LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em – Quan điểm quốc tế và luật hình sự Việt Nam” là do bản thân tự thực hiện và không sao c
Trang 1TRẦN THỊ THU THỦY
VIỆC QUY ĐỊNH TỘI PHẠM ĐỐI VỚI HÀNH VI KHIÊU DÂM TRẺ EM – QUAN ĐIỂM QUỐC TẾ VÀ
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Người hướng dẫn khoa học: TS Đào Lệ Thu
HÀ NỘI – NĂM 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Việc quy định tội phạm đối với hành vi
khiêu dâm trẻ em – Quan điểm quốc tế và luật hình sự Việt Nam” là do bản
thân tự thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác
để làm sản phẩm của riêng mình Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Đào Lệ Thu Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong luận văn đã được trích dẫn và nêu rõ nguồn trong phần tài liệu tham khảo Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn này
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2016
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đào Lệ Thu – Giảng viên Khoa Pháp luật hình sự - trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trong trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là khoa Pháp luật hình sự đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè xung quanh đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu
Do kiến thức còn hạn chế nên luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và các bạn đọc có quan tâm đến vấn đề này để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2016
Học viên
Trần Thị Thu Thủy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ VIỆC QUY ĐỊNH TỘI PHẠM ĐỐI VỚI HÀNH VI KHIÊU DÂM TRẺ EM 8
1.1 Khái niệm khiêu dâm trẻ em từ quan điểm quốc tế……… 8
1.2 Chuẩn mực quốc tế về việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em 10
1.2.1 Yêu cầu hình sự hóa hành vi khiêu dâm trẻ em 12
1.2.2 Cấu thành tội phạm khiêu dâm trẻ em 14
1.2.3 Hình phạt đối với tội phạm khiêu dâm trẻ em 19
1.3 Thực tiễn lập pháp hình sự của một số quốc gia trong việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em 21
1.3.1 Những quy định của Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên Bang Đức đối với hành vi khiêu dâm trẻ em 21
1.3.2 Những quy định của Bộ luật hình sự Thụy Điển đối với hành vi khiêu dâm trẻ em 26
1.3.3 Những quy định của Bộ luật hình sự Nhật Bản đối với hành vi khiêu dâm trẻ em……… 30
1.3.4 Những quy định của Luật hình sự hợp nhất Nam Australia (South Australia) đối với hành vi khiêu dâm trẻ em 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2 LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TRONG VIỆC QUY ĐỊNH TỘI PHẠM ĐỐI VỚI HÀNH VI KHIÊU DÂM TRẺ EM – SO SÁNH VỚI CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VÀ LUẬT HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 39
2.1 Quan điểm lập pháp hình sự của Việt Nam đối với hành vi khiêu dâm trẻ em 39
Trang 62.2 Quy định về “Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm” trong Bộ luật hình sự năm 2015 – So sánh với chuẩn mực quốc tế và luật hình
sự của một số quốc gia trên thế giới 49 2.2.1 Quy định về “Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm” trong Bộ luật hình sự năm 2015 49 2.2.2 So sánh quy định về “Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm” với chuẩn mực quốc tế và luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới 61 2.3 Một số đề xuất đối với việc áp dụng quy định về các tội khiêu dâm trẻ em trong Bộ luật hình sự năm 2015 69 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75 KẾT LUẬN 78
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước, sự phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ và tâm lý của trẻ em đang ngày càng được gia đình và xã hội chú trọng Đồng thời trẻ em cũng là một trong những đối tượng dễ bị xâm hại,
dễ bị tổn thương do chưa phát triển đầy đủ về thể chất, về nhận thức, kinh nghiệm và kỹ năng sống Do vậy, trẻ em dễ trở thành nạn nhân của các tội phạm bạo lực, lạm dụng, bóc lột… nhằm phục vụ cho mục đích của kẻ phạm tội Các hành vi bóc lột, lạm dụng tình dục trẻ em không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện của trẻ, ảnh hưởng tới tình hình xã hội mà còn vi phạm nghiêm trọng đến các quyền của trẻ em được ghi nhận trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia là thành viên
Điều đáng lo ngại là tình hình các tội về xâm phạm tình dục trẻ em, bóc lột tình dục trẻ em… đang ngày càng diễn biến phức tạp và khó kiểm soát Theo thống kê của Cục cảnh sát hình sự, bình quân mỗi năm cả nước có khoảng 1.500 vụ xâm hại trẻ em - với hơn 1.500 trẻ em bị xâm hại, trong đó khoảng 2/3 trong số này (khoảng 1000 em) bị xâm hại tình dục Trong sáu tháng đầu năm 2013, toàn quốc phát hiện 846 vụ/983 đối tượng xâm hại 881
em, trong đó có 611 vụ là xâm hại tình dục Tính trung bình mỗi ngày có khoảng 3 trẻ em bị xâm hại tình dục Một đại diện của Cục cảnh sát hình sự
xác nhận: “Trên thực tế còn tồn tại nhiều vụ vi phạm chưa được phát hiện,
giải quyết kịp thời Trong quá trình tiến hành tố tụng còn để các em bị tái tổn thương chưa bảo đảm các quyền tư pháp của trẻ em, đồng thời chưa đáp ứng yêu cầu xử lý nghiêm khắc, nhanh chóng tội phạm xâm hại tình dục trẻ em.” 1
Hành vi xâm hại tình dục trẻ em đã vi phạm các quyền cơ bản của trẻ
em được ghi nhận và bảo vệ trong các Công ước quốc tế và pháp luật quốc
1 http://plo.vn/thoi-su/xa-hoi/mot-ngay-co-ba-tre-bi-xam-hai-tinh-duc-324403.html
Trang 8gia Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã hình sự hóa khá đầy đủ các loại hành vi xâm hại tình dục trẻ em theo chuẩn mực quốc tế, bao gồm các hành vi trực tiếp tác động vào thân thể trẻ em như hiếp dâm trẻ em, giao cấu với trẻ
em, dâm ô trẻ em… và các hành vi không trực tiếp tác động vào thân thể trẻ nhưng vẫn được xem là xâm hại tình dục ở trẻ em như việc sử dụng trẻ em vào các buổi biểu diễn khiêu dâm hay tài liệu khiêu dâm, cho trẻ em xem và tiếp cận các ấn phẩm, phát thanh, tài liệu… có nội dung khiêu dâm
Với tư cách là một thành viên của Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Việt Nam có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế để bảo vệ đầy đủ các quyền và lợi ích cơ bản của trẻ em, điều này phải được thể hiện trong Hiến pháp và pháp luật Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy Bộ luật hình sự
1999 vẫn chưa có đầy đủ các quy định để bảo vệ trẻ em trước các hành vi khiêu dâm như trong các văn bản pháp lý quốc tế đã đề cập Trước thực trạng các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em ngày càng nghiêm trọng và phức tạp, đồng thời nhằm bảo đảm thực thi các cam kết quốc tế về bảo vệ quyền của trẻ
em cũng như trên cơ sở học tập kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia khác,
Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đã bổ sung những quy định mới về hình thức
xâm hại tình dục trẻ em như Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích
khiêu dâm (Điều 147), Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 326)…
Trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế về việc hình sự hóa hành vi khiêu dâm trẻ em cũng như những bài học kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia trong vấn đề này, quy định bổ sung Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm trong Bộ luật hình sự năm 2015 đã phần nào lấp đi khoảng trống trong luật hình sự về vấn đề bảo vệ trẻ em trước các hành vi khiêu dâm Với việc hình sự hóa tội phạm này trong Bộ luật hình sự năm 2015 đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu tổng quát về hành vi khiêu dâm trẻ em theo quan điểm quốc tế nói chung và luật hình sự Việt Nam nói riêng, đồng thời cần có
sự khái quát, tìm hiểu các dấu hiệu pháp lý của “Tội sử dụng người dưới 16
Trang 9tuổi vào mục đích khiêu dâm” để có nhận thức đúng đắn nhằm áp dụng quy
định này trong thời gian tới Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Việc
quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em – Quan điểm quốc tế và luật hình sự Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề bảo vệ trẻ em khỏi các tội phạm xâm phạm tình dục không phải
là một vấn đề mới, đã được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu và các công trình khoa học đã được công bố Tuy nhiên đến nay có rất ít các công trình nghiên cứu về tội phạm khiêu dâm trẻ em Một số các công trình khoa học nghiên cứu về các tội xâm phạm tình dục trẻ em đã được công bố có thể kể đến là:
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hương (2003) với đề tài
“Luật hình sự Việt Nam với việc bảo vệ trẻ em” hay Luận văn thạc sĩ của tác giả Trịnh Thị Thu Hương (2004) với đề tài “Các tội phạm xâm phạm tình
dục trẻ em trong Luật hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng chống loại tội phạm này” Các đề tài trên đã nghiên cứu các quy định của Luật hình sự
Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền của trẻ em trước các tội phạm xâm phạm tình dục, thực tiễn và các giải pháp trong việc đấu tranh phòng chống các tội phạm này
Năm 2012, Vụ pháp luật hình sự - Hành chính thuộc Bộ tư pháp kết
hợp với Tổ chức UNICEF Việt Nam đã hoàn thành Báo cáo “Đánh giá các
quy định của Bộ luật hình sự liên quan đến người chưa thành niên và thực tiễn thi hành” Báo cáo đã nghiên cứu về nhóm tội xâm phạm tình dục người
chưa thành niên, bao gồm hành vi khiêu dâm người chưa thành niên, có sự nghiên cứu, đánh giá, so sánh các quy định về hành vi xâm hại tình dục trẻ em theo chuẩn mực quốc tế và Bộ luật hình sự Việt Nam Đồng thời, đề tài còn dựa trên thực tiễn thực thi các quy định của Bộ luật hình sự để đưa ra các
Trang 10khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ người chưa thành niên khỏi các hành vi xâm phạm tình dục, bao gồm hành vi khiêu dâm trẻ em Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khoa học khác về việc
bảo vệ trẻ em trước các tội phạm xâm phạm tình dục, như các bài viết: “Hoàn
thiện các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm tình dục trẻ em” của tác giả Phạm Mạnh Hùng, được đăng trong Tạp chí Tòa án nhân dân,
Số 12/2002; “Sự cần thiết và hướng hoàn thiện các quy định của Luật hình sự
về bảo vệ trẻ em” của tác giả Nguyễn Văn Hương, được đăng trong Tạp chí
Luật học, Số 2/2004; “Hành vi xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ
quyền trẻ em” của tác giả Nguyễn Phương Lan được đăng trong Tạp chí Luật
học, Số 9/2013; “Bạo lực, xâm hại trẻ em, thực trạng và một số kiến nghị giải
pháp” của tác giả Phan Thị Lan Phương, được đăng trong Tạp chí Tòa án
nhân dân, Số 23/2014… Các bài đăng này chủ yếu nghiên cứu về vấn đề bảo
vệ trẻ em trước các hành vi xâm hại tình dục nói chung, những vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm giải quyết các vướng mắc đó
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học về liên quan tới vấn đề tội phạm khiêu dâm trẻ em còn tương đối ít ở Việt Nam Trên tinh thần
nghiên cứu, tiếp thu và tìm hiểu, luận văn này hy vọng có thể là một đóng góp nhỏ trong toàn bộ hệ thống các nghiên cứu khoa học về hành vi khiêu dâm trẻ
em dưới sự nhìn nhận của chuẩn mực quốc tế cũng như theo quan điểm của luật hình sự Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quan điểm và chuẩn mực quốc tế về hình sự hóa hành vi khiêu dâm trẻ em, quy định của luật hình sự một số quốc gia về hành vi khiêu dâm trẻ em là Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển, Nhật Bản, Australia (cấp bang) và Việt Nam
Trang 11Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn được nghiên cứu dưới góc
độ luật hình sự và luật học so sánh Tác giả chủ yếu tập trung giải quyết một
số vấn đề về việc hình sự hóa hành vi khiêu dâm trẻ em theo chuẩn mực quốc
tế và thực tiễn lập pháp hình sự của một số quốc gia như Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển, bang Nam Australia (thuộc Australia); đồng thời nghiên cứu, so sánh quan điểm của luật hình sự Việt Nam với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn lập pháp hình sự của các quốc gia đó
4 Mục đích và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các yêu cầu hình sự hóa đối với hành
vi khiêu dâm trẻ em theo chuẩn mực quốc tế; quan điểm của một số quóc gia trên thế giới và sự cần thiết quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ
em trong luật hình sự Việt Nam; phân tích quy định của một số quốc gia về hành vi khiêu dâm trẻ em, đề tài trước hết có mục đích đánh giá tính tương thích của luật hình sự Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế về tội phạm này Bên cạnh đó, đề tài luận văn còn nhằm đưa ra những ý kiến đề xuất để hoàn thiện quy định của luật hình sự Việt Nam về các hành vi khiêu dâm trẻ em, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng luật hình sự trong công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này
Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài nghiên cứu phải trả lời được các câu hỏi sau:
- Khiêu dâm trẻ em là gì? Chuẩn mực quốc tế có những yêu cầu gì về hình sự hóa hành vi khiêu dâm trẻ em? Thực tiễn lập pháp hình sự của các nước phát triển trên thế giới đã quy định tội phạm về hành vi khiêu dâm trẻ
em như thế nào?
- Quan điểm của Việt Nam về việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em trong Bộ luật hình sự được thể hiện như thế nào? Phân tích
Trang 12quy định của Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm trong
Bộ luật hình sự năm 2015?
- Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm trong Bộ luật hình sự năm 2015 đã thỏa mãn các yêu cầu được đề cập trong chuẩn mực quốc tế chưa? Tội danh này được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 có điểm gì tương đồng và khác biệt so với thực tiễn lập pháp hình sự của các quốc gia về việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em?
- Phương hướng, giải pháp để hoàn thiện và áp dụng quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 về các tội phạm khiêu dâm trẻ em trong thời gian tới là gì?
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo của đề tài là phương pháp phân tích luật và so sánh luật Ngoài ra trong luận văn, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương pháp tổng hợp
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ về quan điểm của quốc tế và của Việt Nam về việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em
Ý nghĩa khoa học của luận văn: bổ sung vào hệ thống lý luận về các tội xâm hại trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: góp phần làm sáng tỏ quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về “Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm”, phục vụ cho việc áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 trong thời gian tới Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu nghiên cứu cho cán bộ đang làm công tác thực tiễn trong các cơ quan tiến hành tố tụng, các cán bộ nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học viên, sinh viên chuyên ngành Luật hình sự hoặc các bạn đọc quan tâm đến vấn đề này
Trang 137 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành hai chương:
Chương 1 Pháp luật quốc tế về việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em
Chương 2 Luật hình sự Việt Nam trong việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em – So sánh với chuẩn mực quốc tế và luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới
Trang 14Chương 1
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ VIỆC QUY ĐỊNH TỘI PHẠM ĐỐI VỚI
HÀNH VI KHIÊU DÂM TRẺ EM 1.1 Khái niệm khiêu dâm trẻ em từ quan điểm quốc tế
Để làm rõ quan điểm quốc tế về hành vi khiêu dâm trẻ em, trước hết cần làm rõ các khái niệm “khiêu dâm trẻ em” trong các Điều ước quốc tế, từ điển pháp lý và quan điểm của các cơ quan hữu quan về vấn đề này
Điều 2 (c) Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em năm 2000 (sau đây gọi tắt là Nghị định thư bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em) có
định nghĩa về khiêu dâm trẻ em (child pornography) như sau: “Khiêu dâm trẻ
em là bất cứ sự trình bày nào, dù bằng phương tiện gì về trẻ em đang tham gia vào các hoạt động tình dục rõ ràng, thật hoặc mô phỏng hay bất cứ sự trình bày nào về những bộ phận sinh dục của trẻ em cho trước hết các mục đích tình dục” Điều đó có nghĩa: với bất kỳ sự mô tả các hoạt động tình dục
trẻ em hoặc mô tả các bộ phận sinh dục của trẻ em dưới bất kỳ hình thức, phương tiện nào (phim, tranh, ảnh, video…) nhằm mục đích tình dục thì đều được xem là khiêu dâm trẻ em
Hiện nay, các văn bản pháp lý quốc tế chủ yếu sử dụng thuật ngữ văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em để thể hiện bản chất của các tội phạm liên quan
đến việc sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong việc trình diễn hay tài liệu
khiêu dâm (Điều 34 Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989)
Bên cạnh đó, định nghĩa về “khiêu dâm trẻ em” đã được đưa ra trong một số từ điển pháp luật cũng như được một số tổ chức hữu quan đề cập đến Theo Wikipedia – Bộ từ điển bách khoa điện tử về kiến thức chung đã
định nghĩa khiêu dâm trẻ em là sự khai thác, lợi dụng trẻ em để kích thích tình
dục Nội dung khiêu dâm trẻ em có thể được sản xuất với sự tham gia trực tiếp
hoặc tấn công tình dục trẻ em, hoặc mô phỏng nội dung khiêu dâm trẻ em hay
Trang 15triển lãm khiêu dâm các bộ phận sinh dục của trẻ, thông qua các tác phẩm, tạp chí, hình ảnh, tác phẩm điêu khắc, tranh, phim hoạt hình, video, trò chơi…2
Từ điển pháp lý quốc tế Legal dictionary - The free dictionary đã định
nghĩa khiêu dâm trẻ em là “sự mô tả trẻ em dưới 18 tuổi tham gia vào các
hoạt động tình dục hoặc các hình ảnh mô phỏng hành vi tình dục ở trẻ em để khơi dậy ham muốn tình dục ở người xem” Khiêu dâm trẻ em có thể bao gồm
sự mô tả quan hệ thực tế hoặc mô phỏng tình dục liên quan đến trẻ em như thủ dâm, các hành vi lạm dụng tình dục, sự phơi bày các bộ phận tình dục ở trẻ…nhằm kích thích ham muốn tình dục người xem Nếu hình ảnh khỏa thân
ở trẻ được mô tả trong các tài liệu nhưng không nhằm khiêu dâm như phim, tranh ảnh, sách giáo dục giới tính… thì không phải là khiêu dâm trẻ em3
Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol) đưa ra khái niệm về khiêu
dâm trẻ em là việc trưng bày hoặc quảng bá các hình ảnh về bộ phận sinh dục
hoặc các hành vi tình dục của trẻ em 4
Công ước của Liên minh Châu Âu về tội phạm mạng đã định nghĩa
khiêu dâm trẻ em như sau: “Khiêu dâm trẻ em bao gồm các tài liệu khiêu dâm
mô tả trực quan: a) trẻ vị thành niên tham gia vào các hành vi tình dục rõ ràng; b) một người xuất hiện với tư cách là trẻ vị thành niên tham gia vào hoạt động tình dục rõ ràng; c) hình ảnh thực tế mô tả vị thành niên tham gia vào các hành vi tình dục rõ ràng” 5 Nói cách khác, khiêu dâm trẻ em là việc
mô tả trong các tài liệu khiêu dâm với sự tham gia của trẻ vị thành niên, hình ảnh của trẻ vị thành niên hoặc một người (đã thành niên) xuất hiện với tư cách
là trẻ vị thành niên để tham gia vào các hoạt động tình dục thực tế
Trang 16Các định nghĩa trên đều phản ánh bản chất của khiêu dâm trẻ em, đó là việc khai thác, sử dụng trẻ em trong các hoạt động tình dục, với bất kỳ hình thức hay mục đích nào, trước hết là mục đích tình dục Khiêu dâm trẻ em thường được thể hiện qua hai hình thức chính là tài liệu khiêu dâm trẻ em (văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em) và các buổi trình diễn khiêu dâm trẻ em Hiện nay cũng chưa có định nghĩa chính thức về “buổi trình diễn khiêu dâm trẻ em” trong các văn bản pháp lý quốc tế Có thể hiểu các buổi trình diễn khiêu dâm trẻ em là việc sử dụng trẻ em để tham gia, thực hiện các động tác khiêu dâm trước một hoặc nhiều người khác với bất kỳ mục đích gì Các buổi trình diễn khiêu dâm có thể kể đến như như: múa khỏa thân, biểu diễn thời trang phản cảm, bày đồ ăn trên người mẫu khỏa thân, thực hiện các hành
vi khiêu dâm để ghi lại, chụp lại…
Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu “khiêu dâm trẻ em” là “việc khai
thác, sử dụng trẻ em để thể hiện các hoạt động tình dục thực sự hoặc mô phỏng, trưng bày các bộ phận tình dục của trẻ em dưới bất kỳ hình thức, phương tiện nào nhằm bất kỳ mục đích gì, trước hết là mục đích tình dục”
1.2 Chuẩn mực quốc tế về việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em
Quan điểm quốc tế về việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em trước hết được thể hiện ở các chuẩn mực pháp lý quốc tế, cụ thể là các chuẩn mực được thiết lập trong nhiều công cụ pháp lý quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em
Quyền trẻ em chỉ mới thực sự được quan tâm kể từ khi Tổ chức cứu trợ của Anh và Thụy Điển được thành lập vào năm 1919 Cho đến nay, các vấn
đề về bảo vệ toàn diện các quyền của trẻ em ngày càng được cộng đồng quốc
tế quan tâm hơn, đặc biệt là các quyền về danh dự, nhân phẩm và bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em Các tổ chức quốc tế (như Liên Hợp Quốc, Tổ chức lao động thế giới, các tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ…) đã xây
Trang 17dựng hàng loạt tiêu chuẩn trong việc quy định về phòng ngừa và nghiêm cấm, cũng như xử lý các hình thức bóc lột và lạm dụng tình dục trẻ em, trong đó có quy định về hành vi khiêu dâm trẻ em
Các quy định pháp lý quốc tế đã tạo ra một khung pháp lý cho việc xây dựng những biện pháp tư pháp hình sự cho các quốc gia về phòng chống tội phạm khiêu dâm trẻ em Những văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng bao gồm: Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 (sau đây gọi tắt là Công ước về quyền trẻ em) và Nghị định thư bổ sung cho Công ước về quyền trẻ
em; Công ước số 182 – Công ước Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ
các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (sau đây gọi tắt là Công ước số 182)
của Tổ chức Lao động quốc tế Dựa trên tinh thần của các Công ước và Nghị định thư, có thể nhận thấy các quốc gia thành viên đều có chung nhiệm vụ là bảo vệ và hợp tác có hiệu quả trong công cuộc phòng, chống các tội phạm xâm phạm tới các quyền trẻ em, trong đó có tội phạm khiêu dâm trẻ em Một số văn kiện quốc tế mang tính không ràng buộc cũng giúp đặt ra chuẩn mực về những biện pháp lập pháp hình sự cho các quốc gia trong việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em Ví dụ như Tuyên bố Rio
và Kế hoạch hành động để ngăn ngừa và chấm dứt bóc lột tình dục trẻ em và người chưa thành niên năm 2008 (gọi tắt là Tuyên bố Rio) và Khuyến nghị
190 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ
em tồi tệ nhất (gọi tắt là Khuyến nghị 190) Các văn kiện quốc tế đã lên án mọi hình thức bóc lột tình dục trẻ em và kêu gọi các quốc gia hình sự hóa các hành vi này trong hệ thống pháp luật nước mình Mặc dù các văn kiện này không mang tính ràng buộc pháp lý, nhưng các nguyên tắc thể hiện trong đó
đã phản ánh rất sát các nghĩa vụ đã được quy định trong các văn kiện pháp luật quốc tế chính
Các chuẩn mực và quy tắc quốc tế đã xác lập những giới hạn thích hợp
để bảo vệ trẻ em không bị xâm hại bởi các hành vi khiêu dâm Các văn kiện
Trang 18quốc tế liên quan đến đấu tranh phòng chống khiêu dâm trẻ em đã được nhiều quốc gia trên thế giới phê chuẩn Nội dung của chuẩn mực pháp lý quốc tế về việc quy định tội phạm tối với hành vi khiêu dâm trẻ em bao gồm:
1.2.1 Yêu cầu hình sự hóa hành vi khiêu dâm trẻ em
Trước hết, Điều 34 (c) Công ước về quyền trẻ em đã yêu cầu các quốc
gia thành viên phải thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa “việc
sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong các cuộc biểu diễn hay tài liệu khiêu dâm” Đó có thể là các biện pháp lập pháp hay bất cứ biện pháp cần thiết, thích
hợp để ngăn ngừa và bảo vệ trẻ em khỏi các hành vi bóc lột khiêu dâm
Trên cơ sở tinh thần của Công ước quốc tế về quyền trẻ em, chuẩn mực quốc tế yêu cầu các quốc gia dùng các biện pháp lập pháp hình sự để hình sự hóa hành vi khiêu dâm trẻ em, yêu cầu này được thể hiện trong các quy định tại Điều 12 (b) Khuyến nghị số 190, Mục C (4) Tuyên bố Rio, Điều 1 và Điều
3 (1) (c) Nghị định thư bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em
Nghị định thư bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em đã yêu cầu các quốc gia thành viên phải cấm việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em (được quy định tại Điều 1) và phải đảm bảo hành
vi “sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, bán hay
sở hữu văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em” được hình sự hóa trong pháp luật
quốc gia theo quy định tại Điều 3 (1) (c) Nghị định thư, dù các tội phạm được tiến hành trong nước hay nước ngoài, được thực hiện bởi cá nhân hay pháp nhân Nghị định thư này ra đời trước sự lo ngại của cộng đồng quốc tế về thực
tế du lịch tình dục ngày càng phổ biến và trẻ em là đối tượng rất dễ bị xâm hại, nhất là trong thời đại công nghệ hóa đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay Đặc biệt phải kể đến sự xuất hiện ngày càng nhiều những văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em trên mạng internet, các công nghệ đang phát triển khác Đứng trước sự lo ngại đó, Nghị định thư bổ sung cho Công ước về quyền trẻ
em đã nhắc lại:
Trang 19“Hội nghị quốc tế về phòng chống văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em trên internet tổ chức ở Viên (Áo) trong năm 1999 và nhất là kết luận của hội nghị kêu gọi việc hình sự hóa trên toàn thế giới việc sản xuất, phân phối, xuất khẩu, nhập khẩu, chuyển giao, nhập khẩu, sở hữu có dụng ý, quảng cáo văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác và cộng tác chặt chẽ hơn nữa giữa các chính phủ và công
Đồng thời, tại Mục C (4) Tuyên bố Rio cũng đã kêu gọi tất cả các nước
trên thế giới hình sự hóa hành vi “cố ý sản xuất, phân phối, phổ biến và sở
hữu văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, bao gồm các hình ảnh có sự mô tả bóc lột tình dục trẻ em, cũng như việc cố ý tiêu thụ, truy cập và xem các tài liệu như vậy”
Bên cạnh đó, Khuyến nghị số 190 năm 1999 đã khuyến nghị các nước thành viên của Công ước 182 nên quy định những hình thức lao động trẻ em
tồi tệ nhất là tội phạm, bao gồm hành vi “sử dụng, mua bán hay dụ dỗ trẻ em
cho mục đích mại dâm, sản xuất sách báo đồi trụy hay các cuộc biểu diễn khiêu dâm” tại Điều 12 (b) Khuyến nghị này bổ sung cho Công ước số 182
về việc yêu cầu hình sự hóa hành vi khiêu dâm trẻ em, bởi đây được xem là các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất như trong Công ước đã đề cập
Như vậy, chuẩn mực quốc tế đã yêu cầu các quốc gia dùng biện pháp lập pháp hình sự để quy định tội phạm trong pháp luật quốc gia đối với hành
vi khiêu dâm trẻ em, bao gồm hai nhóm hành vi cụ thể:
- Sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, bán hay sở hữu văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em
- Sử dụng, mua bán hay dụ dỗ trẻ em cho mục đích sản xuất sách báo đồi trụy hay các cuộc biểu diễn khiêu dâm
6
http://www.unicef.org/vietnam/vi/05_-_Nghi_dinh_khong_bat_buoc_cua_CRC_ve_buon_ban_mai_dam.pdf
Trang 201.2.2 Cấu thành tội phạm khiêu dâm trẻ em
Trước hết, cấu thành tội phạm (CTTP) khiêu dâm trẻ em thể hiện bằng
hành vi khách quan của tội phạm Theo các văn kiện pháp lý quốc tế nêu ở
trên, hành vi khách quan của tội phạm này được đặc trưng bằng một trong các dạng hành vi sau:
Hành vi thứ nhất là sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất
khẩu, chào mời, bán hay sở hữu văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em
Đây là hành vi được yêu cầu nên được hình sự hóa theo Điều 3 (1) (c) Nghị định thư bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em Đồng thời yêu cầu này cũng được quy định trong Điều 34 (c) của Công ước về quyền trẻ em, Điều 3 (b) Công ước số 182, Điều 12 (b) Khuyến nghị số 190 và Mục C (4) Tuyên bố Rio Theo đó, các hoạt động sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, bán hay sở hữu các văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em phải được hình sự hóa trong pháp luật của các quốc gia Đó là việc thực hiện chế tạo, làm ra (sản xuất) văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em; các hoạt động thương mại (phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, bán) hay các hoạt động phi thương mại (phổ biến, sở hữu) các văn hóa phẩm khiêu dâm đó Đây đều là các hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động, tiếp tay cho tội phạm xâm hại tình dục trẻ em
Các hành vi sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, bán hay sở hữu các văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em có thể được coi là
“bóc lột vì mục đích thương mại”7 Do vậy, hành vi này phải được yêu cầu hình sự hóa trong pháp luật của các quốc gia thành viên nhằm bảo vệ trẻ em khỏi các sự bóc lột tình dục, lạm dụng tình dục
7
Bóc lột vì mục đích thương mại: là việc sử dụng trẻ em trong công việc hoặc trong các
hoạt động khác vì lợi ích của người khác như lấy tiền hay các hình thức thanh toán khác,
hoặc nhằm mục đích tình dục (Theo Bộ Tư Pháp – UNICEF Việt Nam (2012), Báo cáo
Đánh giá quy định của BLHS liên quan đến người chưa thành niên và thực tiễn thi hành,
NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 114)
Trang 21Hành vi thứ hai là sử dụng, mua bán hay dụ dỗ trẻ em cho mục đích sản
xuất sách báo đồi trụy hay các cuộc biểu diễn khiêu dâm.
Hành vi này thực chất là việc sử dụng các thủ đoạn nhằm lợi dụng tình trạng quan hệ của trẻ em, hoặc nói dối, gian lận, dùng các lợi ích để dụ dỗ trẻ em; dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng uy quyền để ép buộc trẻ em tham gia sản xuất sản phẩm văn hóa phẩm khiêu dâm hoặc trong các buổi biểu diễn khiêu dâm
Công ước 182 đã đưa ra một trong các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất bao gồm hành vi “sử dụng, môi giới hay mồi chào một đứa trẻ cho việc sản xuất văn hóa phẩm đồi trụy hay các buổi biểu diễn khiêu dâm đồi trụy” Điều này được xác định là một trong những công việc độc hại được quy định trong Khuyến nghị số 190, bởi đây là công việc khiến cho trẻ lâm vào tình trạng dễ bị lạm dụng về mặt thể chất, tâm lý hay tình dục (Theo Khoản a Điều
3 Mục II Khuyến nghị 190)
Do vậy, chuẩn mực quốc tế yêu cầu phải hình sự hóa các hành vi khách quan kể trên trong CTTP khiêu dâm trẻ em trong pháp luật của các quốc gia thành viên nhằm bảo vệ trẻ em khỏi các sự bóc lột tình dục, lạm dụng tình dục
Bên cạnh yêu cầu về hành vi khách quan của tội phạm, chuẩn mực pháp lý quốc tế cũng nêu ra yêu cầu về đối tượng tác động của tội phạm Các văn bản quốc tế nêu trên đều khẳng định trẻ em là đối tượng tác động của các tội phạm về khiêu dâm trẻ em
Trẻ em là một trong những đối tượng dễ bị xâm hại, dễ bị tổn thương nhất bởi các hành vi bạo lực do sự yếu ớt về thể chất, sự non nớt về nhận thức, kinh nghiệm và kỹ năng sống… Đặc biệt, hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em là dạng hành vi bạo lực nghiêm trọng nhất, gây ra những ảnh hưởng vô cùng xấu trong thời gian dài tới sự phát triển về thể chất và nhân cách của trẻ em Hành vi này đã xâm phạm tới quyền được tôn trọng về danh
Trang 22dự, nhân phẩm, quyền được tôn trọng và bất khả xâm phạm tới quyền được quy định tại các Điều 19, 32, 34, 39 Công ước về quyền trẻ em8
Theo Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã định nghĩa trẻ em là
“Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn”
Công ước về quyền trẻ em quy định về đối tượng được bảo vệ trong Công ước là trẻ em, xác định qua độ tuổi của họ, tất cả những người có độ tuổi dưới 18 đều được xem là trẻ em, trừ những quốc gia có quy định khác về
độ tuổi thành niên (như Nhật Bản, Indonesia quy định tuổi thành niên là 20, ở Hàn Quốc hay một số bang của Hoa Kỳ… quy định tuổi thành niên là 19…) Tiếp thu tinh thần của Công ước về quyền trẻ em, Công ước số 182 cũng quy
định “…thuật ngữ “trẻ em” sẽ áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi”
Sở dĩ hai bản Công ước đều quy định trẻ em là những người dưới 18 tuổi là vì về mặt khoa học, người từ đủ 18 tuổi trở lên là người đã thành niên,
đã hoàn thiện và phát triển đầy đủ về não bộ, thể chất, tinh thần, nhận thức xã hội và ý thức pháp luật Tuy nhiên, trong trường hợp luật pháp của quốc gia ghi nhận tuổi thành niên sớm hơn (dưới 18 tuổi) thì khái niệm “trẻ em” sẽ xác định theo luật pháp quốc gia đó và được đảm bảo các quyền trẻ em được quy định trong luật pháp quốc tế
Có một số luật pháp quốc gia chia những người dưới 18 tuổi thành hai đối tượng riêng biệt, bao gồm trẻ em và người chưa thành niên như CHLB Đức, Việt Nam… và công nhận những người chưa thành niên vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong luật pháp quốc gia đó hoặc có những điều kiện bảo vệ riêng biệt Tuy
8
Nguyễn Phương Lan (2013), “Hành vi xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền
trẻ em”, Tạp chí Luật học, (9), tr 23
Trang 23nhiên, theo tinh thần của các bản Công ước, trong phạm vi luận văn này, đối tượng trẻ em được nghiên cứu là những người dưới 18 tuổi
Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm cũng cần được quan tâm nghiên cứu
Có thể thấy các văn bản pháp lý quốc tế đều không đưa ra yêu cầu cụ thể và trực tiếp về lỗi và mục đích phạm tội của hành vi khiêu dâm trẻ em Công ước về quyền trẻ em đã quy định mục đích phạm tội của các hành
vi khiêu dâm trẻ em không phải là yếu tố bắt buộc khi xác định hành vi một người có phải là tội phạm hay không, bởi việc xâm hại đến các quyền cơ bản của trẻ em được Công ước bảo vệ với bất kỳ mục đích gì Mục đích của các
hành vi khiêu dâm trẻ em được nhắc đến trong Công ước chủ yếu là “mục
đích tình dục”, hay các mục đích khác như thu lời hoặc các lợi ích khác
Tuy nhiên pháp luật của mỗi quốc gia vẫn phải bảo đảm tối thiểu những hành vi với mục đích nhất định phải được đề cập đầy đủ trong pháp luật hình
sự quốc gia Tại Điều 3 Nghị định thư bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em quy định hành vi sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào
mời, bán hay sở hữu văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em vào các mục đích bóc
lột trẻ em về tình dục, chuyển giao những bộ phận cơ thể của trẻ em vì lợi nhuận, huy động trẻ em cưỡng bức lao động
Yếu tố lỗi mặc dù không được yêu cầu trực tiếp và cụ thể trong các văn bản pháp lý quốc tế, nhưng Công ước về quyền trẻ em cũng có quy định về
“sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong việc trình diễn hay tài liệu khiêu dâm” dưới bất kỳ hình thức nào Tính chất bóc lột được thể hiện qua việc lợi dụng, lạm dụng sức lao động của trẻ em, sử dụng trẻ em vào những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, ảnh hưởng tới sức khỏe, tâm lý và sự phát triển bình thường của trẻ Như vậy, bằng một cách gián tiếp, Công ước về quyền trẻ em
đã yêu cầu về hành vi “sử dụng trẻ em trong việc trình diễn hay tài liệu khiêu dâm” với lỗi là cố ý
Trang 24Cuối cùng cần xem xét yêu cầu về chủ thể của tội khiêu dâm trẻ em trong pháp luật quốc tế
Mặc dù Công ước về quyền trẻ em không đưa ra một khái niệm cụ thể
về chủ thể của tội phạm khiêu dâm trẻ em, tuy nhiên vấn đề này lại được quy định ở nhiều góc độ, Tuyên bố Rio và Nghị định thư bổ sung cho Công ước
về quyền trẻ em xác định phạm vi chủ thể của tội phạm khiêu dâm trẻ em có thể là cá nhân hay pháp nhân
Đối với cá nhân phạm tội, các chuẩn mực quốc tế không yêu cầu về đặc điểm cụ thể của người phạm tội
Bên cạnh chủ thể của tội phạm là cá nhân, tại Mục C (4) Tuyên bố Rio
đã kêu gọi các nước thành viên quy định trách nhiệm pháp lý cần được mở rộng cho các đối tượng khác như các tập đoàn, công ty (gọi chung là pháp nhân) trong trường hợp tham gia sản xuất hay phổ biến văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em
Trên thực tế, các tội phạm nghiêm trọng thường được thực hiện dưới vỏ bọc của các pháp nhân Hệ thống tổ chức của pháp nhân có thể che giấu và thực hiện các hành vi sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, bán hay sở hữu văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em hoặc các hành vi khác có liên quan đến tội phạm khiêu dâm trẻ em một cách hiệu quả và thuận lợi Người thực hiện tội phạm có thể là đại diện của pháp nhân hoặc thực hiện tội phạm vì lợi ích pháp nhân đó Do vậy, ngoài việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) của cá nhân phạm tội, chuẩn mực quốc tế còn khuyến nghị các quốc gia thành viên quy định về TNHS đối với pháp nhân
Khoản 4 Điều 3 Nghị định thư bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em
đã quy định về trách nhiệm pháp lý của pháp nhân như sau: “Tùy theo các
quy định của luật pháp quốc gia của mình, mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện những biện pháp ở các nơi thích hợp để quy trách nhiệm pháp lý, có thể
là hình sự, dân sự hay hành chính của pháp nhân”
Trang 25Theo đó, việc thiết lập các biện pháp cần thiết để truy cứu trách nhiệm của pháp nhân đối với hành vi khiêu dâm trẻ em là tùy thuộc vào mỗi quốc gia thành viên, đó có thể là TNHS, dân sự hay hành chính nhưng phải đảm bảo các chế tài này phải thích đáng, tương xứng và có tác dụng phòng ngừa Như vậy, chuẩn mực quốc tế có khuyến nghị tùy nghi đối với việc quy định trách nhiệm pháp lý đối với cả pháp nhân nếu phát hiện có sự tham gia sản xuất hay phổ biến các văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em dựa vào nguyên
tắc lập pháp của mỗi quốc gia
1.2.3 Hình phạt đối với tội phạm khiêu dâm trẻ em
Để đảm bảo việc trừng trị và ngăn ngừa các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em, trong đó có hành vi khiêu dâm trẻ em, chuẩn mực quốc tế khuyến nghị các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp hành chính, dân sự hay hình sự Vấn đề này được thể hiện trong Khuyến nghị 190 và Nghị định thư
bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em
Chuẩn mực quốc tế không đưa ra một yêu cầu về hình phạt đối với tội phạm khiêu dâm trẻ em, nhưng đòi hỏi các quốc gia thành viên phải cân nhắc đầy đủ để quy định những hình phạt tương xứng với tính chất nghiêm trọng của các loại tội phạm khiêu dâm trẻ em được đề cập trong các văn bản pháp lý quốc tế Nghị định thư bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em và Khuyến nghị 190 đã yêu cầu các quốc gia thành viên có thể đưa các giải pháp để truy cứu trách nhiệm pháp lý của cá nhân hay pháp nhân, cụ thể như sau:
Đối với tội phạm khiêu dâm trẻ em là cá nhân, Điều 7 (a) Nghị định thư
bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em đã yêu cầu các quốc gia áp dụng các biện pháp pháp lý cần thiết cho phép các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các biện pháp để giữ hay tịch thu các sản phẩm, công cụ được sử dụng để phạm tội hay điều kiện phạm tội và tiền thu được từ những tội phạm đó Khoản b Điều 11 Khuyến nghị 190 cũng đưa ra giải pháp để cấm và loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (trong đó có hành vi khiêu dâm trẻ em)
Trang 26bằng cách “phát hiện và truy tố những kẻ có liên quan đến việc sử dụng, mua
hay dụ dỗ trẻ em vào những hoạt động sản xuất sách báo hoặc những buổi biểu diễn khiêu dâm”
Mặc dù chuẩn mực quốc tế không yêu cầu hình phạt cụ thể đối với hành vi khiêu dâm trẻ em mà chỉ yêu cầu các biện pháp “thích hợp”, song hiện nay pháp luật của các nước đều quy định hình phạt tù có thời hạn và hình phạt tiền là hình phạt chính Theo tác giả, hai hình phạt này là đủ tính răn đe
và phù hợp với tính chất của tội phạm, vì đây thường là tội phạm gắn với mục đích thu lợi nhuận Đồng thời cũng thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật quốc gia trong việc đấu tranh chống lại tội phạm khiêu dâm trẻ em
Đối với chủ thể chịu TNHS đối với tội khiêu dâm trẻ em là pháp nhân, Điều 7 (a) và Điều 7 (c) Nghị định thư bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em
đã yêu cầu các quốc gia áp dụng các biện pháp như: giữ hay tịch thu các vật liệu, công cụ để phạm tội hay tạo điều kiện phạm tội, tiền thu được từ tội phạm (tương tự như đối với cá nhân), ngoài ra còn tiến hành các biện pháp đóng cửa tạm thời hay vĩnh viễn những cơ sở sử dụng để phạm các tội này Bên cạnh đó, Điều 14 Khuyến nghị 190 cũng đưa ra giải pháp đối với
pháp nhân phạm tội, đó là “xây dựng một hệ thống giám sát đặc biệt đối với
những doanh nghiệp đã sử dụng những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, trường hợp thường xuyên vi phạm có thể xem xét việc tạm thời hay vĩnh viễn rút giấy phép hoạt động”
Trên thực tế, người nhân danh pháp nhân hoặc thực hiện tội phạm vì lợi ích pháp nhân thường sẽ tinh vi, chuyên nghiệp hơn so với cá nhân phạm tội nên tính chất nghiêm trọng cũng cao hơn Chính vì vậy, các hình phạt cũng cần nghiêm khắc hơn, ngoài việc giám sát, thu hồi giấy phép hoạt động hay đóng cửa các pháp nhân thì pháp luật cũng cần quy định về TNHS của người đại diện pháp nhân phạm tội
Trang 27Như vậy, tùy theo những quy định của luật pháp quốc gia, các nước thành viên phải cân nhắc đầy đủ để quy định những hình phạt tương xứng với tính chất nghiêm trọng của tội phạm khiêu dâm trẻ em đã được đề cập trong chuẩn mực quốc tế Việc quy định hình phạt tương xứng đối với mỗi loại tội phạm là công việc của những nhà lập pháp của mỗi quốc gia, phải có những hình phạt thích hợp sau khi xem xét đến tính chất nghiêm trọng của những tội phạm đó
1.3 Thực tiễn lập pháp hình sự của một số quốc gia trong việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em
Hiện nay trên thế giới, vấn đề bảo vệ trẻ em đang rất được cộng đồng quốc tế quan tâm Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) cùng nhiều quốc gia trên thế giới đang thực hiện các chương trình bảo vệ trẻ em khỏi các nguy
cơ xâm hại tình dục Các nước phát triển như Nga, Australia, Anh, Đức, Thụy Điển… đặc biệt quan tâm đến xây dựng khung pháp lý thân thiện với trẻ em;
hệ thống phúc lợi xã hội cho trẻ em…9 Do vậy, tác giả lựa chọn Bộ luật hình
sự của Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển, Nhật Bản và bang South Australia (Australia) để nghiên cứu về thực tiễn lập pháp hình sự trong việc quy định tội phạm đối với hành vi khiêu dâm trẻ em
1.3.1 Những quy định của Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên Bang Đức đối với hành vi khiêu dâm trẻ em
Công hòa Liên bang Đức là một trong những quốc gia có hệ thống pháp luật tiên tiến, trong đó các hành vi xâm phạm tình dục đối với trẻ em được quy định khá đầy đủ và chi tiết trong nhiều điều luật cụ thể trong Bộ luật hình
sự Cộng hòa Liên bang Đức (gọi tắt là BLHS CHLB Đức) Hành vi khiêu dâm trẻ em được các nhà làm luật đã phản ánh trong nhiều CTTP riêng biệt
9
Bộ lao động thương binh xã hội (2010), Báo cáo “Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015”, tr 19
Trang 28chứ không chỉ quy định một tội danh, cụ thể là các tội: Lạm dụng tình dục trẻ
em (Điều 176); Phát tán những ấn phẩm khiêu dâm (Điều 184); Phát tán, mua
và chiếm hữu những ấn phẩm khiêu dâm trẻ em (Điều 184b); Phát tán, mua
và chiếm hữu những ấn phẩm khiêu dâm người chưa thành niên (Điều 184c); Phát tán những chương trình có tính khiêu dâm qua đài phát thanh, những dịch vụ truyền thông hoặc viễn thông (Điều 184d)10 Theo đó, BLHS CHLB Đức chủ yếu tập trung quy định về các dạng hành vi khách quan của hành vi khiêu dâm trẻ em
Trước hết, hành vi khách quan của các tội phạm khiêu dâm trẻ em trong BLHS CHLB Đức bao gồm:
- Dạng hành vi thứ nhất là hành vi tình dục trước một trẻ em Hành vi này được phản ánh trong cấu thành của tội Lạm dụng tình dục trẻ em tại Điều
176 (4) BLHS Việc thực hiện những hành vi tình dục trước một trẻ em đòi hỏi trẻ em đã nhận thức được các hành vi đó, còn nếu trường hợp trẻ em chưa nhận thức được thì việc thực hiện hành vi tình dục trước một trẻ em không phải là tội phạm
- Dạng hành vi thứ hai là hành vi dùng các vật phẩm có nội dung khiêu dâm tác động vào nhận thức của trẻ em Hành vi này được phản ánh khá đầy
đủ và chi tiết trong các Điều 176 (4) (3), Điều 176 (4) (4) Đó là việc tác động vào một trẻ em qua các ấn phẩm nhằm đưa trẻ em đến với những hành vi tình dục mà trẻ em cần phải thực hiện ở hoặc trước người thực hiện tội phạm hoặc trước một người thứ ba, hay để người thực hiện tội phạm hoặc người thứ ba thực hiện những hành vi tình dục ở mình (Điều 176 (4) (3)); tác động vào một trẻ em qua các ấn phẩm hoặc tác động vào một trẻ em qua giới thiệu tranh ảnh, hình ảnh có tính khiêu dâm hoặc cho nghe những vật lưu giữ âm thanh
10 Xem Phụ lục
Trang 29có nội dung khiêu dâm, qua những bài nói chuyện tương tự… (Điều 176 (4) (4)) Dạng hành vi này đều thuộc CTTP Lạm dụng tình dục trẻ em
- Dạng hành vi thứ ba là hành vi phát tán những ấn phẩm khiêu dâm cho người dưới 18 tuổi; hoặc phát tán, mua và chiếm hữu những ấn phẩm khiêu dâm trẻ em, người chưa thành niên Những hành vi này được phản ánh tại Điều 184, Điều 184b, Điều 184c và Điều 184d BLHS CHLB Đức
Theo đó, người nào thực hiện các hành vi mời chào, giao, trưng bày công khai, treo, trình chiếu cho một người dưới mười tám tuổi hoặc làm cho
họ tiếp cận được; mời chào hoặc giao cho một người khác trong buôn bán lẻ hay theo hình thức chuyển gửi, các cửa hàng cho thuê sách, tạp chí, nhập khẩu, xuất khẩu, để một người khác có được hoặc giới thiệu một trình chiếu phim; tạo ra, chuyển đến, cung cấp, tàng trữ hoặc hoạt động nhập khẩu nhằm
sử dụng chúng hoặc những đơn vị ấn phẩm được tạo ra từ chúng… đều bị
truy cứu TNHS về tội Phát tán những ấn phẩm khiêu dâm (Điều 184)
Bên cạnh đó, hành vi phát tán, mua và chiếm hữu những ấn phẩm khiêu dâm trẻ em, người chưa thành niên cũng bị xem là tội phạm BLHS CHLB Đức chia những ấn phẩm khiêu dâm có sự tham gia của người dưới 18 tuổi thành hai loại là ấn phẩm khiêu dâm trẻ em và ấn phẩm khiêu dâm người chưa thành niên Những ấn phẩm khiêu dâm trẻ em có nội dung là việc thực hiện các hành vi tình dục trẻ em, ở trẻ em hay trước trẻ em Nói cách khác, trong những ấn phẩm đó có sự tham gia của trẻ em để diễn tả một việc thực tế xảy ra hoặc gần với thực tế các hành vi quan hệ tình dục Vấn đề này cũng tương tự như ấn phẩm khiêu dâm người chưa thành niên
Theo đó, những hành vi phát tán, trưng bày công khai, tạo ra, chuyển đến, cung cấp, tàng trữ, mời chào, thông báo, quảng cáo, nhập khẩu, xuất khẩu nhằm sử dụng những ấn phẩm khiêu dâm đó hoặc tạo cho người khác sự
sử dụng như vậy; chiếm hữu hoặc tạo cho người khác sự chiếm hữu những ấn phẩm khiêu dâm trẻ em diễn tả một việc thực tế xảy ra hoặc gần với thực tế
Trang 30thì sẽ bị truy cứu TNHS về tội Phát tán, mua và chiếm hữu những ấn phẩm khiêu dâm trẻ em (Điều 184b) hoặc Phát tán, mua và chiếm hữu những ấn
phẩm khiêu dâm người chưa thành niên (Điều 184c)
Đồng thời, nếu việc phát tán những chương trình có tính khiêu dâm qua đài phát thanh, những dịch vụ truyền thông hoặc viễn thông mà không có những biện pháp kỹ thuật hoặc phòng ngừa để đảm bảo những người dưới 18 tuổi không tiếp cận được các chương trình đó thì cũng bị xem là tội phạm và
bị truy cứu TNHS tương tự như các hành vi kể trên
Như vậy, các hành vi được xem là khiêu dâm trẻ em được mô tả trong BLHS CHLB Đức bao gồm ba dạng hành vi chủ yếu, đó là thực hiện hành vi tình dục trước một trẻ em (mà trẻ em đã nhận thức được các hành vi đó); hành
vi dùng các vật phẩm có chứa nội dung khiêu dâm tác động vào nhận thức của trẻ em (thông qua các giác quan như nghe, nhìn… những hình ảnh, vật lưu trữ
âm thanh, các buổi nói chuyện…); và phát tán các ấn phẩm khiêu dâm trẻ em hoặc người chưa thành niên (nội dung có sự tham gia thực hiện hành vi tình dục của trẻ em) cho những người khác Có thể xem các hành vi này như một
sự tác động không trực tiếp vào thân thể nhưng có thể làm nảy sinh ham muốn tình dục ở trẻ em, đôi lúc sự tác động này còn dễ đạt được mục đích (khiêu dâm) hơn các phương thức tác động trực tiếp khác; hoặc xúc tác cho hoạt động bóc lột tình dục trẻ em (thông qua các ấn phẩm khiêu dâm có sự tham gia của trẻ em)
Tuy nhiên những quy định của BLHS CHLB Đức chưa thể hiện được hết các hành vi khách quan của Tội khiêu dâm trẻ em được đề cập trong các văn bản pháp lý quốc tế Đối chiếu với yêu cầu hình sự hóa hành vi khiêu dâm trẻ em của chuẩn mực quốc tế, BLHS CHLB Đức chưa phản ánh đầy đủ các hành vi khách quan Các quy định trong BLHS CHLB Đức mới thể hiện
được hành vi thứ nhất, đó là hành vi sản xuất, phân phối, phổ biến, nhập
khẩu, xuất khẩu, chào mời, bán hay sở hữu văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em
Trang 31mà chưa hình sự hóa hành vi sử dụng, mua bán hay dụ dỗ trẻ em cho mục
đích sản xuất sách báo đồi trụy hay các cuộc biểu diễn khiêu dâm
Thứ hai, chủ thể phạm các tội khiêu dâm trẻ em trong BLHS CHLB Đức được quy định là chủ thể thường
BLHS CHLB Đức chỉ mới xác định chủ thể phạm các tội khiêu dâm trẻ
em là cá nhân con người Người thực hiện các hành vi mô tả trong CTTP khiêu dâm trẻ em thì phải chịu TNHS về tội phạm này Người thực hiện tội phạm có thể là thành viên của một băng nhóm để thực hiện các hành vi phạm tội khiêu dâm trẻ em
Đối chiếu với yêu cầu về phạm vi chủ thể trong chuẩn mực quốc tế, BLHS CHLB Đức chưa quy định TNHS của pháp nhân khi cá nhân đại diện cho pháp nhân đó và vì lợi ích của pháp nhân đó thực hiện các hành vi phạm tội Điều đó có thể sẽ gây ra những lỗ hổng trong việc thực thi luật trên thực tế
Tiếp theo, về hình phạt đối với các tội khiêu dâm trẻ em
BLHS CHLB Đức đã quy định hình phạt đối với các hành vi khiêu dâm trẻ em là hình phạt tù có thời hạn hoặc hình phạt tiền, tùy mức nghiêm trọng của từng hành vi mà người phạm tội sẽ bị xử lý khác nhau Mức phạt tước tự
do dao động từ ba tháng đến năm năm, trong trường hợp là tội phạm có tính chuyên nghiệp hoặc thực hiện với tư cách là một thành viên của một băng nhóm đã liên kết để thực hiện hành vi phạm tội có thể mức phạt tước tự do đến mười năm Mặc dù BLHS CHLB Đức không quy định mức tiền phạt cụ thể là bao nhiêu, tuy nhiên tùy theo từng hành vi phạm tội cụ thể cũng như hậu quả nguy hại cho xã hội mà Tòa án có thể xem xét xử phạt Việc quy định chế tài là hình phạt tù có thời hạn hoặc hình phạt tiền là biện pháp phù hợp với chuẩn mực quốc tế cũng như tùy theo tính chất nguy hiểm của hành vi mà đường lối xử lý cũng có sự linh hoạt Việc quy định về chế tài của BLHS CHLB Đức đã đáp ứng được yêu cầu về chế tài hình sự đối với Tội khiêu dâm trẻ em theo chuẩn mực quốc tế
Trang 321.3.2 Những quy định của Bộ luật hình sự Thụy Điển đối với hành vi khiêu dâm trẻ em
Thụy Điển là một trong những quốc gia rất chú trọng xây dựng hệ thống bảo vệ trẻ em, bao gồm các quy định của pháp luật, các chính sách hiện hành và phát triển công tác xã hội với trẻ em nhằm bảo vệ trẻ em nhằm bảo
vệ, chăm sóc trẻ em trước các nguy cơ bị xâm hại
Báo cáo của cơ quan UNICEF tại Thụy Điển kết hợp với Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển năm 2004 về vấn đề khiêu dâm trẻ em thông qua mạng internet đã tỏ ra lo ngại trước nguy cơ trẻ em là nạn nhân của các tội phạm xâm hại tình dục Báo cáo ước tính rằng số lượng trẻ em bị khai thác để phục vụ mục đích khiêu dâm trung bình khoảng 4 – 5 trẻ em/ tuần, nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ thì số lượng nạn nhân là trẻ em sẽ ngày càng tăng lên nhanh chóng Mạng internet đang ngày càng phổ biến toàn cầu, do vậy cuộc chiến chống các tội phạm khiêu dâm trẻ em càng được chú tâm Hiện nay, Thụy Điển cũng đã xây dựng các đường dây nóng (hotline) công khai để theo dõi, phát hiện và giải quyết các vụ việc xâm phạm tình dục trẻ em được kịp thời, đồng thời cũng tăng cường hiệu quả hoạt động của Cục điều tra hình sự quốc gia Thụy Điển và các Tổ chức bảo vệ quyền trẻ em trong các vấn đề liên quan.11Theo quy định của BLHS Thụy Điển, tội phạm về khiêu dâm trẻ em bao gồm tội bóc lột trẻ em trình diễn khiêu dâm (Điều 8 Chương 6) và tội khiêu dâm trẻ em (Điều 10a Chương 16)12 Từ các quy định của Điều 8 Chương 6 và Điều 10a Chương 16 BLHS Thụy Điển, có thể xác định các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm về khiêu dâm trẻ em như sau:
Trước hết, mặt khách quan của các tội phạm này được đặc trưng bằng các dạng hành vi:
11
http://www.unicef.org/magic/media/documents/beyond_all_tolerance.pdf
12 Xem Phụ lục
Trang 33- Dạng hành vi thứ nhất là khuyến khích hoặc bóc lột trẻ em thực hiện hoặc tham gia vào việc trình diễn khiêu dâm Khuyến khích là sự động viên, tác động đến tinh thần hoặc tạo điều kiện thuận lợi để trẻ em tự nguyện thực hiện hoặc tham gia vào các buổi trình diễn khiêu dâm Còn bóc lột là sự lợi dụng, khai thác quá mức sức lao động của trẻ em, đó gần như là sự ép buộc, cưỡng bức trẻ em phải tham gia các buổi trình diễn đó
- Dạng hành vi thứ hai là hành vi vẽ chân dung trẻ em trên bức tranh khiêu dâm hoặc phổ biến, chuyển giao, trưng bày… các bức tranh trẻ em như trên để phổ biến cho người khác Hành vi vẽ chân dung trẻ em trong các bức tranh khiêu dâm cũng tương tự như việc sản xuất các bức tranh khiêu dâm Đồng thời, các hành vi phi thương mại (phổ biến, chuyển giao, trưng bày…) đối với các bức tranh khiêu dâm đó nhằm phổ biến cho người khác cũng là hành vi khách quan của tội khiêu dâm trẻ em
- Dạng hành vi thứ ba là hành vi thương mại đối với các bức tranh khiêu dâm trẻ em, cụ thể là các hành vi mua hoặc đề nghị mua, thực hiện các biện pháp để thúc đầy việc mua bán, chiếm hữu bức tranh đó
Mặc dù luật hình sự của Thụy Điển không cấm các hành vi sản xuất, mua bán… các vật phẩm, hình ảnh có tính chất khiêu dâm nhưng lại cấm các hành vi như vẽ chân dung trẻ em trên các bức tranh khiêu dâm, phổ biến, chuyển giao, mua hoặc đề nghị mua, chiếm hữu các bức tranh này hoặc truyền bá cho trẻ em dưới 15 tuổi bằng việc phát tán có chủ ý các vật phẩm có tính bạo lực tình dục hoặc cưỡng ép tình dục… Tuy nhiên, BLHS Thụy Điển lại chưa đề cập được hết các hình thức khác ngoài tranh khiêu dâm như phim, ảnh, video… có chứa nội dung khiêu dâm trẻ em
Như vậy, với việc quy định tách bạch các hành vi khách quan như trong BLHS Thụy Điển là phù hợp với yêu cầu hình sự hóa các hành vi khiêu dâm trẻ em theo chuẩn mực của quốc tế Nhưng BLHS Thụy Điển lại chưa thể
Trang 34hiện được đầy đủ các hình thức khiêu dâm trẻ em như được đề cập trong chuẩn mực quốc tế mà mới chỉ cấm các bức tranh khiêu dâm trẻ em
Thứ hai, về đối tượng tác động của các tội phạm khiêu dâm trẻ em
- Đối với tội bóc lột trẻ em trình diễn khiêu dâm, đối tượng tác động của tội phạm là trẻ em, đó là những người dưới 15 tuổi, hoặc những người từ
15 đến 18 tuổi nếu tính chất của việc trình diễn khiến sức khỏe hoặc sự phát triển bình thường của các em bị ảnh hưởng Trẻ em dưới 15 tuổi là những người được luật hình sự Thụy Điển bảo vệ tuyệt đối trước các hành vi bóc lột trẻ em trình diễn khiêu dâm Trong bất kỳ trường hợp nào, người phạm tội thực hiện hành vi khách quan của tội bóc lột trẻ em trình diễn khiêu dâm đối với trẻ em dưới 15 tuổi sẽ bị truy cứu TNHS Trường hợp trẻ em từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, TNHS sẽ đặt ra nếu tính chất của việc trình diễn đó có thể gây nguy hại cho sức khỏe hoặc sự phát triển của trẻ em
- Đối với tội khiêu dâm trẻ em, đối tượng tác động của tội phạm là trẻ
em đang trong giai đoạn dậy thì hoặc có căn cứ cho rằng đó là người dưới 18 tuổi Dựa vào tính chất của hành vi, tội khiêu dâm trẻ em không chia thành các trường hợp về độ tuổi của trẻ em như đối với tội bóc lột trẻ em trình diễn khiêu dâm Người phạm tội thực hiện một trong các hành vi được mô tả trong CTTP phải chịu TNHS về tội khiêu dâm trẻ em nếu người được mô tả trong bức tranh khiêu dâm là trẻ em trong giai đoạn dậy thì hoặc có căn cứ xác định
đó là người dưới 18 tuổi
Thứ ba, mặt chủ quan của các tội phạm khiêu dâm trẻ em
Đối với tội bóc lột trẻ em trình diễn khiêu dâm (Điều 8 Chương 6), người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý
Đối với tội khiêu dâm trẻ em (Điều 10a Chương 16), lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý hoặc vô ý Trường hợp người phạm tội là người hoạt động kinh doanh hoặc bằng cách khác nhằm mục đích kiếm tiền mà phổ biến bức
Trang 35tranh trẻ em do cẩu thả thì cũng bị xem là tội phạm và phải chịu TNHS về tội khiêu dâm trẻ em
Mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP Người phạm tội khi thực hiện các hành vi được nêu trong CTTP với bất kỳ mục đích nào thì cũng đều bị xem là tội phạm khiêu dâm trẻ em Mặc dù trong BLHS Thụy Điển mục đích phạm tội không bắt buộc phải chứng minh, nhưng nếu tội phạm được thực hiện với mục đích lợi nhuận hoặc thu lời bất chính lớn thì
có thể cân nhắc để đánh giá tính chất nghiêm trọng của các tội phạm khiêu dâm trẻ em
Thứ tư, hình phạt đối với các tội phạm khiêu dâm trẻ em
Các biện pháp hình sự được quy định trong BLHS Thụy Điển đã đáp ứng được những yêu cầu của chuẩn mực quốc tế về chế tài hình sự đối với hành vi khiêu dâm trẻ em Hình phạt của các tội phạm khiêu dâm trẻ em là hình phạt tù hoặc hình phạt tiền
Đối với tội bóc lột trẻ em trình diễn khiêu dâm trong BLHS Thụy Điển, hình phạt được áp dụng là hình phạt tù có thời hạn hoặc hình phạt tiền Tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà mức phạt tù có thể lên tới sáu năm nếu trường hợp hành vi phạm tội được thực hiện trên quy mô lớn, hoặc
có sự thu lời bất chính, hoặc có sự đối xử tàn nhẫn với trẻ em
Đối với tội khiêu dâm trẻ em được quy định tại Điều 10b Chương 16 BLHS Thụy Điển, hình phạt được áp dụng là hình phạt tù có thời hạn đến hai năm tù, thậm chí có thể là bốn năm tù nếu tội phạm được coi là nghiêm trọng (đối với hành vi vẽ chân dung trẻ em trên các bức tranh khiêu dâm) Mức độ nghiêm trọng của tội phạm được đánh giá qua việc xem tội phạm đó có được thực hiện trong quá trình kinh doanh hoặc vì lợi nhuận hay không; đó có phải
là một phần của hoạt động tội phạm có hệ thống hoặc quy mô lớn hay không;
có liên quan đến một số lượng đặc biệt lớn các bức tranh hoặc các bức tranh thể hiện trẻ em bị đối xử đặc biệt tàn nhẫn hay không
Trang 36Hình phạt tù và hình phạt tiền theo tác giả là phù hợp trong việc răn đe, trừng trị đối với các hành vi phạm tội được nhắc đến trong BLHS Thụy Điển, Thụy Điển cũng là một nước rất quan tâm đến việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em Hàng năm, đất nước này cũng có các chương trình hành động, tọa đàm… để đề ra những biện pháp nhằm ngăn chặn và giúp đỡ kịp thời đối với những trẻ em bị xâm hại
1.3.3 Những quy định của Bộ luật hình sự Nhật Bản đối với hành vi khiêu dâm trẻ em
Nhật Bản là quốc gia điển hình cho phép hợp pháp hóa hành vi khiêu dâm (nhưng phải có sự kiểm duyệt của các cơ quan chức năng), đồng thời là đất nước có nền công nghiệp tình dục phát triển mạnh mẽ và phong phú nhất trên thế giới Không chỉ cho phép các hành vi khiêu dâm người lớn, trước đây Nhật Bản thậm chí còn cho phép các hành vi khiêu dâm trẻ em, điển hình là thông qua các ấn phẩm truyện tranh khiêu dâm (anime, manga… khiêu dâm) hoặc các trò chơi điện tử mô tả tình dục trẻ em cũng được chính phủ nước này cho phép xuất bản Trong những năm gần đây, các sản phẩm khiêu dâm trẻ
em tại Nhật Bản mới bị xếp vào các đối tượng bất hợp pháp
Các tội phạm khiêu dâm được quy định trong Chương XXII (các tội khiêu dâm, hiếp dâm và song hôn) của Bộ luật hình sự Nhật Bản (BLHS Nhật Bản) Theo đó, hành vi khiêu dâm được phản ánh trong nhiều tội danh, bao gồm: Khiêu dâm công khai (Điều 174), Phân phối các sản phẩm khiêu dâm (Điều 175), Khiêu dâm cưỡng bức (Điều 176) và Khiêu dâm cưỡng bức dẫn đến chết người hoặc gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe (Điều 181)13 Tội khiêu dâm trẻ em được quy định tại Điều 176 (Khiêu dâm cưỡng bức) với đối tượng là trẻ em từ 13 tuổi trở lên, hoặc dưới 13 tuổi Còn đối với các tội phạm khiêu dâm khác, BLHS Nhật Bản không tách riêng đối tượng tác động
13 Xem Phụ lục
Trang 37của tội phạm là người đã thành niên hay trẻ em Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về các hành vi khiêu dâm trẻ em, tác giả sẽ phân tích các quy định về khiêu dâm trong chương XXII BLHS Nhật Bản
Trước hết, các dạng hành vi khách quan của tội phạm khiêu dâm trẻ em bao gồm:
- Đối với Tội khiêu dâm công khai theo quy định tại Điều 174 BLHS
Nhật Bản, hành vi khách quan của tội phạm này là “thực hiện hành vi khiêu dâm một cách công khai” Đó là việc thể hiện, trình diễn các động tác khiêu dâm, tục tĩu ở những nơi công cộng, có nhiều người biết đến (như đường phố,
ga tàu điện, các trang mạng xã hội có nhiều người truy cập…) Quy định về tội phạm này áp dụng đối với cả trường hợp khiêu dâm người đã thành niên
và trẻ em, trường hợp người thực hiện hành vi khiêu dâm ở những nơi có nhiều trẻ em hoặc biết rằng ở đó có thể có trẻ em (như nhà trẻ, trường học, công viên giải trí…) thì hành vi trên được xem là tội phạm khiêu dâm trẻ em
- Đối với Tội phân phối các sản phẩm khiêu dâm theo quy định tại Điều
175 BLHS Nhật Bản, hành vi khách quan của tội phạm này là phân phối, bán hoặc công khai trưng bày các tài liệu khiêu dâm dưới dạng viết, tranh ảnh hoặc các sản phẩm khác hoặc tàng trữ những sản phẩm khiêu dâm đó nhằm
mục đích để bán
Quy định này đã bị giới chính khách bảo thủ và dư luận cộng đồng quốc tế chỉ trích trong thời gian dài, bởi điều luật chỉ cấm các hành vi phân phối, bán hoặc công khai trưng bày, hoặc tàng trữ nhưng văn hóa phẩm khiêu dâm đó nhằm mục đích để bán Nói một cách khác, hành vi chỉ CTTP khi mục đích của hành vi là nhằm bán các sản phẩm khiêu dâm, còn nếu chỉ sở hữu mà không nhằm mục đích “để bán” thì vẫn được coi là hợp lệ
- Đối với Tội khiêu dâm cưỡng bức theo quy định tại Điều 176 BLHS Nhật Bản, hành vi khách quan của tội phạm này là dùng vũ lực hoặc đe dọa
mà thực hiện hành vi khiêu dâm Theo đó, nếu một người dùng vũ lực hay đe
Trang 38dọa để thực hiện hành vi khiêu dâm trái với ý muốn của họ thì sẽ bị truy cứu TNHS đối với hành vi khiêu dâm cưỡng bức Tuy nhiên điều luật này lại không cấm đối với các hành vi khiêu dâm trẻ em nếu có sự đồng thuận từ họ Nạn nhân của tội khiêu dâm cưỡng bức đa số là phụ nữ và trẻ em – những
người ít có khả năng bảo vệ mình, rất dễ rơi vào tình trạng bị “lợi dụng tình
trạng mất trí hoặc không thể kháng cự được của người phụ nữ hoặc làm cho người đó lâm vào tình trạng nói trên mà có hành vi khiêu dâm” hay “dùng vũ lực hoặc đe dọa mà thực hiện hành vi khiêu dâm”
- Đối với Tội khiêu dâm cưỡng bức dẫn đến chết người hoặc gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe theo quy định tại Điều 181 BLHS Nhật Bản, đây không phải quy định về tội phạm khác với những điều luật đã phân tích ở trên, mà có thể hiểu Điều 181 quy định về tình tiết tăng nặng so với hành vi khiêu dâm cưỡng bức (Điều 176 BLHS) Việc gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn (gây chết người hoặc gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe người khác) sẽ phải chịu chế tài nghiêm khắc hơn các hành vi trước
Tuy vậy, BLHS Nhật Bản cũng chỉ quy định hành vi khách quan của các tội phạm khiêu dâm khá đơn giản và không chia thành các đối tượng nạn nhân cụ thể có phải là trẻ em hay không Chỉ có Điều 176 là có quy định về
hành vi khiêu dâm cưỡng bức đối với “người nam hoặc người nữ khác từ 13
tuổi trở lên, hoặc dưới 13 tuổi” nhưng lại không có sự khác biệt về chế tài xử
lý Điều 178 BLHS Nhật Bản cũng đã giải thích về các trường hợp được coi
là khiêu dâm cưỡng bức, đó là sự “lợi dụng tình trạng mất trí hoặc không thể
kháng cự được của người phụ nữ hoặc làm cho người đó lâm vào tình trạng nói trên mà có hành vi khiêu dâm…” đối với người nam hoặc người nữ từ 13
tuổi trở lên, hoặc có các hành vi khiêu dâm đối với người nam hoặc người nữ khác dưới 13 tuổi thì sẽ bị coi là tội phạm BLHS Nhật Bản cũng quy định cấm các hành vi khiêu dâm công khai hoặc tàng trữ, phân phối các sản phẩm, tài liệu khiêu dâm dưới dạng viết, tranh ảnh hoặc các sản phẩm khác
Trang 39Thứ hai, về dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm
BLHS Nhật Bản quy định về lỗi của tội phạm khiêu dâm trẻ em là lỗi
cố ý
Bên cạnh đó, mục đích phạm tội chỉ được yêu cầu đối với tội Phân phối các sản phẩm khiêu dâm theo quy định tại Điều 175, đó là mục đích để bán Còn đối với các hành vi khác (thực hiện hành vi khiêu dâm công khai, khiêu dâm cưỡng bức) thì không đòi hỏi phải chứng minh mục đích phạm tội
Thứ ba, về hình phạt đối với các tội phạm khiêu dâm trẻ em
Cũng giống như một số quốc gia khác trên thế giới, Nhật Bản cũng quy định hình phạt tiền và hình phạt tù là chế tài xử lý đối với các tội phạm này Điều này phù hợp với yêu cầu về chế tài hình sự đối với hành vi khiêu dâm trẻ em theo chuẩn mực quốc tế Đối với mỗi hành vi phạm tội mà mức phạt tù cũng như hình phạt tiền sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Mức phạt tù cao nhất đối với các hành vi khiêu dâm
là chung thân (được quy định tại Điều 181)
1.3.4 Những quy định của Luật hình sự hợp nhất Nam Australia (South Australia) đối với hành vi khiêu dâm trẻ em
Tương tự các quốc gia CHLB Đức, Thụy Điển và Nhật Bản, Australia cũng là một nước rất quan tâm đến các vấn đề nhân quyền, đặc biệt là quyền trẻ em Điều đó được thể hiện trong hệ thống pháp luật, chính sách về trẻ em như Luật bảo vệ trẻ em, chính sách tư pháp thân thiện với trẻ em, tăng cường hoạt động của các cơ quan dịch vụ công tác xã hội có thẩm quyền về tiếp nhận và điều tra các vụ việc xâm hại trẻ em, tổ chức ECPAT tại Australia Trước tình hình tội phạm xâm hại tình dục trẻ em đang có diễn biến phức tạp như hiện nay, vấn đề về các tội phạm khiêu dâm trẻ em đã được đề cập trong
hệ thống pháp luật từng bang như: Luật về tội phạm tình dục (bang Victoria), Luật hợp nhất pháp luật hình sự Nam Australia (Bang South Australia)…
Trang 40Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ xem xét và đánh giá những quy định về các tội phạm khiêu dâm trẻ em trong Luật hợp nhất pháp luật hình sự Nam Australia năm 1935 (sau đây gọi tắt là LHSHN Nam Australia)14
Trước hết, về khái niệm khiêu dâm trẻ em, khái niệm này được quy
định tại Điều 62 LHSHN Nam Australia năm 1935 (Criminal Law Consolidation Act 1935) LHSHN Nam Australia cũng đã giải thích về các tài liệu khiêu dâm trẻ em là sự mô tả hoạt động tình dục hoặc bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể của trẻ, hoặc có căn cứ để xác định có sự tham gia của trẻ trong các tài liệu in, tranh, ảnh, tác phẩm điêu khắc, phim, video hoặc bất kỳ hình thức nào khác nhằm mục đích kích thích hoặc thỏa mãn ham muốn tình dục cho mình hoặc người khác
Giải thích của LHSHN Nam Australia về các tài liệu khiêu dâm trẻ em
là phù hợp với chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, nội dung này chưa đề cập đến việc sử dụng trẻ em trong các buổi trình diễn khiêu dâm như Công ước quốc
tế đã quy định
Thứ hai, các hành vi khách quan của các tội phạm khiêu dâm trẻ em
được quy định tại Chương 11A (Bóc lột trẻ em) LHSHN Nam Australia Cụ thể, tại các Điều 63, 63a, 63b, 63c, các tội phạm khiêu dâm trẻ em bao gồm
các dạng hành vi sau đây:
- Dạng hành vi đầu tiên là sản xuất, phổ biến hoặc tham gia sản xuất, phổ biến các tài liệu khiêu dâm trẻ em Hành vi này được phản ánh trong cấu thành của tội sản xuất hoặc phổ biến tài liệu khiêu dâm trẻ em tại Điều 63 LHSHN Nam Australia Đó là việc trực tiếp thực hiện sản xuất, phổ biến, hoặc có hành vi tham gia cùng, làm cùng người khách để thực hiện sản xuất, phổ biến các tài liệu khiêu dâm trẻ em
14 Xem Phụ lục