khảo và được các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
* Nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung và trong một số lĩnh vực cụ thể dưới góc độ tội phạm học và điều tra tội phạm có luận án tiến sĩ của một số tác giả sau đây:
- Lê Đăng Doanh (2008), Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội
- Phạm Xuân Định (2008), Điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhà
nước, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội
- Bùi Quốc Dũng (2013), Điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong
xuất khẩu lao động ở Việt Nam, Luận án Tiễn sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát
nhân dân, Hà Nội
Trang 10* Nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ khoa học luật hình
sự và tội phạm học có luận văn thạc sĩ của một số tác giả sau:
- Trần Thị Phương Hiền (2007), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản – Những vấn
đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội
- Nguyễn Tiến Dũng (2014), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật hình
sự Việt Nam – Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định,
Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
* Nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ tội phạm học có luận văn thạc sĩ của một số tác giả sau:
- Ngô Toàn Thắng (2012), Phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa
bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội
- Trần Văn Việt (2015), Phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa
bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên chủ yếu mới chỉ nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học và điều tra tội phạm, trong đó có một số luận văn thạc sĩ cũng nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ khoa học luật hình sự nhưng tình hình tội phạm trong giai đoạn này đã có nhiều thay đổi và diễn biến phức tạp và với việc ban hành Bộ luật hình sự năm 2015, các công trình nghiên cứu trên đã thể hiện những điểm không còn phù hợp với thực tiễn
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam
Trang 11- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 dưới góc độ khoa học luật hình sự
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu nhằm làm rõ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đánh giá thực tiễn xét xử tội phạm này, qua đó
đề xuất các biện pháp bảo đảm thi hành quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm này trong thời gian tới
5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn phải trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu dưới đây:
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã trải qua quá trình lập pháp hình sự như thế nào? Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam là gì?
- Các dấu hiệu pháp lý, dấu hiệu định khung hình phạt và hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam như thế nào?
- Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội khác có dấu hiệu pháp lý tương tự trong pháp luật hình sự Việt Nam?
- Thực tiễn xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn tồn tại những vướng mắc gì? Cần có những biện pháp bảo đảm thi hành quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như thế nào?
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời sử dụng các
Trang 12phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, thống kê…
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Về mặt khoa học: Luận văn góp phần bổ sung, từng bước hoàn thiện vào hệ thống lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật Việt Nam; đồng thời luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học luật hình sự
- Về mặt thực tiễn: Những đề xuất bảo đảm thi hành quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Khái quát chung về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong
pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Việt
Nam năm 1999
Chương 3: Thực tiễn xét xử và một số biện pháp bảo đảm thi hành quy
định của Bộ luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 13CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, đặc điểm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì “lừa đảo” được hiểu là việc“lừa
bằng thủ đoạn xảo trá để chiếm lấy của cải, tài sản” 1 Tuy nhiên, đây chỉ là cách hiểu thông thường về khái niệm “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xem xét hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ là một hiện tượng xã hội tiêu cực
Trong BLHS Việt Nam, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản luôn được quy
định tại chương các tội xâm phạm sở hữu Do đó, khái niệm tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản phải thể hiện được đồng thời đặc điểm chung của các tội xâm phạm sở hữu và đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Căn cứ vào khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), khoa học luật hình sự đưa ra
khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu như sau: “Các tội xâm phạm sở hữu là
hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân” 2 Khái niệm đã khái quát được những đặc điểm chung về khách thể, chủ thể và mặt chủ quan của của các tội xâm phạm sở hữu
Điều 139 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối
chiếm đoạt tài sản của người khác…” Căn cứ vào quy định trên, khoa học
Trang 14luật hình sự đã đưa ra khái niệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ
pháp lý như sau: “(Tội) lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài
sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối” 3 Hành vi chiếm đoạt tài sản phải được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội biết tài sản chiếm đoạt đang có người chiếm hữu, quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình Khái niệm mới chỉ thể hiện những đặc trưng cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dựa trên đặc điểm của hành vi khách quan
Từ những phân tích trên, khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được
định nghĩa như sau: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài
sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân
1.1.2 Đặc điểm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Thứ nhất, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm hại đến quyền sở hữu tài
sản của nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc tác động lên đối tượng là tài sản đang thuộc sự quản lý của người khác đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người đó Chính
vì đặc điểm này mà tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xếp vào Chương XIV
- Các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Thứ hai, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện bởi người có
năng lực trách nhiệm hình sự Đây cũng là đặc điểm chung của mọi tội phạm, theo nguyên tắc có lỗi của luật hình sự thì một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi gây thiệt hại cho xã hội khi người đó có lỗi và vấn
đề lỗi chỉ được đặt ra khi người đó có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là họ
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập II), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội [tr.37]
Trang 15đã đạt độ tuổi luật định và không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
Thứ ba, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của
người khác bằng thủ đoạn gian dối Hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi khách quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và ở mỗi tội cụ thể hành vi chiếm đoạt lại có những đặc điểm riêng Đối với tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản thì hành vi chiếm đoạt phải được thực hiện “bằng thủ đoạn gian
dối”, tức là người phạm tội đưa ra các thông tin không đúng sự thật để người
khác tin là thật để chiếm đoạt tài sản của người đó
Thứ tư, lỗi của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là lỗi cố ý
trực tiếp Cũng như các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt khác, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người chiếm hữu, quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình
1.2 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến Bộ luật hình sự năm 2015
1.2.1 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước Bộ luật hình sự năm 1985
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tích cực ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ
xã hội mới, củng cố chính quyền, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và nhân dân với việc ban hành nhiều văn bản pháp luật khách nhau: Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/2/1946 về các tội phá hoại công sản; Sắc lệnh số 223-SL ngày 27/11/1946 về tội biển thủ tiền công; Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/3/1949 về tội trộm cắp tài sản quốc phòng trong thời chiến; Thông tư số 442-TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng chính phủ về một số tội phạm… Tội lừa đảo chiếm
Trang 16đoạt tài sản mới được đề cập đến một cách giản đơn là nêu tên tội danh mà không mô tả cụ thể hành vi phạm tội trong Thông tư số 442-TTg
Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm và bảo vệ có hiệu quả tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản riêng của công dân, ngày 21/10/1970 Nhà nước ta đã ban hành hai văn bản pháp luật hình sự, đó là Pháp lệnh số 149 – LCT về việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh
số 150 - LCT về việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân
Trong hai pháp lệnh trên, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng đã được quy định cụ thể thành hai tội danh tương ứng với hai hình thức sở hữu (sở hữu xã hội chủ nghĩa và sở hữu của công dân) là tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 10 Pháp lệnh số 149 – LCT và tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân quy định tại Điều 7 Pháp lệnh số 150 – LCT
Điều 10 Pháp lệnh số 149-LCT quy định về tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được mô tả là
những hành vi “dùng giấy tờ giả mạo, gian lận trong việc cân, đong, đo, đếm,
tính hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác chiếm đoạt tài sản…”
Tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân được quy định tại Điều 7 Pháp lệnh 150 – LCT Khác với tội lừa đảo để chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân được mô tả là
những hành vi “dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản…” và tách hành vi
“cân, đong, đo, đếm, tính gian, không chấp hành chính sách giá cả đã quy định, đánh tráo loại hàng…” thành hành vi khách quan của tội gian lận để
chiếm đoạt tài sản riêng của khách hàng (Điều 10 Pháp lệnh 150 – LCT)
Thông tư liên bộ - Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an ngày 10/3/1973 đã hướng dẫn thống nhất nhận thức
về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hai pháp lệnh Theo Thông tư này,
Trang 17lừa đảo là hành vi của kẻ chiếm đoạt tài sản hiện đang do người khác quản
lý, bằng cách dùng mọi thủ đoạn gian dối làm cho người quản lý tài sản nhầm, tưởng giả là thực mà giao tài sản
Sau khi thống nhất đất nước, ở miền nam nước ta, Hội đồng chính phủ Cách mạng lâm thời ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định
về tội phạm và hình phạt nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở miền nam lúc bấy giờ Điều 4 và Điều 8 của Sắc luật số 03-SL/76 có quy định về các tội xâm phạm đến tài sản công cộng và tài sản riêng của công dân nhưng chỉ dừng lại ở việc nêu các tội danh mà không mô tả các dấu hiệu của tội phạm, bao gồm cả tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Do đó, trong Thông
tư số 03-BTP/TT tháng 4/1976 của Bộ tư pháp giải thích Sắc luật số 03-SL/76
đã phải hướng dẫn về hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản công cộng và
hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân là những “hành vi
chiếm đoạt tài sản…đang do người khác quản lý, bằng cách dùng mọi mánh khóe, thủ đoạn gian dối, bịp bợm, làm cho người quản lý tài sản tin nhầm mà giao cho tài sản đó.”
Như vậy, trong giai đoạn này ở hai miền nam – bắc tồn tại hai văn bản pháp luật khác nhau cùng quy định về các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, đó là hai Pháp lệnh ngày 21/10/1970
và Sắc luật số 03-SL/76, gây khó khăn cho việc áp dụng trên thực tế Vì vậy,
để áp dụng thống nhất pháp luật hình sự, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành
Sơ thảo Chỉ thị số 54/TATC ngày 6/7/1977 hướng dẫn việc thi hành pháp luật thống nhất, theo văn bản này thì ở miền bắc vẫn tiếp tục áp dụng hai Pháp lệnh ngày 21/10/1970 và ở miền nam áp dụng Sắc luật số 03-SL/76 nhưng có tham khảo điều khoản tương ứng của Pháp lệnh ngày 21/10/1970 để nắm rõ được dấu hiệu của các tội phạm và các mức hình phạt hợp lý hơn Tuy nhiên, đây chỉ là văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao nhằm thống nhất
Trang 18đường lối xét xử, cần thiết phải có một văn bản pháp luật hình sự thống nhất được áp dụng trên toàn quốc
1.2.2 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự năm
1985
Trong BLHS năm 1985, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định tại Điều 134 và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân được quy định tại Điều 157 Về cơ bản, CTTP của các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm 1985 được mô tả tương tự như hai Pháp lệnh ngày
21/10/1970 là những hành vi “bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản…”
và được sửa đổi, bổ sung một số nội dung để phù hợp với tình hình diễn biến mới của tội phạm
Với những thành tựu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ năm
1986, nền kinh tế nước ta có sự phát triển mạnh mẽ nhưng tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu cũng có nhiều diễn biến phức tạp Nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh chống tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997
Trong sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất năm 1989 đã bổ sung thêm tình tiết
“có tính chất chuyên nghiệp” làm tình tiết định khung tăng nặng cho cả hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân Lần sửa đổi, bổ sung thứ hai năm 1991 đã nâng khung hình phạt cao nhất đối với cả hai tội đến tử hình Trong sửa đổi bổ sung lần thứ ba
năm 1992 có quy định thêm tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi
dụng danh nghĩa cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội để phạm tội” đối với tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa Trong sửa đổi, bổ sung lần cuối cùng năm 1997, tình tiết lợi dụng chức vụ, quyền hạn được tách thành một tội
Trang 19độc lập là tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134a)
1.2.3 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự năm
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Mặc dù đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần nhưng BLHS năm 1985 vẫn bộc lộ nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước Để đáp ứng kịp thời yêu cầu đấu tranh chống tội phạm nói chung và các tội xâm phạm sở hữu nói riêng, BLHS năm 1999 ra đời đã nhập hai chương của BLHS năm 1985 là chương IV và chương VI thành một chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu", trong đó tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung
năm 2009) vẫn được mô tả là hành vi “bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài
sản…” và có một số nội dung mới so với quy định của BLHS năm 1985, cụ
thể như sau:
Thứ nhất, nhà làm luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt làm ranh giới giữa hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị coi là tội phạm với hành vi lừa đảo chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính Theo quy định tại Điều 139 BLHS năm 1999 thì hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm nghìn đồng trở lên hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính
về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì mới coi là tội phạm Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của BLHS số 37/2009/QH12 đã nâng giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ mức năm trăm ngàn đồng lên mức hai triệu đồng để phù hợp với tình hình thực tiễn
Thứ hai, các tình tiết định khung hình phạt cũng được quy định cụ thể hơn so với BLHS năm 1985 và bỏ những tình tiết không phù hợp với lý luận
Trang 20và thực tiễn xét xử như “phạm tội có nhiều tình tiết quy định ở khoản 2 thì
thuộc trường hợp ở khoản 3, có nhiều tình tiết quy định ở khoản 3 thì thuộc trường hợp quy định ở khoản 4”
Thứ ba, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) bổ sung thêm hình phạt chính là hình phạt cải tạo không giam giữ đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Hình phạt bổ sung của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định ngay trong điều luật (khoản 5 Điều 139)
BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) với việc quy định một tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) đã khắc phục được hạn chế của BLHS năm 1985, theo đó, mọi hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc bất cứ hình thức sở hữu nào cũng đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cùng một tội danh và trong cùng một phạm vi chế tài của điều luật (Điều 139) Qua đó thể hiện sự đối xử bình đẳng của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mọi thành phần kinh tế thuộc các hình thức sở hữu khác nhau Đồng thời, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng đã quy định tương đối chặt chẽ và hoàn thiện về các dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như hình phạt đối với người phạm tội, nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc áp dụng trên thực tế
1.2.4 Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự năm
2015
Sự ra đời của Hiến pháp năm 2013 với việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền con người, quyền công dân đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, trong đó có BLHS năm 1999 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009) BLHS năm 2015 được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành BLHS năm 1999; kế thừa và phát triển các quy định còn phù hợp, đồng thời bổ sung những quy định mới để giải quyết những vướng mắc, bất cập đang đặt ra trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
Trang 21Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 thuộc Chương XVI – Các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 2015 Về cơ bản, các dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm 2015 vẫn tiếp tục được quy định như quy định của BLHS năm 1999 Theo quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên thì bị coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng thì hành vi bị coi là tội phạm khi thuộc trường hợp sau:
Một là, người phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm Trường hợp này tương tự như quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Hai là, người phạm tội đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của BLHS năm 2015 chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Trường hợp này Bộ luật
2015 đã quy định ngay trong Bộ luật dưới dạng liệt kê các tội cụ thể để xem
xét trường hợp người phạm tội “đã bị kết án” thay vì quy định một cách khái quát “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản” như BLHS năm 1999 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009) và sau đó hướng dẫn “tội chiếm đoạt tài sản” là những tội
nào trong Thông tư liên tịch số BTP ngày 25/12/2001 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999
02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-Ba là, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại Đây là hai trường hợp mới được quy định trong BLHS năm 2015 để đáp ứng yêu cầu phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tình hình mới, tăng cường bảo vệ quyền tài sản, đặc
Trang 22biệt là đối với các tài sản có giá trị về tinh thần của người dân Tuy nhiên, việc xác định một tài sản được coi là có “giá trị đặc biệt về mặt tinh thần” rất trừu tượng, không có chuẩn mực thống nhất và chủ yếu phụ thuộc vào thái độ chủ quan của người bị hại
BLHS năm 2015 bỏ các tình tiết định khung có tính chất định tính như
“gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và
thay thế bằng các tình tiết định khung tăng nặng mang tính định lượng như
“chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này” Việc thay thế các tình tiết định tính bằng các tình tiết
định lượng dựa trên giá trị tài sản bị chiếm đoạt tuy đảm bảo tính khách quan
và thống nhất cho BLHS nhưng cũng thể hiện những bất cập nhất định
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm chung về các tội xâm phạm sở hữu và khái niệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong khoa học luật hình sự, tác giả đã đưa ra khái niệm cụ thể về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và phân tích các đặc điểm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu khái quát quá trình lập pháp của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ năm
1945 cho đến Bộ luật hình sự năm 2015, cho thấy quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày càng được bổ sung và dần hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm này trong từng giai đoạn cụ thể Việc nghiên cứu những nội dung trên nhằm khái quát chung về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam, góp phần xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý cho việc nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong các chương tiếp theo của luận văn
Trang 23CHƯƠNG 2 TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS năm
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) (sau đây gọi là BLHS) như sau:
“1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hình chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa
án tích mà còn vi phạm thì…”
2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
2.1.1 Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và
bị tội phạm xâm hại Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu Do đó, khách thể loại và khách thể trực tiếp của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ
Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt tài sản được tôn trọng và bảo vệ.5 Quan hệ sở hữu được xác lập giữa một bên là chủ tài sản có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình và một bên là những người khác có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu của chủ tài sản đó Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản làm mất khả năng chiếm hữu, quản lý tài sản trên thực tế của chủ tài sản, vi phạm nghĩa vụ tôn
4
Bộ luật hình sự năm 2015 đã được ban hành ngày 27/11/2015 nhưng chưa có hiệu lực thi hành cho đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành (theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2015 của Quốc hội khóa XIII) Vì vậy, luận văn nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự hiện hành – BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đồng thời có sự đánh giá, so sánh với quy định về tội này trong Bộ luật hình sự năm 2015
5
Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 169) và Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 163) đều ghi nhận quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Theo đó, không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản của mình
Trang 24trọng quyền sở hữu của chủ tài sản, qua đó xâm phạm đến quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ
Mọi tội phạm đều có đối tượng tác động nhất định Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tài sản.6
Tài sản là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải là tài sản đang nằm trong sự quản lý của chủ tài sản, bởi đặc trưng của hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản mất hẳn khả năng chiếm hữu, quản
lý tài sản trên thực tế và tạo khả năng đó cho người chiếm đoạt, vì vậy chỉ khi tài sản đang nằm trong sự chiếm hữu, quản lý chủ tài sản thì mới nói đến hành
vi “làm mất” khả năng đó Do đó, tài sản bị thất lạc (bị mất, bị bỏ quên, bị đánh rơi) không thể là đối tượng của hành vi chiếm đoạt nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng
2.1.2 Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Chủ thể của tội phạm theo quy định của BLHS chỉ có thể là cá nhân Cá nhân phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định
và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể
Trong BLHS Việt Nam không quy định thế nào là người có năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự Trên cơ sở các quy định đó, khoa học luật hình sự đưa ra định nghĩa về người có năng lực trách nhiệm
6
Tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
Trang 25hình sự “là người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc
trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự”.7
Năng lực trách nhiệm hình sự chỉ được hình thành khi con người đã đạt
độ tuổi nhất định và sẽ tiếp tục phát triển hoàn thiện trong thời gian tiếp theo Theo BLHS Việt Nam thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác; người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Tuy nhiên, năng lực trách nhiệm hình sự cũng có thể bị hạn chế hoặc bị loại trừ hoàn toàn nếu người đó bị mắc các bệnh làm rối loạn hoạt động bình thường của bộ não Chính vì vậy, luật hình sự ngoài việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự còn quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự Theo quy định tại Điều 13 BLHS thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự mà phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
Trong thực tiễn áp dụng, khi đánh giá về năng lực trách nhiệm hình sự của một cá nhân chỉ đòi hỏi việc xác định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nếu có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người đó thì mới cần kiểm tra xem có phải là trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự hay không
Căn cứ vào những quy định trên, chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên đối với mọi trường hợp phạm tội hoặc người
từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 139 BLHS và không thuộc trường hợp không
7
Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập I), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội [tr 123]
Trang 26có năng lực trách nhiệm hình sự Vì căn cứ vào cách phân loại tội phạm (khoản 3 Điều 8 BLHS) thì trường hợp phạm tội theo khoản 3 Điều 139 là tội phạm rất nghiêm trọng do có mức cao nhất của khung hình phạt đến mười lăm năm tù và khoản 4 Điều 139 là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do có mức cao nhất của khung hình phạt đến hai mươi năm tù hoặc tù chung thân
Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường, tức là mọi
cá nhân đạt độ tuổi luật định, không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS thì đều có thể trở thành chủ thể của tội này
BLHS năm 2015 quy định khác về chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Theo Điều 12 BLHS năm 2015 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình
Căn cứ vào quy định của BLHS năm 2015 thì chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015; người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với mọi trường hợp phạm tội
2.1.3 Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Mặt khách quan của tội phạm bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu
Trang 27quả, và các điều kiện bên ngoài khác của việc thực hiện hành vi phạm tội như công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội…
2.1.3.1 Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trong mặt khách quan của tội phạm thì hành vi khách quan là biểu hiện
cơ bản và được phản ánh trong tất cả các CTTP, không có hành vi khách quan thì không có tội phạm Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được mô tả trong CTTP cơ bản (khoản 1 Điều 139 BLHS) là hành vi bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác Tuy nhiên không phải mọi hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chỉ cấu thành tội này khi tài sản bị chiếm đoạt
có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
Có hai quan điểm khác nhau về hành vi khách quan của tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Hành vi phạm tội của tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi khác nhau Đó là hành vi lừa dối
và hành vi chiếm đoạt Giữa hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối.” 8 Theo
quan điểm này, hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hai hành vi là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Do đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là
“chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối” 9 Theo quan điểm
này, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là
Đinh Văn Quế (2002), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự - Phần các tội phạm, Tập 2: Các tội xâm phạm
sở hữu (bình luận chuyên sâu), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh [tr.111]
Trang 28hành vi chiếm đoạt, “thủ đoạn gian dối” được mô tả trong CTTP của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không được coi là một hành vi độc lập mà chỉ là phương thức để thực hiện hành vi
Theo quan điểm cá nhân, tác giả đồng ý với quan điểm thứ nhất, coi hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hai hành vi: hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt Bởi lẽ, mặc dù BLHS quy định trong
CTTP của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là “thủ đoạn gian dối”, tuy nhiên bất
kể thủ đoạn nào cũng đều phải được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi nhất định “Gian dối” là việc đưa ra những thông tin giả, không đúng sự thật, xét cho cùng đó chính là hành vi được ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển Hơn nữa, thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải được biểu hiện bằng những hành vi lừa dối nhất định trước khi người phạm tội thực hiện tiếp hành vi chiếm đoạt tài sản Do đó, giữa hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản có sự độc lập tương đối và xảy ra nối tiếp nhau về mặt thời gian Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là kết quả của hành vi lừa dối
Xét về mặt khách quan, hành vi lừa dối là hành vi đưa ra thông tin không đúng sự thật, về mặt chủ quan người phạm tội biết thông tin mình đưa
ra là không đúng sự thật nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật Hành
vi lừa dối có thể được thực hiện bằng lời nói dối; bằng việc đưa ra các giấy tờ giả mạo; giả danh người có chức vụ, quyền hạn; giả danh các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội…
Hành vi chiếm đoạt tài sản là “hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật
tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình” 10 Nói
cách khác, hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo
10
Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập II), Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội [tr.11]
Trang 29cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó một cách trái pháp luật
Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai hình thức thể hiện cụ thể:
Thứ nhất, nếu tài sản bị chiếm đoạt đang nằm trong sự chiếm hữu của
chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt tài sản là hành
vi nhận tài sản từ người bị lừa dối Trong trường hợp này, người bị lừa dối tin vào những thông tin sai sự thật mà người phạm tội đưa ra mà đã tự nguyện giao tài sản đang nằm trong sự chiếm hữu của mình cho người phạm tội Khi nhận được tài sản cũng là lúc người phạm tội làm chủ được tài sản định chiếm đoạt và người bị lừa dối đã mất khả năng làm chủ tài sản đó trên thực tế, tức
là người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản Ví dụ: A làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà đối với nhà đất X đang được cho ở nhờ và bán nhà đất trên cho B với giá chuyển nhượng 500.000.000 đồng Sau khi giao nhận tiền, B đi làm thủ tục sang tên thì phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà của A là giả Trong tình huống này, tài sản bị chiếm đoạt là số tiền 500.000.000 đồng đang nằm trong
sự chiếm hữu của chủ tài sản là B Hành vi chiếm đoạt của A thể hiện ở việc nhận số tiền 500.000.000 đồng từ B
Thứ hai, nếu tài sản bị chiếm đoạt đang nằm trong sự chiếm hữu của
người phạm tội thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối Trong trường hợp này, người bị lừa dối vì tin vào những thông tin sai sự thật mà người phạm tội đưa ra nên đã nhận nhầm tài sản (nhận thiếu hoặc nhận sai tài sản) hoặc không nhận tài sản Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội đã làm chủ được tài sản và người bị lừa dối đã mất tài sản đó, tức là người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản Ví dụ: A và
B là đồng thừa kế theo pháp luật đối với khối di sản X có giá trị 300.000.000
Trang 30đồng A và B thỏa thuận cử C (không thuộc diện thừa kế theo pháp luật) làm người quản lý di sản Trong quá trình quản lý di sản, C có hành vi làm giả các giấy tờ về việc thanh toán các khoản nợ do người chết để lại hết số tiền 100.000.000 đồng Đến thời điểm chia thừa kế, khối di sản chia thừa kế chỉ còn lại 200.000.000 đồng Trong tình huống này, tài sản bị chiếm đoạt là số tiền 100.000.000 đồng trong khối di sản X đang nằm trong sự chiếm hữu của
C (vì C được cử làm người quản lý di sản) Hành vi chiếm đoạt của C thể hiện
ở việc C đã giữ lại số tiền 100.000.000 đồng trong khối di sản X mà đáng lẽ phải giao cho những người thừa kế là A và B
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản Thông thường hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra kế tiếp ngay sau hành vi lừa dối, tuy nhiên cũng có trường hợp giữa hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản có khoảng cách nhất định
về mặt thời gian Do đó, cần chú ý trường hợp này để xác định chính xác thời điểm tội phạm hoàn thành Ví dụ như: A và B là bạn cùng phòng trọ, vì thiếu tiền tiêu A nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của B Ngày 11/2/2015,
A nói dối với B rằng mẹ A bị bệnh nặng A hỏi mượn chiếc xe máy của B để ngày 15/2/2015 để đưa mẹ đi khám bệnh, vì tin vào lời nói dối của A nên B
đã đồng ý Ngày 15/2/2015, sau khi mượn được xe của B, A điều khiển xe máy ra địa điểm X bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 4.000.000 đồng Trong tình huống này, hành vi lừa dối của A (nói dối là mẹ
bị bệnh để mượn xe đưa mẹ đi khám) diễn ra vào ngày 11/2/2015 nhưng đến ngày 15/2/2015 hành vi chiếm đoạt tài sản mới được thực hiện (A nhận xe từ
B và đã kiểm soát được chiếc xe đó) Giữa hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản của A có khoảng cách về mặt thời gian Thời điểm tội phạm hoàn thành trong trường hợp này là thời điểm A nhận được xe từ B
Trường hợp người phạm tội cũng có hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng những hành vi này đã được BLHS quy định thành các tội
Trang 31phạm độc lập thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác tương ứng Ví dụ: Hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt chất ma túy thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy(Điều 194)…
Hành vi lừa dối phải có trước khi thực hiện việc giao nhận tài sản giữa người bị lừa dối và người phạm tội thì mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu hành vi lừa dối xảy ra sau khi người phạm tội đã nhận được tài sản từ chủ tài sản thì không phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140)
Việc giao nhận tài sản giữa người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
và người bị lừa dối là “tự nguyện”; nếu người bị lừa dối không tự nguyện giao nhận tài sản như trường hợp giả danh người có chức vụ, quyền hạn nhằm uy hiếp tinh thần của người khác làm cho họ lo sợ mà miễn cưỡng giao tài sản thì không phải tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135)
2.1.3.2 Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan
hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự Bất cứ tội phạm nào cũng có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải mọi CTTP đều phản ánh nội dung này mà chỉ có một số CTTP nhất định – đó là những CTTP vật chất
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có CTTP vật chất, tức là dấu hiệu hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) Dấu hiệu này trước hết được phản
Trang 32ánh thông qua đặc điểm về lượng của đối tượng tác động, cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt
Theo quy định tại Điều 139 BLHS thì tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn
vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Theo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm
sở hữu” của BLHS năm 1999 thì các dấu hiệu định tội trên được giải thích như sau:
- Dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” được hướng dẫn tại mục 3
Chương I của Thông tư liên tịch.11 Hậu quả ở đây có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc hậu quả phi vật chất như gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội… Trong đó, thiệt hại về tài sản không phải căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt đã được quy định là tình tiết định khung riêng biệt, mà phải là thiệt hại về tài sản xảy ra ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra, tức là giữa hậu quả và hành vi phạm tội phải có mối quan hệ nhân quả
Ví dụ: A có hành vi gian dối chiếm đoạt chiếc điện thoại của B có giá trị dưới 2 triệu đồng Vì bị chiếm đoạt tài sản trên nên B không thể liên lạc và
11
Theo điểm a mục 3.4 Chương I của Thông tư liên tịch số BTP, hành vi bị coi là gây hậu quả nghiêm trọng nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Làm chết một người; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng
02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100%, nếu không thuộc hai trường hợp nêu trên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật từ 31 % đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ
50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng
Trang 33giao hàng đúng thời hạn theo hợp đồng đã ký kết với công ty X và phải bồi thường vi phạm hợp đồng cho công ty X 100.000.000 đồng Trong tình huống này, A có hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng Hậu quả nghiêm trọng ở đây thể hiện ở chỗ hành vi phạm tội của A đã gây thiệt hại về tài sản (ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt) cho B, chính là số tiền 100.000.000 đồng mà B phải bồi thường
vi phạm hợp đồng cho công ty X
- Người phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản
mà còn vi phạm Mục 1 Chương I của Thông tư liên tịch hướng dẫn đây là trường hợp người phạm tội trước đó đã bị xử lý bằng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật về hành vi chiếm đoạt, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý mà lại thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.12
- Người phạm tội đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa
án tích mà còn vi phạm là trường hợp trước khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 63, 64, 65, 77 BLHS 13
Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt dưới hai triệu đồng nhưng không thuộc các trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã
bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, nếu
12
Thời hạn để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thời hạn để được coi là chưa bị xử lý kỷ luật do Điều lệnh hoặc Điều lệ quy định Mục 1.3 Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn hành vi chiếm đoạt bao gồm hành vi cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản; cướp giật tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; tham ô tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
13
Các tội chiếm đoạt tài sản được hướng dẫn tại mục 2 Chương I của Thông tư liên tịch số TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP bao gồm: tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS); tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134 BLHS); tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 BLHS); tội cướp giật tài sản (Điều 136 BLHS); tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137 BLHS); tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS); tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS); tội lạm đụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS); tội tham ô tài sản (Điều 278 BLHS); tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280 BLHS)
Đối với các trường hợp bị kết án nhưng chưa được xoá án về một trong các tội phạm khác có tính chất chiếm đoạt tài sản (như tội chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 232 BLHS); tội chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công
cụ hỗ trợ (Điều 233 BLHS) ) có bị coi là tình tiết định tội hay không sẽ được hướng dẫn sau
Trang 34gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 139 BLHS, nếu không có tình tiết định khung hình phạt khác
Mặc dù BLHS quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng phải thỏa mãn một trong số những điều kiện trên thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không vì thế mà cho rằng, phải có thiệt hại về tài sản (người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản) thì mới cấu thành tội phạm Thời điểm người phạm tội chiếm đoạt được tài sản là thời điểm tội phạm hoàn thành, trường hợp người phạm tội có ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đã thực hiện các hành vi chuẩn bị cho việc chiếm đoạt hoặc đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng vì những nguyên nhân khách quan mà chưa chiếm đoạt được tài sản thì vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội (Điều 17) hoặc phạm tội chưa đạt (Điều 18) tùy vào từng trường hợp cụ thể
Bộ luật hình sự năm 2015 đã bỏ dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng”, đồng thời bổ sung dấu hiệu “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn
xã hội” và “tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại” với trường hợp tài sản bị chiếm đoạt dưới
2 triệu đồng là dấu hiệu định tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đây là những dấu hiệu có tính chất định tính mới được quy định ở một số tội xâm phạm sở hữu, trong đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, do tính chất định tính của các dấu hiệu này mà việc áp dụng trên thực tế sẽ gặp nhiều khó khăn và mang tính tùy nghi Đặc biệt là quy định về tài sản có “giá trị đặc biệt về mặt tinh thần”, bởi hiện tại chưa có tiêu chí để xác định “giá trị về mặt tinh thần” của tài sản, cùng một loại tài sản nhưng có thể có giá trị về mặt tinh thần với người này nhưng lại là tài sản bình thường đối với người khác Ví dụ:
Trang 35A được người mẹ quá cố tặng một chiếc xe đạp, A rất quý trọng chiếc xe đạp trên vì là di vật do mẹ để lại, trong khi đó B cũng mua một chiếc xe đạp như vậy Ở đây, cùng một chiếc xe đạp kiểu dáng, chủng loại, giá trị như nhau có thể là tài sản có “giá trị về mặt tinh thần” với A nhưng lại là vật dụng bình thường đối với B Do đó, cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn để đảm bảo BLHS năm 2015 được áp dụng một cách thống nhất khi đã có hiệu lực thi hành
2.1.3.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Việc định tội đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn đòi hỏi xác định
cả mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm Bởi lẽ, con người chỉ phải chịu trách nhiệm về hậu quả nguy hiểm cho xã hội nếu hậu quả nguy hiểm đó do chính hành vi khách quan của họ gây ra hay nói cách khác nếu giữa hành vi khách quan đã thực hiện của
họ và hậu quả nguy hiểm đó có mối quan hệ nhân quả với nhau
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được biểu hiện như sau:
- Hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản phải xảy ra trước khi có thiệt hại
về tài sản Đây là căn cứ đầu tiên để kiểm tra xem giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có mối quan
hệ nhân quả hay không
- Hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản khi xem xét độc lập hoặc trong mối liên hệ tổng hợp với một hoặc nhiều hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại về tài sản Ví dụ: A chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ giả mạo để giả danh là giám đốc công ty cổ phần X đề nghị ký hợp đồng góp vốn với B, B tin là thật nên đã giao 50.000.000 đồng cho A với mong muốn trở thành cổ đông của công ty X Trong tình huống này, với đầy
Trang 36đủ các giấy tờ giả mạo, hành vi lừa dối của A chứa đựng khả năng thực tế khiến B tin tưởng mà giao tài sản cho mình, qua đó làm phát sinh thiệt hại về tài sản cho B
- Thiệt hại về tài sản đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản Trên thực tế có trường hợp mặc dù hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản có chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại về tài sản nhưng khả năng này không được hiện thực hóa, thiệt hại về tài sản đó lại là kết quả của hành vi phạm tội khác Ví dụ: A làm giả hóa đơn, chứng từ nhằm chiếm đoạt hàng hóa trong kho của B B hoàn toàn tin tưởng và hẹn ngày hôm sau sẽ giao toàn
bộ số hàng trong kho cho A Tuy nhiên, đêm hôm đó, C vì có mâu thuẫn với
B nên đã tẩm xăng đốt kho hàng của B Trong tình huống này, A có hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của B, hành vi này cũng chứa đựng khả năng thực
tế làm phát sinh thiệt hại về tài sản cho B thể hiện ở chỗ B đã hoàn toàn tin tưởng A và nếu không có hành vi hủy hoại tài sản của C “chen ngang” thì B
đã giao hàng cho A và A đã chiếm đoạt được tài sản của B, trực tiếp gây thiệt hại về tài sản cho B Tuy nhiên, trên thực tế hành vi của A đã không làm phát sinh thiệt hại về tài sản cho B mà thiệt hại đó lại là kết quả của hành vi hủy hoại tài sản của C, toàn bộ hàng hóa trong kho của B đã bị C đốt
Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội, đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, tránh bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội
2.1.4 Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội phạm là thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan Nếu mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm: lỗi,
Trang 37mục đích và động cơ phạm tội, trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các CTTP
2.1.4.1 Dấu hiệu lỗi của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý và vô ý
Lỗi được chia thành hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý, trong mỗi CTTP cơ bản, dấu hiệu lỗi nói chung chỉ có thể là một loại lỗi – lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý Lỗi cố ý bao gồm hai hình thức là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp, lỗi vô ý cũng gồm hai hình thức là vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả
Mặc dù tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không được nhà làm luật mô tả trực tiếp dấu hiệu lỗi trong CTTP, tuy nhiên tính chất của hành vi chiếm đoạt tài sản đã phản ánh dấu hiệu lỗi của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là lỗi cố ý trực tiếp Cố ý trực tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (khoản 1 Điều 9 BLHS)
Dấu hiệu lỗi của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được biểu hiện như sau:
- Về lý trí: Người phạm tội khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hành vi của mình sẽ gây thiệt hại về tài sản cho người khác Người phạm tội biết rõ tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, việc họ thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản, là hành vi nguy hiểm cho xã hội Người phạm tội cũng đồng thời thấy trước hậu quả là những thiệt hại về tài sản mà hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây ra cho chủ sở hữu
- Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây thiệt hại về vật chất cho chủ tài sản, vì có như vậy người phạm tội
Trang 38mới có thể chiếm đoạt được tài sản, tức là làm mất hẳn khả năng chiếm hữu tài sản trên thực tế của chủ tài sản và tạo khả năng đó cho mình
2.1.4.2 Động cơ, mục đích của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội Bất cứ trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nào cũng đều có mục đích phạm tội, bởi chỉ trong trường hợp này người phạm tội mới có sự mong muốn gây ra tội phạm để đạt được những mục đích nhất định
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội thực hiện hành vi nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, tức là người phạm tội khi thực hiện hành vi đã đặt ra kết quả trong ý thức chủ quan của mình là phải đạt được việc chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc
sự quản lý của người khác thành tài sản của mình Trong CTTP của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không phản ánh mục đích phạm tội một cách trực tiếp, tuy nhiên việc mô tả hành vi chiếm đoạt và hậu quả mà hành vi chiếm đoạt gây ra đã thể hiện được mục đích chiếm đoạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Nếu một người thực hiện hành vi lừa dối để nhận được tài sản của người khác nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt thì cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có thể bị truy cứu về một tội khác nếu hành vi họ đã thực hiện thỏa mãn các dấu hiệu pháp
lý được mô tả trong CTTP của tội đó, ví dụ hành vi lừa dối để nhận tài sản của người khác mà không được sự đồng ý của chủ tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142) nếu người phạm tội chỉ có ý định sử dụng tài sản để phục vụ cho các nhu cầu cá nhân và
sẽ trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu, không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản
và cũng không sử dụng tài sản đó làm công cụ, phương tiện để thực hiện một tội phạm khác
Trang 39Người phạm tội có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Ví dụ: A có ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của H và rủ B cùng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản B trước đó đã có mâu thuẫn với
H, vì muốn trả thù nên đã đồng ý giúp sức cho A, hứa sẽ giúp A che giấu và tiêu thụ chiếc xe máy của H sau khi A đã chiếm đoạt được chiếc xe máy đó Trong trường hợp này, A và B là đồng phạm, trong đó A là người tổ chức và đồng thời là người thực hành, còn B là người giúp sức B có mục đích trả thù
H nên đã chấp nhận mục đích chiếm đoạt tài sản của người đồng phạm khác
là A, vì vậy cả A và B phải cùng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể
có một hoặc nhiều động cơ khác nhau nhưng chủ yếu là do động cơ vụ lợi, tức
là người phạm tội vì muốn thu về những lợi ích vật chất cho mình nên đã thôi thúc họ thực hiện hành vi phạm tội Động cơ phạm tội không được phản ánh trong CTTP cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Vì vậy, động cơ của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không có ý nghĩa trong việc định tội mà chỉ có ý nghĩa trong việc xem xét mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội khi quyết định hình phạt
2.2 Dấu hiệu định khung hình phạt và hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
2.2.1 Dấu hiệu định khung hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Các dấu hiệu định khung hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 139 BLHS Những dấu hiệu định khung hình phạt này phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng
kể của tội phạm so với các trường hợp phạm tội bình thường
Trang 402.2.1.1 Phạm tội có tổ chức
“Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm” (khoản 3 Điều 20 BLHS) Giữa
những người đồng phạm vừa có sự liên kết chặt chẽ vừa có sự phân hóa vai trò, phân công nhiệm vụ tương đối rõ rệt, cụ thể Trường hợp phạm tội có tổ chức thường là nhóm phạm tội được hình thành với phương hướng hoạt động
có tính lâu dài, bền vững với quan hệ chỉ huy – phục tùng và có sự chuẩn bị chu đáo đầy đủ về mọi mặt cho việc thực hiện cũng như cho việc che giấu tội phạm bằng các phương pháp, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Với những đặc điểm như vậy, đồng phạm có tổ chức có khả năng phạm tội liên tục, nhiều lần
và gây ra những hậu quả rất nguy hiểm cho xã hội
Cũng tương tự như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác, lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức là trường hợp đồng phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức Tuy nhiên không phải mọi trường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức đều có đủ những người giữ vai trò như trên mà tùy từng trường hợp có thể chỉ
có người tổ chức và người thực hành mà không có người xúi giục và người giúp sức, nhưng nhất định phải có người tổ chức và người thực hành thì mới
là phạm tội có tổ chức
Người thực hành trong trường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức phải là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hai hành vi là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản Thông thường, người thực hành phải tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP, tức