Quy định của pháp luật tố tụng hiện hành về chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự.... Tính cấp thiết của đề tài Yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hì
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ PHÚC THẨM HÌNH SỰ 7
1.1 Khái quát chung về chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự 7
1.1.1 Quyền công tố và thực hành quyền công tố 7
1.1.2 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS 14
2.1 Chức năng VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự 18
2.1.1 Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự 19
2.1.2 Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự 21
2.1.3 Quan hệ giữa THQCT và KSVTTPL trong giai đoạn phúc thẩm hình sự 23
3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật TTHS về chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự từ năm 1945 đến trước năm 2003 25
3.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960 25
3.1.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1980 26
3.1.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 27
3.1.4 Giai đoạn từ năm 1992 đến nay 28 4.1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm của một số 28
Trang 3nước trên thế giới
4.1.1 Viện công tố Cộng hòa liên bang Đức 28
4.1.2 Viện công tố Nhật Bản 31
4.1.3 Viện công tố Pháp 34
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA VKS TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ PHÚC THẨM HÌNH SỰ 37
2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hiện hành về chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự 37
2.1.1 Kháng nghị phúc thẩm 38
2.1.2 Thực hành quyền công tố tại phiên toà phúc thẩm 42
2.1.3 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử phúc thẩm 52 2.2 Thực trạng thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm những năm gần đây 57
2.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 57
2.2.1.1 Những kết quả đạt được 57
2.2.1.2 Nguyên nhân của kết quả đạt được 60
2.3 Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thực hiện chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm và nguyên nhân 62
2.3.1 Những tồn tại và hạn chế 62 2.3.1.1 Những tồn tại và hạn chế trong hoạt động kháng nghị phúc thẩm 62
Trang 42.3.1.2 Những tồn tại, hạn chế trong hoạt động THQCT và KSVTTPL tai
phiên tòa phúc thẩm 64
2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 66
2.3.2.1 Bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành 67
2.3.2.2 Hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trách nhiệm của đội ngũ KSV 70
2.3.2.3 Về công tác tổ chức, quản lý điều hành 72
2.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự 74
2.3.1 Cải giải pháp về pháp luật 74
2.3.2 Các giải pháp về tổ chức 78
2.3.2.1 Về tổ chức và chức năng của VKS trong TTHS 79
2.3.2.2 Về công tác quản lý, chỉ đạo à điều hành 80
2.3.3 Các giải pháp về con người 81
Kết luận 84
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải nâng cao chất lượng hoạt động của Cơ quan tư pháp trong đó, việc nâng cap chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và ở giai đoạn xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự nói riêng nhằm đảm bảo truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Trong Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị đã chỉ rõ: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án, trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội,
xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà, đảm bảo cho tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác” Tại Nghị quyết 49-NQ/TW cũng tiếp tục khẳng định:
“Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp” Nghị quyết 49 cũng chỉ rõ:
“Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế
xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm” Để có thể hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trước những yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay, việc đổi mới cả về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát là một yêu cầu tất yếu khách quan
Trong những năm qua, hoạt động của Viện kiểm sát về thực hiện chức năng THQCT và KSVTTPL trong TTHS nói chung và trong xét xử các vụ án hình sự
Trang 6nói riêng đã đạt được những kết quả đáng kể và đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ có hiệu quả lợi ích của xã hội, các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm việc xét xử của Toà án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Bằng việc kháng nghị kịp thời theo các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với các bản án, quyết định của Toà án có
vi phạm pháp luật, VKS các cấp đã góp phần hạn chế có hiệu quả tình trạng oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của VKS trong TTHS nói chung và xét xử các vụ án hình sự nói riêng cũng còn bộc lộ nhiều yếu kém, hạn chế chưa đáp ứng được đầy
đủ và kịp thời yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay như: trong một số trường hợp còn bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội; việc kháng nghị còn hạn chế và chất lượng, hiệu quả chưa cao; việc tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên toà hình sự chưa tích cực, chủ động; tinh thần trách nhiệm, trình độ và kỹ năng nghiệp vụ của KSV còn nhiều hạn chế, bất cập ,
Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm ra được các nguyên nhân của những bất cập, hạn chế nêu trên để đưa ra các giải pháp đồng bộ, hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng của VKS trong xét xử phúc thẩm hình sự là một yêu cầu cấp thiết, khách quan hiện nay
Giai đoạn hiện nay, chúng ta đang đẩy nhanh tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, trong đó việc tổ chức lại hệ thống các cơ quan Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án được xác định là một khâu mang tính đột phá Một trong
những nội dung quan trọng trong Nghị quyết này đề ra là “nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố ” Yêu cầu này đã đặt ra cho khoa học pháp lý
cần có phương pháp tiếp cận mới, có cách nhìn mới cả về phương tiện lý luận và
Trang 7thực tiễn về chức năng, nhiệm vụ của VKS trong TTHS nói chung và trong xét xử phúc thẩm hình sự nói riêng
Tất cả những vấn đề mang tính thời sự như đã nêu trên cùng sự quam tâm,
mong muốn nghiên cứu của cá nhân chính là lý do mà tác giả đã lựa chọn “Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự” làm đề tài
Luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của VKS trong TTHS nói chung và trong xét xử phúc thẩm nói riêng là vấn đề không có gì mới mẻ trong khoa học pháp lý Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về vấn đề này
ở các góc độ, phạm vi và cấp độ khác nhau như: Đề tài khoa học cấp bộ “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm
1945 đến nay” (1999) của VKSNDTC; Luận án tiến sĩ luật học “Quyền công tố ở Việt Nam” (2002) của Lê Thị Tuyết Hoa; Luận văn thạc sĩ luật học “Vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự” (2002) của Tôn Thiện Phương; Luận văn thạc sĩ luật học “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2005) của Lê Lan Chi; “Tranh luận tại phiên toà phúc thẩm” (2008) Nxb Tư pháp (TS Dương Thanh Biểu chủ biên); “Tổ chức và hoạt động của Viện công tố ở Việt Nam” (2007) của TS Nguyễn Đức Mai (trong đề tài khoa học cấp bộ của VKSNDTC
Ngoài ra, cũng còn một số bài viết của nhiều tác giả khác đề cập đến vấn đề này đăng trên các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí luật học, Tạp chí kiểm sát, Tạp chí Toà án, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp ) Tuy nhiên, các công trình này nghiên cứu hoặc là mang tính bao quát về các vấn đề chung hoặc là nghiên cứu một số nội dung về kỹ năng tranh tụng của KSV tại phiên toà hình sự Cho đến nay, vấn đề
“Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm” vẫn chưa được
nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sở những vấn đề mà cả lý
Trang 8luận và thực tiễn đang đặt ra Việc tác giải lựa chọn “Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật
học là cần thiết nhằm kế thừa có chọn lọc những thành tựu đạt được của các công trình nghiên cứu nêu trên, góp phần bổ sung, hoàn thiện cả về mặt lý luận và thực tiễn cho hoạt động thực hiện chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
vụ án hình sự
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề chung
về chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự và các hình thức thực hiện chức năng này Trên cơ sở phân tích và chỉ ra những bất cập, hạn chế và vướng mắc trong thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này của VKS, đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Phân tích cơ sở pháp lý về chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ;
- Làm rõ nội dung chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ
án hình sự;
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thực hiện chức năng của VKS trong giai đoạn xét phúc thẩm vụ án hình sự những năm gần đây; chỉ ra những bất cập, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của chúng;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Trang 94 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật và thực trạng thực hiện chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình
sở cho việc đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, đặc biệt là các quan điểm chỉ đạo của Đảng trong các Nghị quyết số 08, Nghị quyết số 49 của Bộ chính trị
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giải đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử, so sánh, khảo sát thực tiễn, tham khảo ý kiến của các chuyên gia
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận:
Trang 10Những kết quả nghiên cứu đạt được trong luận văn có thể góp một phần nhỏ làm phong phú thêm lý luận của khoa học pháp lý về chức năng của VKS trong TTHS nói chung và trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự nói riêng
Về mặt thực tiễn:
Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện các quy định của pháp luật về chức năng của VKS trong TTHS Ngoài ra, nội dung của luận văn cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ KSV nhằm đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của Luận văn gồm 02 chương
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ PHÚC THẨM HÌNH SỰ
1.1 Khái quát chung về chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình
sự
Theo Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014 thì: Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
1.1.1 Quyền công tố và thực hành quyền công tố
Quyền công tố
Khi nghiên cứu chức năng của Viện kiểm sát chúng ta hay đề cập đến khái niệm thực hành quyền công tố, bên cạnh đó lại xuất hiện khái niệm quyền công tố hay Công tố quyền Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất Nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước Tủy từng kiểu Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định và với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội, con người, yếu tố văn hóa, yếu tố truyền thống chính trị của mỗi quốc gia để thiết
kế một bộ máy nhà nước khác nhau Do vậy, quyền công tố cũng có những khác biệt nhất định, đi đôi với việc hoàn thiện thể chế, hoàn thiệt hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thì việc hoàn thiện chế định quyền công tố cũng ngày càng rõ nét Ở nước ta, Hiếp pháp năm 1980 đề cập đến quyền công tố, thực hành quyền công tố khi quy định chức năng của Viện kiểm sát tại Điều 138 Cũng tại Điều 137 Hiếp pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2002 và Điều 107 Hiến pháp năm 2013 cũng đã khẳng định lại sự tồn tại của thuật ngữ quyền công tố, thực hành quyền công tố trong chức năng của Viện kiểm sát Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào quy định về khái niệm quyền công tố Vậy, quyền công tố là gì? Mặc
dù, các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật đã tập trung nghiên cứu, tuy nhiên vẫn chưa có cách hiểu thống nhất về khái niệm này Do vậy,
Trang 12cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn còn nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố và đến nay vấn đề này vẫn chưa được giải quyết một cách thống nhất, cụ thể là:
Quan điểm thứ nhất thì đánh đồng “Quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát” [41, tr.5]
Quan điểm thứ hai coi “Quyền công tố là chỉ là quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự” [41, tr.5]
Quan điểm thứ ba coi “Quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa hình sự” [41, tr.5]
Quan điểm thứ tư cho rằng quyền công tố là quyền buộc tội (quyền truy cứu trách nhiệm hình sự) nhân danh Nhà nước (nhân danh quyền lực công) đối với kẻ phạm tội “Quyền này là quyền của Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) Để làm được điều này, cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tại liệu, chứng cứ để xác định tội phạm
và người phạm tội Trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa Và do quyền công tố là truy cứu trách nhiệm hình sự nhân danh công quyền đối với người phạm tội nên đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội [41, tr5-6]
Quan điểm thứ năm cho rằng “Công tố là buộc tội, đưa một người ra trước tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa” [11 tr 32]
Quan điểm thứ sáu thì cho rằng “Quyền công tố là quyền do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự từ giai đoạn khởi tố
vụ án đến giai đoạn thi hành án” [16, tr 14]
Như vậy, các quan điểm trên hoặc là đã mở rộng phạm vi quyền công tố sang cả các lĩnh vực khác; hoặc là đã thu phạm vi quyền công tố trong một giai đoạn cụ thể là giai đoạn Viện kiểm sát truy tố người phạm tội và thực hiện chức
Trang 13năng buộc tội tại phiên tòa; hoặc coi quyền công tố là một quyền năng cụ thể của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hình sự Nhìn chung các quan điểm trên phần nào vẫn có những hạt nhân hợp lý, tuy nhiên các quan điểm trên vẫn chưa phân định rõ khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi của quyền công tố, để làm rõ được khái niệm này trước hết cần phải xuất phát từ các cơ sở lý luận và thực tiễn sau:
- Quyền công tố là quyền lực công xuất hiện gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật: “Quyền công tố tồn tại trong tất cả các kiểu Nhà nước từ Nhà nước chủ nô đến Nhà nước hiện đại” [16, tr, 118-119] Nhà nước ra đời và tồn tại trong một xã hội có giai cấp đối kháng không thể điều hòa được Đồng thời bất cứ kiểu Nhà nước nào cho dù sơ khai nhất cũng ban hành ra pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ở các mức độ khác nhau và để bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, trừng phạt những người có ý chí chống lại giai cấp cầm quyền thông qua việc buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi được coi là tội phạm Do vậy, bản chất của quyền công tố chính là quyền nhân danh Nhà nước để bảo vệ lợi ích công đó chính là sự buộc tội
- Thiết chế nhà nước càng phát triển ở mức đọ cao thì sự phân công, phân nhiệm các chức năng để thực hiện quyền lực công đó được thể hiện một cách rõ ràng và cụ thể Ở nhà nước Phong kiến trước đây quyền công tố cũng như quá trình
tố tụng của một vụ án hình sự có thể được giao cho một người vừa có chức năng quản lý hành chính vừa có chức năng điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển, sự chuyên môn hóa ngày càng cao thì quyền công tố cũng được giao cho một cơ quan có chức năng, nhiệm vụ riêng biệt
để nhân danh Nhà nước xử lý người đã thực hiện hành vi được coi là phạm tội Cơ quan đó sử dụng cac quyền năng pháp lý nhất định đó được gọi là co quan có trách nhiệm thực hành quyền công tố
Trang 14- Quyền công tố cũng như bất kỳ một quyền nào của Viện kiểm sát luôn phải được xem xét trong mối quan hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật cụ thể trong hoạt động của Viện kiểm sát Hay nói cách khác đây là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Xem xét khái niệm quyền công tố trong tổng thể lĩnh vực pháp luật hình sự để thấy quyền công tố là quền nhân danh quyền lực công để trấn áp, hoặc công khai tố cáo với xã hội về một hành vi bị coi là tội phạm
- Bản chất của tố tụng hình sự là hoạt động của các cơ quan tố tụng hình sự trong việc phát hiện, xác định và xử lý chủ thể thực hiện hành vi phạm tội được thể hiện ở ba chức năng chính là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chứ năng xét xử Trong đó chức năng buộc tội là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội Hình thức buộc tội là nhan danh Nhà nước giữa vai trò là động lực chính thu hút hoạt động của tất cả các chủ thể tham gia tố tụng
Như vậy, về bản chất, quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Hay nói cách khác, bản chất của quyền công tố là việc đòi trừng phạt những hành vi phạm tội để bảo vệ lợi ích công
Từ phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về quyền công tố như sau: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội và thực hiện sự buộc tội đối với người đó trước phiên toà
Từ khái nhiệm trên có thể xác định được đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố
Đối tượng của quyền công tố là yếu tố mà quyền công tố tác động tới nhằm thực hiện mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự Với cách hiểu này, đối tượng của quyền công tố không gì có thể khác hơn là tội phạm và người phạm tội
Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là phạm tội
Trang 15Phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi phạm tội xảy ra và kết thúc khi bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật
Thực hành quyền công tố
Tương tự như vấn đề quyền công tố, khi đề cập đến hoạt động thực hành quyền công tố, trong thời gian qua có không ít quan điểm nhận thức không chính xác, rõ ràng hoặc nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố, giữa thẩm quyền của VKS với các quyền năng pháp lý để thực hiện thẩm quyền đó
Như đã phân tích ở trên, quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này phát sinh ngay từ khi có hành vi phạm tội xảy ra và kết thúc khi phán quyết của Toà án nhân danh công lý tuyên phạt đối với người đã thực hiện tội phạm có hiệu lực pháp luật Quyền công
tố thể hiện rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội do chính hành vi phạm tội làm phát sinh Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Các quyền năng đó được giao cho cơ quan nhà nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội thì cơ quan đó được coi là cơ quan thực hành quyền công tố Ở nước ta, Nhà nước chỉ giao cho VKS thực hiện chức năng này cho nên VKS là cơ quan duy nhất có chắc năng thực hành quyền công tố
Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau, mỗi giai đoạn này tuy có tính độc lập tương đối nhưng liên quan chặt chẽ với nhau Mỗi giai đoạn thể hiện một nội dung nhất định của hoạt động tố tụng và giai đoạn tố tụng trước là tiền để cho giai đoạn tố tụng tiếp theo; giai đoạn tố tụng sau kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động của giai đoạn trước đó nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời những thiếu sót, sai lầm của giai đoạn trước và tạo thành một quá trình tố tụng thống nhất và hoàn chỉnh Theo pháp luật TTHS nước ta, VKS
Trang 16thực hiện các hành vi tố tụng thuộc nội dung của quyền công tố trong tất cả các giai đoạn tố tụng (từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử) Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng cụ thể mà việc sử dụng các quyền năng pháp lý của VKS cũng khác nhau Như vậy, thực hành quyền công tố là quá trình hiện thực hoá quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội bằng các quyền năng tương ứng mà Nhà nước trao cho một cơ quan nhất định Vì vậy, chúng tôi hoàn toàn đồng tính
với quan điểm cho rằng thực hành quyền công tố là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, tuy tố, xét xử [24, tr.28]
Như trên đã trình bày thì Đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội Đây cũng chính là đối tượng của hoạt động THQCT
Phạm vi thực hành quyền công tố: Để xác định đúng phạm vi thực hành quyền công tố trong xét xử phúc thẩm hình sự không thể không xem xét đến phạm
vi của quyền công tố và THQCT Nhiệm vụ của TTHS là mọi tội phạm xảy ra đêề phải được phát hiện và xử lý theo pháp luật Khi tội phạm xảy ra, thì đồng thời làm xuất hiện quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội Điều đó có nghĩa là quyền công tố cũng xuất hiện Vì vậy, về nguyên tắc thì phạm vi của quyền công tố và THQCT là đồng nhất với nhau, tức là đều xuất hiện từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, không phải tội phạm nào xảy ra cũgn đều được phát hiện kịp thời và tiến hành khởi tố (những trường hợp tội phạm ẩn) hoặc khi đã phát hiện tội phạm xảy ra nhưng cũng cần có những hoạt động xác minh, thu thập tài liệu trước khi khởi tố (các hoạt động tiền tố tụng) Mặc khác, không phải mọi trường hợp việc THQCT đã được phát động đều kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật mà có thể kết thúc sớm hơn khi có một trong những căn cứ được quy định trong BLTTHS Như vậy, trong thực tế thì phạm vi THQCT thường hẹp hơn phạm vi của quyền công tố Phạm vi THQCT bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi nào bản án có hiệu lực pháp luật,
Trang 17không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc vụ án bị đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS
Nội dung THQCT: Hiện nay vẫn còn một số quan điểm chưa thống nhất về nội dung THQCT Có quan điểm cho rằng, nếu coi khởi tố vụ án hoặc bắt, tạm giam bị can là nội dung THQCT thì cả Cơ quan điều tra và Toà án cũng là cơ quan THQCT Chúng tôi cho rằng nhận thức này là không chính xác vì không phải cứ khởi tố vụ án hoặc bắt tạm giam bị can, bị cáo đều là THQCT và cũng không phải chỉ có truy tố và buộc tội mới là THQCT Nội dung của THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Vì vậy, chỉ có cơ quan nào được phép sử dụng tất cả các quyền năng pháp lý này để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong suốt quá trình TTHS thì mới là cơ quan THQCT Ở nước ta chỉ có VKS mới
là cơ quan THQCT
Ở đây cũng cần xác định rõ trong TTHS, thì những quyền năng pháp lý nào thuộc về nội dung THQCT và những quyền năng pháp lý nào thuộc về nội dung KSVTTPL Trên cơ sở các quy định của BLTTHS và Luật tổ chức VKSND chúng tôi cho rằng: Những quyền năng pháp lý mà VKS tự quyết định và liên quan đến việc cáo buộc bị can, bị cáo là những quyền năng thuộc nội dung THQCT; những quyền năng pháp lý mà VKS sử dụng để phát hiện và yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khắc phục, xử lý vi phạm pháp luật là những quyền năng thuộc nội dung KSVTTPL Mặt khác, cũng có những hành vi tố tụng thể hiện sự đan xen giữa THQCT và KSVTTPL trong TTHS Ví dụ: Trong quyết định kháng nghị phúc thẩm của VKS đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án có thể đồng thời bao hàm cả hai nội dung (một là có sự vi phạm trong việc áp dụng BLHS; hai là, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng) hoặc chỉ thể hiện một trong hai nội dung trên cũng làm phát sinh trình tự xét xử phúc thẩm
Trang 18Từ phân tích trên có thể rút ra khái niệm: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
1.1.2 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS
đều chưa bao quát được chủ thể của hoạt động kiểm sát
Điều 23 BLTTHS quy định “ Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng,
áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này” Như vậy, có thể nói theo quy định của
pháp luật thì chỉ có một chủ thể duy nhất là VKS có chức năng KSVTTPL trong TTHS
Mặc khác, theo quy định tại Điều 32 BLTTHS, thì các chủ thể khác (như các
cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử ) có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Vấn đề đặt ra ở đây là
Trang 19các chủ thể này có được cọi là một trong các chủ thể của hoạt động KSVTTPL trong TTHS hay không? Chúng tôi cho rằng “giám sát” và “kiểm sát” là hai khai niệm khác nhau Quyền giám sát của các chủ thể nêu trên đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, chỉ là hoạt động mang
tính tự nguyện nhằm hướng tới việc “phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật” và
“loại trừ vi phạm pháp luật” của những cơ qun hoặc cá nhân trong TTHS Còn
KSVTTPL là các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ chức năng hoạt động chuyên trách của một cơ quan nhà nước là VKS Sự khác nhau giữa hoạt động kiểm sát của VKS và hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là phương thức và các quyền năng pháp lý mà pháp luật cho phép VKS khi thực hiện chức năng KSVTTPL Tuy nhiên, xuất phát từ ý nghĩa đặc biệt quan trọng của hoạt động giám sát nỳa nên có thể coi đây là các thiết chế bổ trợ cho hoạt động KSVTTPL trong TTHS
Ngoài ra, không thể không nhắc tới vai trò giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Xuất phát từ đặc thù của quan hệ phối hợp, chế ước lẫn nhau trong TTHS, Cơ quan điều tra, Toà án có thể phát hiện và kiến nghị xử lý các quyết định, hành vi tố tụng của nhau và của VKS nếu nhận thấy có vi phạm pháp luật
Theo Lý luận nhà nước và pháp luật thì “tuân theo pháp luật” là một dạng thực hiện pháp luật mang tính chất thụ động, thể hiện ở việc các chủ thể phải kiềm chế bản thân để không thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm Như vậy, nếu hiểu “tuân theo pháp luật” trong khái niệm “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS” nêu trên thì nội hàm của khái niệm này sẽ bị thu hẹp đáng kể Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đối tượng của KSVTTPL trong TTHS không chỉ
có hoạt động tuân theo pháp luật mà còn bao gồm cả các hoạt động thực hiện pháp luật khác ở mức độ cao hơn (như hoạt động áp dụng pháp luật, sử dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng)
Trang 20Theo Luật tổ chức VKSND và BLTTHS, thì hoạt động KSVTTPL trong TTHS được chia thành các bộ phận khác nhau gắn liền với từng giai đoạn TTHS: Kiểm sát điều tra, Kiểm sát xét xử, Kiểm sát thi hành án, Mỗi bộ phận này có đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ, quyền hạn riêng nhưng liên hệ mật thiết với nhau
và đều là hoạt động thực hiện chức năng KSVTTPL của VKS đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng nhằm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của bất kỳ ai, của bất kỳ cơ quan hay tổ chức nào trong suốt quá trình giải quyết vụ án Ngoài ra, khi phát hiện các vi phạm của các đối tượng kể trên, VKS có trách nhiệm kịp thời áp dụng những biện pháp thích hợp do pháp luật quy định để loại trừ vi phạm đó
Từ những nội dung trình bày trên, có thể đưa ra khái niệm: KSVTTPL trong TTHS là tổng hợp các quyền năng pháp lý của VKS, có nội dung là kiểm tra, giám sát hoạt động tuân theo pháp luật của tất cả các chủ thể tham gia TTHS trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất
Đối tượng KSVTTPL
Pháp luật TTHS quy định trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mỗi quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng Vì vậy, kiểm sát hoạt động của các chủ thể trong TTHS chính là kiểm sát việc các chủ thể có tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hay không
Hoạt động của các chủ thể trong TTHS bao gồm: Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và tương ứng là hoạt động của những người tiến hành tố tụng; Hoạt động của những người tham gia tố tụng như: người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa, người làm chứng Tóm lại, việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia vào TTHS
Trang 21là đối tượng của KSVTTPL trong TTHS Tất nhiên, đối tượng của KSVTTPL trong TTHS không thể bao gồm việc tuân theo pháp luật của chính bản thân VKS
Phạm vi KSVTTPL
Theo quy định của pháp luật TTHS, thì hoạt động KSVTTPL của VKS được thực hiện liên tục trong toàn bộ các giai đoạn của quá trình TTHS Tuy nhiên, hoạt động KSVTTPL trong mỗi giai đoạn tố tụng lại do các chủ thể - các VKS khác nhau (theo phân cấp) thực hiện Căn cứ vào chủ thể thực hiện hoạt động này có thể phân hoạt động KSVTTPL trong TTHS thành các hoạt động cụ thể sau: Hoạt động KSVTTPL ở trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm vụ án (hoạt động này do VKS cấp sơ thẩm thực hiện); Hoạt động KSVTTPL ở giai đoạn xét xử phúc thẩm (do VKS cấp phúc thẩm thực hiện); Hoạt động KSVTTPL ở giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm (do VKS cấp giám đốc thẩm, tái thẩm thực hiện)
Căn cứ vào các quy định của BLTTHS 2003 và Luật tổ chức VKSND 2014
có thể phân các quyền năng trên thành những nhóm sau:
Các quyền năng nhằm phát hiện vi phạm pháp luật bao gồm các quyền năng kiểm tra, giám sát hoạt động khởi tố, điều tra, hoạt động xét xử, hoạt động thi hành án Các quyền năng này nhằm bảo đảm cho VKS phát hiện được các vi phạm, xác định nguyên nhân và điều kiện dẫn đến vi phạm Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp để khắc phục vi phạm, bảo đảm sự tuân thủ triệt để pháp luật
Các quyền năng của VKS về yêu cầu khắc phục, xử lý vi phạm đối với các chủ thể tham gia vào TTHS Các quyền này bao gồm: kiến nghị, yêu cầu khắc
Trang 22phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; kiến nghị, kháng nghị trong công tác kiểm sát xét xử
2.1 Chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự
Theo từ điển Luật học thì “xét xử là hoạt động xem xét, đánh gái bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc” Như vậy xét xử là việc xem xét,
đánh giá một vụ việc nào đó dựa trên các quy định của pháp luật của một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thông qua nhiệm vụ được phân công của quyền lực Nhà nước, nhân danh Nhà nước để đưa ra một phán quyết về vụ việc đó
Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định rõ và chính xác tính chất của xét xử phúc thẩm (Điều 230), đó là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Mục đích của phúc thẩm là nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức xã hội và Nhà nước.Về phạm vi xét
xử phúc thẩm, thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xét xử lại vụ án trong phạm vi nội dung kháng cáo, kháng nghị Các phần khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ có hiệu lực pháp luật sau khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, trong quá trình xét xử nếu thấy cần thiết, Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét cả những phần khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị.Từ đó có thể thấy, căn cứ để tiến hành xét xử phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Hay căn cứ làm phát sinh trình tự, thủ tục xét xử phúc thẩm đó chính là kháng cáo, kháng nghị Đây cũng là một dấu hiệu để phân biệt với các hình thức xét xử khác
Mối quan hệ giữa chức năng chung của VKS trong TTHS và chức năng của VKS trong từng giai đoạn TTHS cụ thể là mối quan hệ giữ “cái chung” và “cái
Trang 23riêng”, giữa “tổng thể” và “bộ phận Vì vậy, từ chức năng chung của VKS trong TTHS bao gồm chức năng THQCT và chức năng KSVTTPL, có thể rút ra kết luận trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự, VKS cũng thực hiện hai chức năng là THQCT và KSVTTPL Khái niệm, phạm vi, nội dung THQCT và KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự cũng được xác định trên cơ sở khái niệm, phạm
vi, nội dung của THQCT và KSVTTPL trong TTHS nói chung
2.1.1 Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự
Khái niệm THQCT trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Là một giai đoạn độc lập của quá trình TTHS, xét xử phúc thẩm phát sinh trên cơ sở kháng cáo của bị cáo, của những người tham gia tố tụng khác hoặc kháng nghị của VKS cùng cấp hoặc của VKS cấp trên trực tiếp Nhiệm vụ của giai đoạn này là xét xử lại vụ án về mặt nội dung cũng như kiểm tra lại tính hợp pháp
và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay
Vì vậy, từ khái niệm chung về THQCT trong TTHS đã đề cập ở trên, có thể rút ra khái niệm: THQCT trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là hoạt động của VKS thực hiện các quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật TTHS nhằm bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội
Đối tượng THQCT trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Như trên đã trình bày, thì đối tượng của thực hành quyền công tố nói chung
là việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Từ đó có thể chỉ ra đối tượng của thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án nhưng chưa có hiệu lực
Trang 24Phạm vi THQCT trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Do tính chất của xét xử phúc thẩm là xét xử lại vụ án hoặc quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị cho nên thủ tục xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng cáo hoặc kháng nghị Theo quy định của BLHTT thì sau khi tuyên án, bản
án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực thi hành ngay mà trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, người kháng cáo có quyền kháng cáo, VKS cùng cấp có quyền kháng nghị; và trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày tuyên án VKS cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị Trong thời hạn này VKS và người có quyền kháng cáo có thể kháng cáo, kháng nghị bất cứ lúc nào Vì vậy, trong giai đoạn phúc thẩm hình sự phạm vi THQCT được bắt đầu từ sau khi tuyên bản án, quyết định sơ thẩm và kết thúc sau khi Toà án phúc thẩm tuyên án hoặc vụ án bị đình chỉ theo quy định của pháp luật
Nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự
Về cơ bản, nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử phúc thẩm tương tự như nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Tuy nhiên, khác với giai đoạn xét xử sơ thẩm nội dung THQCT trong xét xử phúc thẩm có thêm phần quyền kháng nghị phúc thẩm nhưng không có hoạt động công bố cáo trạng, khi tranh luận KSV phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án Mặt khác, theo quy định tại Điều 241 BLTTHS, Toà án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết thì Toà án có thể xem xét cả các phần kháng không bị kháng cáo, kháng nghị Vì vậy, nội dung hoạt động THQCT trong xét xử phúc thẩm cũng được thực hiện tương ứng với phạm vi xét
xử của Toà án cấp phục thẩm, tưc là VKS chỉ thực hiện hoạt động THQCT đối với
Trang 25những vấn đề thuộc nội dung kháng cáo, kháng nghị và những vấn đề khác khi thấy cần thiết
2.1.2 Khái niệm, đối tượng, phạm vi và nội dung KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự
Khái niệm KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự hoạt động KSVTTPL có nội dung
là kiểm tra, giám sát hoạt động thực hiện pháp luật của Toà án và những người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự nhằm bảo đảm cho việc xét xử được tiến hành đúng các quy định của pháp luật
Từ khái niệm chung về KSVTTPL trong TTHS có thể rút ra khái niệm: KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là tổng hợp các quyền năng pháp lý của VKS, có nội dung là kiểm tra, giám sát hoạt động tuân theo pháp luật của tất cả các chủ thể tham gia TTHS trong giai đoạn phúc thẩm nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất
Đối tượng của KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Đối tượng của KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự là sự tuân theo pháp luật của Toà án cấp phúc thẩm và những người tham gia tố tụng trong giai đoạn tố tụng này Khi tiến hành các hoạt động kiểm sát, VKS không chỉ dựa trên các quy định của BLTTHS mà còn trên các căn cứ pháp lý khác là Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, BLHS và các văn bản pháp luật khác liên quan để kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể là đối tượng của hoạt động kiểm sát cũng như để bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứ của chính hoạt động kiểm sát của VKS
Phạm vi KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Khi có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, Toà án cấp trên trực tiếp của Toà
án đã xét xử sơ thẩm sẽ tiến hành các hoạt động tố tụng để mở phiên toà phúc thẩm xét xử lại vụ án về nội dung cũng như xét lại tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản
Trang 26án, quyết định sơ thẩm Những người có liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị
có quyền tham gia phiên toà phúc thẩm để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Như vậy, khi có kháng cáo, kháng nghị hợp lệ thì mặc nhiên phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm của Toà án và hoạt động của các chủ thể tham gia TTHS khác Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, thì trong thời hạn 15 ngày đối với VKS cấp sơ thẩm và 30 ngày đối với VKS cấp trên trực tiếp, kể từ ngày tuyên án
sơ thẩm, VKS có quyền kháng đối với bản án sơ thẩm Vì vậy, để đảm bảo các hành vi tố tụng của các chủ thể nói trên tuân thủ pháp luật, thì trong hoạt động KSVTTPL của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm được bắt đầu ngay từ thời điểm sau khi tuyên bản án sơ thẩm
Theo quy định tại Điều 248 và Điều 253 BLTTHS, bản án hoặc quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày ra quyết định Điều đó đồng nghĩa với việc hoạt động THQCT cũng được kết thúc Tuy nhiên, đối với hoạt động KSVTTPL, phạm vi kết thúc của hoạt động này sau khi VKS thực hiện xong quyền kiểm tra, giám sát tính có căn cứ và hợp pháp của bản án phúc thẩm Quá trình kiểm sát nếu phát hiện bản án phúc thẩm có vi phạm pháp luật thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà VKS kiến nghị với Toà án khắc phục hoặc
đề nghị VKS cấp trên kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Nội dung KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Nội dung của các quyền năng của VKS khi tiến hành KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự là tất cả những quyền năng pháp lý mà VKS được
sử dụng để phát hiện những sai lầm, thiếu sót, những vi phạm pháp luật trong các hoạt động tố tụng của cấp sơ thẩm (bao gồm cả các sai sót thể hiện trong bản án, quyết định sơ thẩm) và các hoạt động tố tụng của các chủ thể ở giai đoạn phúc thẩm (việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm, việc xét xử tại phiên toà phúc thẩm), kịp thời áp dụng những biện pháp (kháng nghị, kiến nghị ) để yêu cầu toà án cấp phúc thẩm khắc phục
Trang 272.1.3 Quan hệ giữa THQCT và KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự
Từ phân tích về về khái niệm THQCT và KSVTTPL trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự cũng như đối tượng, phạm vi, nội dung giữa hai chức năng này,
có thể thấy rằng tuy đây là hai chức năng độc lập, có đối tượng tác động, phạm vi
và nội dung hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau Kết quả của hoạt động kiểm sát là cơ sở cho hoạt động THQCT có hiệu quả và ngược lại kết quả của hoạt động THQCT cũng là tiền đề cho hoạt động KSVTTPL Thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của ngành kiểm sát cho thấy, trên cơ sở các quy định của pháp luật, VKS các cấp luôn quán triệt quan điểm đấu tranh chống tội phạm gắn liền với đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đã được phát hiện đều phải được điều tra và xử lý nghiêm minh theo pháp luật; các bản án, quyết định của Toà án phải bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứ; mọi hoạt động xét xử phải tuân thủ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Pháp luật TTHS nước ta quy định nguyên tắc hai cấp xét xử, đây cũng là thông lệ chung của các quốc gia khác trên thế giới Theo nguyên tắc này, bản án hoặc quyết định sơ thẩm không có hiệu lực ngay sau khi tuyên án mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án Kháng nghị của VKS đối với các bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật vừa thể hiện kết quả hoạt động KSVTTPL trong xét xử, vừa thể hiện trách nhiệm THQCT
của VKS bảo đảm nguyên tắc “không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”, đồng thời
không để xảy ra các trường hợp xét xử oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm Như vậy, kháng nghị phúc thẩm là một quyền năng pháp lý quan trọng mà Nhà nước chỉ trao cho VKS nhằm đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ thống nhất và nghiêm minh
Trang 28Khi bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án phúc thẩm sẽ tiến hành nhiều biện pháp nhằm làm sáng tỏ nội dung kháng cáo, kháng nghị, xem xét những vấn đề khác có liên quan, đồng thời chuẩn
bị các điều kiện cần thiết để đưa vụ án ra xét xử Trong toàn bộ quá trình này, VKS
có nhiệm vụ KSVTTPL đối với tất cả các hoạt động tố tụng của HĐXX và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà phúc thẩm Hoạt động nỳa của KSV cũng
là một yếu tố bảo đảm cho hoạt động THQCT của KSV tại phiên toà (như tham gia xét hỏi, phát biểu quan điểm của VKS, tranh luận, đối đáp, đề nghị HĐXX chấp nhận hay không chấp nhận toàn bộ hay một phần kháng cáo, kháng nghị ) đạt hiệu quả cao Nếu KSV theo dõi chặt chẽ diến biến phiên toà, kịp thời phát hiện những vi phạm, thiếu sót trong quá trình giải quyết vụ án của HĐXX để yêu cầu khắc phục ngay thì các hoạt động của KSV tại phiên toà cũng sẽ đạt kết quả tốt, đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Như vậy, THQCT và KSVTTPL trong xét xử phúc thẩm hình sự là hai chức năng có tính độc lập tương đối nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành hai mặt thống nhất trong hoạt động của VKS ở giai đoạn tố tụng này Chức năng KSVTTPL nhằm đảm bảo cho hoạt động tố tụng được hợp pháp, khách quan, đầy
đủ, tương hỗ cho chức năng THQCT nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ
án, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đồng thời là một trong các giải pháp
đẻ hạn chế độc quyền, lạm quyền trong xét xử [59,tr.18]
Cả hai chức năng này đều có chung mục đích là nhằm bảo đảm để vụ án được giải quyết đúng đắn, khách quan và công bằng Tính độc lập của hai chức năng này chỉ là tương đối, bởi lẽ trong một số trường hợp khó có thể phân định cụ thể và rõ ràng giữa hai chức năng này Việc thực hiện đồng thời hai chức năng này tại phiên toà là nhiệm vụ hết sức nặng nề đỏi hỏi mỗi KSV phải nỗ lực rèn luyện, phấn đấu và nêu cao tinh thần trách nhiệm mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ này
Trang 293.1 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật TTHS về chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự từ năm 1945 đến trước năm 2003
3.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960
Cùng với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã bắt tay ngay vào việc kiện toàn lại bộ máy nhà nước Trong đó,
hệ thống các cơ quan Tòa án đã được tổ chức hoạt động trên phạm vi cả nước Tại các Sắc lệnh số 33C/SL ngày 13/9/1945, Tòa án quân sự được thành lập ở 03 miền Bắc, Trung, Nam; Sắc lệnh 13/SL ngày 24/11/1946 hệ thống Tòa án nhân dân được thành lập bao gồm các tòa án sơ cấp, đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm; Sắc lệnh số 64 ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời thành lập Tòa án đặc biệt để xét xử những nhân viên của UBND, nhân viên của các cơ quan của Chính phủ phạm tội Trong các Tòa án đều có “công tố viên” do Công tố ủy viên phụ trách, chuyên thực hiện chức năng công tố Chánh án và Công tố ủy viên trong các Tòa án đều là thủ trưởng đơn vị, có nhiệm vụ riêng biệt
Tại kỳ họp thứ 8, phiên họp ngày 29/4/1958, Quốc Hội khóa I đã quyết định chia tách và thành lập mới một số cơ quan nhà nước, trong đó có việc thành lập Viện công tố trung ương và hệ thống Viện công tố, Tòa án cũng được thành lập thành hệ thống riêng biệt Ngày 01/7/1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 256/TTg quy định vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tố và tổ chức
hệ thống Viện công tố - tiền thân của VKSND, có nhiệm vụ chung là: “giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật của nhà nước, truy tố theo luật hình sự những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự, an ninh, bảo vệ tài sản của công, bảo vệ quyền và lợi ích của người công dân, bảo đảm cho công cuộc kiến thiết và cải tạo xã hội chủ nghĩa tiến hành thuận lợi…Khi thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, Viện công tố có trách nhiệm áp dụng những biện pháp pháp
lý thích đáng theo pháp luật để xử lý mọi hành vi phạm pháp, mọi phần tử phạm
Trang 30pháp” Theo đó, Viện công tố thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như: điều tra, truy
tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của CQĐT; giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác xét xử của Tòa án; giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án về hình sự, dân sự và trong hoạt động của các cơ quan giam giữ, cải tạo…
3.1.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1980
Giai đoạn này, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục đấu tranh thống nhất đất nước Đây là hai nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt ché với nhau, pháp luật của thời kỳ này cũng phục vụ cả hai nhiệm vụ chiến lược đó Trước tình hình của đất nước, đòi hỏi phải có nền pháp chế thống nhất Lúc này, Viện công tố được thành lập năm 1958 hoạt động với nguyên tắc song trùng trực thuộc không còn thích hợp Đảng đã đặt vấn đề thành lập Viện kiểm sát thay thế Viện công tố, hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Đảng để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, làm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ được giữ vững, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh, thống nhất nước nhà
Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh công bố Luật tổ chức VKSND năm 1960 Theo đó, VKS có một chức năng duy nhất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Do đó, THQCT chỉ là một biện pháp thực hiện chức năng kiểm sát việc tuận theo pháp luật Luật tổ chức VKSND năm 1960 đã dành 01 chương (Chương IV: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của các TAND và trong việc chấp hành các bản án, gồm 03 điều luật từ Điều 17 đến Điều 19) VKS có các quyền: khởi tố về hình sự và giữ quyền công tố trước TAND cùng cấp; kháng nghị những bản án hoặc quyết định của TAND cùng cấp và dưới một cấp Mặc dù Luật
Trang 31tổ chức VKSND năm 1960 chưa phân định rõ chức năng THQCT với chức năng KSXX nhưng đã quy định khái quát và đầy đủ những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của công tác THQCT và KSXX hình sự
3.1.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992
Sau khi thống nhất nước nhà, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1980
So với Hiến pháp 1959 thì vị trí, vao trò của VKSND đã được khẳng định rõ hơn
và có những điểm bổ sung mới Điều 138 nhấn mạnh chức năng THQCT và đề cao vai trò, trách nhiệm của Viện trưởng VKSNDTC, xác định nguyên tắc pháp chế XHCN trong quản lý nhà nước
Cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức VKSND năm 1981 đã dành 01 chương riêng (chương IV với tên gọi “Công tác KSXX”, gồm 03 điều từ Điều 14 đến Điều 14) quy định VKSND có các quyền: tham dự việc trù bị, tham gia tố tụng tại phiên tòa của TAND cùng cấp, trong phiên tòa hình
sự, KSV đọc Cáo trạng và Luận tội; yêu cầu TAND cùng cấp chuyển hồ sơ những
vụ án cần thiết cho công tác KSXX; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật… So với Luật tổ chức VKSND năm 1960, Luật
tổ chức VKSND năm 1981 (sửa đổi bổ sung năm 1989) đã quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn về công tác THQCT và KSXX hình sự nói chung và trong giai đoạn phúc thẩm nói riêng
Luật tổ chức VKSND năm 1992 vẫn giữ nguyên các chức năng, nhiệm vụ của VKSND nhưng phạm vi đối tượng thực hiện chức năng của VKS có sự thu hẹp Trong lĩnh vực kiểm sát chung chỉ tập trung vào kiểm sát văn bản, chỉ tiến hành kiểm sát hành vi khi phát hiện vi phạm có vi phạm pháp luật (Điều 8,9) Ngoài ra, VKSND còn có nhiệm vụ trực tiếp điều tra tội phạm trong những trường hợp do pháp luật tố tụng hình sự quy định
Trang 323.1.4.Giai đoạn từ năm 1992 đến nay
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Trong đó có sự điều chỉnh về chức năng của VKSND bỏ chức năng kiểm sát chung Tại Điều 137 quy định chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân với hai chức năng THQCT
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Tại kỳ họp thứ 11 ngày 02/4/2002, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức VKSND năm 2002, tiếp tục khẳng định VKSND có hai chức năng cơ bản nhưng đã nhấn mạnh chức năng THQCT nên đã đưa lên trước, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật không tiến hành trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội như trước đây nữa mà chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hoạt động tư pháp
Nhiệm vụ, quyền hạn của công tác THQCT và KSXX hình sự của VKSND được quy định tại Chương III Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã quy định rõ ràng,
cụ thể trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS: có chức năng THQCT, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội; kiểm sát việc xét xử hình sự, nhằm đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời
Hiến pháp năm 2013 thay thế Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 thay thế Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã tiếp tục khẳng định và quy định định cụ thể, rõ ràng hơn về 02 chức năng của VKS là THQCT và KSVTTPL trong hoạt động tư pháp
4.1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm của một số nước trên thế giới
Sự tham gia, vai trò vị trí của cơ quan công tố trong giai đoạn XXPT ở mỗi quốc gia được thể hiện tùy thuộc vào truyền thống pháp luật ví dụ:
4.1.1 Viện công tố Công hòa liên bang Đức
Cộng hòa liên bang Đức không có một đạo luật riêng về Văn phòng công tố, Luật tổ chức Tòa án năm 1877, được sửa đổi, bổ sung năm 1875 chứa đựng một số
Trang 33các quy định lẻ tẻ (từ Điều 141 đến Điều 152) về tổ chức của các cơ quan tham gia vào việc truy tố, trong khi đó thẩm quyền của công tố viên được quy định trong BLTTHS
Theo quy định của pháp luật hình sự Đức, tất cả các vụ án hình sự được giải quyết thông qua một hệ thống Tòa án 4 cấp (Điều 13 Luật Tòa án), bao gồm: Tòa
án địa phương, Tòa án quận, Tòa án tối cao bang, Tòa án tối cao liên bang [60]
Cơ quan công tố tại Đức giống như hệ thống Tòa án, chủ yếu được tổ chức ở cấp bang gồm có 116 Văn phòng công tố cấp tỉnh thực hành quyền công tố tại các Tòa án sơ thẩm và các tòa án cấp tỉnh; 25 Văn phòng công tố cấp khu vực thực hành quyền công tố tại các Tòa án cấp phúc thẩm bang Các văn phòng công tố cấp tỉnh là cấp dưới của Văn phòng công tố cấp khu vực; các Văn phòng công tố cấp khu vực là cấp dưới của Bộ tư pháp bang Văn phòng công tố liên bang được tổ chức ngang cấp với Tòa án cấp phúc thẩm liên bang
Các cơ quan công tố liên bang và bang không có quan hệ qua lại và họ chỉ cùng tiến hành hoạt động trong một số ít trường hợp Cơ quan công tố liên bang chủ yếu có trách nhiệm đại diện cho Nhà nước trước Tòa án cấp phúc thẩm liên bang Tuy nhiên, công tố viên liên bang cũng có trách nhiệm điều tra một số tội nghiêm trọng nhất định chống lại nhà nước, ví dụ như tội khủng bố và có thể nộp bản luận tội đối với những vụ án này lên Tòa án phúc thẩm bang có thẩm quyền Việc trung lặp thẩm quyền giữa công tố viên liên bang và bang cũng phát sinh khi công tố viên cấp bang muốn kháng nghị một phán quyết của Tòa án cấp tỉnh Trường hợp này công tố viên cấp bang nộp đơn kháng nghị lên Tòa án cấp phúc thẩm liên bang kèm theo bản tóm tắt nội dung vụ án Tuy nhiên, chỉ Văn phòng công tố liên bang mới có toàn quyền đại diện cho nhà nước trước Tòa án phúc thẩm Nếu công tố viên liên bang cho rằng kháng nghị không có lợi, do sự độc lập trong quan hệ giữa công tố liên bang và bang, người này không thể rút kháng nghị hoặc ra lệnh cho công tố viên cấp bang làm việc này Công tố viên liên bang có thể
Trang 34yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm từ chối kháng nghị, nhưng Tòa án phúc thẩm liên bang không buộc phải thực hiện
Cả cơ quan công tố liên bang và bang đều được tổ chức theo ngành dọc Bộ trưởng Tư pháp đứng trên đỉnh của cấu trúc này Tại cấp liên bang chỉ có một cơ quan công tố và Văn phòng công tố liên bang do Tổng công tố viên liên bang đứng đầu Tại cấp bang, viên chức cao cấp nhất là Tổng công tố tại Tòa án cấp phúc thẩm bang Mặc dù vậy, họ phải chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Tư pháp bang
và nhận lệnh từ người này Mỗi Văn phòng công tố do một công tố viên trưởng đứng đâu, người chịu trách nhiệm trước Tổng công tố bang Cần lưu ý rằng không
có sự phụ thuộc lẫn nhau hoặc kiểm soát hệ thống các cơ quan tư pháp và cơ quan công tố
Căn cứ để mở thủ tục xét xử phúc thẩm là khi có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm Tuy nhiên, không phải mọi kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm có thể đương nhiên dẫn tới việc mở phiên tòa phúc thẩm Đối với những kháng án có tình tiết của vụ án và việc áp dụng pháp luật sẽ không được chấp nhận nếu không có căn cứ rõ rang Công tố viên có quyền kháng nghị nếu cho rằng bản
án đưa ra không đúng, bất kể văn bản đó có lợi hay không có lợi đối với bị cáo Việc kháng nghị của cơ quan công tố còn có thể nhằm mục đích bảo vệ quyền của
bị cáo Theo Điều 314, 317, 345 của BLTTHS Đức đối với kháng cáo, kháng nghị
về các tình tiết thực tế của vụ án và việc áp dụng pháp luật trong bản án thì thời hạn 01 tuần kể từ ngày bản án được công bố Đối với trường hợp bị cáo không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ khi bị cáo nhận được bản án Việc kháng
án có thể đưa ra bằng lời tại phiên tòa sơ thẩm và được thư ký tòa án ghi âm hoặc bằng văn bản Đối với kháng cáo, kháng nghị về một số điểm áp dụng pháp luật thì thời hạn kháng án là 01 tháng kể từ khi được tống đạt Cơ quan công tố có thể rút, hủy bỏ kháng nghị trướ khi thơi hạn kháng nghị kết thúc Kháng nghị vì lợi ích của
bị cáo chỉ được phép rút, hủy bỏ trước khi có sự đồng ý của bị cáo Theo đó thẩm
Trang 35quyền xét xử phúc thẩm các bản án sơ thẩm của Tòa án địa phương thuộc về Tòa
án quận và Tòa án tối cao có thẩm quyền XXPT các bản án đối với các vấn đề về luật mà các tòa địa phương trực tiếp chuyển lên Tuy nhiên, Tòa án phúc thẩm chỉ xét xử vụ án trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị, không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo và kháng nghị của cơ quan công tố theo hướng có lợi cho bị cáo [60]
Về thủ tục giải quyết kháng cáo, kháng nghị (Điều 320, 321, 322a BLTTHS Đức): Sau khi kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Tòa án đã thụ lý vụ án có trách nhiệm chuyển kháng cáo, kháng nghị cho cơ quan công tố Đối với kháng nghị của cơ quan công tố, Tòa án có trách nhiệm tống đạt các tài liệu liên quan đến việc kháng nghị, căn cứ kháng nghị Cơ quan công tố có trách nhiệm chuyển hồ sơ
vụ án đến cơ quan công tố cùng cấp vơi Tòa án XXPT Sau đó hồ sơ này được chuyển đến Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong thời hạn 01 tuần kể từ ngày nhận
hồ sơ vụ án Thẩm phán chủ tọa phiên tòa gửi giấy triệu tập những người có liên quan tới phiên tòa chính thức Việc triệu tập người làm chứng, người giám định đã được thẩm vấn tại phiên tòa sơ thẩm sẽ được thực hiện nếu xét thấy cần thiết Cơ quan công tố có quyền triệu tập thêm những người có liên quan tham dự phiên tòa Trong phiên tòa phúc thẩm Công tố viên trình bày nội dung vụ án và quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm và những vấn đề trong bản án liên quan đến việc kháng án Tham gia thẩm vấn bị cáo, tiến hành tranh luận với người bào chữa và bị cáo Sau
đó, Hội đồng xét xử có thẩm quyền quyết định hủy bỏ bản án sơ thẩm khi thấy bản
án sơ thẩm không đúng pháp luật, đồng thời chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án nếu Tòa án đã xét xử sơ thẩm sai thẩm quyền [60]
Trang 36cáo, kháng nghị đưa ra xét xử tại Tòa án tối cao Cơ cấu tổ chức của Cơ quan công
tố tối cao gồm: Văn phòng thư ký, Cục điều tra, Vụ giám sát điều tra, Vụ an ninh công cộng, Vụ xét xử [61]
Cấp thứ hai là 08 Viện công tố cấp cao được tổ chức ở 08 vùng Cơ quan công tố cấp cao giải quyết các bản án, quyết định hình sự bị kháng cáo, kháng nghị của Tòa án địa phương, Tòa án gia đình và được đưa ra xét xử tại 08 Tòa án cấp cao
Cấp thứ 3 là 50 Viện công tố cấp quận đặt tại các tỉnh Về nguyên tắc, mỗi tỉnh có một Viện công tố cấp quận nhưng riêng tỉnh Hokaido ở phía Bắc do diện tích rộng nên được tổ chức 04 cơ quan công tố Cơ quan công tố cấp quận xử lý và thực hành quyền công tố đối với các vụ án hình sự thuộc thảm quyền của Tòa án cấp quận và Tòa gia đình
Cấp thứ 4 là 438 Viện công tố khu vực có nhiệm vụ xử lý và thực hành quyền công tố đối với các vụ án hình sự tại các Tòa án giản lược Tòa án giản lược
là cấp tòa án có thẩm quyền xét xư đối với các vụ án hình sự mà hình phạt cao nhất
có thể áp dụng không quá 3 năm tù
Các chức danh pháp lý trong Viện công tố gồm: Tổng trưởng công tố, Phó tổng trưởng công tố; công tố viên trưởng; công tố viên và trợ lý công tố viên
Hệ thống công tố Nhật hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất và độc lập trong hoạt động của công tố viên Hai nguyên tắc này có vẻ mâu thuẫn với nhau nhưng lại cùng tồn tại và được coi như một trong những đặc thù của hệ thống công tố Nhât Theo nguyên tắc tập trung thống nhất, công tố viên được độc lập trong các hoạt động cụ thể, quyết định truy tố hay không truy tố vụ việc mà không
bị bất kỳ can thiệp nào từ bên ngoài và luật pháp có đủ đảm bảo để công tố viên thực hiện hoạt động một cách độc lập Theo nguyên tắc tập trung thống nhất, mọi quyết định quan trọng như khi quyết định truy tố hay không truy tố một vụ việc, các công tố viên đều phải báo cáo với lãnh đạo của cơ quan công tố cấp mình Tính
Trang 37độc lập đảm bảo để các công tố viên trong một Viện công tố tránh được ảnh hưởng
từ bên ngoài, còn tính tập trung thố nhất để đảm bảo sự thống nhất trong đường lối truy tố của toàn ngành
Luật TTHS Nhật quy định các bên có thể kháng án phúc thẩm 02 lần Lần thứ nhất là phúc thẩm KOSO hay còn gọi là phúc thẩm đệ nhất cấp, lân thứ hai là phúc thẩm JOKOKU hay còn gọi là phúc thẩm đệ nhị cấp [61]
Ơ phúc thẩm đệ nhất cấp, căn cứ để mở thủ tục xét xử phúc thẩm khi có kháng cáo của công tố viên, bị cáo, người đại diện hoặc người giám hộ hoặc người bào chữa của bị cáo hoặc những người có liên quan đến phán quyết của tòa án Lý
do kháng cáo và điều kiện để được chấp thuận kháng cáo là thủ tục xét xử sơ thẩm
có vi phạm pháp luật tố tụng, bản án sơ thẩm có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật; Có sự nhận định sai về các tình tiết khách quan trong vụ án của Tòa án sơ thẩm hoặc có những vi phạm rõ ràng khác trong bản án sơ thẩm hoặc việc áp dụng hình phạt trong bản án sơ thẩm không phù hợp (Điều 377-382 BLTTHS) Thời hạn kháng cáo Koso đối với bản án sơ thẩm của Tòa án quận, Tòa án gia đình, Tòa án giải lược là 14 ngày kể từ ngày tuyên án Thành phần bắt buộc tham gia phiên tòa phúc thẩm là Công tố viên và luật sư bào chữa, bị cáo không bắt buộc phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm (Điều 388, 389) Tại phiên tòa phúc thẩm, Công tố viên và luật sư bào chữa phải tranh luận với nhau như thủ tục xét xử sơ thẩm, khi XXPT Tòa án không bắt buộc dựa trên cơ sở thẩm vấn nhân chứng hoặc xem xét chứng
cứ mới Tuy nhiên, trong trường hợp thẩm vấn nhân chứng hoặc xem xét chứng cứ mới, Tòa án có thể thẩm vấn nhân chứng để tìm sự thật của vụ án Hội đồng xét xử
có thẩm quyền từ chối đơn kháng cáo Koso trong trường hợp nộp quá thời hạn nhất định; không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm Hủy bản án sơ thẩm nếu phát hiện sai sót hoặc nếu xét thấy vụ án cần được xem xét lại tại tòa sơ thẩm thì trả lại hồ sơ vụ án cho tòa sơ thẩm để xét xử lại
Trang 38Ơ phúc thẩm đệ nhị cấp, khi xét thấy phán quyết ở Tòa án sơ thẩm có vi phạm về Hiến pháp hoặc có sai lầm trong việc áp dụng Hiến pháp hoặc việc giải quyết vụ án mâu thuẫn với tiền lệ do Tòa án cấp cao hoặc Tòa án tối cao ban hành thì Công tố viên có quyền kháng nghị đối với bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm của Tòa án cấp cao Thẩm quyền xét xử phúc thẩm thuộc về Tòa án tối cao (Điều 406) Cũng giống như phiên tòa phúc thẩm Koso thành phần bắt buộc tham gia phiên tòa là Công tố viên và luật sư bào chữa, bị cáo không bắt buộc phải có mặt tại phiên tòa Công tố viên và luật sư bào chữa phải tranh luận với nhau về lý do đưa ra kháng nghị [62]
4.1.3 Viện công tố Pháp
Tại Pháp, thẩm phán công tác tại hai ngạch là ngạch xét xử và ngạch công
tố Hệ thống công tố bao gồm đội ngũ công tố viên đặt bên cạnh các Tòa án thuộc ngạch tư pháp, không có ngạch công tố bên cạnh Tòa hành chính Sứ mệnh cao cả của các công tố viên là bảo vệ lợi ích chung của xã hội đống thời bảo vệ quyền tự
do của cá nhân
Cho đến nay, về mặt hình thức Viện công tố Pháp được đặt trong hệ thống Tòa án, nhưng không lệ thuộc vào Tòa án Hệ thống cơ quan công tố pháp gôm có: Viện công tố bên cạnh các Tòa án sơ thẩm thẩm quyền rộng, Viện công tố bên cạnh Tòa án phúc thẩm, Viện công tố bên cạnh Tòa án phá án Đứng đầu trong cơ cấu hệ thống công tố là Bộ trưởng Tư pháp kiêm Chưởng ấn Chưởng ấn có thể ra mệnh lệnh chỉ đạo hoặc dưới dạng các chỉ thị tổng quát chỉ đạo các công tố viên Tòa phúc thẩm và Tòa phá án để thống nhất hành động của họ Các công tố viên Tòa phúc thẩm và Tòa phá án theo dõi công tố viên Tòa sơ thẩm khởi tố, truy tố theo đúng pháp luật, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng của tất cả mọi người trong TTHS Mỗi Tòa phúc thẩm và Tòa phá án có một vài công tố viên có trách nhiệm
Trang 39theo dõi sao cho các công tố viên Tòa sơ thẩm thực hiện quyền công tố thống nhất, bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trong dịch vụ công cộng
Viện công tố đóng vai trò quan trọng không chỉ với tư cách là cơ quan truy
tố tội phạm mà còn với tư cách là cơ quan đại diện cho xã hội bảo vệ lợi ích chun
và bảo đam việc áp dụng đúng pháp luật Do đó, công tố viên là người có thẩm quyền trong tất cả các lĩnh vực pháp luật: hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, thương mại, …
Với tư cách là một bộ phận trong hệ thống tài phán hình sự, Viện công tố phải có mặt tại trong các cuộc tranh tụng tại tòa và bản án hình sự chỉ có hiệu lực khi có mặt Viện công tố khi tuyên án Quyền công tố là một tổng thể các quyền, bao gồm không chỉ quyền khởi tố, truy tố mà còn là nghĩa vụ bảo vệ sự buộc tội của mình trước Tòa
Đối với thủ tục phúc thẩm các phán quyêt của tòa án vi cảnh, trong thời hạn
10 ngày kể từ ngày tuyên án Công tố viên cấp quận, Công tố viên trưởng và cán bộ truy tố bên cạnh Tòa án cảnh sát và Tòa án cộng đồng có quyền kháng nghị phán quyết Tòa án vi cảnh Đối với trường hợp, bị cáo hoặc các bên dân sự được xét xử vắng mặt đống thời ngày tuyên án không có mặt luật sư hoặc người đại diện thì thời hạn kháng cáo là 10 ngày kể từ ngày tống đạt phán quyết (Điều 647 BLTTHS) Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm gồm Công tố viên, những người có đơn kháng cáo, bị cáo Tại phiên tòa phúc thẩm, Công tố viên có quyền phản đối việc thẩm vấn đối với những nhân chứng đã được Tòa án cấp sơ thẩm thẩm vấn
Thủ tục phúc thẩm phán quyết của tòa tiểu hình: Công tố viên có quyền kháng nghị độc lập hoặc kháng nghị kèm theo kháng cáo của bị cáo Giữ quyền
Trang 40công tố sẽ do Viện trưởng hoặc Phó viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa phúc thẩm hoặc công tố viên thực hiện
Thủ tục phúc thẩm phán quyết của tòa đại hình: Giữ vai trò công tố là Viện trưởng hoặc Phó viện trưởng hoặc công tố viên bên cạnh Tòa phúc thẩm đảm nhiệm Kháng nghị của Công tố viên, công tố viên trưởng được gửi cho Tòa phúc thẩm Trong trường hợp, trụ sở của Tòa đại hình không cùng địa điểm với trụ sở của Tòa phúc thẩm thì kháng nghị có chữ ký của Công tố viên trưởng được gửi ngay cho văn phòng Tòa đại hình Gửi kèm kháng nghị là các bình luận của Công
tố viên về bản án bị khiếu nại trong trường hợp cần thiết, Công tố viên có thể gửi kèm theo hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử của tòa đại hình có các bồi thẩm đoàn và các thẩm phán chuyên nghiệp Tuy nhiên, trong phạm vi xét xử phúc thẩm của tòa
án cấp phúc thẩm theo ĐIều 380-3, 380-6 BLTTHS thì Tòa án cấp phúc thẩm không được tuyên hình phạt nặng hơn đối với bị cáo và không được tăng nặng trách nhiệm dân sự của bị cáo trong trường hợp chỉ có kháng cáo của bị cáo Về thủ tục tại phiên tòa phúc thẩm của Tòa đại hình cũng giống như thủ tục phúc thẩm các phán quyết của Tòa vi cảnh và thủ tục phúc thẩm phán quyết của Tòa tiểu hình [63]
Tóm lại, truyền thống pháp luật án lệ, truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa hay đang trong giai đoạn chuyển đổi nhưng có điểm nhất quán là du theo truyền thống nào thì ngoài bị cáo, người bị hại… thì cơ quan công tố là cơ quan duy nhất được giao quyền kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật nhằm đảm bảo tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật