1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chức năng của tòa án trong tố tụng hình sự

93 212 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là quy định rất mới của Hiến pháp năm 2013 và bằng việc quy định đó Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ ràng, cụ thể vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy cơ quan nhà nước,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU TRANG

CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN TRONG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

MÃ SỐ: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự” là công trình nghiên cứu của riêng tôi,

thực hiện trên cơ sở các kiến thức lý luận, thực tiễn và tham khảo các tài liệu liên quan Các số liệu có nguồn trích dẫn đảm bảo tính trung thực, chính xác; luận văn chưa từng được công bố trong công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày 29 tháng 7 năm 2016

Người viết luận văn

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG

CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

9

1.1 Khái niệm và đặc điểm chức năng của Tòa án trong tố tụng

hình sự

9

1.2 Phạm vi thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự 15

1.3 Các nguyên tắc bảo đảm thực hiện chức năng của Tòa án trong

Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC THỰC HIỆN

CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

68

3.1 Tiếp tục hoàn thiện chức năng của Tòa án và tăng cường

hướng dẫn, triển khai thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 28/11/2013, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp mới, có thể nói đây là một sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa những thành tựu lập hiến của các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, đồng thời tiếp thu những tư tưởng mới về Nhà nước pháp quyền cũng như thực tiễn công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay Hiến pháp năm 2013 là cơ sở hiến định quan trọng cho công cuộc đổi mới toàn diện ở đất nước ta nói chung, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong tiến trình Cải cách tư pháp nói riêng trong thời gian tới

Với nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước với đủ ba yếu tố phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp thì Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên kể từ sau Hiến pháp năm 1946 đã xác định một

cách rõ ràng: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và

kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp" (Điều 2 Hiến pháp 2013), theo đó, Quốc hội là cơ quan thực

hiện quyền lập pháp, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp

Tại Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định "Tòa án nhân dân là

cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" Như vậy, chức năng của Tòa án là chức năng xét xử - một chức năng đã

được thể hiện xuyên suốt trong các bản Hiến pháp trước đây Tuy nhiên đây là lần đầu tiên Tòa án được trao một sứ mệnh cao quý, riêng có của Tòa án đó là "thực hiện quyền tư pháp" Đây là quy định rất mới của Hiến pháp năm 2013 và bằng việc quy định đó Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ ràng, cụ thể vị trí, vai trò của Tòa

án nhân dân trong bộ máy cơ quan nhà nước, Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, thực hiện chức năng xét xử; Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất có quyền ra phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp theo quy

Trang 6

định của pháp luật và về các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài Nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực nhà nước đều thuộc thẩm quyền của Tòa án Vì vậy, quy định của Hiến pháp năm 2013 là cơ sở hiến định cho việc mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các loại án, thể hiện xu thế tất yếu của Nhà nước pháp quyền Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp, vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt động tư pháp

Để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Đảng ta đã đề ra nhiều

chủ trương cải cách tư pháp và nhấn mạnh: "Cải cách mạnh mẽ thủ tục tố tụng tư

pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp" 1; đồng thời yêu cầu cải cách nhiều nội dung cụ thể khác của tố tụng hình sự Đây là những định hướng quan trọng, chỉ đạo việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng ta về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bổ sung nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ, bổ sung và làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của Tòa án khi thực hiện chức năng Hiến định này Và để Tòa án thực hiện được chức năng xét xử đó thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung những quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án Những sửa đổi, bổ sung này giúp góp phần bảo đảm cho Tòa án thực hiện tốt hơn quyền tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013, đồng thời cũng bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự” là một yêu cầu mang tính cấp thiết hiện nay

1

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/5/2005, Nghị quyết số NQ/TW ngày 02/6/2005, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010, Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị; Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI của Đảng.

Trang 7

49-2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những nghiên cứu liên quan đến chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

đã được nhiều tác giả trình bày trong các công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như:

- Luận án tiến sĩ luật học:

+ Lê Tiến Châu (2008), Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam,

Viện Nhà nước và pháp luật, Viện khoa học xã hội Việt Nam Trong luận án, tác giả

đã khẳng định xét xử là chức năng cơ bản, chức năng trung tâm có vai trò quyết định trong TTHS, là chức năng độc lập có khả năng kiểm soát việc thực hiện các chức năng tố tụng khác Tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận về chức năng tố tụng hình sự như khái niệm, các loại chức năng tố tụng; vị trí, vai trò của chức năng xét xử trong các mô hình, hình thức tố tụng hình sự; nêu nội dung và phạm vi chức năng xét xử trong các quy định pháp luật tố tụng hình sự; về nguyên tắc, cơ chế giám sát việc thực hiện chức năng xét xử cũng như vai trò của chủ thể thực hiện chức năng xét xử Tác giả đã phân tích và chỉ ra những thành công cũng như bất cập trong quy định pháp luật về chức năng xét xử từ góc độ pháp luật thực định cũng như từ hoạt động thực tiễn, là những nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế hiệu quả của việc thực hiện chức năng xét xử nói riêng và chức năng tố tụng nói chung Trên cơ

sở đó tác giả luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng xét xử trong TTHS trong quá trình cải cách tư pháp và hoạn thiện các thủ tục tố tụng hình sự Việt Nam

+ Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Các chức năng trong tố tụng hình sự Việt

Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Học viện khoa học xã hội, Viện khoa học

xã hội Việt Nam Trong luận án, tác giả nghiên cứu ba chức năng cơ bản trong Tố tụng hình sự Việt Nam đó là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận của việc xác định chức năng tố tụng, ý nghĩa, nội hàm, phạm vi và giới hạn của từng chức năng trong tố tụng hình sự; xác định rõ mối liên hệ giữa chức năng của tố tụng với mô hình tố tụng hình sự, các nguyên tắc của tố tụng hình sự, đặc điểm của quá trình chứng minh trong vụ án hình sự; xác

Trang 8

định chủ thể thực hiện các chức năng tương ứng trong tố tụng hình sự Đồng thời tác giả đã đưa ra những quan điểm và các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về chức năng tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta Luận án là công trình đầu tiên xây dựng quan điểm lý luận tổng thể về chức năng tố tụng hình sự; làm rõ vai trò của việc phân định các chức năng tố tụng đối với việc thực hiện mục đích đổi mới tố tụng hình sự nước ta theo hướng tiếp thu các yếu tố hợp lý của tố tụng tranh tụng

- Luận văn thạc sĩ luật học: Trần Hoàng Giang (2012), Chức năng của Tòa

án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Đại học Luật Hà Nội Trong luận

văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chức năng của Tòa án trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự - giai đoạn trung tâm của tố tụng hình sự Tác giả đã chỉ ra tính chất của xét xử sơ thẩm quy định sự khác biệt giữa chức năng của Tòa án trong giai đoạn này với chức năng của các cơ quan tư pháp khác như VKS, CQĐT và với chức năng của Tòa án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Tác giả đã phân tích có hệ thống, đầy đủ chức năng của Tòa án trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự từ cơ sở khoa học đến các quy định hiện hành và thực tiễn

áp dụng; đã chỉ ra những quy định chưa thực sự hợp lý như về nghiên cứu hồ sơ và triệu tập người tham gia tố tụng, về trả hồ sơ điều tra bổ sung, về xét xử tại phiên tòa; và từ việc phân tích thực trạng, tác giả đã nêu rõ những nguyên nhân và xét trong yêu cầu cải cách tư pháp đã đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

- Các bài viết:

+ Trần Văn Độ (2010), "Xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Tòa

án trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp", Tạp chí Kiểm sát

(20) Trong bài viết, tác giả dựa trên cơ sở lý luận quan trọng nhất để nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Tòa án là việc khẳng định về mặt lý luận chức năng duy nhất của Tòa án là xét xử Ngoài xét xử, Tòa án không có chức năng nào khác Nhiệm vụ, thẩm quyền của Tòa án được xác định trong phạm vi chức năng xét xử đó Trước yêu cầu cải cách tư pháp, tác giả đưa ra kiến nghị về việc

Trang 9

hoàn thiện các quy định của BLTTHS về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Tòa

án cần được hoàn thiện theo hướng thể hiện chức năng duy nhất của Tòa án là xét

xử, không giao cho Tòa án các thẩm quyền không liên quan đến chức năng xét xử hoặc trái với chức năng xét xử

+ Lê Văn Cảm, Nguyễn Huy Phượng (2011), "Tòa án là trung tâm, xét xử là

trọng tâm trong tố tụng hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp", Tạp chí Tòa án

nhân dân (9) Trong bài viết, các tác giả đưa ra kiến nghị nhằm triển khai các giải pháp đồng bộ, chủ yếu - quan trọng hơn cả để nâng cao vai trò của quyền tư pháp trong quá trình tổ chức bộ máy quyền lực nói chung nhằm bảo đảm cho Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm trong tố tụng hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp,

đó là: sửa đổi, bổ sung các quy phạm hiến định về tổ chức bộ máy quyền lực Nhà nước phù hợp với các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền; xây dựng cơ chế bảo

vệ Hiến pháp bằng nhánh quyền tư pháp (Tòa án) phù hợp với các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền và pháp điển hóa lần thứ ba luật Tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành

+ Nguyễn Hoài Nam (2010), "Thực trạng và hướng hoàn thiện chức năng

xét xử của Tòa án trong BLTTHS 2003", Tạp chí Tòa án nhân dân (16) Trong bài

viết, tác giả đã phân tích những bất cập từ một số quy định của Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2003 không phù hợp với chức năng xét xử của Tòa án, không làm rõ các chức năng buộc tội, gỡ tội và xét xử, cũng như không phân định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Trên cơ sở đó tác giả đề xuất kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như tăng cường yếu tố tranh tụng; sửa đổi Điều 10 BLTTHS theo hướng khẳng định Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử và không có trách nhiệm chứng minh tội phạm; sửa đổi Điều 196 về giới hạn của việc xét xử theo hướng để Tòa án xét xử những bị cáo và những hành

vi mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử và bỏ quy định việc Tòa

án vẫn xét xử khi VKS rút toàn bộ quyết định truy tố

Trang 10

+ Nguyễn Ngọc Chí (2009), "Chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

trước yêu cầu cải cách tư pháp", Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong bài viết này, với chức năng xét xử, Tòa án là đại diện cho quyền lực tư pháp, trên cơ sở những luận giải khoa học, tác giả đã đưa ra kiến nghị thay đổi cách thức

tổ chức tòa án theo địa giới hành chính sang tiêu chí chức năng, thẩm quyền xét xử; hoàn thiện BLTTHS năm 2003 theo hướng loại bỏ những quy định không thuộc chức năng xét xử của Tòa án;

+ Hoàng Thị Minh Sơn (1998), "Các chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử

trong tố tụng hình sự", Tạp chí Luật học (2) Trong bài viết này, tác giả chủ yếu chỉ

tập trung làm rõ khái niệm chức năng buộc tội, chữa năng bào chữa, chức năng xét

xử cũng như mối quan hệ giữa ba chức năng này với nhau Bài viết không đề cập đến quy định của pháp luật tố tụng hình sự cũng như thực trạng thực hiện những quy định này trong tố tụng hình sự Mặt khác bài viết được công bố trước khi BLTTHS năm 2003 được ban hành nên chưa gắn với Cải cách tư pháp ở nước ta

Hầu hết các công trình khoa học, các bài viết nghiên cứu trên đã tập trung nghiên cứu về các chức năng trong tố tụng hình sự nói chung và chức năng xét xử của Tòa án nói riêng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự năm 2003 Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự Việt Nam theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Do đó, cần thiết phải có sự nghiên cứu cụ thể và toàn diện hơn về vấn đề này

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ khái niệm, đặc điểm chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự, phạm vi thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự và một số nguyên tắc liên quan đến việc thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

- Nghiên cứu cơ sở khoa học của các quy định về chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự, đánh giá kết quả đạt được cũng như hạn chế vướng mắc từ đó tìm ra được những nguyên nhân từ thực trạng thực hiện chức năng của Tòa án trong

tố tụng hình sự

Trang 11

- Định hướng việc tiếp tục hoàn thiện chức năng của Tòa án, đồng thời tăng cường hướng dẫn, triển khai thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

4 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, luận văn phải trả lời được các câu hỏi sau đây:

- Khái niệm, đặc điểm chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự là gì?

- Phạm vi thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự được xác định như thế nào? Cơ sở xác định nội dung chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự? Nội dung chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự được thể hiện ra sao?

- Những nguyên tắc nào liên quan đến việc thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự? Nội dung của các nguyên tắc đó được thể hiện như thế nào?

- Pháp luật về chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự được quy định như thế nào? So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

đã có những sửa đổi, bổ sung gì để bảo đảm việc thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự?

- Thực trạng pháp luật về chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự có những khó khăn, vướng mắc, hạn chế nào? Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

đó là gì?

- Những vấn đề cần kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện chức năng của Tòa

án trong tố tụng hình sự và giải pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự?

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận; quy định của pháp luật tố tụng hình sự và thực trạng thực hiện quy định về chức năng xét xử của Tòa án nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 12

hình sự năm 2003 của Tòa án nhân dân về chức năng của Tòa án trong tố tụng hình

sự Việt Nam trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015 Luận văn không nghiên cứu thực tiễn thực hiện quy định này của Tòa án quân sự

Do BLTTHS năm 2015 đã được ban hành và theo Nghị quyết số 144/2015/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của BLTTHS số 101/2015/QH13 từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành, nên ngoài việc phân tích quy định chức năng của Tòa án trong BLTTHS năm 2003, luận văn cũng nghiên cứu một số nội dung liên quan trong BLTTHS năm 2015

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận văn được tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, về pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm và chính sách hình sự của Nhà nước ta

- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng hệ thống phương pháp phổ biến hiện nay trong nghiên cứu khoa học như: phân tích, so sánh, tổng hợp

7 Những đóng góp mới của luận văn

- Luận văn phân tích có hệ thống, đầy đủ chức năng của Tòa án trong tố tụng

hình sự từ cơ sở khoa học đến các quy định pháp luật tố tụng hình sự năm 2015 và thực tiễn áp dụng

- Luận văn đưa ra những quy định chưa thực sự phù hợp, từ đó đóng góp ý kiến hoàn thiện pháp luật thực định về chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

- Luận văn phân tích những hạn chế trong thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự, đưa ra đề xuất kiến nghị khắc phục

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành ba chương:

- Chương 1: Lý luận về chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

- Chương 2: Thực trạng chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

- Chương 3: Giải pháp bảo đảm việc thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm và đặc điểm chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

Dưới góc độ ngôn ngữ, theo từ điển tiếng Việt, chức năng được hiểu là

"nhiệm vụ, tác dụng nói chung"2 Do đó, theo nghĩa chung nhất thì chức năng của

Tòa án là nhiệm vụ, tác dụng của cơ quan Tòa án Như vậy có thể hiểu Tòa án sinh

ra là để giải quyết các tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội

mà Nhà nước là đại diện

Dưới góc độ tổ chức quyền lực Nhà nước, theo Điều 2 Hiến pháp năm 2013:

"Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp" Theo đó, ở nước ta Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính

phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp Thực hiện quyền tư pháp mà chủ yếu là quyền xét xử một trong những chức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và được giao cho Tòa án nhân dân Do vậy, Tòa án nhân dân có vị trí rất quan trọng trong bộ máy Nhà nước, hay có thể nói Tòa án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp Điều này được thể hiện rõ nét qua Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về

chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020: "Tổ chức các cơ quan tư pháp và các

chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm" Vị trí trung tâm của Tòa án được thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền đưa ra các quyết định giải

quyết vụ án Sự tham gia của các chủ thể ở các giai đoạn như điều tra, truy tố, thu thập chứng cứ hay tại giai đoạn xét xử như buộc tội, bào chữa tại phiên tòa, tranh

2Viện ngôn ngữ học (2016), Từ điển tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Hà Nội;

Trang 14

luận tại phiên tòa đều nhằm phục vụ cho việc đánh giá và đưa ra các quyết định của Tòa án Kết quả của quá trình tố tụng là việc Tòa án xác định được bản chất của vụ

án và từ đó đưa ra quyết định mang tính quyền lực Nhà nước thể hiện sự đánh giá pháp lý về vụ án và xác định trách nhiệm của chủ thể liên quan

Thứ hai, Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án; sau khi xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án ra một phán quyết về một hành vi nào đó theo quy định của pháp luật là có tội hay không có tội và áp dụng hình phạt gì cho tội phạm đó Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành

Dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Tòa án là cơ quan Nhà

nước, mà “chức năng của Nhà nước được xác định từ bản chất, vai trò của Nhà

nước trong đời sống xã hội và ngược lại, các chức năng Nhà nước lại là sự biểu hiện cụ thể của bản chất và vai trò của Nhà nước"3 Do vậy chức năng của Tòa án được quy định bởi bản chất, vai trò của chính cơ quan này Có thể thấy Tòa án vốn được hình thành và tồn tại nhằm giải quyết các tranh chấp trong xã hội, phương diện hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của nó là xét xử Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Luật tổ chức Tòa án nhân dân qua từng thời kì đã khẳng định điều đó Chính vì vậy, chức năng của Tòa án là chức năng xét xử Sau khi thụ

lý hồ sơ vụ án hình sự, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa nghiên cứu hồ

sơ, trong thời hạn luật định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đưa ra các quyết định xử

lý hoặc mở phiên tòa xem xét một cách công khai, đầy đủ, toàn diện, khách quan chứng cứ do các bên cung cấp, điều khiển tranh luận tại phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án và đưa ra phán quyết được thể hiện bằng bản án hoặc các quyết định tố tụng khác

3 Đại học Luật Hà Nội (2008), “Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Nhà xuất bản Công an nhân dân

Trang 15

Ngoài ra, hiện nay còn có một số quan điểm khác nhau về chức năng của Tòa

án, đó là:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: "Chức năng xét xử là hoạt động đặc trưng, là

nhiệm vụ của Tòa án; các Tòa án là cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử Mọi bản án do Tòa án tuyên đều phải qua xét xử, không một ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của các Tòa án và kết quả xét xử phải

trưng trong TTHS đó là chức năng xét xử Chức năng xét xử là hoạt động, là nhiệm

vụ của Tòa án và là hoạt động đặc trưng riêng của Tòa án

Quan điểm thứ hai cho rằng: "Chức năng xét xử là chức năng giải quyết vụ

án, xem xét và xử các vụ án" 5 Hay "Chức năng xét xử là hoạt động của Tòa án nhằm giải quyết vụ án" 6 Pháp luật thực định cũng như hoạt động thực tiễn đã khẳng

định việc giải quyết vụ án không chỉ là nhiệm vụ riêng của Tòa án, lại càng không chỉ do Tòa án thực hiện, mà thông qua hoạt động của mình các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng tiến hành các hoạt động đặc trưng của mình để giải quyết vụ án, không có sự tham gia giải quyết vụ án của các cơ quan này chắc chắn TTHS không thể vận hành, vụ án sẽ không thể được giải quyết Quan điểm trên đây đã khẳng định chức năng xét xử là hoạt động của Tòa án, chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử

và giải quyết vụ án Tuy nhiên, chức năng xét xử không phải chỉ là giải quyết vụ án

mà trong quá trình thực hiện chức năng xét xử, Tòa án phải xem xét đến vấn đề quan trọng khác như: lỗi của bị cáo, hành vi khách quan, chủ thể, vấn đề trách nhiệm hình sự cũng như chính sách hình sự được áp dụng đối với bị cáo

Quan điểm thứ ba cho rằng: "Chức năng xét xử là chức năng của Tòa án" 7

Quan điểm này cho rằng xét xử là chức năng riêng của Tòa án mà không có bất cứ

4

Từ điển Luật học (1999), Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội, Hà Nội

5 Từ điển Tiếng Việt (1996), Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng

6 Hoàng Thị Sơn (1998), “Các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử trong TTHS”, Tạp chí Luật học (2)

7

Phan Trung Hoài (1998), “Bàn về mối quan hệ giữa chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử trong xét xử hình

sự”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nâng cao chất lượng hiệu quả CTKS hình sự trong giai đoạn

GĐT”, TANDTC, Hà Nội

Trang 16

cơ quan hay tổ chức nào có chức năng xét xử, có thể thấy quan điểm như vậy là hợp

lý Sự khẳng định này xuất phát từ Điều 127 Hiến pháp 1992 và Điều 10 BLTTHS

năm 2003 Theo đó, "Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương,

các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam " Điều 10 BLTTHS năm 2003 quy định "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" 8 Chức năng xét xử được thực hiện theo trình tự tố tụng do luật điều

chỉnh nhằm xem xét, làm rõ các tình tiết khách quan của vụ án để đánh giá hành vi phạm tội và ra bản án, quyết định đối với người có hành vi phạm tội đó

Chức năng xét xử có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, Tòa án thực hiện chức năng xét xử tức là giải quyết các vấn đề cụ

thể, từng tình huống, từng sự kiện cụ thể trong đời sống xã hội Do vậy cách thức tổ chức và hoạt động khác hoàn toàn với chức năng lập pháp và hành pháp

- Chủ thể thực hiện chức năng xét xử phải có trình độ chuyên môn, pháp lý cao để có thể ra phán quyết về các vấn đề phức tạp liên quan đến tội phạm, quyền

và lợi ích của công dân, tổ chức

- Tòa án khi thực hiện chức năng xét xử luôn bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật tố tụng về chứng cứ, về thời hạn, về độ chính xác của bản án, quyết định Việc xét xử phải tuân theo những nguyên tắc Hiến định cũng như nguyên tắc

tố tụng Các Tòa án không tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất mà tổ chức thành từng cấp xét xử độc lập nhau

- Tòa án thực hiện việc xét xử theo nguyên tắc hai cấp xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử, nguyên tắc tranh tụng, đảm bảo cho mọi công dân, tổ chức bình đẳng trước pháp luật

8 Lê Tiến Châu (2008), Chức năng xét xử trong Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện

Nhà nước và pháp luật, Hà Nội

Trang 17

Như vậy, Tòa án là chủ thể thực hiện chức năng xét xử, do đó có thể nói

rằng: "xét xử là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước do Tòa án nhân

danh Nhà nước thực hiện theo trình tự tố tụng do luật điều chỉnh" 9

Thứ hai, chức năng xét xử của Tòa án trong TTHS được thực hiện dựa trên

cơ sở phát động quyền buộc tội nhân danh Nhà nước Thông qua việc xem xét sự kiện do bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra; xem xét, đánh giá pháp lý về sự kiện

đó để ra phán quyết nhân danh quyền lực Nhà nước đối với hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi đó nhằm bảo vệ pháp chế, bảo vệ lợi ích chung của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Chức năng xét xử của Tòa án trong TTHS chỉ được thực hiện khi có sự hiện diện của chức năng buộc tội và chức năng bào chữa, nếu thiếu sự buộc tội và bào chữa sẽ không xuất hiện chức năng xét xử

Thứ ba, khi thực hiện chức năng xét xử, Tòa án giải quyết vụ án theo thẩm

quyền để xem xét bị cáo có lỗi hay không có lỗi, xác định bị cáo có phạm tội hay không để quyết định hình phạt và các biện pháp tư pháp khác Tòa án khi thực hiện chức năng xét xử có trách nhiệm xem xét toàn diện, đầy đủ các tình tiết của vụ án

do bên buộc tội và bào chữa đưa ra Trong phạm vi quy định pháp luật, Tòa án làm

rõ sự thật khách quan của vụ án Tòa án phải đánh giá về mặt pháp lý của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết của

vụ án Tòa án khi xét xử phải đảm bảo tính công khai, minh bạch trong việc trình bày, xem xét đánh giá vụ án cụ thể, hành vi phạm tội và nhân thân của người thực hiện hành vi phạm tội cụ thể, đảm bảo có sự tham gia bình đẳng của các bên buộc tội và bên bị buộc tội Tòa án xác định hình phạt và các hình thức trách nhiệm hình

sự khác phù hợp với chính sách hình sự đối với người bị buộc tội Như vậy, khi Tòa

án thực hiện chức năng xét xử thì việc người bị buộc tội có tội hay không sẽ được xem xét, quyết định.10

9 Phạm Hồng Hải (2001), “Vai trò của Tòa án trong hệ thống các cơ quan tư pháp”, Tạp chí Tòa án (1)

10 Lê Tiến Châu, tlđd, tr 26- 28

Trang 18

Thứ tư, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là tư tưởng xuyên suốt được thể hiện trong các Văn kiện của Đảng ta nhiều năm nay Tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp phải nhằm mục đích bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người theo quy định của pháp luật Hoạt động tư pháp là hoạt động giải quyết các tranh chấp trong xã hội, xử lý các vi phạm pháp luật Hoạt động

đó liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích của con người, của công dân Vì vậy, trong hoạt động Tư pháp, vi phạm quyền con người, quyền công dân và lợi ích chính đáng có nguy cơ xảy ra rất cao Do đó, tổ chức và hoạt động tư pháp, nhất là của Tòa án một mặt phải hiệu quả, bảo vệ quyền con người, lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; nhưng trước hết, Tòa án phải là biểu tượng của Công lý, là nơi công dân gửi gắm niềm tin rằng bất kỳ vi phạm pháp luật nào cũng bị xử lý nghiêm minh; bất kỳ quyền hoặc lợi ích hợp pháp nào của con

người, của công dân bị xâm phạm đều được bảo vệ theo đúng pháp luật Mặt khác,

quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các

cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Mặt khác,

việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta nhằm mục đích xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Làm rõ quyền tư pháp và từ đó xác định cơ quan có chức năng thực hiện quyền tư pháp là rất quan trọng Quyền tư pháp là quyền xét xử, tức quyền áp dụng pháp luật để ra phán quyết về các vi phạm pháp luật và các tranh chấp xảy ra trong xã hội Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước Điều này thể hiện vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp, khẳng định vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt động tư pháp.11

Từ các phân tích trên, theo tác giả: Chức năng của Tòa án trong tố tụng hình

sự là xét xử (áp dụng pháp luật) để phán quyết vụ án trên cơ sở xem xét đầy đủ,

11 Trần Văn Độ, http://moj.gov.vn/qt/cacchuyenmuc/ctv/news/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=9, ngày truy cập ngày 15/7/2016

Trang 19

khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp cũng như các quyết định tố tụng khác theo quy định của pháp luật

1.2 Phạm vi thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

Việc xác định phạm vi thực hiện chức năng xét xử của Tòa án trong tố tụng hình sự là xác định thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc chức năng xét xử Xác định chính xác phạm vi thực hiện chức năng xét xử là cơ sở để xác định đầy đủ, cụ thể nội dung của chức năng xét xử, xây dựng các quy định pháp luật về chức năng xét xử phù hợp12

Mặc dù BLTTHS Việt Nam chưa có điều luật nào quy định về phạm vi chức năng xét xử của Tòa án trong tố tụng hình sự, nhưng căn cứ vào quy định của pháp luật có thể hiểu, nhà làm luật đã xác định quá trình tố tụng hình sự ở nước ta bao gồm các giai đoạn: tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự Vì vậy có thể thấy rằng chức năng xét xử của Tòa án trong tố tụng hình sự sẽ bắt đầu từ khi Tòa án có thẩm quyền nhận hồ sơ và bản cáo trạng do Viện kiểm sát chuyển sang và vào sổ thụ lý

vụ án của Tòa án, không phải bắt đầu từ khi Tòa án mở phiên tòa xét xử

Về thời điểm kết thúc chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự thì tồn tại những quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự kết thúc khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực Theo quy định của pháp luật TTHS thì khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì các chủ thể có liên quan phải chấp hành theo bản án, quyết định đó Do vậy, khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì chức năng xét xử của Tòa án chấm dứt hoặc chuyển sang giai đoạn thi hành án

12 Lê Tiến Châu, tlđd, tr 51

Trang 20

Quan điểm thứ hai cho rằng: Nếu chức năng của Tòa án kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì trong trường hợp bản án, quyết định

đó bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì ở giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa án giữ vai trò gì? Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa

án vẫn thực hiện chức năng xét xử Mặc dù ở giai đoạn này Tòa án không xét xử lại

vụ án nhưng Tòa án vẫn phải xem xét, kiểm tra lại nội dung vụ án, xác định sự thật của vụ án, xem xét việc đánh giá pháp lý, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với hành

vi phạm tội của bị cáo để ra quyết định về vụ án như: bác kháng nghị, hủy bản án hoặc quyết định để điều tra, xét xử lại…

Cũng có ý kiến cho rằng, chức năng xét xử bắt đầu từ khi Tòa án nhận hồ sơ

vụ án do VKS chuyển sang và vào sổ thụ lý và chức năng xét xử của Tòa án kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án đã được thi hành13

Theo tác giả, chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự chưa thể kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà chức năng Tòa án vẫn tiếp tục tồn tại ở giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm và cần phân biệt chức năng xét

xử với chức năng của tòa án trong tố tụng hình sự Trong tố tụng hình sự, ngoài việc thực hiện chức năng xét xử, Tòa án còn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,

cá nhân

Về hình thức: phạm vi thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

bắt đầu từ khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến và vào sổ thụ

lý, kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án đã được thi hành

Với việc quy định "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước CHXHCN

Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" 14, Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ ràng, cụ thể vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy cơ quan nhà nước, Tòa án nhân

13 Lê Tiến Châu, tlđd, tr 53

14 Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013

Trang 21

dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, thực hiện chức năng xét xử Trong đó nội dung của chức năng xét xử là xem xét, đánh giá tính chính xác đối với

sự kiện phạm tội đã xảy ra, và người bị buộc tội đã thực hiện hành vi phạm tội đó trên cơ sở đánh giá pháp lý về sự kiện do các bên buộc tội và bào chữa đưa ra và đưa ra các phán quyết cuối cùng về vụ án được đưa ra xét xử

Trên cơ sở quy định pháp luật, bên buộc tội phải tiến hành thu thập chứng

cứ, thông tin, tài liệu để khẳng định có hành vi phạm tội xảy ra, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội; người thực hiện hành vi phạm tội; lỗi của người đó khi thực hiện hành vi phạm tội; năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm, động cơ, mục đích phạm tội; những chứng cứ chứng minh tính chất, mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra; tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người bị nghi là có hành vi phạm tội… Từ những chứng cứ thu thập được, bên buộc tội sẽ đánh giá pháp lý việc người thực hiện tội phạm đã phạm tội nào của BLHS và

áp dụng pháp luật hình sự về đường lối xử lý đối với người có hành vi phạm tội

Bên bào chữa trong phạm vi pháp luật quy định sẽ tiến hành thu thập chứng

cứ để bác bỏ những lập luận do bên buộc tội đưa ra về tất cả những vấn đề có liên quan đến sự việc phạm tội cũng như đánh giá pháp lý của bên buộc tội về sự việc phạm tội đó Lập luận của bên bào chữa đưa ra có thể bác bỏ hoàn toàn hoặc bác bỏ một phần những lập luận của bên buộc tội

Về nội dung, khi thực hiện chức năng xét xử, hoạt động của Tòa án thể hiện

chủ yếu ở việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, xét

xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm theo quy định của pháp luật Đó là:

Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do Luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp; Khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc

Trang 22

Tòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày

về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm; Ra quyết định để thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

1.3 Các nguyên tắc bảo đảm thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

1.3.1 Suy đoán vô tội

Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản, được ứng dụng rộng rãi trong nền khoa học pháp lý hiện đại Ngày nay, nguyên tắc suy đoán vô tội được nhiều Nhà nước coi là nguyên tắc của tố tụng hình sự, được đánh giá là thành tựu vĩ đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người Ở Việt Nam, trong quá trình cải cách tư pháp, việc ghi nhận và áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ tạo ra nhiều lợi thế cho một quy trình tố tụng tiến bộ, phù hợp với cải cách tư pháp Bởi lẽ nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo và nguyên tắc tranh tụng

Có thể hiểu nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội là một người sẽ không

bị coi là có tội nếu không bị kết án bởi một Tòa án hợp pháp Điều 11 Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc và Điều 14 Công ước quốc tế về quyền

dân sự và chính trị của Liên hợp quốc năm 1966 đều có quy định: "Bất kỳ người bị

buộc tội nào đều có quyền suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó được xác định theo một trình tự do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa án với sự bảo đảm đầy đủ khả năng bào chữa của người đó"

Hiến pháp năm 2013 đã công nhận quyền con người là một quyền độc lập tách khỏi quyền công dân Những quy định của Chương V Hiến pháp năm 2001 đã được sửa đổi bổ sung cho phù hợp và được quy định tại Chương II Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 2013 với tên gọi của chương là: Quyền con người, quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại

Điều 31 Hiến pháp năm 2013 như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội

Trang 23

cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa

án đã có hiệu lực pháp luật”

Việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp và

cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi bổ sung BLTTHS năm

2003 là việc làm cần thiết Việc bổ sung nguyên tắc suy đoán vô tội trong BLTTHS nhằm thực hiện mục đích của tố tụng hình sự là xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, bảo vệ quyền con người trong các hoạt động tố tụng hình sự

Nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định rõ trong BLTTHS năm 2015 như

sau: "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo

trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội" 15

Thực chất đây không phải là một nguyên tắc mới của Luật tố tụng hình sự vì

nó đã được thể hiện tại Điều 9 BLTTHS năm 2003 "Không ai bị coi là có tội khi

chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" Như vậy, trách nhiệm

chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh sự vô tội của mình Điều đó quy định các trách nhiệm cho cơ quan tố tụng:

Cơ quan công tố khi đưa ra lời cáo buộc phải có trách nhiệm chứng minh cho

sự cáo buộc đó Họ đóng vai trò tích cực trong việc làm rõ các chứng cứ, đáp lại luận điểm bào chữa của bị cáo, người bào chữa mà không được giữ im lặng Tòa án không có quyền chứng minh tội phạm mà phải xem xét công tâm các chứng cứ, luận điểm bên buộc tội và gỡ tội được đưa ra để phán quyết Việc chứng minh tội phạm không đơn thuần là sự lấn sân sang cơ quan công tố mà còn thể hiện sự vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội của Tòa án

15 Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Trang 24

Do được suy đoán vô tội nên các cơ quan tố tụng phải đảm bảo đúng các thời hạn điều tra, truy tố, xét xử đối với bị can, bị cáo Họ có quyền không bị chậm trễ đưa ra xét xử để có thể nhanh chóng được đưa ra khỏi vòng quay tố tụng, chấm dứt các biện pháp ngăn chặn, khôi phục các quyền cơ bản của công dân khi được tuyên

vô tội HĐXX là chủ thể đưa ra phán quyết về việc bị cáo có hay không có tội, xác định TNHS và quyết định hình phạt Vì vậy, bị cáo có quyền được sớm nhất chứng minh sự vô tội hoặc chứng minh tính nguy hiểm giảm nhẹ của hành vi đã thực hiện tại phiên tòa Các biện pháp ngăn chặn về bản chất là sự hạn chế các điều kiện của người bị tình nghi nhằm ngăn ngừa tội phạm, là sự đảm bảo cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trong các trường hợp cần thiết Vì vậy việc nhanh chóng được đưa ra xét xử cũng là quyền của bị can, bị cáo để họ có thể sớm gỡ bỏ các hạn chế quyền

và lợi ích hợp pháp của mình.16

Mặt khác, nguyên tắc suy đoán vô tội có mối liên quan với nguyên tắc tranh tụng và đặc biệt là với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội BLTTHS quy định nguyên tắc này nhằm đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử được khách quan, thận trọng, tránh trừng trị về hình sự đối với người dân vô tội và như vậy cũng có nghĩa là nhằm bảo vệ các quyền tự do cơ bản cũng như phẩm giá của con người, phù hợp với một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

“Mọi nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ phải được HĐXX giải thích theo hướng có lợi cho bị cáo Và vì vậy bản án hình sự có hai loại: tuyên vô tội hoặc có tội Đồng thời nguyên tắc này cũng xác định: bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh

và hoàn toàn có quyền giữ im lặng Hành vi khai gian dối của bị cáo nhằm chối tội chỉ có thể là cơ sở để không áp dụng tình tiết giảm nhẹ "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" mà không thể là một căn cứ xem xét tăng nặng TNHS”17

16

Trần Hoàng Giang (2012), Chức năng của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận văn

thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 17- 18

17 Trần Hoàng Giang (2012), Chức năng của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận văn

thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 18

Trang 25

Trong hoạt động thực tiễn, nguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn, bởi khi các tình tiết, sự kiện liên quan đến lỗi của bị cáo còn chưa được chứng minh rõ ràng, còn có mâu thuẫn sẽ không được Tòa án chấp nhận Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình phải cố gắng tận dụng những khả năng do luật quy định để làm sáng tỏ mọi tình tiết của vụ án18 Đây là nội dung quan trọng và là trọng tâm của nguyên tắc suy đoán vô tội, phản ánh bản chất nhân đạo, dân chủ, pháp quyền của tố tụng hình sự Việt Nam19 Và như vậy nguyên tắc suy đoán vô tội chính là định hướng quan trọng nhất để Tòa án thực hiện chức năng xét

xử

1.3.2 Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi thực hiện chức năng xét xử là nguyên tắc Hiến định, từ Hiến pháp năm 1946, các Luật tổ chức TAND 1960 đến nay Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi thực hiện chức năng xét xử là một trong những nguyên tắc quan trọng và là nền tảng chi phối toàn

bộ hoạt động của Tòa án Tuy nhiên sự độc lập ở đây phải được hiểu đó là sự độc lập của cá nhân các Thẩm phán và Hội thẩm, các Thẩm phán và Hội thẩm phải độc lập với nhau và độc lập với yếu tố tác động bên ngoài Chỉ khi các chủ thể này thực hiện chức năng xét xử độc lập, không bị phụ thuộc và bị tác động thì họ mới có điều kiện để tuân theo pháp luật và ngược lại, chỉ khi các chủ thể này tuân theo pháp luật, lấy pháp luật làm căn cứ duy nhất để xét xử thì họ mới được độc lập, không phụ thuộc vào cá nhân hay tổ chức nào

Tòa án là chủ thể thực hiện chức năng xét xử, có quyền nhân danh công lý và

sự công bằng nên phải xét xử độc lập Do đó, trong những phán quyết cụ thể thì Thẩm phán, Hội thẩm không phải chịu sự can thiệp trực tiếp từ hệ thống Tòa án Quan hệ giữa các cấp Tòa án không phải là quan hệ hành chính nên Tòa án cấp trên không thể ra lệnh cho Tòa án cấp dưới xét xử theo ý của mình Sự tổng kết kinh

18

Lê Tiến Châu, tlđd, tr.78

19 Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên), Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2016

Trang 26

nghiệm xét xử, hướng dẫn của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới không có nghĩa là can thiệp vào việc xét xử các vụ án cụ thể mà chỉ đưa ra đường lối xét xử chung, những kinh nghiệm để tạo điều kiện thuận lợi trong công tác xét xử của Tòa

án các cấp, bảo đảm sự thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật Tuy nhiên, khi Tòa án thực hiện chức năng xét xử, Tòa án không chỉ độc lập mà còn phải dựa trên

cơ sở pháp luật Pháp luật là cơ sở mà Tòa án dựa vào để đưa ra những phán quyết độc lập Tuân theo pháp luật là cơ sở cho sự độc lập xét xử của Tòa án Chính sự tuân thủ nguyên tắc độc lập và tuân theo pháp luật khi Tòa án thực hiện chức năng xét xử cũng là nhằm mục đích bảo vệ quyền con người của công dân, tránh sự lạm dụng quyền lực của chính các Thẩm phán, cũng như để cho các Thẩm phán tránh áp lực từ phía các quan chức hành chính.20 Theo quy định của pháp luật, Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức,

cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật".21

1.3.3 Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

Tranh tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Tố tụng hình sự dù được tổ chức theo mô hình và hình thức tố tụng nào vẫn luôn tồn tại các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử cũng như chủ thể thực hiện các chức năng đó Vì vậy, nguyên tắc tranh tụng luôn tồn tại khách quan không phụ thuộc vào việc chúng ta có thừa nhận hay phủ nhận Quá trình Tòa án thực hiện chức năng xét xử bị chi phối mạnh mẽ bởi nguyên tắc cơ bản và quan trọng này Sự phủ nhận nguyên tắc tranh tụng tức là phủ nhận tranh tụng, phủ nhận mục đích của TTHS, khó có thể xác định đúng quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể thực hiện chức năng TTHS ở mỗi giai đoạn của nó Điều đó có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm

20 Lê Tiến Châu, tlđd, tr 64-65

21 Xem Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Trang 27

trọng như: sự thật khách quan không được xác định, người vô tội bị xét xử oan hoặc

bỏ lọt người phạm tội, các quyền và lợi ích xã hội, của nhà nước và của công dân không được bảo vệ Nội dung chủ yếu của nguyên tắc tranh tụng là hình thức tổ chức và tiến hành phiên tòa xét xử, là điều kiện để làm sáng tỏ tất cả các chứng cứ, các tình tiết về vụ án làm cơ sở để Tòa án có quyết định đúng đắn, chính xác Vì vậy, tranh tụng phải được ghi nhận trong BLTTHS với tư cách là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS để phân định rõ các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử, giữa các chủ thể thuộc các bên và Tòa án Đồng thời, BLTTHS cần quy định đầy đủ và cụ thể các điều kiện pháp lý cần thiết để đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên tham gia tranh tụng.22Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm có nghĩa là: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật này quy định Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án

Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình

sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa

22 Lê Tiến Châu, tlđd, tr.68

Trang 28

Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.23 Đây là nguyên tắc Hiến định của Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là mô hình pha trộn giữa mô hình thẩm vấn và mô hình tranh tụng, trong đó thiên về thẩm vấn Hiến pháp quy định nguyên tắc này nhằm hướng mô hình tranh tụng hình sự Việt Nam phải tiếp thu, lựa chọn nhưng ưu việt của mô hình tố tụng thẩm vấn kết hợp với mô hình tố tụng trang tụng của một số quốc gia trên thế giới, tiếp tục thực hiện mô hình tố tụng thẩm vấn kết hợp với mô hình tranh tụng một cách hài hòa Đây là một nguyên tắc đòi hỏi hoạt động tố tụng nói chung, đặc biệt là hoạt động xét xử nói riêng phải đảm bảo tranh tụng giữa người có thẩm quyền tiến hành tố tụng với những người tham gia tố tụng khác trong vụ án Những người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều có quyền như nhau trong việc đưa

ra các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, các yêu cầu có thể được đặt câu hỏi khi Hội đồng xét xử thẩm vấn và có quyền tranh luận dân chủ, bình đẳng tại phiên tòa Hội đồng xét xử phải có trách nhiệm bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tiến hành

tố tụng và tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của hộ tại phiên tòa Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa Những vấn đề không được thông qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa thì không được quyết định trong bản án

Bằng việc xác định, liệt kê các chủ thể quan hệ tố tụng trong quá trình khởi

tố, điều tra, truy tố, xét xử, BLTTHS năm 2015 đã xác định tính chất của quan hệ tố tụng là quan hệ giữa một bên là Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng và một bên khác là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo

và người bào chữa của họ, cùng với những người tham gia tố tụng khác Tính chất

“hai bên” đó là cơ sở đầu tiên của tranh tụng trong xét xử

Tranh tụng chỉ tồn tại và được thực hiện khi có sự thừa nhận và khẳng định vai trò xét xử vô tư, khách quan của Tòa án Bộ luật xác định trách nhiệm của Tòa

23 Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Trang 29

án tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia

tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh luận dân chủ, bình đẳng trước Tòa án; bảo đảm để kết luận cho Tòa án liên quan đến chứng cứ xác định có tội hay vô tội, liên quan đến các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ định tội và quyết định hình phạt, xác định mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo phải là kết quả của một quá trình kiểm tra, đánh giá chứng

cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa

Hơn nữa, điều luật này cho thấy, quá trình tranh tụng diễn ra trong suốt quá trình tố tụng, bắt đầu từ giai đoạn khởi tố, điều tra, đến giai đoạn truy tố, xét xử Và

vì vậy, chủ thể quan hệ tranh tụng bao gồm cả Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tình chất tranh tụng trước hết thể hiện ở sự bình đẳng của các chủ thể nêu trên trong việc đưa ra chứng cứ, tự do trình bày và tranh luận tại phiên tòa, kiểm tra và đánh giá chứng cứ

Có thể thấy rằng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta đã hàm chứa những yếu tố của nguyên tắc tranh tụng và nội dung tranh tụng Tranh tụng cần đến sự phân vai rõ ràng giữa các chủ thể và nhờ đó, các chủ thể hình thành bên buộc tội và bên bào chữa với lợi ích tố tụng độc lập và khác nhau, đối lập nhau

Tố tụng tranh tụng được coi là địa hạt hành động của cả hai phía: phía Nhà nước mà đại diện là các cơ quan có chức năng buộc tội; phía bị can, bị cáo cùng với người bào chữa hoặc do người bào chữa đại diện Từ đó các bên sẽ nỗ lực hết mình để bảo

vệ lợi ích, bảo vệ quan điểm, trình bày chứng cứ, chủ động chứng minh về các tình

tiết của vụ án theo châm ngôn “chân lý chỉ tìm thấy trong tranh luận” Tố tụng

tranh tụng đòi hỏi tự do chứng minh và tự do đánh giá chứng cứ, bảo đảm tính

“mở” của chứng cứ với yêu cầu không một chứng cứ nào có thể được coi là có giá trị chứng minh ưu tiên hay có giá trị pháp lý tiên quyết.24

1.3.4 Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai

24 Nguyễn Hòa Bình (chủ biên), tlđd, tr 82- 83

Trang 30

Nguyên tắc này là một nguyên tắc mới bởi Điều 18 BLTTHS năm 2003 chỉ

có nội dung “xét xử công khai” Quy định này bảo đảm sự phù hợp của BLTTHS với Hiến pháp năm 2013: “Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong

thời hạn luật định, công bằng, công khai Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai” 25

Điều 18 BLTTHS năm 2003 quy định việc xét xử công khai là một trong những yếu tố bảo đảm Tòa án thực hiện chức năng xét xử Xét xử công khai là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của Tòa án Việc xét xử được tiến hành công khai để nhân dân có thể giám sát hoạt động của Tòa án, thiết lập mối quan hệ tin cậy giữa Tòa án và công dân Tòa án xét xử công khai là hình thức khẳng định vị trí và tầm quan trọng trong việc thực hiện chức năng xét xử của mình Mặt khác, việc xét xử công khai còn buộc những chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng nâng cao văn hóa pháp lý, tinh thần trách nhiệm và ý thức pháp luật trong việc thực hiện quyền hạn và trách nhiệm của mình Hơn nữa, xét xử công khai còn là một hình thức để tuyên truyền giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật có hiệu quả, thiết thực đối với người dân, góp phần thu hút nhân dân tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Nguyên tắc xét xử công khai đã được thể hiện tại

Điều 131 Hiến pháp năm 1992 và Điều 18 BLTTHS 2003 “Việc xét xử của Tòa án

được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định…”

Có thể nói việc xét xử công khai là công khai toàn bộ kết quả của hoạt động điều tra, truy tố; công khai việc thực hiện chức năng buộc tội và bào chữa để Tòa

án, công luận có thể kiểm tra, giám sát và đánh giá tính hợp pháp, tính có căn cứ của các kết quả đó Mặt khác, xét xử công khai còn thể hiện tính độc lập của Tòa

án, Tòa án có quyền độc lập đưa ra phán quyết sau khi đã kiểm tra tất cả các chứng

cứ cũng như lập luân của các bên mà không bị lệ thuộc vào bên nào Nguyên tắc xét

xử công khai không chỉ dừng lại ở việc phiên tòa diễn ra công khai mà kết quả của

25 Khoản 2 Điều 31 Hiến pháp năm 2013

Trang 31

phiên tòa đó cũng phải được công khai Vì vậy mà nguyên tắc xét xử công khai mới phát huy đầy đủ, đảm bảo khả năng kiểm tra, giám sát của nhân dân, của công luận đối với việc thực hiện chức năng xét xử Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án

hình sự đều phải tiến hành công khai, mà “…trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí

mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc giữ bí mật của đương sự theo

Như vậy, theo nguyên tắc này có một số trường hợp ngoại lệ cần thiết phải xét xử kín Tuy nhiên trong mọi trường hợp xét xử kín đều phải tuyên án công khai để đảm bảo tinh thần dân chủ, đảm bảo sự kiểm tra, giám sát của công luận đối với việc thực hiện các chức năng tố tụng, đặc biệt là chức năng xét xử.27 Với nội dung: Tòa

án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật Nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai28 Như

vậy Điều 25 BLTTHS năm 2015 một phần kế thừa nội dung “xét xử công khai”, đồng thời bổ sung thêm "xét xử kịp thời, công bằng" nhằm thể hiện quy định tại khoản 2 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 "Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử

kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai"

Đòi hỏi về quyền được Tòa án xét xử và xét xử kịp thời chính là bảo đảm hàng đầu cho quyền tiếp cận công lý của người dân và sự thể hiện trên thực tế chức năng hiến định của Tòa án nhân dân ở nước ta về duy trì và bảo vệ công lý Việc đặt

ra thời hạn tố tụng chính là xác định giới hạn các thẩm quyền của các cơ quan tố

tụng bởi kéo dài vô cớ tình trạng và địa vị “người bị buộc tội” đối với con người

26

Điều 18 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

27 Lê Tiến Châu, tlđd, tr 74- 76

28 Xem Điều 25, BLTTHS năm 2015

Trang 32

chính là sự hạn chế quyền con người và xóa bỏ công lý BLTTHS năm 2015 đã có bước đổi mới quan trọng nhằm vào hướng khắc phục những hạn chế liên quan đến thời hạn trong tố tụng hình sự Bộ luật đã rút ngắn đáng kể thời hạn tạm giam và số lần gia hạn tạm giam: chỉ quy định gia hạn 1 lần thay vì 2 lần đối với tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng; 2 lần đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng (so với 3 lần trước đây) Tinh thần chung là mọi hoạt động tố tụng đều phải được xác định giới hạn thời gian và phải được thực hiện nghiêm ngặt nhằm loại trừ sự tùy tiện, lạm dụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.29

1.3.5 Xác định sự thật của vụ án

Đây là nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nói chung và trong việc thực hiện chức năng của Tòa án nói riêng Các cơ quan tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng giải quyết vụ án về bản chất chính là việc xác định sự thật vụ án đó, tái hiện

nó lại một cách chân thực, đầy đủ, toàn diện nhất để từ đó đưa ra quyết định xử lý chính xác, đúng luật và hợp lý Việc Tòa án tái hiện sự việc với đầy đủ các tình tiết

có ý nghĩa buộc tội hay gỡ tội, các tình tiết phản ánh sự tăng nặng và giảm nhẹ tính nguy hiểm của hành vi, các tình tiết phản ánh nhân thân của người phạm tội… mới

có thể giải quyết được đúng đắn và triệt để vụ án, xác định đúng mức TNHS cũng như đưa ra hình phạt đảm bảo hiệu quả và các tác dụng của nó

Sự thật khách quan không đồng nhất với sự việc phạm tội và hành vi phạm tội của bị can, bị cáo Nó có thể là sự việc phạm tội, có thể không phải; có thể có hành vi phạm tội của bị cáo, cũng có thể có hành vi phạm tội nhưng không phải do

bị can, bị cáo thực hiện Vì vậy, trách nhiệm xác định sự thật khách quan của Tòa

án không đồng nghĩa với trách nhiệm chứng minh tội phạm Khác với cơ quan công

tố, Tòa án không đưa ra lời buộc tội, không có trách nhiệm chứng minh sự cáo buộc Quá trình xét hỏi, việc điều khiển xét hỏi hay điều khiển tranh luận đều phải hướng tới mục đích duy nhất là xác định sự thật khách quan, cơ sở để đưa ra phán quyết Về nguyên tắc, Tòa án chỉ được phép tiến hành các hành vi tố tụng thuộc

29 Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên), tlđd, tr 80

Trang 33

chức năng, chỉ phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện chức năng là xét xử Nói cách khác Tòa án chỉ có trách nhiệm chứng minh tính đúng đắn của quyết định và phán quyết do chính cơ quan này ban hành.30

Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án được quy định trong BLTTHS năm

2015 đã kế thừa quy định của Điều 10 BLTTHS năm 2003 nhưng đã được thiết kế lại để nhằm khẳng định rõ hơn:

"Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến

hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình

vô tội

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự của người bị buộc tội"

Có thể thấy Điều 15 của BLTTHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự Theo đó, trách nhiệm chứng minh được Bộ luật xác định là thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Bộ luật cũng khẳng định: người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Yêu cầu này là một trong những yêu cầu phái sinh và hợp thành của nguyên tắc suy đoán vô tội.31

Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội

có nghĩa là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền khai hoặc không khai

báo Về bản chất, đây là "quyền im lặng" Trong quá trình xây dựng BLTTHS năm

2015, đã có nhiều ý kiến đề nghị cần phải quy định quyền này của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo Mặt khác, mặc dù BLTTHS năm 2003 đã có những quy định

"ẩn" về vấn đề này nhưng chưa bao quát đầy đủ nội dung của "quyền im lặng" Việc

30 Trần Hoàng Giang, tlđd, tr.16- 17

31 Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên), tlđd, tr 74

Trang 34

người bị buộc tội không khai báo, không đưa ra chứng cứ bất lợi cho họ là quyền

chứ không phải là "ngoan cố" để tăng nặng trách nhiệm hình sự với người bị buộc

tội

Tuy nhiên, Luật tố tụng không quy định rõ ràng, minh bạch về quyền im lặng

mà nhiều quốc gia khác đã quy định trong Luật tố tụng của họ Đó chính là sự thiếu minh bạch trong quy định của pháp luật và thiếu đi cơ sở pháp lý quan trọng để người bị buộc tội căn cứ vào đó thực hiện quyền cơ bản của mình Nhưng có thể

thấy việc quy định “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm

quyền tiến hành tô tụng” và “người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” nhằm bảo đảm tự do và an toàn cá nhân cho con người

trong quá trình tố tụng hình sự Hơn nữa, nguyên tắc này còn đặt ra yêu cầu về tính khách quan, tôn trọng sự thật, bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ trong toàn bộ quá trình tiến hành tố tụng, đặc biệt là trong quá trình chứng minh vụ án hình sự Và yêu cầu này chỉ đặt ra đối với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Nó đòi hỏi

cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải sử dụng hết mọi nỗ lực trong quá trình xác định các tình tiết của vụ án, có thái độ làm việc khách quan, toàn diện trong việc tìm kiếm và đánh giá chứng cứ Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tuân thủ các quy định của pháp luật, bên cạnh đó, trong tất cả các khâu hoạt động nói trên đều đòi hỏi các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của vụ án để có quyết định chính xác trong những tình huống giữa có tội và không có tội, áp dụng trách nhiệm hình sự hay miễn trách nhiệm hình sự Để bảo đảm pháp chế và công lý, cần phải huy động ở người áp dụng pháp luật không chỉ các kiến thức pháp luật mà còn cả những hiểu biết đầy đủ, khách quan và toàn diện

về các tình tiết của vụ án, nhân thân người phạm tội, với một sự nhạy cảm sâu sắc

Ở đây, ý thức pháp luật, niềm tin nội tâm của người áp dụng pháp luật là cơ sở quan trọng cho những quyết định đúng đắn và tính chặt chẽ của pháp luật.32

32 Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên), tlđd, tr.77

Trang 35

1.3.6 Tòa án xét xử tập thể

Đây là nguyên tắc hiến định và bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở việc bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ, khách quan của việc nghiên cứu, thẩm vấn, giải quyết các vụ án hình sự và bảo đảm tính đúng đắn, công bằng, khách quan của các bản án và quyết định của Tòa án, tránh được tính chủ quan, độc đoán và tùy tiện trong hoạt động xét xử

Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể được BLTTHS năm 2015 kế thừa và bổ

sung thêm như sau: “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp

xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định” (Điều 24 BLTTHS năm 2015)

Như vậy việc xét xử các vụ án hình sự ở mọi cấp đều do Hội đồng xét xử được thành lập theo quy định của pháp luật thực hiện Điều này cũng có nghĩa rằng pháp luật tố tụng hình sự nước ta chỉ thừa nhận việc xét xử do Hội đồng xét xử thực hiện,

mà không thừa nhận việc xét xử do một cá nhân thực hiện Khi xét xử, Tòa án quyết định theo đa số Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết mọi vấn đề của

vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề Thẩm phán biểu quyết sau cùng Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ sơ

1.3.7 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm

Nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” theo Điều 20 BLTTHS năm

2003 được thay đổi tên điều luật thành “chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” theo Điều 27 BLTTHS năm 2015 Có thể thấy việc thực hiện chế độ hai cấp xét xử là một trong những biểu hiện của dân chủ và tiến bộ trong tố tụng hình sự nước ta Bộ luật tố tụng hình sự quy định thực hiện chế độ hai cấp xét xử, cụ thể đó

là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình

sự được tiến hành theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định Theo đó, Tòa án có thẩm quyền xét xử, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện, khách quan

và đầy đủ, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xét xử công khai trước phiên tòa hình

sự nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người

Trang 36

phạm tội hay không để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ

án mà VKS đã truy tố Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử vụ án đó ở cấp đầu tiên, cấp xét xử cơ bản nhất và là cấp xét xử bắt buộc đối với bất kỳ một vụ án hình

sự nào

Xét xử phúc thẩm là hoạt động được tiến hành theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định của Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là cấp xét xử thứ hai, cấp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định

sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị

Khoản 2 Điều 27 BLTTHS năm 2015 quy định ”Bản án, quyết định của Tòa

án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc

có tình tiết mới theo quy định của Bộ luật này thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm” Như vậy, bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu

lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không phải là cấp xét xử

Trang 37

Kết luận chương 1

1 Trong tố tụng hình sự có nhiều chức năng quan trọng nhưng chức năng cơ

bản thì có ba loại, đó là: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét

xử Nói đến chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự tức là nói đến chức năng xét xử Để nhận thức được đầy đủ và toàn diện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự, tác giả đã tiếp cận dưới các góc độ ngôn ngữ, tổ chức quyền lực Nhà nước

và lý luận chung về Nhà nước và pháp luật để đưa ra khái niệm, đặc điểm chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự

2 Có thể nhận thấy rằng chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự chính là

chức năng của chủ thể thực hiện việc xét xử, nó giữ vị trí trung tâm và có vai trò quyết định trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, của tổ chức

và của Nhà nước; bảo vệ công lý và sự công bằng xã hội và chức năng xét xử có vai trò kiểm soát việc thực hiện chức năng buộc tội và chức năng bào chữa Trên cơ sở phân tích phạm vi thực hiện chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự có thể thấy chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự được bắt đầu từ khi Tòa án có thẩm quyền nhận và thụ lý hồ sơ vụ án do VKS chuyển sang và chức năng của Tòa án kết thúc khi bản án hoặc quyết định của Tòa án được thực hiện xong Khẳng định này là

cơ sở để xác định nội dung chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự Nội dung chức năng của Tòa án trong tố tụng hình sự chính là việc Tòa án xem xét, đánh giá xác định sự thật khách quan của vụ án; xem xét, đánh giá sự kiện xảy ra và đánh giá pháp lý đối với tất cả các vấn đề về sự kiện đó, ra các phán quyết khách quan và công bằng trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu, lý lẽ và lập luận do các bên đưa ra Phù hợp với nội dung này, pháp luật tố tụng hình sự sẽ quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và cách thức phù hợp mà Tòa án - chủ thể của chức năng xét xử thực

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG CHỨC NĂNG CỦA TÒA ÁN

Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành các văn bản pháp luật hình sự và TTHS ngay trong những ngày tháng đầu tiên sau khi giành được chính quyền Đó là các Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945, Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 về việc thành lập Tòa án quân sự; Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946

về tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán… Trong các văn bản pháp luật nêu trên, lần đầu tiên ghi nhận một số nguyên tắc cơ bản của TTHS nước ta, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là chức năng, nhiệm vụ của Tòa án; xác định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo, của người bào chữa và các chủ thể tham gia tố tụng khác; quy định trình tự, thủ tục tiến hành việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự cũng như xác định vị trí, vai trò

Trang 39

của chức năng xét xử trong TTHS Bước đầu đã có sự phân định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện các chức năng tố tụng

Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/29145 là văn bản pháp luật đầu tiên của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về thủ tục TTHS, trong đó Sắc lệnh đã xác định rõ ba chức năng cơ bản trong TTHS đó là: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử Theo đó, chức năng xét xử do Tòa án nhân danh Nhà nước thực hiện

Theo Hiến pháp năm 1946 và Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/2946, hệ thống Tòa

án được tổ chức theo các nguyên tắc Tòa án độc lập đối với hành chính (kể cả trong

tổ chức và hoạt động); các Thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm; xét xử các vụ án hình sự có Phụ thẩm nhân dân tham gia; khi xét xử, các thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được phép can thiệp… Đây là những nguyên tắc truyền thống của TTHS, những nguyên tắc này cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Về Thẩm phán Tòa án: Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 quy định khá rõ ràng

và khoa học về Quy chế Thẩm phán Theo sắc lệnh này, hệ thống Tòa án có hai ngạch Thẩm phán là ngạch sơ cấp và ngạch đệ nhị cấp Thẩm phán sơ cấp làm việc tại Tòa sơ cấp; Thẩm phán đệ nhị cấp làm việc tại các Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm (Điều 48) Các ngạch Thẩm phán lại được chia thành các hạng, ngạch đệ nhị cấp gồm bảy hạng, từ hạng bảy đến hạng nhất, ngạch sơ cấp gồm sáu hạng từ hạng năm đến ngoại hạng (Điều 52) Điều kiện để được bổ nhiệm làm Thẩm phán đối với từng ngạch cũng được quy định rất cụ thể và chi tiết Ngoài ra, sắc lệnh số 13 còn quy định khá đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán Có thể thấy đây là quy chế Thẩm phán đầy đủ và toàn diện nhất ở Việt Nam cho đến nay; nhiều nội dung của quy chế đến nay vẫn còn giá trị như: việc phân chia Thẩm phán thành các cấp, với các tiêu chuẩn và điều kiện bổ nhiệm khác nhau; việc xác định độ tuổi cho từng cấp Thẩm phán, sự độc lập của Thẩm phán khi thực hiện chức năng xét xử… đó chính là những điều kiện quan trọng để thực hiện tốt các chức năng tố tụng, chức năng xét xử

Trang 40

Năm 1950, cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam lần đầu tiên được tiến hành Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ

máy tư pháp và Luật tố tụng Điều 47 Sắc lệnh số 85 quy định: “Tòa án tư pháp sẽ

độc lập với các cơ quan hành chính Các vị Thẩm phán chỉ trọng pháp luật và công

lý Các cơ quan khác không được can thiệp vào việc tư pháp” Điều 50 Sắc lệnh

quy định cụ thể hơn: “Mỗi Thẩm phán xử án quyết định theo pháp luật và lương

tâm của mình Không quyền lực nào được can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào công việc xử án” Đây là những quy định thể hiện vị trí trung tâm, yêu cầu độc lập của

Tòa án khi thực hiện chức năng xét xử trong mối quan hệ với các chức năng tố tụng khác; là điều kiện để ngăn ngừa sự tác động, đe dọa đến việc thực hiện chức năng xét xử

Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp của nước ta, các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như mối quan hệ giữa các cơ quan này đã được xác định một cách rõ ràng, cụ thể hơn trong các văn bản pháp luật

về TTHS Chức năng xét xử trong TTHS đã được tách khỏi chức năng buộc tội và hoàn toàn chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất là Tòa án Tuy các cơ quan tiến hành tố tụng đều có nhiệm vụ chung là đấu tranh phòng và chống tội phạm, nhưng mỗi cơ quan có chức năng và nhiệm vụ cụ thể khác nhau: Công an điều tra, VKSND kiểm sát việc điều tra và thực hiện việc truy tố kẻ phạm pháp ra trước Tòa án và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử, còn TAND đảm nhận chức năng xét xử

Về vị trí, vai trò và trách nhiệm của TAND trong việc thực hiện chức năng

xét xử, TANDTC đã khẳng định: “Việc xét xử tại phiên tòa là giai đoạn quyết định

vụ án, giai đoạn quan trọng nhất của toàn bộ thủ tục TTHS Khi xét xử, các Thẩm phán phải chú ý đầy đủ cả hai mặt: buộc tội và gỡ tội mà không được thiên về một mặt nào” Tòa án phải có trách nhiệm bảo đảm cho các chủ thể tham gia tố tụng

thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, đặc biệt phải đảm bảo cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình trước Tòa án Đây là những điều kiện cần thiết để cho bị cáo có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, để không bị

Ngày đăng: 20/03/2018, 22:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w